TRANG CHỦ / THÔNG TIN / HỘI THÁNH / Cập nhật Thông tin, Video và Hình ảnh Đại Hội Giới Trẻ tại Krakow Ba Lan (P.4)

Cập nhật Thông tin, Video và Hình ảnh Đại Hội Giới Trẻ tại Krakow Ba Lan (P.4)

Xem tổng hợp phần I WYD

Xem tổng hợp phần II WYD

Xem tổng hợp phần III WYD

***

ĐTC Khởi hành bằng máy bay về Rôma/Ciampino

***

49. Lịch trình tông du Ba Lan của ĐTC Phanxicô vào Chúa Nhật, 31/07/2016

10g00: Thánh lễ Bế mạc Ngày Giới trẻ Thế giới tại Campus Misericordiae

Áo dài Việt Nam xuất hiện trong Thánh lễ Bế mạc Ngày Giới trẻ Thế giới tại Campus Misericordiae.


Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới kế tiếp sẽ ở Cộng hòa Panama vào năm 2019.

Tổng thống Cộng Hòa Panama Juan Carlos Varela tại WYD 2016

17g00: Gặp gỡ những tình nguyện viên ĐHGT với Ban tổ chức và các nhà tài trợ tại Tauron Arena, Krakow

18g15: Nghi lễ tạm biệt tại sân bay Krakow-Balice

18g30: Khởi hành bằng máy bay về Rôma/Ciampino

20g25: Đến Rôma/Sân bay Ciampino

 

48. Hình ảnh Đêm Canh Thức Đại Hội Giới Trẻ ThếGiới 30.07.2016

Bấm vào hình để xem thêm hình ảnh

47. Hình ảnh Sáng sớm tại Quảng trường Campus Misericordiae (Cánh Đồng Lòng Thượng Xót) – 30.07.2016

Bấm vào hình để xem thêm hình ảnh

46. Video Đức Thánh Cha Phanxicô đã đưa ra lời khuyên cho những đôi vợ chồng trẻ

Trong đêm thứ hai xuất hiện tại cửa sổ này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đưa ra lời khuyên cho những đôi vợ chồng trẻ. Lời khuyên của ngài được tóm tắt trong 3 từ, đó là xin vui lòng, cám ơn, và xin lỗi.

45. Video: Đàng Thánh Giá Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới

Năm 1997, tại Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tại Paris, cùng với các ngày giáo phận, người Pháp đã thêm buổi đi đàng thánh giá vào chương trình Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới. Đây là những đóng góp quan trọng. Nhiều bạn trẻ tìm được ơn hoán cải khi theo chân Chúa Giêsu qua các chặng đàng thánh giá. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói tại Rio de Janeiro vào năm 2013, “Trong Thập Giá Chúa Kitô có tất cả tình yêu của Thiên Chúa và lòng thương xót vô biên của Người. Và đó là tình yêu mà chúng ta có thể tín thác, nơi đó chúng ta có thể tin tưởng. Các bạn trẻ thân mến, chúng ta hãy tin tưởng nơi Chúa Giêsu, hãy hoàn toàn tín thác nơi Người (Lumen fidei, 16). Chỉ nơi Chúa Kitô chiụ chết và sống lại chúng ta mới tìm được sự cứu rỗi và ơn cứu độ. Với Người, sự dữ, khổ đau và cái chết không có tiếng nói cuối cùng, bởi vì Người trao ban cho chúng ta hy vọng và sự sống: Người đã biến đổi thập giá từ dụng cụ của thù hận, thất bại và chết chóc trở thành dấu chỉ của tình yêu, chiến thắng và sự sống.”

Kính thưa quý vị và anh chị em,

Đức Thánh Cha đang tới trước tiếng reo mừng của người trẻ… Đức Thánh Cha tới lễ đài Ngài giơ tay chào tất cả mọi quan khách và giới trẻ…

Rồi Đức Thánh Cha bắt đầu làm dấu Thánh giá khai mạc Chặng đàng Thánh giá.

Giờ đây các bạn trẻ Iraq đến từ Baghdad, Kirkuk và Erbil đang đọc kinh Lạy Cha trước Đức Thánh Cha. Họ đọc bằng tiếng Aramaic là ngôn ngữ chính Chúa Giêsu đã dùng khi Ngài xuống thế làm người. Hầu hết các bạn trẻ này đã phải gánh chịu những hậu quả của cuộc chiến tranh tại Iraq và lâm vào cảnh mất nhà cửa phải tị nạn trong các vùng do người Kurd kiểm soát.

Chặng Đàng Thánh Giá đã được bắt đầu ngay sau đó.

Chặng thứ nhất: Chúa Giêsu bị kết án tử hình – Cho khách đỗ nhà

Xướng: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô

Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ

Trích Tin Mừng Thánh Luca:

Khi đã tới ngày Đức Giê-su được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem. Người sai mấy sứ giả đi trước. Họ lên đường và vào một làng người Sa-ma-ri để chuẩn bị cho Người đến. Nhưng dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giê-ru-sa-lem (Lc 9:51-53).

Lạy Chúa Giêsu, ngay từ cuộc hành trình lên Giêrusalem của Chúa, và do đó tới cái chết, Chúa đã bị hắt hủi rồi, người ta đã không tiếp đón Chúa. Vì Chúa là khách lạ! Vì Chúa thuộc một dân tộc khác, tuyên xưng một tôn giáo khác… Chúa bị từ khước việc tiếp đón, một con người đang bước vào cõi chết…

Lạy Chúa, tất cả các điều trên nghe sao quen thuộc đến khiếp sợ, như thể trích thẳng ra từ báo chí của chúng con, nhắc chúng con nhớ đến tình huống trên các đường phố của chúng con. Chúng con từ chối việc tiếp đón những người đang đi tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn, những người đôi khi chỉ xoay xở cho cuộc sống của họ (vì bị đe dọa tới mạng sống), những người đến gõ cửa đất nước chúng con, các Giáo Hội chúng con, và các căn hộ chúng con. Họ là người xa lạ, chúng con thấy kẻ thù ở trong họ, chúng con sợ tôn giáo của họ, và cả sự nghèo khổ của họ nữa!

Thay vì hiếu khách, họ thấy chết chóc: ở dọc bờ biển Lampedusa và các hải đảo Hy Lạp, trong các trại tị nạn đông đúc. Từ khước tiếp nhận mau chóng trở thành bản án tử hình thực sự. Lên họ, và do đó, lên Chúa, lạy Chúa! Trong ít năm qua, Chúa từng bị kết án tử hình trong con người của 30,000 gnười tỵ nạn. Kết án, bởi ai? Ai sẽ đồng ý với bản án này?

Chúa nói với chúng con hôm nay: Ta là khách lạ, Ta không có nơi đặt đầu. Ta sinh ra trong một máng cỏ, bị từ khước quán trọ. Ta biết vị đắng đót của lòng hiếu khách giả tạo, giống như ở nhà Simong Biệt Phái, không cho Ta nước rửa chân, không dầu ôliu xức đầu khô nẻ.

Chúa nhắc chúng con nhớ tới các môn đệ Emmau: khi họ mời “người khách lạ” dùng bữa, mắt họ mở ra và họ nhận ra… Chúa!

Vì thế, chúng con cầu xin Chúa thương mở mắt chúng con! Xin cho chúng con nhận ra Chúa! Nơi những người viếng thăm chúng con, những người bỗng nhiên thấy mình bên cạnh chúng con. Nơi những người không nhà, ngủ ở trạm xe lửa, ở cổng nhà chúng con, ở mương rãnh, gầm cầu. Chúa sống trong mọi người xa lạ. Và Chúa ngự trị, như một người thiếu thốn, bây giờ và mãi mãi. Amen.

Chặng thứ hai: Chúa Giêsu vác Thánh Giá – Cho kẻ đói ăn

Xướng: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô

Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Trích Tin Mừng Thánh Máccô:

Chúa Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều. Vì bấy giờ đã khá muộn, các môn đệ đến gần Người và thưa: “Ở đây hoang vắng và bây giờ đã khá muộn, xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn.” Người đáp: “Thì chính anh em hãy cho họ ăn đi! “ Các ông nói với Người: “Chúng con phải đi mua tới hai trăm quan tiền bánh mà cho họ ăn sao? “ Người bảo các ông: “Anh em có mấy chiếc bánh? Đi coi xem! “ Khi biết rồi, các ông thưa: “Có năm chiếc bánh và hai con cá.” (Mc 6:34-38).

Chúng ta cần gì nhất khi phải đối diện với thánh giá, như thánh giá đói khát của các anh chị em chúng ta chẳng hạn?

Chúng ta thường nghĩ như các tông đồ: hai trăm đồng bạc cũng không mua đủ bánh ăn… Hai trăm đồng bạc! Lương bẩy tháng ròng! Làm sao một lúc có được khoản tiền này? Thánh giá này vượt quá sức chúng ta…

Xem ra vô vọng, ta bèn nghĩ cách trao vấn đề cho người khác: để họ vào các nông trại và làng mạc quanh đây mà mua lấy thức gì đó để ăn.

Nhưng lạy Chúa, Chúa nói: chính anh em hãy cho họ ăn! Và Chúa hỏi: anh em có mấy chiếc bánh? Chúa hỏi không phải điều chúng con không có, mà là điều chúng con có! Và liệu chúng con có thể chia sẻ điều chúng con có không: năm chiếc bánh và hai con cá… Chúa không hỏi liệu số đó có đủ cho quá nhiều người như thế hay không, Chúa hỏi liệu chúng con có chia sẻ số đó hay không! Và ở đây, chúng con bắt đầu hiểu. Tại sao có nạn đói trên thế giới? Không phải vì thiếu cơm bánh, mà là thiếu liên đới. Trong thế giới chúng con, không hề thiếu cơm bánh, một phần ba thực phẩm sản xuất ra đã bị phí phạm. Đồng thời, cứ sáu giây, một trẻ em qua đời vì đói, và hôm nay, tối nay, gần 1 tỷ người khắp thế giới không biết liệu ngày mai họ sẽ có gì để ăn hay không.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con ngợi khen Chúa vì tất cả những người đang đem lòng thương xót tới các anh chị em đói khát của chúng con. Chúng con cảm tạ Chúa vì những người khấn giữ nghèo khó để có thể đem giúp đỡ tới những người còn nghèo khó hơn họ. Họ chứng minh rằng, để có thể giúp đỡ, họ không cần những ngân khoản lớn lao cho bằng tấm lòng đại lượng! Xin Chúa ban cho chúng con tấm lòng ấy, đầy nâng đỡ và có khả năng chia sẻ, dù thiếu thốn. Xin Chúa phục hồi nơi chúng con sự hiểu biết việc ăn chay, không phải kiểu nhịn ăn để giữ sức khỏe, mà như việc thực hành yêu thương thực sự. Sau cùng, chúng con cầu xin cho tất cả những người mà Chúa để chúng con hiểu được thánh giá của họ nhờ chiêm niệm chặng Đàng Thánh Giá này, vì người đói khát và đang chết vì thiếu ăn. Lạy Bánh Hằng Sống! Xin Chúa giúp họ! Và tha thứ cho chúng con… Amen.

Chặng thứ ba: Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ nhất – Khuyên dạy kẻ có tội

Xướng: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô

Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Trích Tin Mừng Thánh Máccô:

Người ta đem đến cho Đức Giê-su một kẻ bại liệt, có bốn người khiêng […] Chúa Giê-su […] bảo người bại liệt: “Này con, con đã được tha tội rồi” [và rồi] “Ta truyền cho con: Hãy đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi về nhà!” (Mc 2:3-11).

Lạy Chúa Giêsu, thấy Chúa ngã, con nghĩ tới các sa ngã của con, nghĩ tới các tội trọng từng làm con hụt chân. Chỉ cần nhớ tới chúng, con cũng đã bị áp đảo rồi. Con không thể tự cố gắng mà đến với Chúa được. Con tê liệt, còn hơn cả người bại liệt kia. Ít nhất, ông ta còn để mình được giúp đỡ, bạn bè ông đưa ông tới Chúa. Con trốn tội lỗi trong cô đơn, con thừa nhận những người nhắc nhở bằng cái nhún vai hoặc, thường hơn, bằng cách tấn công họ. Con cám ơn Chúa nay con đang ở đây và được nghe điều Chúa nói với người tội lỗi tê liệt kia. Trước nhất, Chúa nói: này con, sau đó mới nói: con đã được tha tội rồi. Chúa không bắt đầu với tội lỗi. Chúa gọi con “này con”, cho dù con nghĩ con không còn quyền đó nữa: con không còn xứng đáng được gọi là con của Chúa nữa; hãy cư xử với con như Chúa cư xử với một trong các công nhân làm thuê của Chúa. Nhưng Chúa bảo: “công nhân làm thuê ư? Đâu được! không bao giờ!”. “Đây là nhẫn, giép và áo sống của con đây!” Con từng cảm nghiệm được điều này trong Bí Tích Hòa Giải rất nhiều lần. Không hề nhục nhã, nhưng tìm được phẩm giá của con! Chúa nâng con lên khỏi mặt đất biết bao nhiêu lần!

Lạy Chúa Giêsu, xin vinh danh Chúa trong mọi tòa giải tội khắp thế giới. Đầy lòng thương xót.Tha thứ không 7 lần, không 77 lần mà 777 triệu lần. Không bao giờ mệt mỏi tha thứ. Xin Chúa hãy như thế nơi mọi vị giải tội! Xin Chúa làm việc này để Bí Tích Hoà Giải là một trải nghiệm thương xót và luôn luôn tôn trọng và cho mọi người. Chúng con cầu xin cho những người lần lữa không chịu xưng tội trong nhiều năm qua vì sợ sệt,xâu hổ hay lãng quên. Xin Chúa ban cho họ Thần Trí của Chúa, Đấng thuyết phục chúng con nhận tội, vì bí tích này được ban cho chúng con để tha các tội!Chúng con cũng cầu xin cho những người mà các quyết định sống đang cản trở họ không được lãnh bí tích giải tội. Xin Chúa hãy đánh động lương tâm họ; hãy gia tăng gấp bội tình yêu của họ; xin để chúng con được đồng hành với họ trong Giáo Hội. Xin Chúa cho chúng con say mê Giáo Hội, Giáo Hội không bao giờ không giúp người ta chống trả tội lỗi, cho dù Giáo Hội vốn bao gồm những người có tội. Thánh, Thánh, Thánh, Bạn mãi mãi của những người có tội! Amen.

Chặng thứ tư: Chúa Giêsu gặp Mẹ sâu bi của Người – Yên ủi kẻ âu lo

Xướng: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô

Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Trích Sách Gióp:

Xa-tan khiến Gióp mắc bẩy mụn nhọt. Ông ngồi giữa đống tro, lấy mảnh sành mà gãi. Ba người bạn của ông Gióp nghe biết tất cả những tai hoạ xảy ra cho ông, liền kéo đến, mỗi người từ xứ sở của mình, Ê-li-phát người Tê-man, Bin-đát người Su-ác, Xô-pha người Na-a-mát. Họ bàn nhau đến để chia buồn và an ủi ông. Từ xa, họ ngước mắt nhìn, nhưng chẳng nhận ra ông. Họ bật khóc; mỗi người xé áo mình ra và rắc tro lên đầu. Rồi họ ngồi xuống đất, bên cạnh ông, suốt bảy ngày đêm, chẳng nói với ông một lời, vì họ thấy rằng nỗi đau khổ của ông quá lớn (G 2:7-8, 11-13)

Lạy Chúa Giêsu, Chúa và Mẹ Chúa không có nhiều thì giờ để im lặng ở bên nhau. Người ta không cho Chúa bẩy ngày bẩy đêm. Một vài giây thôi, đủ rồi, để mắt nhìn mắt. Và tim nói với tim. Không một lời nói. Không cử chỉ nào. Chỉ là tình yêu cao độ!

Giống bạn hữu của Gióp, Mẹ Chúa phải đến, chịu đau khổ với Chúa, và an ủi Chúa. Giống họ, có lẽ ngài cũng khó nhận ra Chúa, bị thương, đầy máu, vừa trỗi dậy từ cú ngã. Truyền thống còn lưu giữ kỷ niệm nơi Chúa ngã và nơi Chúa gặp Mẹ Chúa, ở giữa đường mương chạy qua Giêrusalem và chuyên chở đủ thứ rác rưởi đồ dơ. Là ông Gióp thần thánh, Đấng duy nhất công chính, Chúa không ngã vào đống phân, nhưng ngã vào sự hôi thối của con người. Chúa, Đấng An Ủi Thứ Nhất. Chúa cần an ủi xiết bao trên đường thánh giá của Chúa! Chúa tìm được sự an ủi này trong cuộc gặp gỡ thinh lặng với Mẹ Chúa. Há không đúng sao việc chúng con nên an ủi người sầu khổ trong thinh lặng? Vì cùng nhau thinh lặng không phải chỉ là không nói. Đúng hơn, nó còn là cùng lắng nghe và chờ câu trả lời của Chúa. Bởi thế, Thánh Kinh nói rằng: Điều tốt đẹp là im lặng hy vọng Chúa giải phóng (Ac 3:26).

Lạy Mẹ Maria, đấng an ủi kẻ sầu khổ, chúng con muốn học tập sự hiện diện đầy thương xót và im lặng của Mẹ với những người đau khổ. Chúng con thờ lạy Chúa, lạy Chúa Giêsu Kitô và lạy Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi, Đấng ủi an chúng con trong mọi nỗi sầu khổ của chúng con, để chúng con có khả năng an ủi những ai đang buồn sầu bất cứ cách nào bằng sự an ủi mà Thiên Chúa đã dùng để an ủi chúng con. Amen.

Chặng thứ năm: Ông Simong vác thánh giá đỡ Chúa Giêsu – Viếng kẻ liệt

Xướng: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô

Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Trích Tin Mừng Thánh Mátthêu:

Đức Giê-su đến nhà ông Phê-rô, thấy bà mẹ vợ ông đang nằm liệt và lên cơn sốt. Người đụng vào tay bà, cơn sốt dứt ngay và bà chỗi dậy phục vụ Người. Chiều đến, người ta đem nhiều kẻ bị quỷ ám tới gặp Đức Giê-su. Người nói một lời là trừ được các thần dữ và Người chữa lành mọi kẻ ốm đau, để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a: Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta (Mt 8: 14-17).

Chúa mang lấy sự yếu đuối và bệnh tật của chúng con. Ngược lại, Ông Simong không muốn vác thánh giá của Chúa. Ông không muốn giúp đỡ. Ông cần được người ta ép buộc… Con không có quyền phê phán ông ta. Con cũng muốn chạy trốn trước các bệnh tật và đau yếu của người khác không kém. Há chẳng phải vì con quên rằng Chúa là người đầu tiên tự vác lấy mọi bệnh tật và đau yếu của con sao? Chúa nói về Chúa: Ta đau yếu, nhưng con biết Chúa chủ yếu là một Thầy Thuốc, Đấng được phái tới cho người bệnh hoạn, chứ không phải người khỏe mạnh. Đã bao lần Chúa từng đến với con lúc con bệnh hoạn? Đã bao nhiêu lần Chúa đưa bàn tay Chúa cho con và kéo con lên? Khỏi những chứng bệnh nặng hơn sốt rét: khỏi ích kỷ, lười biếng, cứng lòng. Con không muốn từ chối Chúa điều con rất thường được cảm nhận từ Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con chúc tụng Chúa nơi tất cả những ai giúp đỡ người bệnh không chỉ vì nghề nghiệp, mà như một ơn gọi trong lãnh vực chăm sóc y tế: nơi các bác sĩ, y tá, mọi nhân viên của bệnh viện và bệnh xá. Chúng con ngợi khen Chúa vì từng vị tuyên úy và thiện nguyện viên bệnh viện luôn hỗ trợ họ. Vì các hội dòng tu sĩ mà đặc sủng là phục vụ người bệnh. Vì họ, chúng con cầu xin Chúa ban thêm nhiều ơn gọi mới. Chúng con chúc tụng Chúa vì các bác sĩ truyền giáo và vì mọi người hiến tặng luôn nâng đỡ việc làm của họ. Còn về chúng con, chúng con cầu xin Chúa ban cho chúng con lòng thiện cảm đối với mọi người bệnh. Lòng sẵn sàng cung hiến sự giúp đỡ sẵn lòng và tự ý. Lòng quảng đại trong việc hy sinh thì giờ để thăm viếng (tại nhà, tại bệnh viện, nhà dưỡng lão). Và trong lời cầu nguyện. Amen.

Chặng thứ sáu: Bà Vêrônica trao khăn cho Chúa Giêsu lau mặt – Viếng kẻ tù rạc

Xướng: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô

Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Trích Tin Mừng Thánh Mátthêu:

Bỗng một người đàn bà bị băng huyết đã mười hai năm tiến đến phía sau Người và sờ vào tua áo của Người… Chúa Giê-su quay lại thấy bà thì nói: “Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con.” (Mt 9:20-22).

Tin Mừng không ghi tên họ người đàn bà trên. Chỉ nhờ truyền thống mà nhớ là Vêrônica! Người đàn bà này, có lần được Chúa chữa khỏi chứng băng huyết, giờ đây không thể tiếp tục dửng dưng được nữa, khi thấy Chúa máu mê đầy người trên đường thánh giá. Hành vi thương xót của bà chỉ là có đi có lại. Chúa đã có lần giải thoát bà khỏi chứng băng huyết và dơ dáy, bây giờ bà lau máu khỏi mặt Chúa, và ít nhất trong giây lát, khôi phục vẻ trong sạch của nó.

Đầy máu, mồ hôi và bụi bặm, khuôn mặt của Đấng Bị Kết Án lại xuất hiện như mới trước mặt mọi người, đĩnh đạc như khuôn mặt của Chúa Giêsu thành Nadarét!

Há đó không phải là cách bà thấy Chúa sao, bằng con mắt trái tim, trước khi bà với tay lấy khăn ra? Bà thấy tù nhân với khuôn mặt của Con Thiên Chúa! An ủi tù nhân có ý nghĩa gì? Đây không phải chỉ là bất cứ hình thức an ủi nào. Mà là một cuộc gặp gỡ, giúp tù nhân tái khám phá ngay trong họ khuôn mặt của con cái nam nữ của Thiên Chúa, một hình ảnh lâu dài của Con Thiên Chúa, nguồn gốc mọi nhân phẩm lâu dài!

Lạy Chúa Giêsu, Chúa thăm viếng chúng con trong mọi cơn sầu khổ của chúng con, trong các yếu đuối, thèm muốn và nghiện ngập của chúng con. Và Chúa luôn thấy trong chúng con các con trai con gái của Thiên Chúa, ngay cả khi chúng con chỉ thấy trong chúng con toàn là tù nhân, bị nô dịch bởi ma túy, rượu chè, khiêu dâm, xúc cảm, cờ bạc, máy vi tính, điện thoại di động, tiền bạc, tiện ích, bất cứ điều gì! Với Chúa, khuôn mặt của mỗi người và mọi người chúng con đều bất biến là khuôn mặt một đứa con của Thiên Chúa. Cái nhìn của Chúa phục hồi cảm thức phẩm giá của chúng con! Nó vào sâu hơn khăn lau của bà Vêrônica.

Chúng con cầu xin Chúa giúp chúng con, như bà Vêrônica, sẵn sàng và có khả năng an ủi các tù nhân. Xin Chúa dẫn chúng con đến với những người đau khổ vì bất cứ sầu buồn hay yếu đuối nào. Xin dạy chúng con suy nghĩ một cách kính trọng đối với tất cả những ai đang ngồi tù, trong nhà tù, trung tâm giam giữ, trại lao động. Xin Chúa là đường dẫn tới họ. Amen.

Chặng thứ bẩy: Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ hai – Tha kẻ dể ta

Xướng: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô

Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Trích Tin Mừng Thánh Mátthêu:

Người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng… Tôn chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ. Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền… Y liền tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ… Bấy giờ, tôn chủ cho đòi y đến và bảo: “Tên đầy tớ độc ác kia… ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao? “ Rồi tôn chủ trao y cho lính hành hạ (Mt 18:24-34).

Lạy Chúa, Chúa đã tha thứ cho anh ta quá nhiều rồi! Chúa tha cho anh ta món nợ quá sức tưởng tượng! Mười ngàn quan tiền, 270 tấn vàng! Xin Chúa thứ lỗi con mới dám hỏi: Há Chúa lại không thể tha cho anh ta tội không biết dung tha kẻ mắc nợ anh ta đó sao? Chúa tha thứ các tội không thể tha thứ của anh ta… Tại sao Chúa lại không tha cho anh ta tội từ khước tha thứ? Từ khước tha thứ các xúc phạm phải chăng là một tội quá lớn? Há anh ta không có quyền đòi hỏi công lý hay sao? Anh ta có quyền. Nhưng đó không phải là chỗ anh ta phạm tội. Trọng điểm ở đây không hệ ở việc anh ta không thể tha thứ, mà hệ ở việc anh ta hoang phí tấm tình yêu từng được ban cho anh ta cách hậu hĩnh. Chúa tỏ lòng thương xót vô bờ bến cho anh ta, không phải để anh ta cảm thấy được thoát nợ, mà để anh ta cũng yêu người khác bằng cùng một tình yêu anh từng gặp được. Để anh ta cũng tha thứ bằng cùng một sự tha thứ anh từng gặp được. Chúa không đòi hỏi gì nơi anh ta mà chính Chúa không ban cho anh ta trước. Và ban một cách hậu hĩnh.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con chúc tụng sự hiện diện và quyền năng của Chúa trong tất cả những ai tha thứ. Chúa là lòng thương xót giúp chúng con biết sẵn lòng tha thứ các xúc phạm. Ở chặng đàng thánh giá này, chúng con cầu xin Chúa: tiêu diệt con người cũ nơi chúng con! Giết chết kẻ mắc nợ không biết thương xót trong chúng con! Dạy chúng con biết sẵn lòng tha thứ, bằng cách cảnh giác, không đợi lời yêu cầu và chuộc lỗi của người làm sai. Ôi, lòng thương xót của Chúa lạ lùng xiết bao! Con muốn tin tưởng ở lòng thương xót của Chúa, cả khi Chúa kêu gọi con cung cấp lòng thương xót ấy cho người khác, tha thứ không do dự. Amen.

Chặng thứ tám: Chúa Giêsu an ủi các phụ nữ Giêrusalem – Mở dạy kẻ mê muội

Xướng: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô

Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Trích Sách Tông Đồ Công Vụ:

Một viên thái giám người Ê-thi-óp, làm quan lớn trong triều của bà Can-đa-kê, nữ hoàng nước Ê-thi-óp, đã lên Giê-ru-sa-lem hành hương và bấy giờ đang trên đường về nhà. Ngồi trên xe nhà, ông đọc sách ngôn sứ I-sai-a… Ông Phi-líp-phê hỏi: “Ngài có hiểu điều ngài đọc không? “ Ông quan đáp: “Mà làm sao tôi hiểu được, nếu không có người dẫn giải? “… Ông Phi-líp-phê lên tiếng, và khởi từ đoạn Kinh Thánh ấy mà loan báo Tin Mừng Chúa Giê-su cho ông (Cv 8: 27-28, 30-31, 35).

Lạy Chúa Giêsu, chúng con nhận ra sức mạnh và lòng thương xót của Thần Trí Chúa, Đấng nói với Thánh Philipphê đến gặp viên quan để dạy dỗ ông ta. Thương xót, vì người này là “khách lạ” và bị loại ra ngoài cộng đồng cầu nguyện và thờ phượng. Sức mạnh, vốn phát sinh trong đức tin và phép rửa. Chúng con muốn học hỏi từ Thánh Philipphê khả năng dạy dỗ kẻ mê muội, một lời giảng dạy đầy khiêm nhường, kích thích người nói biết đặt ra các câu hỏi quan trọng; một lời giảng dạy biết tập chú vào Chúa, vào biến cố chết và sống lại của Chúa, một lời giảng dạy dẫn người nghe nhận ra Chúa là Chúa và là Đấng Cứu Rỗi. Ở chặng đàng thánh giá này, một mình Chúa cũng đã mạc khải cho chúng con khả năng dạy kẻ mê muội một cách đầy thương xót, Chúa nói với các phụ nữ đi theo Chúa: Hỡi các người con gái Giêrusalem, đừng khóc thương Tôi; mà hãy khóc thương cho các bà và con cháu các bà (Lc 23:28). Chúa giảng dạy, vì Chúa yêu thương. Chúa giảng dạy ngay trong cuộc Khổ Nạn của Chúa, quên mình, vượt quá các đau khổ riêng của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, chiêm niệm chặng đàng thánh giá này, chúng con học được rằng việc dạy dỗ luôn phải là một hành vi yêu thương và thương xót. Chúng con xin tạ lỗi vì những giây phút trong đời lúc chúng con dạy dỗ người khác một cách tức giận, kiêu căng, chỉ theo lối của mình, khi chúng con ương ngạnh trong các điều mình tin chắc. Chúng con xin tạ lỗi vì đã đánh bóng sự khôn ngoan của mình; bằng cách này, chúng con đã che phủ mất Chúa, nguồn khôn ngoan và là khôn ngoan nhập thể. Chúng con xin tạ lỗi vì mọi tình huống trong đó chúng con đã lạm dụng lòng tin của người khác, những người Chúa đã ủy thác cho chúng con trong ngành giáo dục. Lạy Chúa, chúng con nài xin Chúa cho mọi thầy cô, mọi giáo sư, mọi giáo lý viên, mọi nhà giáo dục, và trên hết, mọi cha mẹ: Xin Chúa đổ đầy sức mạnh và lòng thương xót nơi họ, để họ hướng dẫn và dạy dỗ những người được ủy thác cho họ. Đầy lời lẽ khôn ngoan và chứng từ thuyết phục. Lạy Thầy và Chứng Tá Chí Thánh, Đấng hằng sống và hằng trị đời đời. Amen.

Chặng thứ chín: Chúa Giêsu ngã lần thứ ba – Lấy lời lành mà khuyên người

Xướng: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô

Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Trích Tin Mừng Thánh Máccô:

Chúa Giê-su nói với các tông đồ: “Tất cả anh em sẽ vấp ngã”, … Ông Phê-rô liền thưa: “Dầu tất cả có vấp ngã đi nữa, thì con cũng nhất định là không.” Chúa Giê-su nói với ông: “hôm nay, nội đêm nay, … anh sẽ chối Thầy đến ba lần” (Mc 14: 27, 29-30).

Lạy Chúa Giêsu, ngay trước giờ khổ nạn của Chúa, Chúa đã chỉ cho các môn đệ hay lòng hoài nghi như một sa ngã và như cớ để sa ngã tiếp. Hoài nghi vốn bao hàm chạy trốn, phân tán và phản bội. Không hoài nghi chính mình, không hoài nghi chính sức mạnh của mình, nhưng hoài nghi Chúa, Chúa nói: tất cả các con sẽ lung lay đức tin vào Thầy.

Hoài nghi, lấy mất hết sức mạnh của con và hạ ván con. Hoài nghi liệu con có bao giờ ngã rồi trỗi dậy được không. Mỗi tội của con lại kéo theo một tội khác. Với mỗi tội tiếp theo, con càng ngày càng mất hy vọng. Hoài nghi nói với con: “bây giờ thành thói quen rồi; nó mạnh hơn bạn!” Lòng hoài nghi này sau cùng thành lòng hoài nghi chính Chúa! Nó bảo rằng Chúa không mạnh đủ để nâng con dậy. Chúa còn không muốn nâng con dậy là đàng khác. Liệu Chúa có thể yêu thương một người như con không? Hoài nghi cả thực tại của Vượt Qua. Hoài nghi cả mục đích và ý nghĩa đời con, cả sự quan phòng và lòng thương xót của Chúa.

Lấy lời lành mà khuyên người hoài nghi! Nhưng chúng con khuyên gì nơi người hết tự lực? Chúng con khuyên bảo được đến đâu một con người đã rơi vào cảnh bất lực và hoàn toàn ngã lòng? Làm thế nào chúng con chứng tỏ được hoài nghi là thứ dối trá, dối trá về chúng con và về Chúa?

Lạy Chúa Giêsu, chúng con cám ơn Chúa vì mọi câu hỏi đã được nêu lên trong chúng con khi dừng lại ở chặng Thánh Giá này. Chúng con không muốn các câu trả lời dễ dãi… Chúng con xin sự khiêm nhường cởi mở đối với Thần Trí Chúa, Thần Trí Khuyên Bảo chúng con nhận được khi chịu Thêm Sức, đối với sự khôn ngoan và thông suốt của Người. Xin Người linh hứng chúng con với những câu hỏi thích đáng và các câu trả lời chân thực. Chúng con ngợi khen Chúa vì tất cả những ai nâng đỡ người hoài nghi và không để họ cô đơn, nhất là, trong việc hoài nghi chính khả thể ăn năn và được giải thoát khỏi mọi yếu đuối. Chúng con ngợi khen Chúa vì những kẻ thân yêu của họ: gia đình, bạn bè, và các cố vấn viên; vì các vị giải tội, linh hướng, và điều trị viên. Vì tất cả những ai không mất niềm tin nơi người ta. Và nơi Chúa. Amen.

Chặng thứ mười: Chúa Giêsu bị lột quần áo – Cho kẻ rách rưới ăn mặc

Xướng: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô

Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Trích Tin Mừng Thánh Luca:

Khi anh ta còn ờ ngoài xa, cha anh ta đã thấy anh ta, và vì đầy lòng thương, ông chạy ra đón con … hôn anh ta … và nói “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu” (Lc 15:20,22).

Khi qùy dưới chân cha mình, người con trai hoang đàng gần như trần truồng. Anh ta đã tiêu phí hết mọi sự, không những tài sản của mình, mà còn cả giá trị bản thân nữa. Anh ta trần truồng như một người nô lệ. Khánh kiệt, dù do lỗi của mình, anh ta đã bị lột cả chiếc áo sơ mi cuối cùng! Trần truồng, như Ađam và Evà trong địa đàng, sau khi phạm tội, mắt bỗng mở ra và biết mình trần truồng, và ẩn mình khỏi Chúa. Cũng thế, người con trai này có lẽ cũng muốn dấu sự trần truồng của mình, không cho cha anh thấy. Một kẻ tội lỗi, giống như Ađam và Evà. Xấu hổ và nhục nhã. Lạy Chúa Giêsu, cảnh tượng này giúp con nhìn sự trần truồng của Chúa trên đồi Gôngôta cách khác hẳn. Người ta không trưng bầy Chúa ngược với ý muốn của Chúa. Chúa chọn kết hợp với Ađam và Evà, với mỗi người con trai và con gái hoang đàng, trần truồng và nhục nhã vì tội lỗi. Trên Gôngôta, Chúa trở nên trần truồng không phải trước mặt những kẻ hành hình mà trước mặt Chúa Cha. Lời lẽ của người con trai hoang đàng: Thưa cha, con đã phạm tội chống lại cha… Con không đáng được gọi là con cha nữa, Chúa đã biến những lời này thành của Chúa. Chúa nói thế lúc trần truồng! Chúa là một với con, bị lột trần vì tội lỗi. Sự hợp nhất này đã cứu con. Vì Cha của Chúa không thể bình thản nhìn sự trần truồng của Con mình. Người lập tức mặc quần áo cho Chúa. Trong chiếc áo dài chấm đầu gối đẹp nhất, với khăn quàng bằng vàng quanh ngực (xem Kh 1:13). Trần truồng trong cái chết, nhưng khi Phục Sinh, Chúa lại một lần nữa được ăn mặc theo phẩm hàm qúy tử. Và chúng con được ở với Chúa.

Lạy Thiên Chúa, Cha chúng con, Chúa là Đấng đầu tiên mặc áo cho kẻ trần truồng. Chúng con cầu xin Chúa, hãy để chúng con bắt chước Chúa. Hãy dạy chúng con biết chia sẻ quần áo của chúng con, khi cần đến. Hãy giữ gìn chúng con, để chúng con thích chia sẻ như Chúa, với những áo dài tốt nhất, những quần áo mới, sạch và thẳng nếp, không cũ, sờn và không ai thiết. Hãy để chúng con giữ gìn nết na và khó nghèo trong y phục, để chúng con sẵn sàng hơn trong việc chia sẻ những gì chúng con dành dụm được. Chúng con cầu xin điều này nhờ Đấng, qua việc chấp nhận sự trần truồng của chúng con, đã mặc cho chúng con tươm tất để dự cuộc sáng tạo mới. Amen.

Chặng thứ mười một: Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thánh giá – Nhịn kẻ mất lòng ta

Xướng: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô

Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Trích Sách Tông Đồ Công Vụ:

Khi nghe những lời ấy (của Stêphanô), lòng họ giận điên lên, và họ nghiến răng căm thù ông Stê-pha-nô. Nhưng được đầy ơn Thánh Thần, ông đăm đăm nhìn trời… và kêu lớn tiếng: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này.” Nói thế rồi, ông an nghỉ (Cv 7: 54-55, 60).

Lạy Chúa Giêsu, chúng con chúc tụng Chúa đã ban sức mạnh như trên cho người ta! Sức mạnh dưới hình thức kiên nhẫn, không hẳn trước mặt đau khổ cho bằng trước mặt những người gây ra nó. Ngay cả đối với những người bách hại. Lòng kiên nhẫn này không phải chỉ là cắn lưỡi mình. Mà còn là không lãnh cảm một cách ươn lười. Cũng không bình thản kiểu khắc kỷ, với cảm thức lạnh lùng hơn hẳn kẻ làm điều xấu. Sự kiên nhẫn của Thánh Stêphanô, sự kiên nhẫn của các vị tử đạo, là tình yêu đối với những kẻ làm điều sai. Nó là một chứng từ mạnh mẽ. Nó đầy sự im lặng thanh thản, chỉ bị tạm ngắt bởi lời cầu nguyện tha thứ. Nó là lời nói mạnh mẽ và hành vi thương xót cuối cùng. Lạy Chúa, sự kiên nhẫn của Thánh Stêphanô tượng trưng cho sự kiên nhẫn của Chúa; lời lẽ của ngài phản chiếu lời lẽ của Chúa: Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm. Nhưng vào lúc Thánh Stêphanô chịu tử đạo, ngài nhìn lên trời và được thấy Chúa! Ngài thấy Chúa trước mắt ngài, không phải sự bất công ngài chịu cũng không phải sự giận dữ của kẻ thù. Thị kiến này trùm phủ ngài và biến cải ngài, làm ngài giống như Chúa. Lời hứa của Thánh Kinh đã nên trọn nơi Thánh Stêphanô: chúng ta biết rằng khi điều này được mạc khải, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì chúng ta sẽ thấy Người trong chính bản tính của Người. Y như thế! Chúa đã mạc khải Chúa cho ngài và làm ngài giống như Chúa.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Đấng kiên nhẫn và có lòng thương xót vĩ đại, xin cho chúng con đuợc dán mắt vào Chúa như Thánh Stêphanô. Xin cho chúng con khám phá ra lòng kiên nhẫn như một hành vi thương xót vĩ đại! Xin hãy đặt ngón tay Chúa lên môi miệng chúng con khi chúng con muốn thốt ra lời cay đắng và ghen ghét, hung hăng và ta thán. Xin dạy chúng con biết cầu nguyện cho kẻ thù của chúng con. Không báo oán những người xấu! Trái lại dơ má bên kia. Nếu có ai thưa kiện các con về áo trong, các con hãy trao cho họ cả áo khoác nữa. Nếu có ai bắt các con đi một dặm, hãy đi với họ hai dặm. Xin giúp chúng con không bị sự ác chinh phục nhưng chinh phục sự ác bằng sự thiện. Con chiên hiền lành bị mang đi giết, giống con chiên trước người xén lông, xin tỏ kiên nhẫn của Chúa nơi chúng con. Chúa hằng sống và hằng trị muôn đời. Amen.

Chặng thứ mười hai: Chúa Giêsu chết trên thánh giá – Cho kẻ khát uống

Xướng: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô

Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Trích Tin Mừng Thánh Gioan:

Sau đó, Chúa Giê-su biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: “Tôi khát! “ Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người (Ga 19:28-29).

Ta khát và các con đã cho Ta (không cho Ta) uống…

Người sắp chết muốn điều gì? Một đứa con đang hấp hối muốn được điều gì? Chúa đã được người ta đưa cho giấm chua. Cử chỉ cuối cùng của con người đối với Chúa. Mấy phút trước khi Chúa chết. Trò chế nhạo cuối cùng. Hành vi thù nghịch cuối cùng. Như thánh vịnh gia từng nói: “đợi người an ủi đôi lời, trông mãi trông hoài mà chẳng thấy đâu! Thay vì đồ ăn, chúng trao mật đắng, con khát nước, lại cho uống giấm chua” (Tv 69, 21-22). Chúng con chẳng chừa điều gì! Cả sự chế nhạo trước ước muốn sau cùng của Chúa cũng không… Nó làm con khiếp đảm khi nghĩ rằng điều này có thể tái diễn cả hôm nay nữa. Rằng con có thể lãnh cảm, rằng con muốn trốn chạy khỏi ước muốn của những người cô đơn đang hấp hối. Đôi khi những người gần gũi con hấp hối. Hay con có thể bác bỏ ước muốn này bằng bất cứ điều gì: các phụ tùng đắt tiền, cần thay thế phụ tùng hiện có.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa biết các ước muốn của mọi trái tim con người. Chúa muốn làm họ no thỏa với Nước Trường Sinh, ai uống nó sẽ không bao giờ khát nữa. Nước mà Chúa ban này chính là Chúa Thánh Thần, Đấng, trong mầu nhiệm Ba Ngôi, là tình yêu có bản vị. Xin để chúng con, giống như Chúa, khám phá và hiểu các ước muốn của con người và, cũng giống như Chúa, ra đi để thỏa mãn chúng. Xin để chúng con thực sự đứng với người khát, với ly nước, và với tình yêu, vốn là máng chuyển Nước Trường Sinh. Chúng con chúc tụng Chúa vì mọi người đang đồng hành với Chúa nơi những người hiện đang hấp hối. Vì mọi thiện nguyện viên và những ai trợ giúp các viện dành cho người hấp hối về phương diện tài chánh. Chỉ có Chúa mới thỏa mãn trọn vẹn mọi ước muốn của con người bây giờ và mãi mãi. Amen.

Chặng thứ mười ba: Tháo xác Chúa Giêsu khỏi thánh giá – Cầu cho kẻ sống và kẻ chết

Xướng: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô

Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Trích Tin Mừng Thánh Máccô:

Một người trong đám đông trả lời: “Thưa Thầy, tôi đã đem con trai tôi lại cùng Thầy; cháu bị quỷ câm ám”… Người đáp: “Giống quỷ ấy, chỉ có cầu nguyện mới trừ được thôi.” (Mc 9:17, 29).

Lạy Mẹ Maria, chúng con nhìn Mẹ, ngồi dưới chân Thánh Giá, xác chết Con Trai Mẹ ở trong lòng. Bất chấp sự đau đớn, Mẹ vẫn chuyên tâm cầu nguyện. Chính vì thế, Mẹ không bất lực, không mất sức mạnh, không bị đánh bại, không tan tác, nhưng được củng cố và sẵn sàng hợp tác vào công trình cứu rỗi của Con Trai Mẹ. Mẹ cùng thương xót với Người, là người thứ nhất trong chuỗi dài lịch sử những người hân hoan trong đau khổ vì họ, và trong thân xác họ đầy ắp những gì còn thiếu trong các khổ sầu của Chúa Kitô nhân danh nhiệm thể Người là Giáo Hội. Và họ làm thế trong cầu nguyện! Thực vậy, có một loại sự xấu, một số ma qủy và cơn cám dỗ chỉ có thể trừ khử được nhờ cầu nguyện mà thôi. Mọi “dụng cụ” khác đều vô hiệu. Chỉ còn cầu nguyện và ăn chay. Lạy Mẹ Maria, lời cầu nguyện của Mẹ trên đồi Gôngôta là một trải nghiệm của sức mạnh, không phải của yếu đuối. Nó là bằng chứng cho thấy lòng thương xót không bao giờ, trong bất cứ hoàn cảnh nào, lại bất lực cả! Như thế, khi một ai khác đầu hàng, lòng thương xót sẽ dùng khí giới mạnh mẽ là cầu nguyện.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con chúc tụng và ngợi khen Chúa vì những người không ngừng nghỉ trong cuộc chiến đấu thương xót vì người khác, cho dù mọi người khác đã buông tay. Chúng con cảm tạ Chúa vì những người, hoàn toàn tin tưởng vào Chúa, vẫn cầu nguyện cho những người đã chết, một cách thảm hại và bất ngờ, vì sự cứng đầu, nổi loạn và từ khước trở lại của họ. Vì những người, nhờ kiên trì cầu nguyện, tiếp tục đồng hành với những ai không muốn làm bạn, cứ bơi lội trong sự ác, yếu đuối đến tận cùng hoặc không nhìn thấy sự ác họ đang làm. Chúng con cám ơn Chúa vì những người, qua việc cầu nguyện và ăn chay, luôn nâng đỡ những người bệnh thập tử nhất sinh, những người hấp hối và những ai đang than khóc người thân của mình. Chúng con cám ơn Chúa vì những người tiếp tục cầu nguyện cho hòa bình một cách đầy hy vọng và kiên tâm khi không còn ai khác quan tâm nữa. Chúng con cầu xin Chúa đốt lên trong chúng con đặc sủng thương xót biết cầu nguyện cho người sống và người chết. Amen. Lạy Mẹ của lòng thương xót, xin Mẹ cầu cho chúng con.

Chặng thứ mười bốn: Táng xác Chúa Giêsu – Chôn xác kẻ chết

Xướng: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô

Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Trích Sách Tôbia:

Tôi là Tô-bít… cơm bánh của tôi, tôi cho người đói khát; quần áo của tôi, tôi cho kẻ trần truồng; nếu thấy ai trong số đồng bào tôi chết và bị quăng thây ra phía sau tường thành Ni-ni-vê, thì tôi chôn cất người đó. Một người dân thành Ni-ni-vê tố giác với vua rằng chính tôi là người chôn cất họ, nên tôi lẩn tránh… Thế là bao nhiêu của cải tôi có đều bị tịch thu (Tb 1: 3, 17, 19-20).

Phải chăng chôn cất kẻ chết thực sự là một hành vi quan trọng của tình yêu thương xót? Có đáng liều đến thế như ông Tôbia đi chôn cất kẻ chết không? Bị vua giận dữ, bị đe dọa sự sống, giầu có? Chúng ta hiểu đến đâu sự nhậy cảm này, trong một thế giới con số các gia đình không chịu lãnh xác người thân yêu qua đời từ bệnh viện về chôn; nơi các bà mẹ không luôn tới xem thân thể đứa con sơ sinh chết lúc mới sinh; và nơi, thân thể những đứa con trục thai bị đơn giản liệng vào đống rác? Lạy Chúa Giêsu, chúng con muốn giúp Chúa tạo ra một thế giới khác. Do đó, chúng con chúc tụng Chúa vì Ông Giuse Arimatêa, người muốn làm Tôbia cho Chúa. Và cho các Tôbia ngày nay. Chúng con chúc tụng Chúa vì những người chăm lo việc chôn cất những người không nhà. Vì những người giúp người nghèo và người neo đơn chôn cất người thân yêu của họ. Vì những người chăm sóc các huyệt mộ bị bỏ quên của những người vô danh. Những người chăm sóc các huyệt mộ của kẻ thù: binh sĩ của quân đội thù địch, thành viên các nhóm thiểu số sắc tộc hay quốc gia. Ước chi Chúa được chúc tụng vì những người chăm sóc các nghĩa địa lớn nhất trên thế giới và duy trì ký ức của các nơi như Auschwitz, Birkenau, Dachau hay Buchenwald. Xin Chúa che chở chúng con khỏi lãng quên hành vi yêu thương này. Xin Chúa thúc giục chúng con, để chúng con không bao giờ quên lãng việc chôn cất người thân yêu của chúng con. Để không bằng hữu nào của chúng con bị bỏ rơi khi than khóc kẻ thân yêu đã chết của họ. Xin để chúng con tưởng nhớ người chết bằng lời cầu nguyện riêng và bằng phụng vụ, và bằng việc thăm viếng các nghĩa trang. Amen. Xin giúp chúng con biết kính trọng sự chết! Nó là cửa đưa vào sự sống!

Trong diễn từ với các bạn trẻ, Đức Thánh Cha Phanxicô nói:

[Video: Papa Francesco GMG 2016 Bellissimo Discorso Via Crucis .HD.mp4]

Ta đói và các con cho Ta ăn, Ta khát và các con cho Ta uống, Ta là khách lạ và các con tiếp đón Ta, Ta trần truồng và các con cho Ta mặc, Ta bệnh hoạn và các con săn sóc Ta, Ta ở tù và các con thăm viếng Ta (Mt 25:35-36).

Những lời trên của Chúa Giêsu đã trả lời câu hỏi thường được đặt ra trong tâm trí chúng ta: “Thiên Chúa ở đâu?” Thiên Chúa ở đâu, nếu sự ác hiện diện trong thế giới chúng ta, nếu có những người đàn ông đàn bà đói và khát, không nhà, biệt xứ và tỵ nạn? Thiên Chúa ở đâu khi những người vô tội chết vì bạo lực, khủng bố và chiến tranh? Thiên Chúa ở đâu, khi những chứng bệnh tàn ác phá vỡ các dây liên kết sự sống và tình âu yếm? Hay khi các trẻ em bị bóc lột và hạ nhân phẩm, và các em còn bị các chứng bệnh hiểm nghèo nữa? Thiên Chúa ở đâu, giữa những khổ não của những người hoài nghi và khủng hoảng tinh thần? Đây là những câu hỏi hiện chưa có câu trả lời nếu xét về phương diện con người. Ta chỉ có thể nhìn lên Chúa Giêsu và hỏi Người thôi. Và câu trả lời của Chúa Giêsu là: “Thiên Chúa ở trong tất cả những người trên”. Chúa Giêsu ở trong họ; Người đau khổ ở trong họ và đồng hóa với mỗi người trong họ một cách thâm sâu. Người kết hợp chặt chẽ với họ đến nỗi đã cùng họ tạo nên “một thân xác”, có thể nói như thế.

Chính Chúa Giêsu tự chọn đồng hóa với các anh chị em nói trên của chúng ta, chịu đau đớn và khổ não bằng cách đồng ý bước lên “con đường sầu khổ” dẫn tới Canvariô. Qua việc chết trên thánh giá, Người phó mình trong tay Chúa Cha, nhận cho mình và trong mình, một cách yêu thương tự hiến, các thương tích thể lý, tinh thần và tâm linh của toàn thể nhân loại. Qua việc tiếp nhận cây thánh giá, Chúa Giêsu đã tiếp nhận sự trần truồng, đói khát, cô đơn, đau đớn và chết chóc của con người nam nữ mọi thời. Đêm nay, Chúa Giêsu, và với Người có chúng ta, ôm hôn, bằng một tình yêu đặc biệt, các anh chị em của chúng ta từ Syria chạy trốn chiến tranh. Chúng ta chào mừng họ và nghinh đón họ bằng một tình âu yếm và bằng hữu huynh đệ.

Nhờ theo chân Chúa Giêsu trên Đàng Thánh Giá, một lần nữa, chúng ta hiểu ra sự quan trọng của việc noi gương Người qua 14 việc thương xót. Những việc này giúp chúng ta mở lòng ra đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa, khẩn cầu ơn thánh để biết lượng định rằng không có lòng thương xót, chúng ta không thể làm được gì; không có lòng thương xót, cả cha lẫn các con cũng như bất cứ ai trong chúng ta, có thể làm gì được. Trước nhất, chúng ta hãy xem xét 7 việc thương người về phần xác: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách đỗ nhà, viếng kể liệt lào cùng kẻ tù rạc, và chôn xác kẻ chết. Chúng ta đã nhận được nhưng không, thì hãy nhưng không cho đi. Chúng ta được kêu gọi phụng sự Chúa Giêsu chịu đóng đinh trong mọi người bị hắt hủi, đụng đến thân xác thánh thiêng của Người trong những người kém thế, trong những người đói khát, trần truồng và bị giam cầm, trong người bệnh và thất nghiệp, trong những ai đang bị bách hại, trong các người tị nạn và di dân. Ở đấy, chúng ta tìm ra Thiên Chúa của chúng ta; ở đấy, chúng ta sờ thấy Chúa. Chính Chúa Giêsu nói cho ta biết điều đó khi Người giải thích tiêu chuẩn theo đó chúng ta sẽ bị phán xét: bất cứ khi nào chúng ta làm những điều ấy với một người bé nhỏ nhất trong các anh chị em của chúng ta, là chúng ta làm cho Người (xem Mt 25:31-46).

Sau các việc thương người về phần xác là các việc thương người về phần hồn: lấy lời lành mà khuyên người, mở dạy kẻ mê muội, răn bảo kẻ có tội, yên ủi kẻ âu lo, tha kẻ dể ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết. Trong việc tiếp đón những người bị ruồng bỏ phải chịu đau khổ về thể lý và những người tội lỗi phải chịu đau khổ về tâm linh, tính khả tín làm Kitô hữu của chúng ta đang lâm nguy.

Nhân loại ngày nay cần những người đàn ông và đàn bà, nhất là những người trẻ như các con, những người không muốn sống cuộc sống mình một cách “nửa đường”, những người trẻ sẵn sàng tự hiến đời mình để phục vụ các anh chị em nghèo nhất và yếu thế nhất, noi gương Chúa Kitô, Đấng đã hiến mình hoàn toàn để cứu chuộc chúng ta. Đứng trước sự ác, đau khổ và tội lỗi, đáp ứng duy nhất có thể có đối với một môn đệ Chúa Giêsu là tự hiến, thậm chí hiến mạng sống mình, noi gương Chúa Kitô; đây là thái độ phục vụ. Những người tự gọi là Kitô hữu nếu không sống để phục vụ, thì đời họ không phục vụ bất cứ mục đích tốt lành nào. Với lối sống ấy, họ bác bỏ chính Chúa Giêsu Kitô.

Các con thân yêu, tối nay, một lần nữa, Chúa yêu cầu các con hãy lên tuyến đầu để phục vụ người khác. Người muốn biến các con thành đáp ứng cụ thể cho các nhu cầu và đau khổ của nhân loại. Người muốn các con thành các dấu chỉ của tình yêu thương xót của Người đối với thời nay! Để giúp các con khả năng thi hành sứ mệnh này, Người chỉ cho các con con đường cam kết bản thân và tự hy sinh. Đó là Đàng Thánh Giá. Đàng Thánh Giá là đường trung tín bước chân theo Chúa Giêsu cho đến cùng, trong các tình huống thường thường bi thảm của đời sống hàng ngày. Đây là một con đường không sợ thiếu thành công, tẩy chay hay cô đơn, vì nó đổ đầy tim ta bằng sự viên mãn của Chúa Giêsu. Đàng Thánh Giá là đường sống của chính Thiên Chúa, là “phong thái” của Người, phong thái được Chúa Giêsu mang tới cho cả những đường hẻm của một xã hội hay bị chia rẽ, bất công và thối nát.

Đàng Thánh Giá, một mình nó, đủ đánh bại tội lỗi, sự ác và sự chết, vì nó dẫn tới ánh sáng Phục Sinh rạng ngời của Chúa Kitô và mở ra nhiều chân trời sống mới mẻ và trọn vẹn hơn. Nó là đường hy vọng, là đường tương lai. Những ai quảng đại và tin tưởng bước theo đường này sẽ mang lại hy vọng và tương lai cho nhân loại.

Các người trẻ thân yêu, vào Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh ấy, nhiều môn đệ tiu nghỉu trở về nhà họ. Nhiều môn đệ khác quyết định đi về vùng quê để quên đi cây thập giá. Cha hỏi các con: tối nay, các con muốn trở về nhà, về những nơi các con đang trú ngụ, với dáng vẻ nào? Tối nay, các con muốn trở về nhà để được một mình đối diện với các ý nghĩ của các con ra sao? Mỗi người các con phải trả lời cho thách thức mà câu hỏi này đặt ra cho các con.

Chương trình của chúng tôi đến đây là hết.

Xin quý vị và anh chị em giúp phổ biến rộng rãi chương trình này đến với gia đình, thân quyến và bạn bè xa gần như một cách thức để truyền giáo.

Mọi ý kiến đóng góp xin gởi về địa chỉ tv@vietcatholic.net

Xin cám ơn và hẹn gặp lại quý vị và anh chị em trong lần phát hình tới.

Laudetur Iesus Christus

Ngợi khen Chúa Giêsu Kitô

44. Tưòng thuật ngày chứ ba chuyến công du của ĐTC bên Ba Lan

ĐTC khích lệ các bjan trẻ trở thành những ngưởi gieo vãi niềm hy vọng

PopeFrancis-29Jul2016-11.jpg

Thứ sáu 29 tháng 7 hôm qua là ngày thứ ba ĐTC Phanxicô viếng thăm mục vụ Ba Lan nhân Ngày Quốc Tế Giới Trẻ lần thứ 31 tại Cracovia. ĐTC đã có bốn sinh hoạt chính: viếng thăm hai trại tập trung đức quốc xã  là Auschwitz và Birkenau, nhà thương nhi đồng Prokocim, và vào ban chiều chủ sự buổi đi đàng Thánh Giá với giới trẻ tại bãi đất trống “Blonia (đọc là Buonie). Sau đây là chi tiết các sinh hoạt của ĐTC.

Lúc 7 giờ sáng ĐTC đã dâng thánh lễ riêng trong nhà nguyện toà Tổng Giám Mục Cracovia. Sau đó vào lúc 8 giờ 15 ngài đi xe đến phi trường Balice cách đó 16 cây số để lấy trực thăng quân sự bay đến Oswiecim cách đó 30 cây số. Máy bay đã tới nơi sau nửa giờ bay.

Đón tiếp ĐTC có ĐC Roman Pindel, GM Bielsko Zywiec, và ông thị trưởng thành phố. ĐHY Kurt Koch, Chủ tịch Hội Đồng Toà Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô, cũng theo đoàn tuỳ tùng trong cuộc viếng thăm này.

Oswiecim là một trong những thành phố lâu đài cổ xưa nhất Ba Lan, nằm gần sông Sola, có gốc gác hồi thế kỷ XII, và có biểu tượng là lâu đài trên đồi, ngày này là một viện bảo tàng. Lịch sử của thành phố này bị ghi dấu bởi các biến cố thê thảm của Đệ Nhị Thế Chiến. Tại đây quân đức quốc xã đã xây dựng trại tàn sát lớn nhất trong lịch sử nhân loại: đó là trại tập trung Auschwwitz Birkenau, nơi có hơn một triệu một trăm ngàn người bị giết trong các năm 1940-1945. Ngày nay thành phố có hơn 40 ngàn dân cư, là trung tâm của nhiều sáng kiến hoà bình và nơi gặp gỡ của con người thuộc nhiều quốc tịch và tôn giáo khác nhau. Năm 1998 Liên Hiệp Quốc đã tặng nó tước hiệu “Sứ giả hoà bình”. Giáo phận Bielsko-Zywiec là một trong bốn giáo phận thuộc tổng giáo phận  Cracovia, có hơn 800 ngàn dân cư, 90% theo Công Giáo và 80 ngàn theo các tôn giáo khác. Giáo phận gồm 210 giáo xứ với 525 linh mục triều, 121 linh muc dòng, 136 tu huynh, 450 nữ tu và 69 đại chủng sinh. Giáo phận điều khiển 32 học viện giáo dục và 11 trung tâm bác ái.

Lúc 9 giờ 20 phút ĐTC đi xe đến viện bảo tàng Auschwwitz cách đó 700 mét.

PopeFrancis-29Jul2016-29.jpg

** Ngược dòng lịch sử ngày mùng 1 tháng 9 năm 1939 quân đức quốc xã xâm lăng Ba Lan và đổi tên Oswiecim thành Auschwitz, và thành lập trại tâp trung gần thành phố. Mười bẩy ngày sau hồng quân Liên Xô tiến chiếm nửa còn lại của Ba Lan. Trại tập trung hoạt động từ ngày 14 tháng 6 năm 1940 đến ngày 27 tháng giêng năm 1945 và gồm ba phần: Auschwwitz I có các dẫy nhà bằng gỗ cũ kỹ, Birkenau hay Auschwwitz II và khoảng 40 trại phụ thuộc gần các nhà máy và các nông trại của Đức. Trong thời gian đầu quân đức quốc xã tàn sát 150.000 tù nhân chính trị gồm các thành phần ưu tú của xã hội Ba Lan. Với thời gian họ cũng bắt đầu gửi vào trại các tù nhân thuộc các nước khác  và từ mùa xuân năm 1942 quân đức quốc xã bắt đầu tàn sát hàng loạt người Do thái. Chính tại đây đã có hơn 1 triệu người Do thái bị giết, 23 ngàn người Rom, 15 ngàn tù nhân chiến tranh liên xô và hàng ngàn người thuộc các quốc tịch khác. Trong số các vị tử đạo tại Auschwitz có cha Massimiliano Maria Kolbe và thánh nữ Teresa Benedetta Thánh Giá Edith Stein, gốc do thái.

Ngày giải phóng trại tập trung Suschwitz 27 tháng giêng được Liên Hiệp  Quốc tuyên bố là Ngày Quốc Tế tưởng niệm các nạn nhân cuộc diệt chủng. Ngày 27 tháng 7 năm 1947 chính quyền Ba Lan quyết định duy trì khu vực của trại tập trung và thành lập viện bảo tàng quốc gia Auschwwitz-Birkenau trên một vùng rộng 191 mẫu. Năm 1979 Liên Hiệp Quốc đưa nó vào trong danh sách của “Gia tài nhân loại”. Cho đến nay đã có hơn 30 triệu người viếng thăm viện bảo tàng này. Năm 2000 chính quyền Ba Lan đã cho thành lập Uỷ ban quốc tế gồm 22 thành viên thuộc nhiều nước khác nhau để bảo trợ các hoạt động kỷ niệm của khu vực này.

Vài tháng sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, có một nhóm cựu tù binh người Ba Lan bắt đầu phát động việc tưởng niệm các nạn nhân của trại tập trung Auschwitz. Vài người đến khu vực này thành lập một Hội đồng thường trực của trại tập trung Auschwitz và cung cấp sự trợ giúp cho hàng ngàn người hành hương kéo nhau đến đây để tìm dấu vết của các thân nhân, bạn bè bị sát hại, cầu nguyện và tưởng niệm những người đã bị giết tại các nơi này. Viện bảo tàng Auschwitz Birkenau bao gồm các khu vực của trại tập trung Auschwitz I tại Oswiecim và trại tập trung Birkenau Auschwitz II ở Brzezinka và tất cả những nơi khác bao gồm các dụng cụ tàn sát hàng loạt người Do thái và hơn 150 loại cơ cấu gồm các dinh thự và các nhà gỗ  cho tù nhân, nhà tiêu, dinh thự cho các nhân viên hành chánh và người chỉ huy trại tập trung, các nhà cho mật vụ đức quốc xã, bàn giấy ghi danh các tù nhân mới tới, các tháp canh, cổng trại tập trung, vài cây số hàng rào kẽm gai, các con đường bên trong trại và đường rầy xe lửa. Viện bảo tàng cũng bao gồm những hố chôn tập thể vài trăm tù nhân bị giết trước khi hồng quân liên xô vào trại tập trung, hay chết sau khi trại được giải phóng. Nghĩa là tất cả những chứng tích và các vật dụng tội phạm của Đức Quốc Xã, tiếp tục nghiên một cách khoa học các dấu tích ấy để trình bầy cho công chúng  kết qủa các nghiên cứu này. Nhưng trước hết trại tập trung Auschwitz Birkenau là một nghĩa trang  và một nơi tưởng niệm, một đài tưởng niệm, một trung tâm giáo dục và tìm hiểu tình trạng của những người đã bị sát hại tại đây. Từ khi được thành lập đã có hơn 30 triệu người thuộc hơn 100 quốc gia đến viếng thăm viện bảo tàng. Nơi tưởng niệm cũng bao gồm các sưu tầm lịch sử, văn khố và bộ sưu tập lớn nhất thế giới các tác phẩm nghệ thuật dành cho Auschwitz.

** ĐGH Gioan Phaolô II đã viếng thăm Auschwitz trong chuyến công du Ba Lan lần đầu tiên ngày mùng 7 tháng 6 năm 1979 và đã cầu nguyện trong căn phòng để đói, nơi thánh Massimiliano Maria Kolbe đã chết. Trong bài giảng thánh lễ cử hành bên ngoài trại tập trung hồi đó Đức Gioan Phaolô II đã nói: “Tôi không thể không đến đây như Giáo Hoàng…Tôi đến một lần nữa để nhìn vào mắt lý do của con người, cùng với anh chị em, một cách độc lập với niềm tin của anh chị em. Đặc biệt tôi cùng anh chị em, hỡi những người thân mến tham dự vào cuộc  gặp gỡ này, dừng lại trước tấm bia khắc tiếng Do thái. Bản khắc này gợi lên ký ức của dân tộc mà con cái bị chỉ định cho sự tiêu diệt hoàn toàn. Trước tấm bia này không ai được phép đi qua với sự thờ ơ. Auschwitz là một tính sổ với lương tâm nhân loại qua các bia khắc làm chứng cho các nạn nhân của các dân tộc, mà người ta không chỉ viếng thăm, mà cũng cần suy nghĩ với sự sợ hãi; suy nghĩ tới điều này là một trong các ranh giới của thù hận. Auschwitz là một chứng tá của chiến tranh. Chiến tranh đem theo mình một gia tăng không cân xứng của thù hận, huỷ hoại và tàn ác”.

Ngày 28 tháng 5 năm 2006 ĐTC Biển Đức XVI cũng đã viếng thăm trại tập trung Auschwitz Birkenau vào cuối chuyến tông du Ba Lan. Phát biểu trong dịp này ngài nói: “Lên tiếng tại nơi của sự kinh hoàng, của tội phạm chồng chất chống lại Thiên Chúa và chống lại con người, chưa từng thấy trong lịch sử, hầu như là điều không thể làm được. Và nó đặc biệt khó khăn và đè nén đối với một kitô hữu, một Giáo Hoàng đến từ nước Đức. Trong một nơi như nơi này các lời nói giảm đi, nói cho cùng chỉ còn có một sự thinh lặng kinh hoàng – một sự thinh lặng là một tiếng kêu nội tâm lên Thiên Chúa: Lậy Chúa, tại sao Ngài lại thinh lặng? Tại sao Ngài lại đã có thể khoan nhượng với tất cả điều này? Chính trong thái độ thinh lặng này mà chúng ta cúi đầu sâu thẳm trong thầm kín trước hàng hàng lớp lớp những người đã khổ đau và bị giết: tuy nhiên, sự thinh lặng này sau đó lớn tiếng trở thành lời xin tha lỗi, hòa giải, một tiếng kêu lên Thiên Chúa hằng sống xin đừng bao giờ cho phép một điều như vậy xảy ra nữa. Đức Gioan Phaolô II đã đến đây như là người con của dân tộc bên cạnh dân tộc Do thái đã phải khổ đau hơn tại nơi này, nói chung, trong thời chiến tranh… Hôm nay tôi đến đây như người con của dân tộc Đức, và chính vì thế tôi phải và có thể nói như ngài: Tôi đã không thể không tới. Tôi đã phải tới. Nó đã và đang là một bổn phận trước sự thật và quyền lợi của những người đã khổ đau, một bổn phận trước mặt Thiên Chúa”.

** Cuộc viếng thăm đã bắt đầu lúc 9 giờ rưỡi. Xe chở ĐTC đã dừng bên ngoài cổng chính của trại tập trung bên trên có hàng chữ “Lao động khiến tự do”. ĐTC đã được ông giám đốc Viện bảo tàng tiếp đón. Ngài đi bộ vào bên trong, rồi lên chiếc xe nhỏ  chạy bằng điện để đến Khu số 11. Khi đến sân Gọi, tên là sân nhỏ nơi mật vụ đức quốc treo cổ các tù nhân, ĐTC đã dừng lại cầu nguyện rồi hôn cây cột gỗ. Đây là nơi cha Massimiliano Kolbe đã hy sinh nhận chết thế cho một người cha gia đình. Bà Thủ tướng Beata Maria Szydlo đã đón tiếp ĐTC trước cửa vào khu 11. Ngài đã gặp 11 nạn nhân sống sót của trại tập trung, ôm hôn và nói chuyện với từng người. Người cuối cùng trao cho ngài một cây nến. ĐTC đã cầm cây nến thắp ngọn đèn dầu ngài tặng cho  trại tập trung và thinh lặng cầu nguyện trước bức tường nơi quân đức quốc xã đã xử bắn hàng ngàn tù nhân trong hai năm, bằng cách bắn vào đầu họ rồi lôi xác vào lò hoả thiêu, từ mùa thu năm 1941 đến mùa thu năm 1943. Sau đó các vụ xử bắn được chuyển qua trại tập trung Birkenau. Bức tường này đã bị phá nhưng năm 1946 các cựu tù binh của trại đã xây lại.

Sau khi tưởng niệm các nạn nhân đã bị xử bắn tại đây, ĐTC vào thăm căn phòng nơi cha Massimilano Kolbe bị bỏ chết đói. Hình phạt bỏ đói được quân đức quốc xã dùng trong thời gian ban đầu. Các tù nhân được chọn trong nhóm có một người tù bỏ trốn, bị bỏ chết đói trong các phòng bên duới lòng đất. Cha Kolbe đã chết đói trong phòng số 18.  ĐTC được cha Bề trên tổng quyền và cha bề trên tỉnh dòng Phanxicô viện tu hèn mọn tiếp đón, rồi ngài xuống các phòng bỏ đói thăm căn phòng nơi cha Kolbe qua đời. Ngài đã vào ngồi trên ghế và thinh lặng cầu nguyện một lúc lâu. Hiện nay có một bản khắc kỷ niệm cái chết hy sinh của ngài, bên cạnh có một cây nến do Đức Gioan Phaolô II để lại. Trước khi rời khu nhà số 11 ĐTC đã ký tên vào sổ lưu niệm. Ngài viết bằng tiếng Tây Ban Nha: “Lậy Chúa xin thuơng xót dân Ngài, Lậy Chúa xin tha thứ cho biết bao tàn ác”. Tiếp đến ĐTC đi xe sang thăm trại tập trung Birkenau cách đó 3 cây số. Trại  tập trung này rộng 175 mẫu và là trại tập trung lớn nhất cũng gọi là Auschwitz II. Nó được quân đức quốc xã bắt đầu xây năm 1941 trong làng Brzezinka. Dân làng bị đuổi đi nơi khác và nhà cửa của họ bị tàn phá để lấy chỗ cho trại tập trung. Tại Birkenau quân đức quốc xã đã xây dựng các hệ thống tiêu diệt tinh vi nhất gồm 4 lò hoả thiêu với các phòng hơi ngạt, 2 phòng hơi ngạt tạm thời trong nhà của dân. Có khoảng 300 dẫy nhà bằng gỗ và gạch làm nơi ở cho các tù nhân bị trưng dụng cho lao động và để cho chết dần chết mòn. Vào tháng 8 năm 1944 số tù nhân tại Birkenau lên tới 100.000 người. Tưởng cũng nên biết rằng trong thời đệ nhị thế chiến đã có 1.000 linh mục Ba Lan cứu sống người Do thái. Các nữ tu đã cho người Do thái tá túc trong 300 tu viện và cơ cấu khác nhau trên toàn nước Ba Lan. Hồi năm 1939 số linh mục tu sĩ Ba Lan là 18.000. Hàng giáo sĩ bị quân đức quốc xã bách hại một cách có hệ thống, khiến cho 4.000 vị và 6 Giám Mục đã bị nhốt trong các trại tập trung, và ít nhất có 2.800 vị đã chết.

** Trước đài tưởng niệm các nạn nhân có 1.000 người gồm thân nhân của các nạn nhân và một số các tù nhân còn sống sót chờ ĐTC. Đài tưởng niệm này đã được khánh thành năm 1967 giữa lò hoả thiêu số II và số III. Có 426 dự án đã được đề ra. Dự án vĩnh viễn đã do các kiến trúc sư Ba Lan và Italia thực hiện. Toàn đài tưởng niệm gồm nhiều lớp, khiến ta nghĩ tới các hòm chôn người chết và các bia mộ, trong khi yếu tố cao nhất biểu tượng cho ống khói của lò hoả thiêu. Trước đài tưởng niệm có các tấm bia tưởng niệm bằng 23 thứ tiếng khác nhau của các tù nhân. Bảng tưởng niệm viết: “Hãy luôn mãi để nơi này là tiếng thét của tuyệt vọng và là một cảnh cáo cho nhân loại, nơi quân đức quốc xã đã giết chết 1,5 triệu người, phụ nữ, trẻ em, đa số là người Do thái, đến từ các nước Âu châu. Auschwitz Birkenau 1940-1945”.

Sau khi đi bộ qua cổng chính, ĐTC đã lên xe chạy bằng điện tiến vào trại. Ngài đã được bà Thủ tướng và ông giám đốc trại tiếp đón. Một rabbi do thái hát thánh vịnh 130, sau đó ĐTC đã đến trước các tấm bia thinh lặng cầu nguyện rồi thắp lên một ngọn nến. Ngài tiếp tục thăm hết các bia tới tấm bia cuối cùng có tên của 25 người được coi là “Các người công chính của các quốc gia”.

Sau khi thăm đài tưởng niệm ĐTC đã tặng tràng hạt mân côi  cho các nạn nhân sống sót ngồi ở mấy hàng ghế đầu. Tiếp đến ngài đi xe tới sân trực thăng bay  về Balice cách đó 45 cây số, rồi về toà tổng giám mục Cracovia để dùng bữa trưa và nghỉ ngơi trước khi đi thăm nhà thương nhi đồng Prokocim vào ban chiều.

PopeFrancis-29Jul2016-46.jpg

** Đây là nhà thương nhi đồng lớn nhất Ba Lan, do các tu sĩ  Dehoniani điều khiển, hàng năm chữa trị cho khoảng 30.000 trẻ em và khám bênh phát thuốc cho 200.000 em. Việc xây cất nhà thương đã do các người Ba Lan sống bên Hoa Kỳ đề xướng, và được chính quyền Hoa Kỳ tài trợ. Trong 5 thập niên qua nhà thương đã chữa trị cho 900.000 trẻ em. Nhà thương này nổi tiếng vì chuyên giải phẫu tách rời các trẻ em sinh đôi dính vào nhau, chữa phỏng và các thứ bệnh về tim của trẻ em.

Đức Gioan Phaolô II  cũng đã thăm nhà thương ngày 13 tháng 8 năm 1991. Nhà nguyện của nhà thương còn giữ vài thánh tích của ngài. Hàng ngày tại đây đều có thánh lễ cho trẻ em, cha mẹ, các nhân viên y tế và sinh viên y khoa, vì nhà thương cũng là đại học. Mình Thánh Chúa cũng được chầu suốt ngày tại đây.

Lúc 4 giời rưỡi chiều ĐTC đã đi xe díp đến nhà thương cách toà tổng giám mục 9 cây số. Ngài đã được bà thủ tướng và vị giám đốc nhà thương tiếp đón tại sảnh đường. Hiện diện có 50 trẻ em bệnh nhân, cha mẹ các em, các bác sĩ y tá và sinh viên y khoa.

Đáp lời chào của bà thủ tướng ĐTC nói lên lý do ngài đến thăm nhà thương:

Tôi muốn ở gần mỗi trẻ em đau yếu một chút, bên cạnh giường các em, ôm các em vào lòng, từng em một, lắng nghe từng em một, mỗi em một chút, và cùng nhau thinh lặng trước các câu hỏi không có câu trả lời tức khắc. Và cầu nguyện.

Tin Mừng cho chúng ta thấy nhiều lần Chúa Giêsu gặp gỡ các người đau yếu, tiếp đón họ và Ngài cũng sẵn lòng đi tìm họ. Ngài luôn luôn nhận ra họ, nhìn họ như một bà mẹ hiền nhìn đứa con không khoẻ mạnh, và cảm thương họ. Như là các kitô hữu tôi uớc mong biết bao có khả năng gần gũi người bệnh theo kiểu của Chúa Giêsu, trong thinh lặng, với một cái vuốt ve, với lời cầu nguyện. Rất tiếc xã hội của chúng ta bị ô nhiễm bởi nền văn hóa “gạt bỏ” chống lại nền văn hoá tiếp đón. Và các nạn nhân của nền văn hóa gạt bỏ chính là những người yếu đuối nhất, giòn mỏng nhất; và đó là một sự tàn ác. Trái lại, thật là đẹp trông thấy rằng trong nhà thương này các trẻ em bé nhỏ và cần được giúp đỡ được tiếp đón và săn sóc. Nhờ dấu chỉ này của tình yêu mà anh chị em cống hiến cho chúng tôi! Đó là dấu chỉ của nền văn minh đích thực, nhân bản và kitô: đặt để các người bị thiệt thòi nhất vào trung tâm của sự chú ý xã hội chính trị.

Tiếp tục bài phát biểu ĐTC nói:

Đôi khi các gia đình phải một mình lo lắng cho chúng. Phải làm gì đây? Từ nơi này trong đó tôi trông thấy tình yêu cụ thể , tôi muốn nói: chúng ta hãy nhân nhiều lên các công trình của nền văn hóa tiếp đón, các công trình được linh hoạt bởi tình yêu kitô, tình yêu đối với Chúa Giêsu bị đóng đinh, đối với thịt xác của Ngài. Phục vụ với tình yêu thương, dịu hiền những người cần sự giúp đỡ khiến làm cho chúng ta tất cả lớn lên trong nhân bản; và nó mở ra cho chúng ta cuộc sống vĩnh cửu: ai chu toàn các việc lành phúc đức, thì không sợ hãi cái chết.

Tôi khích lệ tất cả những ai đã khiến cho lời mời gọi của Tin Mừng trở thành một lựa chọn cuộc đời: các bác sĩ, y tá, tất cả những ai làm việc trong lãnh vực y khoa cũng như các tuyên uý và các người thiện nguyện. Xin Chúa giúp anh chị em chu toàn công việc của mình, tại đây cũng như tại mọi nhà thương trên toàn thế giới. Và xin Người thưởng công cho anh chị em, bằng cách ban cho anh chị em sự an bình nội tâm và một con tim luôn luôn có khả năng dịu hiền.

Xin cám ơn tất cả mọi người về cuộc gặp gỡ này! Tôi mang anh chị em trong tim và trong lời cầu nguyện. Và xin anh chị em cũng đừng quên cầu nguyện cho tôi.

ĐTC đã tặng nhà thương bức tranh “Trước cửa” của nghệ sĩ Piero Casentini, diễn tả một cảnh trong cuộc đời Chúa Giêsu: thánh Phêrô và các tông đồ đương đầu với người bệnh đi tìm Chúa Giêsu thấp thoáng đàng sau cánh cửa của một căn nhà. Các gương mặt được trình bầy theo rẻ quạt để người nhìn có thể quan sát từng gương mặt một.

ĐTC đã nói chuyện và vuốt ve các trẻ em trong đó nhiều em bị bệnh ung thư, trước khi đi thăm vài khu vực của nhà thương đại học. Tiếp đó ngài lên nhà nguyện và được linh mục tuyên uý Lucjan Szezepaniak tiếp đón. ĐTC viếng Mình Thánh Chúa và quỳ cầu nguyện một lát.

PopeFrancis-29Jul2016-58.jpg

Lúc 17 giờ 30  ĐTC đi xe đến cánh đồng Blonia cách đó 10 cây số để chủ sự buổi đi đàng Thánh Giá với giới trẻ.

Ba giờ trước khi ĐTC tới, hơn 1 triệu bạn trẻ đã tham dự chương trình gặp gỡ gồm các màn trình diễn nhạc cảnh, chiếu phim, chia sẻ các chứng từ, cầu nguyện và hát thánh ca. Các bạn trẻ được xem các phim video nối liền với các cử hành tại nhiều nơi khác liên quan tới lòng thương xót trong thành phố Cracovia.

** Buổi đi đàng Thánh Giá được cử hành bằng 5 thứ tiếng: Ba Lan, Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Ý. Ở mỗi chặng, thánh giá được các bạn trẻ thuộc 14 hiệp hội và phong trào khác nhau vác theo thứ tự gồm: chặng thứ I cộng đồng thánh Egidio; chặng thứ II Hiệp hội trợ giúp các người vô gia cư thánh Alberto Chmielowski; chặng thứ III Tổ chức Trợ giúp các Giáo Hội đau khổ; chặng thứ IV Nhà bà mẹ cô đơn “Cửa sổ của sự sống”; chặng thứ V Cộng đoàn Con tầu; chặng thứ VI Hiệp hội trợ giúp nhau “Con tầu” tái hội nhập các tù nhân, trợ giúp người thất nghiệp và vô gia cư; chặng thứ VII Chương trình “Madalena” của các nữ tu dòng Đức Bà Thương Xót, tức dòng của thánh nữ Faustina Kowalska, gồm nhà tiếp đón các bà mẹ trẻ và các bà mẹ cô đơn; chặng thứ VIII “Trạm ngừng Giêsu” là phong trào rao giảng Tin Mừng cho giới trẻ sống xa Chúa; chặng thứ IX Cộng đoàn “Nhà Tiệc Ly” chuyên giúp tái hội nhập các người nghiện ma tuý; chặng thứ X Hiêp hội trợ giúp của cha thánh Pio giúp đỡ vật chất, tâm lý, tinh thần và tư pháp với hai trung tâm và 7 nhà tại Cracovia; chặng thứ XI các nữ tu Thừa sai bác ái của Mẹ Têrêxa Calcutta; chặng thứ XII Cộng đoàn “Bánh sự sống” chuyên trợ giứp trẻ em, người nghèo và người tàn tật cũng như cấp học bổng cho trẻ em nghèo với 7 nhà cho người già và vô gia cư gồm 1000 người; chặng thứ XIII “Nhà thương tại gia” là phong trào chống tệ nạn mại dâm và các hình thức phổ biến cuộc sống tính dục tháo thứ trong xã hội; chặng thứ XIV “Nhà thánh Ladarô” trợ giúp các bệnh nhân nan y cuối đời.

Mỗi chặng đều có hoạt cảnh minh họa, một đoạn Phúc Âm, và phần suy niệm quy chiếu cuộc sống ngày nay.

Ngỏ lời với các bạn trẻ ĐTC trích lại lời Chúa Giêsu nói trong ngày phán xét: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.” Các lời này của Chúa Giêsu gặp gỡ câu hỏi nhiều lần vang lên trong con tim chúng ta: “Thiên Chúa ở đâu?. Thiên Chúa ở đâu, nếu trong thế giới có sự dữ, nếu có những người đói khát, không nhà cửa, các người di cư tỵ nạn? Thiên Chúa ở đâu, khi các người vô tội chết vì bạo lực, khủng bố và chiến tranh? Thiên Chúa ở đâu khi bệnh tật không thương xót bẻ gẫy các mối dây của sự sống và yêu thương? Hay khi các trẻ em  bị khai thác bóc lột, bị hạ nhục và khổ đau vì các bệnh tật? Thiên Chúa ở đâu trước nỗi âu lo của những người nghi ngờ và các thống khổ của tâm hồn? Có các vấn nạn mà con người không có câu trả lời. Chúng ta chỉ có thể nhìn lên Chúa Giêsu và hỏi Ngài. Và câu trả lời của Chúa Giêsu là đây: “Thiên Chúa ở trong họ” Chúa Giêsu ở trong họ, tự đồng hoá một cách sâu xa với từng người. Ngài kết hiệp với họ như thể làm thành “một thân thể duy nhất” với họ.

** Chính Chúa Giêsu dã lựa chọn tự đồng hóa với các anh chị em này, bị thử thách bởi khổ đau và âu lo, bằng cách chấp nhận bước đi trên con đường khổ nạn tiến lên núi sọ. Khi chết trên thập giá, Ngài phó thác mình trong tay của Thiên Chúa Cha, và vác lên mình và trong mình với tình yêu thương trao ban, các vết thương thể lý, luân lý và tinh thần của toàn nhân loại. Khi ôm lấy gỗ của thập giá, Chúa Giêsu ôm lấy sự trần trụi, đói khát và cô đơn, khổ đau và cái chết của con người thuộc mọi thời đại. Chiều hôm nay, Chúa Giêsu, và chúng ta cùng với Ngài, ôm lấy với tình yêu đặc biệt các anh chị em Siri, trốn chạy chiến tranh. Chúng ta chào đón họ và tiếp nhận họ với tình yêu thương huynh đệ và thiện cảm.

Khi bước đi trở lại Con đường Thập giá của Chúa Giêsu, chúng ta tái khám phá ra tầm quan trọng của việc tự đồng hóa với Ngài, qua 14 việc làm của lòng thương xót. Chúng giúp chúng ta rộng mở cho lòng xót thương của Thiên Chúa, xin ơn hiểu rằng không có lòng thương xót con người không thể làm được gì, không có lòng thương xót bạn, tôi, chúng ta tất cả không thể làm được gì hết. Trước hết chúng ta hãy nhìn vào 7 công việc thương xót thân xác: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho người trần trụi áo quần để mặc, cho khách hành hương đỗ nhà, thăm viếng kẻ yếu đau, người tù tội, chôn xác kẻ chết. Chúng ta đã nhận được một cách nhưng không, chúng ta hãy cho đi một cách nhưng không. Chúng ta được mời gọi phục vụ Chúa Giêsu bị đóng đinh trong mọi người  bị gạt bỏ ngoài lề xã hội, sờ mó thịt xác của Ngài được chúc phúc nơi người bị loại trừ, đói khát, trần truồng, bị tù đầy, đau yếu, thất nghiệp, bị bách hại, di cư tỵ nạn. Ở đó chúng ta tìm thấy Thiên  Chúa của chúng ta, chúng ta đụng chạm tới Chúa. Chính Chúa Giêsu đã nói điều này, khi giải thích đâu sẽ là cung cách dựa trên đó chúng ta sẽ bị phán xử: mỗi lần chúng ta đã làm điều này cho các anh em bé nhỏ nhất của Ngài là chúng ta đã làm cho chính Ngài (x. Mt 25,31-46).

Tiếp tục bài giảng ĐTC nói: Thêm vào các việc thương xót phần xác là các việc thương xót tinh thần: cố vấn cho người nghi hoặc, dậy dỗ kẻ dốt nát, cảnh cáo người tội lỗi, an ủi kẻ ưu phiền, tha thứ các xúc phạm, kiên nhẫn chịu đựng các người sách nhiễu, cầu nguyện với Thiên Chúa cho kẻ sống và kẻ chết. Tính cách đáng tin cậy của chúng ta như là kitô hữu là ở nơi việc tiếp đón người bị gạt bỏ ngoài lề xã hội bị thương tích trên thân xác, và ở nơi việc tiếp đón kẻ có tội bị thương tích trong tâm hồn.

** Ngày nay nhân loại cần đến những người nam nữ, và một cách đặc biệt người trẻ như các bạn, những người không muốn sống cuộc đời mình “một nửa”, những người trẻ sẵn sàng tiêu hao cuộc đời trong việc phục vụ các anh chị em nghèo túng và yếu đuối nhất, noi gương Chúa Kitô , là Đấng đã trao ban tất cả chính mình cho sự cứu rỗi của chúng ta. Truớc sự dữ , khổ đau và tội lỗi, câu trả lời duy nhất có thể có đối với người môn đệ Chúa Giêsu là trao ban chính mình, cả cuộc sống, theo gương Chúa Kitô; đó là thái độ phục vụ. Nếu một người nói mình là kitô hữu – mà không sống để phục vụ, thì không ích lợi để sống. Với cuộc sống của mình họ khước từ Chúa Giêsu.

Các bạn trẻ thân mến, chiều nay Chúa canh tân lời mời gọi các bạn trở thành các tác nhân trong việc phục vụ; Ngài muốn làm cho các bạn trở thành một câu trả lời cụ thể cho các nhu cầu và các khổ đau của nhân loại; Ngài muốn rằng các bạn là một dấu chỉ tình yêu thương xót của Ngài cho thời đại chúng ta! Để chu toàn sứ mệnh này Ngài chỉ cho các bạn con đường dấn thân cá nhân và hy sinh chính mình: đó là Con đường thập giá. Con đường thập giá là con đường của hạnh phúc theo Chúa Kitô cho tới cùng, trong các hoàn cảnh thường khi thê thảm của cuộc sống thường ngày; đó là con đường không sợ hãi các thất bại, các gạt bỏ ngoài lề, hay các cô đơn, bởi vì nó làm tràn đầy trái tim con người với sự tràn đầy của Chúa Giêsu. Con đường thập giá là con đường  của cuộc sống và kiểu của Thiên  Chúa, mà Chúa Giêsu đã đi, cả qua các lối đi của một xã hội đôi khi chia rẽ, bất công và thối nát.

Con đường thập giá là con đường duy nhất đánh bại tội lỗi, sự dữ và cái chết, bởi vì nó đổ vào ánh sáng rạng ngời của sự sống lại, bằng cách mở ra các chân trời của cuộc sống mới tràn đầy. Đó là Con đường của niềm hy vọng và của tương lai. Ai buớc đi trên nó với lòng quảng đại và niềm tin, thì trao ban hy gọng và tương lại cho nhân loại. Tôi muốn các bạn trở thành những người gieo vãi hy vọng.

Các ban trẻ thân mến, trong Ngày Thứ Sáu ấy nhiều môn đệ đã buồn bã trở về nhà họ, những người khác thì thích về căn nhà ở đồng quê để quên đi thập giá. Tôi xin hỏi các bạn: chiều nay các bạn muốn trở về nhà mình, về chỗ mình trọ như thế nào? Chiều nay các bạn muốn trở về để gặp gỡ chính mình như thế nào? Mỗi người hãy tự trả lời trong tim cho thách đố của câu hỏi này.”

Sau khi ban phép lành toà thánh cho các bạn trẻ ĐTC lên xe trở về toà Tổng Giám Mục cách đó 2 cây số, để dùng bữa tối và nghỉ đêm kết thúc ngày thứ ba chuyến viếng thăm mục vụ Ba Lan.

Thứ bẩy hôm nay ĐTC sẽ kính viếng đền thánh Lòng Thương Xót Chúa tại Lagiewniki, ban bí tích Hoà giải cho vài bạn trẻ, rổi cử hành thánh lễ với các linih mục tu sĩ nam nữ và chủng sinh gần đền thánh Gioan Phaolô II. Vào ban chiều ngài sẽ cũng 5 bạn trẻ bước qua Cửa Thánh và chủ sự buổi canh thức cầu nguyện với thánh Gioan Phaolô II tại “Cánh đồng thương xót” bên ngoài thành phố Cracovia. Chúng tôi sẽ tường thuật các biến cố này trong các buổi phát ngày mai.

PopeFrancis-29Jul2016-12.jpgPopeFrancis-29Jul2016-13.jpgPopeFrancis-29Jul2016-14.jpgPopeFrancis-29Jul2016-15.jpgPopeFrancis-29Jul2016-16.jpgPopeFrancis-29Jul2016-26.jpgPopeFrancis-29Jul2016-27.jpgPopeFrancis-29Jul2016-28.jpgPopeFrancis-29Jul2016-31.jpgPopeFrancis-29Jul2016-34.jpgPopeFrancis-29Jul2016-35.jpgPopeFrancis-29Jul2016-36.jpgPopeFrancis-29Jul2016-37.jpgPopeFrancis-29Jul2016-38.jpgPopeFrancis-29Jul2016-47.jpgPopeFrancis-29Jul2016-48.jpgPopeFrancis-29Jul2016-41.jpgPopeFrancis-29Jul2016-43.jpgPopeFrancis-29Jul2016-56.jpgPopeFrancis-29Jul2016-59.jpg

Linh Tiến Khải – Đài Vatican

Chia sẻ và bình luận

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *