TRANG CHỦ / TÀI LIỆU / HỎI - ĐÁP / Cuộc ly khai của Giáo Hội Tin Lành hay Giáo Hội Cải Cách và HĐGM Đức và vấn để rước lễ của người phối ngẫu tin lành

Cuộc ly khai của Giáo Hội Tin Lành hay Giáo Hội Cải Cách và HĐGM Đức và vấn để rước lễ của người phối ngẫu tin lành

Trong lịch sử Kitô giáo, ngoài các vụ chia rẽ có ngày từ hồi thế kỷ thứ IV cuộc ly khai lớn nhất đầu tiên xảy ra ngày 16 tháng 7 năm 1054, khi Giáo Hội Tây Phuơng và Giáo Hội Đông Phương ra vạ tuyệt thông cho nhau Tây và biến thành Giáo Hội Công  Giáo và Giáo Hội Chính Thống. Sau đó các biến cố chính trị lịch sử như vụ các  thập tự quân công giáo cuộc viễn chinh lần thứ tư đánh chiếm thành Costantinopoli, cướp bóc và tàn sát các kitô hữu chính thống năm 1204, biến cố Costantinopoli rơi vào tay quân hồi của đế quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ năm 1453 và chế độ cộng sản Liên Xô thống trị Nga từ năm 1917 và các nước Đông Âu từ năm 1944, đã khiến cho Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống ngày càng xa nhau. Phải đợi cho tới sau Công Đồng Chung Vaticăng II tình hình mới được cải tiến với phong  trào đối thoại đại kết.

Cuộc ly khai lớn thứ hai xảy ra hơn bốn thế kỷ sau vào năm 1517 với Phong trào phản đối hay cải cách do Martin  Luther khởi xướng làm nảy sinh ra các Giáo Hội Tin Lành hay Giáo Hội Cải Cách.  Martin Luther là một linh mục dòng Augustino, người Đức, giáo sư tại phân khoa thần học Wittenberg.

Trong các năm từ 1510 tới 1520 Martin Luther dậy Thánh Kinh: các Thánh Vịnh, các thư gửi thánh Phaolô các giáo đoàn Do thái, Roma và Galát. Giáo sư xác tín rằng Giáo Hội thối nát trong các đường lối của mình và đã đánh mất đi nhiều chân lý chính của Kitô giáo. Điều quan trọng nhất là việc công chính hóa. Tín hữu chỉ được công chính hóa nhờ đức tin và ơn thánh Chúa ban, chứ không do công nghiệp của mình. Công chính hóa hoàn toàn là công trình của Thiên Chúa. Kitô hữu nhận được sự công chính hoàn toàn từ bên ngoài; sự công chính không chỉ đến từ Chúa Kitô, nhưng là sự công chính của Chúa Kitô được gán cho kitô hữu qua đức tin. Do đó, chỉ có đức tin mới khiến cho tín hữu được trở nên công chính và chu toàn luật lệ. Điểm đầu tiên và chính yếu đó là Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và là Chúa đã chết cho tội lỗi chúng ta, và đã sống lại cho sự công chính hoá của chúng ta (Rm 3,24-25). Chỉ có Ngài là Chiên Con Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian (Ga 1,29) và Thiên  Chúa đã chất lên Ngài tội ác của chúng ta (Is 53,6). Tất cả mọi người đều đã phạm tội và được nên công chính một cách tự do, mà không có các công việc làm và công nghiệp của mình, nhưng bởi ơn thánh Chúa, qua ơn cứu độ nơi Chúa Kitô Giêsu, trong Máu Ngài (Rm 3,23-25). Đây là điều phải tin. Nó không được chiếm hữu hay giật lấy được bởi bất cứ công việc, luật lệ hay công nghiệp nào. Vì thế thật rõ ràng và chắc chắn là chỉ niềm tin này khiến cho chúng ta nên công chính. Việc tái khám phá ra Chúa Kitô và ơn cứu độ của Ngài là điểm đầu tiên trong hai điểm trở thành nền tảng của sự Cải Cách cùng với Thánh Kinh và chỉ có Thánh Kinh. Martin Luther dựa trên điều này để chửi rủa chống lại việc buôn bán ân xá trong Giáo Hội Công Giáo thời đó.

Martin Luther khước từ nhiều giáo huấn và thực hành của Giáo Hội Công Giáo thời Muộn Trung Cổ. Ông tin rằng sự cứu rỗi đời sau là ơn Thiên Chúa ban nhưng không cho tín hữu qua niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, là Đấng cứu loài người khỏi tội lỗi, chứ không do các việc làm hay công nghiệp của con người. Thần học của Martin Luther cũng thách thức quyền bính và chức vụ của Đức Giáo Hoàng, bằng cách khẳng định rằng chỉ có Thánh Kinh là nguồn gốc duy nhất của sự hiểu biết được Thiên Chúa mạc khải. Ông cũng chống lại khuynh hướng duy giáo sĩ, bằng cách khẳng định chức linh mục thánh của tất cả mọi kitô hữu.

Lý cớ cho các phản đối gay gắt của Martin Luther là vụ Johann Tetzel, tu sĩ dòng Đa Minh và là uỷ viên giáo hoàng đặc trách việc ban các ân xá, được gửi sang Đức để bán các ân xá nhằm lấy tiền xây cất đền thờ thánh Phêrô tại Roma. Thần học công giáo Roma tuyên bố rằng đức tin không thôi không thể khiến cho con người được công chính; việc công chính hóa chỉ tuỳ thuộc đức tin tích cực được thể hiện trong tình bác ái và các việc làm tốt. Các lợi ích của việc làm tốt có thể có được bằng cách dâng cúng tiền bạc cho Giáo Hội. Martin Luther không tin tiền bạc có thể giải thoát con người khỏi bị Thiên Chúa trừng phạt vì tội lỗi. Ông đề nghị một cuộc thảo luận về quyền năng và sự vô ích của các ân xá trong Luận thuyết 95 điểm công bố năm 1517. Ngày 31 tháng 10 năm 1517 Luther viết thư cho ĐC Albrecht, Tổng giám mục Mainz và Magdeburg, phản đối việc bán các ân xá, kèm theo một bản “Tranh luận của Martin Luther về quyền lực và hiệu qủa các ân xá”, được biết tới như 95 luận thuyết. Các luận thuyết này không có ý đối đầu với Giáo Hội, nhưng chỉ như là một tranh luận chống lại các thực hành trong Giáo Hội thời đó với giọng điệu tìm hiểu hơn là giáo thuyết. Tuy nhiên, cũng có nhiều luận thuyết có giọng điệu thách thức chẳng hạn luận thuyết 86 hỏi: “Tại sao Đức Giáo Hoàng có của cải giầu sang lớn hơn người giầu nhất là ông Crassus, lại xây vương cung thánh đường thánh Phêrô với tiền của người nghèo thay vì với tiền của chính mình?”.

Martin Luther phản bác câu nói thái quá được gán cho tu sĩ Johann Tetzel: “Vừa khi đồng tiền kêu vang trong hòm quyên, là linh hồn trong luyện ngục nhảy lên thiên đàng”. Ông nhấn mạnh rằng vì chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội, những người yêu sách rằng các ân xá tha mọi hình phạt cho những người mua và ban cho họ ơn cứu rỗi là sai lầm. Kitô hữu không được nới lỏng việc theo Chúa Kitô vì các bảo đảm giả đối ấy.

ĐC Albrecht đã không trả lời thư  chứa đựng 95 luận thuyết của Martin Luther, nhưng duyệt xét và coi chúng là lạc giáo, rồi vào tháng 12 năm 1517 gửi chúng về Roma. Lý do là vì ĐC cần tiền từ việc bán ân xá để thanh toán cho xong việc Đức Giáo Hoàng cho phép Ngài chiếm hưởng lợi tức của hơn một giáo phận. Đức Giáo Hoàng cũng nhúng tay vào vụ này, vì phân nửa số tiền bán ân xá được gửi về xây đền thờ thánh Phêrô.

Chưa tới tháng giêng năm 1518 bạn hữu của Luther đã dịch 95 luận thuyết ra tiếng Đức, cho in và phân phát khắp nơi khiến cho cuộc tranh luận trở thành nổi tiếng hàng đầu thời đó. Chỉ trong vòng hai tuần tài liệu được phổ biến khắp nước Đức, và trong vòng hai tháng nó đã lan sang toàn Âu châu, tới Pháp, Anh và Italia đầu năm 1519. Các sinh viên tuốn đến Wittenberg để nghe Luther giảng dậy. Luther cho in cuốn chú giải thư gửi giáo đoàn Galát, và Các Thánh Vinh. Và năm 1520 cho in ba tác phẩm nổi tiếng nhất: “Cho giới quyền quý kitô của quốc gia Đức”; “Về tình trạng bị giam cầm bên Babilonia của Giáo Hội”; “Về sự tự do của kitô hữu.”

Trong ba năm trời Đức Giáo Hoàng Leo X huy động hàng loạt các thần học gia giáo hoàng và các phái viên chống lại Luther. Trước hết thần học gia dòng Đa Minh Sylvester Mazzolini soạn bản phúc thảo trường hợp lạc giáo chống lại Luther, mà Đức Leo X cho gọi về Roma. Nhưng hoàng tử Frederick III vùng Sassonia thuyết phục ĐGH cho điều tra Luther tại Augsburg, là nơi hoàng đế họp hội nghị. Tháng 10 năm 1518 tại Augsburg trong vụ hỏi cung của ĐHY Cajetan đặc sứ của ĐGH, Luther tuyên bố ông không coi chức Giáo Hoàng là phần của Giáo Hội trong Thánh Kinh, bởi vì giải thích lịch sử của lời tiên tri trong Thánh Kinh kết luận rằng chức Giáo Hoàng là Phản Kitô. Thế là các lời tiên tri liên quan tởi tên Phản Kitô trở thành trung tâm các cuộc tranh cãi. Cuộc khảo cung biến thành cuộc đấu la hét giữa hai bên. Việc đối đầu với Giáo Hội khiến Luther trở thành kẻ thù của Giáo Hoàng. Ban đầu ĐHY Cajetan ra lệnh bắt giữ, nếu Luther không công khai thu hồi các ý kiến của ông. Nhưng ban đêm Luther trốn khỏi thành Augsburg. Tháng giêng năm 1519 tại Altenburg vùng Sassonia Đức Sứ Thần Toà Thánh Karl von Miltitz áp dụng phương pháp hòa dịu hơn,  Luther đồng ý vài nhượng bộ vì ĐHY có bà con với hoàng tử Frederick, đồng thời hứa sẽ im lặng, nếu phiá chống đối cũng thinh lặng. Tuy nhiên, thần học gia Joahann Eck nhất định đưa giáo thuyết của Luther ra diễn đàn công khai. Tháng 6 năm 1519 Johann Eck tổ chức cuộc tranh luận với Andreas Karlstadt, bạn của Luther, tại Leipzig và mời Luther lên tiếng. Khẳng định táo bạo nhất của Luther trong cuộc tranh luận đó là văn bản Phúc Âm thánh Mátthêu chương 16 câu 18 không ban cho các Giáo Hoàng quyền giải thích Thánh Kinh và vì thế các Giáo Hoàng cũng như các Công Đồng của Giáo Hội cũng sai lầm. Thần học gia Eck coi Luther là một người lạc giáo, và từ đó nhất quyết đánh hạ Luther.

Ngày 15 tháng 6 năm 1520 ĐGH Leo X công bố sắc chỉ “Exsurge Domine” cảnh cáo ra vạ tuyệt thông, nếu Luther không thu hồi 41 khẳng định khỏi các bút tích của mình, bao gồm cả 95 luận thuyết, nội trong vòng 60 ngày. Mùa thu năm ấy Johann Eck công bố sắc chỉ tại Meissen và các thành phố khác bên Đức. Đức Sứ Thần Karl von Miltitz thử làm môi giới cho một giải pháp, nhưng ngày mùng 10 tháng 12 năm 1520 Luther công khai đốt sắc chỉ và các sắc lệnh khác của ĐGH tại Wittenberg. Trước đó vào tháng 10 Luther đã gửi cho ĐGH một ấn bản cuốn “Về sự tự do của Kitô hữu”. Hậu quả là ngày mùng 3 tháng giêng năm 1521 ĐGH Leo X công bố sắc chỉ “Decet Romanum Pontificem” ra vạ tuyệt thông cho Luther.

Nội vụ cũng được đưa ra trước chính quyền đời. Ngày 18 tháng 4 năm 1521 Luther được lệnh trình diện trước Hội nghị của Đế quốc thánh Roma, do hoàng đế Carlo V triệu tập và chủ sự tại thành phố Worms trên sông Rhein trong các ngày từ 28 tháng giêng cho tới 25 tháng ba năm 1521. Johann Eck đại diện cho Đế quốc lên tiếng như phụ tá của ĐTGM Trier giới thiệu Luther với các bản bút tích của Luther trên bàn, và hỏi đây có phải là các sách vở tài liệu của ông không, và ông có bênh vực các nội dung của chúng không. Luther nhận đó là các tác phẩm của mình, nhưng xin có thời gian suy nghĩ  để trả lời câu hỏi thứ hai. Sau khi cầu nguyện và thăm dò ý kiến của bạn bè, ngày hôm sau Luther trả lời: “Trừ phi tôi xác tín bởi chứng tá của Thánh Kinh hay bởi lý trí rõ ràng, vì tôi không tin tưởng nơi Giáo Hoàng cũng như các công đồng, bởi như đã biết rõ là họ thường sai lầm và mâu thuẫn, tôi bị bó buộc bởi Thánh Kinh tôi đã trích dẫn và lương tâm tôi bị Lời Chúa bắt giữ. Tôi không thể và không muốn thu hồi bất cứ điều gì, vì chống lại lương tâm thì không thận trọng và không đúng. Xin  Chúa giúp tôi. Amen.”

Trong hơn năm ngày sau đó đã có các cuộc họp để định đoạt số phận của Luther. Hoàng đế Carlo V đưa ra văn bản chung kết  Chỉ dụ Worms ngày 25 tháng 5 năm 1521, tuyên bố Luther ngoài vòng pháp luật, cấm các bút tích của ông, và ra lệnh bắt giữ Luther. “Chúng tôi muốn bắt và trừng phạt ông như là kẻ lạc giáo mà ai cũng biết”. Tất cả những ai cho đồ ăn thức uống hay chứa chấp Luther là một tội phạm, và ai giết Luther thì không bị luật pháp trừng trị.

Hoàng tử Frederick dàn xếp để Luther biến mất như thể bị bắt cóc và đưa ông  tới ẩn náu tại Wartburg. Tại đây Luther dịch Thánh Kinh Tân Ước ra tiếng Đức. Từ đó Luther viết nhiều khảo luận chỉ trích việc kiếm tìm các ân xá và đi hành hương cũng như nhiều điểm giáo lý: như tư tưởng coi thánh lễ là hiến tế là tôn thờ ngẫu tượng; khước từ việc bắt buộc xưng tội, khuyến khích việc xưng tội và giải tội riêng tư, vì mọi kitô hữu đều là người giải tội; các đan sĩ và tu sĩ có thể bẻ gẫy lời khấn mà không có tội gì, vì các lời khấn là bất hợp pháp và là cố gắng vô ích để được cứu rỗi; tên Phản kitô là quyền bính giáo hoàng vv…

Bạn của Luther Andrreas Karkstadt được một cựu tu sĩ Agostino là Gabriel Zwilling khởi xướng một phong trào cải cách triệt để, quá khích,  vượt quá mọi dự tính của Luther. Nó làm nảy sinh ra các vụ lộn xộn, bao gồm cả vụ nổi loạn của các tu sĩ dòng thánh Agostino Augsburg chống lại tu viện trưởng, đập phá các tượng ảnh trong các nhà thờ, và tố cáo các quan tòa…

Năm 1525 Luther lấy Katharna von Bora, một trong số 12 nữ tu Xitô thuộc tu viện Nimbschen, mà ông đã giúp trốn khỏi tu viện năm 1523. Trong các năm 1525-1529 Luther thiết lập và củng cố các cơ cấu của Giáo Hội  mới, viết sách giáo lý nhỏ cho tín hữu, sách giáo lý lớn cho các mục sư, sáng tác thánh nhạc… Giáo Hội Tin Lành, hay Giáo Hội Cải Cách nảy sinh từ đó, lan nhanh tại Đức và nhiều nước Âu châu trong đó có Thụy sĩ với các hoạt động của Calvin và Zwingli.

Sau đây là các nét chính yếu của Giáo Hội Tin lành hay Cải cách. Thứ nhất, các điểm tham chiếu là: sự công chính hoá của đức tin, chỉ cần đức tin là đủ cho ơn cứu rỗi; chỉ có Thánh Kinh. Vì thế Giáo Hội Tin Lành khước từ quyền của Đức Giáo Hoàng. Mỗi người có thể đọc và giải thích Thánh Kinh. Thứ hai, không có hàng giáo sĩ, chỉ có các hướng dẫn viên tinh thần gọi là các mục sư. Thứ ba, chỉ có hai bí tích: Rửa Tội và Thánh Thể. Tuy Luther vẫn tin vào sự hiện diện thật của Chúa Giêsu trong bí tích, nhưng các đồ đệ của ông không tin. Thánh lễ chỉ là lễ nghi tưởng niệm bữa tiệc chiều của Chúa, bánh và rượu được làm phép  không phải là Mình và Máu Chúa Kitô, nhưng chỉ là bánh và rượu thôi. Thứ tư, lễ nghi phụng vụ Chúa Nhật dựa trên các bài đọc thánh kinh được mục sư giải thích. Thứ năm, các tín hữu tin lành cũng tuyên xưng đức tin với Kinh Tin Kính. Thứ sáu, họ không tôn sùng Đức Maria và không coi Đức Maria là mẹ Thiên Chúa. Họ cũng không sùng kính các Thánh và trong các nhà thờ tin lành không có các ảnh tượng.

Hiện nay Giáo Hội Tin Lành chia thành nhiều nhánh khác nhau và bao gồm hàng ngàn giáo phái tự trị.

 

HĐGM Đức và vấn để rước lễ của người phối ngẫu tin lành

Ngày 27 tháng 6 vừa qua Ban Thường vụ của HĐGM Đức đã công bố một tài liệu hướng dẫn liên quan tới vấn đề hôn nhân kitô hỗn hợp và việc tham dự của họ vào Bí tích Thánh Thể.Tài liệu có tựa đề là “Bước đi với Chúa Kitô – theo các vết chân của sự hiệp nhất. Các hôn nhân kitô hỗn hợp  và việc tham dự chung vào bí tích Thánh Thể”. Tài liệu đã được ba phần tư các Giám Mục Đức bỏ phiếu thuận trong phiên họp khoáng đại mùa xuân diễn ra trong các ngày từ 19 đến 22 tháng 2 năm nay. HĐGM Đức hiện có 66 Giám Mục trông coi 27 giáo phận. Các Giám Mục họp đại hội mỗi năm 2 lần vào mùa xuân và mùa thu.

Trong tài liệu các Giám Mục Đức khẳng đinh rằng:  vì việc chấp nhận chung chung của phía không công giáo trong một hôn nhân liên kitô  tham dự hoàn toàn vào việc cử hành thánh thể công giáo là điều không thể được, nên cần một quyết định cá nhân có ý thức, mà các cá nhân phải đạt được sau một suy tư chín chắn và trong việc nói chuyện với cha sở hay người có nhiệm vụ săn sóc mục vụ. Điểm nòng cốt thứ hai của tài liệu đó là việc rước lễ không bao giờ là một biến cố đơn thuần cá nhân, nhưng luôn luôn  đụng chạm tới cộng đoàn giáo hội, quyết định cá nhân đòi hỏi một liên lụy mạnh mẽ vào trong cuộc sống của Giáo Hội. Vì thế con đường hướng tới việc có thể rước lễ đi ngang qua việc nói chuyện mục vụ, trong đó sẽ có thể tìm ra một giải pháp tốt đẹp cho từng trường hợp riêng rẽ.

Trong các tiền đề của các đường nét hướng dẫn HĐGM Đức nhấn mạnh rằng đây là một vấn đề mục vụ nóng bỏng. Các Giám Mục trích lại lời ĐTC Phanxicô nói trong dịp tham dự các lễ nghi kỷ niệm 500 Cải Cách Luther tại Lund: “Có nhiều thành phần của các cộng đoàn của chúng ta khát khao nhận Thánh Thể tại một bàn tiệc chung, như kiểu diễn tả cụ thể sự hiệp nhất tràn đầy” (Tuyên ngôn chung Lund, 31-10-2016). Hơn 40 % các vụ hôn nhân tôn giáo tại Đức là giữa các kitô hữu công giáo và tin lành: các Giám Mục đã thừa nhân trách nhiệm của các vị đối với vấn đề này.

** Tuyên ngôn cũng ghi nhận rằng theo Giáo Luật cả các kitô hữu không công giáo cũng có thể lãnh nhận các bí tích Sám Hối, Thánh Thể, và Xức Đầu Bệnh Nhân. Ngoài ra, các Giám Mục Đức còn quy chiếu giáo huấn của Đức Gioan Phaolô II nói rằng các hôn nhân kitô hỗn hợp được ưng thuận “vì các nền tảng chung của chúng trong bí tích Rửa Tội, trong đức tin và ý nghĩa đại kết của chúng”. Tuy nhiên, việc rước lễ từ phía tín hữu không công giáo vẫn là một luật trừ. Giáo Luật nói tới một tình trạng khẩn cấp cần được  trình bầy để có thể cho người phối ngẫu không công giáo rước lễ. Và các Giám Mục miêu tả “tình trạng khẩn cấp” như sau: “Thật là một đau đớn lớn, khi đức tin đã dẫn đưa một người nam và một người nữ trao ban cho nhau bí tích  hôn phối  và nhận nó từ nhau, đưa tới ước muốn cùng nhau rước lễ mà không được mở ra một con đường để có thể tương ứng với ước mong này với sự chúc lành của Giáo Hội”. Nếu không thể đương đầu với “tình trạng tinh thần nặng nề” đó, điều này chắc chắn  có nguy cơ đặt để vào trong nguy hiểm hôn nhân dựa trên tình yêu của Chúa Kitô đối với Giáo Hội ấy (x. Ep 5,32). Đưa ra trợ giúp này là một phục vụ mục vụ  củng cố sự hiệp nhất của hôn nhân và góp phần vào việc cứu rỗi con người”.

Trong luận lý của mình các Giám Mục quy chiếu nhận thức của sự chia rẽ từ phía hai người phối ngẫu: “Thật là một nỗi đớn đau sâu đậm, khi nơi một cặp vợ chồng liên tôn việc không tham dự vào Thánh Thể từ phía người chồng hay người vợ tin lành, bị nhận thức như một việc loại trừ. Trong cách thế này cũng kết thúc tương quan của lứa đôi đối với Giáo Hội”.

Đặc biệt các Giám Mục Đức cũng quy chiếu tông huấn “Niềm vui yêu thương” mở ra cho một tiếp cận mục vụ cả trên vấn đề rước lễ”. Thật thế, Tông huấn “Niềm vui yêu thương” khẳng định rằng trước các tình trạng khác biệt cụ thể nhiều vô kể, một  việc giải quyết pháp lý kiểu giáo luật không ích lợi cho bằng diễn tả một khích lệ mới đối với “một phân định có trách nhiệm, cá nhân và mục vụ, của các trường hợp riêng rẽ”. Tuy nhiên, sự yểm trợ mục vụ cũng đòi hỏi  việc đào tạo và  cập nhật tinh thần của các mục tử.

** Trong các trường hợp cụ thể  tông huấn “Niềm vui yêu thương” gửi trả lại việc phân định như phương thế, mặc dù bằng cách nhắc nhở cứu xét mọi hoàn cảnh. Các Giám Mục Đức nêu bật rằng các vị rất tin tưởng nơi một “quyết định theo lương tâm” từ phía các người phối ngẫu, lưu tâm tới niềm tin chung sống động, và việc giáo dục con cái”. Mục đích là để củng cố gia đình kitô chính trong việc xem xét sự kiện các gia đình là các “giáo hội tại gia”. Và các Giám Mục Đức đưa ra lời mời gọi sau đây: “Chúng tôi mời gọi mọi cặp hỗn hợp tìm kiếm một cuộc đối thoại với cha sở của mình, hay với một người nào khác có nhiệm vụ săn sóc mục vụ để đi tới chỗ lấy một quyết định tôn trọng lương tâm của mình, và giữ gìn sự hiệp nhất của Giáo Hội”. Lời kêu mời này được hướng tới  tất cả mọi người: tới người cho tới nay đã không cùng nhau rước lễ, và tới những người đã làm điều này từ lâu. “Họ phải biết rằng họ được mời gọi sống theo quyết định đã lấy theo lương tâm, mà họ đã đạt được trong một cuộc đối thoại mục vụ. Đối với chúng tôi, với các đường nét hướng dẫn này, điều quan trọng là phục vụ sự tự do lương tâm, trách nhiệm của lòng tin, và niềm an  bình trong Giáo Hội “.

Để hiểu rõ hơn bối cảnh của vấn đề rước lễ của các cặp hôn nhân hỗn hợp công giáo tin lành, tưởng nên duyệt lại lộ trình làm việc của các Giám Mục Đức. Trong các ngày từ 19 tới 22 tháng 2 năm nay trong đại hội khoáng đại mùa xuân các Giám Mục Đức đã thảo luận văn bản định hướng tựa đề “Bước đi với Chúa Ki tô – theo vết chân của sự hiệp nhất. Các hôn nhân liên kitô và việc tham dự chung vào bí tích Thánh Thể”. Ngày 22 tháng 3 sau đó 7 Giám Mục Đức là TGM Koeln, Bamberg, Augsburg, Eichstaedt, Goerlitz, Passau và Regensburg đã viết thư cho vài cơ quan trung ương Tòa Thánh như Bộ Giáo Lý Đức Tin, Hội đồng tòa thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô và Hội đồng Tòa Thánh giải thích các văn bản luật. Các vị muốn biết xem một HĐGM có quyền viết và công bố một văn bản như thế hay không. Ngày mùng 4 tháng 4 ĐHY Marx, TGM Muenchen Freising, chủ tịch HĐGM Đức, trả lời thư của các Giám Mục. Một cách công khai ĐHY nói rằng ngài “kinh ngạc”, bởi vì thư của các Giám Mục đã được gửi cho Tòa Thánh mà không được báo cho ngài. Ngày mùng 10 tháng 4 ĐTGM Ladaria Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin gửi thư cho HĐGM Đức  và mời vài vị về Roma để thảo luận vấn đề. Ngày mùng 3 tháng 5 đã có cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn của HĐGM Đức và các giới chức Tòa Thánh tại Bộ Giáo Lý Đức Tin. Tham dự phiên họp có ĐHY Reinhard Marx, TGM Muenchen-Freising kiêm chủ tịch HĐGM Đức; ĐHY Rainer Maria Woelki, TGM Koeln; ĐC Felix Genn, Giám Mục  Muenster; ĐC Karl Heinz Wiesemann, Giám Mục Speyer kiêm chủ tịch Ủy ban giáo lý của HĐGM Đức; ĐC Rudolf Voderholzer, Giám Mục Regensburg kiêm chủ tịch Ủy ban Đại kết của HĐGM Đức; và Linh Mục Hans Langendoerfer dòng Tên, thư ký HĐGM Đức. Về phía Tòa Thánh có ĐTGM Luis Ladaria, dòng Tên Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin; ĐHY Kurt Koch, Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh thăng tiến hiệp nhất giữa các tín hữu kitô; ĐC Markus Graulich, dòng Don Bosco, phó thư ký Hội Đồng Tòa Thánh giải thích các văn bản luật; Linh Mục Hermann Geissler, trưởng văn phòng Bộ Giáo Lý Đức Tin.

** Sau cuộc họp Phòng Báo Chí Tòa Thánh và HĐGM Đức công bố một thông cáo viết rằng: “Trong phiên họp khoáng đại cuối cùng trong các ngày từ 19 đến 22 tháng 2 năm 2018 HĐGM Đức đã thảo luận về một tài liệu trợ giúp mục vụ tựa đề “Bước đi với Chúa Ki tô – theo vết chân của sự hiệp nhất. Các hôn nhân hỗn hợp và việc tham dự vào bí tích Thánh Thể”. Hơn ba phần tư các thành viên của HĐGM đã chấp thuận văn bản đó. Có một số không ít các Chủ Chăn trong đó có 7 Giám Mục giáo phận, vì nhiều lý do, không cảm thấy có thể chấp thuận. Bẩy Giám Mục này đã kêu lên Bộ Giáo Lý Đức Tin, Hội Đồng Tòa Thánh thăng tiến hiệp nhất giữa các tín hữu kitô và Hội Đồng Tòa  thánh giải thích các văn bản luật. Vì thế theo ước mong của ĐTC Phanxicô cuộc nói chuyện giữa vài Giám Mục với các vị hữu trách của Tòa Thánh đã được thỏa thuận. Cuộc thảo luận đã diễn ra ngày mùng 3 tháng 5 năm 2018 với sự tham dự của phái đoàn hai bên. Trong cuộc thảo luận bằng tiếng Đức ĐTGM Ladaria đã minh xác rằng ĐTC Phanxicô đánh giá cao dấn thân đại kết của các Giám Mục Đức và xin các vị tìm ra một kết quả đồng nhất trong tinh thần hiệp thông giáo hội. Trong cuộc gặp gỡ đã có nhiều quan điểm được thảo luận: chẳng hạn như tương quan của vấn đề với đức tin và việc săn sóc mục vụ, tầm quan trọng và chiều kích pháp luật của nó đối với Giáo Hội đại đồng.  ĐTGM Ladaria sẽ  báo cáo cho ĐTC biết nội dung cuộc thảo luận. Cuộc gặp gỡ đã diễn ra trong bầu khí thân tình và huynh đệ”.

Sau khi tường trình sự việc cho ĐTC, ngày 25 tháng 5 ĐTGM Ladaria viết một lá thư cho các Giám Mục Đức, xin các vị đừng công bố văn bản hướng dẫn bây giờ, vì vấn đề đã trở thành chuyện liên quan tới Giáo Hội hoàn vũ. Bức thư này của ĐTGM, trước khi tới với các Giám Mục Đức, đã được ông Sandro Magister và Blog công giáo của Áo đăng tải, đi ngược lại các ý muốn của ĐTGM Ladaria.

Ngày 12 tháng 6 ĐHY Reinhard Marx chủ tịch HĐGM Đức viết thư cho ĐTC. Ngày 21 tháng 6 trên chuyến bay từ Genève trở về Roma nhà báo Đức Roland Juchem đã hỏi ĐTC trong cuộc phỏng vấn dành cho giới báo chí. Ông hỏi:

Thưa ĐTC, ĐTC thường đề cập tới các bước đi cụ thể cần làm trong phong trào đại kết. Chẳng hạn ngày hôm nay ĐTC đã lại quy chiếu việc này khi nói: “Chúng ta hãy nhìn điều có thể làm được một cách cụ thể hơn là chán nản vì điều chưa là”. Mới đây các Giám Mục Đức đã quyết định đi một bước liên quan tới việc rước lễ liên tôn, chúng con tự hỏi tại sao ĐTGM Ladaria Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin đã lại viết cho các vị một lá thư xem ra như là một hãm phanh cấp bách. Sau cuộc gặp gỡ ngày mùng 3 tháng 5 người ta đã khẳng định rằng các Giám Mục Đức phải tìm ra một giải pháp đồng nhất. Vậy thì đâu là các bước sắp tới? Có cần phải có sự can thiệp của Tòa Thánh Vaticăng để minh giải hay không, hay các Giám Mục Đức sẽ phải tìm ra một thỏa thuận?

ĐTC Phanxi cô đã trả lời như sau:

** Đây là một điều mới mẻ, bởi vì trong Giáo Luật  đã được dự kiến điều các Giám Mục Đức đã nói: Việc rước lễ trong các trường hợp đặc biệt. Và các vị nhìn vào vấn đề của các vụ hôn nhân hỗn hợp xem có thể hay không có thể cho rước lễ. Tuy nhiên, Giáo Luật nói rằng vị Giám Mục của Giáo Hội địa phương – từ địa phương này quan trọng – nếu là của một giáo phận – thì phải xem xét điều này: nó nằm trong tay của Giám Mục. Đây là điều có trong Giáo Luật. Bởi vì các Giám Mục Đức thấy trường hợp này không rõ ràng, và vì vài Linh Mục  đã làm những chuyện không đồng ý với Giám Mục, nên các vị đã muốn nghiên cứu đề tài này và đã tìm hiểu – tôi không muốn nói quá – việc tìm hiểu đã kéo dài hơn một năm, tôi không biết rõ nhưng nó đã kéo dài hơn một năm, và đã được làm tốt. Và việc nghiên cứu hạn chế: điều các Giám Mục đã muốn nói có trong Bộ Giáo Luật rồi. Và cả tôi là người đã đọc nó, tôi nói rằng nó là một tài liệu hạn chế. Nó không phải là việc “mở rộng cho tất cả mọi người”. Không. Nó đã là một điều được suy tư tốt với tinh thần giáo hội. Và các vị đã muốn làm điều này cho Giáo Hội địa phương: không phải cho giáo hội riêng biệt. Các vị đã không muốn. Nhưng câu chuyện đã trượt xuống cho tới đó, nghĩa là bằng cách nói rằng nó là cho HĐGM Đức. Và ở đây thì có một vấn đề, bởi vì Bộ Giáo Luật không dự trù điều này. Bộ Giáo Luật dự trù thẩm quyền của Giám Mục giáo phận, chứ không phải thẩm quyền của HĐGM. Tại sao? Tại vì một điều khi được HĐGM chấp thuận, thì tức khắc trở thành đại đồng. Và đây đã là điểm khó khăn của cuộc thảo luận: không phải vì nội dung cho bằng vì điều này. Các vị đã gửi tài liệu, rồi đã có hai ba cuộc gặp gỡ đối thoại và minh giải. Và ĐTGM Ladaria đã gửi bức thư này, nhưng với việc cho phép của tôi, chứ ngài không làm một mình. Tôi đã nói với ĐC : “Đúng, tốt hơn nên làm một bước tiến tới, và nói rằng tài liệu chưa được chín mùi – đây là điều bức thư nói tới – và cần phải nghiên cứu chuyện này nhiều hơn nữa”. Thế rồi có một cuộc họp khác nữa và sau cùng các vị sẽ nghiên cứu việc đó. Tôi tin rằng đây sẽ là một tài liệu hướng dẫn, để cho mỗi Giám Mục có thể điều hành điều Giáo Luật cho phép. Đã không có việc hãm phanh nào cả. Không có. Đó đã là việc điều hành công việc để nó đi trên con đường tốt đẹp. Khi tôi tới thăm nhà thờ Luther ở Roma, đã có người hỏi câu tương tự, và tôi đã trả lời theo tinh thần của Bộ Giáo Luật, tinh thần mà các Giám Mục  Đức hiện đang tìm kiếm. Có lẽ đã không có một thông tin đúng đắn vào các lúc đúng đắn. Hơi có lộn xộn một chút, nhưng câu chuyện là thế. Trong Giáo Hội riêng rẽ của một giáo phận, Bộ Giáo Luật cho phép điều này, nhưng trong Giáo Hội địa phương trên bình diện quốc gia thì không được, vì như vậy sẽ là đại đồng.

Anh Roland Juchem hỏi thêm:

Như vậy Giáo Hội địa phương là HĐGM?

ĐTC trả lời:

Nó là HĐGM. Nhưng HĐGM có thể nghiên cứu và đưa ra các đường nét hướng dẫn để giúp các Giám Mục giải quyết các trường hợp riêng rẽ.

 Linh Tiến Khải

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *