TRANG CHỦ / TÀI LIỆU / Lịch Sử Thần Học Chúa Ba Ngôi

Lịch Sử Thần Học Chúa Ba Ngôi

 

I. Hoàn Cảnh Giáo Hội Sau công đồng Nicea 325

Công đồng Nicea (năm 325) kết thúc với những xác định cụ thể về tương quan giữa Chúa Cha và Chúa Con (Logos) là “hai Ngôi vị khác biệt, không chia nhau một thần tính duy nhất nhưng mỗi Ngôi Vị đều là Thiên Chúa trọn vẹn” (1), hai Ngôi Vị có đồng bản thể (homoousios), nghĩa là “Chúa Cha là gì thì Chúa Con là thế ấy”chứ không phải là hai bản tính tương tự giống nhau (2).

Công đồng cũng lên án lạc thuyết Arius đang rất phổ biến thời bấy giờ, và kèm theo kỷ luật vạ tuyệt thông cho những ai không chấp nhận giáo huấn hay chống lại lời dạy của công đồng.

Sau công đồng, các giám mục về lại địa phương mình. Họ tuyên xưng lời dạy của Giáo Hội (Chúa Giêsu Kitô đồng bản thể với Chúa Cha, được sinh ra mà không phải được tạo thành v.v…) nhưng không cắt nghĩa. Khi giáo dân thắc mắc về tín lý này, chính các giám mục cũng không thực sự hiểu nội dung tín điều này để giải thích thoả đáng (3).

Vì thế, những diễn dịch về lời dạy của công đồng tiếp tục gây tranh cãi thần học. Hoàn cảnh chính trị cũng góp phần không nhỏ cho những tranh cãi này kéo dài, rồi dẫn đến những công đồng cần thiết tiếp theo sau đó để giải quyết.

Ngay trong hàng giám mục, không phải tất cả đều đồng nhất với quyết định của công đồng. Marcellus, giám mục của Ancyra vẫn tiếp tục công khai ủng hộ lạc thuyết Hình Thái Luận Sabellianism (một Thiên Chúa nhưng đóng ba vai khác nhau) (4).

Ba năm sau Nicea (năm 328), giám mục Eusebius thành Nicomedia đã xin hoàng đế Constantine xét lại phán quyết của Nicea và xin phép được dạy lạc thuyết của Arius. Hoàng đế Constantine cho phép Eusebius dạy lạc thuyết Arius mà không bị kỷ luật (như công đồng Nicea đe doạ) (5).

Rồi sau khi Constantine chết, con là Constantius II lên ngôi cai trị vùng Ðông phương cũng tiếp tục cổ động cho lạc thuyết Arius (6).

Năm 335, một thượng hội đồng được nhóm họp tại Tyre dưới sự chủ toạ của Eusebius đã quyết định ủng hộ Arius, và đảo ngược lời dạy công đồng Nicea.

Nhưng giáo huấn của công đồng lúc nào cũng có những giám mục trung thành giảng dạy. Năm 328 giám mục Alexander của Alexandria (Ai Cập) chết, Athanasius, thần học gia trụ cột của công đồng Nicea, được nhiều người tin tưởng chọn để thay thế (7).

Athanasius thuyết  phục rằng việc xác định Chúa Con đồng bản thể với Chúa Cha (homoousios) là tối cần thiết, vì nếu Ðức Giêsu không là Thiên Chúa thì loài người không thể có ơn cứu chuộc được, vì chỉ có Thiên Chúa mới đem lại được ơn cứu chuộc mà thôi (8).

Tranh luận tại công đồng Nicea về bản tính Chúa Giêsu là “Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh sáng bởi Ánh sáng”, nhóm Arius cho là Ðức Giêsu được Thiên Chúa chọn cho làm Thiên Chúa. Nghĩa là, tự căn tính Ðức Giêsu không là Thiên Chúa, mà chỉ được vinh thăng lên hàng Thiên Chúa mà thôi. Athanasius thuyết phục rằng vì Chúa Giêsu tự bản tính là Thiên Chúa, vì thế khi công đồng chấp nhận lý luận này đã ghi thêm một dòng: “Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật“, chứ không phải Thiên Chúa được vinh thăng như lạc giáo Arius tuyên truyền (9).

Nếu công đồng Nicea đã giải quyết những câu hỏi về thiên tính Chúa Giêsu Kitô, thì nhiều câu hỏi về Chúa Thánh Thần, nhất là từ sau năm 360, đã gây tranh cãi gay cấn trong Giáo Hội. Trong Nicaea, đề tài về Chúa Thánh Thần không được bàn luận nhiều, và nếu được nhắc đến chỉ vì có tương quan với Chúa Con trong những thảo luận mà thôi (10).

Thật ra trong phụng vụ, giáo dân vẫn tuyên xưng Chúa Ba Ngôi qua công thức phép thanh tẩy (làm phép rửa nhân danh Cha-Con-Thánh Thần), nhưng thần học Chúa Thánh Thần chưa được quan tâm đúng mức (11).

Vì thế, nhóm Phản Thánh Thần (Pneumatomachian) rao giảng rằng Thánh Thần không là Thiên Chúa mà chỉ là tạo vật, và Thiên Chúa mặc khải qua Thánh Thần như Ngài dùng thiên thần hay tiên tri trong Cựu Ước, và ngay cả Thánh Thần trong Cựu Ước khác với Thánh Thần trong Tân Ước (12).

Ðể bênh vực cho thần học Chúa Thánh Thần, một số những người đáng được chú ý trong lịch sử là thánh Athanasius (13),  các giáo phụ vùng Cappadocian như thánh Basil thành Caesarea (330-379), em trai ngài là thánh Gregory thành Nyssa (330-395), và thánh Gregory thành Nazianzus (329-389) (14).

Athanasius dùng cùng phương thức suy luận “Chúa Con đồng bản thể với Chúa Cha” khi áp dụng với Chúa Thánh Thần và bảo vệ lý luận Ba Ngôi bằng nhau (15).

Ðồng lòng với Athanasius, Basil tranh luận rằng Chúa Thánh Thần phải được tôn vinh và thờ phượng như Chúa Cha và Con (16).

Gregory thành Nyssa nhấn mạnh đến Một Bản Thể của Ba Ngôi Vị, và Gregory thành Nazianzus cùng với Cyril thành Alexandria nói đến Chúa Thánh Thần đồng bản thể với Chúa Cha, như trường hợp Chúa Con (17).

Các giáo phụ Cappadonian đã giúp giải thích cội nguồn và tương quan giữa Ba Ngôi Thiên Chúa: Chúa Cha là cội nguồn, Chúa Con sinh ra từ Cha, và Chúa Thánh Thần thì từ Cha mà ra (18).

III. Triệu Tập Công Ðồng Constantinople 381

Sau khi đại đế Constantine chết (năm 337), đế quốc Roma chia ra làm 2 miền: Tây phương và Ðông phương. Thời Valens (328-378), ông cai trị Ðông phương, và người anh là Valentinian (321-375) cai trị Tây phương. Ở Ðông phương, Valens ủng hộ lạc thuyết Arius. Những giám mục trong vùng Ðông phương tin theo phán quyết của công đồng Nicea thì bị ông đuổi khỏi giáo phận, và nhà thờ được giao cho những nhóm theo lạc thuyết Arius.

Khi Valens chết (378), Theodosius I (một người ở bên vùng phương Tây) lên thay và đảo ngược những quyết định của Valens. Trong sắc lệnh tháng 2 năm 380, Theodosius I ra lệnh phải dạy những giáo huấn của công đồng Nicea, và những ai không chấp nhận “một thiên tính của Cha, Con, Thánh Thần, và ba ngôi vị bằng nhau” bị coi là Lạc Giáo, và nếu là giáo sĩ thì bị kỷ luật, có khi bị đi đày (19).

Theodosius I muốn củng cố địa vị chính trị của mình, và hàn gắn những chia rẽ trong đế quốc, ông triệu tập công đồng Constantinople năm 381 vì hai lý do khẩn cấp: một là tình trạng chia rẽ trầm trọng của đế quốc bị đe dạo bởi những lạc giáo khi nhiều giám mục vùng Ðông phương vẫn còn ủng hộ Arius, hai là nhóm lạc giáo Phản Thánh Thần nổi lên rất mạnh và lôi kéo nhiều người khiến Giáo Hội cần phải có câu trả lời rõ ràng về vai trò Chúa Thánh Thần (20).

Theodosius I triệu tập công đồng Constantinople (381) (21) có 186 giám mục tham dự, nhưng 36 người bị coi là “lạc giáo” vì ủng hộ lạc thuyết Arius, còn lại 150 người đồng nhất lên án lạc thuyết Arius để bênh vực Chúa Con đồng bản thể Chúa Cha, lên án Apollinarianism để bênh vực Chúa Giêsu có đầy đủ bản tính con người (con người thật), và lên án nhóm Phản Thánh Thần để bênh vực thiên tính của Chúa Thánh Thần.

Công đồng Constantinople tuyên xưng: “Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa, là Ðấng ban sự sống, Người bởi Chúa Cha mà ra, Người được thờ phượng và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con. Người đã dùng các tiên tri giảng dạy.”

Dù công đồng xác định thần tính của Chúa Thánh Thần, nhưng lời văn không trực tiếp và rõ ràng như thần tính Chúa Giêsu trong Nicea “Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật…” Công đồng Constantinople không dùng từ “đồng bản thể – homoousios” để nói đến tương quan giữa Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, nhưng trong Ðiều Luật 1 của công đồng có lên án lạc giáo Macedonians vì không chấp nhận thiên tính đồng bản thể của Chúa Thánh Thần đối với Chúa Cha và Chúa Con.

IV. Filioque – Xung Ðột giữa Ðông và Tây

Chúng ta không thể kết thúc mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi mà không nói đến vấn nạn “Filioque- Và Chúa Con” trong kinh Tin Kính ta đọc hằng tuần. Chính cụm từ này là nguyên nhân chia cắt giáo hội Ðông và Tây từ 1054 cho đến nay.

Như ta đọc thấy lời tuyên xưng của Constantinople: “Chúa Thánh Thần từ Chúa Cha mà ra.” Nhưng người Công giáo La mã ngày nay thường đọc: “Chúa Thánh Thần…. bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra.” Vậy cụm từ “Và Chúa Con – Filioque” từ đâu mà có?

Từ cuối thế kỷ thứ 6 bên Tây Ban Nha tái xuất hiện lạc thuyết Arius, từ chối Chúa Con là Thiên Chúa. Vậy để khẳng định Chúa Con là Thiên Chúa thật, một số giáo phận đã thêm “Chúa Thánh Thần từ Chúa Cha và Chúa Con mà ra.” Về thần học, tư tưởng này không có gì mới, vì thánh Augustinô và thánh Hilary thành Poitiers đã nói đến cách hiểu này (22).

Nhưng khi công đồng miền vùng Toledo (Tây ban Nha) họp năm 589 quyết định thêm cụm từ “Filioque – và Con” vào kinh Tin Kính, lại còn ra vạ tuyệt thông cho ai từ chối lời dạy này, vấn đế trở nên rất phức tạp. Lúc này, Giáo Hội bên phương Ðông cho là Toledo vi phạm quyết định của các công đồng chung Constantinople (381), Ephesus (431) và Chalcedon (451) vì Toledo chỉ là công đồng miền mà thôi, không thể thay đổi quyết định công đồng chung được (23).

Lịch sử ghi lại là hoàng đế Charlemagne (768-814) đọc kinh này trong cung điện vua, và dần dần lan truyền khắp vùng Tây phương. Tuy vậy toà thánh Roma, dù không phản đối “filioque” nhưng chưa đọc thêm cụm từ này trong kinh Tin Kính ở Roma. Cao điểm là năm 1014, ÐGH Benedict VIII (1012-1024), trong nghi lễ trao vương miện cho vua Henry II tại Roma, đã đọc thêm cụm từ này trong Kinh Tin Kính.

Khi Ðấng kế vị Phêrô ở Roma chấp thuận và đọc thêm cụm từ này, vấn đề trở nên cực kỳ trầm trọng vì liên quan đến tín lý của Giáo Hội. Giáo Hội Ðông phương lên tiếng phản đối vì cụm từ thêm này không diễn tả đúng thần học Chúa Ba Ngôi trong lời dạy của các công đồng xưa. Giáo hội Ðông phương lý luận rằng họ có thể chấp nhận Chúa Thánh Thần đến từ Chúa Cha “qua Chúa Con – per filium” nhưng không thể “và Chúa Con – filioque” được. Một phần vì chỉ có Chúa Cha là “Cội Nguồn duy nhất” mà cả Chúa Con và Chúa Thánh Thần từ Ngài mà ra, và một phần vì công đồng Constantinople không dạy điều này.

Sau khi tố cáo nhau là lạc giáo, hai Giáo Hội Ðông và Tây (Chính Thống gíáo và Công Giáo) tách biệt nhau từ năm 1054. Với Giáo hội Công Giáo (Tây phương), công đồng Lateran năm 1215 tái khẳng định Chúa Thánh Thần từ Chúa Cha và Chúa Con mà ra, và được công đồng Lyons (1274) và Florence (1438-1445) lặp lại lời dạy này (24).

Vấn nạn “và Chúa Con – filioque” đem lại chia rẽ trong Giáo Hội là điều đáng buồn. Nhưng ngày nay, cả hai giáo hội Ðông và Tây đang có nhiều cố gắng tìm đến hợp nhất với nhau. Mọi sử gia và thần học gia ngày nay đều hiểu rằng hoàn cảnh chính trị và xã hội thời đó là yếu tố chính đem đến chia rẽ 1054. Nhưng về căn bản thần học, dù tuyên xưng “Chúa Thánh Thần từ Chúa Cha mà ra, hay từ Chúa Cha và Chúa Con (filioque) mà ra, hay từ Chúa Cha qua Chúa Con (per filium) mà ra...” tất cả chỉ là những cách diễn tả khác nhau cho cùng một thực thể: Một Thiên Chúa nhưng Ba Ngôi Vị, Bằng Nhau và có Bản Thể Như Nhau (đồng bản thể).

Nói cách khác, vấn đề không còn là sai lạc thần học tín lý, mà phần lớn là liệu quyền bính Ðức Giáo Hoàng và điều hành mục vụ có là nguyên nhân ngăn trở đối thoại hiệp nhất giữa Ðông và Tây không? (25)

Lời ước nguyện Chúa Giêsu “Lạy Cha, xin cho chúng nên một” (Jn 17:21) không biết khi nào mới trở nên hiện thực?

V. Kết Luận

Hai công đồng Nicea (325) và Constantinople (381) đã làm sáng tỏ thần học Chúa Ba Ngôi, xác định rõ ràng đối tượng của đức tin được tuyên xưng trong Kinh Tin Kính mà Kitô hữu vẫn đọc hằng tuần, và để lại một công thức mẫu mực đức tin căn bản nhất cho mọi Kitô hữu, được tóm gọn trong giáo lý Công Giáo: “Ðức tin công giáo hệ tại điều này: chúng ta thờ kính Một Thiên Chúa trong Ba Ngôi và Ba Ngôi trong Một Thiên Chúa mà không lẫn lộn các Ngôi Vị, không phân chia bản thể: thật vậy Ngôi Cha là khác, Ngôi Con là khác và Ngôi Thánh Thần là khác; nhưng thần tính, sự vinh quang ngang nhau và uy quyền vĩnh cửu của Chúa Cha, của Chúa Con và của Chúa Thánh Thần là một” (số 266).

Lm. Matthêu Nguyễn Khắc Hy, SS.

(1). Xem Giáo lý Công giáo số 253.

(2). Sau khi công đồng Nicea công bố “Chúa con đồng bản thể với Chúa Cha,” nhóm theo lạc thuyết Arius không muốn chấp nhận lời dạy này vì họ sợ cụm từ “đồng bản thể” sẽ đem lại hiểu lầm là có Hai Thiên Chúa thay vì Một Thiên Chúa. Họ bắt đầu phổ biến một lạc thuyết chấp nhận Ðức Giêsu là Thiên Chúa, nhưng không “đồng bản thể” mà bản tính chỉ “giống” hay “tương tự” với Chúa Cha mà thôi (tiếng Hi Lạp gọi là homoiousios). Xem Giáo lý Công Giáo số 253-254.

(3). Thắc mắc về thiên tính của Chúa Con và Chúa Thánh Thần càng trở nên nóng bỏng sau công đồng Nicea, vì trước đó, vấn đề được bàn luận phần lớn trong giới thần học và giám mục. Sau công đồng, kỷ luật vạ tuyệt thông cho ai theo Arius khiến mọi người đều biết đến vấn nạn này, nhất là tranh cãi giữa các giám mục vùng miền Ðông trong các bài giảng, giáo lý… khiến vấn đề trầm trọng ở miền Ðông hơn là miền Tây. Ðó là lý do tại sao công đồng Constantinople được triệu tập bên miền Ðông (vì mục đích giải quyết khủng hoảng này). Xem Gerald O – Collins, The Tripersonal God: Understanding and Interpreting the Trinity (Paulist Press, 1999), 86 ff.

(4). Xem E. H. Klotsche, The History of Christian Doctrine, rev. ed. (Grand rapids: Baker Book House, 1979) p. 67.

(5). Eusebius thành Nicomedia đóng vai trò quan trọng với đại đế Constantine vì ông làm các phép bí tích khai tâm cho Constantine ở giường bệnh năm 337. Sau khi hoàng đế Constantine chết, Eusebius viết cuốn “Cuộc Ðời Constantine – tiếng Latin: Vita Constantini” được coi là cuốn sách lịch sử gía trị nói về cuộc đời hoàng đế và hoàn cảnh Giáo hội thời bấy giờ.

(6). Ðại đế Constantine có ba con trai. Sau khi ông chết, con đầu Constantine II và con thứ ba Constans coi vùng Tây, và con thứ hai Constantius II coi vùng Ðông của đế quốc Roma. Cả 3 người này đều có thiện cảm với lạc thuyết Arius. Vì thế, thuyết Arius có được dịp sống lại trong Giáo Hội.

(7). Athanasius là phó tế và là thần học gia chính chống lại lạc thuyết Arius ở công đồng Nicea. Ngài bị trục xuất khỏi giáo phận Alexandria 5 lần chỉ vì không chịu theo thuyết Arius. Xem A. McGiffert, A History of Christian Thought, Early and Eastern (New York-London, 1947) 1, pp. 246-257.

(8). Athanasius hiểu rằng sở dĩ có người chống đối Nicea vì họ sợ nếu chấp nhận “Chúa Con đồng bản thể với Chúa Cha” sẽ dễ gây hiểu lầm là Chúa Con không còn khác biệt với Chúa Cha nữa, như thế thì không còn là Hai Ngôi Vị, mà chỉ còn Một Ngôi Vị thôi.

(9). Vì thế, nhiều người không muốn nói “đồng bản thể – homoousios” mà nói là “giống (tương tự) bản thể – homoiousios” mà thôi. Dù Athanasius, theo công đồng Nicea, lên án “giống bản thể – homoiousios” là lạc giáo, Athanasius cũng chấp nhận lối giải thích của công đồng miền Alexandria năm 362 nói là Chúa Cha-Con-Thánh Thần có “Một bản thể” nếu lối nói này phải hiểu là Ba Ngôi Vị riêng biệt khác nhau, và cũng có thể nói là “Ba Bản Thể” với điều kiện không được hiểu là Ba Thiên Chúa. Xem John A. McGuckin “The Trinity in the Greek Fathers” in The Trinity – The Cambridge Companion, ed. P. Phan (Cambridge University Press, 2011), p. 62-65.

(10). Một câu đơn điệu trong tuyên ngôn công đồng Nicea: “Chúng ta tin vào Chúa Thánh Thần“. Câu này thêm vào nhằm chống lại nhóm Phản Thánh Thần lúc bấy giờ tuyên truyền rằng Chúa Thánh Thần không là Thiên Chúa, mà chỉ là tạo vật được Thiên Chúa dựng nên, rằng Chúa Thánh Thần luôn đứng sau Chúa Cha và Chúa Con. Họ xem Chúa Thánh Thần là một tertum quid – hữu thể thứ ba, giữa Thiên Chúa và con người. Xem H. Jedin, History of the Church, The Imperial Centuries from Constantine to the Early Middle Ages (New York, 1980) vol. 2, p. 73.

(11). Khi cầu nguyện, Kitô hữu có thói quen cầu nguyện trực tiếp với Chúa Cha hay Chúa Giêsu Kitô mà không cầu nguyện trực tiếp với Chúa Thánh Thần, hay đúng hơn họ cầu nguyện TRONG và QUA Chúa Thánh Thần mà thôi.

(12). Xem A. von Harnack, History of Dogma (New York, 1961) 4, p. 119. Thánh Basil tranh luận về thiên tính của Chúa Thánh Thần và tính bình đẳng của Ngài với Chúa Cha và Chúa Con dựa vào công thức rửa tội. Xem tác phấm của Ngài Về Chúa Thánh Thần trong bộNicene and Post-Nicene Fathers, 2nd series., vol. 8, p. 24.

(13). Thánh Athanasius là thần học gia chính chống lại lạc thuyết Arius. Những lý luận của Ngài được áp dụng trong tranh luận về thần học Chúa Thánh Thần, và những tư tưởng của Ngài được công đồng Constanstinople (381) đón nhận và được công đồng Chalcedon (451) lặp lại khi đúc kết thành Kinh Tin Kính mà chúng ta tuyên xưng ngày nay. Xem Athanasius of Alexandria, Against the Arians, 3.1-3.

(14). Anna Hunt, Trinity (Orbis book, New York) 14-17.

(15). Athanasius đã không sống để thấy những cố gắng của mình được công nhận ở công đồng Constantinople 381.

(16). Basil viết tác phẩm thần học quan trọng On the Holy Spirit (năm 375) trong đó ông nói Chúa Thánh Thần, cũng như Chúa Con, là đồng bản thể – homoousios với Chúa Cha, nhưng Basil không dám tiến xa hơn, nghĩa là không dám nói Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa.

(17). Các giáo phụ Cappadocians không hoàn toàn có cùng quan điểm thần học giống nhau, nhưng vì cùng ủng hộ lời dạy của Nicea và cùng hiểu tầm quan trọng của thần học Chúa Thánh Thần, họ được gom thành một nhóm gọi là các giáo phụ Cappadocian. Về danh từ “một bản thể, ba ngôi vị“, dù ít thấy trong các bài viết của các giáo phụ, nhưng tư tưởng này được các ngài giảng dạy rõ ràng.

(18). Trong bản kinh tin kính gốc tiếng Hi Lạp, các giáo phụ dùng những động từ khác nhau để chỉ việc Chúa Con và Chúa Thánh Thần từ Cha mà ra, và cũng để nói lên sự khác nhau giữa Chúa Con và Chúa Thánh Thần dù cả hai đến từ Chúa Cha. Với Chúa Con thì Ngài “được sinh ra – monogenes); với Chúa Thánh Thần thì Ngài không được sinh như Chúa Con, nhưng “từ Cha mà ra – ekporeuomenon). Basil còn nói Chúa Thánh Thần không được “sinh ra” như Chúa Con, mà là “hơi thở từ Chúa Cha“. Xem thêm tác phẩm của Gregory thành Nazianzus Oration 25.16; Oration 26.19.

(19). Tháng 11 năm 380, Theodosius I đến Constantinople và ra lệnh trục xuất giám mục Demophilus vì ông này theo lạc thuyết Arius. Tìm hiểu sắc lệnh “Cunctos populos” xem The Theodosian Code, ed. C. Pharr (Princeton, 1952) 16.1.2. và xem H. Jedin, History of the ChurchThe Imperial Centuries from Constantine to the Early Middle Ages (New York, 1980) 2, p. 68.

(20). Nhóm Phản Thánh Thần được coi là một phần của bè phái Macedonians, và chủ trương Chúa Thánh Thần không là Thiên Chúa, mà là tạo vật được dựng nên. Nhóm này bị công đồng vùng Alexandria (năm 362) và ÐGH Damasus (378) lên án.

(21). Câu hỏi là tại sao Theodosius triệu tập công đồng ở phương Ðông (Constantinople) và chỉ mời giám mục ở phương Ðông mà thôi (không có giám mục phương Tây dự)? Thưa, vì cơ bản, ông là hoàng đế bên phương Ðông (còn Gratian là hoàng đế phương Tây lúc bấy giờ), và lạc thuyết Arius chia rẽ Giáo Hội và đế quốc đe doạ bên Ðông nhiều hơn. Khi triệu tập công đồng, ông không hỏi ý kiến Ðức Giáo Hoàng Damasos, nhưng có báo cho giám mục Thessalonika biết. Vì không có Ðức Giáo Hoàng dự, công đồng Constantinople không được công nhận là công đồng chung cho đến khi công đồng Chalcedon (451) xác định lời dạy và vai trò công đồng này là công đồng chung.

(22).  Những tranh luận trước công đồng Constantinople thuyết phục là Chúa Thánh Thần đến từ Chúa Cha và Chúa Con. Xem Yves Congar, I Believe in the Holy Spirit, 3 vol. Trans. by David Smith (New York:Crossroad, 1997), xem đặc biệt 3:192-214.

(23). Công đồng chung được hiểu là cuộc họp được triệu tập cho toàn thể giáo hội; công đồng miền thì chỉ trong một vùng nào thôi. Các công đồng Nicea (325), Constantinople (381), Ephesus (431) và Chaceldon (451) là những công đồng chung.

(24). Giáo hội Công Giáo lý nhắc đến Chúa Thánh Thần nhận mọi sự từ Chúa Con (Gioan 16:14), được Chúa Kitô sai đi, và được gọi là Thần Khí của Ðức Kitô (Rm 8:9; 1 Pet 1:11) hay Thần Khí của Ðức Giêsu (Acts 16:7; Phil 1:19). Vì đã chia cắt từ năm 1054, nên Giáo hội Công giáo gọi ba công đồng trên là công đồng chung, nhưng giáo hội Chính Thống không công nhận vì họ không tham dự.

(25). Xem them Boris Bobrinkskoy, The Mystery of the Trinity: Trinitarian Exprericence and Vision in the Biblical and Patristic Tradition, (Crestwood, N.Y.: St. Vladimir’s Seminary Press, 1999).

Chia sẻ và bình luận

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *