TRANG CHỦ / ĐỨC MẸ / Thần Đô Huyền Nhiệm – Sinh Chúa Tại Belem

Thần Đô Huyền Nhiệm – Sinh Chúa Tại Belem

Mục Lục

Phần Thứ Hai: CUỘC ĐỜI CÔNG KHAI

 

17. SINH CHÚA TẠI BELEM

Khi Mẹ Maria đã gần tới ngày sinh hạ Ngôi Lời Nhập Thể, hoàng đế Rôma ban bố sắc lệnh truyền mọi người dân trong toàn đế quốc phải ghi tên vào Sổ Kiểm tra tại quê tổ của mình. Thánh Giuse rất phiền lòng vì sắc lệnh đó, khi loan tin cho Mẹ Maria, nhưng Mẹ nói với Thánh Cả: “Vua Cao Cả trên trời chỉ huy mọi biến cố ở trần gian, nên ta cứ tin tưởng phó thác mặc Ngài hướng dẫn: niềm cậy trông của chúng ta không bị đánh lừa đâu”. Mẹ biết rõ Con Mẹ sẽ sinh ra tại Belem, nhưng Mẹ không nói ra, vì nếu không có lệnh Chúa truyền, Mẹ chẳng bao giờ tiết lộ một bí mật nào của Thiên Chúa. Thánh Cả Giuse vẫn còn ái ngại cho tình trạng của Mẹ. Một đàng Ngài muốn Đức Mẹ cứ ở nhà, để Ngài đi một mình, lấy lẽ rằng lệnh vua chỉ buộc có gia trưởng, đàng khác, Ngài không thể không có Mẹ ở bên. Ngài rất lo ngại nếu Mẹ sinh nở khi mình vắng nhà, ai sẽ phục vụ Mẹ. Nhưng Thánh Cả không phải là một người kém đức tin, Ngài vừa xin Mẹ cầu nguyện cho biết thánh ý Chúa, vừa quyết định sẽ theo Mẹ về quê tổ. Vâng theo ý Thánh Cả, Mẹ Maria liền cầu xin Chúa. Chúa trả lời: “Con cứ đi với tôi tớ Giuse của Cha, Cha sẽ hết tình hiền phụ trợ lực con luôn”. Rồi ngay trước mặt Mẹ, Chúa ra lệnh cho một nghìn thiên thần vẫn hầu cận Mẹ phải đặc biệt ân cần phục dịch Mẹ trong cuộc hành trình này. Chúa lại truyền cho chín nghìn thiên thần khác tháp tùng Mẹ, ngay khi Mẹ vừa khởi hành. Mẹ thưa lại với Thánh Giuse lời Chúa đáp. Thánh Cả đầy niềm hân hoan. Dầu vậy, Ngài vẫn còn lo ngại ít nhiều về những hoàn cảnh có thể xảy ra khi đi đường mệt nhọc, nhất là Ngài sợ lỡ ra ngay trên đường hành trình mà Mẹ buộc phải lâm bồn chăng. Nhưng Mẹ trấn an Ngài: “Chúa đã phù hộ ta, ta cứ hoàn toàn cậy trông Chúa, để mặc Chúa lo liệu mọi sự cho ta”.

Thế là Đôi Bạn Thánh định ngày lên đường. Thánh Giuse phải đi mượn mãi mới được một con lừa nhỏ, bởi vì những con dùng đi đường được, người ta đã mượn và đi cả rồi. Mẹ biết trước sẽ vắng nhà lâu, nên đã xếp dọn chu đáo tất cả, và nhờ một người hàng xóm trông nhà giúp cho tới khi các Ngài trở về. Lúc khởi hành, Mẹ quỳ gối xin Thánh Giuse ban phép lành. Tất nhiên là Thánh Cả cố sức chối từ, nhưng rốt cuộc cũng phải nhường ý Đức Nữ Vương khiêm nhượng. Ngài chúc lành cho Mẹ với hết niềm tôn kính. Rồi đến lượt Ngài, Ngài phủ phục trước mặt Mẹ, xin Mẹ chúc lành cho nhân danh Con Mẹ đang cưu mang trong lòng. Bấy giờ là mùa đông, cuộc hành trình vì đó trở nên mệt nhọc. Nhưng Mẹ Maria chỉ lưu ý đến Chúa Thai Nhi, và cố sức bắt chước Con Mẹ trong mọi việc Con Mẹ làm. Mười ngàn thiên thần tháp tùng Đôi Bạn Thánh, đã hiện ra như người, với một ánh sáng rực rỡ hơn mặt trời, cho nên dầu gặp đêm tối, Mẹ và Thánh Cả cũng được sáng soi như ban ngày vậy. Cha hằng hữu còn sai nhiều thiên thần khác xuống mang tin cho Người Con duy nhất Nhập Thể của Ngài, cho Mẹ Maria và nhận tin của Hai Vị.

Các thiên thần đó tấu lên nhiều ca vịnh chúc mừng vinh quang của hai Mẹ Con. Mẹ và Thánh Cả Giuse cũng hát lên nhiều ca khúc ngợi khen Đấng Tối Cao. Nhưng không phải như thế mà cuộc hành trình không gian khổ. Nhiều người mà Đôi Bạn Thánh gặp trên đường đi đã gây phiền hà cho Mẹ Maria rất đoan trang nghiêm cẩn, vốn rất ít lời. Mà thực ra Mẹ cũng chẳng nói với ai nếu không cần thiết thật. Vì Đôi Bạn Thánh có vẻ nghèo, nên các hàng quán không tiếp đón tử tế. Họ để hai vị phải nằm ngoài cửa, hoặc có lần còn dồn hai vị xuống những căn phòng bỏ đi, đầy nhơ bẩn; cả đến có chỗ bắt hai vị phải trú chung với súc vật. Những con vật này còn không bất nhân bằng con người, chúng tránh chỗ và quỳ phục thờ lạy Đấng Sáng Tạo của chúng đang ngự trong lòng Mẹ. Tuy nhiên, các thiên thần vẫn canh giữ Đôi Bạn Thánh: lúc Mẹ đàm đạo với các vị, Thánh Giuse nằm ngủ một chút theo lời Mẹ xin. Nỗi đau khổ nhất của Mẹ là tình trạng linh hồn của những người Mẹ gặp thấy: Mẹ nhìn suốt thấu tâm hồn họ, nên Mẹ cầu nguyện cho tất cả, để xin ơn bền vững cho người lành, ơn cải đổi cho tội nhân. Một số tội nhân này, mặc dầu được Mẹ cầu nguyện cho, nhưng cũng phải hư mất vì họ không chịu đón nhận ơn Chúa ban. Nhìn thấy họ sẽ trầm luân như vậy, Mẹ hết sức đau khổ đến kiệt quệ. Lúc đó, các thiên thần, nhất là Đức Micae vẫn luôn ở bên hữu Mẹ, nâng đỡ Mẹ trên tay. Dầu phải chịu giá rét, gió lạnh, tuyết sa, Mẹ cũng không dùng quyền Chúa ban mà truyền lệnh cho chúng đừng gây phiền cực cho Mẹ. Mẹ vui lòng chịu đựng để bắt chước Con chí thánh Mẹ đang đón chờ đau khổ.

Sau năm ngày dài vất vả trên đường, Thánh Giuse và Mẹ đến Belem vào khoảng bốn giờ chiều thứ Bảy. Thánh Giuse và Mẹ đi hết nhà nọ sang nhà kia xin tạm trú, nhưng người ta đều xua đuổi. Cả những chỗ thân thuộc bà con cũng khinh chê hất hủi. Lúc đi ngang qua trụ sở ghi danh, đôi Bạn Thánh vào ghi tên và nộp phần thuế của mình, rồi lại đi tìm chỗ trọ. Tính ra trước sau đã có hơn năm mươi nhà hai Ngài đến xin trọ qua đêm mà không được.

Bấy giờ vào khoảng chín giờ đêm. Thánh Cả Giuse vừa mệt mã vừa buồn sầu; Ngài nói với Mẹ: “Lúc này, lòng tôi tan nát, hẳn là có một mầu nhiệm nào của Chúa trong sự vô tâm của những người cùng khốn nhất. Tôi sẽ đưa Đức Nữ đi đâu bây giờ? Không biết có còn nơi nào tạm ở được nữa, ngoài một cái hang đá mà tôi đã thấy ở ngoài thành”. Mẹ Maria trả lời: “Xin thầy đừng buồn vì không tìm được nơi nào tốt hơn cho Con chí thánh chúng ta. Trái lại, xin cùng tôi tạ ơn Ngài vì đã có ý định như thế. Nơi Thầy vừa nói đó rất hợp với sự nghèo nàn là kho tàng của Ngài, sự nghèo nàn mà chúng ta phải yêu mến. Thôi ta cứ vui lên mà đi ra hang”.

Những thiên thần sáng chói như đuốc dẫn lối cho Đôi Bạn Thánh ra hang đá. Hang này không có ai ở. Nó khốn nạn đến nỗi ở Belem bấy giờ dù đầy dẫy người, nhưng không ai thèm ra trú ở nơi đó. Khi vào tới hang, Mẹ và Thánh Cả liền quỳ xuống, vui mừng tạ ơn Chúa với một niềm vui trên trời. Mẹ cầu xin Chúa thưởng công cho những người ở Belem đã hắt hủi Mẹ, vì họ không cho trú nhờ mà Hai Vị mới được hạnh phúc tạm ẩn trong cái hang này. Nhất là Mẹ đã hiểu được thánh ý Thiên Chúa, ngay từ tạo thiên lập địa, đã chuẩn bị cái hang nghèo nàn ấy làm nơi sinh hạ cho Đấng Cứu Chuộc muôn dân. Hang được khoét tự nhiên trong một núi đá, cứng và lồi lõm, rất bất tiện, nên người ta chỉ dùng làm nơi cho trâu bò vào nghỉ tạm, chứ chẳng ai nghèo đến nỗi phải vào ở đó.

Mẹ bắt tay ngay vào việc quét dọn hang cho sạch sẽ, ít bất xứng với Con chí thánh của Mẹ hơn. Thánh Giuse đòi phần việc ấy cho mình. Nhưng bỗng dưng các thiên thần dàn hàng ngũ như một đội quân danh dự, sửa sang lại hang đá, phút chốc nên sạch sẽ gọn gàng, sực nức hương thơm lạ lùng. Tiết trời lạnh lắm, nên Thánh Giuse nhóm lên một đống lửa, xin Đức Thánh Nữ Trinh dùng với mình một chút lương thực. Vốn tuân phục, Mẹ nhận lời Ngài mời ngay, nhưng Mẹ vẫn trầm mặc với mầu nhiệm sắp thể hiện. Sau khi chuyện vãn với Bạn Thánh mình một lúc, Mẹ giục Thánh Giuse đi nghỉ. Thánh Giuse cũng mời Mẹ đi nghỉ, và lấy áo Ngài mang theo trải trên một cái máng khá rộng đặt trên nền đá hang, để làm chỗ nghỉ đêm cho Mẹ. Còn Ngài rút lui ra một góc phía cửa. Ở đấy, Ngài được xuất thần ngay, không còn hay biết gì bên ngoài cho tới lúc Mẹ Maria lên tiếng gọi Ngài.

Riêng phần Mẹ, không những Mẹ cũng xuất thần ngay như vậy, mà còn được thị kiến thấy Thiên Chúa cách chói lói vinh quang, làm cho các thiên thần cũng sững sờ không hiểu. Mẹ được thấy lại tất cả những kiến thức Mẹ nhận được trong các cuộc thị kiến trước, và nhận thêm nhiều kiến thức mới trong lòng Thiên Chúa vô cùng. Mẹ nhìn thấy rõ những lý do cao cả nhất, những mục đích tuyệt vời trong các việc lạ lùng Thiên Chúa làm, cả về phía Đấng Sáng Tạo cả về phía thụ tạo. Phủ phục trước ngai Thiên Chúa, Mẹ dâng lên những lời ca tụng và cảm tạ cho Mẹ và cho toàn thể loài người. Mẹ cũng hạ mình rất sâu thẳm cầu xin Chúa ban cho mình những ân sủng đặc biệt để xứng đáng chu toàn nhiệm vụ làm Mẹ Ngôi Lời Nhập Thể mà Mẹ sắp sửa được bế trên tay và cho bú sữa. Trong khi Mẹ tự hạ xuống tới hư vô như vậy, Thiên Chúa nâng Mẹ lên tới Ngài, và nói với Mẹ rằng: Con chính là Mẹ thật của Con Cha, nên con cứ xử với Con Cha như Con thật mình, với tư cách người mẹ thật.

Sau hơn một giờ tham hưởng thị kiến đó, lúc dùng lại được giác quan, Mẹ cảm thấy Thai Nhi Thiên Chúa chuyển động trong cung lòng đồng trinh của Mẹ. Chuyển động ấy không hề gây cho Mẹ một đau khổ nào, mà còn sản ra trong linh hồn Mẹ tràn đầy hân hoan những hiệu quả tuyệt vời trong thân xác đã nên thiêng liêng của Mẹ, mà tâm trí con người không thể hiểu được. Mẹ trở nên xinh đẹp lộng lẫy, xem ra không còn phải là một thụ tạo ở dưới đất nữa. Gương mặt Mẹ giãi sáng như mặt trời huy hoàng; phong thái Mẹ uy nghi khôn sánh, và Trái Tim Mẹ rừng rực tình yêu nồng cháy hơn cả. Lúc ấy Mẹ đang quỳ trong máng cỏ, chắp tay trước ngực, mắt ngước lên trời, hồn trí cắm chặt vào Thiên Chúa, toàn thân Mẹ trở nên như Thiên Chúa. Chính lúc đó là lúc Mẹ sinh hạ Ngôi Lời Nhập Thể làm người. Ngài sinh ra giữa lúc nửa đêm, vào ngày Chúa Nhật, năm 5199 từ khi sáng tạo, như Giáo hội dạy.

Chúa sinh ra khỏi lòng Mẹ, nhưng không hề làm Mẹ tổn hại hay nhơ ố gì; trái lại, còn thánh hiến đức khiết trinh của Mẹ với nhiều rực rỡ hơn, như một tia sáng của mặt trời thấu qua thuỷ tinh càng làm cho thuỷ tinh nên lộng lẫy. Chúa không phải luỵ phục luật thiên nhiên chút nào trong hoàn cảnh này, vì đã đầu thai hoàn toàn tinh sạch. Sự đẹp đẽ, vinh quang của Linh Hồn Ngài giãi chiếu trên Thân Xác Ngài rất huy hoàng chói ngợp, như sau này khi biến hình trên núi Tabôrê. Thiên Chúa muốn cho Mẹ Maria nhìn thấy Ngài lần đầu tiên trong ánh sáng vinh hiển đó, để Mẹ cảm thấy càng phải tôn kính Ngài hơn, và để, trong những ánh nhìn khoái lạc ấy, mắt Mẹ được một phần thưởng vì đã trung tín nhắm lại trước hết mọi sự vật trần gian.

Hai vị Tổng Thần của triều đình thiên quốc là Đức Micae và Đức Gabrie mặc hình người tham dự quang cảnh lạ lùng ấy. Hai vị nâng Chúa Hài Nhi trên tay mình khi Ngài vừa sinh ra, và nâng lên cho Mẹ Maria trong lúc Thân Mình Ngài chói lọi ánh sáng, như linh mục nâng bánh thánh lên sau khi truyền phép cho giáo dân quỳ gối tôn thờ. Lúc đó Con và Mẹ nhìn nhau, xuyên thấu vào nhau vì yêu mến. Chúa nói với Mẹ: “Mẹ ơi, Mẹ hãy trở nên tương tự như con đây. Vì hữu thể nhân loại mà Mẹ tặng Con, Con muốn ngay từ hôm nay tặng Mẹ một hữu thể khác cao cả hơn, tương tự như hữu thể của Con qua khuôn mẫu hoàn toàn”. Mẹ trả lời: “Con hãy lôi cuốn Mẹ đi, Mẹ sẽ chạy theo hương thơm của Con”. Mẹ Con Đấng Cứu Thế trao đổi cho nhau những lời trong sách Diễm Ca. Đồng thời với lúc Chúa Hài Nhi truyện trò với Mẹ Ngài, Ngài mở cho Mẹ thấy nội tâm Linh Hồn của Ngài, để Mẹ bắt chước mà nên giống như Ngài tuỳ khả năng của Mẹ. Ta chớ quên rằng ân huệ này vẫn tiếp tục ban cho Mẹ suốt cuộc đời Mẹ. Sau đó, Mẹ nhìn thấy Thiên Chúa Ba Ngôi hiện diện, và nghe thấy lời phán với Mẹ: “Đây là Con rất yêu dấu Ta, Ta chỉ hài lòng nơi Ngài”. Mẹ Maria thưa lên: “Lạy Cha hằng hữu, một lần nữa, xin Cha chúc phúc lành cho con, để con chu toàn nhiệm vụ làm Mẹ và làm nữ tì của Con Cha”. Đấng Tối Cao phán: “Con hãy tiếp nhận Con duy nhất của Cha. Và đừng quên rằng khi Cha đòi lại, con phải dâng tế cho Cha. Trong khi chờ đợi, con hãy làm Mẹ dưỡng nuôi Ngài, và tôn kính Ngài như Thiên Chúa của con”. Mẹ xin nài: “Xin Cha ban ân sủng xuống trang điểm cho con, để con đáng được Con của Cha và Chúa của con đoái nhận làm nữ tì Ngài; để con phục vụ Ngài cho đẹp lòng Ngài; và để một thụ tạo hèn mạt là con đây được ẵm Đấng Sáng Tạo của con, Thầy Dạy của con trên tay và lấy sữa nuôi Ngài”.

Sau những cuộc trao đổi ấy, Hài Nhi-Thiên Chúa không giãi ánh vinh quang trong Linh Hồn Ngài ra Thân Xác nữa, nhưng xuất hiện trong tình trạng tự nhiên. Mẹ Maria lúc đó vẫn quỳ gối, rước lấy Con của Mẹ từ tay hai Tổng Thần. Khi đã ẵm Con trong tay, Mẹ nói với Con Mẹ: “Con rất yêu dấu dịu dàng của Mẹ, hãy nhận Mẹ làm nữ tì hầu hạ Con, và bổ khuyết cho chỗ thiếu sót của Mẹ. Con rất dấu yêu, Con muốn Mẹ xử với Con thế nào, hãy cho Mẹ nên như thế để đúng ý Con muốn”. Mẹ lại một lần nữa thân thưa với Cha hằng hữu rằng: “Lạy Đấng Sáng Tạo vũ trụ, đây là bàn thờ và Hi Lễ đẹp mắt Chúa. Xin Chúa dủ thương ghé mắt nhìn đến những người tội lỗi. Con được hạnh phúc này cũng là nhờ họ một phần nào. Cho nên sẽ không bao giờ con không yêu thương họ và săn sóc họ”. Rồi, nhìn tới khắp mọi người, Mẹ nói với họ: “Đừng sợ, cứ lại gần đây: tay Mẹ đang ẵm Con Thiên Chúa rất hiền từ. Hãy đến để được sống”. Sau cùng, quay lại Con Mẹ, Mẹ nói: “Phần Con, hỡi kho tàng chí ái của linh hồn Mẹ, Con hãy hôn Mẹ đi và đón nhận nụ hôn Mẹ đặt trên Con”. Rồi Mẹ nâng niu vỗ về Con Mẹ hết sức yêu đương như Con Mẹ từng đợi chờ.

Mười ngàn thiên thần ngây ngất trước cảnh tượng đó, các Ngài mặc hình người phục xuống thờ lạy Đấng Sáng Tạo làm người của mình. Hơn nữa, tất cả các thiên thần cũng đều hiện diện lúc Chúa Ba Ngôi đặc biệt đến tham dự cuộc sinh hạ Đấng Cứu Chuộc; tất cả đều đồng thanh xướng lên ca ngợi Chúa bài tân ca này: “Sáng danh Thiên Chúa trên các tầng trời cao thẳm, và hoà bình cho những người lòng ngay dưới đất”.

Chính vào lúc đó, Mẹ Maria lên tiếng gọi Thánh Giuse; Ngài đang được xuất thần, được mạc khải cho biết những mầu nhiệm đang thể hiện. Ngài sử dụng giác quan lại, và đối tượng đầu tiên Ngài nhìn thấy đó là Hài Nhi-Thiên Chúa đang nằm trên tay Mẹ Maria, áp mặt vào lòng Mẹ. Ngài hạ mình sâu thẳm thờ lạy Chúa trên bàn thờ sống động là vòng tay đồng trinh của Mẹ. Ngài kính cẩn hôn chân Chúa với một nguồn vui tràn trề ngất ngây hầu chết, nếu Chúa không thêm sức cho Ngài.

Sau việc tôn thờ đó, Mẹ Maria xin phép Con mình để ngồi xuống, vì cho tới bấy giờ Mẹ vẫn quỳ. Thánh Giuse mang khăn áo đến, Mẹ nhận lấy quấn cho Hài Nhi-Thiên Chúa với một tâm hồn rộng mở, một niềm kính cẩn, một sự tế nhị không thể tả, rồi Mẹ đặt Chúa trong máng cỏ bằng đá mà Mẹ đã phủ lên một lớp rơm và cỏ khô. Trong lúc đó, theo lệnh Chúa, một con bò từ ngoài đồng chạy vào, hợp sức với con lừa nhỏ Mẹ đem theo, cả hai phục xuống trước Đấng Sáng Tạo chúng, thở hơi cho bớt lạnh. Ở đây đã thể hiện lời tiên tri Isaia: “Con bò con lừa nhận ra được chủ mình, còn Israel không nhận biết Ngài” (Is 1,3).

LỜI MẸ HUẤN DỤ

Hỡi con, con hãy giữ kín bí mật nội tâm con, như Mẹ đã phong kín trong cuộc hành trình Belem. Con hãy trọng ý kiến người khác hơn ý kiến con, và nhắm mắt lại tuân phục các bề trên và linh hướng của con, cả khi con biết rằng nếu theo lời các ngài, kết quả sẽ xảy ra ngược lại.

Ngoài ra, Mẹ còn ước mong không những con lìa biệt thế gian, mà còn bị thế gian khinh chê ghét bỏ như Mẹ, khi Mẹ ở Belem nữa. Được loài người kính nể, con có lợi gì và bị người đời chê khinh con có mất mát gì không? Đó chỉ là giả dối, là hư vô, là một chút bóng mau qua. Cho nên con hãy khước bỏ tất cả những gì có mùi trần tục. Nếu thế gian không khinh chê con như con ước mong, con hãy khinh chê nó như nó đáng khinh. Con hãy giữ cho lòng con được độc lập và siêu thoát mọi sự. Con hãy ở một mình con với một mình Thiên Chúa, để đón nhận dào dạt những đợt sóng yêu đương của Ngài và hoàn toàn tự do mà ứng đáp. Con đừng ngưng lại vì một trở ngại nào, đừng bỏ quên một hành vi nhân đức hay hoàn thiện nào, dầu cực nhọc đến đâu đi nữa. Nếu muốn nên hoàn thiện, con đừng giới hạn tình thân với Thiên Chúa và ơn cứu rỗi đời đời ở một mức nào, song hãy hoạt động để thánh hoá tha nhân, làm cho mọi người yêu mến Con Mẹ và trở nên một khí cụ trong tay Ngài, khi Ngài muốn dùng con để làm vinh danh Ngài hơn.

Để được thế, con hãy học hỏi nơi Mẹ cho biết phải xử với Ngài cách kính sợ đạo hạnh thế nào, tôn trọng khiêm nhượng thế nào và mến yêu chí thiết thế nào. Con hãy làm như Mẹ khi Mẹ ẵm Ngài trên tay, nhất là khi con rước Ngài trong Thánh Thể. Khi Ngài ngự vào miệng con, con hãy nhớ rằng: Ngài cũng lặp lại cho con lời Ngài đã nói với Mẹ: “Hãy trở nên tương tự như Cha”. Ngài muốn con chứng tỏ với Ngài, nhất là lúc ấy, một niềm tri ân như là Ngài đã từ trời xuống thế chỉ vì một mình con thôi.

Chia sẻ và bình luận

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *