TRANG CHỦ / LỜI CHÚA / CHIA SẺ LỜI CHÚA / Bài hát và suy niệm (18.11.2018 – CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM)

Bài hát và suy niệm (18.11.2018 – CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM)

 

NL: ANH HÙNG TỬ ĐẠO

ĐC: NGÀY VỀ

HALL: Phúc cho ai bị bắt bớ vì công lý vì Nước Trời là của họ

DL: NHƯ HƯƠNG THƠM

HL: BÀI CA NGÀN TRÙNG

KL: NGỢI KHEN CÁC THÁNH TỬ ĐẠO

 

Lời Chúa:  2 Mcb 7,1.20-23.27b-29, Rm 8,31b-39, Lc 9,23-26

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca

23 Khi ấy, Đức Giê-su nói với mọi người rằng : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. 24 Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. 25 Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì ? 26 Ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của mình, của Chúa Cha và các thánh thiên thần.”

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

 Thầy Giêsu sai các môn đệ ra đi làm chứng cho Thầy và dặn trước rằng:“Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại.” Nghe những lời này ai cũng cảm thấy sợ hãi muốn chùn bước chân. Chính Thầy Giêsu là lá cờ đầu tiên phong, là vị Tử Đạo đầu tiên đã bị nộp, đánh đập và bị đóng đinh chết nhục nhã đau thương. Kế đến các tông đồ, theo sau là các thánh Tử Đạo cũng đã bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền. Các ngài đã trải qua bao nhiêu cấm cách, bắt bớ, đánh đập giết chóc đau thương với nhiều cách ghê sợ. Những hình ảnh đó thật đúng là chiên đi vào giữa “bầy sói”.

Nhưng ngày nay Thầy sai chúng con đi vào thế gian, giữa thời đại @, không có sói, chẳng bị cấm cách gì hết. Nhiều khi mạnh ai nấy sống, người ta mải mê kiếm tìm lợi nhuận hưởng thụ, của cải, danh vọng, tìm cách vươn lên làm giàu, chứ chẳng tìm bắt bớ, bách hại lẫn nhau. Không thấy ai nộp chúng con cho hội đồng, không bị đánh đập trong hội đường hay điệu ra trước nhà chức trách vì Chúa. Nhưng cũng chính trong thời đại bon chen xô bồ này, chúng con bị thách thức, bắt bớ bởi những cám dỗ đam mê, tiền, vàng, đôla, nhà đất… Chúng làm lé mắt, lôi kéo trói buộc, chúng con   thật khó để chiến đấu mà giải thoát gỡ mình ra khỏi. Vì bản năng con người lại thích “sự êm dịu” của nó. Cũng chính vì những lợi lộc trần gian này, vì tiền của, nhà đất, ruộng vườn mà người ta bon chen giành giật, vu oan kiện cáo đưa nhau ra tòa không phân biệt thân sơ. Từ đây có cảnh “Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết.” Báo chí cập nhật đăng tải bao cảnh bê bối tang thương ngay từ giữa gia đình.

Phải đối xử làm sao, chiến đấu ra sao với những thử thách gian truân nơi đường trường dương thế này? Lúc ấy “không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.” Chính Thầy Giêsu đã đi bước trước và thực hiện trong các vị Tử Đạo. Mọi khó khăn đau khổ sẽ được trả lại bằng vinh quang. Nhưng với điều kiện phải trung thành trong mọi hoàn cảnh khó khăn, cho đến giây phút cuối cuộc đời: “kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.”

Lạy Chúa! Chúa sai con đi vào giữa cuộc đời đầy khó khăn thử thách và đủ thứ cám dỗ gọi mời. Xin ban cho con sự khôn ngoan cần thiết, để con nói năng, hành động theo Thần Khí Chúa. Được đồng hình đồng dạng, nên một trong Chúa, con được trở nên thụ tạo mới. Nếu được như vậy, con luôn vững tâm, can đảm khi đối diện với những khó khăn. Bởi vì “không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.” Có thể con sẽ lãnh phần thua thiệt trong cuộc sống, nhưng nhờ “bền chí đến cùng” con sẽ được hưởng hạnh phúc Chúa hứa ban. Amen.

Én Nhỏ

***

MỤC LỤC 

 

Năm 2018

2. Tử đạo thời công nghệ 4.0 (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

3. Chứng nhân  (Jorathe Nắng Tím)

4. Cuộc bách hại đạo hôm nay (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

5. Chọn Đấng Chịu Đóng Đinh (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

6. Hy sinh mạng sống đến cùng vì đức tin (Lm. Phêrô Lê Văn Chính)

7. Tin theo Giêsu (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

8. Ngày ấy  (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

9. Thuộc về Thiên Chúa (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

10. Suy niệm chú giải Lời Chúa (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

Năm 2015

1. Chứng nhân tình yêu  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

2. Con người thích thỏa hiệp  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

3. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

4. Những đấng bậc anh hùng  (Lm Giuse Phạm Thanh Liêm)

5. Sức mạnh niềm tin tôn giáo  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

6. Bị bách hại vì sống công chính  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

7. Làm chứng cho Tình yêu  (Văn Hào, SDB)

8. Sống là chết (Lm.Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

9. Ai liều mất sự sống mình vì Tôi (Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc)

10. Chết vì yêu (Huệ Minh)

11. Tử đạo giữa đời thường (Dã Quỳ)

12. Dũng cảm làm chứng cho Chúa hôm nay (Lm. Đan Vinh)

 

CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN – B

Lời Chúa: Đn 12,1-3; Dt 10,11-14.18; Mc 13,24-32

 

1. Bên kia sự chết  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

2. Quê trời  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

3. Kiên định  (Trầm Thiên Thu)

4. “Cánh chung” là mối đe dọa hay niềm hy vọng vĩ đại? (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

5. Chúa Nhật 33 Thường niên_B (Lm. Antôn)

6. Sẵn sàng đón Chúa lại đến  (Lm. Đan Vinh)

7. Ngày cùng tận của thế giới (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

8. Ngự trên giá mây trời  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

9. Nước Chúa (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

10. Làm chứng cho Chúa (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

11. Khủng hoảng (Trầm Thiên Thu)

12. Chuẩn bị ngày Chúa đến (Lm. Phêrô Nguyễn văn Hương)

13. Hiện thực  (Lm. Vũ Đình Tường)

14. Ngày giờ Chúa đến đã gần kề (Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD)

15. Ngày thẩm định chung cuộc (JM. Lam Thy, ĐVD)

16. Người hiền sĩ là người cầu nguyện (Lm. Bosco Dương Trung Tín)

***

TỬ ĐẠO THỜI CÔNG NGHỆ 4.0

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

ĐứcThánh Cha Phanxico đã từng nói: “Một Giáo hội không có các vị tử đạo là một Giáo hội không có Chúa Giêsu”. Đức Thánh Cha cũngmời gọi cầu nguyện “cho các vị tử đạo của chúng ta đang đau khổ rất nhiều,” “cho các Giáo hội không được tự do để diễn tả chính mình”: “họ chính là niềm hy vọng của chúng ta.” Ngài nhắc lại lời của giáophụ Tertullienxưa đã viết: “Máu của các vị tử đạo, là hạt giống của các Kitô hữu.” Thếnên, Đức thánh Cha cám ơn Chúa đã hiện diện với sức mạnh của Chúa Thánh Thần nơi các anh chị em đang chịubách hại bằng nhiều cách.

Quả thực, ngày nay vẫn còn đó những cuộc bách hại bằng khủng bố đánh bom nhà thờ, và sát hại các linh mục tu sĩ, vẫn còn đó những cuộc cấm đoán biểu lộ niềm tin như giáo hội hầm trú Trung Quốc,haytại các nước đang phát triển mà Đức Thánh Cha đãnói: “Tôi không thể quên chứng tá của Linh mục và nữ tu ở nhà thờ chánh tòa Tirana: năm này qua năm khác ở trong tù, bị lao động khổ sai, hạ nhục,”, đối với họ nhân quyền không tồn tại.

Ngày hôm nay còn có một hình thức bách hại mới mà Giáo hội Việt Nam cũng đang phải đối diện. Đó chính là sự bách hại bởi truyền thông xã hội. Chúng ta cũng thấy nhiều linh mục, Giám mục đã trở thành “các vị tử đạo” bởi truyền thông xã hội khi các ngài mạnh dạn lên tiếng nói cho sự thật và bảo vệ công lý.Cónhững linh mục giúp cho dân mình khởi kiện sự tàn phá môi trường của Fomasa liền bị quy chụp bởi nhiều tội danh chẳng liên quan đến việc đòi lại công lý. Có những giám mục chỉ nói lên tiếng nói của sự thật liền bị truyền thông cắt xén, bóp méo và tìm cách loại trừ. Có những Giám mục bảo vệ công lý thì bị quy chụp  là xem thường pháp luật, bị các thế lực thù địch xúi giục, bao che tội phạm… mà trong nhiều hệ thống báo chí, đài phát thanh và truyền hình đãtừng đăng tải. . .

Cónhững linh mục còn bị những truyền thông giấu mặt mà người ta hay nói là đội quân DLV luôn chửi bẩn, nói bậy khi các linh mục này dám lên tiếng nói kêu gọi tôn trọng sự sống và phẩm giá con người. Đội quân DLV đa số là thành phần thất học, chỉ cần tiền nên không biết lý lẽ, phải trái . . . và sẵn sàng lao vào người ngay chính rủa xả và dừơng như họ luôn coi các lãnh đạo tôn giáo  như kẻ thù và là mục tiêu của thách thức chế diễu, lăng mạ . . .

Thời nào cũng có những cuộc bách hại, nhưng Giáo hội lại càng cần những chứng nhân trong những cuộc bách hại như thế. Vì càng bị bách hại người tín hữu càng được tôi luyện mình nên tốt hơn, và là dịp thuận lợi để làm chứng cho niềm tin của mình.

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà người ta sống ảo nhiều hơn sống thực. Thế giới ảo phải chăng chính  là môi trường cần thiết để chứng tá tin mừng được ghi dấu nơi ấy?  Thế giới ảo phải chăng là lời mời gọi cuộc cách mạng tin mừng hãy dùng chính thế giới ảo ấy lan truyền tin mừng của Chúa đến cho mọi người? Đây cũng là một thế giới công bằng và cộng đồng mạng là những người thực thi công lý. Bởi vì rất nhiều những án oan, nhưng bất công đã được cộng đồng mạng đồng tâm chia sẻ và đòi lại công bằng đã thành công.

Tại sao người Công giáo chúng ta còn ngần ngại tuyên xưng niềm tin bằng việc loan tải những sứ điệp đầy yêu thương của Chúa đến cho mọi người? Tại sao chúng ta không tận dụng truyền thông để đẩy lùi sự dữ ra khỏi xã hội loài người? Phải chăng còn rất ít người dám tuyên xưng niềm tin? Phải chăng chúng ta đã cố tình bịt mắt, bịt tai, bịt miệng để tìm an toàn cho bản thân?

Cha ông chúng ta dám đổ máu đào để bảo vệ đức tin và làm chứng cho tin mừng trong điều kiện đầy khó khăn và gian khổ. Máu của các ngài đã đổ ra để bảo vệ và truyền lại đức tin cho con cháu là chúng ta. Chắc chắn các thánh TĐVN cũng mong muốn con cháu mình phải tiếp tục bảo vệ đức tin trong thế giới hiện đại. Nhất là trong truyền thông giáo hội đang bị xuyên tạc và khủng bố, nên rất cần người tín hữu công khai bảo vệ niềm tin của mình. Như cuối năm 2017 người ta dựng nên một Đạo thánh Đức Chúa Trời với một phong trào rầm rộ cả nước Việt Nam, rõ ràng đây là một âm mưu nhằm xuyên tạc tín lý giáo hội Công giáo, và khủng bố niềm tin nơi giáo dân. Rồi người ta lăng mạ các linh mục tu sĩ trong hình dạng ma quái ghê sợ trong ngày halloween, người ta cho biểu diễn game showvới hình nữ tu ăn mặc hở hang . . .  Thế giới truyền thông cũng tiềm ẩn rất nhiều sự dữ nên cần người tín hữu phải mạnh dạn lên tiếng bênh vực công lý và đẩy lùi sự dữ cho dầu có chịu nhiều lăng nhục hay bách hại. . .

Chắc chắn khi chúng ta dám làm chứng cho sự thật, dầu ở môi trường nào cũng là đối kháng lại với thế gian nên sẽ gặp những chống đối, quy chụp, bách hại, . . . Chúng ta hãy mạnh dạn tuyên xưng niềm tin của mình vì “phần thưởng chúng ta rất lớn trên quê trời, vì Chúa Giê-su đã từng nói :phàm ai tuyên “xưng Thầy trước mặt thiên hạ, thì Con Người cũng sẽ tuyên nhận người ấy trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa”(Lc 12,8)

Nguyện xin các thánh TĐVN giúp sức để chúng ta can đảm tiếp nối các tiền nhân dám làm chứng cho tin mừng, cho công lý và sự thật giữa thế giới văn mình nhưng thiếu tình yêu hôm nay. Amen

 

.

CHỨNG NHÂN

Jorathe Nắng Tím  

Theo nguyên ngữ Hy Lạp, Tử Đạo  có nghiã là Người Làm Chứng. Làm chứng một điều gì, làm chứng về một người nào là thuyết phục người nghe tin điều mình nói về sự việc ấy, về con người ấy là thật, là đúng. Và để thuyết phục người nghe, người làm chứng có khi phải lấy chính mạng sống mình để minh chứng, và bảo đảm điều mình nói. Các thánh Tử Đạo là những người làm chứng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật, vì yêu con người đã xuống thế làm người thật, đã chết để cứu độ nhân loại, và đã sống lại để mọi người được sống. Các ngài còn làm chứng  Giáo Hội Đức Giêsu  lập ra là Đạo thật, Đạo yêu thương, con đường đưa toàn thể nhân loại  về yêu thương.

Cũng chính vì làm chứng  Thiên Chúa và công trình cứu độ của Ngài, mà các chứng nhân của Thiên Chúa gặp nhiều chống đối giữa anh em mình, bởi thế gian không đón nhận « Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và soi chiếu mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận » (Ga 1,9-11).

Thế gian không nhận Đức Giêsu là  Ngôi Lời của Thiên Chúa,  chỉ vì thế gian « không nhận biết và chẳng chịu đón nhận ».  Lý do thật đơn giản và vô tình !

Vì thế gian không nhận biết, mà chứng nhân phải làm chứng để thế gian nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa Cứu Độ duy nhất; vì thế gian chẳng chịu đón nhận, mà chứng nhân phải thuyết phục bằng chứng cớ đời sống,  với chứng từ có giá trị để thế gian đón nhân Đức Giêsu là Đấng đã chuộc lại quyền làm con Thiên Chúa và  ban sự sống đời đời cho mọi người bằng sự chết và phục sinh của Ngài.

Được sai đến với các dân tộc, ở mọi thời để  làm chứng Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất, Thiên Chúa làm người, đã chết như con người và sống lại với quyền năng Thiên Chúa, các chứng nhân nhận một sứ vụ thánh thiêng, nhưng không thiếu cam go, thử thách, đe dọa giữa lòng thế giới muôn hình vạn trạng. Đức Giêsu đã không giấu diếm các môn đệ sự thật nguy hiểm về thế gian, nơi các vị sẽ phải đến làm chứng về Ngài :

«  Thầy sai anh em vào thế gian, như chiên đi giữa bầy sói” (Mt 10,16). “ Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Ga 15, 18-19).

Không những chứng nhân bị thế gian ghét, vì  thuộc về Thiên Chúa, nhưng còn bị thế gian bách hại:

« Người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. Đó là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy “ (Lc 21,12-13).

Tệ hơn thế nữa, các vị còn bị chính người nhà, bạn hữu, thân thuộc của mình truy lùng, ghét bỏ, ruồng rẫy : « Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con, và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét » (Lc 21,16-17).

Qủa thật, con đường trước mặt của chứng nhận là con đường đầy chông gai, cạm bẫy và hứa hẹn tù đầy, đổ máu, mất mạng. Con đường chứng nhân phải đi làm chứng không đẹp như mơ, không huy hoàng, hoành tráng, không thênh thang như đường về làng ngày « vinh quy bái tổ ».

Những đe dọa, hiểm nguy do lòng « ganh ghét vô cớ » của thế gian thì vô số kể (Ga 15,25). Vô cớ nghiã là chẳng có lý do gì, chẳng có nguyên nhân nào hợp lý . Vô cớ đến độ :  « Thế gian ghét Thầy, thì cũng ghét Cha Thầy » (Ga 15, 23), và tất nhiên « ghét cả anh em » (Ga 15,18), mặc dù thế gian đã thấy những việc tốt lành Thầy đã làm cho họ (x. Ga 15,24).

Trước bao nhiêu gian truân, thử thách giăng mắc, đe dọa,  làm  sao các chứng nhân đã  có thể mạnh dạn lên đường và kiên cường làm chứng ?

Thánh Phaolô, Tông Đồ dân ngoại đã thay mặt các chứng nhân trả lời: « Vì Tình Yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi » (2Cr 5,14), và sở dĩ chúng tôi đứng vững là  « do quyền năng phi thường của Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi », nên « chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp ; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng ; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi ; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt », bởi «  chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi » (2Cr 4,7-10).

Thực vậy, các chứng nhân của Đức Giêsu từ giáo đoàn đầu tiên Giêrusalem đến tận cùng thời gian được tình yêu Đức Kitô thúc bách đã lên đường làm chứng Tin Mừng với những căn dặn của Đức Giêsu như hành trang không thể thiếu giữa thế gian luôn thù ghét.

  1. Thầy để lại Bình An cho anh em, Thầy ban cho anh em Bình An của Thầy, Bình An mà thế gian không ban được. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi (Ga 14,27).

     a. Bình An là dấu chỉ Thiên Chúa ở với người được sai đi:

« Anh em biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em » (Ga 14,20).

Chính Đức Giêsu đã bộc lộ ý muốn ở với người được sai đi  trong lời cầu  xin với Chúa Cha : Lậy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con « (Ga 17,24).

     b. Bình An là sức mạnh của Chúa Thánh Thần liên lỉ hoạt động nơi người làm chứng:

« Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và trong anh em “ (Ga 14,16-17).

Có Chúa Thánh Thần, chứng nhân sẽ không  sợ hãi, hay lo nghĩ phải bào chữa, biện bạch thế nào trước mặt quan quân và những kẻ chống đối, nhưng Thánh Thần sẽ chỉ bảo phải nói gì, « khiến tất cả địch thù không tài nào chống chọi hay cãi lại được » (Mc 21,15).

     c. Bình An là bảo chứng quyền năng Thiên Chúa nơi người được sai đi làm chứng:

« Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó cón làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con (Ga 14,12-13).

Như thế, người làm chứng Đức Giêsu tiên vàn phải nhận  từ Đức Giêsu, Đấng sai họ, Bình An của Ngài. Không có Bình An của Đức Giêsu, không  chứng nhân nào có thể làm chứng chính xác, đầy đủ về Đức Giêsu ; không mang Bình An của Đấng đã chết và Sống Lại, người làm chứng sẽ không thể  làm chứng bằng « loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại », là sứ điệp Tin Mừng mà người được sai đi phải làm chứng.

Bình An của Đức Giêsu, vì thế, sẽ không thể thiếu trong tâm hồn chứng nhân, bởi chỉ với Bình An của Đức Giêsu sống lại, chứng nhân mới có thể kiên cường đi đến cùng hành trình làm chứng của mình  giữa phong ba bão táp của thế gian.

  1. « Thầy truyền cho anh em điều răn của Thầy: « Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em » (Ga 15,12) :

Nếu Bình An của Đức Giêsu là bửu bối không thể thiếu trên đường làm chứng, thì giới răn « Anh em hãy yêu thương nhau » là chià khóa để lời chứng của chứng nhân có giá trị và thuyết phục.

Đức Giêsu hơn ai hết biết rõ nguy cơ và sức công phá kinh khủng của hận thù, ghen ghét, bạo lực. Cũng chính vì muốn tiêu diệt hận thù, bẻ tan ghen ghét, đẩy lui bạo lực trong thế giới, mà Ngài đã đến để ban Bình An, Yêu Thương, nên  sẽ không có lý do những người thuộc về Ngài lại không yêu thương nhau ; không có thể những chứng nhân làm chứng Thiên Chúa là Tình Yêu, Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ hiến mạng sống vì yêu nhân loại đến cùng lại xa lạ với tình huynh đệ ; và sẽ hoàn toàn vô ích, nếu không nói là nguy hiểm, nếu người làm chứngTin Mừng là Lòng Thương Xót lại bôi nhọ, vu khống, hiềm khích, đấu đá, ăn thua đủ với nhau.

Không chỉ Đức Giêsu hay những người thuộc về Giáo Hội, mà tất cả mọi người, bất kể họ là ai, đều « dị ứng », kinh ngạc, sợ hãi trước cảnh môn đệ cùng sư phụ ẩu đả, lên án, cắn xé nhau. Thực vậy, sẽ không còn chứng nhân, nếu không có đức ái ; không còn lời chứng, nếu ganh ghét, hận thù thống trị ; không còn người được sai đi, nếu đường đi không còn là đường lên núi Bát Phúc, nhưng sẽ chỉ còn lại những « người chứng nói dối », « lời chứng mâu thuẫn, phi lý, không thuyết phục », và danh xưng « người làm chứng  qủa cảm, hào hùng » bắt buộc phải đổi lại thành « người phản chứng lố bịch, dị hợm ».

« Yêu thương nhau » không còn là đồ phụ tùng,  chuyện nhỏ, phụ thuộc, nhưng là chính yếu, dấu chỉ duy nhất của môn đệ Đức Giêsu,  của người được sai đi làm chứng, nên không yêu thương nhau,  căn cước tính của người làm chứng tự động biến mất trước mặt Thiên Chúa, và dưới mắt con người, bởi cả Thiên Chúa và con người đều không thể chấp nhận người chứng của Tình Yêu lại không biết yêu thương.

Mừng kính các thánh Tử Đạo cha ông , chúng con không chỉ cảm phục các Đấng đã can đảm chấp nhận chịu đánh đòn, bá đao, voi dầy , chém đầu, thiêu sống, chết rũ tù, nhưng trên hết, chúng con ngưỡng mộ lòng yêu mến nơi các Đấng. Các Đấng đã yêu mến Thiên Chúa và được Tình Yêu Đức Kitô thúc bách, khi Bình An lên đường làm chứng, Bình An đổ máu làm chứng, Bình An dâng hiến mạng sống làm chứng. Với Bình An của Đức Giêsu phục sinh, các Đấng đã không than thở, trách móc, hận thù  vua quan, dân tộc, đồng bào đã làm khổ, bách hại, giết chết mình, nhưng luôn Bình An tha thứ, Bình An hoà giải, Bình An  cầu xin ơn phúc cho quê hương, dân tộc, vì các Đấng  luôn ở trong Thiên Chúa là Tình Yêu tuyệt đối và nguồn Bình An viên mãn. Bên cạnh đó là đời sống bác ái, huynh đệ, phục vụ của các Đấng  đã đánh động, cảm hóa anh em đồng bào, để Danh Đức Giêsu ngày càng được vinh hiển trên quê hương, và trong lòng người dân Việt.

Mừng kính các thánh Tử Đạo cha ông cũng là dịp chúng con ý thức ơn gọi và sứ vụ làm chứng  của mình, để luôn biết rằng hành trình làm chứng « Đức Giêsu chịu đóng đinh » luôn là đường Thánh Giá, và bất kể ở thời nào, người làm chứng vẫn được mời gọi vác Thánh Giá và chết với Đức Giêsu cho anh em mình.

Tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con các Thánh Tử Đạo là cha ông anh dũng  trong huyết thống và Đức Tin.  Cúi xin các Thánh ban cho chúng con biết đón nhận Bình An của Đức Giêsu và sống điều răn « Yêu Thương nhau » trên hành trình Làm Chứng, như các thánh Cha Ông Tử Đạo  đã  làm chứng bằng chính  đời sống  và mạng sống  mình.

 

.

CUỘC BÁCH HẠI ĐẠO HÔM NAY

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Việc bách hại đạo không phải chỉ là việc của ngày xưa nhưng thời nào thì những người con Chúa cũng bị thôi thúc, bị lôi kéo, bị ép buộc bỏ đạo.

Hôm xưa, các thánh tử đạo tại Việt Nam đã bị vua quan bắt bớ, xiềng xích, tống giam vào tù ngục… buộc phải bỏ đạo. Dầu vậy, các ngài vẫn kiên trung, anh dũng chấp nhận tù đày, chết chóc chứ không bỏ đạo, không bỏ Chúa.

Chúng ta hôm nay cũng bị những quyền lực mạnh mẽ thúc đẩy từ bên trong, xô đẩy chúng ta chối bỏ Đạo yêu thương.

Trước hết, cần nhớ rằng Đạo Chúa là Đạo yêu thương.

Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì yêu thương là cốt lõi của Đạo Chúa.

Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì yêu thương là điều luật quan trọng nhất, là quy luật trung tâm của mọi lề luật, như Thánh Phao-lô dạy: “Ai yêu thương là chu toàn mọi điều luật dạy” (Rô-ma 13,9-10).

Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì mục tiêu hàng đầu của Đạo Chúa là xây dựng thế giới này trở thành thế giới yêu thương, huynh đệ, mọi người yêu thương đùm bọc nhau như anh chị em một nhà.

Và hơn hết, Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì chỉ có ai có lòng yêu thương mới là con cái Chúa, là môn đệ Chúa; Ai không yêu thương thì tự loại trừ mình ra khỏi hàng ngũ những người môn đệ Chúa, như lời Chúa Giê-su dạy: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, đó là anh em yêu thương nhau” (Gioan 13,35).

Như chúng ta vừa đề cập trên đây, hiện nay có nhiều quyền lực hết sức mãnh liệt lôi cuốn, xô đẩy chúng ta từ bỏ Đạo yêu thương. Vậy đó là những quyền lực nào?

Đó là những sức mạnh nằm ngay trong lòng ta, thống trị tâm hồn và cuộc sống của ta, hằng thôi thúc ta bỏ Đạo yêu thương: Chủ yếu là lòng tham, lòng giận ghét, hạn thù, ích kỷ, vô cảm vô tâm…

  1. Lòng tham: Lòng tham đang thống trị tâm hồn rất nhiều người. Lòng tham xui khiến người ta làm nhiều điều gian ác, bất công, làm thiệt hại cho bao người để thu lợi về cho mình.

Một trường hợp cụ thể đang xảy ra và rất nóng bỏng, đó là việc nhiều người sản xuất các loại thực phẩm độc hại, những loại thực phẩm bẩn, có nhiều độc tố tiềm ẩn, gây hại cho đồng bào mình, cho dân tộc mình… gây ra bệnh hoạn cho vô số người, để cho người ta chết dần chết mòn vì bệnh tật, nhất là bệnh ung thư… miễn sao mình thu lợi thật nhiều cho bản thân là được, còn ai chết mặc ai.

Ai giết người bằng những cách thế như vậy là trắng trợn từ bỏ Đạo yêu thương.

  1. Lòng giận ghét, oán thù: Lòng giận ghét sôi sục trong lòng ta, xui khiến ta chửi mắng, đánh đập, gây ra nhiều buồn khổ, đau thương cho người khác…

Khi ta để cho lòng giận ghét oán thù xui khiến mình xúc phạm người khác, chà đạp danh dự, nhân phẩm của người khác… là ta chối bỏ Đạo yêu thương.

  1. Lòng ích kỷ: Ích kỷ có cội rễ sâu xa trong lòng người. Nó thống trị người ta, xui khiến người ta chỉ nghĩ đến mình, đến gia đình con cái mình thôi; ai đói mặc ai, ai rét mặc ai, ai đau bệnh khốn khổ mặc ai…

Khi ta không thương xót, không cứu giúp người hoạn nạn, đau khổ… là ta đã từ bỏ điều cốt lõi của Đạo yêu thương…

Ngoài ra, còn rất nhiều quyền lực khác, tuy vô hình, nhưng có sức mạnh lớn lao, đã hoặc đang xâm chiếm tâm hồn ta, làm chủ cuộc sống ta, luôn tìm cách lôi kéo, xô đẩy ta ra khỏi Đạo yêu thương của Chúa.

Đây là những cơn bách hại lâu dài và sẽ còn tiếp tục kéo dài suốt cả cuộc đời, nếu ta không chiến đấu chống lại chúng, chúng ta phải thua trận và trở thành người bỏ Đạo lúc nào không hay biết.

Hậu quả tai hại mà người bỏ Đạo yêu thương phải gánh lấy, là đến ngày phán xét, người ấy sẽ bị Chúa Giê-su lên án: “Hỡi quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó”… vì ngươi không có lòng yêu thương (Mt 25, 34. 41).

Lạy các thánh tử đạo Việt Nam,

Các ngài thà chết chứ không thà dẫm đạp lên Thập tự giá và không chối bỏ đạo Chúa, thì xin cầu bầu cho chúng con hôm nay, can đảm chấp nhận thua thiệt và đau khổ chứ không vì tham lam, ghen ghét, oán thù, ích kỷ… mà chà đạp lên tình người, lên danh dự, nhân phẩm của người khác, vì làm như thế là chúng con đã chối bỏ Đạo yêu thương và phải mang lấy án phạt đời đời.

 

.

CHỌN ĐẤNG CHỊU ĐÓNG ĐINH

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Năm 1837, vua Minh Mạng triệu tổng đốc Nam Định Trịnh Quang Khanh về kinh và trao cho 40 cây Thánh Giá, rồi ra lệnh phải áp dụng gắt gao chiếu chỉ cấm đạo. Từ đó, tổng đốc Khanh trở thành “Hùm xám Nam định”.

40 cây Thánh Giá trở thành dụng cụ để thử thách niềm tin của người tín hữu. Người có đạo khi bị bắt, buộc phải “quá khoá” phải bước qua Thánh Giá. Nếu bước qua sẽ được sống, được trả lại tất cả những gì đã mất, và còn được tặng thêm phú qúi vinh hoa. Không bước qua phải bị tù đày, gông cùm đòn vọt và mất cả mạng sống.

Thánh Giá chính là cột mốc để phân định giữa sống và chết, giữa Thiên Chúa và thế gian. Khi đối diện với Đấng Chịu Đóng Đinh, người tín hữu luôn phải thực hiện một sự chọn lựa có tính quyết định.Chỉ cần một bước chân thôi là mọi sự thay đổi. Đã có người bước qua, và cũng có người không.

Có người bị khiêng qua thánh giá nhưng đã co chân lên, như thánh Antôn Nguyễn Đích. Có người bước qua, nhưng sau lại hối hận. Đó là trường hợp của ba vị thánh quân nhân: Âutinh Huy, Nicôla Thể và Đaminh Đạt. Cũng có những vị được quan quân khuyến dụ hãy giả vờ bước qua thập giá để cho quan có cớ mà tha, còn sau đó về nhà thì muốn sao tuỳ ý; nhưng các thánh tử đạo vẫn không chấp nhận một thoả hiệp như thế. Các ngài vẫn khẳng khái nói không. Không bước qua thập giá, không bỏ đạo, không chối Chúa.

Đứng trước thập giá là đứng trước một lựa chọn. Tôi chọn Chúa hay tôi chọn tôi? Không có giải pháp dung hoà hay lấp lửng.Giây phút đứng trước thập giá là giây phút quan trọng.Quyết định không bước qua thập giá là kết tinh của những đêm dài cầu nguyện, của việc chiến thắng những mời mọc khéo léo, của việc thắng vượt những sợ hãi, giằng co nội tâm, của những Vườn Dầu trong ngục thất…

Các Thánh Tử Đạo có chung một chọn lựa dứt khoát : theo Đức Kitô hay theo vua quan? Theo Đức Kitô là vác thập giá, sống trong gông cùm và chết trong đau thương. Theo vua quan là thừa hưởng vinh hoa phú quý nơi trần gian. Các Ngài có chung một quyết định tối hậu là theo Đức Kitô. Giây phút quyết định ấy chỉ có các Ngài với Thiên Chúa, chỉ có linh hồn với cõi phúc vô biên. Giây phút ấy không bị ảnh hưởng bởi gia đình, tổ quốc, nhân sinh. Người chết trong máu tử đạo đã coi nhẹ nghĩa phu thê, đã xem thường đường phụ tử. Họ khao khát một tình yêu vô biên mỹ lệ như giải ngân hà sao sa vời vợi, như vầng nhật nguyệt huy hoàng khôn tả. Các Ngài đã hoan hỉ chấp nhận chết để được sống một cuộc đời mà không mỹ từ nào diễn tả nổi, không bút hoạ nào vẽ thành và không hùng biện nào tuyên dương cho trọn. Người chết trong gông cùm mòn mỏi đã đặt tổ quốc đàng sau những giá trị vĩnh cửu. Ước vọng của họ không phải là được người đời tưởng niệm, được hậu thế tôn phong. Họ chết là vì đức tin thúc đẩy. Họ chỉ muốn thực hiện điều đã từng nghe biết : “Ai tuyên xưng danh Ta trước mặt trần gian, Ta sẽ tuyên danh nó trước mặt Cha Ta trên trời” (Mt 10,32). (x.Thiên Hùng Sử trang 4).

Trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn 100 ngàn Đấng Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách. Trong đó, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân. Đó là chưa kể con số rất đông các tín hữu bị chết mất tích trong các đợt bắt Đạo vì lưu đày, vì phải trốn tránh vào những nơi hẻo lánh.Đó là chưa kể rất nhiều tín hữu phải chết do cuộc Phân Sáp 400 ngàn người Công Giáo dưới triều Vua Tự Đức.Đó còn là chưa kể con số hơn mười mấy vạn người Công Giáo bị chết khi có Phong trào Văn Thân nổi lên tàn sát người Công Giáo…Như thế, con số Tử Đạo phải tính lên đến 300 ngàn người trong vòng 300 năm. Nếu tính theo tỷ lệ, 100 năm thì có 100 ngàn Vị Tử Đạo. Và theo tỷ lệ này, cứ một năm, có một ngàn Vị Tử Đạo; và đổ đồng, cứ một ngày, có hơn hai Vị Tử Đạo!

Thánh Giá luôn là điểm hẹn tình yêu,là nơi gặp gỡ của những người sống cho tình yêu và chết cho tình yêu. Nếu thập giá là biểu tượng của đau khổ thì Đấng Chịu Đóng Đinh đã chiến thắng đau khổ. Chúa Kitô đã tạo ra sự khác biệt hoàn toàn giữa thập giá và kẻ bị đóng đinh. Khi nhận lấy thập giá, Chúa Kitô đã dùng tình yêu biến đau khổ thành niềm vui. Tình yêu làm cho thập giá trở thành Thánh Giá.

Thánh Giá biểu tượng cho cuộc chiến đấu của Chúa Giêsu và cũng là biểu tượng cho tình yêu mạnh hơn sự chết và cho sự Thiện sẽ giành chiến thắng cuối cùng trên sự Ác.Thánh Giá là cánh cổng dẫn vào sự sống, thất bại chuyển thành chiến thắng, sự sống bị tước đoạt trở thành sự sống viên mãn. Ai đánh mất mạng sống mình sẽ tìm gặp lại sự sống. Ai can đảm chết cho Chúa Kitô sẽ được sống muôn đời. Thánh Giá là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa, bởi lẽ “Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người” (1Cr 1, 24 -25).Thánh Giá đã trở thành dấu chỉ của tình yêu hy vọng và sự sống. Thánh Phaolô có một ước muốn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6,14).

Đức Cha Lambert de la Motte sáng lập Dòng Mến Thánh Giá. Đây là Hội Dòng chọn Đức Kitô chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất của tình yêu của lòng trí. Không chọn cái gì nhẹ nhàng mà lại chọn Đấng chịu đóng đinh trên Thánh Giá. Chọn con đường theo Chúa là đi vào con đường hẹp. Một chọn lựa khôn ngoan vì đã chọn chính Đấng Cứu Độ. Thánh Giá là đỉnh cao ơn cứu độ.

Thánh Giá đã in sâu và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô. Ngay cả sau khi Chúa sống lại vinh quang, các vết thương khổ nạn thập giá vẫn hiển hiện vẫn không bị xóa nhòa. Thánh Giá Chúa Kitô xuyên qua thời gian và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta. Sự hiện diện ấy làm thay đổi tất cả.

Chúa Giêsu ở giữa nhân loại trong Bí tích Thánh Thể. Để trở nên nguồn sống tâm linh trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đã đi qua Tử nạn và Thập giá.

Thánh Thể là Mình Chúa hy sinh bị nộp, bị giết vì chúng ta: “Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em”. Chén Máu của Chúa là Máu giao ước đổ ra, Máu của Đấng Cứu thế bị giết chết trên thập giá. Bởi đó Thánh Thể và Thánh Giá là hai mầu nhiệm của một tình yêu tự hiến của Chúa Kitô. Không có Thánh Giá, Thánh Thể không có ý nghĩa. Không có Thánh Thể, Thánh Giá chỉ là thất bại.Từ Thánh Giá đến Thánh Thể là hành trình của con đường tình yêu tự hiến. Thánh lễ là cử hành hy tế cứu độ của Chúa Giêsu từ mầu nhiệm Thánh Giá đến tình yêu Thánh Thể.

Các Thánh Tử Đạo Việt Nam nhờ sức mạnh của Thánh Thể nên đã chọn Thánh Giá cách tuyệt đối và quyết liệt, dám liều mất cả mạng sống cho sự lựa chọn của mình. Các ngài thật khôn ngoan. Là con cháu của các Ngài, xin cho chúng con luôn khôn ngoan trong những chọn lựa của đời sống hàng ngày. Amen.

 

.

HY SINH MẠNG SỐNG ĐẾN CÙNG VÌ ĐỨC TIN

Lm. Phêrô Lê văn Chính

Vào ngày 19 thánh 6 năm 1988 tại Rôma, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã long trọng tôn phong 117 vị thánh anh hùng tử đạo tại Việt Nam. Trong số các ngàI có 96 vị người Việt nam và 21 vị thừa sai Nước ngoài. Thực là một biến cố trọng đại và đầy niềm vui, vì đây là lần đầu tiên Giáo hội tôn phong một số rất đông các thánh tử đạo, và nêu lên cho toàn thể Giáo hội những con người đã không ngần ngại hy sinh mạng sống mình để làm chứng cho Thiên Chúa và Đức Giêsu, làm chứng cho Đức tin mà các ngài đã lãnh nhận với một lòng trung kiên bất khuất. Con số 117 vị tử đạo chỉ là con số nhỏ của hơn 100 000 vị tử đạo tại Việt nam trong gần 300 năm dưới thời những vua quan Triều Nguyễn từ các thế kỷ 17, 18, và 19. Thực không có bút mực nào tả xiết những đau khổ và cực hình các ngài đã chịu vì danh Chúa. Trong số các vị tử đạo, chúng ta phải kể đến những giám mục, linh mục, tu sĩ nước ngoài và cả các vị Việt nam, ngoài ra còn phải kể đến số đông những người giáo dân thuộc đủ mọi thành phần, từ những người như trùm họ, chánh trương cho đến những giáo dân, những người trong hàng ngủ quan triều đình hay binh lính.

Những tâm tình của các thánh tử đạo là những tâm tình cao cả, của những con người có trái tim hòa nhập với trái tim của Con Thiên Chúa làm người, đó là những con người biết coi thường mạng sống, coi thường những danh lợi trần gian, và khi đối diện với cái chết, các ngài không ngần ngại chọn lựa dứt khóat thuộc về Thiên Chúa hơn là chút vinh quang trần thế. Thầy giảng Anrê Phú Yên 19 tuổi, đã chịu tử đạo rất sớm vào năm 1644, với sự chứng kiến của cha Đắc Lộ. Cái chết của thầy Anrê là một cái chết can đảm, thầy bị lính dùng đòng đâm ba nhát thấu ngực, nhưng vẫn chưa chết. Sau đó lính dùng mã tấu chém vào cổ đến hai nhát, đầu mới lìa khỏi cổ. Cha Đắc Lộ, dòng tên đã gói chiếc đầu của thầy giữ lại cẩn thận, và liệm xác thầy để gửi về Macau cất giữ như một báu vật của vị thánh tử đạo. Phần 117 vị thánh tử đạo, bắt đầu là hai vị tử đạo đầu tiên vào năm 1745 tại Thăng Long miền Bắc, đó là hai cha thừa sai dòng Đaminh là các cha Phanxicô Tế và Matthêu Dậu. Vị tử đạo cuối cùng là thánh Phêrô Đa, một giáo dân làm nghề thợ mộc, chịu tử đạo ở Qua Linh. miền Bắc năm 1862. Vào năm 1862, cuộc bách hại bùng lên ở miền Nam, hai nơi bị bách hại dữ dội là Biên Hòa và Bà Rịa với số người bị thiêu sống lên tới 846 vị.

Các vị tử đạo cảm nếm niềm vui chịu chết vì danh Chúa, nên trong thời gian bị gông cùm tù tội, các ngài đã biết chuẩn bị tinh thần sẵn sàng để đối diện với cái  chết. Thời gian tù tội khắc khổ không làm các ngài sợ hãi hay khiếp nhược, nhưng càng làm cho tinh thần các ngài mãnh mẽ hơn. Thánh Anrê Dũng Lạc bình thản chờ đợi để đến ngày được phúc tử đạo, ngài vui vẻ thốt lên những lời đầy hạnh phúc: “Đông qua tiết lại thời xuân tới. Khổ tạm mai sau hưởng phúc an. Làm kẻ anh hùng chi quản khó. Nguyện xin cùng gặp chốn thanh nhàn”. Trong số các vị tử đạo có những người làm quan lớn trong triều đình như thánh Micae Hồ đình Hy, hơn ba mươi năm phục vụ dưới ba triều vua, nhưng ngài đã không vì chút danh lợi trần gian mà chối bỏ đức tin, quyết một lòng trung thành với Thiên Chúa cho dù phải chịu chết. Trước những lời mềm mỏng và chiêu dụ của nhà vua, ngài vẫn một lòng khẳng khái cương trực, từ bỏ mọi vinh hoa phú quí bổng lộc của triều đình vì muốn trung thành và nên giống Chúa Kitô: “Tâu bệ hạ, đã 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước. Nay hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Đức Kitô.”

Có những vị rất trẻ tuổi như chủng sinh Tôma Thiện, tuy trẻ tuổi nhưng đã bắt đầu cảm nếm niềm vui của phúc tử đạo, và đã có những chọn lựa rất can đảm và sáng suốt. Quan lớn, vì thấy thầy còn quá trẻ và khôi ngô tuấn tú, nên đã đưa ra những lời dụ dỗ và hứa hẹn nhiều phần thưởng thế gian, nhưng Tôma Thiện vẫn cương quyết một lòng, không chút sờn lòng trước những cám dỗ đường mật, thầy thẳng thắn trả lời với quan: “Đạo dạy tôi thờ Thiên Chúa là đạo thật, tôi sẵn sàng chịu chết chứ không bỏ đạo… Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng đến quyền chức trần thế”. Có những vị linh mục truyền giáo cũng rất trẻ tuổi, vừa mới được bề trên sai đến và đặt chân đến nước Việt nam xa lạ thì bị bắt như cha thánh Theôphan Vena. Khi bị bắt và xét xử, quan chỉ xin ngài bước qua thập giá thì được tha bổng. Nhưng bước qua thập giá dù là một hành vi rất nhẹ nhàng để được bảo vệ mạng sống thì ngài đã cương quyết từ chối tất cả mọi mưu mô khôn khéo của vua quan. Thánh Thêôphan Vena đã cương quyết trả lời: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”. Có những trường hợp lương tâm tế nhị và nan giải khi vua quan kết tội các ngài là theo Tây và phản bội lại tổ quốc, nhưng các ngài đã chân thành giải thích biện phân cách mạch lạc cho mọi người biết các ngài không hề phản bội tổ quốc, cũng như không hề phản bội lại vua gì cả mà các ngài luôn nhìn thấy sự thẳng thắn trong lòng tin trung kiên của mình. Các ngài vẫn một lòng trung thành với tổ quốc khi các ngài yêu mến phụng sự Thiên Chúa là Cha cao cả trên trời. Không hề bao giờ có thể vì trung thành với trung phụ là vua trần thế mà phản bội lại với Thượng phụ là Cha trên trời: “Tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như trung phụ, và kính song thân như hạ phụ. Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng không thể vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được”. Ngay cả có những vị là lính của triều đình như thánh Trần văn Trung, ngài phân biệt rất rõ bổn phận vâng phục triều đình trong những điều đúng đắn như chiến đấu chống quân thù và bổn phận vâng phục tuyệt đối với Thiên Chúa mà ngài hằng yêu mến : “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ”.

Mừng lễ các thánh tử đạo tại Việt Nam chúng ta tự hào là con cháu các vị tử đạo. Chúng ta vui vì các bậc tổ tiên của mình đã sống thực là xứng đáng và đã kéo nhiều ơn lành của Thiên Chúa cho các con cháu. Thiên Chúa chúc phúc cho các con cháu là chúng ta vì biết bao công đức của tổ tiên ông bà chúng ta là các vị thánh tử đạo trung kiên bất khuất. Ngay cả dù không chết ở pháp trường, các ngài cũng đã sống một đời sống xứng đáng theo những mối phúc của Tin mừng. Ngày nay chúng ta không phải đối diện với cái chết tử đạo, nhưng  là con cháu các vị tử đạo, chúng ta muốn tiếp bước và được mời gọi tiếp bước các bậc tổ tiên ông bà của chúng ta trong đời sống chọn lựa trung tín với Thiên Chúa của mình. Việc tử đạo của chúng ta ngày nay là đời sống theo Tin mừng mà Chúa Giêsu đã công bố. Đây cũng là việc tử đạo vì được kết hợp nên giống với Chúa Giêsu trong những hy sinh bé nhỏ của đời sống hằng ngày.

 

.

TIN THEO GIÊSU

Lm. Jos. DĐH.

Cuộc sống cho ta thấy một sự thật: nước mắt ai cũng mặn, máu ai cũng đỏ ; muốn chia sẻ tình yêu thương cho gia đình, người thân, còn thấy khó, mở cửa lòng mình ra với anh chị em xa lạ, bao giờ chẳng là điều phức tạp hơn ? Dù người ta mạnh miệng xó bếp hay nhút nhát nơi công đường, chưa ai xếp đối tượng như thế là anh hùng. Dù đi gần hay đi xa, ai cũng phải cất bước mới tới đích, muốn gặt may mắn, nhất định phải gieo duyên lành. Tính bất ngờ khó hiểu, hàng ngày vẫn đang cho ta thấy sự phong phú đáng nể: có những thứ tình cảm được gọi là tình yêu, có những thứ nước được gọi là rượu mạnh. Hoàn cảnh xã hội xưa kia và hôm nay tuy khác nhau, nhưng mỗi người đều được tự do chọn lựa bước trên con đường dẫn tới hạnh phúc.

Sống nghề “ruộng nương”, mọi người đều hiểu quy luật: “hạt lúa gieo vào lòng đất phải thối đi mới sinh bông hạt”. Tất cả những ai là kitô hữu, đều được mời gọi sống niềm tin Đức Giêsu là Thầy, là Chúa, là Đấng cứu độ trần gian. Tiền nhân chúng ta trải qua cuộc bách hại đức tin dài hơn ba thế kỷ, các ngài dâng mạng sống mình, kết hiệp với tình yêu Giêsu như hạt giống thối đi, chết đi, luôn thao thức được trổ sinh hương hoa cho thế hệ con cháu. Đồng ý rằng, đường đời thênh thang, lối ngang lối rẽ không phải là ít, nhưng đường đưa tới sự sống thật, hạnh phúc thật, nhất định phải ở trong tình yêu Giêsu, ở nơi Ngài mới có nở hoa kết trái.

Nước mắt chảy xuôi, hay máu chảy về tim, đó là quy luật muôn đời, còn tình yêu lại không có quy tắc ngược xuôi, cha ông chúng ta đã làm sống động truyền thống tin yêu nơi Đức Giêsu, tưới máu đào trên khắp quê hương. Tin theo Giêsu không chỉ có vì dấu thánh giá, đọc kinh nhiều lần trong ngày, cũng không phải là đi hàng ngang hàng dọc cho thiên hạ thấy hình thập giá, hoặc liều mình liều mạng hầu được gọi là gan dạ lì đòn. Tin theo Đức Giêsu là tin giáo huấn của Ngài là sự thật, và bằng tình yêu, tự do, mỗi người ý thức sống ơn gọi của mình: “ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu thì kẻ phụng sự Ta cũng ở đó”. Theo Đức Giêsu vì yêu, vì tin, là khi chúng ta cảm nhận được sức mạnh Thiên Chúa đang ở trong con người giới hạn của mình, và sống đức tin chính là chúng ta sẽ được biến đổi nên giống Chúa.

Với lối diễn tả về tình yêu đôi lứa rất chân thật: chẳng tham nhà ngói ba toà, tham vì một nỗi mẹ cha anh hiềnChẳng tham nhà ngói xinh xinh, tham vì một nỗi anh xinh miệng cười. Các đấng bậc muốn nói đến sự khôn ngoan cần thiết nơi con người hệ tại ở tâm tính, ở nét đẹp sâu thẳm trong cõi lòng. Bằng một phong cách sống tin yêu, tiền nhân chúng ta theo Đức Giêsu không phải hướng tới bổng lộc, hay được vinh quang ở đời này, nhưng là được sống mãi trong yêu thương, hạnh phúc trước ơn gọi nên giống Chúa vẹn toàn. Tin theo Đức Giêsu để xác tín hơn: dù máu chảy đầu rơi, cũng không làm ta sờn lòng nản chí, dù tài cao trí rộng hơn người, ta cũng vui vẻ khiêm tốn sống hài hoà với mọi người.

Sống niềm tin kitô giáo hôm nay không còn giới hạn bởi “ngăn sông cấm chợ”, ấy vậy mà nỗi ưu tư giáo dục con cái của bậc làm cha mẹ không phải là đã bình tâm. Xã hội không ban tặng danh hiệu anh hùng liệt sĩ cho tất cả những ai tài giỏi đức độ, bao lâu chưa xác minh được tính chất cao đẹp mà họ đã dũng cảm hy sinh. Giáo hội không “phong thánh” cho tất cả những ai hàng ngày có mặt ở nhà thờ, để lại nhiều tài sản vật chất tiền của, nếu chưa thấy được tính chuẩn mực mà con đường tin theo Chúa của họ là gì ! “Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, ai ghét mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó trong cuộc sống đời đời”. Sống chết vì yêu, khác với sống chết vì buồn chán thất vọng, sống chết vì đức tin kitô giáo, khác với sống chết vì phạm pháp mà xã hội xử tử.

Đường đời dài rộng, cơ hội gặt hái hạnh phúc, ai cũng giống nhau, có hay không, được hay mất, tuỳ tự do mỗi người đã sống và đang sống như thế nào ? Những người khoẻ mạnh, sống thọ, chưa chắc là do họ thông thái, hay lắm mưu nhiều kế. Người nghèo khổ, không có tiếng nói trong xã hội, chết yểu, cũng chẳng phải do họ ngu ngốc hay lạc hướng lạc đường. Điều quan trọng là mỗi chúng ta có thấy tình yêu, bình an, khi đi tới điểm đích của sống chết hay không ? Cha ông chúng ta cũng không phải là mình đồng da sắt, các ngài chết vì già bệnh, chết vì tai nạn nghề nghiệp, chết vì tình yêu Đức Kitô, cũng là một nhắc nhớ mỗi người đã tin theo Đức Giêsu như thế nào ? May mắn khi chúng ta có cha mẹ tài đức, các ngài sẽ dạy cho con cháu biết thưa chuyện với Chúa, biết nói về Chúa cho anh chị em. Hạnh phúc biết bao khi tin theo Đức Giêsu, chúng ta sẽ rõ hơn Ngài là Vị Thầy chuẩn mực, biết minh hoạ, truyền cảm hứng cho ta sống thánh ý của Chúa và sống trọn vẹn ơn gọi làm môn đệ Đức Giêsu. Amen.

 

.

NGÀY ẤY

Anna Cỏ May

Thời gian cứ thấm thoát trôi đi. Cuộc sống của mỗi người cũng dần thay đổi theo thời gian. Ngày xưa, những đám ruộng được cày bởi những con trâu, con bò. Ngày nay, thay vì những con trâu, con bò là những chiếc máy cày chạy nhanh, giúp mọi người đỡ vất vả hơn. Thời trước, trẻ em đâu biết điện thoại, laptop là gì? Ngày nay, trẻ em có thể qua chiếc điên thoại thông minh biết được cả thế giới. Cuộc sống con người được nâng cao và mọi thứ có thể đạt được trong tầm tay. Thế nhưng, thời đại lỹ thuật số là thời đại có giới hạn, không có cái gì là bền vững. Tất cả đều hư vô. Chỉ duy nhất một điều không bao giờ thay đổi là lời yêu thương của Chúa Giê-su.

Những ai sống lời yêu thương của Chúa thì đến ngày sau hết sẽ được thoát khỏi việc xét xử (x.Gc 2,13). Ngày sau hết không ai biết trước được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay Con Người cũng không biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi (x.Mc 13,32). Vậy, dấu hiệu nào để nhận ra ngày ấy?

Trong Tin Mừng Mác cô, Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ về ngày quang lâm của Ngài rằng: “Trong những ngày ấy, sau cơn gian nan lớn lao, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng. Các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển” (Mc 13,24-25). Ngày ấy, tất cả mọi thứ trên trái đất không hiện hữu nữa. Ngày ấy, Thiên Chúa sẽ xuất hiện đầy quyền năng, vinh quang ngự trong đám mây mà đến xét xử kẻ lành người dữ (x.Mc 13,26). Lúc ấy, những lời Thiên Chúa nói tới là sự yêu thương và bác ái của con người với nhau mà thôi. Thế ai sẽ là người tốt lành, là người sẽ hưởng hạnh phúc trên Nước Trời? Thật không ai biết rõ ai đáng được hạnh phúc trên Nước Trời ngoại trừ chính Thiên Chúa và bản thân mỗi người. Cuộc sống trần gian là thời gian, là cơ hội cho mỗi người mua lấy hạnh phúc Nước Trời. Trong các vị Tử Đạo, có những người mang thân phận là thị vệ, là Giáo dân, là quân lính,…nhưng vẫn trung thành với Chúa trong tất cả mọi nghịch cảnh, dù là gông cùm, bá đao, xử giảo,… các vị đã từ giã gia đình và động viên những người thân hãy vững tin vào Chúa luôn. Đi tới đâu, ở đâu, lúc nào, các vị đều đem niềm tin đến cho mọi người. Nhất là những giây phút đứng trước bản án, các vị vẫn luôn xác tín niềm tin vào Chúa. Thánh Phaolô Tống Viết Bường là thị vệ đã nói với quan lớn rằng: “Quan lớn có lòng thương thì tôi đội ơn quan lớn nhưng xin quan lớn để tôi được giữ trọn chữ trung với Đức Chúa Trời là Thiên Chúa tôi thờ”.

Ngày nay, tuy không có cuộc bách đạo hiên ngang, nhưng có những cuộc chiến âm thầm làm cho niềm tin của mọi người nơi Thiên Chúa bị lung lay. Mọi người dễ rời vào niềm tin ở sức mình hơn mà thiếu niềm tin vào Thiên Chúa quyền năng. Từ đó, mọi người bị lôi cuốn vào cuộc sống tinh thần thế gian. Cuộc sống theo tinh thần thế gian là cuộc sống vị kỷ, hưởng thụ, mặc kệ người khác, không còn biết ai ngoài chính mình,… Ngoài ra, mỗi người dễ có suy nghĩ rằng tự do là một cuộc sống không có bó buộc dưới một quyền bính của ai. Và từ đó khiến cho mọi người sống cuộc sống dễ dãi, chìm ngập trong bóng tối mà không biết lối thoát ra để rồi phải chịu xét xử trước mặt Thiên Chúa trong ngày Chúa quang lâm. Còn Thiên Chúa, Ngài đâu có đòi hỏi mỗi người điều gì khác ngoài việc kính sợ Đức Chúa, đi theo đường lối của Ngài, yêu mến và phụng thờ Thiên Chúa hết lòng hết dạ (x.Đnl 10,12) và yêu người thân cận như chính mình.

Lạy Chúa, như lời Ngài đã nói: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu”. Xin cho mỗi người chúng con biết phân định cuộc sống đích thực bền vững khi và chỉ khi thực hiện điều Chúa dạy. Xin cho chúng con luôn chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng để khi Chúa đến hân hoan bước theo Chúa về hưởng phúc cùng với các Thánh trên Nước Trời. Amen.

 

.

THUỘC VỀ THIÊN CHÚA

Bông hồng nhỏ

Cuộc sống con người cần những tương quan. Ai cũng thuộc về một nơi nào đó, và ở đấy họ tìm thấy vị trí của mình, tìm thấy hạnh phúc cho cuộc đời. Niềm hạnh phúc nhất của con người là khi họ biết mình được thuộc trọn về Thiên Chúa và được Thiên Chúa yêu thương.

Thầy Giê-su đã nói về cuộc tuyển chọn đặc biệt trong ngày Con Người quang lâm. Khi những điềm lạ xảy ra: “Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển, bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (x.Mc 13,24-26). Ai sẽ được Người tuyển chọn? Thầy Giê-su đã từng tuyển chọn các môn đệ, đặc biệt là Thầy tuyển chọn các Tông đồ không theo tiêu chuẩn của người đời nhưng vì lòng thương xót của Thiên Chúa, để các ông trở thành những trợ tá đắc lực, trở thành những chứng nhân của Chúa Phục Sinh. Nhưng trong ngày Con Người quang lâm, Thiên Chúa sẽ tuyển chọn những ai đã can đảm sống và làm chứng cho Chúa. Thiên Chúa mời gọi con người cộng tác vào chương trình cứu độ của Ngài. Thiên Chúa vẫn cho mưa xuống trên cả người công chính lẫn người bất chính và Ngài kiên nhẫn chờ đợi họ đón nhận lòng thương xót của Ngài. Đón nhận tình thương vô bờ bến của Thiên Chúa cũng đồng nghĩa với việc ta sẵn sàng yêu thương người thân cận (x.Lc 10,29-37). Nếu ta thật sự yêu Chúa, gắn bó với Chúa và đặt trọn niềm hy vọng nơi Chúa thì chính Chúa sẽ dẫn đưa ta vào chung hưởng hạnh phúc với Chúa ở đời sau, mà ngay ở đời này ta đã có sự an bình trong tâm hồn. Như đứa con thơ chạy đến bên cha hiền và níu chặt lấy tay cha, cha sẽ dắt nó đi và khi nó mệt mỏi, cha sẽ bế nó trên tay hay cõng nó trên lưng, Thiên Chúa cũng yêu ta rất cụ thể như thế. Bởi vì đứa con biết nó là con yêu của cha và nó thuộc về cha. Ở bên cha, đứa con chẳng phải sợ gì. Thiên Chúa còn hơn thế nữa. Ngài đã cứu chuộc ta bằng chính giá máu châu báu của Con yêu dấu và chẳng muốn một ai phải hư mất (x.Ga 17,120. Ta được sinh ra là để thuộc về Thiên Chúa, được ở trong Thiên Chúa, được nên một như lời cầu nguyện của Thầy Giê-su: “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (x.Ga 17,20-21). Như vậy, ta không chỉ được cứu độ một mình nhưng cùng với anh chị em mình. Nghĩa là ơn gọi nên thánh vừa dành riêng cho mỗi người và mỗi người lại giúp nhau nên thánh bằng lời cầu nguyện và gương sáng.

Lạy Chúa! Cảm tạ Chúa đã cho con biết con được Chúa yêu. Chúa lại ban cho con những tấm gương sáng ngời là các Thánh Tử Đạo, đặc biệt là các Thánh Tử Đạo Việt Nam để nhờ lời chuyển cầu và gương sáng của các ngài, con vững lòng trông cậy Chúa. Xin cho con nhớ rằng “mọi sự sẽ qua đi nhưng Thiên Chúa còn mãi” như lời Thánh Têrêsa Avila đã nhắn nhủ. Chính Chúa cũng hằng dạy dỗ con, nuôi dưỡng con luôn. Xin cho Đức tin của con nên hành động cụ thể để cho Danh Chúa được cả sáng. Amen.

 

.

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA

Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Kn 3: 1-9

“Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Các thánh tử đạo là những người công chính đã được Thiên Chúa tôi luyện như vàng trong lò lửa và “thấy họ xứng đáng với Ngài”. Họ là những người làm chứng cho lòng tin ở Chúa. Lòng tin ấy sẽ “rực sáng như tia lửa bén nhanh giữa rừng sậy”.

1Cr 1: 17-25

Giáo Hội Việt Nam hôm nay hân hoan mừng Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Trong hàng ngũ các ngài, ngoài các vị là giám mục, linh mục, đa số là giáo dân. Các ngài không phải là những bậc khôn ngoan thông thái, nhưng các ngài là những chứng nhân cho “Đức Ki-tô bị đóng đinh vào Thập Giá”. Vì thế, Thiên Chúa đã chọn các ngài, những người mà thế gian coi như điên rồ, được hưởng phúc trên Nước Trời.

Mt 10: 17-22

Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã lần lượt bị điệu đến quan quyền để làm chứng cho đức tin. Đa số các ngài là những dân quê hiền lành chất phát, nhưng ơn Chúa đã giúp các ngài đối diện với vua quan, đã dạy các ngài phải nói gì, và cuối cùng các ngài đã bền vững trong lòng tin vào Chúa, nên gương sáng cho cháu con hôm nay. Quả thật, như lời của thánh Âu-gút-tin: “Trên mảnh đất đã gieo nhiều hạt giống đẫm máu, mảnh đất đó càng phát sinh nhiều vị tử đạo, và rồi hạt giống đó sẽ kết thành mùa lúa vàng của Giáo Hội. Các thánh tử đạo chết đi càng là chứng nhân cho Chúa Ki-tô hơn là lúc còn bình sinh. Ngày nay các ngài vẫn còn đang nói, vẫn còn đang giảng thuyết. Miệng lưỡi tuy im bặt, nhưng bao nhiêu sự việc còn vang dội sâu xa”.

BÀI ĐỌC I (Kn 3: 1-9)

Những khẳng định của sách Khôn Ngoan đánh dấu một khúc quanh quan trọng về cuộc sống mai sau của con người. Chúng kết thúc thời gian dài các nhà tư tưởng Do thái do dự về số phận của những người công chính ở bên kia nấm mồ. Vấn đề thưởng phạt thường được nêu lên suốt nhiều thế kỷ mà không có giải pháp thỏa đáng nào.

  1. Quan niệm Cựu Ước về sự sống lại

Trong lịch sử dài này, tư tưởng chiếm ưu thế đó là “nhân quả”: “ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặp bảo” ngay trong cuộc đời tại thế. Người công chính vui hưởng những hoa quả công đức của mình như phúc, lộc, thọ, trong khi bọn ác nhân không sớm thì muộn sẽ phải đón nhận những tai ương hoạn nạn: lưới trời lồng lộng, không ai có thể thoát được. Quan niệm về thưởng phạt ngay từ cõi đờinàyphát xuất từ một niềm tin quá bi quan và yếm thế về cuộc sống mai hậu. Tất cả mọi người, dù thiện hay ác, khi từ giã cõi đời này đều cùng chung một số phận, bị giam cầm trong cõi Âm Ty, ở đó không còn gì ngoài bóng tối âm u.

Nhưng kinh nghiệm thường ngày: “những đều trong thấy mà đau đớn lòng”, cực lực phản bác viễn cảnh thưởng phạt ngay từ cuộc đời trần thế này. Sách Gióp (khoảng thế kỷ thứ 6-5 Tcn) xao xuyến nêu lên vấn đề “họa vô đơn chí” giáng xuống trên người công chính. Quả thật, các ngôn sứ đã tuyên xưng rằng số phận của người công chính khác với bọn ác nhân ở bên kia nấm mồ. Các thánh vịnh gia công bố rằng người công chính sẽ được hưởng hạnh phúc vinh hiển trước Nhan Thiên Chúa muôn đời (Tv 16, 17, 49, 73).

Tiếp đó, niềm tin vào kẻ chết sống lại vào ngày chung thẩm xuất hiện. Vào thời vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê bách hại dân Do thái thật khủng khiếp, những người tử đạo chết trong khi tuyên xưng niềm tin của mình vào một cuộc sống mai hậu (2Mcb 7: 1-38).

Tác giả sách Khôn Ngoan còn đi xa hơn nữa. Ông thấy niềm tin của người Hy lạp vào sự bất tử của linh hồn như một sự củng cố cho niềm hy vọng vào sự sống lại mai hậu của dân Do thái, dù vẫn còn tiềm tàng hay rụt rè. Nhưng ông cũng nhận ra rằng tư tường Hy lạp này không hoàn toàn tương xứng với tư tưởng Kinh Thánh. Quả thật, người Hy lạp đề cao linh hồn đến mức xem thường thân xác được ví như một thứ hình hài tạm bợ, đáng khinh bĩ, mãi mãi sẽ bị vứt bỏ sau khi chết.

  1. Quan niệm sai lầm về con người

Trong đoạn văn trước đó (ch. 2), tác giả sách Khôn Ngoan đã phản bác quan niệm duy vật sai lầm về con người: sinh ra là một sự ngẫu nhiên, sống chỉ là cho qua ngày đoạn tháng. Khi hơi thở biến mất, cuộc sống tan biến như mây khói; tư tưởng như ngọn lửa bên trong vụt tắt, thân xác chỉ còn tro bụi. Theo quan niệm duy vật này, không có chỗ nào được dành cho Đấng Tạo Hóa và Quan Phòng của Ngài.

Sách Khôn Ngoan được viết vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên ở A-lê-xan-ri-a cho những đồng bào của mình, họ đang bị những sức hấp dẫn của nền văn minh ngoại giáo chung quanh cám dỗ. Số lượng người bội giáo (tác giả gọi “quân vô đạo”) đáng lo ngại. Theo tác giả, uy thế của triết học và các tôn giáo khác, dù hệ thống học thuyết có mê hoặc lòng người đến đâu đi nữa, cũng không thể nào biết được sự hiện hữu của một Thiên Chúa ngôi vị, Đấng có một kế hoạch riêng biệt cho con người và là một Thiên Chúa tình yêu. Đối lập với quan niệm vô tri và duy vật nầy, tác giả mô tả quan niệm đích thật về con người mà Thiên Chúa đã mặc khải.

  1. Quan niệm đích thật về con người

Ở trung tâm tiến trình lập luận của mình, tác giả đã đặt Mặc Khải thiết yếu nhất liên quan đến con người: “Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người” (2: 23) như chúng ta đọc thấy trong sách Sáng Thế: “Thiên Chúa làm ra con người theo hình ảnh Ngài, giống như Ngài” (St 1: 26). Vì thế, Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất tử. Từ đó, tác giả khai triển những viễn cảnh vinh quang đang chờ đợi những người đức hạnh vẹn toàn, sống một đời thánh thiện: “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa; họ đang hưởng an bình”.

Tất cả những khai triển này mang đậm nét Kinh Thánh, đặc biệt được gợi hứng từ các chương đầu tiên của sách Sáng Thế, không liên hệ gì đến triết học nhị nguyên của Platon. Lập luận chủ yếu của tác giả căn cứ trên Mặc Khải. “Linh hồn” mà tác giả nói đến ở đây không là linh hồn bất tử ở trong một thân xác hủy hoại theo Nhị Nguyên triết thuyết Hy lạp, nhưng là nephesh, “sinh khí của Thiên Chúa” (St 2: 7).

Từ nay, vấn đề sự chết và đau khổ được soi sáng. Cái chết không còn là án phạt nữa nhưng là ngưỡng cửa bước vào cõi trường sinh bất tử. Đau khổ là một sự thử thách như “lửa thử vàng, gian nan thử đức” nhằm tôi luyện cuộc đời của các tôi trung của Thiên Chúa thành “của lễ toàn thiêu” .

  1. Vinh quang chung cục

“Khi đến giờ được Thiên Chúa viếng thăm, họ sẽ rực sáng như tia lửa bén nhanh khắp rừng sậy”. “Thiên Chúa viếng thăm” là diễn ngữ kinh thánh, tức là một sự can thiệp chứa chan ân tình của Thiên Chúa như trong những lời trăn trối sau cùng của tổ phụ Giu-se cho các anh em mình: “Thế nào Thiên Chúa cũng viếng thăm anh em” (St 50: 24), nghĩa là Ngài sẽ ban cho anh em muôn vàn ân phúc của Ngài. Tác giả sách Khôn Ngoan nhắm đến việc Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra vào thời cánh chung. Những người công chính sẽ rực sáng vinh quang, Thiên Chúa sẽ đặt họ “xét xử muôn dân và thống trị muôn nước”, nghĩa là đức hạnh của người công chính sẽ chiến thắng ác tâm quỷ quyệt của quân vô đạo. Chính trong chiều hướng này mà thánh Phao-lô viết cho các tín hữu Cô-rin-tô: “Nào anh em chẳng biết rằng dân thánh sẽ xét xử thế gian sao?” (1Cr 6: 2) và sách Khải Huyền viết:“Ai thắng và giữ cho đến cùng các việc Ta truyền, Ta sẽ ban cho người ấy quyền cai trị các dân” (Kh 2: 26). Đức Giê-su sẽ sử dụng diễn ngữ tương tự để xác định vị thế các môn đệ Ngài trong Nước Trời: “Khi Con Người ngự trên ngai vinh hiển của Ngài, các anh cũng vậy, những người đã theo Thầy, ngự trên mười hai ngai tòa để xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en”.

  1. Thiên Chúa là tình yêu, ân phúc và từ tâm

Niềm hy vọng lớn laonàyđược đặt để vào tình yêu, ân phúc và từ tâm của Thiên Chúa. Chính ở nơi tình yêu, ân phúc và từ tâmnàymà những người công chính sống. “Những ai trông cậy vào Chúa sẽ am tường sự thật, và những ai trung thành thì được Chúa yêu thương và cho ở gần Người, vì Người ban ân huệ, và thương xót những ai được Người tuyển chọn”. Lời kết thúc của Bài Đọc Inàyđược viết trước các sách Tin Mừng một thế kỷ, loan báo sứ điệp rất gần với sứ điệp Tin Mừng. Có một tiến trình liên tục từ Mặc Khải Cựu Ước đến Mặc Khải Tân Ước.

BÀI ĐỌC II (1Cr 1: 17-25)

Bài Đọc II, trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô vào Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, được cấu trúc rất chặc chẽ. Tuy nhiên, cần phải đặt nó vào trong văn mạch để hiểu rõ hơn tư tưởng của thánh nhân.

Xin nhắc lại ngắn gọn: cộng đoàn tín hữu Cô-rin-tô chia rẽ nhau về các vị rao giảng của họ, tạo nên các bè phái ở giữa họ. Cực lực chống lại việc chia năm xẻ bảy nầy, thánh Phao-lô lớn tiếng chỉ trích cách hành xửnàykhông phù hợp với tinh thần Tin Mừng.

  1. Sự khôn ngoan của thế gian (1: 17-21)

Đáp lại những kẻ tự phụ mình “thông thái”, thánh nhân nhắc nhở rằng ngài đã rao giảng cho họ không phải bằng lời lẽ khôn khéo, nhưng sự điên rồ của thập giá trái với đòi hỏi điềm thiêng dấu lạ của người Do thái và tìm kiếm lẽ khôn ngoan của người Hy lạp.

Dân Do thái chờ đợi một Đấng Mê-si-a thực hiện những điềm thiêng dấu lạ, một Đấng Mê-si-a quyền năng và chiến thắng. Dân Hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, tức là một cuộc sống quân bình, mực thước và điều độ, không có nó không một xã hội nào có thể bền vững được. Đó là điều mà tất cả mọi hệ thống triết học đều đề cao.

Hai quan niệm, Do thái và Hy lạp, rất khác biệt nhau, nhưng không có quan niệm nào phù hợp với hình ảnh Thập Giá được.

Trong hoạt động truyền giáo của mình, thánh Phao-lô đã gặp phải hai chướng ngại này. Biết bao người Do thái đã không thể chấp nhận Đấng Mê-si-a chịu khổ nhục trên thập giá. Ở An-ti-ô-ki-a, ở Thê-xa-lô-ni-ca và những nơi khác, thánh Phao-lô đã bị những người Do tháinàybách hại.

Còn đối với dân Hy lạp và sự khôn ngoan của họ, thánh Phao-lô đã chạm trán với họ ở A-thê-na. Thánh nhân cố gắng thuyết phục họ nhưng vô ích. Họ mong chờ những bài diễn từ lời hay ý đẹp, trong khi thánh nhân rao giảng một con người thập toàn bị đóng đinh trên thập giá. Quả thật, bản văn cho thấy rằng việc rao giảng Thập Giá khó lòng mà thuyết phục con người. Đối với người Hy lạp, ưu phẩm hàng đầu của một vị thần chính là Mỹ, vì thế Đấng chịu đóng đinh không ra hình tượng con người không thể nào sánh ví với hình ảnh của một vị thần linh.

  1. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa (1: 22-25)

Nhưng Thập Giá không là một bài diễn từ lời hay ý đẹp, nhưng là một sự kiện, một sự kiện lạ thường, ở đó ẩn dấu sự khôn ngoan của Thiên Chúa, hoàn toàn khác với những kỳ vọng của con người.

Trong thư thứ nhất gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, một trong những bài học lớn lao đó là: “dạy mầu nhiệm đau khổ như một yếu tố cốt yếu của Tin Mừng”. Chung chung, thần học của thánh Phao-lô không bao giờ tách rời biến cố Tử Nạn ra khỏi mầu nhiệm Phục Sinh. Tuy nhiên, đây là trường hợp ngoại lệ và có chủ đích. Đối mặt với sự tự mãn của con người, thánh nhân nhấn mạnh hình ảnh độc nhất về “Đức Ki-tô chịu đóng đinh”.

TIN MỪNG (Mt 10: 17-22)

Mặc dù đoạn Tin Mừng dành cho ngày đại lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam được trích từ Mt 10: 17-22, nhưng để hiểu sâu xa đoạn Tin Mừng này chúng ta sẽ đặt nó vào trong toàn bộ phân đoạn của nó, nghĩa là từ 10: 17-25. Đây là phân đoạn thứ hai về những huấn thị bách hại (10: 17-25) được phân biệt rõ nét với phân đoạn thứ nhất về những huấn thị truyền giáo (10: 1-16).

Phân đoạn thứ nhất nêu bật chủ đề uy quyền hay quyền năng phi thường mà Đức Giê-su ban cho những ai mà Ngài sai đi loan báo Nước Trời. Trong phân đoạn nầy, không có bất kỳ ám chỉ chính xác nào về đau khổ. Thật ra, đoạn văn 10: 13b-16 ám chỉ đến việc người đời có thể không tiếp đón các môn đệ (10: 13b-15) và cảnh báo rồi những hiểm nguy đang rình rập chờ đón họ: “Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói” (10: 16). Tuy nhiên, những đối kháng này vẫn mơ hồ và một bầu khí chiến thắng xem ra phải ngự trị trên hoạt động truyền giáo.

Khởi đi từ 10: 17, những huấn thị được đặt trên một dấu nhấn hoàn toàn khác: những cuộc bách hại sắp đến. Các môn đệ không chỉ bị thù ghét, nhưng những thử thách sắp tới của họ được mô tả một cách chính xác đến nỗi chúng ta có thể định vị môi trường của chúng nữa. Chúng ta có thể phân chia phân đoạn thứ hainàythành: cuộc bách hại ngoài xã hội (10: 17-20), cuộc bách hại trong gia đình (10: 21-22), thái độ cần phải có trong hoàn cảnh bách hại (10: 23) và phần kết luận (10: 24-25) cho toàn bộ phân đoạn thứ hai này (10: 17-25).

  1. Cuộc bách hại ngoài xã hội (10: 17-21):

Phần mở đầu của câu 17: “Hãy coi chừng người đời” lập lại chủ đề về sự cẩn trọng của câu 16 nhưng với những thuật ngữ hoàn toàn khác. Động từ “coi chừng” mặc lấy hai nét nghĩa: hoặc bác bỏ, từ chối điều gì đó (như 7: 15; 16: 6) hay đề phòng cảnh giác trong hoàn cảnh khó khăn nào đó (như 6: 1). Văn mạch nhấn mạnh đến nét nghĩa thứ hai: Đức Giê-su không khuyên các môn đệ của Ngài nên trốn chạy khỏi “người đời” nhưng trong những gặp gỡ của họ với người đời, nên giữ mình khỏi mọi ảo tưởng. Họ đừng quên rằng Thầy của họ đã bị những người đời này tìm cách khai trừ, loại bỏ. Phần tiếp theo của câu 17 cho thấy rằng “người đời” này không ai khác là người Do thái: “Họ sẽ nộp anh em cho các hội đường và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ”.

Tuy nhiên, câu 18 cho thấy bối cảnh của cuộc bách hại có thể vừa ở trong xứ Pa-lét-tin nhưng cũng vừa ở bên ngoài xứ Pa-lét-tin. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, các Ki tô hữu đừng quên rằng những cách hành xử đầy bạo lực này có một ‎ ý nghĩa, đó là dịp là cơ hội “làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết” về Đức Ki-tô và Nước Thiên Chúa. Lời chứng này nêu bật tính chất vừa công chúng vừa chính trị nữa. Các vua chúa và dân chúng có dịp nghe nói về Đức Giê-su và Nước Trời.

Câu 19-20 là lời hứa của Đức Giê-su cho các môn đệ trong hoàn cảnh bị bách hại. Chính vì làm chứng cho Thầy mình mà họ không cần lo nghĩ phải nói gì, vì trong giờ đó Thiên Chúa sẽ ban cho họ Thần Khí để giúp họ như Thiên Chúa đã phán với ông Mô-sê: “Chính Ta sẽ ngự nơi miệng ngươi, và Ta sẽ chỉ cho ngươi phải nói gì” (Xh 4: 12).

Câu 20: “Thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em”, mới nhìn thoáng qua, khiến nghĩ đến một sự gợi hứng máy móc loại bỏ tất cả sự dự phần của chứng nhân. Nhưng không phải như thế; trái lại hai cụm từ “anh em” và “trong anh em” nhấn mạnh rằng ân huệ này được ban cho các chứng nhân không như những khí cụ thụ động nhưng còn ở trong họ và bởi họ nữa.

  1. Cuộc bách hại ngay trong gia đình (10: 21-22)

Song đối với 10: 17-20 ở trên, các câu 10: 21-22 bao gồm một lời cảnh báo về cuộc bách hại và một lời hứa. Câu 21 cảnh báo rằng ngay cả những người thân thuộc trong gia đình cũng sẽ tố cáo họ vì họ dám chấp nhận cái chết để tin vào Đức Giê-su. Còn câu 22 đề cập đến việc họ sẽ bị mọi người thù ghét vì Ngài nhưng hứa rằng những ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu độ.

  1. Thái độ phải có trong hoàn cảnh bách hại (23)

Câu 23 diễn tả thái độ phải có trong hoàn cảnh bị bách hại. Người Ki tô hữu không phải đưa thân mình ra cho những kẻ bách hại mình, nhưng “khi người ta bách hại anh em trong thành nầy, thì hãy trốn chạy sang thành khác”, bởi vì nếu thành này xua đuổi họ đi thì có thành khác để loan báo Tin Mừng. Như vậy, sứ mạng loan báo Tin Mừng vẫn phải là bổn phận cho đến cùng.

  1. Phần kết luận (10: 24-25)

Hai câu 24-25 là phần kết luận của phân đoạn này. Các môn đệ của Đức Giê-su không mong đợi một vận mệnh nào khác ngoài vận mệnh của Thầy mình, Đấng bị khinh bỉ, bị ruồng bỏ, bị khai trừ và cuối cùng bị án tử trên thập giá. Thầy và trò, chủ và tớ được đặt vào trong cùng một số phận: “Trò được như Thầy, tớ được như chủ”. Tuy nhiên, diễn ngữ này không giới thiệu một sự so sánh nhưng là căn tính về vận mệnh trần thế giữa Thầy và trò. Nếu cả hai đều chia sẽ cùng một vận mệnh: đau khổ, bị bách hại và bị án tử, điều đó không muốn nói rằng Thầy khai mở cho môn đệ của mình sống lại cuộc mạo hiểm mà chính Thầy đã kinh qua. Cả hai giống nhau trong những diễn biến bên ngoài nhưng lại khác nhau trong ý nghĩa và tầm mức. Đau khổ của Đức Giê-su là đau khổ của Đấng ở nơi Ngài Nước Thiên Chúa đã đến gần (10: 7) trong khi đau khổ của người môn đệ là đau khổ của một chứng nhân về Nước Thiên Chúa này (10: 18).

 

.

 

 

CHỨNG NHÂN TÌNH YÊU

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Thánh lễ hôm nay đỏ một mầu máu. Máu của hơn 100 ngàn anh hùng tử đạo. Máu của 117 vị đã được tôn phong lên hàng hiển thánh. Máu ngập tràn chảy suốt hơn 3 thế kỷ truyền giáo tại Việt Nam.

Có điều máu lênh láng nhưng không tanh tưởi bởi không phải là thứ máu oan khốc nơi chiến trường tuôn chảy trong hờn căm oán ghét. Máu đẹp như những cánh hoa vì phát xuất từ tình yêu cao quí. Máu dường như toả hương thơm bởi khơi nguồn từ những trái tim chan chứa yêu thương. Máu không gây ghê tởm nhưng gợi lòng kính trọng. Máu không tạo oán thù nhưng vực dậy yêu thương. Đó là những dòng máu làm chứng cho tình yêu.

Tình yêu Thiên Chúa.

Các thánh Tử Đạo Việt Nam có lòng tin mạnh mẽ. Lòng tin của các ngài không biểu lộ trong những hành vi cuồng tín, nhưng diễn tả trong thái độ chan chứa yêu thương. Đã nhận biết Chúa, các ngài yêu mến Chúa tha thiết. Đã cảm nhận được tình yêu của Chúa các ngài mong muốn được đáp đền tình yêu đó.

Tình yêu của các ngài là tình yêu hy sinh. Nên các ngài đã từ bỏ tất cả: cuộc sống yên ổn, danh vọng tiền tài, kể cả mạng sống vì Chúa. Thánh Hồ đình Hy sẵn sàng chịu mất chức trong triều đình. Thánh Tôma Thiện vui lòng dâng hiến tuổi xuân xanh với những lời hứa hẹn chức quyền của vua quan. Thánh nữ Anê Lê thị Thành mạnh dạn từ bỏ gia đình êm ấm với những người con ngoan ngoãn dễ thương. Tất cả vì tình yêu Chúa.

Tình yêu của các ngài là tình yêu chung thuỷ. Các ngài yêu mến Chúa khi bình an, các ngài càng yêu mến Chúa trong những gian nan thử thách. Các ngài đã thực hiện lời thánh Phao-lô: Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giêsu, Chúa chúng ta (Rm 8,35-39).

Tình yêu của các ngài là tình yêu cao quí. Đáp lại tình yêu của Đức Giêsu Kitô đã hiến thân vì các ngài, các ngài cũng hiến dâng mạng sống để minh chứng tình yêu với Chúa. Đúng như lời Chúa nói: Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13).

Tình yêu cuộc sống.

Các ngài là những người yêu mến cuộc sống. Không phải một cuộc sống tầm thường nhưng là cuộc sống với tất cả những chiều kích cao đẹp của nó. Cuộc sống với những giá trị thiêng liêng như lý tưởng, như tình yêu, lòng trung tín. Một cuộc sống không nô lệ cho vật chất. Một cuộc sống trung thực không giả dối. Một cuộc sống không bị đóng khung trong thế giới hữu hạn mau tàn nhưng mở ra đến vĩnh cửu. Một cuộc sống không hạ con người xuống nhưng nâng con người lên ngang với các thần thánh. Thật sự yêu mến cuộc sống nên các ngài sẵn sàng hy sinh tính mạng để làm chứng, để bảo vệ và xây dựng.

Tình yêu nhân loại.

Cái chết của các ngài minh chứng một tình yêu vô biên đối với nhân loại. Các ngài không chỉ yêu mến Chúa mà còn yêu mến gia đình. Hãy nhìn cảnh thánh Lê văn Phụng hoặc thánh nữ Lê thị Thành an ủi con cháu trước khi ra pháp trường. Tình yêu thương của các ngài lan cả tới lính gác, cai tù và lý hình. Thánh Lê văn Phụng chữa bệnh cho người cai tù của mình. Tất cả các thánh vui vẻ ra đi chịu chết. Không có ai tỏ lòng oán hận. Và nhất là không có vị nào thù ghét các lý hình.

Tình yêu của các ngài phát xuất từ tình yêu Chúa nên rộng rãi toả lan tới mọi người, mọi nơi các ngài sinh sống. Tình yêu ấy là tình yêu nguyên tuyền nên không biết đến sự thù ghét, nên sẵn sàng tha thứ cho kẻ làm hại mình. Tình yêu ấy như bông hoa vẫn toả hương trong tay kẻ vò nát nó. Tình yêu ấy giống như loài gỗ quí vẫn phả hương thơm cả đến chiếc rìu bổ vào nó (Fulton Sheen).

Động lực hướng dẫn cuộc đời các ngài là tình yêu. Cái chết của các ngài làm chứng cho tình yêu. Đó chính là điều mà ta có thể bắt chước các ngài. Trong hoàn cảnh hiện nay, ta không có hy vọng được phúc tử đạo, nhưng ta vẫn có thể noi gương các thánh Việt Nam làm chứng cho đạo Chúa. Nếu ta không được chết cho tình yêu, ta vẫn có thể sống cho tình yêu. Có lẽ ngày nay Chúa cũng không mong ta chết vì đạo mà mong ta hãy sống vì đạo.

Lạy các thánh Tử Đạo Việt Nam, xin chúc lành cho quê hương và Giáo Hội Việt Nam. Amen.

 

.

CON NGƯỜI THÍCH THỎA HIỆP

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Cuộc sống con người luôn đầy rẫy sự thỏa hiệp. Thỏa hiệp trong giao tế, trong chính trị, trong làm ăn. Thỏa hiệp đòi hỏi sự nhượng bộ, sự nhân nhượng, nhường bước. Sự thỏa hiệp đòi hỏi phải từ bỏ một phần quan điểm của mình để nhượng bộ cho đối phương. Cách riêng, trong đời sống luân lý thì không có sự thỏa hiệp. Con người không bao giờ được thỏa hiệp với sự dữ, nghĩa là không bao giờ thỏa hiệp với Satan và bộ hạ của nó. Thỏa hiệp với ma quỷ là con người tự làm cho mình ra nô lệ tội lội.

Adam – Eva đã tự tìm đến cái chết khi thỏa hiệp với ma quỷ. Thỏa hiệp luôn là thất bại trong cay đắng. Thỏa hiệp là tự tìm đến cái chết thay vì được sống trong tự do. Biết bao người đã thỏa hiệp để bắt tay làm ăn bất chính, để làm ngơ trước sự xấu hoành hành. Họ có tiền, có quyền nhưng không bao giờ có niềm vui tâm hồn bình an.

Tuy nhiên, cuộc đời vẫn còn đó những con người từ chối thỏa hiệp. Họ là những con người thà nghèo đói để được bình an tâm hồn hơn là kiếm tiền bằng việc phi nhân thất đức mà lòng chẳng chút bình an. Họ chấp nhận vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời vua chúa trần gian, cho dù phải tù đầy, gian truân khốn khó. Họ chấp nhận đánh mất mùa xuân hạn hẹp trần gian để đổi lấy mùa xuân bất diệt thiên đàng.

Hôm nay chúng ta mừng kính 117 thánh tử đạo Việt Nam, là con số tượng trưng cho hơn 130 ngàn vị tiền nhân đã chết trong các đợt cấm đạo tại Việt Nam. Họ đã chết không phải vì chống lại triều đình. Họ đã chết không phải vì lỗi công bình bác ái với tha nhân. Họ đã chết vì không chịu thoả hiệp với thế gian. Giữa sự sống và sự chết chỉ cách nhau một lằn ranh. Lằn ranh đó chính là cây thập giá. Bước qua thì được thoát khỏi cực hình trần gian. Bước qua thì được trở về với vợ con, với xóm làng. Đôi khi còn được hưởng chức tước vua ban. Nhưng các thánh tử đạo Việt Nam đã không vì thế mà chối Chúa, bỏ đạo. Không vì ham sống sợ chết mà chà đạp lên thập giá. Các ngài cam lòng chịu đòn roi, chịu án tử hình như cơ hội để lãnh phúc triều thiên vinh quang. Như trường hợp ông đội Bường đã thẳng thắn trả lời với quan quân: “Bên đạo chúng tôi ai chết trẻ là đi đường tắt, ai chết già là đi đường trường. Song đàng nào cũng tới quê thật là nước thiên đàng vậy”. Thế nên, thánh nhân đã khuyên nhủ các đồng đạo rằng: “Chúng ta hãy vui lòng chịu mọi sự khốn khó để giữ nghĩa cùng Chúa cho đến khi nào thánh ý Chúa định thể khác. Nếu quan có hành hạ thì hãy can đảm chịu đựng. Hễ xác chết rồi thì hồn chúng ta bay thẳng về trời, không sợ gì roi đòn. Chịu sự khó như vậy là vác thánh giá theo Chúa Giêsu. Nếu có đau đớn quá thì hãy xin Ðức Mẹ phù trợ cho được bền lòng đến cùng”.

Là con cháu các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta luôn tự hào vì có các vị tiền nhân đã dám chết để minh chứng niềm tin. Đây là gương sáng mà các ngài để lại cho hậu thế. Hãy sống trung thành với Chúa, với Giáo hội. Hãy can đảm từ chối mọi thỏa hiệp bất chính. Nhưng xem ra cuộc đời vẫn còn đó những con người vì chút bổng lộc trần gian đã bỏ đạo, đã chống đối đạo. Vẫn còn đó những con người vì miếng cơm manh áo đã chẳng giữ đạo hay chỉ giữ một cách hời hợt. Họ giữ đạo hình thức đôi khi có cũng như không. Vẫn còn đó những con người vì tiền mà bán mình, bán con để kiếm đồng tiền bất chính. Họ thà rằng lỗi luật Chúa còn hơn là bỏ lỡ cơ hội lấy tiền, lấy bạc. Vẫn còn đó những con người bỏ Chúa chứ không bỏ tiền, bỏ Chúa chứ không bỏ tình, bỏ Giáo Hội chứ không bỏ danh vọng trần gian.

Lạy các thánh TDVN là cha ông của chúng con, xưa các ngài đã dùng máu đào để bảo vệ đức tin xin gìn giữ chúng con luôn trung kiên theo Chúa, dám khước từ danh lợi thú trần gian để nên chứng nhân cho Nước Trời trong cuộc sống hôm nay.

 

.

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí 

Ngày xưa, khi nhắc đến các Thánh tử đạo, nhất là các vị tử đạo Việt nam, chúng ta thường hình dung đến những cực hình ghê sợ mà người ta nghĩ ra để hành hạ các ngài. Các cực hình dã man ấy không những không làm lung lạc đức tin của các ngài, mà còn khiến các ngài càng mạnh mẽ hơn trong việc đón nhận và tuyên xưng đức tin. Ngày nay, những cái chết vì đức tin như vậy vẫn còn diễn ra dưới nhiều hình thức tử đạo mới. Hằng năm trên thế giới vẫn có hàng ngàn người đang phải chịu khốn khổ, bị kỳ thị vì đức tin của mình. Nhiều người đã phải bỏ quê hương để đi tìm một chỗ nương thân an toàn, ví dụ như tại Irăc và Sirya trong năm vừa qua. Nhà nước IS đã tuyên bố bất cứ ai kêu tên Giêsu mà người khác nghe được thì bị xử bắn. Vì thế, trong năm qua, có đến hàng trăm Kitô hữu đã bị giết tại Sirya chỉ vì họ nhận mình là Kitô hữu. Cũng giống như thế, tại quốc gia Bắc Hàn, các Kitô hữu phải sống một cuộc sống hết sức khó khăn, bị o ép và khủng bố, có thể bị tù đày, bị giết chết bất cứ lúc nào. Tại quốc gia này, cuốn Kinh Thánh trở thành cuốn sách bị cấm. Ai đọc hoặc giữ cuốn Kinh Thánh trong người, có thể bị tử hình.
Tại Việt Nam, kể từ những ngày đầu tiên khi Tin Mừng được gieo vãi trên quê hương đất nước cho đến nay, người Kitô hữu dường như liên tục bị bách hại về niềm tin của mình. Tổ tiên của chúng ta, các vị tử đạo Việt Nam, đã đón nhận đức tin trong hoàn cảnh hết sức khó khăn như thế. Các ngài đã phải chọn lựa và quyết định cho mình một niềm tin, một nếp sống khác với những người đồng hương lúc đó. Trong khi những người khác hoàn toàn sống theo tâm tình tôn giáo dân gian, sống một cuộc sống thoải mái dễ dãi, thì tổ tiên chúng ta đã chấp nhận đi vào con đường của Tin Mừng. Các ngài đi theo con đường hẹp, chấp nhận tuân theo giới răn lề luật của Thiên Chúa, từ chối các thần linh của dân ngoại. Các ngài mặc dù có chọn lựa riêng cho mình, sống giới răn riêng của Tin Mừng, nhưng các Ngài không sống tách biệt khỏi các người đồng hương, trái lại, các ngài đã sống đến cùng giới răn yêu thương, bác ái đối với những người khác. Có những thời kỳ chính quyền đã coi các tín hữu như công dân hạng hai, họ khắc trên mặt người Công giáo chữ “tả đạo” để dễ dàng phân biệt đối xử. Cha ông của chúng ta vẫn không hề thù oán, không phản kháng, không báo thù, các ngài vẫn tận tình sống tình yêu thương chan hoà với hết mọi người, khiến những người dân ngoại đã gọi họ là “những người theo đạo yêu nhau”.
Các vị tử đạo đã sống đúng như lời sách Khôn Ngoan đã nói : Linh hồn những người công chính ở trong tay Thiên Chúa, không một cực hình nào có thể động tới được các ngài…Trước mắt người đời, chúng tưởng như các ngài đã chết, nhưng thực ra các ngài vẫn đang sống… Người đời nghĩ rằng các ngài bị trừng phạt, nhưng các ngài vẫn chứa chan hy vọng. Ba trăm năm đầu tiên là quãng thời gian hết sức khó khăn đối với các tín hữu, thế nhưng, dường như những cơn đàn áp càng khốc liệt, thì Tin Mừng lại càng được loan truyền và con số những người tin theo Chúa lại càng gia tăng. Các ngài bị hành hạ nhưng các ngài vẫn hy vọng vào phần thưởng Nước Trời mà Thiên Chúa đã hứa.
Bước sang thế kỷ 20 – 21, tình hình bắt bớ, giết hại những tín hữu có phần lắng xuống, nhưng không phải đã được tự do hoàn toàn. Người Kitô hữu Việt Nam lại trải qua một hình thức tử đạo khác. Họ vẫn phải cố gắng sống và thể hiện niềm tin của mình trong một môi trường xã hội mới. Nhiều nơi, các tín hữu vẫn bị o ép giới hạn cách này cách khác. Nhiều người đã bị tù tội chỉ vì mang danh là người Kitô hữu, vì nhiệt tâm phục vụ. Nhiều tín hữu đã chết trong tù hoặc nơi rừng sâu nước độc, chỉ vì muốn sống đến cùng đòi hỏi của Tin Mừng. Bên cạnh những người mạnh dạn tuyên xưng đức tin và hết mình bảo vệ quyền được sống và thể hiện đức tin của mình, thì cũng có những người đã chấp nhận thỏa hiệp với cơn bách hại của quyền lợi và danh vọng. Trong số đó, không thiếu những người vì quyền lợi, địa vị xã hội, sẵn sàng che giấu đức tin của mình, không dám nhận mình là người có đạo. Những người này còn muốn thể hiện ra bên ngoài như thể là mình chưa từng biết Chúa Giêsu. Họ công khai từ chối Chúa Giêsu và Tin Mừng, từ chối nếp sống của người tín hữu ; họ xấu hổ vì Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài.
Bước vào thời kỳ văn minh hiện đại hôm nay, ở một số nơi, các tín hữu Kitô vẫn đang bị bách hại bởi các nhóm khủng bố, các nhà cầm quyền; còn người Kitô hữu Việt Nam lại phải đương đầu với cơn bách hại khác. Cuộc bách hại này có lẽ không đến từ những áp lực bên ngoài, nhưng là một cuộc chiến liên tục bên trong mỗi người để chọn cho mình một cách sống. Ngày xưa, cha ông chúng ta đã chấp nhận cái chết đổ máu để giữ đạo; ngày nay, chúng ta cũng đang phải từng ngày rỉ máu vì chọn lựa sống đạo. Chúng ta chọn để sống theo Đức Kitô, có nghĩa là chọn sống giống như Ngài, sống nghèo khó và quảng đại phục vụ, sống yêu thương và tha thứ.
Ngày nay, trong khi con người đề cao tự do một cách thái quá thì người Kitô hữu lại chấp nhận khép mình vào trong khuôn thước của Tin Mừng. Chúng ta được mời gọi sống sự tự do của con cái Chúa, tức là thoát khỏi sự ràng buộc của vật chất, dục vọng để vươn lên sống đúng với tư cách là con Thiên Chúa, những người đã được cứu chuộc. Xã hội ngày nay tìm mọi cách để thoả mãn mọi nhu cầu của con người, thì người tín hữu lại chấp nhận một cuộc sống tiết chế, làm chủ bản thân, bắt mình phải quy hướng về Thiên Chúa và thần phục Ngài.
Giàu có, sung túc đang là mục tiêu của nhiều người, nó cũng biến con người trở nên tàn ác với nhau để giành được mục tiêu đó. Người Kitô hữu không thể đứng bên ngoài dòng chảy này. Tuy nhiên, chúng ta được mời gọi không thể để mình sống và đối xử với nhau theo bản năng của con thú, nhưng đối xử bằng tình bác ái và tình yêu thương. Con người khi đã đạt được sự giàu có thì dễ dẫn đến cuộc sống phô trương hưởng thụ, còn người tín hữu được mời gọi sống siêu thoát, tức là sống tinh thần nghèo khó khiêm nhường, phó thác cuộc đời, công viêc, tài sản cho Chúa và sử dụng của cải theo ý Chúa. Cuộc sống khi giàu có dễ biến căn nhà của chúng ta trở thành kín cổng cao tường, làm cho con người trở nên to bụng nhưng tay chân ngắn lại, trở nên khép kín và lạnh lùng đối với nhau. Người Kitô hữu được mời gọi mở rộng cửa nhà và mở rộng đôi tay để có thể bước đến với anh em, để chia sẻ và phục vụ họ.
Cuộc tử đạo của chúng ta hôm nay là liên tục sống tình yêu thương và tha thứ. Có lẽ vì vậy mà Giáo hội đang hoàn thiện hồ sơ để tôn phong Tôi Tớ Chúa, Đức Hồng Y Fancis Nguyễn Văn Thuận, lên bậc Chân phước Tử đạo cho dù Ngài không trực tiếp chết vì đạo. Giáo hội đã nhìn thấy gương sống yêu thương và tha thứ của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận như cuộc tử đạo liên tục. Trong thánh lễ an táng ngài, Đức Thánh Giáo Hoàng JP II và cả giáo triều lúc đó đã mặc phẩm phục màu đỏ thay cho màu tím truyền thống. Trong quan tài của Đức Hồng Y, người ta đã đặt vào đó một tấm bia bằng đồng ghi tóm tắt lịch sử cuộc đời của ngài. Việc làm này cho thấy sự kính trọng mà giáo triều đã dành cho ngài như truyền thống Giáo hội vẫn làm cho các vị tử đạo.
Đức hồng Y Fancis đã tử đạo bằng đời sống yêu thương và tha thứ cho những kẻ bách hại ngài. Sau hàng chục năm tù tội bất công, bị biệt giam như một con chó, vậy mà không bao giờ ngài kêu than oán trách. Trái lại, ngài luôn cầu nguyện cho những kẻ giam giữ mình. Trong các tác phẩm để lại, cũng như các cuộc nói chuyện, ngài kể về những năm tháng tù đầy như là những năm tháng ngài được tĩnh tâm, được sống thân mật với Chúa và làm việc mục vụ bằng lời cầu nguyện. Ngài tuyệt đối không dùng một lời lẽ cay cú hay thù oán, nhưng thay vào đó là một tâm hồn bình an, thanh thản đón nhận ý Chúa.
Chúng ta đang sống trong thời hiện đại, chúng ta cũng sẽ phải trải qua những cuộc tử đạo hiện đại và trở thành những vị tử đạo hiện đại. Chúng ta sẽ không chết vì gươm giáo hoặc đạn bắn, nhưng chúng ta sẽ phải chấp nhận chết, chấp nhận thiệt thòi vì Tin Mừng, vì sống đến cùng của lời mời gọi của Chúa : Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá hàng ngày mà theo Ta… Ai liều mạng sống mình vì tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Chúng ta cũng sẽ phải hết mình để chu toàn vuông tròn giới răn lề luật của Chúa và Hội Thánh, không thoả hiệp cũng không giảm thiểu.
Chúng ta sẽ phải tử đạo bằng đổ mồ hôi và nước mắt trong gia đình để bảo vệ sự vĩnh viễn của hôn nhân và để xây dựng một gia đình Công Giáo đúng nghĩa. Trước sự tấn công của các trào lưu xã hội trên các gia đình, chúng ta sẽ phải là những chiến sĩ chấp nhận hy sinh, không ngại thương tích để bảo vệ hạnh phúc và phẩm giá cao quý của đời sống hôn nhân và gia đình. Trước sức ép của cuộc sống vật chất, chúng ta vừa phải lao vào cuộc sống để tìm kiếm cơm ăn áo mặc cho con cái, nhưng cũng phải chấp nhận rướm máu vì giữ giới luật công bằng, yêu thương và bác ái.
Các bạn trẻ cũng phải tử đạo liên tục để sống đúng với ơn gọi là một người trẻ Công Giáo trong xã hội biến chuyển này. Chúng ta sẽ phải đổ máu để bảo vệ sự tinh tuyền của linh hồn và thân xác khỏi cơn bão của hưởng thụ ích kỷ, phim ảnh sách báo và lối sống buông theo dục vọng. Chúng ta vẫn phải sống, phải bước đi với mọi người trong xã hội, nhưng vẫn phải chiến đấu để khỏi đánh mất mình và mục đích cuộc đời trong dòng chảy của xã hội hôm nay.
Như thế, cuộc tử đạo ngày nay xem ra không kém phần khốc liệt như cuộc tử đạo ngày xưa của các vị tiền nhân. Xin Chúa qua sự bầu cử của Đức Maria và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, giúp chúng ta là con cháu của các ngài, biết sống khí tiết anh hùng của các Tiền Nhân, dám sống cho tới cùng lý tưởng của Tin Mừng trong thời đại hôm nay. Amen.

 

.

NHỮNG ĐẤNG BẬC ANH HÙNG

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Không kể 117 vị tử đạo tại Việt Nam được phong thánh năm 1988 và Anrê Phú Yên được phong chân phước năm 1999, còn hơn một trăm ngàn vị đã anh dũng dâng hiến đời mình, chấp nhận cái chết để làm chứng lòng trung thành và gắn bó với Đức Yêsu, Đấng yêu thương con người dầu phải chết.

Họ là ai?

Họ là những người cha người mẹ, họ là những người con, họ là những người chồng người vợ, họ là thanh niên thanh nữ, là tráng niên, là bô lão, là chủng sinh, là binh sĩ, là quan là dân, là dì phước là linh mục. Họ là những bậc tiền bối của dân con Việt Nam hiện nay. Họ là những người “dường như” không sợ chết. Họ chấp nhận gông cùm tra tấn, chấp nhận đòn vọt, đói khát, nắng mưa, bệnh tật, và sẵn sàng chấp nhận cái chết.

Họ là ai? Phải chăng họ là những người điên nên không sợ chết? Phải chăng họ là những người không còn biết trách nhiệm làm chồng làm cha làm con làm mẹ làm vợ làm dâu? Phải chăng họ không biết trách nhiệm với vợ dại con thơ? Phải chăng họ không còn ý thức bổn phận làm con phải sống để báo hiếu cha mẹ già yếu cần nương nhờ nơi họ? Phải chăng họ không còn rung động trước tình cảm bao người thân dành cho họ, mà “ngoan cố” không chịu bỏ đạo để phải chết?

Không! Họ là những người cha người chồng người vợ, vô cùng thương con thương vợ thương chồng. Họ là những người con rất có hiếu và rất ao ước được sống để phụng dưỡng báo hiếu cha già mẹ yếu. Họ là những người thông minh có thể làm quan, là những “anh hùng” sẵn sàng hiến mạng cho quê hương tổ quốc. Họ là những người bình thường chứ không phải là những người điên, họ rất nặng “tình người” chứ không phải là những người “vô cảm”. Họ chết vì người ta muốn giết họ, chứ không phải tự họ muốn chết; tuy vậy họ sẵn sàng đón nhận cái chết chứ không thể chối bỏ Thiên Chúa.

Tại sao họ kiên cường và anh dũng như vậy?

Họ là những người rất bình thường, nhưng Thiên Chúa đã làm những điều kỳ diệu nơi những con người yếu đuối mỏng manh.

Ai không sợ chết? Ai không sợ đòn vọt, tù đầy, gông cùm xiềng xích? Nhưng những bậc tử đạo “dường như” không sợ, vì có một giá trị nào đó cao hơn, một cái gì đó quý hơn mà cho dù tình yêu gia đình, cha mẹ, vợ con, và ngay cả mạng sống cũng không đánh đổi được. Với họ, Thiên Chúa là nhất, Thiên Chúa trên tất cả, trên tình yêu gia đình, trên tương quan ruột thịt, và trên cả mạng sống mình.

Qua các bậc anh hùng tử đạo, người ta đọc thấy không phải “con người” anh hùng, nhưng chính “Thiên Chúa” đang thực hiện những điều kỳ diệu nơi những con người đơn sơ mong manh chất phác, làm họ như những “bức tường bằng sắt, như những bức vách bằng đồng” và kiên vững không gì khuất phục được. Người ta có thể hủy diệt mạng sống các ngài, có thể giết các ngài, có thể nghiền nát xương thịt các ngài, nhưng không thể bắt các ngài làm theo ý họ. Thiên Chúa vô hình đang hiện diện qua thực tại hữu hình. Thiên Chúa hiện diện đó, rất rõ, dù người ta không nhìn thấy Ngài bằng mắt trần.

Sống cho đúng là con cháu của những bậc anh hùng

Chúng ta là con dân đất Việt, là con cháu của các đấng bậc anh hùng. Phải sống sao để “con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”. Xin cho chúng ta có tình yêu đối với Thiên Chúa, đối với Đức Yêsu, và sẵn sàng hy sinh tất cả vì Thiên Chúa.

Ngày nay người ta không còn nhiều dịp để “tử đạo” như ngày xưa, nhưng ngày nay người ta vẫn còn phải chọn giữa Thiên Chúa và tiền bạc danh vọng chức quyền; người ta vẫn phải chọn ưu tiên tương quan với Chúa trên những tương quan khác v.v..Ngày xưa phải đổ máu để sống đúng, để làm chứng; ngày nay không còn dịp đổ máu thể lý, nhưng để sống đúng như những người con của Thiên Chúa, người ta vẫn phải đổ máu “vô hình”, vẫn phải hy sinh, phải chết “chính con người của mình” thì mới có thể sống trọn vẹn cho Thiên Chúa được.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

(Nên hát “Đây bài ca ngàn trùng” trước khi chia sẻ)

  1. “Ngày nay tử đạo không đổ máu”, bạn hiểu sao về câu này?
  2. Với bạn, đâu là khó khăn nhất của đời sống kitô-hữu (đòi bạn phải hy sinh)?
  3. Bạn biết gì về các thánh hoặc chân phước tử đạo Việt Nam? (Kể tiểu sử một vị, hoặc điểm nào đó mà bạn thán phục của một trong các vị mà bạn biết).

 

.

SỨC MẠNH NIỀM TIN TÔN GIÁO

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Nói đến sức mạnh, chúng ta tự nhiên sẽ nghĩ đến những chàng trai võ sĩ thân hình lực lưỡng, cân đối rắn chắc,với những bắp thịt vạm vỡ, với những quả đấm thôi sơn ngàn cân.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng nghĩ đến những trận cuồng phong, những cơn lũ lụt phá đổ cây cối nhà cửa làng mạc, đê điều, đường sá, cầu cống.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng thường nghĩ tới những đám cháy lớn thiêu rụi cả một khu rừng, thiêu huỷ các tầng lầu.Nói đến sức mạnh, chúng ta nghĩ đến những trận động đất san bằng nhiều thành phố, giết hại hàng triệu người trong vài giây đồng hồ.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng liên tưởng đến những cuộc chiến tranh đã giết hại bao sinh mạng, tàn phá bình địa nhiều thành phố làng mạc nhà cửa dinh thự đền đài.

Nhưng còn có một sức mạnh vạn năng khác, mãnh liệt hơn cả, quyết thắng tất cả mà lại luôn luôn ở trong tầm tay con người. Đó chính là sức mạnh niềm tin tôn giáo (Lm Nguyễn Quý Thiện).

Niềm tin tôn giáo không bao giờ bị bóp nghẹt do bất cứ quyền lực nào. Không có quyền lực nào có thể xoá bỏ được niềm tin tôn giáo. Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh xác tín đó.

  1. Sức mạnh đức tin vượt thắng những thách đố.

Trong chuyến hành hương Rôma, tôi có dịp đi viếng những hang toại đạo. Đi trong hang như là tìm về cội nguồn đức tin. Nơi đây biểu lộ sức mạnh đức tin của bao thế hệ tiền nhân. Giáo hội giữ vững niềm tin trên nền tảng tử đạo của biết bao con người nằm dưới hang này trong 300 năm đầu bị bách hại. Hang toại đạo là hệ thống đường hầm đào sâu dưới lòng đất tại các khu nghĩa trang ngoại thành Rôma. Những hang hầm dài nhiều cây số. Không phải chỉ một tầng mà đến 3, 4 tầng sâu dưới lòng đất. Không khí trong hang rất lạnh lẽo. Mùi tử khí vẫn còn thoang thoảng đâu đây. Đi trong hầm mộ lạnh lùng, hoang vắng, lối ngõ ngoằn ngoèo, tôi cảm nghiệm được ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Sự chết luôn luôn đe dọa rình rập cướp lấy mạng sống con người. Bước đi trong lòng tin và lòng cảm phục nên người hành hương lại cảm nhận sự ấm áp, thân tình gần gũi với các thế hệ tiền bối. Gia sản của Giáo Hội là đây.Tại nơi này, các tín hữu sơ khai đã ẩn trốn những cơn bách hại liên tiếp trong ba thế kỷ. Sức mạnh đức tin thật là kỳ diệu.

Suốt ba trăm năm bắt Đạo, trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn trăm ngàn Vị Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách. Trong số này, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân.

Trải qua 300 năm, với 53 sắc dụ cấm đạo dữ dội, Giáo Hội Việt Nam đã chịu bách hại và đã biểu lộ hào hùng sức mạnh đức tin qua dọc dài lịch sử.

Các Thánh Tử Đạo đã chịu đủ mọi cực hình: bị xiềng xích, lao tù, bị tra tấn, bị bỏ đói, bị chém đầu, bị thắt cổ, bị bá đao, phanh thây, bị kìm kẹp, bị voi dày, bị thiêu sống, bị buộc đá thả trôi sông, bị tống cổ ra khỏi nhà cửa, làng mạc, sống vất vưởng trong rừng sâu nước độc. Các ngài đã bị chết đói, chết khát, chết bịnh và bị dã thú ăn thịt…Với sức mạnh đức tin, các ngài đã chiến thắng mọi thứ cực hình dã man. Cho dù là gông cùm, xiềng xích, nhốt trong cũi, đánh đòn, bỏ đói, voi giầy, trói ném xuống sông, đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng, chặt đầu, thắt cổ,  thiêu sống, phân thây ra từng mảnh…các ngài chấp nhận tất cả nhờ đức tin mạnh mẽ. Trong 117 Thánh Tử Đạo được tuyên phong, có 79 vị bị trảm quyết (bị chặt đầu); 18 vị bị xử giảo (bị thắt cổ); 8 vị chết rũ tù; 6 bị thiêu sinh; 4 bị lăng trì (phân thây ra từng mảnh); 1 bị tử thương và 1 bị bá đao.

Người ta nghĩ ra mọi thứ hình phạt tàn ác để buộc các tín hữu chối bỏ đức tin.

-Thật kinh hoàng sởn tóc gáy khi nghe kể về cái chết của Cha Cố Du theo kiểu bị xử bá đao: “Ngày 30.11.1835, họ chọn Thợ Đức làm pháp trường để xử ngài.Sáng sớm hôm đó, họ điệu ngài đến nơi hành hình. Bên một lò than đang cháy đỏ rực có 5 tên lính cầm 5 chiếc kìm sắt đã được nung đỏ.Nghe lệnh, cùng một lúc cả 5 tên kẹp kìm nung đỏ vào mình ngài kéo ra những miếng thịt khét lẹt.Họ vu cho ngài móc mắt trẻ con khi rửa tội. Làm điều ám muội khi cử hành lễ cưới và cho ăn thịt người khi rước lễ. Sau đó họ tiếp tục gây thêm những thương tích nữa cho đến khi ngài bất tỉnh thì họ mới hành quyết. Họ cột chân tay ngài vào cây cột. Hai bên lính cầm kìm chờ sẵn. Cha Du ngửa mặt lên trời cầu nguyện dâng mạng sống mình cho Chúa. Sau hồi trống báo hiệu, hai tên lính cầm kìm kẹp vào ngực ngài kéo ra 2 miếng thịt nơi vú liệng xuống đất, một tên lính khác cầm dao xẻo thịt phía sau hông, rồi đến bắp đùi thì chúng lấy kìm kéo ra rồi lấy dao xẻo đứt từng miếng… làm cha rất đau đớn. Không được bao lâu thì ngài ngất đi, đầu rũ xuống và ngài về chầu Chúa lúc 17g ngày 30.11.1835. Cha Du chết rồi bọn lính còn chặt đầu ngài cho vào một chiếc thùng đầy vôi, cởi trói lật xác úp xuống rồi phân thây ra từng khúc bỏ tất cả vào thùng vôi. Đầu ngài họ đem treo 3 ngày ở giữa chợ rồi xay nát, bỏ chung với thùng vôi đựng xác ngài đoạn quăng cả xuống biển cho mất tích”.

-Thánh Giám mục Xuyên, chân tay bị trói vào bốn cọc. Năm lý hình cầm 5 cái rìu, sẵn sàng nghe lệnh quan án sát. Vừa nghe lệnh, hai lý hình chặt hai chân, hai lý hình chặt hai tay, đến lượt lý hình thứ năm chặt đầu. Rồi họ mổ bụng ngài cắt lấy ruột gan.

-Cha Điểm và Cha Khoa bị trói chân tay vào cột, lý hình tròng dây vào cổ. Nghe hiệu lệnh, lý hình cầm hai đầu dây xiết mạnh cho đến khi hai vị nghẹt thở và lịm dần.

Dù chịu mọi cực hình tàn bạo, bị hành hạ tra tấn khủng bố, các ngài vẫn không chối bỏ đức tin. Vua chúa, quan quyền, binh lính phải sững sờ kinh ngạc và kính phục lòng tin sắt son của các ngài.

Thánh Hồ Đình Hy làm quan lớn trong triều đình. Quan Án Phạm Trọng Khảm. Nhờ sức mạnh đức tin, các ngài chấp nhận mất chức quyền, mất danh vọng thế gian và sẵn sàng hiến dâng mạng sống.

Thánh Lê Thị Thành, thân phận phụ nữ yếu ớt, gánh nặng gia đình, nhờ sức mạnh đức tin nên ngài đã sẵn sàng chịu mọi cực hình để minh chứng tình yêu đối với Đức Giêsu Kitô.

Thánh Tôma Thiện, Phaolô Bột, đầu xanh tuổi trẻ, tương lai còn dài, nhiều hứa hẹn. Các ngài đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho Chúa nhờ sức mạnh đức tin.

Các Thánh Tử Đạo vui lòng đón chịu mọi cực hình đau đớn, chấp nhận mọi thua thiệt, vui lòng mất hết địa vị bổng bộc và hiên ngang tiến ra pháp trường đón nhận cái chết như một mối phúc, minh chứng lòng trung thành của mình đối với Đức Kitô. Cái chết của các ngài làm sáng lên sức mạnh đức tin.

  1. Những thách đố Đức Tin thời nay.

Làm sao chúng ta có thể sống đức tin mạnh mẽ như các Thánh Tử Đạo. Ngày nay đâu còn cảnh cấm đạo, bắt đạo, giết người có đạo như thời xưa.

Nhưng ngày nay có rất nhiều thách đố đức tin với tín hữu Việt Nam.

–       Vô thần duy vật

Thách đố trước hết đối với Đức Tin chính là môi trường mà chúng ta đang sống và “hít thở”, đó là một xã hội vô thần duy vật. Đây một xã hội tự bản chất chối bỏ Thiên Chúa, đề cao vật chất và quyền lực. Sự chối bỏ Thiên Chúa sẽ là nguyên nhân đưa tới sự sa đọa của con người và xã hội. Khi một xã hội vắng bóng Thiên Chúa, người ta sẽ tạo ra những “thiên chúa khác” nơi một con người hoặc nơi vật chất như người Do Thái trong Cựu Ước đã đúc ‘bò vàng” để thờ như thờ Thiên Chúa. Xã hội chạy theo sức hấp dẫn của đồng tiền. Của cải và quyền lực lên ngôi. Thang giá trị đạo đức bị đảo lộn. Người ta tìm mọi cách kiếm tiền để có quyền. Khi có chức quyền thì càng kiếm được nhiều tiền. Đồng tiền đang trở thành một quyền lực chi phối toàn bộ đời sống con người. Ai cũng muốn có nhiều tiền. Để có nhiều tiền, nhiều người đã không từ chối một phương cách nào: lường gạt, lừa đảo, làm hàng gỉa, buôn bán ma túy, tham nhũng, hối lộ… Tiền bạc qủa là một cơn cám dỗ đang làm chao đảo thế giới, tàn phá những gía trị, biến chất con người. Trong xã hội đó, nhiều người Công Giáo cũng bị cuốn hút vào ma lực của đồng tiền, nên dễ đánh mất Niềm Tin, xa rời Giáo Hội.

–         Gian dối và lừa lọc lên ngôi

Thách đố thứ hai của Đức Tin, đó là xã hội Việt Nam đang báo động bởi đầy dẫy những bất công, lạm quyền và giả dối lan tràn. Đạo đức suy thoái, lương tâm và nhân phẩm bị xúc phạm. Mấy câu thơ sau đây có thể tóm tắt thực trạng xã hội:

Nhân phẩm ngày nay giảm giá rồi,

Chỉ còn thực phẩm tăng giá thôi,

Lương tâm bán rẻ hơn lương thực,

Chân lý chân giò một giá thôi.”

Sống trong môi trường như thế, nhiều người lập luận: người ta gian dối mà mình trung thực là mình thua thiệt! Có những người Công Giáo cũng hành xử như người không tin, cũng lừa lọc, gian lận đủ cách để làm sao mình có lợi.

–         Sự đề cao hưởng thụ cá nhân

Chúng ta đang phải đối diện với một nền văn hóa bị thống trị bởi lối sống hưởng thụ ích kỷ. Trong đó, con người chạy theo lối sống hưởng thụ cá nhân, biến người khác thành một món hàng để chiếm đoạt và mua bán. Tương quan yêu thương và nhân bản bị xếp sau tương quan trao đổi và lợi ích kinh tế. Xã hội này đã sinh ra những đứa con “quái thai” trong cách sống: bằng mọi cách để kiếm tiền và hì hục hưởng thụ! Khi sống theo lối sống này, con người trở nên ích kỷ, quy ngã, hời hợt, và ít quan tâm đến người khác, thiếu khả năng liên vị, không biết tôn trọng và yêu thương người khác. Quan sát cách hành xử của người Việt Nam ở nơi công cộng và nhất là khi tham gia giao thông, sẽ thấy người ta tranh giành nhau, chụp giật và manh mún theo kiểu mạnh ai người ấy thắng, cá lớn nuốt cá bé. Cách sống nói lên não trạng và tâm tính con người. Đó là một tình trạng đáng buồn cho xã hội Việt Nam hôm nay!

– Chủ trương duy tương đối

Còn có một thách đố lớn hơn đối với Đức Tin mà Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI luôn cảnh báo, đó là chủ trương duy tương đối. Chủ trương này khiến cho con người hôm nay không còn muốn chấp nhận các chân lý tuyệt đối nữa, không quy chiếu và sống theo một chuẩn mực luân lý hay giá trị đạo đức khách quan nào nữa. Tất cả là tương đối và mỗi người có thể thay đổi các chân lý và sống theo những chọn lựa và chuẩn mực cá nhân. Đây là sai lầm căn bản dẫn đến những sai lầm khác của con người hôm nay. (x. Những thách đố đối với Đức Tin trong xã hội hôm naylamhong.org).

Những lối sống và não trạng trên đã và đang len lỏi vào các ngõ xóm, các xứ đạo của chúng ta.

  1. Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô

Mỗi ngày sống là thời gian và cơ hội quý báu giúp mọi Kitô hữu “tái khám phá hành trình Đức Tin để luôn làm nổi bật niềm vui và lòng hăng say mới của việc gặp gỡ Đức Kitô” đồng thời, “khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát vọng tuyên xưng Đức Tin trong sự toàn vẹn và với niềm xác tín được đổi mới, trong niềm tín thác và hy vọng” (Tự sắc Porta Fidei, số 2 và 9).

Đức Giáo Hoàng Biển Đức dạy : Cần phải tăng cường việc cử hành Đức Tin. Cử hành đức tin là tuyên xưng, sống và làm chứng cho Đức Tin. Tuyên xưng Đức Tin như Kinh Tin Kính dạy và như Hội Thánh công bố. Tuyên xưng Đức Tin trong mọi hoàn cảnh sống khi an vui, hạnh phúc và thành công, cũng như khi đau khổ, bệnh tật, thất bại hay khủng hoảng. Cử hành Đức Tin bằng việc nhiệt thành dấn thân thực hiện công cuộc truyền giáo với cách thức mới mẻ và hiệu năng hơn. Cử hành Đức Tin bằng sự chuyên cần cử hành và lãnh nhận các bí tích. Cử hành các bí tích là cử hành mầu nhiệm các đức tin, nhất là bí tích Thánh Thể và Hòa Giải.

Đức Tin là hồng ân vô giá mà Thiên Chúa đã ban tặng. Đức Tin là “cửa” mở ra, đưa chúng ta đi vào đời sống kết hiệp thân tình với Thiên Chúa và bước vào Hội Thánh của Người. Nhờ sức mạnh đức tin tôn giáo, các Thánh Tử Đạo khi bị bắt, bị kết án nên đã không chối đạo, không bước qua Thánh giá. Các Ngài đã bị hành hạ, bị kết án tử hình bằng nhiều hình thức hung bạo dã man nhưng các Ngài không bị khuất phục, không nhường bước, không thỏa hiệp để được sống thảnh thơi.Tiền bạc không làm cho các Ngài mù tối. Khổ đau không làm cho các Ngài chùn bước. Nhục hình không làm cho các Ngài ngã qụi. Thậm chí ngay cả cái chết cũng không uốn cong được lòng trung tín của các Ngài. Và chính dòng máu của các Ngài đổ ra như những hạt giống gieo vào lòng đất đã trổ sinh một Giáo hội Việt Nam phong phú như hôm nay.

Đức Tin bừng lên mãnh liệt trong mầu nhiệm tự huỷ và hiến dâng. Mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam là dịp để học hỏi nơi cuộc đời chứng nhân của các Ngài. Chúng ta được tiếp thêm sức mạnh Đức Tin để sống đạo giữa biết bao thách đố của thời đại hôm nay. “Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô, xây dựng trên nền tảng Đức Kitô và được củng cố trong đức tin” (Cl 2, 7), chúng ta sẽ được tràn đầy sức mạnh Đức Tin.

 

.

BỊ BÁCH HẠI VÌ SỐNG CÔNG CHÍNH

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Bài Tin Mừng được chọn để đọc trong ngày lễ kính Các Thánh Tử Đạo được trích từ bài giảng trên núi chương 05 Phúc Âm Mát-thêu, mà chúng ta vẫn quen gọi là ‘Tám Mối Phúc’; mối phúc cuối cùng trong danh sách đó là: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ’. Trong sách Tin Mừng Lu-ca chương 06, dù chỉ đề cập tới có 04 mối phúc, nhưng mối phúc sau chót cũng vẫn nói tới cùng một điều này là: “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa. Ngày đó anh em hãy vui mừng nhảy múa vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” (Lc 6:22) Phải chăng đó là lý do tại sao các Ki-tô hữu từ thời xa xưa đã dành cho các vị anh hùng tử đạo một sự mừng kính đặc biệt trân trọng; họ gán cho các ngài danh hiệu cao quý là Chứng Nhân Tin Mừng (Martyrs). Ngày nay trong tư cách con cháu của các Anh Hùng Tử Đạo, chúng ta muốn thực sự tìm hiểu các vị tử đạo nói chung, và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam nói riêng, đã là các chứng nhân Tin Mừng như thế nào? Ta cần biết: khi tiến ra pháp trường để bị trảm quyết các ngài đã thật sự trung kiên bảo vệ điều gì; và ở điểm nào các ngài thực sự liên quan tới người Công Giáo Việt Nam chúng ta đang sống trong xã hội hôm nay?

Trong tiếng Việt, chữ ‘đạo’ thường được chúng ta sử dụng để nói tới một đạo giáo, một tôn giáo, như Đạo Phật, Đạo Hồi, Đạo Lão, Đạo Ông Bà, Đạo Thiên Chúa… Thế nhưng theo nguyên ngữ hán-nôm, ‘đạo’ là con đường, là lẽ sống, là học thuyết… dẫn tới mục đích tối hậu của cuộc sống, chẳng hạn đạo Khổng, đạo hiếu, đạo làm người. Đức Giê-su đã tự giới thiệu mình “là đường, là sự thật và là sự sống”; nếu nói theo từ vựng hán nôm Người sẽ phải tuyên bố: Người chính là ‘đạo, chân, sinh’. Vậy thì, trong cả phúc âm Mát-thêu lẫn Lu-ca, khi đề cập tới mối phúc chót này, Đức Giê-su chắc chắn không hề có ý muốn tuyên bố ‘phúc thay’ những ai dám chết cho một đạo giáo hay tôn giáo, nhất là hiểu dưới khía cạnh cơ cấu tổ chức của tôn giáo đó. Điều mà Đức Giê-su muốn biểu dương là: tất cả mọi hình thức ‘bị bách hại’, ‘bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa…’ đều là ‘phúc’ vì một yếu tố duy nhất, đó là ‘vì sống công chính’, hay rõ hơn: ‘vì Con Người’.

Tới đây tôi gợi nhớ lại tư tưởng bài suy niệm về đoạn Tin Mừng Lc 18:9-14 của Chúa Nhật XXX thường niên năm C: ‘Đối với Đức Giê-su, ai mới là công chính?’ Nếu đã có một nền công chính của Cựu Ước tóm gọn trong luật Mô-sê để bẩy anh em nhà Ma-ca-bê, vị bô lão Ê-lê-a-da, và Gio-an Tiền Hô vì trung thành với nó, đã buộc phải gánh lấy cái chết…; ‘các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế’, thì riêng với Ki-tô hữu sẽ có một thứ công chính mới được chính Đức Giê-su công bố. Nói đúng ra: chính Người là hiện thân của nền công chính đó, sự công chính của Thiên Chúa từ nhân, công chính của tình yêu tha thứ và cứu độ. Ai đón nhận và sống Tin Mừng này, tức là ‘Vì Con Người’ như Người khảng định, để rồi ‘bị bách hại’ hay chịu thua thiệt dưới bất cứ hình thức nào, đều là những người được Đức Giê-su biểu dương; những ai bị giết chết vì nền công chính mới này thì phải được chính Đức Ki-tô và toàn Nhiệm Thể Người tuyên phong ‘chứng nhân’ (martyr). Chính vì thế mà Hội Thánh ngay từ buổi sơ khai và qua mọi thời đại, đã có thói quen phong thánh cho các vị anh hùng ‘tử vì đạo’; qua việc đó Giáo Hội muốn tuyên bố rằng: các anh chị em tín hữu này là chứng nhân cho Tin Mừng tình yêu vì đã dám chấp nhận thua thiệt lớn hơn hết là mất cả mạng sống mình. Với việc phong thánh như thế Giáo Hội đồng thời cũng muốn khảng định bất cứ thua thiệt nào các Ki-tô hữu phải hứng chịu trong cuộc sống thường ngày vì ‘sống công chính mới’ đều có giá trị vô song và đáng biểu dương.

Suy nghĩ như thế tôi mới thấy rằng: có một liên hệ mật thiết giữa các chứng nhân ‘tử vì đạo’ với mỗi Ki-tô hữu chúng ta. Các ngài không phải là những trường hợp biệt lệ để các tín hữu có ‘may mắn’ được sống trong thời đại an bình nhìn vào mà thán phục mà ca ngợi, mà mơ ước rằng: nếu chẳng may lâm vào cơn cấm cách, mình cũng sẽ trung thành như các ngài. Đức Giê-su đã chẳng gọi tất cả mọi Ki-tô hữu là ‘ánh sáng’, là ‘muối men’ của trần gian, là chứng nhân Tin Mừng là gì? Có thể Người hàm ý: chứng nhân tích cực rao giảng Tin Mừng thì ít, nhưng chứng nhân vì buộc phải chấp nhận các thua thiệt, khó khăn vì nền công chính Tin Mừng trong đời sống thường ngày thì nhiều. Vì thế thật là chí lý: các ‘Thánh Tử Đạo’ được coi như tấm gương, như cột sống của Ki-tô hữu qua mọi thời đại, thời buổi bị bắt bớ thử thách cũng như khi được sống an bình sung túc.

Là người Công Giáo Việt Nam, chúng ta luôn tự hào vì Giáo Hội Việt Nam đã có hàng trăm ngàn các chứng nhân Tin Mừng như thế, trong số đó 117 vị đã được toàn Nhiệm Thể Đức Ki-tô phong thánh. Vấn đề được đặt ra là: phải chăng các ngài đơn thuần chỉ tạo nên nơi chúng ta một niềm kiêu hãnh mang tính lịch sử, hay đã trở thành cột sống, thành cơ bắp thúc đẩy chúng ta sống công chính Tin Mừng cách cụ thể trong đời sống thường ngày? Thua thiệt vì Tin Mừng thì thời đại nào cũng có, kể cả trong các xã hội được coi là phồn vinh dễ dãi và tự do; thế thì các ‘Thánh Tử Đạo Việt Nam’ đóng góp được gì cho người Công Giáo Việt Nam chúng ta trong xã hội được cho là ‘dễ dãi thuận lợi’ hơn hôm nay? Phải chăng chỉ là một khích lệ trung kiên nào đó sẵn sàng chiến đấu chống lại mọi thế lực thù nghịch khi cần, hay để kiên trì ‘sống công chính’ khi ‘bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa…’ ngay trong đời sống xã hội thường ngày?

Ngày mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay sẽ không mấy ý nghĩa, nếu mỗi người không tìm ra được câu trả lời cho vấn nạn này!

Lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, các ngài đã chịu bách hại vì dám chấp nhận ‘sống công chính’ để phải chấp nhận những từ bỏ tới độ anh hùng. Nếu Hội Thánh đã tuyên phong cái chết anh hùng của các ngài thì đồng thời cũng tuyên phong vô vàn những tủi hổ, thiệt thòi của biết bao tín hữu anh hùng vô danh khác. Tất cả các điều này không nằm ngoài mục đích thôi thúc mỗi người Công Giáo Việt Nam chúng con sẵn sàng hơn trong việc, cùng với Đức Ki-tô thập giá tha thứ và yêu thương ngay giữa lòng xã hội hôm nay, chấp nhận mọi thử thách gian nan. Xin các ngài tiếp tục trở nên chứng nhân Tin Mừng cho chúng con về một tình yêu tha thứ tuyệt đối. A-men.

 

.

LÀM CHỨNG CHO TÌNH YÊU

Văn Hào

Một lãnh tụ vô thần đã tuyên bố: “ Chúng ta hãy triệt phá Giáo hội, nhưng đừng tạo ra những vị tử đạo”. Khi tuyên bố như thế, một cách mặc nhiên ông ta công nhận điều mà Thánh giáo phụ Tertulianô đã nói là đúng :“ Máu các Thánh tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu”. Hôm nay, chúng ta mừng kính các Thánh Tử đạo tại Việt Nam. Máu các Ngài đã đổ ra năm xưa, dệt nên những trang sử oai hùng giữa lòng dân tộc. Chúng ta kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ cái chết của các bậc tiền bối cha ông và mở lòng đón nhận sứ điệp về ơn gọi tử đạo mà các Ngài chuyển giao cho con cháu là chúng ta ngày hôm nay.

Lược sử Giáo hội Việt Nam qua dòng thời gian

Hạt giống đức tin đã được gieo vào mảnh đất quê hương Việt Nam từ hơn 500 năm trước. Trong suốt chiều dài lịch sử, Giáo hội Việt Nam đã trải qua hơn 100 năm sống trong bách hại. Sắc dụ cấm đạo đầu tiên được ban hành năm 1625, kéo dài đến hết thời Văn Thân năm 1886. Hàng vạn con người đã ngã xuống do sự thù ghét. Thế gian ghét đạo, ghét Đức Giêsu và ghét luôn những môn đệ của Ngài. Đây chính là điều mà Chúa Giêsu đã cảnh báo từ 2000 năm trước (Mt 5, 11; 10, 22 ). Trong số các anh hùng Tử đạo, đã có 118 vị được ghi tên trong sổ bộ các thánh, gồm 117 hiển thánh và một chân phước. Có 97 vị là người Việt Nam, 11 vị Tây Ban Nha, và 10 vị người Pháp. Họ thuộc đủ các giai tầng xã hội, gồm 8 Giám mục, 50 linh mục, 15 thầy giảng, 1 chủng sinh và 44 giáo dân. Trong số giáo dân, có cả những vị làm quan trong triều đình, có vị làm nghề thu thuế, làm binh lính, y sĩ hoặc chỉ là nông dân quèn. Dù là người Việt Nam hay ngoại quốc, các Thánh Tử đạo đều nói lên một chứng từ duy nhất, đó là các Ngài làm chứng về Đức Giêsu chịu hiến tế, như Thánh Phaolô đã khẳng quyết: “ Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh vào Thập giá”. Cái chết của các Ngài là bài giảng sống động nhất và thâm thúy nhất. Họ rao giảng không phải trên lý thuyết, nhưng bằng chứng tá cụ thể, những chứng tá sống động và rất sâu xa. Có 6 loại án được thực hiện để hành quyết các vị tử đạo: Bá đao (cắt thân thể thành trăm mảnh) có 1 vị; Lăng trì (chặt chân tay, mổ bụng và vất xuống sông) có 4 vị ; Thiêu sinh (đốt sống) có 6 vị; Xử giảo (xiết cổ bằng dây) có 2 vị ; Xử trảm (chém đầu) có 75 vị và chết rũ tù có 9 vị. Vị Tử đạo lớn tuổi nhất là linh mục Vũ Bá Loan 84 tuổi và trẻ nhất là chủng sinh Tôma Thiện 18 tuổi. Trong thời Trịnh Nguyễn từ năm 1745 đến năm 1774 có 4 vị. Thời vua Cảnh Thịnh (1788 – 1801 ) có 2 vị. Dưới thời Minh mạng (1820 – 1840) có 58 vị tử đạo. Trong thời Thiệu Trị từ năm 1841 đến 1847 có 3 vị và thời Tự Đức từ năm 1847 đến 1883 có 50 vị. Đó là phác lược tổng quát các mốc điểm thời gian và bối cảnh dẫn đến cái chết của các Thánh Tử đạo. Nhìn lại một cách thoáng chung lịch sử của Giáo hội Việt Nam, chúng ta tạ ơn Chúa vì gia sản đức tin mà cha ông đã để lại. Gia sản đó được đan dệt bằng máu và nước mắt, đúng như lời quả quyết của thánh Tertulianô: “ Máu các vị tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu.”(sanguis martyrorum semen christianorum est)

Ý nghĩa của việc tử đạo

Triết gia Jean Guitton, bạn thân của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ nhị có kể lại một giai thoại. Hồi còn rất nhỏ, ban đêm ông ngủ với mẹ. Nhà hàng xóm bên cạnh có người chết. Giữa đêm khuya vắng bỗng có tiếng khóc ai oán vang lên nghe thật não nuột. Đứa bé sợ, ôm chầm lấy mẹ và hỏi: “ Mẹ ơi, chết là gì hả mẹ?” Bà mẹ trẻ lúng túng không biết trả lời thằng bé thế nào. Bà ngồi bật dậy mở Kinh thánh ra đọc. Trong Tin mừng Gioan, bà đọc thấy đoạn sau: “ Trước lễ vượt qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13,1)”. Gấp sách lại, bà nói với đứa con: “Con ơi, chết là trở về với Chúa Cha và yêu thương đến cùng. Đây là hai chiều kích đặc thù nơi cái chết của Đức Giêsu, vị tử đạo đầu tiên, và cũng được lập lại nơi cái chết của các Thánh tử đạo tại Việt nam. Các Ngài đã chết để trở về nhà Cha và hoàn tất cuộc hành trình yêu thương của mình nơi trần thế. Họ ý thức Lời Chúa dạy: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Nếu được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn, nào có ích gì?” (Mc 8, 35-36)” . Thánh Phaolô Đạm nói trước tòa án Nam Định: “ Nếu tôi có hai linh hồn, tôi sẽ bán một cái cho ma quỷ để cho các ông vui lòng, nhưng tiếc quá tôi chỉ có một linh hồn, nên tôi không thể bỏ mất”.

Nhưng trên hết, hành vi Tử đạo luôn hàm ngậm ý nghĩa của việc làm chứng. Hạn từ Marturion theo nguyên ngữ Hi Lạp cũng mang chở ý nghĩa này. Các Ngài chết để làm chứng, nhưng không phải làm chứng cho một chế độ, một chủ nghĩa, nhưng làm chứng cho một con người. Con người đó chính là Đức Giêsu, một Thiên Chúa làm người đã can đảm đón nhận cái chết khủng khiếp giống một tên cướp, để khai mở cho chúng ta chân trời ơn cứu độ. Các Thánh Tử đạo đã dùng máu của mình để làm chứng cho Đấng mà các Ngài tin theo.

Sống ơn gọi tử đạo ngày hôm nay

Trong đại hội tu sĩ trẻ thế giới tổ chức tại Rôma đầu tháng Chín vừa qua. Ban tổ chức đã dành một tiếng đồng hồ để các tu sĩ đặt câu hỏi và Đức Thánh Cha trực tiếp trả lời. Có một anh em tu sĩ dòng DonBosco đến từ Syria đứng lên phát biểu và hỏi Ngài vài điều. Đức Thánh Cha sau khi trả lời đã hỏi ngược lại: “Con từ đâu đến đây ?”. Vị tu sĩ trẻ nói là Ngài đến từ Syria. Đức Thánh Cha mở to đôi mắt nhìn vị linh mục và nói với cử tọa: “Chúng con hãy cầu nguyện cho các vị tử đạo hiện nay tại Iraq và Syria”. Cả hội trường xúc động vì tình hình chiến sự đang xảy ra rất khốc liệt tại Trung Đông, khiến bao nhiêu Kitô hữu bị giết, nhiều gia đình ly tán, các nhà thờ bị đốt phá, cả trăm ngàn người dân vô tội phải trốn tránh hoặc đi tị nạn.

Như vậy, ngày hôm nay vẫn còn các vị tử đạo, những con người bị thù ghét vì lý tưởng và niềm tin của mình. Nhưng hiểu theo nghĩa rộng hơn, sống mầu nhiệm tử đạo không phải là chuyện viễn tưởng xa vời. Đó chính là bản chất ơn gọi gắn liền với căn tính Kitô hữu chúng ta. Chúa Giêsu đã nói “ Ai muốn theo tôi phải bỏ mình vác thập giá hằng ngày mà theo tôi”(Mc 8,34).

Hầu hết các quốc gia trên thế giới ngày nay đã bãi bỏ án tử hình, và cũng tôn trọng tự do tôn giáo, ít nhất là trên lý thuyết. Việc đàn áp tôn giáo với những màn tra tấn, tống ngục hay giết chết đang dần bị con người ngày hôm nay đào thải, vì nó đi ngược với khái niệm về nhân quyền mà xã hội luôn đề cao. Tuy nhiên lời mời gọi của Đức Giêsu đi vào mầu nhiệm tự hủy để sống ơn gọi tử đạo vẫn luôn mang tính thời sự cho tất cả mọi người thuộc mọi thời đại, vì nó là thuộc tính nơi cuộc sống của những học trò Đức Giêsu. Ơn gọi Kitô hữu luôn hàm ngậm cái chết. Cái chết trên Thập giá theo gương Đức Giêsu là đích điểm mà tất cả mọi người chúng ta phải vươn tới. Văn hào Goethe đã viết: “ Làm một việc hy sinh to lớn trong khoảnh khắc thì dễ, chỉ cần chút can đảm nhất thời, nhưng thể hiện những hy sinh nho nhỏ và liên tục trong suốt cuộc đời thì khó hơn nhiều”. Đó là cái chết tiệm tiến, từ từ trong cuộc sống đức tin để sao chép lại chính cái chết của Đức Giêsu. Mô thức ơn gọi tử đạo của tất cả chúng ta hôm nay là như thế. Chúng ta phải đi sâu vào cái chết không đổ máu, không xích xiềng hay tù ngục qua cuộc sống hằng ngày và một cuộc sống như vậy chính là để làm chứng cho tình yêu.

Kết luận

Để kết luận, xin trích mượn tư tưởng của thánh Charles de Faucauld. Ngài nói: “ Ở đời này chúng ta chỉ có thể ôm lấy Chúa Giêsu bằng cách ôm trọn Thập giá của Ngài. Ta không thể yêu mến Thập giá mà lại không có Chúa Giêsu bị đóng đinh nằm ở trên. Đồng thời chúng ta cũng không thể ôm lấy Chúa Giêsu mà lại vắng bóng Thập giá”. Hoa hồng là biểu tượng của tình yêu. Cánh hoa hồng càng rực rỡ càng có nhiều gai nhọn ẩn sâu bên dưới. Cũng vậy tình yêu đến thật nhiều xuyên qua đau khổ. Con đường đau khổ dẫn đến Thập giá, chính là con đường của ơn gọi tử đạo, con đường của tình yêu. Cũng như thánh Têrêsa hài đồng Giêsu đã viết: “Sống bằng tình yêu không phải là định cư mãi với Chúa Giêsu trên đỉnh núi Tabor giữa những vinh quang sáng chói, nhưng là còn phải trèo lên đỉnh Calvê để ôm nhận Thập giá như một kho tàng”. Sống ơn gọi tử đạo là như thế.

 

.

SỐNG LÀ CHẾT

Lm. Jos. DĐH

Tục ngữ có câu : chết vinh hơn sống nhục, nếu lập lại câu đó trên môi miệng, không khó đối với con người ở mọi lứa tuổi. Sống, chết, xưa nay ai mà chẳng coi đó là qui luật, còn chết anh hùng hay sống hèn nhát, thì tùy tự do chọn lựa của mỗi cá nhân. Đồng ý rằng chết già cũng gọi là chết, chết trẻ cũng gọi là chết, tuy không có kinh nghiệm nhưng ai chẳng sợ chết ! Thực ra, sống là chết, hiểu theo nghĩa đen hay nghĩa bóng, thì sống xa hoa hay sống nhiệm nhặt rồi cũng chết. Sống mỗi năm, mỗi tháng mỗi ngày, ai cũng phải già đi, phải tiến tới cái chết theo qui luật : sinh lão bệnh tử.

Con người tự nhiên, ai cũng ngại nói tới chết, có chăng nghĩ tới sự chết là dịp tốt để người ta sống nghiêm túc, sống để không phải hối tiếc khi nhắm mắt xuôi tay. Với người tin Đức Kitô, yêu mến Đức Kitô, nếu được phúc chết vì bảo vệ đức tin gọi là tử đạo, vinh dự đó quá lớn, nên khổ đau thập giá không hề nhẹ. Khi không đặt tình yêu nơi Thầy Giêsu, người ta sẽ cho rằng Ông Giêsu thật vớ vẩn, tại sao Ông lại nói : “ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai ghét mạng sống mình ở đời này, sẽ giữ được nó trong cuộc sống đời đời” ?

Làm sao chúng ta có thể tìm ra những người không sợ chết, không sợ đau khổ ? nếu không có niềm tin Kitô giáo, sẽ không có chuyện bảo vệ hay trân trọng truyền thống đức tin cho hậu thế. Và mãi mãi, chúng ta không thể hiểu, vì sao lại có những con người bất thường, dám từ chối bổng lộc, mạng sống, để nhận lấy cái chết vì tình yêu Đức Kitô. Sống đức tin Kitô giáo đâu phải tự tìm lấy cái chết như con “thiêu thân”. Cũng không phải là tìm cách ẩn náu để bảo toàn mạng sống, mà là theo Chúa Kitô, sẵn lòng trở nên mục nát như hạt lúa gieo vào lòng đất.

Nếu không có tin yêu, hay thiếu ơn Chúa, cha ông ta đã chối bỏ Đức Kitô, các ngài sẽ nói, chúng tôi đâu có dại khờ đến độ chấp nhận bản án chết, vừa đau khổ thân xác vừa uổng phí cuộc đời ? Có thể cảnh máu chảy đầu rơi vẫn đáng sợ đối với con người mọi thời đại, nhất là tội nhân. Tuy nhiên, người vô tội, người có tình yêu thương, người có Đức Kitô, hẳn sẽ không sợ, vì ở trong Đức Kitô mọi người là “bất tử”. Niềm tin và tình yêu đã ghi dấu Đức Kitô trong tâm hồn người Kitô hữu, sống chứng nhân Tin mừng và sống đức yêu thương chính là ơn gọi nên giống Chúa Kitô.

Khi đưa ra lý chứng về hạt lúa được gieo vào lòng đất, Chúa Giêsu đã cho chúng ta một qui luật về “được, mất”, về một sự tự do : yêu hoặc ghét, mà mỗi chúng ta đang chọn lựa. Thực tế, ai trong chúng ta cũng muốn mình thành công, hạnh phúc, nên ước mơ, lời nói, người ta đều giống nhau, duy có việc làm là khác nhau. Nếu người Kitô hữu chỉ tìm sống cho cái tôi ích kỷ của mình, hẳn người ấy đang mất đi tình hiệp thông của Đức Kitô, sẽ chết vì cô đơn, vì thiếu tình yêu thương.

Người Kitô hữu chúng ta dành tháng 11 hàng năm để hiệp thông cầu nguyện cho người đã khuất. Xã hội hôm nay dành chúa nhật tuần thứ ba của tháng 11 để cầu nguyện, tưởng nhớ đến những người chết vì tai nạn giao thông. Thật ra thì, dù tin hay không, người sống cũng vẫn nhớ tới người chết, và kẻ chết có biết hay không, người sống vẫn bày tỏ hoa nến nhang đèn như câu tục ngữ : sống khôn chết thiêng. Là con cháu của các thánh tử đạo, hẳn chúng ta có quyền tự hào về tính anh hùng của các ngài trước sự chết, có thể lịch sử giai đoạn đó khác với chúng ta hôm nay, nhưng sống niềm tin vẫn là ơn gọi căn bản của người Kitô hữu chúng ta.

Sống là chết, liệu có mâu thuẫn đối với chúng ta không ? Sống lười biếng, sống hưởng thụ có phải là đang tiến tới cái chết thật phí phạm không ? Người xưa nói rằng : anh hùng chỉ chết một lần, kẻ hèn nhát lại chết vô số lần. (Shakespeare). Cái chết anh hùng là cái chết khôn ngoan, vì niềm tin, vì tình yêu Đức Kitô, đúng hơn họ không chết mà là đang sống. Ngày hôm nay, người đời vẫn kính phục những vị anh hùng, dám hy sinh xương máu để bảo vệ đất nước quê hương. Và đến mọi thế hệ, không ai lại kính trọng người hèn nhát, người chỉ lo tìm hưởng thụ cho lợi ích cá nhân.

Khi mạng sống bị đe dọa, bằng bất cứ giá nào, người ta cũng tìm cách để khỏi chết và bảo toàn được mạng sống của mình. Người không có niềm tin cho rằng sống chết là do số mệnh; kẻ bi quan nói rằng, đằng nào cũng chết, vì thế hãy hưởng thụ, kiêng khem tử tế rồi cũng đem chôn. Kitô giáo chúng ta tin rằng : Thiên Chúa là chủ sự sống; Chúa Giêsu thì nói : “ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó”. Tin theo Chúa, dù không phải chết tử đạo như cha ông chúng ta, nhưng mỗi người đều được trở nên giống Đức Kitô, nghĩa là phải chết đi trong tính hư nết xấu của mình. Là con cháu, không phải chúng ta chỉ ăn quả nhớ kẻ trồng cây, hay uống nước nhớ nguồn, mà mỗi người phải ý thức di sản đức tin chúng ta đang có là do tiền nhân đã sống, đã chết vì yêu Chúa, yêu hậu thế chúng ta hôm nay. Nhớ đến các ngài, cũng là lời nhắc nhớ sống đức tin, và hiệp thông với các ngài tiếp tục sống đức yêu thương. Amen.

 

.

AI LIỀU MẤT SỰ SỐNG MÌNH VÌ TÔI

Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc

Cùng với toàn thể Giáo Hội, trong Thánh Lễ này, chúng ta mừng kính trọng thể Các Thánh Tử Đạo Việt Năm. Cụ thể, có tất cả 96 vị thánh tử đạo: 37 thánh tử đạo linh mục và 59 thánh tử đạo giáo dân, nam và nữ. Các vị đã được Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô phong thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Như chúng ta vừa nghe, đa số các thánh tử đạo là giáo dân nam và nữ. Vậy chúng ta hãy cầu xin cho Giáo Hội và nhất là cho tất cả các Ki-tô hữu, là chính chúng ta, có được niềm xác tín tuyệt đối nơi tình yêu muôn ngàn đời bền vững của Thiên Chúa dành cho chúng ta, bất chấp mọi sự, theo gương của các thánh tử đạo. Như lời thánh Phao-lô nói:

Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.

  1. “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”

Hôm nay, trong Thánh Lễ này, Đức Giê-su mời gọi một lần nữa với từng người trong chúng ta một cách đặc biệt. Một cách đặc biệt, đó là bởi vì, chúng ta là nòi giống, là con cháu, là hoa trái của máu các vị thánh Tử Đạo, mà chúng ta mừng kính hôm nay. Vì thế, chúng ta được mời gọi sống và làm chứng cho Tin Mừng đến mức độ anh hùng, theo gương của các Thánh Tử Đạo của chúng ta.
Tuy nhiên, tất cả chúng ta, sống ơn gọi gia đình hay ơn gọi tu trì, đều cảm thấy lời mời gọi này của Đức Giê-su thật khó hiểu: tại sao lại phải từ bỏ chính mình? Tại sao lại phải vác thập giá hằng ngày? Và không chỉ khó hiểu, nhưng còn khó sống nữa. Khó hiểu và khó sống, nhất là trong bối cảnh của thời đại chúng ta; bởi lẽ, thời này, người ta, và có khi là chính chúng ta nữa, ưa chuộng và tìm cách tôn vinh bản thân mình, hơn là từ bỏ chính mình, ưa chuộng và tìm cách hưởng thụ những lạc thú, hơn là vác thập giá của mình hằng ngày vì lòng mến Đức Ki-tô và để đi theo Đức Ki-tô.
Nhưng kinh nghiệm sống của các Thánh Tử Đạo, của các bậc cha anh, của cha mẹ chúng ta, và của chính chúng ta nữa, cho thấy rằng lời gọi này của Đức Giê-su chỉ có thể hiểu được và sống được trong tương quan giao ước mà thôi, giao ước của chúng ta với Chúa và giao ước của chúng ta với nhau. Giao Ước hiểu theo nhiều cấp độ khác nhau, đó là hôn phối, lời khấn, cam kết, tuyên hứa, hay đơn giản là bổn phận hay tình bạn. Trong khi đó, con người thời nay, lại không thích sống theo giao ước, nhưng chuộng sống theo cảm xúc, vui thì ở, còn buồn thì đi, thì đoạn tuyệt.
Thật vậy, để sống với nhau và sống cho nhau, trong gia đình hay trong cộng đoàn tu trì theo giao ước, chúng ta luôn phải ra khỏi mình để hướng về người khác, phải quên đi chính mình để lo cho người khác, phải mang vào mình những khó khăn và khổ đau, phải trung thành với nhau và với ơn gọi khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi thành công cũng như lúc thất bại, khi vui cũng như lúc buồn, khi thấy nhau dễ thương cũng như lúc thấy nhau khó thương.
Cách sống này có vẻ khắc khổ, sầu bi, đầy vất vả và đau khổ, nhưng nếu được sống bằng tình yêu, sự trung tín, lòng mến, tình thương, tình bạn, thì một cách sống như thế sẽ biến thành niềm vui và hạnh phúc sâu xa và bền vững. Như thánh Au-gus-ti-nô nói, trong tình yêu thì không có đau khổ; và nếu có đau khổ, thì đau khổ này đã được yêu rồi.

  1. “Còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”

Nhưng lời của Đức Giê-su còn đi xa hơn nữa: “Còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”. Chúa mời gọi chúng ta đi theo con đường của Chúa, và chúng ta có thể tự do ưng thuận hay không. Nhưng hậu quả rất là nghiêm trọng và không thể đảo ngược được, đó là mất đi sự sống hay cứu được sự sống mãi mãi. Sự sống của chúng ta, dù có cố giữ lấy hay cho đi, thì rốt cục cũng sẽ qua đi. Và Đức Giê-su mời gọi chúng ta lựa chọn con đường cho đi vì Chúa và theo gương của Chúa, để có thể nhận lại sự sống.

Cho đi sự sống để nhận lại sự sống, điều này vừa khó hiểu và vừa vừa khó sống. Tuy nhiên, đó lại là qui luật muôn đời của chính sự sống và ai trong chúng ta cũng biết và thậm chí có kinh nghiệm về qui luật này của sự sống.

– Đó là hạt lúa mì, vốn phải chịu chôn vùi và nát tan, để nẩy mầm, lớn lên và trổ sinh nhiều hạt khác.

– Đó là sự cho đi chính bản thân mình của cha mẹ, để sự sống được lưu truyền nơi những người con. Điều này đặc biệt đúng nơi những người mẹ: người mẹ phải cho đi chính máu thịt, chính sự sống của mình khi cưu mang sự sống mới, là đứa con; và nhất là khi có những người mẹ, phải hy sinh sự sống của mình để sinh con.

– Đó là đời dâng hiến, là sự hy sinh cuộc đời của các linh mục, tu sĩ nam nữ, để chính Thiên Chúa làm phát sinh ra hoa trái sự sống gấp trăm nơi nhiều người.

  1. Qui luật muôn đời của sự sống

Để cho sự sống được tiếp tục, được sinh sôi, để phục vụ cho sự sống, phải chia sẻ, trao ban, cho đi và hi sinh chính sự sống của mình. Đó chính là qui luật muôn đời của sự sống. Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa cũng không đi con đường lạ lùng nào khác ngoài con đường muôn đời của sự sống, nghĩa là con đường của hạt lúa mì: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều…, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại”; và Ngài vẫn trao ban sự sống của mình cho chúng ta hằng ngày trong Thánh Lễ, dù chúng ta có như thế nào.

Như thế, lời của Đức Giêsu không chỉ là một thách đố tận cùng, nhưng còn là Tin Mừng tận cùng; vì Ngài hứa với chúng ta rằng con đường của hạt lúa mì, qui luật muôn đời của sự sống, chính là con đường đạt tới sự sống mới, phong phú và viên mãn, con đường nhận lại sự sống từ chính Nguồn Sự Sống là Thiên Chúa hằng sống.

* * *

Và đó cũng là niềm xác tín của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, mà chúng ta mừng kính hôm này. “

Ai liều mất mạng sống mình vì tôi,
thì sẽ cứu được mạng sống ấy.
Đó hiển nhiên là lời hứa ban lại sự sống ở đời sau. Nhưng sức mạnh và niềm vui của Sự Sống mới mai sau, đã được chúng ta cảm nghiệm một cách vừa cụ thể vừa sâu xa ngay hôm nay rồi, và ngay trong hành vi cho đi vì lòng mến Đức Ki-tô.

 

.

CHẾT VÌ YÊU

Huệ Minh

“Lửa thử vàng, gian nan thử sức !” Ông bà ta vẫn thường nói như thế trong cuộc sống thực tại. Đó thực tại trong cuộc sống và đúng với thực tại của cuộc sống. Còn đó, bên cạnh thực tại của đời sống con người chính là đời sống, sức sống của niềm tin. Để chứng minh niềm tin của mình, có khi người ta không phải chỉ minh chứng bằng lời nhưng có khi còn phải trả bằng một cái giá rất đắc đó chính là máu của mình, là mạng sống của mình nữa.

Trang sách Maccabêô quyển thứ hai khá quen thuộc với người Kitô hữu chúng ta, nhất là khi chúng ta kính nhớ đến các anh hùng tử đạo. Câu chuyện trong sách thuật chuyện một người đáng kính, từ chối không ăn thịt heo cho dù phải chết. Ông được nhiều người quý mến nên đổi thịt heo thành thịt mà luật cho phép ăn, rồi đề nghị ông giả vờ ăn thịt heo để thoát chết. Êlêazarô từ chối mánh khóe để được sống này, vì khi làm như vậy gây gương xấu cho thế hệ tương lai. Thế hệ trẻ đâu biết đó không phải là thịt heo, nên tưởng rằng Êlêazarô tham sống sợ chết mà vi phạm luật Chúa.

Thái độ sống của Êlêazarô rất trong sáng, rất tự do ngay cả đối với cái chết. Ông cũng là người cho thấy tình yêu và trách nhiệm đối với thế hệ tương lai. Nơi con người mỏng dòn, Thiên Chúa đã và đang làm những điều tuyệt vời.

Và, ta thấy không chỉ mình Êlêazarô mà còn nhiều nữa những người đã minh chứng niềm tin và tình yêu của mình với Thiên Chúa.

Có lẽ, vị tử đạo anh hùng nhất trong lịch sử Kitô giáo có lẽ là Đức Giêsu. Đức Giêsu đã minh chứng tình yêu, niềm tin của mình với Cha bằng cái chết và cái chết nhục hình trên thập giá.

Máu của Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá đã nảy sinh thêm nhiều hạt giống tử đạo khác nữa. Người được phúc tử đạo tiên khởi sau cái chết của Chúa Giêsu đó chính là anh chàng Stêphanô. Trong việc đổ máu của người vô tội này, có sự góp công của chàng trai trẻ là Phaolô.

Ta lại đi tiếp và ta thấy sau khi ngộ ra được Đấng Cứu Độ trần gian, chính Phaolô đã quay trở lại và đã hy sinh cả cuộc đời mình để minh chứng cho tình yêu Giêsu.

Và dần dần, dòng máu tử đạo cứ lan tràn để rồi hạt mầm của đức tin đã nảy nở khắp thế gian.

Hạt giống đức tin cũng đã được đưa vào đất nước Việt Nam. Và rồi, sự dữ, sức mạnh của thế gian muốn bóp nghẹt hạt giống đức tin để rồi có nhiều cuộc bách hại về đức tin. Thế nhưng, ta lại thấy các bậc cha ông của chúng ta đã can đảm chấp nhận chết để minh chứng cho niềm tin và tình yêu vào Thiên  Chúa.

Cái chết của các ngài, làm rạng danh gia tộc, giúp cho những người con người chồng người vợ nhìn lên tấm gương của những bậc cha anh thân yêu mà phấn đấu sống cho nên người và nên người con ngoan của Chúa. Các thánh tử đạo là những người ảnh hưởng rất lớn trên thế hệ tương lai mà nhiều người không thấy rõ điều này, khi cho rằng các ngài chết thì đâu có dạy dỗ hoặc ảnh hưởng gì được trên ai. Nơi các anh hùng tử đạo, lời dạy không bằng ngôn từ nhưng bằng chính cuộc sống. Và chúng ta biết, lời bằng hành động hay cuộc sống thì có sức thuyết phục hơn lời nói nhiều.

Niềm tin vào Chúa, đặc biệt ta thấy mãnh liệt nơi cuộc đời của Thánh Phaolô. Tâm tình của Thánh Phaolô trong trang thư của Ngài gửi tín hữu Roma ta thấy quá tuyệt vời. Dòng thư ấy cho ta thấy xác tín của thánh Phaolô. Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, và không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức GiIêsu. Bằng cớ cho thấy Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, đó là Ngài đã ban chính Con Một Ngài cho chúng ta. Nếu Thiên Chúa ban chính Con Một Ngài cho chúng ta, thì Ngài còn tiếc gì với chúng ta nữa?

Không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Không phải vì chúng ta yêu Thiên Chúa đến độ không có gì tách chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa, nhưng vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Thiên Chúa giữ chúng ta trong tình yêu của Ngài. Nếu chính Thiên Chúa giữ, thì ai giựt chúng ta ra khỏi tay Thiên Chúa được? Nếu chỉ là bản thân con người ghì chặt Thiên Chúa, thì người mạnh hơn có thể giựt họ ra được, nhưng đây chính Thiên Chúa giữ. “Không ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Yêsu Kitô”. Không ai, cho dù đó là thiên thần hay quỷ dữ, bất cứ quyền lực nào cũng không thể làm điều này, vì Thiên Chúa là Đấng vô cùng mạnh.

Vì tin vào Thiên Chúa yêu thương tôi, nên tôi vững dạ an tâm, nên tôi ung dung thư thái bất chấp tất cả. “Nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, chính là Chúa”. “Đức Chúa là ánh sáng và Đấng cứu độ tôi, tôi còn sợ chi ai, tôi còn kinh khiếp chi ai”! Chính Thiên Chúa làm cho các thánh tử đạo trung thành với Ngài, cho dù “kiếm sắc, đầu rơi, gươm đao, xá gì”. Thiên Chúa là Đấng trung thành, Ngài sẽ hoàn tất những gì Ngài đã khởi sự nơi chúng ta.

Và, ta vẫn nghe đâu đó phảng phất trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nói trong tin mừng theo thánh Luca: “ai muốn theo Ta, phải bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”. Theo Đức gIêsu, là một thái độ sống liên lỉ chứ không chỉ là một hành vi riêng lẻ một lần cho tất cả. Để có thể có hành vi dám chết cho tình yêu, các anh hùng tử đạo đã luôn chết cho chính mình trong cuộc sống hằng ngày để sống cho Chúa trong từng hành vi sống của mình.

“Được lời lãi cả thế gian, mà phải mất mạng sống mình, thì ích gì?” Điều quan trọng là phải sống. Nhưng nếu chỉ sống một trăm năm, mà phải khổ nhục vĩnh viễn thì ích lợi gì? Sự khôn ngoan đi kèm với hành vi anh hùng nơi các thánh tử đạo. Các thánh tử đạo, là những người khôn ngoan, anh hùng và đức hạnh. Các ngài là những người dám sống và dám chết cho tình yêu. Các ngài chọn đời sống vĩnh cửu hơn đời sống chóng qua này.

Lời mời gọi tử đạo vẫn còn vang vọng trên cuộc đời, trong cuộc đời của chúng ta. Không còn đổ máu đào như xưa nhưng chúng ta đổ máu cho những hy sinh, cho những từ bỏ của chúng ta để minh chứng tình yêu, niềm tin của chúng ta vào Chúa.

Nói như Thánh Phaolô : “Không có gì tách tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa” xem ra rất dễ nhưng để sống tâm tình cũng như xác tín đó hoàn toàn không dễ. Ta lại chạy đến để xin Chúa thêm ơn cho ta để ngày mỗi ngày ta sống gần Chúa hơn, bám vào Chúa hơn, theo sát Chúa hơn để rồi tình yêu của ta và Chúa ngày mỗi ngày gắn kết hơn. Có như thế, ta mới mong được hưởng triều thiên tử đạo như các bậc tiền nhân của chúng ta.

 

.

TỬ ĐẠO GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Dã Quỳ

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà con người đề cao chủ nghĩa cá nhân, một thời đại mà người ta cạnh tranh nhau quyền cao chức trọng ở mọi lãnh vực, một xã hội mà quyền lợi cá nhân, hưởng thụ và  sở hữu được ưa chuộng. Hôm nay, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta “Từ bỏ chính mình, liều mất mạng sống…” để theo Chúa, điều này nghe ra thật phi lý và ngược đời! Thế nhưng, sẽ thật có lý và hợp với đời của một Kitô hữu vì đó là điều kiện tiên quyết để bước theo Chúa. Lời Chúa và mẫu gương của chính Chúa đã hy sinh mạng sống cho nhân loại, và của các Thánh Tử Đạo Việt Nam sẽ là một bảo đảm minh chứng cho chúng ta.

Đường Trần Gian – Đường Thập Giá.

Cuộc đời được ví như một hành trình. Hành trình  này chẳng thẳng ngay và không hề nhẹ nhàng êm ái. Lớn hay nhỏ đang sống trong trần gian, chúng ta đều cảm nhận trần gian đầy đau khổ và nước mắt, chẳng thế mà nhạc sĩ nào đó đã viết” Đường nhân gian đày ải chông gai, ai chưa qua chưa phải là người!” Giàu cũng khổ mà nghèo thì khốn khổ hơn! Tiền bạc, chức vị cũng không làm cho người ta hạnh phúc  và cũng không mua được bình an. Đau khổ như là một  thập giá gắn liền với đời người dù người đó có là môn đệ Chúa Kitô hay không.  Thập giá đến với mỗi người mỗi cách khác nhau. Thập giá ấy có thể là từ trong những bất toàn của bản thân, trong bệnh tật, trong khó khăn của cuộc sống. Thập giá cũng có thể là từ những nghịch cảnh  thông thường của cuộc đời…

Với người Kitô hữu, chúng ta sẽ gặp thập giá trong cuộc đời khi sống trung thành với giáo huấn của Chúa và Hội Thánh. Thập giá đến khi ta sống ngay thẳng trong buôn bán, thật thà và công bằng trong kinh doanh hay trong giao tiếp. Người ta có thể cho là ta điên rồ, ngược đời hay ngu xuẩn thậm chí bị loại trừ. Thập giá đến với ta trong những chọn lựa từ bỏ mình để yêu thương đón nhận tha nhân ngay cả khi họ vu oan, ghen ghét, làm hại ta…Và thập giá cũng sẽ được ta đón nhận khi ta biết cố gắng sống theo Lời Chúa dạy, biết sửa mình, ăn năn sám hối về những tính hư, nết xấu và tội lỗi của ta để xứng đáng là con cái Chúa.

Đường Thập Giá – Đường Tử Đạo.

Khi thập giá đến, chắc hẳn chẳng ai trong chúng ta sẵn sàng đón nhận hay dễ dàng để ôm lấy. Đã là thập giá, thường ta luôn cảm thấy nặng nề, khó vác. Đôi khi ta không dám nghĩ tới và muốn tránh bởi không ai thích đau khổ, thất bại, bị loại trừ, nghịch cảnh, thất vọng chán nản…Và hơn thế nữa, Satan cũng tìm đủ cách lôi chúng ta xa thập giá, vì nó không muốn ta đi vào con đường của Chúa.

Lời Chúa tha thiết mời gọi ta:” Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Từ bỏ chính mình, không đơn giản chút nào! Từ những cái rất nhỏ trong cuộc sống: người mắng ta một câu, ta muốn đáp lại hai, ba câu. Nhưng từ bỏ mình là bỏ qua, là chấp nhận lời nói không tốt đó và đáp lại bằng lời yêu thương, lời hòa giải. Khó lắm, nó đau ở trong lòng và như nuốt cục phèn vậy, nhưng nếu ta làm được, ta sẽ cảm nhận ngọt ngào trong tâm hồn. Từ bỏ mình trong những chọn lựa theo Tin Mừng, sống yêu thương, tha thứ sẽ như là những cuộc tử đạo âm ỉ từng ngày chứ không chỉ một lần. Trong cuộc sống với những bôn ba cho cơm áo gạo tiền, nhiều khi đặt ta trước những chọn lựa theo công bằng, bác ái đòi ta phải hy sinh mối lợi, mất miếng ăn để chu toàn luật Chúa. Ta sẽ đau lắm và dằn vặt nhưng  với ơn Chúa, ta chọn lựa tử đạo khi mất lợi danh và có khi mất cả mạng sống. Tôi nghĩ đến một người đàn ông Công Giáo, đã làm việc thật tốt trong một công ty sản xuất. Thế rồi, vì sống ngay thật, không theo những mánh khóe gian dối với đồng nghiệp nên anh đã lãnh nhận hậu quả là bị hại chết ngay trong chuyến công tác xa, sau bữa ăn cùng nhóm đồng nghiệp ấy. Ta có thể đi vào đường tử đạo khi sống trung thành với Chúa Kitô để bảo vệ sự sống, như một chị y tá nọ sau nhiều năm học tập, chị được chọn vào làm trong một bệnh viện lớn. Thế nhưng, ngay ngày thứ hai đi làm, người ta yêu cầu chị tham gia vào ca phá thai. Chị từ chối, lập tức người ta sa thải chị. Chị mất việc mà chị đã tốn nhiều công sức tiền của để có được. Chị đã vác  thập giá cùng với Chúa Kitô! Để chọn lựa vác thập giá hàng ngày, chọn lựa tử đạo suốt đời, ta không thể thực hiện với sức riêng nhưng phải cậy nhờ ơn Thánh và nếu ta tin tưởng cậy dựa vào Chúa, Ngài sẽ luôn giúp ta vì: ” Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách”(1Cr 1,4).

Đường Tử Đạo – Đường Tới Vinh Quang.

Ngày nay, trên quê hương chúng ta ít có những cuộc cấm hay bách hại đạo như xưa cha ông ta đã trải qua. Nhưng lại xuất hiện nhiều hơn những dịp thử thách về đức tin tinh vi mà nếu không tỉnh thức, ý thức và có một tâm hồn bén nhạy thì ta sẽ dễ đi vào việc chối đạo, phản đạo và bỏ Chúa qua chính cách sống, lời nói và việc làm của ta. Các Thánh Tử đạo Cha ông chúng ta đã kiên trung thực thi Lời Chúa dạy:” Ai liều mất mạng sống mình vì tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy”(Lc 9, 24). Các ngài yêu Chúa hơn yêu mạng sống mình như lời nói và máu đổ ra của Thánh Phaolo Khoan  “Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa và Chúa Cả Trời đất, con xin dâng mạng sống cho Ngài”. Có vị thánh đã từ bỏ chức quyền để giữ vững đức tin và linh hồn như thánh Hồ Đình Hy là quan lớn, thánh Phạm Trọng Tả là chánh tổng nhưng các Ngài chọn Chúa hơn là địa vị ở trần gian. Các ngài chọn gia nghiệp Nước Trời hơn là sản nghiệp trần thế nay còn mai mất“Ai khôn mới biết hiến mình cho chân lý để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời”(Thánh Phêrô Truật). Các ngài không dẫm lên Thập giá Chúa Kitô nhưng anh dũng bước đi trên đường Thập giá vì các ngài  xác tín chỉ qua Thập giá mới tới Vinh quang và cuối đường, chính Chúa Kitô đón các ngài vào hưởng vinh quang hạnh phúc với Người trong Nước Trời, như sách Khôn Ngoan nói:”Người đời nghĩ rằng họ bị trừng phạt, nhưng họ vẫn chan chứa niềm hy vọng được trường sinh bất tử. Và Đức Chúa sẽ là vua của họ đến muôn đời”(Kn 3,4.8)

Trải qua suốt ba thế kỷ bách hại, đã có cả trăm ngàn anh em Kitô hữu chết vì đạo. Gương chứng nhân Đức Tin và lòng hy sinh mạng sống vì Chúa Kit-tô và vì Tin Mừng của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam cha ông ta, sẽ là mẫu gương và niềm hãnh diện lôi cuốn chúng ta can trường sống chứng nhân giữa đời thường và dám chọn sống, chết vì đạo. Từ dòng máu anh hùng của cha ông, từ những khổ đau, những đắng cay của các ngài, ta có được hạt giống đức tin hôm nay. Vậy thập giá là một phần quan trọng của đời Kitô hữu và chính Chúa Giê-su đã không khước từ thập giá vì đường thập giá-đường tử đạo mới là đường dẫn tới vinh phúc: “…Người vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người…”(Pl 2,6-11). Lao nhọc, đau khổ, nghịch cảnh, hy sinh, chiến đấu và tử đạo…cần thiết để trở thành một phần của đời người môn đệ Chúa Kitô. Ước gì khi sống giữa đời, mỗi Kitô hữu chúng ta cũng tin tưởng thưa lên như thánh Phaolô “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy…Trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta”(Rm 8,35-37). Để rồi chúng ta dám sống vì Chúa, chọn lựa theo Chúa, trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh và can trường chết vì Chúa trong những dịp tử đạo giữa đời thường. Vì ” Ai liều mất mạng sống vì Ta và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.”(Mc 8,35).

Nguyện xin Thần Khí Chúa ban ơn khôn ngoan và sức mạnh giúp chúng con biết chọn lựa sống vì Chúa, vì Tin Mừng. Và xin dạy chúng con biết yêu thập giá là dấu chỉ của chiến thắng, của vâng phục, của tình yêu và của con đường dẫn đến ơn cứu độ. Amen.

 

.

DŨNG CẢM LÀM CHỨNG CHO CHÚA HÔM NAY

Lm. Đan Vinh

  1. LỜI CHÚA: Chúa phán: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10,32-33).
  2. CÂU CHUYỆN: CUỘC TỬ ĐẠO CỦA THÁNH ANRÊ TRẦN AN DŨNG LẠC

TRẦN AN DŨNG LẠC sinh năm 1795, gia đình ngoại giáo nghèo khó ở Bắc Ninh. Lớn lên, cậu theo cha mẹ đến xứ Kẻ Chợ sinh sống. Tại đây, cậu được một Thầy giảng nhận làm con nuôi và cho ăn học. Cậu được chịu phép rửa tội và nhận tên thánh là Anrê. Sau đó cậu đáp lại ơn gọi dâng mình cho Chúa và theo học tại chủng viện Vĩnh Trị. Thầy Anrê Dũng được thụ phong linh mục vào năm 1823 khi mới có 28 tuổi. Từ khi thụ phong linh mục, cha Anrê được sai đi giúp xứ. Ở đâu cha cũng nêu gương sáng đạo đức qua cuộc sống khổ hạnh. Ngoài những ngày ăn chay theo luật định, Cha còn tự nguyện giữ chay thêm suốt cả Mùa Chay và các ngày thứ Sáu thứ Bảy hàng tuần. Nhờ đời sống đơn sơ khiêm hạ và khắc khổ như vậy, nên cha đã gây được thiện cảm của những người chung quanh và thành công trên bước đường tông đồ: Qua cha, nhiều tội nhân đã được ơn giao hòa với Chúa và nhiều người lương đã tin theo Chúa và xin gia nhập đạo Công giáo.

Trong thời gian đạo Công giáo bị bách hại gắt gao thời vua Minh Mạng, cha Anrê Dũng đã phải trốn lánh nhiều nơi. Một lần kia ở Kẻ Roi, khi vừa dâng lễ xong thì bị quan quân vây bắt và được giáo dân chuộc về. Sau đó cha đã đổi tên Trần An Dũng thành Trần An Lạc. Lần thứ hai cha bị bắt ở xứ Kẻ Sông khi đang xưng tội với cha Phêrô Thi. Hai cha bị quan quân đòi tiền chuộc tới 200 quan tiền. Nhưng giáo dân chỉ quyên góp được một nửa số tiền nói trên, nên chỉ mình cha Lạc được thả. Rồi sau đó cha lại bị đám quân lính khác bắt mang về huyện giam chung với cha Phêrô Thi và cả hai được áp giải về Hà Nội.

Hôm sau, quan án cho điệu hai cha ra công đường tra xét và bắt phải bước qua Thánh Giá để bày tỏ ý định bỏ đạo. Nhưng thay vì làm theo lệnh quan, hai cha lại cùng quì xuống hôn kính Thánh Giá và nói: “Không bao giờ chúng tôi chối Chúa và bỏ đạo cả. Chúng tôi đã suốt đời hy sinh vất vả đem Chúa đến cho người khác, thì lẽ nào bây giờ lại hèn nhát chối bỏ Chúa!”. Trước sự bất tuân của hai cha, quan tức giận sai lính đem nhốt các ngài vào ngục thất và làm thành án gửi về Kinh. Suốt thời gian ở trong tù, hai cha luôn cầu nguyện và ăn chay hãm mình, xin Chúa cho được ơn bền đỗ đến cùng. Tuy giáo dân được phép thăm nuôi hằng ngày, nhưng hai cha yêu cầu họ đừng đem đồ ăn ngon đến, và nếu bữa nào có thịt cá thì các ngài lại cho các bạn tù hoặc lính canh.

Ngày 21 tháng 12 năm 1839, hai cha đã chính thức nghe án lệnh xử trảm của nhà vua. Rồi các ngài bị điệu ra pháp trường Cầu Giấy ở Hà Nội. Đến nơi, các ngài cầu nguyện ít phút, rồi cúi đầu cho lý hình dễ dàng thi hành phận sự. Đức Thánh Cha Lêô 13 đã tôn phong các ngài lên hàng Chân Phước tử đạo vào ngày 27 tháng 05 năm 1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã suy tôn hai ngài lên bậc hiển thánh.

  1. THẢO LUẬN:

1) Tại sao đạo Công giáo thường hay bị người đời thù ghét bách hại?

2) Tử đạo là sẵn sàng hy sinh chịu chết để làm chứng cho Chúa (x. Cv 1,8). Vậy các tín hữu chúng ta sẽ phải dũng cảm làm chứng cho Chúa thế nào trong xã hội Việt Nam hôm nay ?

  1. SUY NIỆM:

1) SỐ LIỆU CÁC ANH HÙNG TỬ ĐẠO VIỆT NAM: Ngay từ thời Giáo Hội Sơ Khai, các tín hữu đã phải chịu chung số phận với Thầy Giê-su là bị cấm cách, bắt bớ và giết hại. Thời nào và nơi nào đạo được truyền tới cũng đều có các vị anh hùng tử đạo. Tại Việt Nam, theo sử liệu, đạo Chúa đã được truyền giảng từ thế kỷ thứ 16. Và suốt thời gian gần 300 năm sau đó, luôn bị đàn áp bách hại với những cảnh đầu rơi máu chảy! Sau Hội Thánh Rô-ma thì có lẽ Hội Thánh Việt Nam đã dâng cho Chúa được nhiều thánh tử đạo hơn cả! Người ta ước tính có tới hằng trăm ngàn người Công giáo đã bị giết hại vì đức tin dưới các triều đại nhà Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và bị các phong trào Cần Vương Văn Thân đàn áp bách hại. Trong số đó, 117 vị đã được Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II tôn phong lên bậc hiển thánh và được mừng chung trong niên lịch toàn thể Hội Thánh. Trong số này có: 8 Giám mục, 50 Linh mục, 16 Thầy giảng, 1 Chủng sinh và 42 Giáo dân. Các ngài đã chịu nhiều cực hình như: 79 vị bị trảm quyết (chém đầu): 16 vị bị xử giảo (treo cổ); 8 vị bị chết rũ rù do đói khát bệnh tật khi bị giam trong ngục; 6 vị bị thiêu sinh (chết thiêu trong hỏa lò).

2) LÝ DO CÁC NGÀI BỊ VUA QUAN BÁCH HẠI:

Các thánh Tử Đạo bị vua quan và dân chúng thời đó thù ghét đàn áp giết hại không phải vì các ngài là những kẻ xấu làm điều gian ác, nhưng chỉ vì các ngài đã tin vào danh Đức Giê-su và đã dũng cảm tuyên xưng đức tin ấy, thể hiện qua thái độ bất khuất, không chịu bước qua thập giá theo lệnh vua quan, hầu ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã tiên báo: “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thóat” (Mt 10,22).

Đàng khác, vua quan và dân chúng thù ghét và ra tay bách hại các tín hữu là do hiểu lầm về giáo lý của đạo khi cho rằng theo đạo là vọng ngọai, là bất hiếu vì phải bỏ việc thờ cúng ông bà tổ tiên, đang khi thực ra không phải như vậy: điều răn thứ tư trong mười điều răn của đạo Chúa đã truyền dạy: con cái phải “thảo kính cha mẹ” và người tín hữu vừa phải chu tòan bổn phận thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất lại vừa phải tôn kính và tưởng nhớ cầu nguyện và tỏ lòng biết ơn ông bà cha mẹ khi các ngài còn sống cũng như khi đã qua đời.

Nhưng lý do chính yếu khiến vua quan và các phong trào Cần Vương Văn Thân thời đó thù ghét bách hại các tín hữu là do tự ái dân tộc và hiểu lầm về lòng yêu nước của các tín hữu: Họ sợ người theo đạo sẽ bị các thừa sai ngọai quốc xúi giục làm lọan, trong khi các vị thừa sai ngọai quốc đã dám bỏ quê hương và từ giã người thân đến vùng đất xa xôi và chấp nhận hy sinh ngay cả mạng sống là do đức tin và lòng mến Chúa thôi thúc. Các ngài chỉ muốn chu tòan sứ vụ loan báo Tin Mừng của Đức Giê-su: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28,19-20); “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8b). Và quả thật, lịch sử đã ghi nhận: các thánh Tử Đạo Việt Nam đã bị vua quan kết án chỉ vì đức tin mà thôi chứ không do tội phản lọan theo giặc làm loạn chống phá triều đình.

3) SỐNG CHỨNG NHÂN GIỮA ĐỜI THƯỜNG:

Bí quyết khiến các anh hùng Tử Đạo vượt qua gian nan thử thách là do các ngài biết “sống sự sống của Chúa Giê-su trong thân xác yếu hèn của mình”. Đức Giê-su đã hứa sẽ ban Thánh Thần giúp các môn đệ phải nói gì và nói thế nào khi bị điệu ra trước quan quyền (x Mt 10,19-20). Để được như vậy, các ngải đã phải mỗi ngày “chết đi cho bản thân”, và sống trong ơn nghĩa của Đức Giê-su.

Ngày nay có lẽ chúng ta không có cơ hội làm chứng cho Chúa như các thánh Tử Đạo cha ông, nhưng chúng ta vẫn có thể trở thành chứng nhân của Chúa ngay giữa cuộc sống đời thường hằng ngày trong gia đình và ngoài xã hội:

– Để có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đức tin khi cần, ngay từ bây giờ chúng ta đã phải quyết tâm sống đức công bình bác ái trong các giao tiếp với hàng xóm và làm ăn buôn bán nơi phố chợ.

– Để có thể dũng cảm làm chứng cho Chúa trước mặt người đời khi có dịp, ngay từ bây giờ chúng ta đã phải là những người chồng người vợ tốt lành, luôn chu tòan trách nhiệm lo cho gia đình, là những người con cháu có lòng hiếu thảo đối với các bậc tiền nhân ông bà;

– Để sau này có thể trở thành công dân của Nước Trời, thì ngay từ bây giờ chúng ta đã phải là những người công dân tốt, sẵn sàng chu tòan nghĩa vụ đối với quê hương và trở thành khí cụ bình an của Chúa bằng cách sống theo tinh thần của Kinh Hòa Bình… Nhờ đó chúng ta sẽ gây được thiện cảm đối với đồng bào lương dân cùng khu xóm với chúng ta.

  1. LỜI CẦU:

– Lạy Chúa, xưa Chúa đã dạy các môn đệ rằng: “Anh em sống giữa thế gian, nhưng không được theo thói thế gian”. Xin cho chúng con đừng bao giờ bỏ Chúa để chạy theo cám dỗ của thế gian, ma quỉ và chiều theo các đam mê xác thịt. Xin cho chúng con luôn ý thức rằng: “Con nhà tông không giống lông, cũng giống cánh”, để chúng con luôn xứng đáng là con cháu của các Anh Hùng Tử Đạo Việt Nam. Xin cho chúng con luôn chiếu ánh sáng tin yêu trước mặt người đời: Biết nở nụ cười khi tiếp xúc, sẵn sàng cởi mở đi bước trước để làm quen với những người mới gặp, mở miệng an ủi những ai đang gặp tai nạn rủi ro; biết khiêm hạ phục vụ tha nhân, đặc biệt phục vụ những người đau khổ bất hạnh đang cần được cảm thông trợ giúp.

– Hát chung Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người… “

X. HIỆP CÙNG MẸ MARIA.

Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

 

 

.

 

 

BÊN KIA SỰ CHẾT

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Vào mỗi dịp cuối năm, Phụng vụ lại mời gọi chúng ta suy niệm về thân phận con người. Trong tháng Mười Một dương lịch, chúng ta thường đến viếng mộ người thân. Giữa “thành phố thinh lặng” của những người đã nằm xuống, các ngôi mộ lớn nhỏ nằm cạnh nhau. Đến viếng mộ để tưởng nhớ người ra đi, đồng thời cũng là để suy tư về hậu vận con người. Dù sang hay hèn, dù trí thức hay bình dân, dù hạnh phúc hay đau khổ, cuộc sống đời này đều kết thúc ở nấm mộ. Tuy vậy, người Công giáo tin rằng, nấm mộ không phải là điểm đến cuối cùng của con người. Đó chỉ là nơi dừng chân trong khi chờ đợi được sống lại. Ngôn sứ Đanien đã được thấy viễn tượng này trong một thị kiến. Vào lúc tận cùng của thời gian, mọi người đã chết đều được sống lại. Người thì sống lại để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì sống lại để chịu trầm luân vĩnh viễn. Bên kia sự chết vẫn có sự sống!

Niềm tin vào đời sau giúp chúng ta cố gắng sống tốt ở đời này. Tin vào Thiên Chúa là Đấng sẽ phán xét kẻ dữ người lành sẽ giúp ta hy vọng và kiên nhẫn vươn lên để  không vấp ngã trên đường đời. Người tín hữu tin có đời sau, khi họ kết thúc hành trình dương thế. Chết không phải là hết, mà chỉ là kết thúc một giai đoạn của cuộc sống. Chết là sự biến đổi, là cánh cửa mở ra để người công chính tiến vào sự sống đời đời. Luôn suy nghĩ đến phúc tội, sẽ giúp con người dễ hoàn lương hơn. Các thánh là những người tin chắc có sự sống đời sau, và họ đã làm mọi sự để đạt được sự sống ấy, như phần thưởng Chúa dọn sẵn cho những ai mến yêu và trung tín với Ngài.

Sống giữa thế gian, con người dễ bị cám dỗ dao động. Họ bị lôi kéo để chọn lạc thú tiền tài và lợi lộc trước mắt. Họ lập luận rằng: cuộc đời chẳng có bao nhiêu, không ăn chơi hưởng lạc thì cuộc đời uổng phí! Có biết bao người chọn hưởng thụ làm lẽ sống, nên đã phải gánh chịu hậu quả thê thảm. Cuộc đời họ tan nát tiêu điều và trở thành gánh nặng cho người thân.

Chúa Giêsu đã khuyên nhủ chúng ta hãy kiên nhẫn và vững vàng, kể cả trong lúc biến động và thậm chí là ngày tận thế. Thánh Mác-cô đã dùng lối hành văn “Khải huyền” để diễn tả ngày tận thế, với hình ảnh những thiên thể từ trên cao sa xuống, vũ bão cuồng phong làm cho con người hoảng loạn. Những ai tin cậy yêu mến Chúa thì không sợ hãi bất cứ biến cố nào, vì họ tin vào quyền năng và tình yêu thương của Thiên Chúa. Điều quan trọng là họ phải cậy trông và tin tưởng phó thác vào Chúa, luôn trong tình trạng “tỉnh thức” để rồi bất cứ Chúa đến giờ nào, họ cũng xứng đáng ra đón Chúa và được Ngài cho hưởng hạnh phúc Thiên đàng.

Những bận rộn lo toan của cuộc sống thường nhật dễ làm cho chúng ta quên đời sau. Tuy vậy, nếu sống là đang đi trong một cuộc lữ hành, thì chúng phải biết đích điểm của cuộc lữ hành đó là gì. Người khôn ngoan biết thận trọng lo liệu để không đi lệch hướng; kẻ dại dột cứ nhắm mắt đi dù chẳng biết đâu là đích điểm. Chúa Giêsu là Đấng dẫn đường cho chúng ta. Người là vị Thày dạy chúng ta tiến bước để chúng ta không bị lạc. Tác giả thư Do Thái nói về chức tư tế của Chúa Giêsu, Đấng đã hiến mình cho Thiên Chúa để mang ơn cứu độ cho trần gian (Bài đọc II). Cái chết của Người trên thập giá đã xoá bản án nguyên tội cho loài người. Người đã ra khỏi mộ tối, sống lại quang vinh, như một lời đoan chắc với chúng ta rằng, nếu chúng ta tin vào Người, chúng ta sẽ được sống lại với Người. Đó là lý do tại sao trên mỗi phần mộ của người Kitô hữu đều có biểu tượng thánh giá, như một lời tuyên xưng vững vàng vào màu nhiệm phục sinh, đồng thời cũng là một lời cầu nguyện cho người đã an nghỉ.

Bên kia sự chết là sự sống. Cửa của những nấm mồ sẽ được mở tung vào ngày tận thế. Đó là niềm xác tín của chúng ta. Có nhiều người băn khoan mất tiền mất của để được dự đoán hậu vận tương lai, đường đời dài ngắn, sau đó chuốc vào thân nỗi sợ hãi bất hạnh. Khi nào là tận thế, đó không phải là điều bận tâm tìm kiếm của chúng ta. Một người sống tốt lành trước mặt Chúa và nhân hậu đối với anh chị em mình, chắc chắn sẽ được Chúa thương ban phần thưởng trong cuộc sống vĩnh viễn.

 

.

 

QUÊ TRỜI

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Có 193 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc. Ngoài ra có một số nhỏ các quốc gia độc lập như nước Vatican, Taiwan và Kosovo không là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Nói đúng hơn là có tất cả 196 nước trên thế giới. Có những Nước lớn, đất rộng người đông như Trung Hoa có trên 1 tỷ 341 triệu người, Ấn Độ có trên 1 tỷ 210 triệu và Hoa Kỳ có trên 314 triệu người. Tổng số dân trên thế giới khoảng trên 7 tỷ. Có những quốc gia nhỏ xíu như Nước Vatican rộng (0.2 square miles) với dân số 770 dân và Nước Monaco (0.7 square miles) có 32 ngàn dân. Số dân tăng dần mỗi năm. Số người qua đời ít hơn số trẻ sơ sinh. Dòng dõi này nối tiếp dòng dõi kia hướng đến cùng đích. Bước vào thế kỷ thứ 21, nhờ khoa học kỹ thuật siêu vượt, con người đã mở rộng tầm kiến thức và tạo mối liên hệ tới mọi quốc gia. Sự truyền thông đa chiều đã nối kết con người xích lại gần nhau hơn.

Sống trên trần gian là cuộc lữ hành đi về quê thật. Có biết bao con đường mở ra giúp dẫn đưa con người đi đến cùng đích. Con người mọi thời đã suy tư giác ngộ ra nhiều thứ đạo, nhiều tôn giáo và nhiều cách thế để đạt mục đích. Có 20 tôn giáo chính thức, đang là chỗ cậy dựa tinh thần cho nhiều người: Kitô giáo đông nhất có trên 2 tỷ tín đồ, Hồi Giáo khoảng trên 1 tỷ 570 triệu, Hinduism có khoảng 950 triệu, Buddhism (Phật giáo) số thống kê không chính xác (350-1,600 triệu tín đồ)…Ngoài ra còn rất nhiều các nhóm tôn giáo khác nhau. Tất cả các tôn giáo cùng đi tìm ý nghĩa và cùng đích cho cuộc sống hôm nay và ngày mai. Đa số các tôn giáo đều tin có cuộc sống hạnh phúc mai hậu nơi thiên đàng, niết bàn, cõi tây phương cực lạc, quê trời, cõi trời và  nơi trường sinh bất tử.

Chúa Giêsu giới thiệu cho chúng ta những dấu chỉ về ngày cánh chung. Nước Trời khởi đi từ trần thế và kết thúc trên quê trời. Chúa Giêsu chỉ dậy: Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần (Mc 13, 28). Chúa quan phòng cho chúng ta thấy những dấu chỉ của thời gian, không gian và vạn vật muôn loài. Mọi thứ đều có khởi đầu và có ngày cùng tận. Mọi loài thụ tạo được phát triển trong thời gian, đừng mong có những bước nhảy vọt. Cuộc sống của con người cũng như thiên nhiên cần phát triển theo những chặng đường rất tự nhiên, từ trẻ tới già, từ non nớt tới sự chín mùi, từ ngây thơ tới tuổi trưởng thành và từ khởi sinh đến cùng đích. Chúng ta được mời gọi bước tới trên con đường trọn lành để chiếm hữu quê thật.

Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm đối diện với những người tốt, kẻ xấu. Mỗi người đều có cơ hội thay đổi để nên tốt lành hơn. Sự thật ở đời, chúng ta khó tìm được một người hoàn toàn tốt hay một người toàn xấu. Trong tâm con người, có phần tốt và chút thói xấu lẫn lộn. Nghèo cùng tâm trí và không biết gieo duyên lành sẽ dễ bị cuốn lôi theo dòng chảy. Đôi khi vì qúa chủ quan, chúng ta không nhận ra những thói hư tật xấu của mình. Mỗi người cần xét mình và biết mình để tìm cách sửa sai và thăng tiến mỗi ngày.

Trong thế giới ngày nay, xuất hiện rất nhiều tôn giáo dẫn đường cuộc sống. Mỗi tôn giáo với những linh đạo riêng có thể giúp các tín đồ của mình tu thân và tu tâm để thoát vòng loạn ly. Đời sống con người hiện đại đang dần bị tục hóa. Ảnh hưởng của chủ nghĩa hưởng thụ và tương đối đang bủa vây và kéo chìm con người trở về với bản năng hưởng thụ. Qua truyền thông nối mạng, hình như các tệ nạn và gương xấu đang tràn lan một cách mạnh mẽ như sóng triều. Sức mạnh của sự thỏa mãn vật chất mạnh hơn các lý tưởng tinh tuyền của tôn giáo. Nhiều người tìm kiếm thỏa mãn những đòi hỏi vật thể và vui hưởng cuộc sống trong hiện tại, thay vì hướng đến cuộc sống hạnh phúc tương lai. Chúng ta cần thức tỉnh cả trong ý tưởng, tâm linh và thân xác để nhận diện ý nghĩa thật của cuộc sống.

Nhiều bạn trẻ thả trôi cuộc đời lênh đênh không có đích điểm. Thật đáng thương cho kiếp phận con người. Hằng ngày tôi gặp gỡ nhiều người trẻ tự thắt nút cuộc đời qua những biến cố xảy ra. Đang trong tuổi đẹp trăng tròn, nhiều bạn trẻ đã bắt đầu tìm hưởng thụ tính dục, rồi sớm có con, không hôn nhân, không gia đình, thay bạn đổi bồ như thay áo. Qua năm tháng, những nút thắt cuộc đời đan kết chất chồng lên nhau như mối tơ vò. Nhìn một người mẹ trẻ có ba đứa con với hai hoặc ba người bạn tình. Tương lai tại thế của các bạn trẻ này thật mờ mịt khó đường giải quyết. Xảy một ly đi một dặm, làm lại cuộc đời thế nào bây giờ. Làm sao chúng ta có thể nói với họ về tương lai của ngày sau? Các bạn trẻ tự giới hạn viễn tượng sống để giải quyết vấn đề hiện tại với nhiều điều nan giải. Cứ thế cuộc đời bị luẩn cuẩn trong mạng lưới ràng buộc, cả nể cho nên sự dở dang.

Ngày cánh chung sẽ đến giống như dấu chỉ của cây vả xanh tươi, chúng ta biết mùa hè sắp đến. Mỗi người chúng ta nên nhìn dấu chỉ của thời đại để chuẩn bị cho đời sống mai hậu. Chúng ta biết rằng một việc tốt dù nhỏ cũng có thể sinh ra hoa trái tốt lành. Chúng ta phải gieo nhân tốt mới có thể sinh qủa tốt được. Giữa ngã ba cuộc đời, chúng ta phải biết chọn lựa và từ bỏ. Chọn lựa con đường dẫn đến hạnh phúc và an lạc. Từ bỏ đi những bận vướng của cuộc sống. Cuộc đời có nhiều vương vấn nên cần có thái độ dứt khoát. Ai cũng có thể làm lại cuộc đời. Không khi nào trễ, nếu chúng ta biết bắt đầu lại. Chấp nhận thực tại, chúng ta tháo cởi từng những nút thắt để cuộc sống tâm linh được thanh thản và an vui. Những việc làm tốt nho nhỏ hằng ngày sẽ lớn dần và đâm bông kết trái.

Chúa Giêsu biết thân phận yếu đuối mỏng dòn và tội lỗi của con người, nên Ngài đã dâng hiến lễ đền tội để giao hòa. Thơ gởi tín hữu Do-thái viết: Quả thật, Người chỉ dâng hiến lễ một lần, mà vĩnh viễn làm cho những kẻ Người đã thánh hoá được nên hoàn hảo (Dt 10, 14). Dù con người có sa phạm, lầm lạc và tội lỗi, Chúa vẫn có cách dẫn đưa họ trở về như mẫu gương của thánh Augustinô. Nếu chúng ta chỉ hối tiếc về sự sa ngã lầm lạc thì chưa đủ. Muốn làm lại cuộc đời, chúng ta cần thành tâm nhận lỗi, rồi hối lỗi, thật lòng sửa lỗi, chuộc lỗi, xin tha lỗi và tu luyện tâm tánh. Đây là một sự thách đố quyết tâm đổi đời. Hãy chạy đến với lòng Chúa thương xót xin ơn tha thứ. Chúa sẽ tẩy sạch tâm hồn, đổi mới trái tim yêu thương và thánh hóa trở nên con người mới trong ân sủng.

Niềm tin vào Thiên Chúa là niềm hy vọng viên mãn. Tiên tri Đaniel đã có thị kiến về ngày thế mạt: Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời (Dn 12, 2). Chúng ta không thể coi thường những chỉ thị, huấn lệnh và lời giảng dạy trong Giáo Hội. Niềm tin tôn giáo là cửa ngõ dẫn chúng ta vào Nước Trời. Chúng ta cần phải đi, phải bước tới và thực hành những điều Chúa truyền dạy. Nước Trời mở cửa đón nhận tất cả mọi người, nhưng chỉ những kẻ kiên trì phấn đấu đến cùng mới đáng hưởng phần phúc thiên đàng. Chúng ta không biết được ngày giờ Chúa đến, nên luôn phải sẵn sàng: Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi (Mc 13, 32).

Lạy Chúa, chúng con cầu xin cho Nước Cha trị đến và ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin cho chúng con biết lắng nghe và thực hành lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày để ngày sau được chung hưởng hạnh phúc đời đời.

 

.

KIÊN ĐỊNH

Trầm Thiên Thu

Giữ vững lập trường là không dao động trong mọi tình huống, như ca dao nói: “Dù ai nói ng nói nghiêng, thì tôi vn vng như king ba chân”. Tuy nhiên, đó lại là điều không dễ thể hiện. Chúa Giêsu cũng đã căn dặn: “K nào bn chí đến cùng, k y s được cu thoát” (Mt 10:22; Mc 13:13).

Kiên định, kiên tâm, kiên chí, kiên cường hoặc kiên nhẫn là đức tính rất quan trọng trong cuộc sống. Nhà giáo dục William Arthur Ward (1921-1994, người Mỹ, tác giả cuốn Fountains of Faith – Suối nguồn Niềm tin), nhận định: “S kiên nhn ca ngày hôm nay có th biến s nn lòng ca ngày hôm qua thành khám phá ca ngày mai. Mc đích ca ngày hôm nay có th biến tht bi ca ngày hôm qua thành quyết tâm ca ngày mai”. Tính kiên trì là loại “bùa hộ mạng” mà người ta luôn cần phải đem theo mình, không được rời nó ra, dù chỉ trong thoáng chốc. Đời hoặc đạo cũng đều cần kiên định, nghĩa là luôn tự nhủ “an tâm và tin cậy Chúa, luôn vững lòng, không sợ hãi chi” (Tv 112:7-8).

Người ta nói: “Điu gì đến s đến – What will be will – Que sera sera”. Câu này có thể mang ý nghĩa tiêu cực hoặc tích cực. Là tiêu cực nếu chúng ta thuộc loại người bất cần, là tích cực nếu chúng ta thuộc loại người biết chấp nhận thực tế – với người có niềm tin vào Thiên Chúa, đó là Thánh Ý Chúa. Thật vậy, chúng ta lo cũng không xong, tránh cũng chẳng được, thế thì cứ vui vẻ chấp nhận cho thanh thản, không chấp nhận thì chỉ tự dày vò mình mà thôi. Cuộc đời đã lắm khổ rồi, sao lại muốn làm khổ mình thêm?

Những ngày cuối năm Phụng Vụ, Giáo hội nhắc nhở chúng ta về Ngày Quang Lâm của Đức Giêsu Kitô, tức là Ngày Tận Thế. Tuy nhiên, không biết chúng ta có được chứng kiến thời khắc đó hay không, nhưng có điều chắc chắn là ngày tận thế của cuộc đời mình – tức là ngày chúng ta nhắm mắt, xuôi tay, và trả lại tất cả cho thế gian!

Sự chết liên quan tận thế. Tận thế liên quan sự chết. Nói tới sự chết khiến chúng ta liên tưởng tới thiên tài âm nhạc Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791). Khi soạn tuyệt phẩm REQUIEM, ông đã linh cảm: “Tôi e rng tôi đang viết mt bài cu hn cho chính mình”. Trong thư gởi cho người cha, Mozart cho biết: “Con không bao giđi ng mà không nghĩ rng có th con không còn thy ngày mai na. S chết là mc đích thc s ca cuc đi chúng ta. T vài năm nay, con đã quen vi người bn tuyt vi đó ca con người. Hình nh người bn đó không làm con s mà con thy người bn đó hin lành và ci m. Ước gì chúng ta cũng biết tâm niệm như vậy!

Với người không có niềm tin, chết là hết – như “chó chết hết chuyện” vậy. Nhưng với chúng ta, những người có niềm tin vào Đức Kitô, chết không là hết, mà chết là “ngưỡng quá độ ”, là “buổi giao mùa”, là khởi đầu sự sống mới. Chết là hên chứ không xui chút nào cả.

Kinh Thánh cho biết: “Thi đó, Tng lãnh S thn Micae s đng lên. Người là v chhuy ti cao, là đng vn thường che ch dân ngươi. Đó s là thi ngt nghèo chưa tng thy, t khi có các dân cho đến bây gi. Thi đó, dân ngươi s thoát nn, nghĩa là tt c nhng ai được ghi tên trong cun sách ca Thiên Chúa” (Ðn 12:1). Đó là nói về sự sống lại của những người đã chết. Chết là để sống lại, như vậy chết không là hết, không là điều tuyệt vọng, nghĩa là chết mà đầy hy vọng.

Sách Đa-ni-el nói rõ về sự sống lại và sự thưởng phạt: “Trong s nhng k an nghtrong bi đt, nhiu người s tri dy: người thì đ hưởng phúc trường sinh, k thì đ chu ô nhc và b ghê tm muôn đi. Các hin sĩ s chói li như bu tri rc r, nhng ai làm cho người người nên công chính s chiếu sáng muôn đi nhưnhng vì sao” (Ðn 12:2-3). Ngày nay sống thế nào thì ngày mai sẽ “phản ánh” như vậy, sống tốt thì được thưởng, sống ác thì bị phạt. Gọi là “thưởng – phạt” theo cách hiểu của phàm nhân mà thôi, chứ thật ra đó là sự công bằng, là điều tất yếu, là công lý ca Thiên Chúa.

Công lý đó cũng chính là tình yêu kỳ diệu của Thiên Chúa. Có được Ngài thì thật là hạnh phúc. Tác giả Thánh Vịnh tâm sự: “Ly Chúa, Chúa là phn sn nghip con được hưởng, là chén phúc lc dành cho con; s mng con, chính Ngài nm gi” (Tv 16:5).

Tâm niệm như vậy nên tác giả Thánh Vịnh luôn ghi nhớ: “Con luôn nh có Ngài trước mt, được Ngài  bên, chng nao núng bao gi. Vì thế, tâm hn con mng r, và lòng d hân hoan, thân xác con cũng ngh ngơi an toàn. Vì Chúa chng đành bmc con trong cõi âm ty, không đ k hiếu trung này hư nát trong phn m. Chúa sdy con biết đường v cõi sng: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn tr bên Ngài, hoan lc chng h vơi! (Tv 16:8-11). Có Chúa là có tất cả, ngay trong lúc cứ tưởng là “dấu chấm hết” nhưng chỉ là “dấu chấm xuống dòng” để bắt đầu niềm hy vọng mới. Điều này được minh chứng qua câu chuyện Tổ phụ Áp-ra-ham vâng lời Thiên Chúa mà hiến tế chính con trai độc nhất của ông (x. St 22:1-18).

Sống để rồi chết, chết để rồi sống. Quy trình sinh – tử đó không là “vòng luân hồi” như người ta tưởng. Quy trình sinh – tử đó vô cùng kỳ diệu, nhưng không dễ thực hiện. Ai thực hiện được như vậy thì thật hạnh phúc, và xứng đáng được hưởng lời hứa của Thiên Chúa. Tuy nhiên, lời hứa nào cũng có điều kiện: “Hãy trung thành cho đến chết, và Ta s ban cho ngươi triu thiên s sng” (Kh 2:10c).

Chúa Giêsu đã tiên phong trải qua “vòng sinh – tử” đó để làm hy lễ cứu độ nhân loại. Hy lễ của Ngài hữu hiệu, chỉ một lần là trọn vẹn vĩnh viễn. Thánh Phaolô nói: “V tư tế nào cũng phi đng trong Đn Th lo vic phng t mi ngày và dâng đi dâng li cũng ngy th l tế; mà nhng l tế đó chng bao gi xoá b được ti li. Còn Đc Kitô, sau khi dâng l tế duy nht đ đn ti cho nhân loi, Người đã lên ng bên hu Thiên Chúa đến muôn đi. Và t khi đó, Người ch đi ngày các k thù b đt làm b dưới chân. Qu tht, Người ch dâng hiến l mt ln mà vĩnh vin làm cho nhng k Người đã thánh hoá được nên hoàn ho” (Dt 10:11-14).

Và rồi Thánh Phaolô kết luận: “Nơi nàđã có ơn tha ti thì không cn dâng l đn ti na” (Dt 10:18).

Tin Mừng hôm nay có hai phần: [1] Con Người Quang Lâm (Mc 13:24-27 – tương đương Mt 24:29-31 và Lc 21:25-28), và [2] Dụ Ngôn Cây Vả (Mc 13:28-32 – tương đương Mt 24:32-36; Lc 21:29-33).

Chúa Giêsu cho biết rằng vào những ngày đó – tức là thời cuối cùng, thời tận thế, và sau cơn gian nan ấy, mt tri s ra ti tăm, mt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao t tri sa xung, và các quyn lc trên tri b lay chuyn. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời. Những hình ảnh vừa đáng sợ vừa đáng mừng, tùy “cách nhìn” của mỗi người. Chúa Giêsu nói thật, không nói đùa bao giờ đâu!

Sau đó, Chúa Giêsu dùng hình ảnh thực tế là cây vả để nói về cuộc sống của chúng ta. Ngài chân thành nói: “Anh em c ly thí d cây v mà hc hi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chi ny lc, anh em biết là mùa hè đã đến gn. Cũng vy, khi thy nhng điu đó xy ra, anh em hãy biết là Con Người đã đến gn ngay ngoài ca ri”.

Đừng tin ai, đừng nghe ai, cứ ghi nhớ lời Chúa Giêsu đã nói: “Thy bo tht anh em: thế h này s chng qua đi, trước khi mi điy xy ra. Tri đt s qua đi, nhưng nhng li Thy nói s chng qua đâu. Còn v ngày hay gi đó thì không ai biết được, ngay c các thiên s trên tri hay người Con cũng không, ch có Chúa Cha biết mà thôi. Chắc chắn như vậy!

Với tâm thức đó, Thánh Phaolô đã căn dặn: “Nếu có ai bo rng chúng tôi đã được thn khí mc khi, hoc đã nói, đã viết thư qu quyếrng ngày ca Chúa gn đến, anh em đng vi đ cho tinh thn dao đng, cũng đng hong sĐng đ ai la di anh em bt c cách nào (2 Tx 2:2-3). Và ông gọi đó là “mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành” (2 Tx 2:7), đồng thời nhắc nhở về việc xuất hiện của tên bịp bợm: “Tên gian ác xut hin là do tác đng ca Satan, có kèm theo đth phép mu, du l, đim thiêng, và đ mi mưu gian chước di, nhm hi nhng k phi hư mt, vì đã không đón nhn lòng yêu mến chân lý đ được cu đ(2 Tx 2:9-10). Như vậy, “tất cả những kẻ không tin s tht nhưng ưa thích sgian ác thì sẽ b kết án” (2 Tx 2:12).

Có lần chính Chúa Giêsu cũng đã quan ngại mà đặt vấn đề: “Khi Con Người ngđến, liu Người còn thy lòng tin trên mt đt na chăng?” (Lc 18:8). Một câu hỏi đáng quan ngại thật đấy! Câu này cũng nhắc nhở chúng ta đừng hoang mang, chớ lo lắng, hãy cố gắng tập trung vào Chúa và sống đức ái qua đức tin. Chuyện gì đến sẽ đến, sợ hay lo thì cũng chẳng thay đổi được gì cả. Cứ tâm nguyện theo lời Chúa Giêsu dạy: “Ly Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài!”.

Thánh Phaolô đã đề cập tầm quan trọng của đức kiên nhẫn: “Nếu ta kiên tâm chu đng, ta s cùng hin tr vi Người” (2 Tm 2:12). Đây là lời đáng tin cậy.

Ly Thiên Chúa, xin giúp con biết tnh thc và sn sàng mi nơi và mi lúc. Xin giúp con vng tin vào li Đc Kitô Giêsu đ không dao đng trong bt choàn cnh nào. Xin thương giúp mi người cũng vng lòng tín thác vào Lòng Chúa Thương Xóđến hơi th cui cùng. Con cu xin nhân danh Thánh TGiêsu, Đng cu đ nhân loi. Amen.

 

.

“CÁNH CHUNG” LÀ MỐI ĐE DỌA

HAY NIỀM HY VỌNG VĨ ĐẠI?

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Đã từ lâu, mỗi khi đề cập tới phán xét hay ngày tận thế, tôi luôn bị ám ảnh bởi câu hỏi này! Trong dịp ghé thăm một tòa giám mục nọ, tôi được chỉ cho thấy một tòa nhà rộng lớn đang được xây dựng ngay trong khuôn viên; vị giám mục giới thiệu với tôi, đó là ‘tòa nhà cánh chung’ hay nôm na gọi là ‘bốn sự sau hết’. Trong ngôi nhà đó, ngài cho dựng lên ‘như thật’ các cảnh tượng phán xét, thiên đàng, hỏa ngục v.v. Trả lời thắc mắc của tôi là tại sao phải tốn phí bao nhiêu tiền của để xây dựng một công trình như thế, vị giám mục trịnh trọng giải thích: “Đó là bài giáo lý căn bản nhất; giáo dân cần phải được răn đe để tránh phạm tội!” Tôi không rõ: đó có phải là mục đích mà cả ba cuốn Tin Mừng Nhất Lãm dành trọn cả chương (Mt 24, Mc 13, Lc 21) để mô tả khá chi tiết ngày thế tận và cuộc đại phán xét đó không? Nếu quả đúng là để răn đe, để cảnh cáo, thì cho dầu có đạt được mục đích giúp cho một số người làm lành lánh dữ đi nữa, tôi vẫn không khỏi thắc mắc: các sách đó có đáng được gọi là “TIN MỪNG” hay không?

Đề tài ‘thế tận’ này bao giờ cũng được các sách Tin Mừng bắt đầu bằng việc: các tông đồ là những người Do Thái thắc mắc về viễn tượng đền thánh Giê-ru-xa-lem bị tàn phá. Đây là vấn đề người Do Thái nào cũng quan tâm vì đã được các tiên tri đề cập tới nhiều (Is 66:8; Ed 38; Gr 4; Dcr 14), và thường qua đó đưa ra lời cảnh báo về ‘ngày phán xét’ mà các ngôn sứ gọi là ‘ngày của Đức Chúa’ (Am 5:18; Xp 1:14). Các sự kiện này được mô tả bằng một văn phong khó hiểu hầu gợi được sự quan tâm của quần chúng, nhằm chuẩn bị họ tỉnh thức sẵn sàng cho cuộc khai mạc vĩ đại của ‘triều đại Thiên Chúa đến trần gian’. Bất cứ người Do thái nào cũng sẽ rất ấn tượng về quyền năng của Thiên Chúa, qua các hiện tượng ‘kinh khủng’ xảy đến khi Ngài xuất hiện (quang lâm), các hiện tượng ném vũ trụ vào một cuộc khủng hoảng toàn diện đầy kinh hãi: “Mặt trời ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống…”

Tuy nhiên, tương phản với cái viễn tượng đầy khiếp sợ mà người Do Thái đã quá quen thuộc, Đức Giê-su lại đưa ra một hình ảnh hoàn toàn trái ngược: “Anh em cứ lấy thí dụ cây vả… Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy… anh em biết là Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi”. Suy nghĩ cho kỹ ta mới thấy: hình ảnh cây vả đâm chồi nảy lộc vào đầu xuân đầy sức sống đối nghịch với dáng chết chóc của cành khô trơ trụi trong những ngày đông giá. Quang lâm hay ngày phán xét mà Đức Giê-su trình bày, mặc dù khởi đi từ các hình ảnh Cựu Ước đầy kinh hãi, lại hàm chứa một nội dung tràn trề hy vọng; ngày đó sẽ không gây sợ hãi hay trốn chạy, nhưng sẽ là mừng vui và hy vọng: “anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc” (Lc 21:28). Điều đáng lưu ý là: Luca đã đề cập tới hình ảnh cây vả đâm chồi nẩy lộc ngay sau lời khích lệ trên (xem Lc 21:28-30).

“Lúc đó Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời”. Quả thực, thế tận sẽ là ngày Đức Chúa quang lâm…, ngày Người tuyển chọn…, ngày Người tập hợp! Những kẻ được Người ‘tuyển chọn’ chắc hẳn không thể là những kẻ tự cho mình là xứng đáng, đơn giản vì chẳng có ai xứng đáng trước mặt Thẩm Phán quang minh, nhưng phải là những ai đã hiểu mình được cứu độ cách nhưng không, đã biết tới lòng nhân từ vô hạn lượng của Thiên Chúa trong Đức Ki-tô Giê-su, và đã từng đón rước lòng nhân từ ‘đến gần, ở ngay ngoài cửa’. Con số những người này có thể là nhiều lắm: kể từ A-đam E-va ‘từ đầu mặt đất’, qua hết các thế hệ kế tiếp…, và mãi cho tới những người ở ‘cuối chân trời’. Phải, tất cả những người đó, cho dầu bất xứng và tội lỗi, nhưng bằng cách này hay cách khác, đã biết đón nhận ơn cứu độ của xót thương và thứ tha, họ sẽ đứng thẳng và ngẩng đầu lên vào giờ phút kinh hoàng, khi mà mọi kẻ khác, kể cả các bậc thánh hiền và công chính nhất, đều phải cúi gầm mặt run sợ. Phải chăng: đó mới chính là giờ phút cao điểm của Tin Mừng cứu độ?

Thiết tưởng đối với tất cả những ai tin tưởng và tín thác vào lòng từ nhân của Thiên Chúa mà Đức Ki-tô đã mạc khải bằng chính cái chết của Người, thì ngày cánh chung ấy sẽ không bao giờ có thể là ‘dies irae, dies illa’ – ngày đó, ngày thịnh nộ, nhưng phải là ‘dies spei, dies illa’ – ngày đó, ngày hy vọng tràn trề. Mong rằng mọi Ki-tô hữu chúng ta trước hết, và nhiều người khác nữa, sẽ thuộc số những kẻ ‘đứng thẳng và ngẩng đầu lên’, vì chúng ta đã chẳng không ngừng cử hành việc ‘Con Người đã đến gần, đã ở ngay ngoài cửa’, nhất là khi cử hành Hy Lễ Thập Giá trên bàn thờ ‘mong đợi Người lại đến’ là gì!

Lạy Đấng Phán Xét chí công, con muốn được liệt vào số những người ‘đứng thẳng và ngẩng đầu lên’ trong ngày phán xét, không phải vì con tốt lành thánh thiện hơn ai, nhưng trong tư cách Ki-tô hữu con đã từng tin vào tình yêu cứu độ của Ngài. Xin cho ngày cánh chung sẽ trở nên ngày hiển linh Tin Mừng cứu độ cho con và cho toàn thể nhân loại, và là ngày vĩ đại của niềm hy vọng và cậy trông hoàn vũ. A-men.

 

.

CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN_B

Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến. Chiều hôm Thứ Sáu vừa qua, các hãng thông tấn như radio, internet, đặc biệt là các đài truyền hình lớn như CNN hay Fox News đột nhiên ngưng các chương trình thông thường, để loan tin và trực tiếp truyền hình về vụ khủng bố xảy ra tại thành phố Paris tại Pháp quốc, làm nhiều người thiệt mạng. Chủ đích của các hãng truyền thông là cho khán thính giả biết những sự kiện đang xảy ra, và cảnh giác chúng ta chú ý và đề phòng, nhất là những sự khủng bố giết người của người Hồi giáo quá khích. Chúng ta biết khủng bố có thể xảy ra bất cứ lúc nào và nơi nào, kể cả trong quốc gia Hoa kỳ này, vì quân khủng bố Hồi giáo quá khích đang hiện diện và trà trộn trong tất cả các thành phố.

Trong những tuần cuối của năm phụng vụ, Giáo hội, qua những bài Kinh thánh Lời Chúa, muốn nhắc nhở và cảnh báo chúng ta, là những Ki-tô hữu, đến một sự kiện sẽ xảy ra liên quan đến đời sống hiện tại, nhất là đến đời sống vĩnh cửu ngày sau, để chúng ta chú ý, nhìn vào đời sống và chuẩn bị một cách tốt đẹp theo thánh ý Chúa dạy, cũng như sống trong an bình, vui mừng và hy vọng.  Sự kiện sẽ xảy ra là Ngày Tận Thế, mà theo như lời Chúa, sẽ đến bất cứ lúc nào mà chúng ta không biết.

Trong bài đọc 1, Ngôn sứ Đa-ni-êu nói cho chúng ta biết về thời cùng tận, và liệt kê những điều sau đây sẽ xảy ra. Thứ nhất thời điểm đó Tổng Lãnh Sứ Thần Michael sẽ được Thiên Chúa sai đến để che chở cho dân trong thời kỳ khốn khổ sau hết. Thứ hai đây là thời kỳ khốn khổ chưa từng thấy trong lịch sử loài người, từ khi có các dân cho đến bây giờ. Và sau cùng, những ai có tên trong Sách của Thiên Chúa sẽ được thoát nạn, được giải thoát và được ban thưởng phúc trường sinh. Sách này chỉ có Con Chiên, ám chỉ Chúa Giê-su Ki-tô Chiên Thiên Chúa, đã bị giết nhưng vẫn đang sống, mới có thẩm quyền để mở mà thôi. Vào lúc đó mọi người sẽ chỗi dậy và phải chịu phán xét về việc làm của mình. Người công chính và trung thành sẽ được ban thưởng phúc trường sinh. Những người tội lỗi sẽ “chịu tủi nhục muôn đời.”

Trong bài đọc 2, tác giả Thư Do-thái cho chúng ta biết về ơn sủng Hiến Lễ của Chúa Giê-su Kitô trên thập giá. Tuy Hiến Lễ này chỉ xảy ra một lần, nhưng có sức mạnh tẩy trừ mọi tội lỗi của con người mọi thời đại, và làm cho con người được trở nên tinh tuyền thánh thiện mỗi ngày một hơn. Hiến Lễ của Chúa Giêsu trên đồi Golgotha, được ban cho Giáo hội qua Bí-tích Rửa Tội để tẩy sạch tội lỗi con người, qua Bí-tích Giao Hòa để ban ơn tha thứ, và sau cùng Hiến Lễ của Chúa Giê-su Kitô được thể hiện qua Bí Tích Thánh Thể, ban ơn thánh cho con người chúng ta trong giai đoạn hiện tại.

Bài Tin mừng hôm nay làm cho tôi nghĩ đến bài Tin mừng của thánh Luca Thứ Sáu hôm quakhi những người Pha-ri-sêu đến hỏi Chúa Giêsu “Khi nào Nước Thiên Chúa đến và khi nào Thiên Chúa sẽ ngự đến?” Chúa Giê-su đã cho họ biết Thiên Chúa đang hiện diện ở giữa họ, và Người đưa ra một dấu hiệu Chúa đến trong ngày tận thế một cách thình lình như chớp sáng lòe bầu trời giữa sự vô lo của con người trần thế. Sau đó, Chúa đã đưa ra 2 sự kiện điển hình để minh chứng. Sự kiện thứ nhất về những người sống trong thời ông Nô-e. Thời đó người ta đang sống trong phồn thịnh, ăn chơi phè phỡn, tội lỗi thả dàn. Họ chỉ lo về vật chất, không nghĩ và để ý gì về đời sống tinh thần và lo cho linh hồn của họ nữa. Họ cũng không nghe, bỏ ngoài tai những lời khuyên bảo của các ngôn sứ. Trong khi đó một mình ông Nô-e nghe lời Chúa bảo, lo lắng đi đóng tàu để tránh đại hồng thủy. Họ tiếp tục sống phè phỡn, ăn chơi, lo kiếm tiền thật nhiều và hưởng thụ, nghĩa là chỉ lo tới vật chất. Nhưng giữa lúc phồn thịnh và ăn chơi thì lụt đại hồng thủy xảy đến, cuốn trôi tất cả, tiêu hủy tất cả.   Thiên Chúa đến và đến gọi chúng ta bất ngờ. Ngày tận thế và ngày Chúa trở lại với loài người cũng bất ngờ như vậy.

Sự kiện thứ 2 mà Chúa đề cập đến xảy ra thời ông Lót, cả thành phố Sô-đô-ma đang phồn thịnh, thịnh vượng, ăn chơi thả dàn, xây cất, mua bán, nghĩa là tất cả đang sống trong một cuộc sống hưởng thụ bình thản, nhưng là một loại bình thản giả tạo trong tội lỗi và lầm lạc. Giữa lúc như thế thì lửa bởi trời đổ xuống thiêu hủy tất cả, chỉ một mình ông Lót thoát chết. Còn bà Lót thì hóa thành tượng muối vì đã quay đầu nhìn lại thương tiếc, ham đống của cải bỏ lại, thay vì cứu lấy chính bản thân mình.

Ông bà anh chị em thân mến. Tất cả những sự kiện trên đây mãi mãi vẫn là một bài học nhắc nhở chúng ta. Thiên Chúa đến và đến gọi chúng ta bất ngờ. Ngày Chúa trở lại phán xét nhân loại cũng bất ngờ như vậy. Cũng như mỗi người không biết khi nào mình chết, thì cả nhân loại cũng không biết khi nào Chúa trở lại. Tất cả đều bất ngờ. Nhưng vì yêu thương, Chúa đã dùng lời của Người để dạy dỗ và hướng dẫn chúng ta không bị lâm vào cảnh bất ngờ như những người bị thiệt mạng trong cuộc khủng bố ở Paris. Tin Mừng thánh Gioan quả quyết rằng “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” Vì thế, nếu chúng ta muốn được cứu thoát khỏi cảnh “tủi nhục muôn đời” thì chúng ta phải tin vào Chúa Giêsu Ki-tô Con của Thiên Chúa, và sống giáo huấn của Chúa dạy.

Chúng ta hãy nhớ cuộc sống ở trần gian là một cuộc lữ hành, là một cuộc hành trình về nhà Cha trên Trời. Chúng ta đang sống giữa trần gian như một bông hoa sớm nở, trưa héo, chiều tàn, nghĩa là, cuộc đời chúng ta ngắn ngủi và mong manh. Hơn nữa, giờ chết của chúng ta cũng như ngày tận thế, chúng ta hoàn toàn không biết. Vì thế là những Kitô hữu, chúng hãy lắng nghe Lời Chúa báo trước, và sống thế nào để đừng bao giờ sự chết đến với chúng ta trong tình trạng đáng tiếc và đáng hội hận. Trái lại, chúng ta sống như thế nào để làm sáng danh Chúa và để kết thúc cuộc đời một cách tốt đẹp. Xin Chúa giúp chúng ta nhận những sự kiện chung quanh, để chúng ta chú ý đến cuộc sống đức tin, luôn trung thành với Chúa, và sửa soạn cho ơn cứu rỗi, cũng như đời sống vĩnh cửu của chính mình. Hôm nay chúng ta còn thời giờ để sửa soạn và giúp người khác được, nhưng đến ngày và thời điểm sau cùng đó, chúng ta sẽ không còn thời giờ và cơ hội. Chúng ta phải luôn ý thức rằng, Chúa không muốn chúng ta sống trong lo âu, sợ hãi, nhưng muốn chúng ta sống trong bình an, tin tưởng và hy vọng.

 

.

 

SẴN SÀNG ĐÓN CHÚA LẠI ĐẾN

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Mc 13,24-32

(24) Trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, (25) Các ngôi sao từ trời sa xuống, và quyền lực trên trời bị lay chuyển. (26) Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. (27) Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời. (28) Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà tìm hiểu. khi cành nó mềm ra và trổ lá, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. (29) Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi”. (30) Thầy bảo thật anh em: Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. (31) Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu. (32) Còn về ngày hay giờ thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay Người Con cũng không. Chỉ có Chúa Cha biết mà thôi.

  1. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay nằm trong diễn từ về “Cuộc quang lâm của Đức Giêsu” (x. Mc 13,1-37). Bằng những hình ảnh tượng trưng về sự sụp đổ của Đền Thờ kèm theo những điềm báo trước, Đức Giêsu nhắc nhở các tín hữu về “Ngày của Chúa” tức là ngày tận thế. Khi đó sẽ có những cơn bách hại xảy ra, trời đất cũ sẽ bị rung chuyển và biến đổi thành “Trời Mới Đất Mới” (x Kh 21,1), trước khi Con Người đến trong đám mây.

  1. CHÚ THÍCH:

– C 24-25: + Trong những ngày đó: Ngày nói đây là ngày Đền Thờ Giêrusalem nguy nga tráng lệ bị tàn phá bình địa. + sau cơn gian nan ấy: Cơn gian nan như một điềm báo trước về Ngày Tận Thế. + Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, các quyền lực trên trời bị lay chuyển: Những hình ảnh trong các sách Cựu Ước này nói về “Ngày của Đức Giavê”. Ở đây các hình ảnh này nhằm đề cao sự uy nghiêm của Đức Kitô trong Ngày Tận Thế: bấy giờ các tầng trời sẽ bị rung chuyển, công trình sáng tạo xưa kia sẽ biến mất và một Trời Đất Mới sẽ xuất hiện.

– C 26-27: + Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến: Con Người là hình ảnh một nhân vật trong sách Đanien, trổi vượt hơn hình ảnh “Đấng Mê-si-a Con Vua Đavít”. Ngài đến trong đám mây trời, tiến lên trước toà Thiên Chúa và nhận lãnh một vương quyền phổ quát (x Đn 7,13). Trong các sách Tin Mừng, Đức Giêsu đã xưng mình là Con Người tới 70 lần (x. Mt 8,20; Ga 3,13…): Người tự xưng là Con Người với 2 ý nghĩa. Một là Người Tôi Tớ của Đức Giavê: “Tôi, Người Tôi Tớ bị loại bỏ, bị giết chết nhưng sẽ được tôn vinh và sẽ cứu độ muôn người” (x. Mc 8,31). Hai là Chúa Con, được đưa lên trời ngự bên hữu Chúa Cha (x. Tv 110,1) và đến ngày tận thế, sẽ lại đến (x. Đn 7,13). + “Đến trong đám mây”: Mây không phải là một phương tiện di chuyển, nhưng chỉ là một biểu tượng về sự hiện diện của Thiên Chúa (x. Xh 13,21; Mt 17,5) + Người sẽ sai các thiên sứ đi và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời: Từ khắp nơi, Đấng Kitô sẽ ra lệnh cho các thiên thần qui tụ tất cả những người lành thánh được tuyển chọn tập trung lại.

– C 28-29: + Lấy thí dụ cây vả… khi thấy những điều đó xảy ra: Các ngôn sứ thường dùng hình ảnh mùa hè và mùa gặt để diễn tả ngày cánh chung hay ngày tận thế. Ở đây Đức Giêsu dùng hình ảnh cây vả báo trước mùa hè sắp tới, để ám chỉ về ngày cùng tận của Đền Thờ Giêrusalem là hình ảnh tiên báo về ngày tận thế (x Mc 13,4-19).

– C 30-31: + Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra: Việc tàn phá Đền Thờ Giêrusalem xảy ra vào năm 70, là thời điểm những ai nghe lời Đức Giêsu giảng vẫn còn sống và chứng kiến những điều Người tiên báo được ứng nghiệm. + Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu: Vũ trụ vật chất sẽ có ngày tan biến (x Is 24,19.23), nhưng Lời Đức Giêsu sẽ luôn tồn tại nhờ quyền năng của Thiên Chúa.

– C 32: + Về Ngày Giờ đó: câu này nói về ngày tận thế sẽ xảy ra. + chỉ có Chúa Cha biết mà thôi: Ngày Giờ cánh chung hay tận thế thuộc quyền Chúa Cha định liệu. Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa (x. Pl 2,6), với tư cách là Ngôi Lời, đồng bản tính vơi Chúa Cha nên dĩ nhiên Người biết mọi sự giống như Chúa Cha. Nhưng với tư cách là Đấng Thiên Sai (x. Pl 2,8), Người “nên giống chúng ta mọi đàng chỉ trừ không có tội” (x. Gl 4,4), nên Người không biết được Ngày Giờ ấy, hầu mọi người phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng chuẩn bị cho ngày ấy (x. Mc 13,33).

  1. CÂU HỎI:

1) Trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã tự xưng là “Con Người” mấy lần? Đức Giêsu muốn mặc khải mình là ai khi tự xưng mình là Con Người?

2) “Con Người ngự trong đám mây mà đến”: Phải chăng đám mây là phương tiện Đức Giêsu dùng để di chưyển?

3) Đức Giêsu có biết rõ ngày cùng tận của thế giới là ngày nào không? Tại sao?

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến (Mc 14,26).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) DỌN MÌNH CHẾT LÀNH:

Khi Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII ngã bệnh nặng, các bác sĩ không nói gì về bệnh tình của ngài, nhưng ngài biết mình khó sống thêm nên thường nói với những người chung quanh: “Tôi đã sắp sẵn hành trang”. Đến ngày cuối cùng khi giờ chết sắp đến, thư ký riêng tới bên giường hôn tay Đức Giáo Hoàng và hỏi thăm xem ngài cảm thấy trong mình thế nào. Đức Gioan trả lời: – Cha thấy dễ chịu và an bình trong tay Chúa, nhưng cũng hơi lo.

Vị thư ký nói: – Cha không phải lo. Nhưng chúng con đang lo đây. Chúng con mới nói chuyện với các bác sĩ…

Đức Giáo Hoàng ngắt lời hỏi: – Họ nói với con thế nào?

Vị linh mục nghẹn ngào nói: – Thưa Đức Thánh Cha, con phải nói sự thật: Hôm nay là ngày của Chúa. Hôm nay Cha về Thiên đàng.

Nói xong, vị thư ký quỳ xuống bên giường ôm mặt khóc. Đức Giáo Hoàng âu yếm xoa đầu vị thư ký và ôn tồn nói:

– Mọi khi con can đảm lắm, sao giờ mềm yếu vậy? Con vừa cho ta nghe những lời hay đẹp nhất mà một vị linh mục có thể nói: Hôm nay Cha sẽ về Thiên đàng.

Phải có một niềm tin vững mạnh, người ta mới có thể bình thản như vậy lúc từ giã cõi đời.

2) TRÁNH NGHE NHỮNG TIN ĐỒN NHẢM VỀ NGÀY TẬN THẾ:

Vào cuối năm 1992, hàng chục ngàn tín đồ của một giáo phái tại Hàn quốc đã tụ tập nhau trong hơn 150 nhà thờ để đón chờ ngày tận thế, đón Đức Giêsu tái lâm trong vinh quang để phán xét chung. Theo những người lãnh đạo của giáo phái này thì chính xác ngày tận thế là vào lúc nửa đêm ngày 28/10/1992. Các tín đồ của giáo phái trương lên biểu ngữ: ”Chúng ta sẽ gặp nhau trên trời”. Đồng thời hàng ngàn cảnh sát Hàn quốc cũng được đặt trong tình trạng báo động cao trên toàn quốc để phòng ngừa một cuộc tự sát tập thể, nếu ngày tận thế không xẩy ra. Bởi vì, rất nhiều người do quá tin tưởng đã bán hết nhà cửa và phát tán mọi tài sản gia đình… để chuẩn bị cho ngày tận thế này. Nhưng cuối cùng ngày tận thế đã không xẩy ra, nên sau đó giáo phái này đã tự giải thể.

Đây chỉ là một trong nhiều tiên báo không chính xác về ngày tận thế trên thế giới. Sở dĩ người ta đóan sai là do đã hiểu lời Chúa cách lệch lạc và không đúng theo ý Chúa Giêsu dạy. Đối với các tín hữu chúng ta: nhân dịp cuối năm phụng vụ, Hội Thánh muốn nhắc nhở chúng ta ý thức về ngày tận thế chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng không xác định cụ thể ngày giờ. Việc đề cập đến ngày này nhằm giúp chúng ta canh tân đời sống và tích cực chuẩn bị cho ngày Chúa đến viếng thăm trong giờ chết của mỗi người.

  1. THẢO LUẬN: 

1)Bạn hiểu thế nào về ngày tận thế?

2)Chết là gì?

3)Bạn làm gì để chuẩn bị đón Chúa đến trong giờ chết mỗi người và ngày tận thế chung tòan nhân lọai?

  1. SUY NIỆM:

1) Ngày tận thế chắc chắn sẽ đến:

Tin mừng Máccô hôm nay nói về ngày tận thế: Hôm ấy các môn đồ chỉ cho Đức Giêsu thấy cảnh huy hoàng của Ðền Thờ khi được ánh sáng mặt trời chiếu vào! Nhưng Đức Giêsu đã tiên báo cảnh ấy có ngày sẽ không còn nữa và Đền Thờ sẽ bị phá hủy không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào, vì dân Giêrusalem đã từ chối đón nhận ngày Thiên Chúa đến viếng thăm.

Ðức Giêsu đã dùng những hình ảnh về thời kỳ chiến tranh, cũng như các công thức về thời cánh chung trong các sách ngôn sứ để diễn tả cảnh tàn phá của Giêrusalem. Từ đó, Người đề cập đến ngày cùng tận của thế giới. Nhưng lời của Đức Giêsu được các thánh sử ghi lại sau khi Ðền Thờ đã bị sụp đổ và Hội Thánh bị bách hại khắp nơi. Qua Lời Chúa hôm nay, Máccô muốn trình bày các điều sau: Một là các hiện tượng trời đất như mặt trời tối sầm, mặt trăng mất sáng, tinh tú sa xuống và các thiên thể lay chuyển… là điềm báo Chúa đến trong ngày tận thế. Hai là mặt trời tối sầm, mặt trăng mất sáng, tinh tú sa xuống… cho thấy vũ trụ này sẽ quay trở lại lúc khởi nguyên hỗn mang khi chưa có ánh sáng. Và như thế, ngày tận thế là lúc vũ trụ sẽ biến mất để cho “trời mới và đất mới” xuất hiện. Ba là người ta sẽ thấy “Con Người đến trong đám mây”. Con Người chính là Ðức Giêsu Cứu thế. Hình ảnh mây trời nhấn mạnh tính cách “hiển linh” của việc Người đến. Và như vậy “ngày của Chúa” sẽ trở thành ngày của Thiên Chúa đến “trong” và “nhờ” Con Người là Đức Giêsu. Bốn là Vua Kitô sẽ sai các thiên thần đi khắp cùng mặt đất thâu họp những kẻ được chọn lại, để đưa họ vào hưởng vinh quang của Người trên trời.

2) khi nào điều ấy xảy ra?

Đây là thắc mắc của mọi thế hệ loài người. Theo Tin mừng Máccô: Ðức Giêsu dạy các môn đệ phải tiên liệu: Khi thấy các điềm kia xảy ra, thì hãy biết rằng “Con Người đã đến gần bên cửa” (x Mc 13: 28-29).

Các điềm báo về ngày tận thế như: Mùa hè ám chỉ thời kỳ tận thế, các chi tiết khác như: Ðền thờ bị tàn phá, chiến tranh lọan lạc, các Kitô giả xuất hiện, niềm tin trở nên nguội lạnh, các tầng trời bị lay chuyển v.v… cho thấy tính không bền vững của vũ trụ vật chất.

Nghe lời Chúa hôm nay, nhiều người đã lầm tưởng ngày tận thế sắp đến. Nhưng ngay sau đó Đức Giêsu đã khẳng định: “Về ngày ấy hay giờ ấy, thì chẳng ai biết được… cả Con Người nữa, trừ phi là Chúa Cha” (Mc 13,32).

Thực ra, với bản tính Thiên Chúa, Đức Giêsu ngang hàng với Chúa Cha, nên cũng biết rõ ngày tận thế. Nhưng với bản tính lòai người thì cũng như chúng ta, Người không biết rõ đó là ngày nào.

3) Chúng ta phải làm gì?

– Không nên hỏang sợ nhưng hãy hy vọng chờ đón Chúa đến:

Đức Giêsu báo trước sẽ có ngày tận thế, nhưng lại dạy môn đệ không nên hoảng sợ. Người đến để phán xét mọi người, nhưng “đối với những ai mong đợi trong yêu mến ngày Chúa lại đến” (2 Tm 4,8), thì Người sẽ là Đấng Cứu Độ và là vinh quang của họ : ”Người sẽ sai các thiên thần đi quy tụ từ bốn phương trời, những người được tuyển chọn”. Giáo hội bị bắt bớ nhưng cũng được an ủi vì “sẽ thấy vinh quang của Đức Giêsu Kitô” (Tt 2,13). Đứng trước các tin đồn về ngày tận thế, thái độ đúng đắn nhất của các môn đệ là: ”tỉnh thức và cầu nguyện luôn”, trong niềm mong chờ, vì Chúa sẽ đến bất ngờ như Người đã nói: ”Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,44).

– Chuẩn bị cho giờ chết của mỗi người và ngày tận thế chung tòan nhân lọai:

Người Kitô hữu chỉ có thể “đứng vững trước mặt Con Người” khi biết thanh luyện tội lỗi, tránh xa sự dữ và các thói hư, nhất là thói ích kỷ, tham lam…, và góp phần xây dựng một thế giới mới yêu thương, trong đó mọi người luôn quan tâm, cảm thông và chia sẻ phục vụ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cho gia đình, cộng đòan và môi trường sống ngày một tốt đẹp hơn.

– Cần ý thức tính tập thể của ơn cứu độ:

Đường về trời không dành riêng cho từng người, nhưng là con đường chung cho hết mọi người. Trong ngày phán xét, Đức Kitô sẽ tái lâm xét xử nhân lọai dựa trên tiêu chuẩn thực thi bác ái chia sẻ và phục vụ tha nhân. Ai sống trong yêu thương, người đó sẽ được sống lại và hưởng hạnh phúc trường sinh, còn kẻ “ghét anh em chính là kẻ sát nhân” (1 Ga 3,15) cũng sống lại để chịu hình phạt “khóc lóc và nghiến răng” (x Mt 25,31-46). Còn “Ai làm cho người ta nên công chính sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao”(Đn 12,3).

– Maranatha: Lạy Chúa Kitô, xin hãy đến:

Các tín hữu thời Hội Thánh sơ khai đã mong ước ngày trở lại của Chúa qua lời cầu nguyện: “Maranatha – Lay Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,20). Trong Thánh lễ, sau khi truyền phép, các tín hữu chúng ta cũng dâng lời xin: ”Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết, và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến”. Mỗi tín hữu chúng ta cần năng hồi tâm sám hối và tích cực chuẩn bị cho ngày Chúa đến bằng việc làm các việc bác ái chia sẻ phục vụ cho tha nhân nhằm “Làm vinh danh cho Thiên Chúa và vì phần rỗi các linh hồn”, kèm theo một lời nguyện như sau: “Lạy Chúa Kitô, xin hãy đến“.

  1. LỜI CẦU:

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một quả tim mới và một thần trí mới để chúng con sẵn sàng góp phần xây dựng Hội Thánh và phục vụ Chúa trong mọi người chung quanh ngay từ hôm nay. Xin cho chúng con sẵn lòng chấp nhận các đau khổ trái ý xảy đến để thành tâm sám hối tội lỗi, khử trừ thói hư và tích cực góp phần làm cho gia đình, cộng đòan, xã hội… trở nên công bình yêu thương và bình an hoan lạc hơn, hầu đón chờ Chúa sẽ tái lâm và biến trần gian trở thành một “Trời Mới Đất Mới” vào ngày tận thế.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.

Đ)XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

 

.

NGÀY CÙNG TẬN CỦA THẾ GIỚI

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Con người sinh ra để làm gì ? Lúc nào con người chết ? Bao giờ là ngày cùng cận của thế giới ? Vâng, những vấn nạn này đã được nhiều người đặt ra từ xưa đến giờ! Nhưng tất cả đều không giải đáp được những vấn nạn này ! Tại sao và tại sao ? Tin Mừng của thánh Máccô, hôm nay  Chúa Giêsu quả quyết :” Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các Thiên Sứ trên trời hay người Con cũng không hề biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi “ ( Mc 13, 32 ).

Vâng, các nhà bác học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra biết bao giả thiết, đưa ra biết bao cuộc thí nghiệm, cuối cùng tất cả đều bó tay. Con người không thể tìm được giải đáp cho giờ chết, ngày chết và ngày tận thế, ngày cuối cùng của thế giới này ! Đã có nhiều tin đồn về ngày tận thế của nhiều giáo phái.Đã có nhiều lời đe dọa của những tiên tri giả, của những đạo giáo, phe nhóm quá khích cho rằng ngày tận thế sắp đến :” Hãy ăn chơi, đừng làm gì nữa “. Chúng ta đừng nhẹ dạ tin theo những lời đồn thổi, dọa nạt nhảm nhí đó ! Thánh Augustinô đã nói cách dứt khoát :” Đức Giêsu không cho ta biết ngày cuối cùng của ta, để ta luôn cảnh giác chờ đợi Người “. Nên, chúng ta hãy ý thức thân phận mỏng giòn của ta:” Chúng ta rất yếu đuối, mong manh như cậy sậy phớt phơ trước gió, như bong bóng sà phòng trước bầu trời rộng “. Do đó, thái độ của chúng ta là tỉnh thức và cầu nguyện, sẵn sàng chờ đón Chúa đến một cách bất ngờ, đột xuất. Đức Thánh Cha Phanxicô nhiều lần cũng đã đề cập tới ngày tận thế. Đức Giáo hoàng Phanxicô nói:” Khi cảm thấy cấp thiết phải kiểm tra lá số tử vi của mình, bạn hãy chuyển ánh mắt vào Chúa Giêsu”.Ngài giải thích :” Sẽ có một ngày mà ta đối diện với Thiên Chúa “. Ngài nói rằng điều quan trọng không phải là biết khi nào hoặc làm thế nào thời cánh chung sẽ đến, nhưng tốt hơn là ‘ chính chúng ta hãy chuẩn bị sẵn sàng ‘. Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh :” Chúa Giêsu chính là “ điểm đến của cuộc lữ hành trên đường dương thế của chúng ta “, nhưng Người cũng là sự hiện diện liên lỉ trong cuộc sống của chúng ta “…

“ Chúa nhắc chúng ta là mọi thứ rồi cũng qua đi.Chỉ Lời Người mới là ánh sáng soi dẫn vững chắc cho hành trình của chúng ta “.

Loài người và chúng ta không biết ngày nào Chúa gọi chúng ta, không biết ngày nào Người đến trong vinh quang, nhưng có một điều chắc chắn để được vào Vương quốc Thiên Chúa, chúng ta phải xây dựng một gia đình nhân loại đầy yêu thương, công lý và hòa bình. Chúng ta phải nỗ lực kiến tạo hòa bình,khát khao tìm kiếm nước Thiên Chúa vì nước của Ngài là nước tình yêu.Nên, chí có những ai biết sống đức ái, biết sống ngôn ngữ tình yêu mới được vào nước của Ngài.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết sống Lời của Người để chính ánh sáng Lời của Chúa sẽ soi đường chỉ lối cho chúng con đi.Xin cho chúng con biết sống yêu thương để những người gặp chúng con cũng nhận ra Chúa đang hiện diện trong chúng con.Xin cho chúng con biết tác tạo hòa bình vì chỉ có những ai yêu chuộng hòa bình mới được nhìn xem Thiên Chúa. Xin cho chúng con đôi mắt sáng đức tin để chúng con nhận ra Chúa nơi anh em đồng loại.Xin cho chúng con đôi tai để chúng nghe được lời yêu thương của Chúa. Xin cho chúng con miệng lưỡi để chúng con biết nói lời yêu thương của Chúa. Amen.

 

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:

1.Ngày tận thế là ngày nào ?

2.Ai nắm giữ bí mật của ngày tận thế ?

3.Chúa Giêsu có mạc khải ngày tận thế không ?

4.Chắc có ngày tận thế không ?

5.Ngôn ngữ của Thiên đàng là ngôn ngữ nào ?

 

.

NGỰ TRÊN GIÁ MÂY TRỜI

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Ngày Chúa quang lâm là ngày không còn mặt trời, mặt trăng, chính Chúa là ánh sáng muôn ngàn đời soi chiếu. Ngày ấy cũng bắt đầu từ hôm nay và cũng chờ đợi ngày sau hết. Sẵn sàng là thái độ khôn ngoan để sống bình an và hạnh phúc.

Ngự trên đám mây.

Thông thường đám mây xuất hiện  báo hiệu sự hiện diện của Thiên Chúa. Lúc thần hiện trên núi Sinai (Xh 19, 16). Khi thì từ đám mấy có tiếng của Thiên Chúa phán (Mt 17, 5).

Mây mang mưa tới, đó là dấu chỉ của mùa sản sinh, mùa sinh ơn phúc trong ngày Chúa ngự đến. Các tầng mây báo hiệu dồi dào ân phúc của Thiên Chúa. Những ngày còn lữ hành đám mây che nắng dẫn đường (Xh 40, 36 38). Sự hiện diện của Thiên Chúa bảo đảm cho cuộc xuất hành cũng là hành trình trần thế được Người thương giữ gìn.

Đám mây còn báo hiệu của ngày biến đổi, do quyền năng Thiên Chúa thực hiện. Những người được lựa chọn vào Nước Chúa, họ sẽ được biến đổi hoàn toàn trong ngày Chúa ngự đến. Như ngày Chúa biến hình trên núi đám mây bao phủ (Mt 17, 1 – 8). Trong những ngày hiện tại sống trên trần gian, con người cũng được biến đổi nhờ được kết hiệp trong Chúa Kitô. Và cũng nhờ Chúa Thánh Thần phủ bóng ân sủng làm cho con người được biến đổi, như ngày truyền tin cho Mẹ maria cho thấy việc đó (Lc1, 35)

Ánh sáng không bao giờ lịm tắt (Exsultet)

“Ánh sáng ban ngày của ngươi không còn là mặt trời nữa, và ban đêm, ngươi chẳng cần đến ánh trăng soi: Chúa sẽ là ánh sáng vĩnh cửu chiếu soi ngươi, ánh quang huy của ngươi là Thiên Chúa ngươi thờ.” (Is 60, 19)

Ánh sáng chân lý xua tan mọi sai lầm và nghi ngờ. Chỉ còn xác tín vào điều chân thật một cách chắc chắn. Ngày của Chúa xóa tan hết những u mê tâm trí, Đấng làm cho con người sáng suốt nhận ra Người hiện diện “Ngài quả là nguồn sống, nhờ ánh sáng của Ngài, chúng con được nhìn thấy ánh sáng.” (Tv 36, 10)

Thánh Gioan giới thiệu về ánh sáng ban sự sống “ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.” (Ga 1, 4). Sự sáng Chúa Giê su nói chính là Ngài, bao lâu còn sống trên dương gian này còn cần đến ánh sáng và cũng là đón nhận chính Ngài: “Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.” (Ga 9, 4 -5)

Ánh sáng và bóng tối, hướng theo chủ đề luân lý, là con cái sự sáng và bóng tối luôn chen lẫn vào, nếu thiếu hay không có ánh sáng. Một thế gian luôn thù nghịch với Thiên Chúa, nên khi có Chúa ở cùng bóng tối thế gian không thể làm gì được, “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.” (Ga 8, 12)

Ánh sáng muôn ngàn đời là chính Chúa sẽ trị vì. Là con cái sự sáng hãy tỉnh thức và cầu nguyện để chính Chúa luôn là ánh sáng soi đường dẫn đến sự sống. Ngày của Con Người sẽ đến và những người theo ánh sáng của Chúa sẽ cùng theo Người vào tham dự vào sự sống đời đời.

 

.

NƯỚC CHÚA

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Dụ ngôn Nước Chúa kể rằng:
Người gieo giống tốt, ruộng bằng phì nhiêu.
Chăm nom săn sóc sáng chiều,
Trong khi đêm ngủ, ra chiêu phá vùng.
Kẻ thù gieo vãi cỏ lùng,
Chen vào phá hoại, rục tùng phí công.
Cỏ lùng giữa lúa mênh mông,
Lúa thơm kết hạt, trổ bông cỏ lùng.
Bằng lòng đầy tớ đi cùng,
Ra đồng nhổ cỏ, đem nung đốt lò.
Chủ rằng đợi đó đừng lo,
Tới mùa thợ gặt, thu kho lúa vàng.
Cỏ lùng gom lại bó ngang,
Đốt đi từng bó, dễ dàng hủy tiêu.
Con người tốt xấu bao nhiêu,
Tới ngày phán xét, thiên triều thẳng ngay.

Nước Trời dưới thế bao gồm cả người tốt lẫn kẻ xấu. Mọi người cùng chung sống với nhau. Giống như cỏ lùng được gieo vào giữa ruộng lúa. Cả hai cứ tiếp tục mọc lên cho đến khi sinh bông hạt. Tới mùa thu hoạch, ông chủ sẽ thu góp cỏ lùng lại và đem đốt đi. Hình ảnh Nước Trời nơi trần gian cũng tương tự như thế. Nước Trời còn gọi là Hội Thánh, không phải tất cả mọi người trong Hội là thánh cả đâu. Chúng ta tuyên xưng Giáo Hội thánh thiện là vì có Chúa Kitô là đầu nhiệm thể, Ngài chính là Đấng Thánh.

Chúa mời gọi mọi người gia nhập vào Nước Chúa. Nước Chúa bao gồm cả người thánh thiện lẫn các tội nhân. Cuộc lữ hành trần thế là một cuộc tôi luyện. Không ai sinh ra đã là thánh. Chúng ta phải trở nên thánh mỗi ngày. Chúa ban đủ ơn và tạo điều kiện cho mỗi người được nên tốt lành và thánh thiện. Chúa không ép buộc nhưng Chúa mời gọi chúng ta hãy nên trọn lành như Cha chúng ta ở trên trời.

Truyện kể có một ông chủ giầu có đến thăm một làng quê nghèo. Ông muốn chia xẻ tài sản cho người nghèo để giúp họ có vốn làm ăn. Nhiều người nghe thế, vội vã đến xin giúp đỡ. Họ nghĩ ông chủ qúa tốt bụng và độ lượng. Nhưng có một số người khác tính toán kỹ hơn tự hỏi: Tại sao ông ta rộng lượng như thế? Chắc ông ta có ý đồ lợi dụng điều gì đây? Họ đã chối từ sự giúp đỡ. Ông chủ ra đi, những người nhận phần vốn đã sinh hoa lợi và làm lại cuộc đời. Còn những người cố hữu trong tư tưởng nghi ngờ. Họ vẫn chịu cảnh nghèo nàn và vất vả hằng ngày.

Chúa là Cha nhân hậu và quảng đại vô cùng. Chúa đã trao ban cho chúng ta biết bao hồng ân. Chúng ta được sinh ra làm người và rồi được sinh lại làm con của Chúa. Chúng ta được gia nhập vào Nước Chúa và có quyền làm con Chúa. Chúa trao ban cho chúng ta có khả năng, có trí khôn và có linh hồn. Chúng ta phải làm gì để đáp lại lòng yêu thương vô bờ của Chúa. Đôi khi trong cuộc sống, chúng ta nghĩ rằng tất cả những gì chúng ta có, đều là do công lao khó nhọc của chúng ta.

Nước Trời như hạt giống gieo xuống sinh nhiều hoa trái. Hạt giống mà chúng ta đã lãnh nhận cho dù có nhỏ bé đều là ân sủng được trao ban. Không có gì nhưng không hay tự nhiên mà có. Tất cả đều là hồng ân của Chúa. Chúng ta đã nhận lãnh hạt giống ân sủng, chúng ta có bổn phận làm sinh hoa kết trái yêu thương.

 

.

LÀM CHỨNG CHO CHÚA

Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

Thưa anh chị em,

Trang Tin mừng chúng ta vừa nghe, Đức Giêsu báo cho các môn đệ biết trước tương lai các ông sẽ bị các vua chúa quan quyền bắt bớ, đánh đập, hành hạ sỉ nhục. Thế nhưng, tất cả những đau khổ đó Đức Giêsu sẽ trải qua trước. Chẳng hạn như Chúa nói: “Các con hãy coi chừng người đời, họ sẽ bắt nộp các con cho các hội đồng, và sẽ đánh đập các con nơi hội đường của họ” (Mt 10, 17).

Người Do thái đã bắt nộp Đức Giêsu cho hội đồng, người đứng đầu hội đồng là thượng tế Caipha năm ấy. Ông đã nói một câu ám chỉ về cái chết của Đức Giêsu: “Thà một người chết thay cho dân được nhờ”. Sau đó, họ điệu Đức Giêsu đến quan Philatô xét xử, quan trao cho lý hình đánh đập Đức Giêsu tả tơi đến nổi chẳng còn hình tượng người ta nữa.

Tiếp đến: “Các con sẽ bị điệu ra trước mặt vua Chúa quan quyền để làm chứng cho họ….” (Mt 10, 18). Đức Giêsu đã bị các thượng tế điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền. Trước mặt quan Philatô, Ngài đã làm chứng: “Tôi là vua, Tôi đến thế gian này là để làm chứng cho sự thật, ai hâm mộ sự thật thì nghe Tôi” (Ga 18,37).

Rồi Chúa nói tiếp: “Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh…..vì danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghen ghét, nhưng ai bền đổ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ” (Mt 10, 21-22).

Chính Đức Giêsu đã  bị Giuđa dùng nụ hôn là dấu chỉ của tình yêu, trở thành nụ hôn phản bội, nộp Thầy mình với giá 30 đồng bạc. Cho nên, khi chúng ta nhìn vào cuộc thương khó của Đức Giêsu, chúng ta mới biết thế nào là tử đạo.

Anh chị em thân mến,

Theo sử liệu để lại, thì Giáo Hội Việt Nam có khoảng 130.000 tín hữu can đảm đổ máu ra làm chứng cho Chúa Kitô trên quê hương đất nước chúng ta. Trong số đó có 118 vị đã được thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc hiển thánh ngày 19/6/1988, mà năm nay, Giáo hội Việt nam mừng năm thánh tròn 30 năm.

Thế thì, do động lực nào mà các vị tử đạo dám đổ máu mình ra như thế?. Thưa, chính là tình yêu. Tình yêu này khởi đi từ Đức Kitô, khi Ngài nói: “Các con hãy yêu thương kẻ thù, hãy cầu nguyện cho những kẻ làm hại mình, hãy tha thứ cho những kẻ bắt bớ mình, và chúc phúc cho những kẻ làm khổ mình” (Mt 6,44).

Tình yêu ấy được thể hiện khi Đức Giêsu cầu nguyện trên cây thánh giá “Lạy Cha, xin Cha cho họ vì họ lầm chẳng biết” (Lc 23,34). Có thể nói đây là lời cầu nguyện hay nhất, khi Đức Giêsu nói lời tha thứ cho những kẻ hành hạ mình cho đến chết.

Noi theo gương Đức Kitô, các vị tử đạo đã sẵn sàng tha thứ cho những kẻ hành hạ mình. Cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ mình. Nhờ Chúa ban ơn trợ giúp, những con người vốn mỏng dòn yếu đuối đã trở nên can đảm phi thường. Chính khi các ngài chịu trăm bề đau khổ, các ngài làm chứng cho đạo Chúa là đạo của tình thương và tha thứ.

Thiên Chúa đã yêu thương thế gian, đến nổi đã hiến ban Con Một của Ngài cho thế gian. Ngay cả khi thế gian loại trừ Con của mình, Thiên Chúa vẫn một lòng yêu thương. Cả khi thế gian đóng đinh người Con của mình vào cây thập giá, Thiên Chúa vẫn một lòng yêu thương tha thứ.

Để làm chứng cho đạo yêu thương, nên các vị tử đạo đã yêu thương dân tộc Việt nam hơn ai hết. Các Ngài xác tín rằng: nhờ Tin mừng của Chúa mà đất nước này được tốt đẹp hơn. Tình Chúa tình người ắp đầy bình an hạnh phúc. Và vì thế, các ngài đã chấp nhận hiến dâng mạng sống không chỉ vì lòng yêu mến Đức Kitô mà cả vì lòng yêu mến quê hương đất nước này nữa. Cho nên, dù vua Chúa quan quyền có hành hạ các ngài cho đến chết, các Ngài vẫn một lòng yêu thương tha thứ.

Thật vậy, chỉ vì tin Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ trần gian treo trên thánh giá, mà thánh Matthêu Gẫm can đảm không bước qua Thánh giá. Ngài trả lời với ông quan tỉnh rằng: “Thánh giá tôi tôn thờ, tôi giẫm lên sao được?”.

Chỉ vì tin có sự sống lại ở đời sau, tin có hạnh phúc Nước trời, mà thánh Mỹ vui lòng chịu trăm bề đau khổ, để bước theo chân Chúa đến cùng. Ngài nói với quan tổng đốc rằng: “Tôi đã suy xét kỹ, và tin nhận đạo Thiên Chúa là đạo thật, nên tôi không chối bỏ đạo này bao giờ”.

Ngày nay, Giáo Hội cần có những người dám sống, dám làm chứng cho Chúa trước mặt người đời. Cuộc sống làm chứng cho Chúa ngày nay là một hình thức tử đạo tuy không đổ máu, không đòi hy sinh mạng sống, nhưng đòi chúng ta làm chứng cho Chúa về đạo yêu thương của mình.

Cuộc sống tử đạo ngày nay không vua chúa quan quyền nào bắt bớ hành hạ chúng ta cho đến chết, nhưng đòi chúng ta biết can đảm chết đi cho những đam mê tật xấu. Và vì lòng yêu mến Chúa, chúng ta sẵn sàng bao dung, tha thứ và cầu chuyện cho những người xúc phạm đến chúng ta.

Anh chị em thân mến,

Giáo hội Việt nam tưới thắm không biết bao nhiêu máu của các thánh tử đạo, đó là các bậc tiền nhân đi trước chúng ta. Các ngài đã dầy công vun xới để cho hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước, mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng.

Mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta chung lời tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho Giáo hội có những hạt giống đức tin, được gieo vãi trên quê hương Việt Nam. Tạ ơn Chúa, vì đức tin chúng ta được lớn lên trong dòng máu tử đạo của các chứng nhân tình thương.

Chúng ta hết lòng ngưỡng mộ, vì các Ngài đã anh dũng trong đức tin, kiên trì trong đức cậy và bền đỗ trong đức mến dưới bất cứ hình khổ nào.

Khi cử hành lễ các thánh tử đạo Việt nam, là cơ hội chúng ta nhớ về quá khứ để tỏ lòng tri ân, vì cha ông tổ tiên để lại cho chúng ta một gia sản cao quí đó là đức tin vững mạnh vào Chúa.

Đồng thời, mừng lễ hôm nay, hướng về tương lai, noi gương các thánh tử đạo, chúng ta tiếp tục sống làm chứng cho Chúa bằng đời sống bác ái yêu thương, vui lòng đón nhận những đau khổ dưới bất cứ hình thức nào, để danh Chúa được rạng rỡ vinh quang.

Ước gì ngọn lửa đức tin mà các bậc tiền nhân đã thắp lên bằng cái chết đẫm máu, để làm chứng cho Chúa, sẽ được bừng sáng lên mãi trên tổ quốc Việt Nam thân yêu này. Nhờ đó làm cho công cuộc loan báo Tin mừng sinh nhiều hoa trái hơn nữa. Amen

 

.

KHỦNG HOẢNG

Trầm Thiên Thu

Đời thế tạm sẽ vào hồi kết thúc

Cõi trường sinh rồi đến lúc khởi đầu

Đời sống xã hội luôn có nhiều dạng khủng hoảng: kinh tế, văn hóa, xã hội, tài chính, chính trị, tâm lý, hôn nhân, gia đình,… Lĩnh vực nào cũng có thể bị khủng hoảng – kể cả tôn giáo.

Nhưng có một dạng khủng hoảng đáng quan ngại nhất liên quan thời gian: Tận Thế. Thời gian vừa chậm vừa nhanh, tùy cảm xúc mỗi người, nhưng người ta vẫn cảm thấy “thời gian thấm thoát”. Thật vậy, mới ngày nào bắt đầu một năm mà nay đã vào cuối năm – cả năm đời và năm phụng vụ. Thời gian vào giai đoạn cuối. Thời điểm cuối gợi nhiều suy tư. Có nhiều cái cuối, đặc biệt nhất là cuối đời và cuối thời – Công giáo gọi là Thời Cánh Chung. Chúng ta đang ở trong thời này.

Có lẽ hai từ “tận thế” chẳng ai muốn nhắc tới hoặc nghe người khác đề cập, bởi vì nó khiến người ta e ngại hoặc không vui. Tuy nhiên, tận thế chắc chắn vẫn sẽ đến – có thể là niềm mong chờ của người này, nhưng có thể lại là nỗi sợ hãi của người khác. Sự thật đúng là phũ phàng quá!

Nhưng sự thật mãi mãi là sự thật, bởi vì Thiên Chúa là Sự Thật. Thời gian là của Chúa, nhưng Ngài ban cho mỗi người được quyền quản lý quỹ thời gian riêng mình. Ngôn sứ Daniel nói: “Thời đó, Micael sẽ đứng lên. Người là vị chỉ huy tối cao, là đấng vẫn thường che chở dân ngươi. Đó sẽ là THỜI NGẶT NGHÈO CHƯA TỪNG THẤY, từ khi có các dân cho đến bây giờ. Thời đó, dân ngươi sẽ thoát nạn, nghĩa là tất cả những ai ĐƯỢC GHI TÊN trong cuốn sách của Thiên Chúa” (Ðn 12:1a). Đó là những lời tiên báo về ngày tận cùng của thế gian, đặc biệt ông cho biết đó là “thời ngặt nghèo nhất”, chắc chắn rất đáng quan ngại, thậm chí là sợ hãi, nhưng lại không hề đáng sợ đối với những người thuộc về Thiên Chúa, vì họ có tên trong sách của Chúa – nghĩa là họ sẽ được tai qua nạn khỏi.

Có thể vẫn có gì đó khó hiểu đối với một số người, thế nên ngôn sứ Daniel đã giải thích: “Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy”. Những người “an nghỉ trong bụi đất” là những người chết, vậy mà họ “trỗi dậy” – tức là hồi sinh, sống lại. Rõ ràng đó là ngày tận thế, ngày chung thẩm. Nhưng số phận mỗi người lại không giống nhau: “Người thì để HƯỞNG phúc trường sinh, kẻ thì để CHỊU ô nhục và BỊ ghê tởm muôn đời. Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho người người nên công chính, sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao” (Ðn 12:1b-2). Cùng một ngày, cùng được sống lại, nhưng có kẻ thấy hốt hoảng sợ hãi và có người thấy vui mừng hớn hở.

Như đại diện những người thuộc về Chúa, Thánh Vịnh gia thân thưa: “Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ” (Tv 16:5). Tất cả đều là của Chúa, nhưng Ngài trao quyền quản lý cho chúng ta. Nếu nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, chúng ta hoàn toàn an tâm: “Con luôn nhớ có Ngài trước mặt, được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ. Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn” (Tv 16:8-9). Ôi, thế thì hạnh phúc biết bao!

Cái gì cũng có hệ lụy tất yếu, có kết quả thì ắt có nguyên nhân, có kết thúc ắt có khởi đầu, có sau thì phải có trước, có cuối thì cũng phải có đầu. Về nguyên nhân, Thánh Vịnh gia xác định: “Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ” (Tv 16:10), đồng thời hoàn toàn khiêm nhường và tín thác vào Chúa: “Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!” (Tv 16:11). Chắc hẳn phàm nhân không đủ ngôn từ để diễn tả niềm hoan lạc được cận kề bên Thiên Chúa – Đấng là Đầu và là Cuối (Kh 1:17), là An-pha và Ô-mê-ga, là Khởi Nguyên và Tận Cùng (Kh 22:13).

Nói về việc tế lễ, phụng vụ, Thánh Phaolô cho biết: “Vị tư tế nào cũng phải đứng trong Đền Thờ lo việc phụng tự mỗi ngày và dâng đi dâng lại cũng ngần ấy thứ lễ tế; mà những lễ tế đó chẳng bao giờ xoá bỏ được tội lỗi” (Dt 10:11). Tế lễ là bổn phận và trách nhiệm hằng ngày của các tư tế, không chỉ dâng lễ đền tội cho mình mà còn dâng thay người khác, nhưng dù dâng bao nhiêu lần vẫn không bao giờ đủ mức độ hoàn hảo. Nhưng có một tư tế chỉ cần dâng một lần cũng đủ, đó là Đức Kitô: “Sau khi dâng lễ tế duy nhất để đền tội cho nhân loại, Ngài đã lên ngự bên hữu Thiên Chúa đến muôn đời” (Dt 10:12). Chính Ngài và chỉ có Ngài là Đấng cứu độ nhân loại.

Thật vậy, bởi vì Đức Kitô là Thiên Chúa, là Thượng tế, là Đấng cao cả hơn mọi loài: “Từ khi đó, Ngài chờ đợi ngày các kẻ thù bị đặt làm bệ dưới chân” (Dt 10:13), và “Ngài chỉ dâng hiến lễ MỘT LẦN, mà VĨNH VIỄN làm cho những kẻ Ngài đã thánh hoá được NÊN HOÀN HẢO” (Dt 10:14). Dù là ai và là gì thì tất cả chúng ta vẫn chỉ là những tội nhân, không hơn không kém. Nhưng chúng ta diễm phúc được cứu độ, chiếc áo tội lỗi của chúng ta được “giặt sạch” bằng chính Bửu Huyết của Đức Kitô. Thánh Phaolô vừa giải thích vừa kết luận: “Nơi nào đã có ơn tha tội thì đâu cần lễ đền tội nữa” (Dt 10:18).

Có mở thì cũng có kết, có khai sinh thì cũng có khai tử, có thuở tạo thiên lập địa thì cũng có lúc niên tận thế cùng. Đề cập ngày Con Người quang lâm, Chúa Giêsu cho biết các dấu chỉ: “Trong những ngày đó, sau cơn gian nan, mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển” (Mc 13:24-25). Thế là giờ G đã đến. Đó là lúc “thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (Mc 13:26). Và cũng chính lúc đó, “Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời” (Mc 13:27). Thật lạ, ai cũng phải trình diện, Satan cũng chẳng thoát, điều này đã được thông báo từ ngàn xưa: “Một ngày kia, con cái Thiên Chúa đến TRÌNH DIỆN Đức Chúa; Satan cũng đến trong đám họ để TRÌNH DIỆN Đức Chúa” (Gióp 2:1).

Nếu chú ý, chúng ta có thể đoán biết điều gì xảy ra khi thấy những sự việc tiếp diễn hằng ngày. Ngày tận thế cũng có những dấu chỉ khả dĩ nhận biết, Đức Kitô dùng hình ảnh thực tế hơn để mọi người đều có thể hiểu: “Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi” (Mc 13:28-29). Cuối cùng, Ngài quả quyết: “Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mc 13:30-31). Tức là rất chắc chắn xảy ra ngày tận thế, không hề là chuyện đùa hoặc bịa đặt chi cả!

Thế nhưng hình như loài người vẫn bán tín bán nghi. Bằng chứng là đã từng có nhiều tin đồn về ngày nọ hay tháng kia là thời điểm tận thế, về chuyện “tối ba ngày, ba đêm”,… Vì vậy, người ta lo tích lũy vật chất (nến, dầu, mì gói,…) để “đối phó”. Chao ôi! Thật là ấu trĩ, nhảm nhí và dị đoan, chứng tỏ họ chẳng biết hoặc chẳng tin điều Chúa Giêsu đã nói. Mơ hồ hay cứng lòng? Chính Chúa Giêsu đã nghiêm túc minh định: “Về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, CHỈ CÓ CHÚA CHA BIẾT MÀ THÔI” (Mc 13:32). Tỉnh cơn mộng ảo đi, đừng ngủ gà ngủ gật nữa!

Tại sao người ta vẫn bịa đặt và phát tán những tin đồn nhảm nhí? Càng tệ hại hơn là vẫn có những người nhẹ dạ cả tin khi nghe những lời “tiên tri dỏm” ấy. Chúa Giêsu còn chưa biết thì làm sao những con người phàm phu tục tử đầy tội lỗi như chúng ta lại biết trước? Không lo sống tốt mà cứ lo chuyện nhảm hết trên trời lại dưới đất là sao? Quá vô lý vì đức tin ấu trĩ và không thèm tin lời Chúa nói. Khôn hay Khốn?

Về Ngày Quang Lâm của Chúa Giêsu, Cựu Ước và Tân Ước nói giống nhau:

  1. MẶT TRỜI SẼ TRỞ NÊN TỐI TĂM, MẶT TRĂNG HOÁ THÀNH MÁU, trước khi NGÀY của ĐỨC CHÚA xuất hiện, ngày vĩ đại, kinh hoàng. (Ge 3:31)
  2. Ngay sau những ngày gian nan ấy, MẶT TRỜI SẼ RA TỐI TĂM, MẶT TRĂNG KHÔNG CÒN CHIẾU SÁNG, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia. (Mt 24:29-31; Mc 13:24-27; Lc 21:25-28)

Rất rõ ràng, rất rạch ròi. Nhưng có những “cái không” rất cần lưu ý: KHÔNG tin nhảm nhí, KHÔNG dị đoan, KHÔNG mê tín, KHÔNG nghe những kẻ bịa chuyện, có thể họ chỉ là những kẻ phá đạo, là tay sai của ma quỷ, chứ họ chẳng “đạo đức” gì đâu. ĐỪNG nhẹ dạ cả tin kẻo đức tin bị rung rinh, lung lay, thậm chí còn có thể bị “bật gốc” luôn đấy!

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con chuyên cần tìm hiểu và vững tin vào Lời Chúa, hoàn toàn tín thác vào Con Chúa để có thể đứng vững cho đến lúc Đức Kitô tái lâm. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, và đừng để chúng con bị khủng hoảng. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

 

.

CHUẨN BỊ NGÀY CHÚA ĐẾN

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

Tôi còn nhớ vào năm 1994 cha quản xứ của tôi đọc một bài báo nói về ngày tận thế vào ngày 5/5 năm đó, và sẽ có tối 3 ngày 3 đêm, nên cha kêu gọi mọi người phải mua đủ nến và mang đến nhà thờ để cha làm phép. Nhưng đợi đến ngày đó, không có gì xảy ra.

Sau đó, có tin đồn tận thế sẽ xảy ra vào năm 2000, nhưng cũng không xảy ra. Gần đây, một tờ báo cho rằng ngày tận thế được xác định theo lịch của người Maya rơi vào ngày 15/5/2015. Những lời đồn đoán này đã gây hoang mang cho biết bao người. Ở Brazil, cảnh sát phải đối phó với nguy cơ tự tử tập thể khi chờ ngày tận thế. Nhưng tất cả chỉ dừng lại ở tin đồn.

Sự kiện này cho thấy rằng con người thời nào cũng muốn biết những gì sẽ xảy ra tương lai: Có ngày tận thế không? Số phận của chúng ta sẽ ra sao trong và sau ngày đó? Chúng ta tìm được câu trả lời cho những vấn nạn đó từ phụng vụ Lời Chúa hôm nay.

1. Thế giới và thế hệ này sẽ qua đi

Trước hết, Lời Chúa hôm nay mạc khải cho chúng ta biết rằng: thế giới này sẽ có ngày kết thúc. Thế giới này không vĩnh cữu qua sự quả quyết của Chúa Giêsu: “Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mc 13,30). Đồng thời Chúa Giêsu loan báo về ngày quang lâm của Người. “Ngày quang lâm” trong tiếng Hy lạp là parusia. Có nghĩa là sự trở lại trần gian lần thứ hai của Chúa Giêsu vào ngày thế mạt.

Nếu lần thứ nhất Chúa Kitô đến với nhân loại trong sự khiêm tốn và thấp hèn của người tôi tớ, thì lần thứ hai Chúa ngự đến trong vinh quang và quyền năng của vị thẩm phán. Người là vị thẩm phán chí công đến để xét xử nhân loại. Người sẽ xét xử chúng ta dựa trên công lý và tình yêu, theo những gì mà chúng ta đã sống trên thế gian.

Bấy giờ số phận của những người công chính sẽ được hưởng hạnh phúc muôn đời, sẽ được chiếu tỏa như những vị sao. Còn những người tội lỗi thì phải chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời (x. Đn 12,3).

Vì thế, “ngày quang lâm” sẽ trở thành ngày của sợ hãi, thất vọng đối với những người tội lỗi vì án phạt đời đời. Nhưng đó là ngày của hy vọng và cứu độ đối với những người công chính; ngày Thiên Chúa hoàn tất cách viên mãn chương trình cứu độ con người; đó là “trời mới đất mới” (Kh 21:1), thời đại của công lý, hạnh phúc và tình yêu ngự trị mãi mãi (x. 2 Cr 5,17).

2. Thời gian và những dấu chỉ cánh chung

Như thế, điều chắc chắn là thế giới này sẽ có ngày kết thúc. Nhưng xảy ra lúc nào? Tin Mừng hôm nay khẳng định: “Về ngày giờ đó thì không ai biết được ngay cả Thiên sứ trên trời, và Người Con cũng không thể biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi” (Mc 13, 32). Thánh Augustinô còn xác quyết: “Việc này hoàn toàn nằm trong quyền năng của Chúa Cha”.

Tuy nhiên, trong Tin Mừng Máccô, Chúa Giêsu loan báo về những dấu chỉ xảy ra để báo trước về ngày đó: 1) Những ngôn sứ giả, những Mêsia giả sẽ phỉnh gạt nhiều người (Mc 13,5-6); 2) Những cuộc bách hại chống lại các môn đệ của Đức Giêsu (Mc 13,9-13); 3) Những tai ương, chiến tranh, động đất, đói kém và những hiện tượng lạ lùng xảy ra (Mc 13,7-8).

Trong khi đó, Tin Mừng Mátthêu chương 24 cho biết thêm 4 dấu chỉ của ngày tận thế, đó là: 1) Tin Mừng về Nước Thiên Chúa được loan báo cho hết mọi người (Mt 24,14); 2) Xuất hiện những tiên tri giả và phản Kitô; 3) Người Do thái trở lại tin nhận Chúa Kitô. 4) Thiên tai xảy ra. Đó là những dấu chỉ tiên báo về ngày thế mạt.

3. Thái độ của chúng ta hôm nay

Như vậy, Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta hiểu biết về biến cố cánh chung và ý nghĩa của ngày quang lâm để chúng ta khi sống trong hiện tại nhưng luôn hướng về tương lai, luôn nhớ đến sự phán xét chung, và phần thưởng cũng như hình phạt đời đời cho mỗi người.

Trước sự chắc chắn và bất ngờ của cái chết, của việc Chúa quang lâm, chúng ta được mời gọi phải tỉnh thức và sẵn sàng: “Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,44; Lc 12,40). Thái độ tỉnh thức và sẵn sàng ấy phải được thể hiện một cách thực tế bằng một đời sống phục vụ và yêu thương tha nhân. Bởi lẽ, vào ngày xế chiều, Thiên Chúa sẽ phát xét chúng ta dựa vào lòng bác ái của chúng ta đối với tha nhân (x. Mt 25,31-46).

Xin Chúa thức tỉnh tâm hồn chúng ta, để mỗi người biết cải biến mỗi ngày, nhận ra Chúa nơi những dấu chỉ thời đại và nơi anh chị em. Nhờ đó, khi ngày của Chúa đến, chúng con vẫn luôn bình an và hy vọng, vì biết rằng Người sẽ mang lại những gì tốt lành cho những ai yêu mến và phó thác nơi Người. Amen!

 

.

HIỆN THỰC

Lm Vũdình Tường

Mừng lễ kính Đức Kitô xuống thế lần thứ hai nhắc nhở cho Kitô hữu nhớ món quà hằng sống Đức Kitô hứa ban cho những ai trung tín trong đức tin. Món quà hiện thực này Đức Kitô hứa ban khi Kitô hữu hoàn thành viên mãn cuộc lữ hành trần thế. Hoàn thành viên mãn khi Kitô hữu sống trung thành với đức tin, giữ trọn lời hứa khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Món quà hằng sống có được không phải do sự khôn ngoan hay cố gắng của con người mà chính là kết quả của đời sống yêu Thiên Chúa, mến tha nhân và thiết tha với lời Đức Kitô giảng dậy. Thánh Mark cho biết món quà hằng sống được trao ban nhưng khi nào được lãnh nhận là điều không ai biết. Bởi không biết ngày giờ được trao ban nên Kitô hữu cần chuẩn bị tinh thần sẵn sàng đón nhận. Thái độ đón nhận rất khác nhau nơi tâm hồn con người. Có người chuẩn bị hàng ngày đợi đến khi gọi thì đáp lại ngay. Kẻ khác thì lơ là, lúc sốt sắng, lúc thờ ơ. Họ cần thay đổi lối sống, thái độ sống đón nhận Lời Chúa với tất cả tâm tình, nếu không sẽ gặp rắc rối khi giờ chết ập đến. Kẻ khác đã không đón nhận còn chối bỏ món quà hằng sống. Bởi từ chối đón nhận quà hằng sống nên khi thời gian đến họ sống trong kinh hoàng, sợ hãi. Từ chối tin vào lời Đức Kitô khi gặp khốn khó không có nơi nương tựa, đau khổ. Khi biết sự khôn ngoan của con người bị giới hạn, con người không thể giúp hơn được nữa, lúc đó họ không còn lối thoát và sợ hãi xâm chiếm tâm hồn họ, đau khổ đè nén tâm can họ. Thất vọng ào tới tấn công tinh thần. Đau khổ, bất hạnh ào đến tứ phía. Họ phải trả giá rất đắt cho việc từ chối niềm tin. Tin vào Đức Kitô mất rất ít, lợi rất nhiều. Mất vì phải từ bỏ í riêng, mất vì phải tiêu diệt cái tôi. Lợi đầu tiên và quan trọng nhất chính là ơn cứu độ. Khi giờ chết đến có nơi nương tựa, không phải ra đi trong cô đơn nhưng có Đức Kitô đồng hành đó là điều lợi thứ hai. Đến giờ phán xét tránh được sợ hãi ngàn trùng vì có Chúa ở cùng ta, ai hãm hại được. Đó là điều lợi thứ ba. Được mọi người yêu mến khi còn sống đó là điều lợi thứ tư. Hàng năm có cả tháng cầu nguyện cho các linh hồn đó là điều lợi thứ năm. Quan trọng hơn cả là không phải sống mồ côi nhưng có Thiên Chúa là Cha hằng sống, yêu thương, bao bọc.

Bởi không biết ngày giờ phán xét nên Kitô hữu sống tinh thần chuẩn bị đón chào ngày Chúa đến và sống trong hy vọng. Đức Kitô còn cho biết trước khi ngày Chúa xuất hiện sẽ có dấu chỉ, làm rung chuyển tấm lòng con người và cả vũ trụ rên xiết. Cùng dấu chỉ nhưng điều đó gây kinh hoàng cho người không có niềm tin, cũng dấu chỉ đó lại mang lại an ủi, niềm hy vọng cho Kitô hữu vì họ nhận biết ngày giờ Đức Kitô đến đón họ vào thiên quốc. Sợ hãi, kinh hoàng thường đi chung với thần dữ vì thế có thể coi đây là sự vùng vẫy cuối cùng của thần dữ trước khi chúng buông tay đầu hàng để chui vào ngục tối của chúng. Đức Kitô sai thiên thần đón nhận kẻ trung tín trong đức tin và chân thành trong bác ái. Sợ hãi, lo lắng biến mất và Kitô hữu sống trong hào quang chiến thắng huy hoàng của Đức Kitô. Thánh Mark nhắc nhở chúng ta mỗi ngày luôn nhớ đến ơn hằng sống và coi đó là ưu tiên hàng đầu trong ngày. Kitô hữu sống trong hiện tại nhưng hướng về tương lai bởi món quà hằng sống được trao ban nhưng chưa lãnh nhận.

Kitô hữu tin vào sự chết thân xác và sự chết tâm linh. Người ta không thể chứng minh được tình yêu nhưng nhìn vào kết quả tình cảm con người dành cho nhau để nhận biết tình yêu. Qua hành động bác ái, yêu thương và sự hiện hữu của chính mình mà ta nhận biết tình yêu Chúa. Kitô hữu nhận biết Thiên Chúa tạo dựng nên ta và cuối đời ta thuộc về Chúa bởi Ngài hứa không bỏ chúng ta mồ côi. Kẻ không tin vào Thiên Chúa không có câu trả lời đích thực về đời người. Với họ chết là hết, ngay cả câu trả lời này họ cũng bán tín, bán nghi, không hoàn toàn tin là sự thật.

 

.

NGÀY GIỜ CHÚA ĐẾN ĐÃ GẦN KỀ

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

      Trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy thì mặt trời sẽ tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển.  Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi và sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển  chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời.

Anh em hãy coi cây vả mà tìm hiểu. Khi cành nó trổ lá thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi những điều đó xẩy ra anh em biết là Người đã đến gần, ngay tại cửa rồi. Thầy bảo thật anh em: Thế hệ này sẽ chẳng qua đi trước khi mọi điều ấy xẩy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đi đâu.

Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hoặc người Con. Chỉ có Thiên Chúa Cha biết mà thôi (Mc 13:24-32).

***

Câu chuyện trên lấy từ chương 13 Tin Mừng Marco (Mc 13: 24-32) là chương khó nhất và được coi là một tiên đoán về ngày tận thế.

Chương này còn gọi là “Tiểu Khải Huyền”.  Như Daniel 7-12 và sách Khải Huyền, trọng điểm của chương này là một thế giới bị truy nã. Chúng ta nên để ý đến ý nghĩa của câu chuyện, không phải thời gian câu chuyện xẩy ra.

Chúa Giesu tiên đoán đền thờ bị phá hủy (Mc 13:2) đã gây hoang mang khiến 4 môn đệ Phero, Giacobe, Gioan và Anre coi là chuyện riêng của Người với thời gian và dấu chỉ cho biết những chuyện xẩy ra vào ngày tận cùng (Mc 13:3-4). Để cho rõ ràng, Chúa đã giảng cho các ông một bài về thời cánh chung trước khi Chúa chịu chết. Đây là những chỉ dẫn, khuyên bảo các ông và Giáo Hội phải tin tưởng và vâng lời khi bị xã hội, người đời kết án, mang ra tòa buộc tội, vu oan và hành hạ. Anh em đừng sợ phải nói gì, làm gì. Chúa Thánh Thần sẽ an ủi và nói thay cho anh em (Mc 13:5-13).

Dấu chỉ là sự xuất hiện những ghê tởm khốc hại của quyền lực La Mã đã xúc phạm đền thánh (Mc 13:14; Dn 9:27). Những biến động đó ở Jerusalem khiến chúng ta tin và hy vong vào Chúa hơn là nghe theo những tiên tri giả để bảo vệ thị trấn (Mc 13:14-23). Thiên Chúa chỉ can thiệp sau khi mọi hủy hoại (Mc 13:24-27) xẩy ra trước ngày tận cùng của thế hệ Kito giáo đầu tiên (Mc 13:28-31).

Không ai ngoài Cha Ta biết chắc ngày đó (Mc 13:32), cho nên phải tỉnh thức (Mc 13:33-37). Luca cho thấy ngày đó sẽ xẩy ra cho đến “thời tận cùng của dân ngoại” (Lc 21:24). Coi thêm Mathieu 24:1-25,46.

CON NGƯỜI

Bài Tin Mừng hôm này dựa vào hai thực tế: Chính chúa Giesu sẽ hoàn thành những lời trong Cựu Ước nói về ngày tận cùng và các môn đệ không lo lắng để ý đến ngày giờ chính xác chúa Giesu giáng lâm lần thứ hai. Câu 26 cho biết chúa Giesu từ trời xuống trong uy quyền vinh quang.

Giống như Con Người trong Daniel, chúa Giesu trong Marco sẽ trở lại và tụ họp những người được Chúa chọn “từ bốn phương, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời”(Mc 13:27).Chúa đã không vẽ ra một tương lại sáng ngời cho các môn đệ. Người nói về thời đại lúc bấy giờ, lúc những độc giả đầu tiên của Marco sống và chính chúng ta hiện nay. Chúa nói trước về chiến tranh, động đất, đói kém… ám chỉ “ khởi đầu của những tiếng nổ tan tành, pangs”: những biến cố dấu chỉ đau khổ gần kề của thời đại mới sẽ bùng nổ mà quyền lực cổ xưa đã phấn đấu để nó không xẩy ra.

Chúa Giesu diễn tả cho những người lúc bấy giờ tất cả mọi sự mà chúng ta ngày nay cũng hoảng sợ: nào là chiến tranh tàn phá, truy nã, chết chóc, nào là đau khổ khốn cùng…Chúa dùng những tiên đoán đó làm nền tảng cho hy vọng của chúng ta. Chúa khuyến khích chúng ta cậy trông vào Người! Thiết nghĩ tất cả  Kito hữu chúng ta đều cảm thấy an lòng vì Lời Chúa nói: “Khi thấy những điều đó xẩy ra, anh em biết là Người đã đến gần, ở ngay trước ngưỡng cửa rồi. Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi những điều đó xẩy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời thầy sẽ chẳng qua đi đâu.” (Mc 13:29-31)

NHỮNG THỬ THÁCH THỜI CÁNH CHUNG

Những thử thách thời cánh chung sẽ ở nhiều dạng thức. Trước tiên là phản bội. Chúa Giesu đã bị “bội phản”, bị “nộp” cho kẻ thù, kẻ tội lỗi để thử thách. Những người đọc Marco sẽ bị phản bội, bị giải giao cho công tố viên, bị đánh đập trong nhà hội rồi bị gọi ra tòa làm chứng trước các vua quan. Họ sẽ bị bội phản và bị kêt án tử hình không phải do kẻ thù mà do chính cha mẹ, con cái, anh em họ hàng và bạn bè!

Thứ đến, những Kito giả, tiên tri giả sẽ xuất hiện để “lừa phỉnh, khiến người ta đi lạc đường” Chúng hứa hẹn sẽ giải phóng, biểu diễn nhiều trò ảo thuật làm mờ mắt mọi người để họ không còn tin vào Chúa Giesu nữa.

Thứ ba, những thử thách hoặc cám dỗ sẽ xẩy ra cả với những người đang vui hưởng cảnh hòa bình tương đối và vững bền. Chúa Giesu nói về loại thử thách sau cùng này trong câu chuyện dụ ngôn kết thúc chương 13 của Marco nói về một người đi du hành xa nhà, trao cho gia nhân coi sóc mọi sự, dặn phải “tỉnh thức trông nom”. Gia nhân đã gặp nguy khốn vì ngủ quên. Còn trong Mathieu (Mt 13:22) thì chúng bị cảnh giàu sang làm mờ mắt và thế gian dụ dỗ, đã ước mơ những điều mà Chúa Giesu đã cảnh cáo không được làm như trường hợp hạt giống  rơi vào bụi gai có mọc mầm đấy nhưng bị nghẹt thở không phát triển được.

Tin Mừng Marco cho biết chúng ta là những kẻ theo Chúa Giesu sẽ bị thử thách. Thử thách bởi đau khổ, tai ương hoặc bởi danh-quyền-lợi cám dỗ dẫn đi lầm đường lạc lối. Ho bị thử thách bởi những mơ ước, ham muốn xác thịt, danh, quyền, tiền. Bất cứ hình thức cám dỗ nào Marco đều nhắc nhở chúng ta phải cẩn thận, tỉnh thức và cầu nguyện, vì nếu không, chúng ta sẽ sa ngã, không sẵn sàng đủ để đón chào ông chủ, Thầy chúng ta, và không thể tự biện hộ trước mặt Chúa ngày Chúa đến.

Khi bị thử thách thì đừng sợ, vì chúa Giesu đã thay đổi trắc nghiệm hoàn toàn. Sức chịu đựng của chúa Giesu rất bền bỉ, chúa đã tự hiến làm của lễ hy sinh toàn hảo cho Thiên Chúa, do đó việc tế lễ trong đền thờ Jerusalem bị hủy bỏ. Từ bấy giờ về sau những “của lễ” thích hợp của những người công chính sẽ là những lời cầu nguyện của những cộng đồng tín hữu khi họ tụ họp lại với nhau, không phải là những của lễ dâng trong đền thánh như hồi xưa nữa. Chính của lễ hy sinh của chúa Giesu đã đủ để hòa giải mọi tội lỗi của loài người. Vì vậy, những ai theo chúa Giesu thì được “cứu thoát” khỏi hình phạt của Thiên Chúa. Họ có thể tin rằng họ đã được cứu rỗi.

 CỘNG ĐỒNG CẦU NGUYỆN CHUNG

Marco cho biết sau khi đền thờ bị phá hủy, cộng đồng những người cầu nguyện sẽ là “nhà cầu nguyện cho mọi quốc gia”, là tân đền thờ được chúa Giesu thiết lập. Cầu nguyện riêng / cá nhân sẽ là dấu hiệu của tân cộng đồng này, là đền thờ được xây bằng những đá tảng sống động. Nhưng làm sao Marco và những độc giả của Marco có thể hiểu được ý niệm về “lời cầu nguyện riêng này”? Làm sao chúng ta có thể đọc kinh cầu nguyện theo phương cách đó và hậu quả của lời cầu như vậy sẽ là gì? Chúa Giesu đã hứa là cầu nguyện với lòng tin tưởng mãnh liệt, không hồ nghi thì sẽ được đáp ứng.

Trong lúc đen tối và sầu thảm ở vưởn Gethsemane, chúa Giesu đã thành khẩn xin Thiên Chúa cứu Người thoát khỏi cơn hấp hối đau khổ này. Biết Thiên Chúa Cha có thể cứu giúp, nhưng chúa Giesu vẫn  chấp nhận và tuân theo ý của Thiên Chúa Cha. Sức chịu đựng của chúa Giesu, suy nghĩ và cương quyết theo chủ đích của mình vì ý muốn của Thiên Chúa Cha sẽ là khải hoàn vinh quang trong vườn ở chân núi Cây Dầu. Đối với Marco, lời cầu trong vườn Gethsimane chính là mẫu mực cho “các môn đệ cầu nguyện khi bị thử thách.”

TRẮC NGHIỆM THỬ THÁCH

Những biến cố to lớn ghê gớm nào trong đời đã làm lung lay chúng ta? Những thử thách hàng ngày của chúng ta như thế nào? Chúng ta có cảm nghiệm gì về những chối bỏ hay đau khổ, chết chóc hoặc mất mát đã khiến chúng ta buông suôi trước Lời Hằng Sống đã một lần chúng ta chấp nhận? Chúng ta có quá lo lắng để ý đến tiền bạc, thành bại trong công việc và cuộc sống không? Có quá băn khoăn về sức khỏe, việc làm, gia đình và tình bạn bè đến độ quên cả Lời Chúa không? Chúng ta có để cho những giận hờn, lo buồn hay dục vọng ngăn cản chúng ta bước theo Chúa không? Chúng ta có giữ lại được điều gì vui tươi trong cuộc sống của chúng ta không?

Tin Mừng Marco cho thấy khi bị thử thách, chúng ta không phải lặp lại sự trung thành của chúa Giesu  bằng sức mạnh mong manh của chúng ta. Chúng ta không phải đối diện với những thử thách của ma quỉ không có quyền hạn như Thiên Chúa. Chúa Giesu thành Nazareth đã thay đổi vĩnh viễn tình trạng của chúng ta rồi. Marco đã viết Tin Mừng để ủy quyền cho những ai tin thì cầu nguyện. Mỗi cá nhân trong cộng đồng Kito hữu đều được ủy quyền để cầu nguyện riêng mà không thể bị trật đường vì sợ hãi, lo lắng, bị truy nã hoặc vì những quyền lực giả dối khi sống ở trần gian. Chúa Giesu đã cứu chuộc tội lỗi loài người và phá hủy những quyền lực cố tình ngăn cách loài người khỏi Thiên Chúa. Do đó tất cả mọi sự đều khả thi khi chúng ta đến với Thiên Chúa bằng lời cầu nguyện.

NHỮNG HÌNH ẢNH CỦA LỊCH SỬ ƠN CỨU ĐỘ

Chúng ta đừng bao giờ để mất hình ảnh vĩ đại về lịch sử ơn cứu độ khi chúng ta đối diện với những thất bại, gian nan bi thảm trong cuộc sống hàng ngày. Là Kito hữu mỗi ngày chúng ta đều được kêu gọi chống lại những kẻ thù của hy vọng và ưu sầu buồn thảm luôn luôn bám lấy chúng ta. Nỗi ưu sầu tập thể có thể dễ dàng trở thành hoảng sợ quá độ giữa bất cứ một khủng khoảng nào.

Do đó bám chặt vào Lời Chúa là điều rất quan trọng để có thể phác họa một cuộc sống theo Lời và sống với Lời. Từ đó, chúng ta có thể thực hiện những lời tiên tri Daniel (Dn 12:1-3) trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta: “Những kẻ khôn ngoan sẽ sáng chói như ánh sáng bầu trời, và những kẻ dẫn đưa nhiều người về đường công chính sẽ nên như những vì tinh tú tồn tại đến muôn ngàn đời.”

     Do đó bám chặt vào Lời Chúa là điều rất quan trọng.

 

.

NGÀY THẨM ĐỊNH CHUNG CUỘC

JM, Lam Thy

Bài Tin Mừng hôm nay (CN XXXIII/TN-B – Mc 13, 24-32) là một trích đoạn “Bài giảng về ngày cánh chung” của Đức Giê-su Ki-tô. Ngày cánh chung (tận thế) đã được tiên báo từ Cựu Ước: “Thời đó, sẽ là thời ngặt nghèo chưa từng thấy, từ khi có các dân cho đến bây giờ. Thời đó, trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời. Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho người người nên công chính, sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao.” (Đn 12, 1-3).

Nếu đọc hết cả “Bài giảng về ngày cánh chung” thì sẽ thấy ngày cuối cùng của trần thế thật là khủng khiếp: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị người ta lừa gạt. Sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính Ta đây!”, và họ sẽ lừa gạt được nhiều người. Khi anh em nghe có giặc giã và tin đồn giặc giã, thì đừng khiếp sợ. Những việc đó phải xảy ra, nhưng chưa phải là chung cục. Quả thế, dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có động đất ở nhiều nơi, sẽ có những cơn đói kém. Những sự việc ấy là khởi đầu các cơn đau đớn. Phần anh em, anh em hãy coi chừng! Người ta sẽ nộp anh em cho các hội đồng và các hội đường; anh em sẽ bị đánh đòn; anh em sẽ phải ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ được biết… Anh em sẽ nộp nhau cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét.” (Mc 13, 5-13). “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển.” (Lc 21, 25-26).

Ngày cuối cùng của trần thế là như vậy đó! Và chỉ nghĩ tới thôi cũng đã thấy sợ hãi khôn cùng, chẳng hiểu khi đối diện với sự thật thì sẽ ra sao? Điều đáng lo ngại nhất là thế giới ngày nay đã diễn ra giống như lời tiên báo của Đức Ki-tô, thậm chí còn tệ hại hơn nữa là khác. Sự sa đọa và tội lỗi của nhân loại ngày càng gia tăng. Con người dường như ngày càng mất đi cảm thức về tội lỗi. Người ta chỉ biết quan tâm chạy theo những quyến rũ của vật chất, của quyền lực danh vọng, của thú vui xác thịt… Con người trở nên ích kỷ hơn bao giờ hết. Các tôn giáo có khuynh hướng chỉ chú tâm đến những lễ nghi hay hình thức bên ngoài mà quên đi tinh thần phải có ở bên trong.

Vì thế, khả năng soi sáng và hướng dẫn thế giới của các tôn giáo không mấy hữu hiệu. Giới tăng lữ, tu sĩ bị tục hóa đến nỗi nhiều người chỉ coi tác vụ của mình như một nghề nghiệp sinh nhai. Ấy là chưa kể những “Ki-tô, ngôn sứ, tiên tri giả” nhan nhản khắp nơi. Đó là những điều khiến Đức Giê-su đã đoán trước và lo ngại cho thế giới này: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18, 8). Đó mới thật sự là nỗi lo sợ của những kẻ thức giả và nói chung là của những người còn tin vào một cõi sống có thực dành cho con người sau ngày tận thế (kẻ lành hưởng phúc, kẻ dữ chịu án phạt đời đời).

Tham sinh uý tử (tham sống sợ chết) là bản chất con người, chuyện đó không có gì đáng trách. Tuy nhiên, chỉ cần đọc tiếp đoạn Tin Mừng trích dẫn trên thì sẽ thấy “sau cơn mưa, trời lại sáng”, sau lúc tối tăm ngặt nghèo là sự chói rạng của bầu trời hy vọng: “Ngay sau những ngày gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia.” (Mt 24, 29-31). Đấng Cứu Độ sẽ tái quang lâm và khi đó chính là lúc cả một bầu trời hy vọng sẽ đến với những kẻ TIN và kiên trì với niềm tin của mình mà vượt qua mọi gian nan, thử thách.

Điều cần thiết là trong những ngày cuối cùng ấy, phải cảnh giác cao độ, kẻo mắc mưu gian của những kẻ “phản Ki-tô” hoặc “Ki-tô giả” (“Nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mạc khải, hoặc đã nói, đã viết thư quả quyết rằng ngày của Chúa gần đến, thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ. Đừng để ai lừa dối anh em bất cứ cách nào.” – 2Tx 2, 3). Ấy cũng bởi vì không ít người xưng mình là “con cái”, là “tôi tớ” của Thiên Chúa là Đấng Chân Thật, nhưng lại tin nghe và hùa theo những chuyên gia “lộng giả thành chân” (lấy giả làm thật), tránh né sự thật, đánh bóng, tô hồng cho sự giả trá để biến nó thành “sự thật” với mục đích lôi cuốn những người trẻ lòng non dạ… Họ chính là những kẻ đã bị ngôn sứ I-sai-a vạch trần mưu gian: “Khốn thay những kẻ lấy dây gian tà kéo lầm lỗi, và dùng thừng kéo xe mà lôi theo tội ác… Khốn thay những kẻ bảo cái tốt là xấu, cái xấu là tốt, những kẻ biến tối thành sáng, sáng thành tối, biến cay đắng thành ngọt ngào, ngọt ngào thành cay đắng.” (Is 5, 18-20).

Như vậy thì thái độ ứng xử cần có của Ki-tô hữu phải là tỉnh thức và chờ đợi, hay nói cách khác là hãy nhìn lại mình để thấy được mình đã sống như thế nào và tận dụng ngày cuối cùng của cuộc đời ra sao, để sẵn sàng đón nhận ngày phải đến và sẽ đến – ngày “chung thẩm” cuộc sống trần ai. Thánh Phao-lô đã gửi tín hữu Ê-phê-sô những lời khuyên chí tình chí nghĩa: “Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối” (Ep, 15-16). Vâng, “biết tận dụng thời buổi hiện tại” và hãy sống mỗi ngày như là ngày cuối cùng: Yêu thương gia đình và những người thân cận như thể không còn dịp để yêu thương nữa. Cuối cùng, hãy cầu nguyện như thể mình cầu nguyện lần cuối.

Tóm lại, bất cứ một sự gì trên đời có khởi đầu thì cũng có kết thúc, không có bất cứ một sự gì là miên viễn bất tử cả. Là con người thì ai cũng biết chắc chắn 100% rằng mình sẽ chết. Mà cũng vì thế nên con người cứ mò mẫm tin vào thầy nọ thuốc kia mà đi tìm thần dược trường sinh bất tử. Từ khi con người nhờ hồng ân Thiên Chúa ban, hiện diện trên trái đất này cho tới ngày nay, chưa một ai chứng minh được rằng mình thoát khỏi sự chết, thoát khỏi sự trở về với cát bụi. Con người biết chắc mình đã “sinh ký” (sống gởi) thì sẽ “tử quy” (thác về); nhưng khổ một nỗi là chẳng ai biết chắc được về ngày giờ chết của mình. Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, không ai ngờ trước được. Ngày cánh chung cũng vậy (“Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay cả Người Con cũng không, chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi.” (Mt 24, 36). Vì thế, cần phải chuẩn bị thật chu đáo ngày diện kiến Ông Chủ để được Người phán dạy: “Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!” (Mt 25, 23).

Thật là phù hợp khi Hội Đồng Giám Mục ấn định ngày bế mạc Năm Thánh “Tôn vinh các Thánh Tử Đạo Việt Nam” vào ngày lễ kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, đúng vào Chúa nhật XXXIII mà các bài Kinh Thánh đều tập trung trình thuật ngày cánh chung vũ trụ. Xin toàn bộ Ki-tô hữu Việt Nam nhiệt tình hưởng ứng lời mời gọi của Hội Đồng Giám Mục trong Thư Công bố Năm Thánh (số 2): ”Năm Thánh 2018 mời gọi mọi tín hữu chiêm ngắm và học hỏi gương sống đức tin của các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Việc học hỏi này vừa giúp chúng ta hiểu biết hơn về lịch sử Hội Thánh và các Thánh Tử Đạo, vùa thúc đẩy chúng ta noi theo gương sống của các ngài. Chúng tôi khuyến khích các giáo xứ, dòng tu cũng như các đoàn thể, tổ chức những buổi thuyết trình và thảo luận về các Thánh Tử Đạo, để giúp mọi người hiểu biết, yêu mến và noi gương các ngài.”

Ôi! Lạy Chúa! Con ao ước ngày “thẩm định chung cuộc” phải là ngày hạnh phúc nhất của con. Con muốn chuẩn bị bằng cách: ngày nào hay giờ nào con cũng sống như thể ngày đó hay giờ đó là ngày hay giờ cuối cùng cuộc đời trần thế của con, để “biết tận dụng thời buổi hiện tại” như lời dạy của Thánh Phao-lô. Hy vọng với cách đó, con sẽ luôn luôn sẵn sàng trở về với Chúa bất cứ giây phút nào. Ôi! Lạy Chúa! Xin thương xót con, xin giúp con sống thật sự tinh thần chuẩn bị sẵn sàng đó, để “Khi Chúa thương gọi con về, Hồn con hân hoan như trong một giấc mơ. Miệng con nức vui tiếng cười, lưỡi con vang lời ca hát. Ngàn dân tung hô, con thật vinh phúc.” (Kim Long – “Ngày về” – TCCĐ). Amen.

 

.

NGƯỜI HIỀN SĨ LÀ NGƯỜI CẦU NGUYỆN

Lm. Bosco Dương Trung Tín

Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì dể hưởng phúc thường sinh; kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời” (Dn 12,2).

Điều đang nói ở đây là quang cảnh của ngày tận thế. Ngày mà “Thiên hạ sẽ thấy con Người đầy quyền năng và vinh quang ngừ trên đám mây mà đến” (x.Mc 13,26). Đây gọi là “cuộc phán xét chung”. Khi đó mọi người chết sẽ sống lại, nhưng số phận lại chia làm hai hướng khác nhau. Người thì hưởng phúc trường sinh, tức là được vào thiên đàng. Kẻ thì phải chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời, nghĩa là vào hỏa ngục. Ta hãy xem giáo lý của Giáo Hội nói gì và hai nơi này.

Về thiên đàng. “Thiên đàng là cuộc sống viên mãn, vì được hiệp thông trong sự sống và tình yêu với Thiên Chúa Ba Ngôi; với Đức Trinh nữ Ma-ri-a, với các thiên thần và các thánh. Thiên đàng là mục đích tối hậu và là sự thực hiện các nguyện vọng sâu xa nhất của con người; là tình trạng hạnh phúc tuyệt hảo và chung cuộc” (GLCG, số 1024).

Quả thật, ““chúng ta không đủ khả năng hiểu biết và trình bày mầu nhiệm hiệp thông vinh phúc với Thiên Chúa và tất cả những người ở trong Đức Ki-tô. Khi nói về mầu nhiệm này, Thánh Kinh dùng những hình ảnh như sự sống, ánh sáng, bình an, tiệc cưới, rượu mới trong Nước Trời, Nhà Cha, Thành Giê-ru-sa-lem thiên quốc.Thiên đàng là “Điều mắt chẳng hề thấy; điều tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ đến, đó là điều Thiên Chúa dọn sẵn cho những ai yêu mến Người” (x. 1Cor 2,9)”” (GLCG, số 1027).

Đúng vậy, thiên đàng chẳng một ai đã thấy, đã nghe hay nghĩ tới, chỉ một mình Đức Giê-su, từ trên đó xuống và nói cho chúng ta biết mà thôi. Con người ta, đâu có biết gì về thiên đàng, cứ nghĩ thiên đàng cũng như thế gian này, có điều khác là không phải đau khổ, không phải cực nhọc, không phải vất vả thôi. Cũng lấy vợ gả chồng, cũng sinh sống như ta đang sống. Không, đó chỉ là thiên đàng của con người, chứ không phải là thiên đàng của Thiên Chúa.

Thiên đàng của Thiên Chúa, chỉ sau khi chết ta mới biết và ngày tận thế ta mới sống. Đó là nơi lòng chúng ta không hề nghĩ tới. Thế mới hấp dẫn chứ. Nếu biết rồi còn chi là hấp dẫn nữa. Trong cuộc sống, có những điều ta không dám mơ, không dám ước, thế mà lại được khi đó ta mới cảm được, đó là hạnh phúc biết chừng nào.

Làm sao ta lại có được một người yêu thương ta như thế. Ta có làm gì đâu; ta giỏi dang hay đẹp đẽ gì. Thế mà có người lại yêu thương ta đến “chết mê chết mệt”; yêu thương ta “tít thò lò”. Có bao giờ ta dám nghĩ thế đâu, thế mà ta lại được. Đúng là ngoài sức tưởng tượng của ta, hạnh phúc biết chừng nào !!!!!!!!!

Ta con nhà nghèo, ngoại ngữ chẳng biết mô tê gì; cũng chẳng có “danh gì với núi sông”, thế mà lại được chọn đi nước ngoài. Rồi học mãi, học hoài chẳng nói được, cả 5 năm trời chứ đâu có ít. Và một ngày đẹp trời nào đó, tự dưng, ta nói được ào ào như gió, không cần nghĩ, không cần suy, cứ thế mà nó tuôn ra. Ôi, lạy Chúa, không có hạnh phúc nào bằng !!!!!!!!!!!!!

Lại nữa, ở Việt Nam thì cà tịch cà tang chiếc mô-bi-lét, chiếc cup 50; chiếc 67; có bao giờ nghĩ mình lái xe hơi. Rồi cũng phải học, cũng phải tập, thi tới thì hoài cũng đậu. Đã hơn 10 năm rồi, khi lái xe hơi đi chỗ này chỗ kia, cứ chạy tưng tưng, trong lòng vẫn cảm thấy sung sướng làm sao ấy!!!!!!!!!!!!

Rồi ước muốn đi tu, nhưng cha xứ không cho giấy giới thiệu; cũng cứ đi; quá tuổi không vào chủng viện được, thì đi Dòng. “Dòng kín” không được thì sang “Dòng hở”. Ai đời, khấn trọn đời rồi, lại được chọn cho đi truyền giáo nước ngoài; lại cho luôn. Thế là thuộc về giáo phận, được truyền chức, trở thành Linh Mục Triều.Chạy lòng vòng, thế mà cũng tới đích mình muốn. Thật không còn hạnh phúc nào bằng !!!!!!!!

Thế đấy, ngay đời sống trên trần gian này, ta còn cảm được hạnh phúc, khi những gì mình không dám mơ, không dám ước mà có được. Thế thì, hạnh phúc thiên đàng, ta cũng không dám mơ, không dám ước, mà được vào thì hạnh phúc biết chừng nào !!!!!!!

Nói không mơ, không ước thì cũng không đúng, vì ai cũng muốn, cũng ao ước sau khi chết được vào thiên đàng. Nhưng đa số, người ta chỉ ươc mơ xuông, chỉ có lòng ước ao thôi mà không cố gắng làm gì để được vào thiên đàng. Ta cũng ước, cũng mơ và cố gắng bao có thể để được vào thiên đàng, nhưng trên thiên đàng hạnh phúc thế nào thì ta chưa biết, đến khi vào được đó thì ta sẽ biết hạnh phúc thiên đàng là gì. Lúc đó mới hạnh phúc làm sao !!!!!!!

Còn về hỏa ngục? “Hội Thánh dạy rằng có hỏa ngục và án phạt đời đời. Ngay sau chết, linh hồn kẻ mắc tội trọng sẽ xuống hỏa ngục chịu cực hình “lửa đời đời”. Vì chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm được sự sống và hạnh phúc hằng khao khát, nên cực hình chính của hỏa ngục là đời đời bị tách khỏi Thiên Chúa” (GLCG, số 1035).

“Những điều Thánh Kinh xác quyết và Hội Thánh dạy về hỏa ngục, là lời mời gọi con người phải có trách nhiệm sử dụng tự do để đạt tới hạnh phúc đời đời; đồng thời thúc giục ta ăn năn hối cải”(GLCG, số 1036).

Nghe đến hỏa ngục ai cũng sợ và chẳng ai muốn xuống cả. Thế nhưng lại không ra sức để mình khỏi xuống đó. Thế mới chết chứ ! Sợ thì sợ nhưng không ngán; chẳng muốn xuống nhưng lại cứ đi vào. Thiên Chúa chẳng tiền định cho ai phải xuống hỏa ngục cả; Ngài chỉ muốn cho mọi người được vào thiên đàng thôi.

Vậy ta phải làm gì để được vào thiên đàng đây ?

Trong sách tiên tri Đa-ni-en có viết: “Các Hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ; nhưng ai làm cho người người nên công chính, sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao” (Dn 12,3).

Người Hiền sĩ, không phải là những Ngôi Sao minh tinh Bàn Bạc, những Ngôi Sao ca nhạc, sân khấu hay nhưng danh thủ thể thao mà là người “tỉnh thức”. Họ “tỉnh thức và cầu nguyện luôn để có thể đứng vững trước mặt Con Người” (x. Lc 21,36). Nói cách khác người Hiền Sĩ là người cầu nguyện. Cầu nguyện để làm chi ? Cầu nguyện để lãnh nhận ơn sủng của Thiên Chúa. Lãnh nhận ân sủng để làm gì ? Để ta được cứu độ.

Thánh Phao-lô nói về ân sủng này như sau: “Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ đem ơn cứu độ đến cho con người. Ân sủng đó dạy ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này. Sở dĩ như vậy là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta xuất hiện vinh quang” (x.Tt 2,11-13).

Vì muốn từ bỏ được lối sống vô luân và những đam mê trần tục mà sống chừng mực, công chính và đạo đức thì phải cần có ơn Chúa ta mới làm và sống được. Nên ta phải cầu nguyện luôn, để “hũ ân sủng” của ta không bao giờ cạn, ta mới có đủ sức và dư sức để “qua cầu”. Người mà sống chừng mực, công chính và đạo đức sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ trong Nước Trời. Nghĩa là được vào Thiên đàng.

Người Hiền sĩ đó không chỉ lo cho mình mà còn làm cho nhiều người khác được hạnh phúc, được nên công chính nữa cơ. “Họ luôn sẵn sàng làm điều thiện; không chửi bới ai; không hiếu chiến nhưng hiền hòa, luôn tỏ lòng từ bi với mọi người” (x.Tt 3,1-2). Họ đã không làm thì thôi, đã làm thì luôn làm điều tốt, điều thiện cho người khác; đem lại niềm vui và hạnh phúc cho tha nhân. Họ không ganh đua với người khác, họ chỉ lo chu toàn bổn phận của mình thôi. Có bị chơi xấu, nghĩ sai hay bị khinh khi họ cũng không trả thù, không thèm để ý tới làm chi, cứ để đó cho Chúa xét xử. Họ chẳng cần ai biết đến hay có ai khen lao cả, có Chúa biết là đủ rồi.

Người sống như thế sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao trong nước Cha của họ, tức là trong Nước Trời; trong thiên đàng.

Quả thật, người tràn đầy ân sủng Chúa và cố gắng sống tốt lành và thánh thiện thì khi chết về với Chúa, ta sẽ được vào thiên đàng và ngày sau hết, ta được phục sinh, cả xác lẫn hồn ta được vào thiên đàng để hưởng phúc trường sinh với Chúa và các thánh.

Vậy ta hãy chọn Thiên Đàng là mục tiêu của ta, để đang khi sống ở đời này ta biết chuẩn bị, biết dùng mọi cơ hội có được trong cuộc sống, bằng cách luôn tỉnh thức và cầu nguyện. Với ơn Chúa, ta sẽ cố gắng hết sức mình để ta nên người Hiền Sĩ, nên người công chính, thánh thiện; đồng thời, cũng giúp cho người khác nên thánh nên thiện nữa. Chắc chắn ta sẽ được vào thiên đàng. Ta đừng có loi ngoi, láu cá mà nên kẻ “lòi sỉ”, coi chừng xuống hỏa ngục như chơi đó.

 

Sưu tầm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *