| |
Chúa Nhật Phục
Sinh 01 - Năm C
Cv 10,34a.37-43 / Cl 3,1-4 / Ga
20,1-9
Jude
Siciliano, op. : Các Bài Đọc Vọng Phục Sinh
An Phong op :
Hãy vững tin, Đấng Phục Sinh đang ở với bạn đó
Như Hạ op :
Halleluia !!!
Đỗ Lực
op : Sức Mạnh Tình Yêu
Giuse Nguyễn
Cao Luật op : Chúng tôi xin làm chứng
Jude
Siciliano, op. : Ánh sáng đã bùng lên giữa đêm tối
Jude
Sicilianô, op : Hãy Phục Sinh với Chúa Kitô Alleluia
Jude
Siciliano, op. : Ánh Sáng Của Niềm Tin
Giacôbê Phạm
Văn Phượng op : Sự kiện mộ trống
Đaminh Vũ Hà
Tiên op : Chúa Kitô phục sinh là lẽ sống đời ta
Đỗ Lực :
Ngàn Năm Một
Thuở
Jude
Siciliano, op. : Trong Niềm Tin vượt qua sự chết của tội
Jude Siciliano, op : Tình Yêu Khơi Nên Hy Vọng
Phục Sinh
Jude Siciliano op:
Sẵn sàng sống
niềm tin của mình
Lm. Jude Siciliano, OP.
Các Bài Đọc Vọng Phục
Sinh
Thưa quý vị. Hôm nay có khá nhiều bài đọc
Thánh kinh. Tất cả là 9 bài. Mỗi bài nói lên một khía cạnh của ơn Thiên
Chúa cứu độ. Xin kiên nhẫn lắng nghe, đừng bỏ qua bài nào. Và lưu ý đến
dòng chảy của chúng. Trước hết, là trình thuật về vũ trụ và hai ông bà
nguyên tổ được tạo dựng. Sau khi có mặt, hai ông bà được Chúa trao cho
chức vụ "quản gia" toàn bộ những gì Ngài đã dựng nên. Bản văn này
là một mẫu mực tiêu biểu để lượng giá tốt xấu công tác của loài người
hiện nay trong việc "trông coi" vũ trụ. Ô nhiễm ghê gớm sông ngòi, biển
khơi, đồng ruộng, núi đồi, thôn quê, thành thị. Thực vật, động vật bị
tàn phá không nương tay. Đó là những gì con người đang làm trong cương
vị "quản gia" ! Thế thì tự hỏi xem lời chúc phúc nguyên thủy của Thiên
Chúa trên vạn vật "mọi sự đều tốt đẹp" trong vườn địa đàng có được loài
người lắng nghe ?
Nếu có, tại sao chúng ta không chia sẻ
tình yêu của chúng ta với vạn vật trong vũ trụ ? Chúng đang chịu khốn
đốn, rên siết dưới bàn tay con người ! Do đâu vậy ? Rõ ràng là tội lỗi
đã thâm nhập linh hồn con người và thế giới, phá hủy hành ảnh và họa ảnh
(giống như Ta) của Thiên Chúa nơi mỗi cá nhân. Từ đấy suy ra rằng, ơn
cứu độ là cần thiết, để cứu loài người, cứu thế giới khỏi sức công phá
của tội lỗi.
Thượng đế đã ra tay cứu giúp và khởi sự
bằng ơn gọi của Abraham (bài đọc II). Thiên Chúa chọn và gọi ông cùng vợ
là Sara, bỏ cha mẹ, nhà cửa, quê hương, xứ sở, để đi đến đất Canaan cư
ngụ. Hai ông bà chưa có con và chỉ vì lời "hứa" có dòng giống đông đúc
như "sao trên trời, cát dưới biển" mà hai ông bà cất bước ra đi
vào nơi vô định. Đến khi có một mụn con trai là Isaac thì Chúa lại
truyền phải hiến tế cho Ngài. Abraham vâng lời nhưng ruột gan như cắt.
Nghi lễ hiến tế Isaac là hình ảnh rất cảm động của Chúa Giêsu sau này.
Từ Isaac nảy sinh một dân tộc được chúc phúc, được tuyển chọn. Ngày nay
là dân Do thái. Chúa Giêsu đã sinh ra từ dòng giống Do thái.
Bài đọc thứ III, sách Xuất hành, phản ánh
công trình Thiên Chúa giải thoát dân Israel ra sao. Một biến cố hết sức
kỳ bí, hùng vĩ. Nói lên quyền năng giải phóng của Thiên Chúa cứu vớt
tuyển dân khỏi vòng nô lệ Ai cập. Ngày nay là nhân loại khỏi vòng tội
lỗi. Điều này được thực hiện bằng phép lạ "nước rẽ ra", biểu
tượng cho bí tích rửa tội của Hội Thánh qua mọi thời đại. Như vậy, bài
đọc thứ ba mang tính cứu chuộc cao độ qua việc thanh tẩy con người khỏi
ảnh hưởng tội lỗi. Thế là chúng ta được nghe Isaia, Baruch, Ezekiel rao
giảng về lòng Chúa thương xót, thứ tha. Các ngài kêu gọi nhân loại trở
về với Thiên Chúa một cách rất cụ thể, dùng những hình ảnh sống động đến
mức khó nghe : "Đấng đã trở nên chồng của ngươi". Nhiều tiên tri
tiến xa hơn nữa làm như thể Thiên Chúa "điên khùng" vì yêu thương
nhân loại. Chúng ta sẽ tìm thấy ơn tái sinh và tiến trình đối mới ở đâu
? Tiên tri Isaia chỉ rõ : "Tất cả những ai đang khát, hãy đến mà uống
nước không phải trả đồng nào" (Các câu trích từ các bài đọc).
Sứ điệp thuyết phục nhất trong các bài
đọc đêm nay là lòng nhân từ, hào hiệp của Thiên Chúa. Ngài thương xót
nhân loại, chẳng phải vì họ trung thành. Họ phụ bạc là điều quá hiển
nhiên. Họ chẳng xứng đáng điều chi nếu lượng định trên căn bản công lênh.
Hình phạt hỏa ngục là kỷ phần thích đáng nhất cho những công việc nhân
loại đã làm. Tiên tri Ezekiel tuyên bố : "Họ đã làm nhơ bẩn danh Ta
giữa các dân tộc". Cho nên "Hỡi nhà Israel, không phải vì các
ngươi mà ta hành động, nhưng vì danh Thánh Ta đã bị các ngươi xúc phạm".
Ngài hằng luôn yêu thương và tha thứ, bất kể nhân loại ngang ngược
ra sao. Thiên Chúa không thể làm khác được. Đó là bản chất của Ngài.
Ngài luôn luôn hành động tuân theo bản chất đó. Tự nhiên phải là như vậy.
Nước tẩy rửa đã được loan báo nhiều lần
trong Kinh thánh đêm nay sẽ tuôn trào trên các tân tòng, sát nhập họ vào
cộng đồng chúng ta, vào thân thể nhiệm màu Chúa Kitô. Mang thân phận con
người như chúng ta, họ đã lang thang khắp nơi, quanh co khắp nẻo, lạc
khỏi chương trình của Thiên Chúa, khỏi phúc lành cội rễ của Ngài. Nhưng
Ngài vẫn trung thành với chúng ta. Chương trình, ước muốn của Ngài cho
chúng ta, là chúng ta được tự do hạnh phúc, chứ không phải nô lệ kìm kẹp.
Cho nên nước rửa tội đêm nay nhắc nhớ mọi người tín hữu công việc giải
phóng của Ngài cho nhân loại. Chúng ta chẳng xứng đáng cuộc giải phóng
đó, chẳng xứng đáng tình yêu "điên khùng" của Thiên Chúa. Nhưng
qua tiên tri Ezekiel Ngài nói : "Vì danh thánh Ta" Ngài chẳng để
chúng ta mãi mãi làm nô lệ, kẻ lưu đày. Cuối cùng các bài đọc sẽ dẫn dắt
người nghe đến tư tưởng cao nhất của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân
loại là Ngài sai con Người đến trần gian. Cuộc đời Chúa Giêsu cứu thế
chứng minh sứ điệp Thiên Chúa yêu thương chúng ta bất kể thái độ của
chúng ta. Ngay cả dưới sự đe dọa tử hình, Chúa Giêsu không lùi bước khỏi
sứ điệp đó. Tiên tri Isaia đã bóng gió "Lời từ miệng Ta phán ra, sẽ
không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn
của Ta, và làm tròn sứ mệnh Ta ủy thác" (bài đọc 5).
Chuyển
sang bài thánh thư, trích từ lá thư dài, danh tiếng, của thánh Phaolô
gởi giáo đoàn Roma. Điều làm tôi chú ý là cụm từ : "Chúng ta đã chịu
phép rửa trong cái chết của Ngài". Câu đó có nghĩa chi ? Và những
hậu quả nào trong cuộc đời tín hữu ? Xưa nay, bên giếng rửa tội, chẳng
mấy người dám nói lên điều đó. Có lẽ sợ rằng người ta sẽ chẳng dám xin
rửa tội nữa chăng ! Người ta thích nhấn mạnh khía cạnh lạc quan hơn, tức
là được sinh lại để sống cuộc sống mới. Tôi cũng thích như vậy. Nhưng
xin nhớ, chúng ta đang sống trong Tam Nhật Vượt Qua. Chúa Giêsu phải qua
cái chết rồi mới sống lại. Chúng ta phải chết cho con người cũ, thói
quen cũ, tội lỗi cũ rồi mới có thể tiến vào cuộc sống mới.
Nói theo cách hoàn toàn nhân loại, đầu
tiên, là chúng ta được rửa trong số phận loài người – nước rửa là nước
ấm của dạ mẹ chúng ta. Rồi chúng ta được dìm vào thân phận con người. Đó
là cuộc sống duy nhất mà chúng ta biết được. Bên cạnh những điều vui, có
biết bao hạn chế và ô nhiễm mà chúng ta vướng mắc phải khi sống với
những người chung quanh. Tỷ như chúng ta mắc bệnh ho lao, là bởi đi qua
những phòng lao, thở hít không khí nhiễm lao. Tội lỗi cũng ở trong bầu
không khí xã hội. Chúng ta cũng hít vào ngay trong hơi thở đầu tiên của
cuộc đời – ghen ghét, thù hằn, ích kỷ, độc ác, dâm ô, phân biệt chủng
tộc, màu da… danh sách dài vô tận. Suốt cuộc đời chúng ta hít thở bầu
khí hôi thối, ô nhiễm. Muốn được trong lành, chúng ta phải chấm dứt hít
thở theo lối này. Và phải bắt đầu bằng lối khác.
Thánh Phaolô dạy chúng ta phải chết để có
cuộc sống mới, hay "phải chịu phép rửa trong Đức Kitô". Ngài nhận
ra Chúa Kitô là nhân loại mới. Chúng ta phải tháp nhập vào nhân loại đó
để có được không khí trong lành, không còn ô nhiễm nữa, tức đời sống mới.
Thánh nhân nói rõ hơn (2 Cr 5,15) Đức Kitô đã chết thay cho mọi người,
để những ai sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã
chết và sống lại vì mình. Phép thánh tẩy của mỗi người chúng ta nói lên
tư tưởng đó. Sự thật cũng là như vậy.
Trong những thế kỷ đầu tiên của
Giáo Hội, người ta thực hành bí tích Rửa Tội rất cụ thể : Dìm toàn thân
xuống nước, rồi lại nhô lên. Dìm xuống có nghĩa là chết đi, bị chôn vùi
và nhô lên tượng trưng sống lại (Cv 8,36-39). Khi dìm xuống ngưng thở,
khi nhô lên chúng ta thành một người mới, hít hơi thở đầu đời như đứa
trẻ sơ sinh ra khỏi lòng mẹ. Ơn thánh trong lành đã tràn ngập linh hồn
chúng ta. Lúc này, xin hãy chú ý đến từ ngữ của thánh Phaolô : "Với
Chúa" qua bí tích Rửa Tội, tỷ như : "Với Ngài qua cái chết giống
như Ngài", "chịu đóng đinh thập giá với Ngài", "chết với Ngài", "cùng
sống với Ngài". Những từ ngữ này diễn tả chúng ta liên kết chặt chẽ
với Chúa Kitô. Có một thành ngữ khác thánh Phaolô dùng còn chính xác hơn
: "Lớn lên trong sự hợp nhất với Ngài" dịch sát chữ là : "Lớn
lên cùng với Ngài". Đó là từ ngữ của kỹ thuật ghép cây. Như vậy khi
chịu phép thánh tẩy, chúng ta được tháp vào Chúa Kitô, cùng lớn lên với
Ngài. Ngài chết thì cây ghép cũng chết. Ngài sống lại thì chúng ta cũng
phục sinh. Tuy nhiên, biến cố phục sinh của chúng ta vẫn còn ở trong
tương lai. Cho nên đời sống kết hợp với Chúa Kitô, tháp nhập vào Ngài,
chưa phải là đã hoàn hảo. Chúng ta vẫn còn chờ đợi trạng thái hoàn hảo,
tiến lên trong trạng thái đó, tức phải trông mong điều mà thánh Phaolô
diễn tả trong cụm từ trên : "Cùng sống với Ngài".
Như vậy, chúng ta vẫn còn phải tiếp tục
đấu tranh chống "bầu khí ô nhiễm (bad air)" trong môi trường
chung quanh. Thật rất khó để làm được như vậy, hít không khí vào mà
không khí bị ô nhiễm ! Tuy nhiên, chúng ta không cô độc trong đời sống
mới này. Chúa Giêsu hằng ngự trong linh hồn chúng ta. Người là bạn đồng
hành, là đại tướng chỉ huy. "Ngài đã chết một lần cho tội là đủ".
Nghĩa là tội lỗi có thể giết chết Ngài, nhưng không thể thắng được Ngài.
Chiến thắng đã là kỷ phần của chúng ta, chỉ còn việc là chiếm lấy và
thời gian chẳng còn bao xa. Amen. Alleluia.
An Phong op
Hãy vững tin, Đấng Phục
Sinh đang ở với bạn đó
(Ga 20,1-9)
Nguồn mạch sự sống đã đến giữa chúng ta.
Nguồn mạch sự sống đã chết cho chúng ta. Đấng đã tặng ban chúng ta cái
chết của Người, Người chẳng để lại sự sống của Người cho ta đấy sao ?
Vì vậy ơn cứu độ đâu phát sinh từ cõi hư
vô.
Tại sao (thế ) ? - Vì ơn cứu độ không hề
chấm dứt.
Này anh em, Chúa Giêsu hiện ra lúc nào ?
- Lúc họ đang bẻ bánh.
Nơi chúng ta, không có gì phải xao động.
Chúng ta bẻ bánh và chúng ta nhận ra Chúa. Chúng ta là những kẻ không
xem thấy Người trong xác thịt, nhưng lại tiếp nhận thân xác Người.
Này bạn, dù bạn là ai, bạn là người tin
vào Người, bạn đừng mang danh kitô hữu cách hư luống, bạn đâu có vào nhà
thờ cách ngẫu nhiên, bạn là người lắng nghe lời Chúa trong kính sợ và hy
vọng, bạn hãy vững lòng trong lúc bẻ bánh này; Sự vắng bóng của Chúa
không phải là một sự vắng bóng đâu.
Bạn hãy vững tin vì Chúa đang ở với bạn,
dù bạn không xem thấy Người. Khi được Chúa Giêsu xuất hiện, các môn đệ
không hề có chút lòng tin. Họ không tin Người đã sống lại, họ không hy
vọng việc Người có thể sống lại. Họ đánh mất niềm tin, họ đã mất hy vọng.
Họ bước đi bên cạnh một Đấng đang sống như những người chết, họ bước đi
như những người chết bên cạnh người sống. Sự sống cùng đi với họ nhưng
trong tâm hồn họ, không một sự sống nào đã lại phát sinh.
Nếu bạn ước mong sự sống, bạn hãy làm như
hai môn đệ và bạn sẽ nhận ra Chúa. Họ đã mời Ngài ở lại. Còn Chúa làm
như muốn đi xa hơn, nhưng họ đã giữ Người lại. Khi đã tới nơi định tới,
họ nói cùng Người :
Ngài hãy ở lại với chúng tôi, vì trời đã
tối rồi.
Bạn hãy giữ người khách lạ lại nhà,
nếu bạn muốn nhận ra Đấng Cứu Thế của bạn. Sự hiếu khách đã trả lại cho
hai môn đệ những gì mà sự nghi ngờ đã cướp đi khỏi họ. Chúa đã tỏ mình
cho họ đang lúc bẻ bánh. Anh em cũng hãy học biết nơi tìm Người, nơi
chiếm hữu Người, nơi nhận ra Người : đó là lúc bẻ bánh với Người.
(Thánh Augustinô).
Lạy Chúa,
Đừng ai làm tảng đá ngăn Chúa và con,
con muốn nhìn thấy Chúa, chạm tay vào người Chúa.
Lạy Chúa,
đừng có sách vở nào, dù thông thái, dù đạo đức tới đâu,
làm giảm tính chất trong sáng và hương vị sứ điệp Chúa,
con muốn gặp Đức Kitô của Maria Mađalêna,
của các thánh tông đồ,
Đức Kitô của những kẻ bé mọn, những kẻ đơn sơ,
Đức Kitô nói giọng quê Galilê,
rất gần gũi thân thiết với giọng miền quê con,
Đức Kitô cất tiếng bảo con : "Ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy".
Lạy Chúa,
xin cho con được gặp Ngài trong niềm vui của lòng tin.
Lm Như Hạ
HALLELUIA !!!
Niềm vui chỉ là mấy phút phù du hay là
điểm quan trọng làm nên cuộc đời ? Đức Giêsu sẽ mạc khải cao điểm cuộc
đời chính là niềm vui, chứ không phải đau khổ trong thân phận con người.
NIỀM VUI PHỤC SINH.
Đức
Giêsu đã tìm thấy ý nghĩa khổ đau khi đối diện với cái chết. Nhưng nếu
không dẫn đến Phục sinh, chắc chắn cái chết đó chẳng có ý nghĩa gì cả.
Bởi vậy, Phục sinh phải đem ý nghĩa cho cuộc đời. Tự bản chất, đau khổ
thật là phi lý. Chính vì thế, Phục sinh trở thành một biến cố vĩ đại
nhất, vì trả lại cho đời tất cả những nét tươi mát và trong sáng nhất.
Có ánh sáng Phục sinh, tất cả đêm đen sẽ
tan biến. Làm chứng cho ánh sáng Phục sinh có cả đội ngũ ngôn sứ và tông
đồ. Quả thực, "tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng
phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội." (Cv
10:43). Sứ mệnh cứu độ đó chỉ được hoàn thành trong biến cố Phục sinh.
Chính các tông đồ là chứng nhân Phục sinh đã xác quyết : "Ngày thứ ba,
Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường
trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng
tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi
chết sống lại." (Cv 10:40-41)
Người vẫn hiện diện âm thầm như thế trong
đời thường. Những kinh nghiệm cụ thể đó đã bù đắp vào những thiếu sót
trong hiện tượng mồ trống, một kinh nghiệm vừa ẩn vừa hiện.
Hiện
trường mồ trống hoàn toàn vắng bóng nhân vật chính. Đức Giêsu chỉ hiện
diện một cách vô hình nơi nấm mồ trống với những băng vải và khăn che
đầu, cũng như nơi các môn đệ với những trao đổi qua lại. Nhưng Người
hiện diện mãnh liệt nhất qua niềm tin của môn đệ : "Ông đã thấy và đã
tin" (Ga 20:8) Đức Giêsu Phục sinh. Mãnh liệt đến nỗi hầu như ông
thấy toàn bộ Kinh thánh đều hướng về biến cố Phục sinh và củng cố niềm
tin ấy. Thực vậy, "theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy tự cõi
chết." (Ga 20:9). Quả thực, làm sao ơn cứu độ có thể mở ra với cái
chết như một bế tắc của định mệnh khắc nghiệt ? Nếu Đức Giêsu kết thúc
sứ mệnh nơi cái chết, làm sao có thể thấy được bằng chứng Chúa Cha đã
nhận lời Chúa Con ? Nếu Đức Giêsu không Phục sinh, bao lời Người hứa chỉ
là hão huyền và niềm tin thành hư không. Nếu không sống lại, chắc chắn
Đức Giêsu đã không thể làm cho cuộc đời thành một Tin Mừng lớn lao đến
thế.
Quả thực, sau khi Phục sinh, Đức Giêsu đã
làm vang lên khắp vũ trụ lời ca Halleluia. Chính nhờ Đức Giêsu Phục sinh,
thánh Phaolô mới có lý do để hô hào : "Anh em hãy vui luôn trong niềm
vui của Chúa ! Tôi nhắc lại : vui lên anh em !" (Pl 4:4) Bất cứ ai
khi đã gặp Đức Giêsu Phục sinh đều không che dấu nổi niềm vui bùng vỡ.
Quả thế, khi ra khỏi mộ, các phụ nữ "rất đỗi vui mừng." (Mt
28:8). Khi xem thấy chân tay Đức Giêsu, các tông đồ "mừng quá" (Lc
24:41) vì vượt quá sức tưởng tượng. Niềm vui bùng bỡ vì Đức Giêsu đã
sống lại để hoàn thành tất cả công trình cứu độ vĩ đại như Người đã hứa.
Niềm vui từ đầu tỏa xuống toàn thân. Ngày
nay nhiệm thể Đức Giêsu vẫn giữ được trọn vẹn niềm vui đó. Bằng chứng
Giáo Hội vẫn có khả năng rao truyền Tin Mừng Phục sinh cho toàn thể nhân
loại. Sở dĩ Giáo Hội có khả năng đó vì "Thần Khí của Đấng đã làm cho
Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí làm cho thân xác
của anh em được sự sống mới." (Rm 8:11) Đó là lý do tại sao thánh
Phaolô dám quả quyết : "Sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng
với Đức Kitô nơi Thiên Chúa." (Cl 3:3). Sự sống mới tràn ngập "sự
công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần." (Rm 14:17) Đó là
những sức mạnh nâng cao vũ trụ. Đó là những giá trị thuộc thượng giới,
nơi Đức Kitô "đang ngự bên hữu Thiên Chúa." (Cl 3:1) Muốn canh
tân bộ mặt trái đất và xây dựng một cuộc sống thực sự hạnh phúc, "anh
em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm
vào những gì thuộc hạ giới," (Cl 3:2) tức là những bất công, ích kỷ,
hận thù, tham lam, v.v.
Tuy thế, "nếu Đức Kitô ở trong anh em,
thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban
cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính." (Rm
8:10) Vì chính Thần Khí sẽ làm cho mọi người sám hối như bước đầu niềm
hi vọng, bắt nguồn từ niềm tin vào Đức Giêsu Phục sinh.
NIỀM VUI PHỤC SINH HÔM NAY.
Đó là lý do tại sao trong cuộc giảng tĩnh
tâm cho giáo triều Roma, cha Raniero Cantalamessa kêu gọi mọi người hãy
chiêm ngắm đúng dung nhan Đấng Phục sinh. Theo cha, "người ta đã có cơ
hội Phúc âm hóa và thánh hóa sự đau khổ, nhưng "niềm vui" không được
Phúc âm hóa cho đủ. Dung nhan Đức Kitô đôi khi đã không được chiêm ngắm
thỏa đáng vì truyền thống dồn mọi sáng kiến mục vụ vào "thời kỳ cao độ"
và tập trung vào việc cử hành các nghi thức mùa chay (Zenit 22/03/2002).
Mười bốn đàng Thánh Giá kết thúc nơi nấm
mồ lạnh lẽo. Làm sao Đức Giêsu có thể mở ra chiều hướng khá hơn cho nhân
loại khi đi vào ngõ cụt như thế ? Cần phải thêm vào nơi thứ mười lăm với
hình ảnh Phục sinh huy hoàng mới nói lên trọn vẹn công cuộc cứu độ. Nếu
không, cái chết chỉ đem lại những bế tắc cho cuộc đời vốn đã quá nhiều
bế tắc hôm nay.
Theo cha Cantalamessa, những thế kỷ đầu,
trước khi thiết lập Mùa Chay, Phục sinh đã là một thời gian đặc biệt để
chịu các bí tích, học giáo lý và cử hành các nghi thức phụng vụ. Ngày
nay, trái lại, các chủ đề Khổ nạn trổi vượt hơn các chủ đề Phục sinh. "Trong
thế giới hôm nay, hơn bao giờ hết, chúng tôi nhận thấy Phúc âm hóa hạnh
phúc và niềm vui cũng quan trọng không kém việc Phúc âm hóa sự đau khổ.
Việc Phúc âm hóa đau khổ sẽ làm cho các bạn trẻ và cả những người khác
nghĩ rằng Thiên Chúa là kẻ thù của niềm vui, và tưởng rằng đối với Thiên
Chúa, mọi thứ hạnh phúc, lễ lạc, niềm vui bộc phát đều là tội lỗi." (Cantalamessa
: Zenit 22/03/02) Khuynh hướng tự nhiên ai cũng cho đời là bể khổ. Nhưng
nếu nhìn đời theo nhãn quan đó, làm sao Đức Giêsu có thể trở thành Tin
Mừng cho trần gian ?
Chính ánh sáng Phục sinh sẽ đem Tin
Mừng đến cho trần gian đau khổ. "Phục sinh của Đức Kitô phải là lời
khẳng định quyết liệt nhất cho mọi người biết rằng vào cuối đời không
còn đau khổ và từ bỏ, nhưng tràn đầy niềm vui và hạnh phúc. Đức Giêsu đã
đập tan xích xiềng của thứ hạnh phúc sinh đau khổ và đã thay thế bằng
thứ đau khổ sinh hạnh phúc." (Cantalamessa :Zenit 22/03/02) Lúc lên
tới tột điểm khổ đau, Đức Giêsu vẫn không đánh mất hạnh phúc. Giữa lúc
mọi sự đều tan rã, Người bám chặt vào tình yêu Thiên Chúa, Đấng sẽ trả
lại sự sống cho Người trong vinh quang Phục sinh. Hơn lúc nào, khi cả
nhân loại đang bên bờ diệt vong, Đức Giêsu Phục sinh phải được rao giảng
như niềm vui lớn lao nhất. "Niềm vui phải là tiếng nói cuối cùng, chứ
không phải đau khổ. Phải cấp thiết làm cho dung nhan Đấng Phục sinh
chiếu sáng trước mắt người thời nay." (Cantalamessa : Zenit
22/03/02) Nếu không, thế giới vẫn mãi mãi tiêu điều như "sáng sớm
ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối Maria Mácđala đi đến mộ."
(Ga 20:1) Hôm nay, Maria và các môn đệ Đức Giêsu đã hăng hái rao giảng
Đức Giêsu Phục sinh cho toàn thể nhân loại. Không còn lý do gì để trở
lại cảnh hoang lạnh như nấm mồ trước mắt Maria nữa !
Như Hạ op :
SỨC MẠNH TÌNH YÊU !
Nhân loại hôm nay vẫn xôn xao đi tìm hạnh
phúc. Đã có nhiều người vẫn cứ tưởng hạnh phúc nằm trong thực tại trần
gian. Nhưng hạnh phúc vẫn vuột khỏi tầm tay. Chỉ có Đấng Phục sinh mới
mạc khải cho mọi người biết hạnh phúc nằm ở đâu.
CÒN MỘT CHÚT GÌ.
Sau ba năm vất vả gầy dựng cộng đoàn niềm
tin, Đức Giêsu đã hoàn toàn trắng tay. Công xây dựng bao năm một sớm một
chiều tan thành mây khói. Bao nhiêu giây phút dặn dò, tâm sự đều trôi
vào hư vô. Bao nhiêu tin tưởng đã tan thành mảnh vụn. Bằng chứng, vào
giây phút nguy khốn nhất, các môn đệ đã bỏ trốn hết. Niềm tin đặt nơi
con người nguy hiểm chừng nào ! Cái chết thể xác chỉ là dấu chỉ băng
hoại của niềm tin bấy lâu tưởng đã bén rễ và vươn lên.
Khi chọn các môn đệ, chắc chắn Đức Giêsu
rất sáng suốt. Nhưng Chúa không dùng quyền năng để phá hủy tự do con
người. Tự do cộng với nhát đảm có thể sinh ra phản bội. Ngay cả khi tỏ
ra khẳng khái nhất trong các tông đồ, Phêrô vẫn không che dấu nổi sự hèn
nhát. Trong biến cố đau thương nhất cuộc đời, Đức Giêsu muốn mạc khải
Người lệ thuộc ai. Chắc chắn con người không thể là điểm tựa. Bởi vậy,
cho dù tất cả đều bỏ cuộc, Đức Giêsu vẫn kiên cường đứng vững. Đối với
Chúa, chẳng ai là quan trọng cả ! Công cuộc cứu độ tùy thuộc một mình
Thiên Chúa mà thôi.
Điểm tựa duy nhất của Đức Giêsu chính là
tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa không hề vơi bớt chút nào trong
suốt cuộc đời Đức Giêsu. Bởi thế, Người tin tưởng mãnh liệt và hiên
ngang lên đường đi Giêrusalem nộp mạng. Tình yêu sẽ phục hồi tất cả và
làm nên tất cả. Chính “Thiên Chúa (là tình yêu) đã làm cho Người trỗi
dậy.” (Cv 10:40) Bởi đó, tình yêu có một sức mạnh lạ thường ! Từ
ngàn xưa, chính tình yêu đã tự vẽ đường cho mình. Thật vậy, “tất cả các
ngôn sứ đều làm chứng về Người” (Cv 10:43) như một Đấng chết vì tình yêu
và cho tình yêu.
Không những có các chứng nhân quá khứ,
tình yêu còn chuẩn bị những chứng nhân tương lai đẩy mạnh niềm tin nhân
loại vào mầu nhiệm tình yêu nơi biến cố Đức Giêsu Phục sinh. Thiên Chúa
“cho Người xuất hiện tỏ tường trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã
tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống
với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại.” (Cv 10:41) Từ nay, mọi
người sẽ thấy ơn cứu độ chỉ tùy thuộc vào một người duy nhất là Đức Kitô.
Thực vậy, “phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha
tội,” (Cv 10:43) nghĩa là được hòa giải với Thiên Chúa và chia sẻ gia
sản Thiên quốc với Đức Giêsu. Chỉ tình yêu mới có sức mạnh biến thù
thành bạn ! Không những thế, từ nay một sức sống mới đã ùa vào nhân loại.
Thật vậy, tận chiều sâu con người, “sự sống mới của anh em hiện đang
tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa.” (Cl 3:3) Sự sống đã trào vọt lên
từ nguồn mạch Phục sinh của Đức Giêsu. Sự sống ấy không tự nhiên chiếm
hữu được. Nhưng từ cõi chết “anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô,”
(Cl 3:1) nhờ sức mạnh tình yêu Thiên Chúa. Chính sức mạnh tình yêu Thiên
Chúa đang làm những việc kỳ diệu trong Giáo hội và khắp thế giới. Hơn
nữa, tình yêu luôn hướng con người lên cao. Bởi thế, “hãy tìm kiếm những
gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa,” (Cl
3:1) Từ nơi đầy sức mạnh tình yêu đó, Đức Giêsu sẽ làm cho vạn vật được
phục sinh trong ánh sáng của Người.
CHỨNG TỪ TÌNH YÊU.
Nhìn vào cuộc sống với bao nhiêu thứ tin
tưởng hiện tại, chúng ta thấy tình yêu vẫn còn là một sức mạnh áp đảo
trước những cơ chế văn minh vật chất. Giáo hội vẫn hiện diện như một dấu
chỉ cho mọi người biết con đường giải thoát ở đâu. Ngày nay, như Maria
Mácđala, con người vẫn thắc mắc : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và
chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu ?” (Ga 20:2) Nhiều người vẫn còn
tin Chúa nằm chết trong mộ. Nhiều tín hữu vẫn trình bày cho mọi người
như thể Đức Giêsu chưa bao giờ trỗi dậy. Nhưng “theo Thánh Kinh, Đức
Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết.” (Ga 20:9) Phải, chỉ khi nào sống theo
Lời Chúa, mới có thể làm chứng Đức Giêsu đã Phục sinh ! Ngày nay, cũng
như ông Simôn Phêrô, nhân loại đi vào Giáo hội như “đi thẳng vào trong
mộ, thấy những băng vải để ở đó và khăn che đầu Đức Giêsu.” (Ga 20:6)
Một cái nhìn quá cơ chế như con mắt Phêrô dễ làm lạc hướng con tim muốn
khám phá Đức Giêsu đang Phục sinh trong từng mạch sống và hơi thở thiên
nhiên và lòng người. Có thể người ta thấy Giáo hội rất có tổ chức và
trật tự. Nhưng họ không như Gioan. “Ông đã thấy và đã tin.” (Ga 20:8)
Ong thấy cái gì và tin cái gì ? Ong thấy mọi sự như Phêrô. Nhưng ông tin
Đức Giêsu đã từ cõi chết trỗi dậy, vì ông là môn đệ đã nằm sát ngực Đức
Giêsu. Chỉ có con tim mới đọc được ý nghĩa của những bằng chứng tình yêu.
Nhân loại đang cần những con tim hơn
những khối óc ! Văn minh cực kỳ như thế giới hôm nay, vẫn còn hằng triệu
người đau khổ vì anh em đồng loại. Trên thế giới hiện tại vẫn còn trên
200 triệu Kitô hữu đang bị bách hại và hằng tỉ người nghèo đói vì cơ chế
bất công vàsự thờ ơ hay thù ghét của đồng loại. Bao giờ chúng ta mới có
thể cùng mở hội ăn mừng đại lễ Phục sinh “bằng bánh không men, là lòng
tinh tuyền và chân thật.” (1 Cr 5:8) giữa một thế hệ gian tà và bất công
này ? Bao giờ mới có thể vùng dậy khỏi thế giới hạn hẹp, trần tục này để
“tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu
Thiên Chúa” (Cl 3:1) ? Thế giới đang thèm khát hòa bình. Chính Đức Giêsu
Phục sinh đã trả lại niềm hi vọng lớn lao cho nhân loại khi nối kết con
người với con người và với Thiên Chúa.
Giuse Nguyễn Cao Luật op
"CHÚNG TÔI XIN LÀM CHỨNG"
Buổi sáng vội vã
Vào
buổi sáng ngày lễ Vượt Qua này, theo các trình thuật Tin Mừng, dường như
mọi người đều ở trong tâm trạng bồn chồn, có vẻ rất vội vã. Ngay từ sáng
sớm, đã có nhiều người tìm đến một ngôi mộ, mỗi người có hoàn cảnh và
mục đích riêng.
Theo
Tin Mừng Mác-cô, "sáng tinh sương, ngày thứ nhất trong tuần, lúc mặt
trời hé mọc ...", các phụ nữ đã chứng kiến việc an táng Ðức Giêsu vào
ngày thứ sáu, đã ra mộ, mang theo dầu thơm để ướp xác Ðức Giêsu ... Sau
đấy, khi đã nhìn thấy ngôi mộ trống, và gặp một nhân vật lạ, các bà đã
rời nơi ấy, "cắm đầu chạy, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía".
Còn
theo Tin Mừng Gioan, cô Maria Mác-đa-la ra thăm mộ và "thấy tảng đá
đã lăn khỏi mộ". Mấy ngày trước đây, cô đã trải qua những giờ phút đầy
phiền muộn khi chứng kiến Vị Thầy yêu quý của mình chịu chết và được an
táng trong mộ. Lúc này, cô cảm thấy sợ hãi : cô nghĩ rằng ai đó đã lấy
cắp thi thể của Ðức Giêsu và đem đi mất. Trong đầu cô xuất hiện một mối
hoài nghi : Ðức Giêsu đã là nạn nhân của lòng thù ghét, phải chăng Người
còn bị truy đuổi ngay cả khi đã nằm trong mộ ? Thế là cô chạy về báo tin
cho những người bạn của Ðấng đã từng giải thoát cho cô.
Nghe
lời thuật lại của cô Maria Mác-đa-la, hai ông
Phêrô và Gioan liền đi
ra mộ. Cả hai người đều chạy. Tới mộ, các ông đã nhìn thấy "những băng
vải, và khăn che đầu Ðức Giêsu, được cuốn lại, xếp riêng ra một nơi".
Trước bằng chứng này, các ông gạt bỏ giả thuyết thi thể Ðức Giêsu bị
đánh cắp.
Nhưng
trong khi ông Phêrô còn phân vân, chưa hiểu được sự kiện xảy ra có ý
nghĩa gì, thì người môn đệ Ðức Giêsu yêu quý đã hiểu rõ : ông nhận ra
rằng không có chuyện đánh cắp thi thể Ðức Giêsu. Qua các tấm khăn được
xếp lại và để riêng, ông đọc thấy những dấu chỉ về một cuộc Phục Sinh
đích thực ; sự sống đã đánh bại vương quốc tử thần. Chỉ có tình yêu mới
đem lại cho người môn đệ ấy cặp mắt sáng ngời, biết nhìn ra mầu nhiệm
giấu ẩn đằng sau những sự kiện. Nhờ tình yêu ấy, ông đã nhìn và đã tin,
đổng thời khám phá ý nghĩa trọn vẹn của con người Giêsu - Ðấng đang sống.
Trở
lại chuyện với cô Maria Mác-đa-la, cũng do tình yêu thúc đẩy, cô đã
tìm đến mộ mà than khóc. Nhờ đó, cô là người đầu tiên được gặp gỡ Ðức
Giêsu Phục Sinh, và sau đó trở thành người đầu tiên loan báo Tin Mừng
Phục Sinh.
Quả
là một buổi sáng nhiều vội vã, dồn dập sự kiện quanh một ngôi mộ. Nhiều
người đã tìm đến ngôi mộ, và rồi lại từ đó ra đi, bắt đầu một hành trình
mới, tin tưởng hơn, hăng hái hơn.
Phục
Sinh, một hứng khởi kỳ diệu
Nếu
không có Phục Sinh thì cuộc đời Ðức Giêsu đã chấm dứt với một thất bại
rõ ràng : chết trên thập giá, những người bạn thân tín bỏ trốn hết.
Tuy
nhiên, vấn đề được nêu lên là làm sao có thể giải thích được cái chết ấy
là khởi đầu cho một hứng khởi kỳ diệu là niềm tin Kitô giáo ? Trong thế
kỷ đầu, mặc dù những cuộc bách hại khốc liệt diễn ra khắp nơi, nhưng Ðức
Giêsu đã được biết đến, được yêu mến, được tiếp nối và thờ kính ở khắp
vùng ven Ðịa Trung Hải và cả những miền lân cận.
Về
vấn nạn này, các tông đồ và các môn đệ đã giải thích : "Ðức Kitô đã sống
lại. Chúng tôi xin làm chứng." Cụ thể như trường hợp ông
Gioan : "ông
đã thấy và đã tin". Khởi đầu từ những yếu tố khác nhau như ngôi mộ trống
và những lần Ðức Giêsu hiện ra, tất cả trở nên sáng tỏ trước mắt ông :
ông nhớ lại những điều Ðức Giêsu nói, những việc Người làm, và ông tin.
Nhờ ánh sáng của Thần Khí, ông cảm nghiệm được rằng : Ðức Giêsu đã chỗi
dậy, Người đang sống.
Với
tất cả các tông đồ khác cũng vậy. Các ông xác tín vào mầu nhiệm Phục
Sinh và xác tín này làm thay đỗi cuộc đời các ông : thái độ sợ hãi được
nhường chỗ cho thái độ can đảm trong lòng tin. Các ông sẵn sàng làm
chứng về Ðức Giêsu Phục Sinh dù phải hy sinh tính mạng. Cũng nhờ xác tín
đó, nhờ thái độ can đảm và kiên quyết, các ông đã lôi kéo cả một đám
người, mỗi ngày một đông hơn, Do-thái lẫn dân ngoại, đi theo các ông và
cùng tin như các ông. Sau đó, đến lượt mình, những người này cũng quả
quyết Ðức Giêsu đã sống lại, Người là Chúa.
Thật
thế, sự chỗi dậy từ cõi chết là đỉnh cao trong cuộc đời Ðức Giêsu, giúp
cho các tông đồ thấy rõ cuộc đời và con người Ðức Giêsu. Ðối với các ông,
những lời Người nói, những việc Người làm, lời Người cầu nguyện, nhất là
cái chết của Người, tất cả đều có ý nghĩa thâm sâu và phong phú. Sự Phục
Sinh này đã mở mắt các ông, cho các ông nhận ra Ðức Giêsu thực sự là Con
Thiên Chúa, Người là ánh sáng trần gian.
Do đó,
cái chết của Người trên thập giá có ý nghĩa đặc biệt : đó không phải là
dấu chứng về thất bại, nhưng là chứng tá tuyệt vời về tình yêu. "Không
ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình
cho bạn hữu" (Ga 15,13). Trước mắt các ông, Ðức Giêsu thật là Ðấng Cứu
Thế.
Mở đường hướng tới tương lai
Cuộc
Phục Sinh của Ðức Giêsu cũng soi chiếu cuộc đời chúng ta và lôi kéo
chúng ta. Ðức Giêsu, Ðấng đã trải qua cái chết, chính Người là Thiên
Chúa, đổng thời cũng vẫn là một người như chúng ta, là anh em của chúng
ta. Lễ Phục Sinh đem lại cho chúng ta biết bao hứng khởi để cố gắng bênh
vực con người, để mỗi người cũng được phục sinh như Ðức Kitô.
Quả
thế, lễ Phục Sinh cho thấy tất cả mọi khía cạnh trong câu nói của Ðức
Giêsu : "Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như
vậy. Anh em hãy ở trong tình thương của Thầy ... hãy yêu thương nhau
..."
Những
việc Ðức Giêsu làm, những lời Người nói giúp chúng ta nhìn cuộc đời theo
một cách thức mới ; chính Người là Thầy, nhưng lại sống trong thân phận
một tôi tớ. Người đã nói : "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó ... ai
hiền hoà ... xây dựng hoà bình ..." và Người đã sống đến cùng. Chính
Thiên Chúa nói trong Ðức Giêsu Kitô và thúc đẩy chúng ta bước theo Người,
hành động như Người.
Lễ
Phục Sinh còn mở ra cho chúng ta những cánh cửa hướng tới tương lai.
Phục Sinh, đó là vượt qua. Ðức Giêsu là người đầu tiên vượt qua để làm
cho chúng ta cũng vượt qua với Người. Phục Sinh, đó là cánh cửa hướng
đến sự sống không bao giờ tận : từ nay cuộc đời trần thế của chúng ta đã
có một chiều kích mới, chiều kích vĩnh cửu.
Với
Ðức Giêsu Phục Sinh, không có con đường nào là con đường cùng, không lối
ra ; cái chết không còn phải là rào cản ; tội lỗi có thể được thứ tha và
tội nhân có thể được giải thoát. Chúng ta luôn có thể lên đường lại, và
không bao giờ thất vọng về chính mình cũng như người khác, bởi vì từ
nay, Ðức Giêsu đã làm nảy sinh tình yêu, khởi đầu từ những hận thù đổ
xuống trên chính Người.
"Này
Maria,
hãy mau tìm các môn đệ của Thầy,
hãy cất tiếng hát đem lại bình an
cho những người bạn của Thầy đang sợ hãi,
để họ thức dậy và đến gặp Thầy,
để họ thắp lên những ngọn đuốc.
Này các Tông đồ, hãy xua đi mọi ưu sầu phiền muộn,
vì Thầy đã chỗi dậy và đem lại sự sống
cho loài người đang tuyệt vọng ..."
(theo Romanos le Melode)
Lm. Jude Siciliano, OP.
ÁNH SÁNG ĐÃ BÙNG LÊN GIỮA ĐÊM TỐI
(Lc
24,1-12)
Thưa quý vị,
Việc lựa chọn bài Phúc Âm cho đêm vọng
Phục Sinh có điều khác thường. Các tín hữu khắp hoàn cầu đều hiểu những
giây phút này là rất trọng đại, những giây phút đợi chờ một biến cố rung
trời lở đất. Chủ tế làm phép lửa. Ngọn nến Phục Sinh được thắp sáng, rồi
truyền đi từ người này đến người khác tượng trưng đời sống mới từ Chúa
Phục Sinh ban cho chúng ta. Chúng ta rước kiệu vào nhà thờ tối om trong
ánh sáng bập bùng của cây nến Phục Sinh. Đúng là biểu tượng niềm khao
khát của các tín hữu theo Chúa sống lại. Ánh sáng bừng lên trong đêm tối
mù mịt. Rồi các bài đọc Cựu ước: Sự sáng tạo oai hùng của Thiên Chúa
dựng nên vũ trụ, trời đất, trăng sao, cây cỏ và loài người. Ơn gọi của
Abraham. Sự xuất hành vĩ đại của tuyển dân Do Thái ra khỏi Ai Cập. Các
tiên tri loan báo Chúa Cứu Thế, tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa đến thế
gian.
Thánh Phaolô nhắc nhớ tín hữu thành Rôma
về quyền năng Thiên Chúa trong việc phục hồi sự sống cho thiên hạ nơi
Đức Kitô Giêsu. Kỳ diệu của muôn diệu kỳ ! Thánh nhân cam đoan với chúng
ta, thần chết không còn quyền lực gì nữa trên Chúa Giêsu và toàn thể
nhân loại. Hội Thánh hoan hỷ giang tay đón các tín hữu được máu Chiên
Con hiến tế vào lòng. Toàn thể địa cầu đều mừng vui vì tin Chúa phục
sinh.
Người ta háo hức đợi chờ bài đọc Tin Mừng
vĩ đại. Đáng lẽ bài đọc phải thật oai phong lẫm liệt, như thể chiếu chỉ
hoàng đế lên ngôi, như thể trăm nghìn pháo bông nổ tung cùng một lúc,
như thể sấm chớp rền vang, dân Do Thái chứng kiến ngày xưa ở chân núi
Xinai lúc Thiên Chúa ban mười giới răn : “Xin ông nói, kẻo chúng tôi
chết mất”. Đáng lẽ bài đọc phải thuật rõ ràng giây phút Chúa sống
lại, phải kể thật oai hùng, như thể một thiên anh hùng ca, như suối tuôn
thác đổ, như sóng vỗ đại dương, như thơ mầu nhiệm ra đời. Nhưng thực tế
chỉ là bản văn bình thường, với giọng đều đều của chủ tế: “Ngày thứ
nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã
chuẩn bị sẵn. Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mồ, nhưng khi bước vào, họ
không thấy xác Chúa Giêsu đâu cả…” Rồi hai thanh niên lạ mặt mặc áo
trắng nói vài lời an ủi. Có thế thôi trong đêm chờ đón Chúa phục sinh và
ngày khải hoàn vinh hiển !
Ngoài ra, bài Phúc Âm kết thúc với lời lẽ
đầy bí nhiệm : “Ông Phêrô trở về nhà, rất đỗi ngạc nhiên về sự việc
đã xảy ra”. Ông ngạc nhiên điều gì ? Ngôi mộ trống với những dây
băng và khăn che đầu còn để đó. Cái gì đã xảy ra? Chúng ta chẳng có
chứng cớ xác thực để trả lời câu hỏi. Phải chăng đã có tên vô lại ăn
trộm xác chết và vì vội vàng nên để quên khăn liệm khiến ông Phêrô ngạc
nhiên?
Suy
gẫm kỹ thì thật đúng là nhiệm mầu. Phần tôi, tôi rất hoan hỷ về câu
chuyện và văn phong thánh Luca. Các chi tiết trong chuyện hoàn toàn
không thể là bịa đặt hoặc các tông đồ đã sắp xếp trước. Bằng chứng là sự
việc rất lộn xộn. Không thể là một sự sắp đặt có tính toán. Các phụ nữ
mang dầu thơm ra mồ để tẩm xác người chết chứ không phải để giả tạo một
cuộc sống lại. Khi không thấy xác Chúa, họ ngạc nhiên, phân vân chưa xác
định được hoàn cảnh và khi thiên sứ loan báo, họ cúi gằm xuống đất chưa
dám tin vào tai mình, chứ không hồ hởi ngay. Rõ ràng họ chẳng ngờ được
sự việc, ý nghĩ của họ tự ban đầu là sẽ tìm thấy xác Ngài như đã quan
sát chiều hôm thứ sáu: “Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xét xác Người
được đặt như thế nào.” (Lc 23,56). Các bà chạy ngay về báo tin cho
các môn đệ. Các tông đồ nghi ngờ và không tin. Thánh Phêrô chạy ra mộ
thấy sự việc đúng như các phụ nữ báo cáo, trở về “ngạc nhiên”,
chứ không vội vã loan tin ngay. Như thế câu chuyện Chúa sống lại được mô
tả “tự nhiên” chứ không phải như người ta ước đoán, chuyện
“bày đặt”.
Khi hai người đàn ông mặc áo trắng nói
với các phụ nữ: “Tại sao các bà lại tìm Người Sống giữa kẻ chết”.
Nghĩa là các bà đã nhìn “lầm chỗ” để tìm Chúa Giêsu. Ngài không còn ở
nơi “quá khứ” mà họ đã quan sát kỹ. Ngài không có mặt nơi những kẻ chết,
Ngài không thử thách đức tin của các bà và không còn gây đau đớn cho các
bà nữa. Ngài không còn ở trong thất bại, trong tàn phá huỷ diệt của
chúng ta như ông thần ưa trả thù, muốn người ta sụp lạy cầu khẩn van nài.
Ngài không tham gia trận chiến nào, không bắn nhau phe này hay huỷ diệt
bên khác, không giúp đỡ đạp đổ và tàn phá. Xin đừng tô vẽ hình tượng
Ngài trên các khiên thuẫn chiến tranh, trên các cờ hiệu vua chúa, Ngài
chẳng ban thêm tiền bạc hay của cải cho những chân tay trung tín phản
bội người nghèo. Ngài tức giận rời bỏ yến tiệc của những kẻ tai to mặt
lớn, phí phạm thực phẩm, trong khi ty tiện với những kẻ bần cùng. Không,
Ngài không còn ở những tử địa đó nữa. Hai thiên sứ đã chỉ cho các phụ nữ
tìm Ngài nơi người sống chứ không phải nơi những kẻ chết. Đó cũng là nơi
chúng ta hôm nay phải kiếm Ngài, nhưng làm thế nào?
Bí quyết là ở lời nói của hai thanh niên
ăn vận chói loà : Tìm kiếm Ngài ở những miền đất sống lại từ cõi chết.
Các Phúc Âm mà chúng ta vừa nghe trong mấy ngày qua kể rằng: Ngài chắc
chắn đã đi vào cõi chết, nhưng là để nâng họ trỗi dậy, và ban cho họ đời
sống mới. Ngài đã từng cho kẻ mù được xem thấy, kẻ què đi được, kẻ câm
nói được, người điếc được nghe… Ngài đã từng đồng bàn với các linh hồn
sa đoạ, tội lỗi; Ngài tha thứ và ban cho họ niềm vui tái sinh trong nhân
phẩm và tinh thần con thảo. Cho nên nơi nào Ngài hiện diện thì nơi ấy có
sự sống, nơi ấy thần chết và mục rữa không thể ngự trị. Chúng ta sẽ tìm
thấy Chúa khi hòn đá lấp mồ đã được lăn sang một bên, khi các bức tường
ngăn cách bị gỡ bỏ, khi không còn hy vọng và khi cuộc đời đã chấm dứt.
Ngài luôn sống với các chứng nhân của Ngài, nuôi dưỡng cô nhi quả phụ,
băng bó những vết thương, an ủi những người vô vọng sầu đau, là tiếng
nói cho những người thấp cổ bé miệng, cải tạo trẻ bụi đời, cho mái nhà
các gia đình lang thang, di dân và ngoài lề.
Hai thiên sứ nói đúng, chúng ta không thể
tìm Ngài nơi kẻ chết mà tìm nơi miền đất sống, Ngài sẽ sống với chúng ta,
trong chúng ta, khi từ bỏ tính hư tật xấu, tham lam, tội lỗi, những thế
lực huỷ diệt, mà trở về với thanh cao thánh thiện. Ngài sẽ ở bên chúng
ta khi thu gom sức lực quyết định cho những khởi sự mới. Thiên sứ nói
đúng, Ngài không còn ở nơi mồ trống đen ngòm, nhưng cõi vinh quang rực
rỡ ánh sáng theo cả hai nghĩa tinh thần và vật chất và loài người mãi
mãi chỉ tìm thấy Ngài ở đó.
Nhưng phải nhớ Ai là diễn viên chính
trong chuyện này ? Các phụ nữ đi ra mồ từ sáng sớm và họ đã sửa soạn mọi
sự cho việc chôn cất theo truyền thống. Ngài đã bị thế lực đền thờ giết
chết không chút xót thương, ngược lại còn nghĩ mình thờ phượng Thiên
Chúa cách cụ thể và xứng đáng, bởi họ đã loại trừ được tên gây rối vô
lại. Việc chôn cất Ngài quá vội vàng vì luật nghỉ ngày Sabath. Xác chưa
được xức dầu theo tục lệ cha ông. Ngài đâu phải là phường tội ác ghê gớm
mà thân xác phải vất cho chim trời ăn! Ý nghĩ của quý bà đúng thói
thường, các bà mang dầu liệm xác ra mộ là chí phải, làm công việc cuối
cùng cho thầy mình; nếu không thì trước mặt thiên hạ, thật là tủi hổ cho
người đã chết cũng như thân thích còn sống. Nhưng khi các bà tới mộ, mọi
công việc đã có ai làm xong. Chẳng còn chi phải làm nữa cho thân xác
Ngài. Phêrô, kẻ đến mộ chậm cũng chẳng phải làm gì mà chỉ đứng nhìn ngỡ
ngàng. Ông lững thững ra về bụng bảo dạ: “Lạ nhỉ !” Ông và các phụ nữ
đâu biết rằng Thiên Chúa đã khiến Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết để toàn
thể nhân loại cũng được như vậy. Tử thần từ nay bị tước đoạt vũ khí và
hoàn toàn thất bại trước vận mệnh mới của loài người. Chúng ta hồ hởi cử
hành lễ Vượt Qua cũng vì lý do ấy, vì những gì Thiên Chúa đã làm cho Đức
Kitô và toàn thể nhân loại. Hy vọng tràn trề trong từng trái tim người
tín hữu. Cuộc đời dù thế nào đi nữa, đắng cay, khổ ải và chết chóc thì
niềm hy vọng vẫn còn đấy. Phục sinh khải hoàn là điều vững chắc, đã được
Đức Kitô minh chứng. Tính “hợp lý” của trí tuệ con người trong những
ngày này thất bại. Nó rêu rao rằng ngôi mộ, sự chết là những tận cùng
không thể đảo ngược. Nhưng đức tin thì lại khác, soi rọi ánh sáng tin
yêu vào thất vọng, nó biến quang cảnh buồn thảm thành cõi bồng lai!
Cho nên đêm nay chúng ta mừng Chúa phục
sinh thì chẳng có gì thích hợp hơn. Chúng ta nghe chuyện sống lại trong
đêm tối, nhưng thâm tâm vẫn chờ đợi ánh sáng. Và Ánh Sáng đã thực sự
chiếu rọi trí lòng chúng ta như Gioan thuở xưa : “Ông đã thấy và ông
đã tin” (Ga 20,8). Câu chuyện đêm nay giúp chúng ta xác nhận chân lý
sống lại, bất chấp chứng cớ hay không mà các phụ nữ tìm thấy. Nhưng chỉ
qua đức tin mà Chúa ban cho qua bí tích rửa tội. Hiện thời chiến thắng
của tội lỗi và sự dữ xem ra nhan nhản khắp thế giới. Nó mang tính thuyết
phục cao. Nhiều trí thức, nhiều học giả, nhiều triết gia từng chao đảo
vì nó. Nhưng người tin Chúa nhìn vào mồ trống, bóng tối, sự dữ mà vẫn có
thể nói rằng: “Vâng chúng tôi đã xem thấy tối tăm, nhưng cuối cùng
thì vẫn có ánh sáng. Đức Kitô đã trỗi dậy và toàn thể nhân loại cũng sẽ
trỗi dậy với Ngài.” Phép thanh tẩy cho người tín hữu khả năng nhìn
thấy ánh sáng Chúa qua tăm tối trần gian. Satan không thể tung hoành mãi
mãi. Chiến thắng cuối cùng thuộc về Thiên Chúa, Đấng đã phục sinh Đức
Kitô từ cõi chết.
Đúng, trời đất tối tăm lắm. Chỗ này chiến
tranh, nơi khác ức hiếp, bóc lột. Ở đây giáo sĩ sa đoạ, chỗ kia giông tố,
bão lụt. Nhưng nhờ Tin Mừng đêm nay Chúa đã sống lại, ngôi mộ của Ngài
bỏ trống, để chúng ta có thể nhìn thấy tình yêu Thiên Chúa dành cho loài
người thật vĩ đại. Nó vượt trên bóng tối và sự chết, vượt trên đau
thương và nghi nan! Khi quá tối tăm chúng ta nói: Trời đất! Tôi chẳng
trông thấy bàn tay mình giơ lên trước mặt. Nhưng trong ánh sáng Chúa
Kitô đêm nay, chúng ta nhìn qua không gian riêng tư của mình mà thấy
những đau khổ, những nhu cầu, những khó khăn của đồng loại và luôn cả
con đường phải tiến bước trong đêm tối. Dầu sao, tín hữu vẫn mang tiếng
với xã hội, với thế gian, với các kẻ không tin mình là những người nhìn
thấy thị kiến trong đêm !
Thế nhưng, hai thiên sứ bên mộ trống lại
chẳng đưa ra bằng chứng nào cụ thể để thuyết phục các phụ nữ rằng Chúa
đã sống lại. Các ông chỉ nhắc nhớ họ lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ:
“Con Người sẽ bị nộp vào tay phường tội lỗi, bị đóng đinh thập giá, rồi
ngày thứ ba sẽ sống lại…” Đó cũng là điều các “Thị Kiến Trong Đêm” ngày
nay tin tưởng. Họ đặt toàn bộ lòng tín thác nơi Chúa Giêsu, sống những
ký ức về Ngài và kể chuyện cho thế gian hay. Chúng ta cũng được mời gọi
dấn thân vào đức tin như thế trong đêm nay: “Ngài không còn ở đây nữa,
nhưng đã trỗi dậy rồi”. Các phụ nữ nghe loan báo, họ ngưng tìm kiếm
quanh ngôi mộ, chạy về kể cho nhóm mười một và các môn đệ khác nghe. Thì
ra họ cũng giống như chúng ta được mời gọi tin theo mặc khải của Đức
Chúa Trời: “Người đã trỗi dậy!”
Trong tuần phục sinh này, các chuyện Phúc
Âm chúng ta nghe rất khác nhau về chi tiết, về số các nhân chứng và về
các biến cố tiếp theo. Người tín hữu trung bình khó mà phân biệt nổi.
Nhưng điều căn bản là Thiên Chúa đã làm công việc kỳ lạ nơi Đức Kitô
Giêsu, nâng Ngài từ cõi chết sống lại, đóng ấn lên các sinh hoạt, các
lời rao giảng của Ngài. Bởi vì Ngài phục sinh, chúng ta có thể vững tin
nơi Ngài, mọi tội lỗi được tha thứ và hy vọng vào phúc trường sinh. Bởi
vì Ngài sống lại nên chúng ta được ban cho khả năng sống đời của Ngài:
Công chính và thánh thiện. Chúa Giêsu từng tuyên bố Nước Trời sẽ ngự trị,
khi đó Thiên Chúa sẽ lôi kéo mọi người đến với Ngài. Được Thánh Thần ban
khả năng, chúng ta làm việc để xua tan bóng tối, đẩy lùi tội lỗi, chữa
lành bệnh nhân, tha thứ xúc phạm, chống lại áp bức bất công, tháo gông
cùm cho kẻ thấp cổ bé miệng và ban bánh ăn cho những người đói khát
nghèo hèn. Hoặc là thế giới sẽ được thăng tiến hoặc là ngôi mộ vẫn há
mồm chờ đón xương cốt. Điều đó hoàn toàn tuỳ thuộc vào các môn đệ của
Chúa. Vậy chúng ta nên suy nghĩ và hạ quyết tâm khi họp nhau đêm nay như
anh chị em, bẻ bánh và uống chén. Xin cho mỗi người đủ can đảm loan báo
Tin Mừng phục sinh và tình yêu Thiên Chúa cho toàn thể thế giới.
Hallêluia. Amen. Fr Jude Siciliano, OP.
Fr. Jude Sicilianô, OP.
Hãy Phục
Sinh với Chúa Kitô Alleluia
(Ga 20, 1-9)
Thưa quý vị,
Chúng ta có năm lựa chọn cho Phúc âm tuần
này. Tuy nhiên, các bài đều mở đầu giống nhau : “Sáng sớm ngày thứ nhất
trong tuần” (Ga). “Chiều ngày Sabat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló
rạng” (Mt)… Tuần tới thánh Gioan cũng dùng giọng văn tương tự để thuật
chuyện Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ ở phòng trên lầu của nhà tiệc
ly : “Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều
đóng kín vì sợ người Do thái.”(Ga 20, 19) Thường thường các tác giả Phúc
âm không quan tâm đến ngày tháng chính xác, chỉ kể chung chung. Thí dụ :
“Sau đó Chúa vào thành Giêrusalem” hoặc “Sáng sớm Chúa lên đền thờ”. Nếu
ai hỏi lý do tại sao thì các thánh sử trả lời : Việc đó không quan trọng.
Điều quan trọng là sự kiện. Vậy hôm nay là ngoại lệ và chắc chắn phải có
lý do.
Mặc dù chi tiết trong các bài Tin Mừng
hôm nay rất lộn xộn, không bài nào ghi lại đầy đủ những lần Chúa hiện ra,
hoặc theo một thứ tự hợp lý. Thí dụ, có mấy thanh niên mặc áo trắng
trong mồ ? Hai thiên thần hay chỉ một ? Marcô viết : “Vào trong mộ các
bà thấy một người thanh niên ngồi bên phải mặc áo trắng.” Luca lại nói :
“Họ còn đang phân vân thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói
đứng bên họ.” Gioan rõ hơn : “Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong
mồ thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của
Đức Giêsu, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân.” Bà Maria Macdala ra
mộ một mình hay còn các phụ nữ khác cùng đi ? Tuy nhiên, về thời gian
Chúa sống lại thì các thánh sử đều rõ ràng, không phải bất cứ ngày nào
trong tuần mà là ngày thứ nhất. Các vị có dụng ý cho độc giả thấy việc
Chúa phục sinh là một khởi đầu mới, giống như việc tạo dựng vũ trụ.
Cho nên Tân Ước ưa dùng cụm từ “trời mới
đất mới” để mô tả Hội thánh trong kỷ nguyên phục sinh. Tín hữu không còn
thuộc về thế giới cũ, nô lệ cho tội lỗi, mà thuộc về vương quốc tái sinh,
tràn đầy ơn thánh. Ngày tạo dựng, Thiên Chúa đã làm cho ánh sáng chiếu
thâu qua bóng tối để soi sáng vũ trụ, thì ngày hôm nay, Chúa phục sinh
cũng xuyên qua tối tăm của sự chết để mang hy vọng cho nhân loại. Hai
biến cố đều do bàn tay quyền năng của Thiên Chúa . Cho nên chúng ta
không còn lý do để sợ hãi, không còn lý do làm tôi dục vọng, nhưng phải
sống tinh tuyền theo ánh sáng Chúa soi đường.
Chúng ta nên suy gẫm thấu đáo hơn về các
bài đọc hôm nay. Và lấy chuyện của ba môn đệ trong biến cố Chúa sống lại
(Maria Macdala, Phêrô, Gioan) làm thầy dạy. Trước hết, bà Maria đi ra mồ
trong tâm trạng giống hệt mọi người trước đau thương : Khóc lóc, thở
than, thất vọng, tôn kính người quá cố, gợi nhớ các kỷ niệm, cái chết
bất ưng không lường trước. Chắc chắn bà không có tư tưởng thầy sẽ sống
lại. Thánh Gioan ký thuật : “Lúc trời còn tối bà Maria Macdala đi đến mộ
thì thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mồ.” Bà chẳng hiểu điều chi đã xảy đến
cho xác Thầy. Bà hoàn toàn ngỡ ngàng, vì vẫn ở trong vòng tăm tối, chưa
được đức tin soi sáng. Ngôi mộ trống không đủ thuyết phục bà Chúa đã
chỗi dậy. Tư tưởng của bà vẫn bình thường như mọi người : “Người ta đã
đem Chúa đi khỏi mộ và chúng tôi chẳng biết họ để người ở đâu.” Bà chỉ
biết có thế và đã báo tin cho hai tông đồ Phêrô và Gioan có vậy. Chúng
ta không thể gán cho bà tội giả tạo, sắp xếp sự việc rồi loan tin thất
thiệt. Cũng chẳng thể tưởng tượng ra điều chi phức tạp hơn. Có chăng thì
cố gắng nhìn vào thế giới thiên nhiên để tìm ra vài hình thức của sự hồi
sinh.
Thí dụ, tổ kén sẽ trở thành bươm bướm nhờ
ơn huệ của trời đất và di truyền. Ở miền Bắc địa cầu, mùa đông chỉ thấy
đất giá lạnh, trơ trụi, cây cối trơ cành như chết, nhưng mùa xuân ấm áp
tới, thiên nhiên hồi sinh, cảnh vật trở thành nâu, rồi xanh và hoa lá
bắt đầu trổ bông. Chúng ta có thể tưởng tượng đó là những dấu hiệu của
sự hồi sinh, những chỉ dẫn cho thấy sự sống có thể phát xuất bất ưng từ
cõi chết. Tuy nhiên, với những bằng chứng chết chóc hằng ngày không đủ
để thuyết phục nhân loại là có hy vọng phục sinh. Thí dụ tai hoạ sóng
thần ở Đông Nam Á, ôm bom tự sát ở Palestin, Iraq, sập mỏ ở Trung quốc,
chết đói hằng triệu ở Phi châu, buôn bán phụ nữ trẻ con trên thế giới,
chạy đua nguyên tử, tai nạn xe hơi, máy bay, xe lửa, xảy ra hầu như hằng
ngày khắp nơi. Những biến cố đó và nhiều sự kiện chết chóc tương tự,
chứng tỏ dù tổ kén biến thành bươm bướm, dù cành khô trổ bông tươi tốt
cũng không đủ bằng chứng cống hiến cho nhân loại tình cảnh hồi sinh. Gần
đây, một người họ hàng có chồng mới qua đời nói với tôi : “Anh ấy là
toàn bộ đời con và các cháu. Anh ấy qua đi đột ngột chúng con làm thế
nào đây ?” Những nỗi đau thương như vậy làm sao vượt qua ? Cái kén
trở thành con bươm bướm không đủ. Cho nên lý luận biện chứng tự nhiên,
chết đi để nảy sinh đời sống mới, vẫn chỉ là một ẩn số, cần bằng chứng
lớn hơn, vững chãi hơn, ngõ hầu thiên hạ có thể tin.
Tạ ơn Thiên Chúa. Hôm nay chúng ta được
bằng chứng đó. Các thánh sử thuật : bà Maria Macdala thực sự đã được gặp
Chúa phục sinh và bà nhanh chóng loan truyền cho các môn đệ sợ hãi đang
tụ họp ở căn phòng trên lầu : “Tôi đã xem thấy Chúa.” (20, 18)
Một khi đã lãnh nhận ơn này, chúng ta cũng phải biết noi gương bà đem
Tin Mừng cho mọi người. Nếu không thì là ích kỷ.
Tôi tự
hỏi điều gì khiến ông Phêrô chạy chậm lại khi cùng người môn đệ khác hối
hả đến mồ. Người ta thường giải thích là vì tuổi già sức yếu. Nhưng lúc
ấy có lẽ ông chưa đầy 30. Vậy thì phải loại bỏ vấn đề tuổi tác. Thánh
Gioan, người cùng chạy với ông, ngầm cho hay đó là do tâm lý. Phêrô nhớ
lại mình chối thầy chỉ mới mấy ngày trước. Sự kiện còn quá mới mẻ để
trực diện với ngôi mộ của Thầy. Gánh nặng quá khứ đeo đuổi lương tâm ông.
Nếu đúng như vậy thì sự tha thứ của Chúa rất cần thiết cho ông. Đức tin
vào Chúa phục sinh sẽ hoàn toàn thay đổi ông. Đức tin ấy ông không đạt
đến được mà là ơn huệ nhưng không của Đấng phục sinh. Vì vậy ông cũng
phải sẵn sàng ban cho kẻ khác. Xin nhớ có lần ông đã hỏi thầy phải tha
thứ đến 7 lần chăng ? Chúa trả lời tới bảy mươi lần bảy. Lúc này ông cảm
nghiệm điều đó một cách cụ thể, áp dụng vào chính bản thân mình. Cho nên,
việc tha thứ không còn là lý thuyết mà là điều ông phải thực hành. Đây
là bài học quý giá cho mỗi chúng ta, những kẻ đã nghe phúc âm nhiều lần,
nhưng thực hành quá ít. Nếu như thời Trung cổ người ta hoả thiêu nhau vì
hận thù thành kiến, thì bây giờ người ta cũng không kém độc ác. Phải
chăng chúng ta là môn đệ Đức Kitô ? Câu trả lời tích cực xem ra gượng ép.
Nếu
như chúng ta nhìn vào ngôi mộ trống với các tông đồ hôm nay và bày tỏ
đức tin vào Chúa sống lại, thì chúng ta phải sẵn lòng tha thứ cho bất cứ
ai xúc phạm đến mình. Có thể chúng ta không nặng nề lương tâm vì phản
bội Chúa đến nỗi phải chậm lại bước chân khi đến gần mồ Chúa. Nhưng phẩm
chất người tín hữu nơi chúng ta thật nghèo nàn, tình yêu chúng ta dâng
cho Chúa thường khi yếu ớt. Chúng ta không dám dấn thân như Ngài đòi hỏi,
không dám phục vụ những kẻ nghèo nàn, xấu số, bơ vơ, ngoài lề như đức ái
thúc giục, chúng ta tìm kiếm tiện nghi dễ dãi cho bản thân, quên bẵng
những nhu cầu của hàng xóm láng giềng. Tệ hơn nữa, lánh xa không dám
tiến đến gần “ngôi mộ trống” của đức tin chân thành, tức các hy
sinh hãm mình, từ bỏ đam mê tội lỗi, các ưa thích riêng tư, tivi, đầu
máy, các băng đĩa khiêu dâm đồi bại, các giải trí “lành mạnh” nơi
hộp đêm, hồ tắm ; nói chung “đi sung sướng” như kiểu nói bóng bảy
của một số tu sĩ trẻ.
Nhưng nếu chúng ta vì gánh nặng quá khứ
mà chậm bước như Phêrô thì có nguy cơ chẳng bao giờ được trông thấy Chúa
phục sinh. Ngày thứ nhất trong tuần sẽ bình thường như các Chúa nhật
khác, chẳng có chi để mà “mừng vui hân hoan” cất cao bài
“Alleluia”. Ngược lại, nếu tông đồ Phêrô đã tin vào ơn sống lại, ông sẽ
nhìn thế giới bằng quan điểm khác, qua lăng kính của Chúa Giêsu. Đối với
ông không còn tiêu chuẩn đạo đức nào ngoài tiêu chuẩn Chúa Giêsu đã dạy,
không còn thế giới quan nào ngoài giáo huấn của Chúa Cứu Thế. Ông sẽ
hoàn toàn gắn bó với Chúa, đi theo con đường hẹp của Ngài, từ bỏ mọi
quyền lực trái nghịch với cây thập tự. Thực tế Phêrô đã làm như vậy.
Chuyện này đã rõ ràng mọi tín hữu đều thông suốt cả. Phần chúng ta nếu
tin vào sự sống lại, chúng ta sẽ khám phá ra rất nhiều vấn đề của thế
giới. Và hành động để thay đổi các quyền lực sự dữ, ngõ hầu bày tỏ công
lý và tình yêu như Chúa dạy bảo. Thí dụ, tại sao trong một nước giàu có
nhất thế giới như nước Hoa Kỳ lại có đến 25 % trẻ con sống trong cảnh
nghèo khổ ? Tại sao dân chủ như nước Mỹ mà phần lớn phụ nữ chưa được
hưởng quyền bình đẳng ? Tại sao nữ giới trong Giáo hội Công giáo chưa có
tiếng nói ? Mặc dù Tin Mừng Chúa sống lại được một phụ nữ loan báo đầu
tiên ? Làm thế nào đức tin vào Đấng phục sinh ban cam đảm và khả năng để
chúng ta đối mặt với thế giới sa đoạ ngày nay, “ngày thứ nhất trong
tuần” ?
Nếu lúc này đúng là “ngày thứ nhất trong
tuần” thì thánh Gioan nhắc nhở toàn thể nhân loại, đặc biệt là Giáo hội
rằng có một điều gì hoàn toàn mới, hoàn toàn không biết trước đang xảy
ra và chúng ta có lý do để phấn khởi. Một người nào đó được ơn soi sáng
đã nhận ra. Thánh Gioan không tiết lộ rõ tên người ấy, chỉ nói “người
môn đệ được Chúa yêu mến”. Xưa nay người ta vẫn gán cho chính ông. Nhưng
thánh nhân để trống chỗ cho mỗi tín hữu được phép điền tên mình vào.
Thật là một dụng ý tốt đẹp ! Chúng ta nên nhanh chóng thi hành kẻo lỡ
vận hội trong mùa này : “Người môn đệ Chúa yêu mến nhìn vào trong mồ,
ông đã thấy và ông đã tin”. Tình yêu mở mắt cho ông. Chúng ta cũng được
đức tin mở mắt linh hồn và hãy tự gọi mình : “Người môn đệ được Chúa mến
thương”. Hạnh phúc và hy vọng của mỗi tín hữu nằm ở đây. Kinh nghiệm về
tình yêu Chúa mở ra cho chúng ta cơ hội lành thánh để thấy được bổn phận
ơn gọi của mình “ngày thứ nhất trong tuần” ở không gian phục sinh. Khi
nhìn vào trong mồ, các tín hữu cũng được mở mắt. Tình yêu Chúa đã ban
tặng ơn đó, không do công nghiệp, tài khéo hay khôn ngoan của mình. Nó
hoàn toàn là một ơn huệ nhưng không. Nhờ đó chúng ta chẳng còn sợ hãi
thần chết trong muôn vàn thể hiện. Nó kêu mời mỗi người nhìn về tương
lai, không còn nhìn lại quá khứ xem mình là ai, đã làm gì. Bởi vì quá
khứ làm chúng ta nhát đảm. Đây là ngày thứ nhất trong tuần lễ mới, với
những thực tại và khả năng mới cho các môn đệ Chúa. Tình yêu Chúa phục
sinh là căn bản của nếp sống mới này.
Chúng ta sẽ khởi sự hành động như những
người được Thiên Chúa yêu thương, không còn mang trong lòng thù hận,
ghét ghen; không tẩy chay, loại trừ nhau, không đòi hỏi đặc quyền đặc
lợi. Bởi vì Chúa đã cứu chuộc hết thảy mọi người. Làm thế nào những
người được cứu chuộc lại có thể chia rẽ ? Làm thế nào họ không hợp lại
thành một gia đình nhân loại yêu thương ? Tôi hy vọng chúng ta sẽ không
rơi ra ngoài vòng tay thương yêu của Thiên Chúa. Chúng ta hoàn toàn liên
kết với Đức Kitô trong cuộc sống của Ngài. Các mầu nhiệm của Ngài cũng
là các mầu nhiệm của chúng ta. Cái chết của Ngài trên đồi Calvariô cũng
là cái chết của các tín hữu. Ngài chịu thương khó không phải riêng lẻ mà
như đại biểu của toàn thể nhân loại tội lỗi mà Ngài đã nhận lấy thân
phận khi nhập thể làm người. Ngài nhân cách hoá nơi mình mọi lợi ích của
chúng ta và có năng lực trả nợ cho mọi người. Ngài đã gánh chịu cái án
tử hình mà tội lỗi chúng ta gây ra, còn Ngài hoàn toàn trong trắng.
Cho nên khi Ngài sống lại là mọi người
đều được phục sinh trong Ngài. Thánh Phaolô ở bài đọc 2 quả quyết như
vậy. Sự trỗi dậy của Ngài nhất thiết kéo theo sự phục sinh của toàn thể
nhân loại. Chúng ta có thể tự hào mình đã sống lại và ngự bên hữu Thiên
Chúa trên các tầng trời cao : “Thật vậy, anh em đã chết và sự sống mới
của anh em hiện đang ẩn tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa.” Trong lúc kỷ
niệm cuộc khổ nạn, phục sinh và thăng thiên của Chúa Giêsu, chúng ta
không chỉ nhớ lại quá khứ, nhưng là cử hành những mầu nhiệm hiện tại,
tức là sự khổ nạn, phục sinh và lên trời thiêng liêng của mỗi linh hồn.
Chính bí tích rửa tội nói lên tất cả thực tại đó. Vì thế, mọi người nhắc
lại lời thề trong đêm vọng phục sinh. Lời thề không phải là hình thức
nghi lễ mà có nội dung nghiêm trọng kèm theo. Chúng ta buộc phải thi
hành, nếu muốn là môn đệ Chúa. Ước chi hôm nay đúng là “ngày thứ nhất
trong tuần” của mỗi cuộc đời tín hữu trong nếp sống mới, nếp sống phục
sinh nơi Đức Kitô. Amen. Allêluia.
Lm. Jude Siciliano, OP.
ÁNH SÁNG CỦA NIỀM TIN
Ga 20,
1 – 9.
Thưa quý vị,
Phúc Âm hôm nay mở
đầu như sau: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối.” Hẳn
độc giả có cảm tưởng u tối là cảnh trí chung của trời đất lúc ấy. U tối
về nhiều mặt. U tối bao quanh nấm mồ, u tối vì buồn rầu, u tối vì không
biết sự gì đã xảy ra. U tối vì mất mát, u tối vì bất ngờ trước đau khổ
và cái chết của Chúa Giêsu. Sự thực đối với môn đệ Chúa và các phụ nữ,
bầu khí quả là ảm đạm nặng nề. U tối bao trùm ngoại cảnh và nhất là
trong tâm trí họ, cho tới khi người môn đệ kia nhìn vào nấm mồ. Có lẽ
đây cũng là hoàn cảnh chung cho các tín hữu hôm nay, khi nhìn vào tình
hình thế giới: Chiến tranh, áp bức, bóc lột, độc tài, nghèo khổ. Liệu
chúng ta có đủ can đảm để nhìn vào nấm mồ Chúa và tin? Hay chỉ than khóc
xuông rồi chẳng làm gì cả?
Nhưng xin lưu ý,
cả 2 tồng đồ Phêrô và Gioan cùng cúi nhìn vào mồ, thấy cùng một sự việc:
ngôi mộ trống với mấy cuộn dây băng. Người môn đệ kia đã thấy và đã tin.
Chắc chắn ánh sáng giúp đỡ không phải là ánh sáng vật lý. Nhưng là ánh
sáng Chúa Kitô, kiểu như ánh sáng mà người mù từ thủơ mới sinh của Gioan
đoạn 9: “Bao lâu thầy còn ở thế gian, thày là ánh sáng thế gian.” Anh mù
đi rửa mắt ở hồ Silôac và được sáng mắt. Sau đó anh phải giải thích cho
các tư tế, luật sĩ, kinh sư Do thái về thứ ánh sáng đó. Gioan đã nhìn
vào mồ trống trong luồng ánh sáng ấy và ông đã tin. Chúng ta cũng không
thể làm hơn nếu chúng ta muốn gặp Chúa sống lại. An ở kiểu Pharisêu thì
muôn đời sẽ chẳng thể thấy Chúa phục sinh. Tệ hại thay, đây lại là lối
sống của đa phần tín hữu, gồm luôn linh mục, tu sĩ, giám mục mà thánh
Catarina thành Sienna thường phàn nàn. Khi anh mù của Gioan bị đuổi ra
khỏi công đường sau phiên xử án, Chúa Giêsu tìm gặp và hỏi anh xem có
tin vào Con Người hay không. Anh ta nói: “Thưa Ngài, Người ấy là ai để
tôi tin”. Chúa trả lời: “Người anh đang thấy và nói chuyện với anh.”
Người mù sấp mình xuống chân Chúa và nói: “Thưa Ngài, tôi tin.” Như vậy
anh không nhìn bằng đôi mắt thường, mà bằng đôi mắt đức tin. Ước chi
chúng ta cũng được đôi mắt ấy, từ bỏ mọi sự và đi theo Ngài.
Đúng vậy, đức tin
của chúng ta sẽ ra sao nếu Maria Macdala đi ra mồ mà còn thấy xác Chúa
Giêsu? Đây không phải là sự kiện Kinh Thánh, mà chúng ta giả dụ như vậy
để cho thấy đức tin thế nào là đúng nghĩa. Nếu Maria tìm thấy xác Chúa
vẫn nằm trong mồ, thì đức tin của người tín hữu chẳng qua chỉ là ký ức
về đấng sáng lập tôn giáo lạ lùng, đầy thương cảm với số phận nhân loại,
thế thôi, như ký ức về đức phật, lão tử, khổng tử. Chúng ta chỉ còn thấy
Ngài như một vị tôn sư, dạy dỗ những điều hiền lành, làm gương cho con
cái noi theo. Chúng ta sẽ nhắc nhở: Vào hoàn cảnh của con, Chúa Giêsu sẽ
làm chi? Đó sẽ là nguyên tắc phải theo để có hạnh kiểm tốt, nhưng chẳng
còn chi hơn. Chính chúng ta cũng vậy, hai mươi thế kỷ sau chúng ta sẽ
phản ánh giáo lý của Ngài, tìm ra những lối sống phù hợp, thế thôi.
Nghĩa là Đức Kitô xếp hàng với các nhà sáng lập tôn giáo trên thế giới.
Nhưng sự thật, xác Chúa không còn trong mộ nữa, biến mất từ lúc nào. Đó
là sự khác nhau giữa Chúa Giêsu và các vĩ nhân khác. Sự khác nhau to lớn
đến độ đảo lộn nhân loại. Đảo lộn từ gốc rễ, niềm tin và trí não, từ
cách suy nghĩ và nếp sống.
Nhưng xin dừng lại
một chút để tìm hiểu xem Maria đã lý giải ra sao khi chứng kiến ngôi mộ
trống? Đối với bà, đơn giản chỉ là: “Người ta đã lấy xác thầy ra khỏi
mồ.” Nhưng người ta là ai? Là chính quyền Rôma? Là thế lực đền thờ, là
kẻ trộm, là các môn đệ? Vô số câu trả lời. Nhưng chẳng lý lẽ nào đủ
thuyết phục. Thái thú Rôma sai lính đến lấy xác Chúa Giêsu đi vì sợ các
môn đệ Ngài biến ngôi mộ thành nơi hành hương và như thế ấp ủ một cuộc
nổi loạn? Họ quá hiểu tâm lý đám đông Dothái, đã từng nghe, từng chứng
kiến những phép lạ ông Giêsu làm và từ đấy nổi lên chống đối Rôma. Chi
bằng phi tang đi là thượng sách. Thế lực đền thờ? Rất có thể, bác thợ
mộc làng Nazareth đã từng thách thức luật Môisê và các tập tục cha ông?
Lại còn nguyền rủa họ là mồ mả tô vôi, hội đồng phải vất vả lắm mới
triệt hạ được hắn, phải dùng đến cả mưu mẹo xé áo để có thể kết án được
hắn. Nhưng hắn đã lôi kéo được đám đông khổng lồ về phe. Không khéo các
môn đệ hắn lợi dụng nấm mồ để phát tán giáo lý và lối sống của hắn. Lúc
ấy, mối nguy còn lớn hơn. Chi bằng đem xác hắn đi, để bịt miệng vĩnh
viễn. “Người ta” có thể còn là bác làm vườn, hay các môn đệ, bởi vì Chúa
Giêsu đã hứa ba ngày sau Ngài sống lại. Phải thực hiện cho được lời hứa
này bằng cách giấu xác đi và phao tin sống lại!
Đây không phải là
những giả định viễn vông, vì cho đến hôm nay “nhiều triết gia” đã đưa ra
các giải trình “ghê gớm”. Thí dụ có kẻ giải thích rằng: các môn đệ Chúa
đã quá thất vọng về thày mình, không làm trọn mộng ước bá vương của họ.
Cho nên việc Chúa sống lại chỉ là cặn bã của óc tưởng tượng, mộng mơ.
Các môn đệ nghĩ là đã gặp thầy, chẳng qua chỉ là cơn hốt hoảng của ấn
tượng mạnh mẽ mà thôi, để rồi chạy ra phố loan truyền tin thất thiệt.
Nhưng chúng ta,
những kẻ tin, hôm nay tụ họp nhau trong nhà thờ, có phải là hậu quả của
cơn hốt hoảng các tông đồ xưa? Đúng là một ý nghĩ dễ sợ, phải không quý
vị? Nhưng làm sao chúng ta chứng minh được Chúa đã sống lại, để phản bác
các kẻ không tin? Xin thưa ngay chẳng được đâu. Vì muôn đời việc Chúa
phục sinh vẫn là một mầu nhiệm, làm sao chúng ta chứng minh nổi? Phương
pháp tốt nhất là hãy đồng hoá mình với những kẻ “nhìn vào trong mồ”.
Nhiều người cũng nhìn như Phêrô, nhưng chẳng thấy chi ngoài tấm khăn
niệm và cuộn vải băng. Họ nhìn vào cuộc đời mình, nhưng toàn thấy một
màu u tối: “Tảng sáng ngày thứ nhất, lúc trời còn tối.” U tối tràn lan
khắp cuộc đời họ, tương tự không gian Phúc Âm hôm nay. Nhưng khi người
môn đệ được Chúa yêu dấu nhìn vào ngôi mộ trống thì có ánh sáng ở cuối
đường hầm: “Ông đã thấy và ông đã tin.” Như vậy, “thấy” đối với Phúc Âm
thứ tư là trông bằng con mắt tinh thần chứ không phải vật chất. Thực ra,
đối với Gioan chỉ có yêu mến mới ban cho người ta khả năng “thấy” được.
Hẳn nào xưa nay chúng ta không được thấy vì chưa yêu mến thực sự, chưa
từ bỏ mọi sự mà theo thầy, môi miệng là chính.
Đó là điều hôm nay
chúng ta được mời gọi: Tin yêu Chúa thì mới có thể được “thấy” Ngài phục
sinh. Cho nên sau này Gioan chỉ rao giảng có hai chữ thương yêu vì không
thương yêu, chẳng đời nào người ta được phúc “thấy” Chúa sống lại. Còn
nếu yêu mến Ngài thực sự thì thấy Ngài phục sinh trên mọi nẻo đường đời,
mọi biến cố của cuộc đời. Bởi lẽ Chúa sống lại để biến đổi mỗi cuộc đời
thành ánh sáng. Mùa này là mùa xuân, cây cối khắp nơi đâm chồi nảy lộc,
mang những phiến lá mới, xanh tươi mơn mởn, chứng minh sức sống mới
trong thân cây. Vậy thì Chúa phục sinh cũng mang đời sống mới cho nhân
loại như vậy. Nhưng chỉ những kẻ tin yêu mới trông thấy được mà thôi.
Thánh Phaolô trong bài đọc hai viết: “Thưa anh em, anh em đã được trỗi
dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới…chứ
đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.” Là để chúng ta có khả năng
sống nếp sống của Đức Kitô. Ngài sẽ ban cho chúng ta nếp sống mới, nếp
sống phục sinh.
Trên thế giới, mặc
dù còn chiến tranh, chém giết nhau nhưng vẫn có vô số người tốt lành.
Cuộc sống của họ phản ánh tính yêu và phục vụ kẻ khác. Họ là những mẫu
mực của lòng thương cảm đối với số phận hẩm hiu của nhân loại. Họ sống
rất tốt lành mà chưa hề biết Chúa Kitô đã chết và sống lại để bày tỏ
tình yêu của Thiên Chúa. Liệu cuộc sống của họ có thách thức chúng ta?
Liệu việc Maria Macđala còn thấy Chúa trong ngôi mộ có đòi hỏi chúng ta
phải tin? Liệu lời giải thích ban đầu của các môn đệ “người ta đã lấy
xác Chúa ra khỏi mộ” là đúng thì chúng ta hành xử ra sao? Tôi nghĩ chúng
ta phải có thái độ khác. Nhưng Chúa đã sống lại và chúng ta không giải
thích được. Sức sống Chúa ban qua bí tích rửa tội có khả năng làm cho
thế giới nhìn thấy Chúa phục sinh. Chúa phục sinh là thành phần của cuộc
sống mỗi người. Nó phải là nguyên lý để chúng ta ảnh hưởng thế giới. Đức
tin ban cho chúng ta cái nhìn mà con mắt xác thịt không thể thấy. Cho
nên bổn phận của mỗi tín hữu là bày tỏ Chúa phục sinh cho nhân loại.
Các triết gia còn
đang bàn tán: “Liệu có cần Chúa hiện ra để các môn đệ tin Chúa sống lại?
Theo thiển ý của tôi thì không cần. Bởi vì người môn đệ kia đã thấy ngôi
mộ trống và đã tin. Cho nên chúng ta không cần gặp Chúa nhãn tiền như
Maria Macđala và các người khác trong Tin Mừng hôm nay để có thể tin.
Đức tin của bí tích Rửa Tội là đủ rồi, như Chúa phán cùng Tôma: “Phúc
cho những ai không xem thấy mà tin.” Chúng ta nên giống như Gioan, chỉ
nhìn vào ngôi mộ trống và đã tin. Chúng ta nên giống như anh mù từ lúc
mới sinh, đi rửa mắt ở hồ Siloê và đã xem thấy. Chúng ta nhìn thấy Chúa
phục sinh trong những kẻ nghèo hèn chung quanh mình mà cố gắng giúp đỡ.
Chúng ta nhìn thấy Chúa phục sinh trong những hoạt động giáo xứ, hội
đoàn để tích cực tham gia vào đời sống đức tin chung. Chúng ta nhìn thấy
Chúa sống lại trong hàng giáo phẩm, linh mục, tu sĩ, hội dòng để xây
dựng nước Chúa giữa trần gian. Chúng ta nhìn thấy Chúa sống lại trong
các chính phủ, các trung tâm giáo dục, cứu trợ bác ái để cố gắng làm dậy
men muối cho đời. Liệu chúng ta có nhận ra rằng: khổ chế, hi sinh, từ bỏ
bản thân là dấu hiệu của Chúa phục sinh trong cuộc đời mình? Và sức sống
mới đang tăng trưởng để vươn tới Nước Trời vĩnh cửu?
Người ta hỏi cha
Pio 5 Dấu, giải thích về thánh lễ vì ngài dâng lễ rất sốt sắng, tuy kéo
dài tới hơn 2 tiếng đồng hồ. Ngài trả lời: “Đó là vĩnh cửu, giống như
Chúa Kitô. Làm sao tôi giải nghĩa nổi.” Đức Kitô phục sinh cũng là vĩnh
hằng, quyền phép vô biên, chúng ta không thể cắt nghĩa được. Nhưng chúng
ta nhìn vào trong mồ trống và chúng ta tin. Ngài sống lại sáng láng hơn
biến cố trên núi Tabor. Sáng láng không lưỡi nào tả xíêt như thánh
Phaolô viết.
Nhưng Ngài cũng có
thân xác loài người như chúng ta. Hy vọng của chúng ta là ở chỗ đó, cũng
được phục sinh vinh hiển như Ngài. Ngài sẽ lên cùng Thiên Chúa Cha cũng
là Thiên Chúa chúng ta, và thưa: “Con xin về cùng Cha, Con đã thắng trận,
là người đầu tiên trong nhân loại sống lại để sống vĩnh cửu, là người
đầu tiên trong tạo vật mới của Cha. Xin cha vui mừng với Con. Anh chị em
con sẽ theo sau, từng người một trong đời sống đức tin vào Con. Cuối
cùng tất cả đều sẽ trở về cùng Cha vinh hiển để sống muôn đời như con
nay đang sống.”
Vậy hôm nay chúng
ta nên nhập đoàn với các tông đồ khi họ nhìn vào ngôi mộ trống và với
người môn đệ kia, chúng ta nhìn thấy cuộc sống mới: Cuộc sống của Đức
Kitô Phục Sinh, đang thả rông khắp thế gian, không ai ngăn cản được nữa.
Thiên hạ sẽ trông thấy rõ ràng khả năng biến đổi đời mình, biến đổi thế
giới, đang sẵng sàng cho những ai đặt hết tin tưởng vào Đấng từ cõi chết
sống lại. Amen. Alleluia.
Giacôbê Phạm Văn Phượng op
Sự kiện mộ trống
(Ga 20,1-9)
Chương trình Thiên Chúa cứu chuộc loài
người được thực hiện nơi cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu. Tại sao
lại dùng cái chết ? Chúng ta có thể trả lời : Không phải Thiên Chúa cần
đến sự đau khổ của Chúa Giêsu như một hình phạt, thay thế cho hình phạt
mà loài người đáng chịu, nhưng vì Thiên Chúa muốn Chúa Giêsu, con của
Ngài, diễn tả tình yêu lớn lao đối với Thiên Chúa và đối với loài người.
Nghĩa là với tư cách là trung gian giữa Thiên Chúa và loài người, Chúa
Giêsu đền thay tội lỗi của loài người bằng cách ấy. Ngài đã chứng tỏ một
tình yêu vô cùng lớn lao là yêu đến chết trên thập giá, đến thí mạng
sống vì kẻ mình yêu thương.
Nhưng sự hy sinh lớn lao của Chúa Giêsu
trên núi Sọ đã được Thiên Chúa đáp ứng. Thực vậy, mặc dầu người ta đã
niêm phong ngôi mộ và cho lính canh gác cẩn thận, nhưng đến ngày thứ ba,
tảng đá che cửa mộ đã bật tung ra, ngôi mộ trống rỗng, Thiên Chúa đã cho
con của Ngài sống lại từ cõi chết và siêu tôn Người, như thánh Phao-lô
đã viết : “Đức Kitô đã tự hạ sống phục tùng cho đến nỗi bằng lòng chịu
chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người
và tặng ban danh hiệu trổi vượt hơn muôn ngàn danh hiệu, để vừa nghe
danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong cõi âm ty, muôn vật
phải bái quỳ cùng mở miệng tuyên xưng : Đức Giêsu là Chúa”.
Tin Mừng cho biết : sáng sớm ngày thứ
nhất trong tuần, các bà đạo đức thân quen với Chúa, trong số đó có bà
Maria Mác-đa-la, là người đầu tiên khám phá ra ngôi mộ trống, và cũng
là người đầu tiên loan báo cho các tông đồ điều mà các Kitô hữu gọi là
Tin Mừng Phục Sinh : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”. Thực chất lời ấy
chỉ mô tả một sự kiện mộ trống. Vậy mà sự kiện ấy được mau chóng giải
thích rất khác nhau : người thì nói các môn đệ Chúa tổ chức ăn cắp xác
lúc lính canh ngủ; người thì cho rằng Đức Giêsu ở trong tình trạng hôn
mê, chưa chết, nên đã tỉnh dậy do bị lạnh và ra khỏi mộ; người thì cho
rằng cơn động đất đã nuốt Chúa vào lòng đất; người thì giải thích rằng
các phụ nữ, các tông đồ đã “lộn mộ”, chôn ở một nơi nhưng đi tìm ở một
nơi khác.
Phải chăng niềm tin Chúa sống lại không
có cơ sở vững chắc ? Thưa niềm tin ấy rất vững chắc, vì không dựa trên
hiện tượng mơ hồ : mộ trống, nhưng trên lời Chúa, hay đúng hơn, thấy lời
Chúa được ứng nghiệm. Sự kiện ấy làm cho các tông đồ nhớ lại những lần
Đức Giêsu nói tiên tri : “Con Người sẽ bị giết chết, nhưng ngày thứ ba
sẽ sống lại”. Lời ấy đã ứng nghiệm ở phần trước, nghĩa là các tông đồ đã
chứng kiến tận mắt cuộc khổ hình của Chúa. Đức Giêsu đã thực sự chết và
đã thực sự được chôn táng trong mộ. Đó là sự kiện không ai nghi ngờ, vậy
giờ đây xác ấy không còn trong mộ, sự kiện ấy làm các tông đồ tin rằng
lời Chúa đã được thực hiện cách trọn vẹn. Thực hiện ở phần trước : cuộc
khổ nạn, và thực hiện ở phần sau : sống lại, nhờ đấu chỉ mộ trống. Nếu
tách sự kiện mộ trống ra khỏi lời Chúa thì nguyên sự kiện ấy cũng không
thể đưa tới niềm tin Đức Giêsu Kt-tô. Thế nhưng, vì các môn đệ đã từng
chứng kiến lời Chúa đã được làm trọn nơi Đức Giêsu, thì chỉ cần một dấu
chỉ (mộ trống) cũng đủ làm cho các ông tin lời Chúa vẫn tiếp tục được
làm trọn.
Đức Kitô phục sinh là trung tâm của niềm
tin Kitô giáo và cũng là trung tâm của đời sống Kitô hữu. Thánh Phao-lô
quả quyết : “Nếu Đức Kitô không sống lại thì tất cả lời rao giảng của
tôi đều vô ích, và người Kitô hữu chân chính là người “vô phúc hơn hết
mọi người”.
Tại sao vậy ? Chúng ta hiểu những lời đó
thế nào ? Sự phục sinh của Đức Kitô không chỉ liên hệ đến cuộc đời Ngài,
nhưng nó lại ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh của toàn thể nhân loại,
cũng như ảnh hưởng mật thiết đến cuộc sống, đến lòng tin và niềm hy vọng
của tất cả chúng ta. Thiên Chúa đã hy sinh chết thay để cho loài người
được sống, không phải cuộc sống mau qua của đời tạm này mà là cuộc sống
bất diệt trên cõi trường sinh. Sự sống lại của Chúa là bằng chứng cụ thể
cho niềm tin đó, nghĩa là chúng ta tin Chúa sống lại là chúng ta tin
chúng ta được cứu chuộc, bởi vì Chúa sống lại Chúa mới cứu chuộc được
nhân loại, nếu như Ngài chết luôn thì Ngài không có quyền gì cứu chuộc
chúng ta. Nhưng Ngài đã sống lại để chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa hằng
sống và là nguồn sống, từ đó Ngài ban sự sống cho tất cả mọi người, ai
tin vào Ngài thì được sống đời đời. Cũng thế, Chúa sống lại còn là niềm
hy vọng cho chúng ta , tất cả chúng ta cũng sẽ sống lại, thân xác chúng
ta sẽ sống lại. Do đó, đức tin của chúng ta vào Đức Kitô phục sinh không
phải là điều hão huyền mà là một bảo đảm có giá trị to lớn, tuyệt vời.
Cho nên việc Chúa sống lại là một niềm vui và cũng là một niềm hy vọng
chắc chắn cho chúng ta. Chúng ta hãy quăng bỏ tất cả những gì là đau
buồn, thất vọng, lo lắng; hãy đem tất cả những thứ đó xe kết lại làm bấc
đốt nến phục sinh cho sáng niềm tin, để trong mọi cảnh ngộ chúng ta vẫn
vui sống và sống hào hùng.
Niềm tin Đức Kitô phục sinh đã thúc đẩy
các tông đồ ra đi làm chứng cho Chúa đến nỗi sẵn sàng làm chứng bằng cả
mạng sống bất chấp mọi đe dọa, khủng bố, bách hại. Lời chứng ấy vẫn vang
lên luôn mãi qua các thế hệ Kitô hữu suốt hai ngàn năm qua. Còn chúng ta
hôm nay thì sao ? trong mỗi thánh lễ, chúng ta tung hô sau truyền phép :
“Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống
lại cho đến khi Chúa đến”. Chúng ta tin trong lòng, chúng ta tuyên xưng
ngoài miệng, và chúng ta biết rằng hiệu quả hơn chính là trong cuộc sống
: cuộc sống vui mừng và hy vọng, cuộc sống bình an giữa những thử thách
nghiệt ngã của cuộc đời. Đó là cách chúng ta diễn tả niềm tin Đức Kitô
phục sinh trong hoàn cảnh hôm nay.
Đaminh Vũ Hà Tiên
CHÚA KITÔ PHỤC SINH LÀ
LẼ SỐNG ĐỜI TA
Ga 20,1-9
Con người mọi thời đại đều mong ước được
bất tử. Cùng với thời gian con người không ngừng tìm kiếm, phát minh
nhằm bảo tồn sự sống. Cho đến nay, dù khoa học đã tiến bộ vượt bậc, đến
nỗi con người có thể điều khiển phi thuyền bay lên mặt trăng, bay đến
tận sao Kim sao Hỏa và có thể đến các vì sao khác xa hơn thái dương hệ,
nhưng họ vẫn chịu khuất phục trước cái chết. Mọi người mong kéo dài được
tuổi thọ, nhưng trong thực tế tất cả đều phải chết. Vì vậy, trong giới
hạn nhận thức của con người cũng chẳng có sự sống lại. Theo Tin Mừng
thánh Luca, khi nghe bà Maria Mác-đa-la và những người cùng đi với bà kể
về ngôi mộ trống, các tông đồ đã cho rằng các bà nói những chuyện vớ vẩn
nên chẳng tin!
Thế nhưng nhờ mạc khải, họ đã tuyên xưng
Đức Kitô sống lại. Với thánh Gioan, ngôi mộ trống và các khăn niệm được
xếp ngăn nắp, dấu chỉ giúp ông nhớ lại lời Kinh Thánh và ông đã tin Thầy
mình sống lại. Còn những người khác; như bà Maria Mác-đa-la chỉ khi nghe
tiếng Thầy gọi đúng tên của mình mới nhận ra Thầy; các môn đệ thấy Thầy
hiện đến: chúc bình an, cùng ăn, cho xem các dấu đinh mới tin Thầy sống
lại; Tôma còn cứng lòng hơn nữa: phải thấy, phải xỏ tay vào lỗ đinh ở
chân tay Thầy mới tin. Còn chúng ta ngày nay, sự nghi ngờ của các tông
đồ, lòng cứng tin của Tô-ma, giờ đây đã trở nên bằng chứng đầy thuyết
phục đối với chúng ta, và chúng ta vinh dự được lãnh nhận niềm tin vào
Đức Kitô phục sinh không phải bằng giác quan nhưng nhờ ân sủng: “Phúc
cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,24).
Tin vào Đức Kitô phục sinh là lẽ sống
trong cuộc đời mỗi chúng ta. Vì tin vào Đức Kitô phục sinh chúng ta
không chỉ dừng lại để hưởng thụ sự sống thể lý mà là vượt qua cái chết
để hưởng sự sống vĩnh cửu trên Thiên Đàng. Để hưởng trọn niềm vui vĩnh
cửu ấy, chúng ta phải sống như thế nào trước những cám dỗ của thời đại
ngày nay ?
Lạy Chúa Chúa Giêsu phục sinh,
Liệu chúng con có đủ can đảm để từ bỏ
những của cải bất chính như Chúa đã từng từ bỏ vinh hoa, lợi lộc trần
gian mà Satan hứa cho Ngài, nếu Ngài chịu quì lạy nó; Chúng con có đủ
can đảm để tránh xa những tệ nạn xã hội, thú vui xác thịt dẫn đến hậu
quả là những căn bệnh thời đại và tệ nạn nạo phá thai đang ở mức báo
động; Hay chúng con có dám dành một ít thời gian vui chơi giải trí để
thăm hỏi, an ủi những người đang sầu khổ, thất vọng hoặc để cầu nguyện
với Chúa.
Lạy Đức Kitô phục sinh,
Dẫu biết rằng Ngài chiến thắng tội lỗi và
sự chết là để mở ra cho chúng con đường vào lẽ sống mới, nhưng chúng con
có mới được hay không, mới nhiều hay ít, mới trong hay ngoài là tùy
thuộc vào tâm tình sống của chúng con đối với Ngài. Sẽ là đong đầy nếu
chúng con biết dành cho Ngài một trái tim chân thành sẵn sàng dấn thân
trước những lời gọi của Tin Mừng. Sẽ là ngọt ngào cuộc sống nếu chúng
con biết gắn bó cùng Ngài vượt qua những nghịch cảnh cuộc sống. Và sẽ đi
đến vô cùng của sự sống nếu chúng con biết dệt đời mình bằng những bước
đi nhiệt thành tin yêu, dẫu cho ở đâu đó người ta vẫn cư xử với nhau
bằng trái tim sỏi đá, hay vẫn còn hiện diện bên nhau bằng sự giả dối,
xảo quyệt. Được như thế, niềm tin vào Đức Kitô phục sinh mới là lẽ sống
cho chính chúng con và lẽ sống ấy đáng lan tỏa đến mọi người.
Lạy Chúa Kitô phục sinh,
Xin cho chúng con luôn biết dõi theo Ngài
làm lẽ sống đời chúng con, để chúng con được tự do bay cao không bị nỗi
sợ hãi của phận người chi phối; sợ thất bại, sợ đau khổ, sợ nhục nhã và
sợ chết. Để chúng con nhận ra giá trị của cuộc đời và sống tận tình với
Chúa và với mọi người. cho dù cuộc sống của chúng con có gặp nhiều những
khó khăn ngang trái, thử thách, xin cho chúng con luôn can đảm chịu đựng
và vượt qua để chúng con trở nên giống Chúa hơn. Amen.
Nguyễn Tương Như
Ngàn
Năm Một Thuở
Cách đây 4.500 năm pharaoh Khufu đã xây
kim thự tháp Cheops. Từ lâu các nhà khoa học đã đau đầu về cách người ta
nâng được 3 triệu tảng đá, mỗi tảng nặng đến 2,5 tấn, lên đúng vị trí
của nó. Sau 8 năm nghiên cứu, kiến trúc sư Jean-Pierre Houdin đưa giả
thuyết : ở độ cao 40 mét đầu tiên của kim tự tháp, những người thợ đã
dựng một đường dốc ở bên ngoài để kéo đá. Nhưng sau đó, đường dốc lại
được chuyển vào trong lòng kim tự tháp, theo hình xoắn ốc để hoàn tất
cấu trúc cao 135 mét này.
Chẳng biết giả thuyết đó có đúng không ?
Kim tự tháp vẫn còn đầy bí ẩn.
Nhưng kim tự tháp cũng chỉ là công trình
của loài người. Công trình loài người còn bí ẩn như thế, làm sao hiểu
nổi công trình Thiên Chúa thực hiện nơi Ðức Kitô phục sinh ? Phục sinh
trở thành biến cố vượt ngoài sức tưởng tượng của con người. Mầu nhiệm
càng dầy đặc khi con người tò mò muốn biết làm cách nào Thiên Chúa có
thể phục sinh Con Người từ cõi chết.
Kinh nghiệm đó chính các tông đồ đã từng
trải qua. Dù thuộc lòng Kinh thánh từ thuở nhỏ và được Thày tiên báo,
các ông vẫn không hiểu ý nghĩa sự kiện “Ðức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi
chết.” (Ga 20:9) Bà Maria Mácđala cũng không khá hơn. Bà hoảng hồn vì
không thấy xác Chúa và chỉ biết thuật lại sự kiện cho các tông đồ (Ga
20:2). Nghe theo lời bà, hai ông Phêrô và Gioan đã chạy đến mồ để tìm
hiểu sâu hơn và bình tĩnh hơn. Ông Phêrô đã bạo dạn chui hẳn vào trong
mồ. Tiếp theo là bước chân ông Gioan với niềm tin bừng sáng trước mặt.
Bao nhiêu ác mộng tiêu tan ! Từ nay, các ông xác tín vào Chúa Phục Sinh
và đã lấy cả mạng sống trả giá cho niềm tin đó.
Niềm tin Phục Sinh bắt đầu từ “tảng đá đã
lăn khỏi mộ,” (Ga 20: 1) mở đường cho Ðức Kitô vinh thắng. Mồ trống là
dấu chỉ vương quốc tử thần đã tan hoang. Thần chết đã mất hết mãnh lực.
Bởi đó, dù chỉ loan báo cho các tông đồ sự kiện mồ trống, bà Maria cũng
xứng đáng là tông đồ của các tông đồ. Từ đó, các ông không những nhớ lại
lời nói và việc làm đầy quyền uy của Ðức Giêsu, nhưng cả những đau khổ
và cái chết của Người nữa. Chính ở chỗ bế tắc nhất và vô nghĩa nhất của
kiếp người, Chúa đã tìm thấy con đường giải thoát cho toàn thể nhân
loại.
Người vô tội nhưng đã được Chúa Cha sai
đến “mang thân xác giống như thân xác tội lỗi” (Rm 8:3) và mặc lấy mọi
chiều kích của thân phận con người. Nhờ vâng phục thánh ý Chúa Cha,
Người đã biến cái chết thành của hiến lễ dâng tiến Chúa Cha. Chỉ vì muốn
tỏ lòng thần phục và yêu thương Chúa Cha, Người đã chết để sống đời đời
với Chúa Cha trong cõi vĩnh phúc. Chính Chúa Cha đã dùng quyền lực Thánh
Linh phục sinh Người. Từ đó sự chết đã thay đổi hoàn toàn ý nghĩa. Sự
chết trở thành dấu chỉ tình yêu Thiên Chúa đang hiện diện để cứu độ nhân
loại.
Con Chúa trở thành nguồn ơn cứu độ loài
người, thành nguyên ủy ban Thánh Linh nguồn sống, Ðấng dẫn đưa con người
qua đau khổ và sự chết tới thừa hưởng sự sống vĩnh cửu với Người. Như
thế, ánh sáng đem lại sự sống vĩnh hằng cho con người. Ðức tin đã sát
nhập con người vào Ðức Kitô hằng sống. Sống trong Ðức Kitô, con người sẽ
không bao giờ sợ bị án phạt đời đời. Cái chết làm cho con người nên
giống Người và nên một với Người. Cái chết mở đường vào cõi sống vĩnh
hằng. Chết trở hành phương tiện cứu độ.
Trên đường theo Ðức Kitô, con người đón
nhận được sức mạnh của Chúa qua sự sống, cái chết và Phục sinh của
Người. Con người tin chắc sẽ được biến đổi trong thân xác vinh quang của
Người. Chết không phải là một sự đầu hàng hay thất bại, hủy diệt hay
vĩnh viễn xa lìa Chúa Cha. Cái chết vén màn cho chúng ta thấy dung nhan
Chúa Cha là Thiên Chúa tình yêu. Tình yêu bất tử. Sự chết như một chân
trời chỉ giới hạn tầm nhìn con người. Xuyên qua cái chết, niềm tin cho
ta thấy tất cả sự thật Chúa Cha mạc khải trong Ðức Kitô Phục sinh.
Phục sinh gởi một sứ điệp vừa cổ điển vừa
hiện đại : Ðức Kitô không còn nằm trong quyền lực tử thần. Ngày nay,
Kitô hữu được kêu gọi sống, công bố và chào mừng chiến thắng này. Bằng
cách nào ? Họ phải chống lại mọi hình thức văn hóa sự chết và khủng bố
đầy dẫy trong thế giới hôm nay. Ðể phục sinh, Chúa Kitô đã phải vác thập
giá lên đồi Canvê. Chẳng lẽ muốn phục sinh nhân loại và dân tộc, người
Kitô hữu lại ngồi lì trong nhà để thụ hưởng những bổng lộc và lễ nghi ?
Không ! Chúa Kitô mời gọi họ vác thập giá theo Người. Không có con đường
giải thoát nào khác ngoài thập giá Chúa Kitô.
Nếu Chúa cũng hoàn toàn im lặng trước
những cơ chế bất công và quyền lực tối tăm, chắc chắn Chúa đã không làm
chứng. Khi nào Chúa im lặng và khi nào Chúa cất tiếng nói ? Trong suốt
cuộc khổ hình, Chúa Giêsu giữ thinh lặng một lần trước Thượng Hội Ðồng
khi họ tố cáo và xuyên tạc những lời giảng của Người (Mc 14:61). Philatô
rất ngạc nhiên khi thấy Chúa làm thinh trước cảnh các thượng tế và kỳ
mục chống đối đòi lấy mạng Người (Mt 27:14; Mc 15:5). Nhưng Chúa không
bao giờ thinh lặng khi cần phải xác định về bản tính và sứ mạng của
mình. Chúa đã bị cơ chế bất công đẩy vào cõi chết để bịt miệng Người.
Ngày nay, khi thấy cảnh một linh mục kia
bị bàn tay hộ pháp bịt miệng trước tòa án, nhiều người muốn xác định
danh tánh người công an đó. Ðể làm gì vậy ? Ðiều đó có cần thiết không ?
Sao không nhớ Chúa đã trả lời cho Philatô khi ông xưng hùng xưng bá để
đe dọa Người : “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban
cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn.” (Ga 19:11)
Can đảm chưa ?! Rõ ràng chưa ? Nếu không có cả một chế độ bao che, chắc
chắn bàn tay hộ pháp đó cũng chẳng làm gì được !
Thú thật, không còn gì ý nghĩa và giá trị
hơn khi thấy cảnh cha Nguyễn văn Lý bị bịt miệng và mang còng số 8 trước
tòa án. Hình ảnh ấy đập vào mắt mọi người ngay trước Tuần Thánh 2007.
Chưa bao giờ Tuần Thánh đầy ý nghĩa như vậy ! Phải cám ơn Nhà Nước Việt
nam mới phải, vì họ đã đưa lên màn hình thế giới một cảnh tuyệt vời về
thực trạng nhân quyền tại Việt nam và về một hiện thân Ðức Kitô giữa
thời đại !
Hình ảnh ấy có giá trị hơn cả triệu bài
viết về nhân quyền. Không cần nói nhiều nữa. Tất cả đã rõ ! Có thể chú
thích dưới bức hình nổi tiếng đó như sau : “Không có gì quý hơn độc lập
và tự do” hay “Việt nam bước vào sân chơi thế giới sau WTO.” Xưa nay,
nhiều người cứ tưởng những người đấu tranh cho dân chủ quay lưng lại với
dân tộc. Còn những người đấu tranh ở hải ngoại bị xếp vào nhóm cử tri
lỗi thời. Những người chống Cộng không sao thuyết phục được giới trẻ
hiểu về lý tưởng của mình. Hình ảnh đó đã đủ cho giới trẻ hải ngoại thấy
rõ sự thật. Cám ơn Nhà Nước Việt nam đã tung ra một màn ngoạn mục giúp
cho cả đạo lẫn đời hiểu rõ vấn đề ! Hình ảnh đó có sức phục sinh cả một
dân tộc đang chết nhát trước bạo lực.
Niềm tin Phục Sinh làm sống lại một ký ức
kinh hoàng về một thời đại hình như sự chết mạnh hơn sự sống. Theo chân
Chúa, cha ông tử đạo chúng ta đã anh dũng đánh đổi mạng sống để dành lấy
quyền tự do tôn giáo ! Các Thánh Tử Ðạo Việt nam đã từng là nạn nhân của
những cơ chế bất công. Từ dưới những nấm mồ, các ngài vẫn còn lớn tiếng
kêu gọi mọi người chú ý tới quyền tự do tôn giáo là quyền căn bản của
con người.
Hơn ai hết, các vị lãnh đạo Giáo Hội đánh
giá cao những hy sinh đó. Chẳng lẽ các vị tử đạo để được tôn kính trên
những tòa cao chót vót với những nghi lễ rùm beng ? Hẳn các vị lãnh đạo
còn nhớ lời thách thức của Giám Mục Nguyễn Kim Ðiền : có giám mục nào
dám chết vì quyền làm người không ? Có Giám mục nào đã từng nhận được
giải thưởng Rafto như Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ chưa ? Nhưng chắc chắn
GHVN có hai giám mục Nguyễn Văn Sang và Bùi Tuần được Chủ tịch Nhà nước
Nguyễn Minh Triết ban Huân Chương Đại Đoàn Kết Dân Tộc vào ngày
18-11-2006. Mỉa mai thay !
Thật vô cùng xấu hổ khi nhìn sang nước
Zimbabwe, Phi châu. Giữa cảnh đàn áp bất công, Tổng Giám Mục Pius Ncube
tố cáo : “Áp bức là tội lỗi và là điều không thể tương nhượng. Nó phải
bị khuất phục.”(Liên Hội Đồng Giám Mục Phi Châu và Madagascar, viết tắt
là SECAM) Người đã dẫn đầu đoàn biểu tình chống lại chính phủ chính
quyền Mugabe . Có ai đặt vấn đề Giáo hội có được phép làm chính trị hay
không đâu. Trái lại, Đức Tổng Giám Mục Ncube bày tỏ vui mừng vì sự ủng
hộ của các Đức Giám Mục tại các nước Phi Châu dành cho chính nghĩa tự do
dân chủ của người Zimbabwe là “chưa từng có.”
Làm sao có tự do dân chủ, nếu không mạnh
dạn lên tiếng và dấn thân như Ðức Kitô ? Chúa nhật vừa qua, Đức Giáo
Hoàng Bênêđict XVI mời gọi những người trẻ hãy can đảm chống lại bạo lực,
dối trá và thối nát,1 Lời mời gọi này cũng dành cho tất cả
những ai đang tha thiết với công cuộc tranh đấu cho tự do và quyền làm
người. Những gì đụng tới con người là đụng tới Chúa Kitô. Không thể nhân
danh lề luật để giết chết con người. “Ngày Sabát được tạo nên cho con
người, chứ không phải con người cho ngày sabát.” (Mc 2:27)
Lm.
Jude Siciliano, OP
SỐNG
TRONG NIỀM TIN
VƯỢT QUA SỰ CHẾT CỦA TỘI LỖI
Lc 24: 1-12
Bài Phúc Âm đêm vọng
lễ Phục Sinh rất lạ, vì chúng ta thường nghĩ đi lễ để mừng
sự sống lại. Nhưng thật ra bài Phúc âm lại không nói gì về sự
sống lại cả. Đây là một bài nói về sự mất mát, sự bối rối,
do lời của hai người mặc quần áo chói lòa, do lời nói của
vài phụ nữ với 11 môn đệ, sự ngạc nhiên của 11 môn đệ và của
Phêrô khi nhìn vào mộ trống.
Trong giáo xứ chúng
tôi, phải mất nhiều thì giờ và công sức đón mừng đêm vọng lễ
Phục Sinh. Trong các giáo xứ tôi đã đi giảng tỉnh tâm mùa chay
năm nay, các ban phụng vụ và nhạc đoàn đã sẵn sàng đâu vào
đấy cho đêm vọng Phục Sinh. Nếu bạn hỏi nhỏ đã soạn những gì,
họ sẽ trả lời là họ soạn một đêm vui mừng Chúa sống lại.
Việc sửa soạn cẩn thận của họ chắc sẽ làm cho cộng đoàn
giáo dân hăng hái cầu nguyện sốt sắng hơn.
Vậy sao bài phúc âm
không trình bày câu chuyện cho rõ ràng hơn, và hợp với tất cả
các sửa soạn nói trên. Anh chị em nghĩ sao? Có lẽ do các phụ
nữ, 11 môn đệ và Phêrô làm chúng ta nghĩ đến đêm hôm nay khi
chúng ta cùng với các phụ nữ và Phêrô nhìn vào ngôi mộ trống.
Chúng ta nghe lời khuyên của hai người mặc áo trắng nói với
các phụ nữ ở mộ “hãy nhớ lại điều Người đã nói với các
bà”. Hai người đó nhắc đến lời Chúa Giêsu nói trước về sự
thương khó và sự sống lại của Ngài. Chúa Giêsu đã đến với
chúng ta trong sự chết của chúng ta; Ngài đã đi đến tận nấm
mồ với chúng ta.
Nhưng, hai người mặc
áo trắng sáng còn muốn các phụ nữ và các ông nhớ lại nhiều
hơn. Họ phải nhớ lại và đặt niềm tin vào lời hứa của Chúa
Giêsu là Ngài sẽ sống lại. Sự sống lại sẽ kế tiếp theo những
đau khổ của sự thương khó… và sự chết. Sau khi các môn đệ thấy
sự đau khổ tột cùng của Chúa Giêsu và sự chết của ngài, thật
khó mà nhớ đến lời hứa về sự sống lại. Chúng ta cũng vậy.
Sau những đau khổ và những ngôi mộ trống mà chúng ta nhìn
thấy, thật là khó cho chúng ta để nhớ đến sự sống lại.
Cách đây vài năm, trong
Tuần Thánh, lúc nử̃a đêm, tôi được một cú
điện thoại của một người bạn. Do khoảng 25
năm về trước tôi có gặp bà ta khi người chồng bà ta 52 tuổi ở
bệnh viện vào lúc người ta đã tắt các máy trợ sinh. Bà ta
nuôi 3 đứa con một mình. Và bà gọi tôi lúc đó để báo tin
người con 48 tuổi đột tử trong lúc đang nói chuyện với vợ. Tôi
vội đến nhà bà ta để thăm và tôi ngồi bên cạnh Bà đang nức nở
khóc. Bà ta nói “Thật là quá đáng cho con, con có thể chịu
đựng sự chết của chồng con, nhưng giờ đây thì thật là quá
đáng cho con !” Bà ta than vãn rất đau đớn
và trách móc Chúa. Trong những trường hợp đau khổ lớn như thế,
bà ta cảm thấy đức tin đang bị thử thách. Bà nắm trong tay một
cây thánh giá bằng lá dừa con bà cho bà ngày lễ lá trước đó.
Ai có thể nói gì với bà được ? Rồi bà
nắm tay người khác, mân mê cây thánh giá bằng lá, và nhìn
xuống đất trước mặt chúng tôi. Bà cố gắng nhớ lại đức tin
của mình, cố gắng đặt niềm hy vọng vào lời Chúa hứa sẽ cho
con bà sống lại với Chúa Kitô. Chúng tôi cũng như hai người ở
mồ chúa Giêsu cố gắng “nhớ lại”. Tôi có cảm tưởng như chúng
tôi đang nhìn vào ngôi mộ trống mà không cảm thấy chút nào bớt
nỗi đau đớn. Tôi chắc đó là cảm tưởng của các môn đệ ngay sau
khi Chúa Giêsu vừa chịu chết thãm và chịu mai táng. Nói gì bây
giờ? Làm gì bây giờ? Chúng ta vẫn thấy bị thất bại nặng nề
vì kẻ thù.
Trong ngôi mộ tối đen.
Và có ai chưa nhìn vào cõi u tối với nhiều đớn đau đâu? Ngay
cả khi một người lớn tuổi qua đời cũng làm cho chúng ta đặt
nhiều dấu hỏi khi nhìn vào ngôi mộ. Chúng ta cũng biết nhiều
ngôi mộ khác như: ngôi mộ của sự tan vỡ hôn phối; ngôi mộ của
sự bội phản của bạn thân; ngôi mộ của sự thất bại trong một
chương trình; ngôi mộ của những mơ ước bị thất bại; ngôi mộ
của bệnh hoạn lâu dài v.v… Và khi nhìn vào những mộ đó, chúng
ta khóc, và tự hỏi trong ước vọng: Có cách nào để kéo lại
thời gian của những ngày vui trước đây chăng.
Các phụ nữ đến ngôi
mộ để ướp xác Chúa Giêsu theo thủ tục địa phương, và đó là
dịp chia tay cuối cùng. Đó là việc thường làm đối với người
họ thân thương. Họ còn làm gì nữa được? Bà Maria Magdala cũng
có đó. Câu chuyện kể trong phúc âm cho biết là Chúa Giêsu đã
thay đổi đời bà. Bà ta không phải là người đàn điếm mà người
ta gán cho bà. Nhưng bà đã gặp khó khăn và Chúa Giêsu đã thay
đổi đời bà. Thánh Luca nói khi bà và các phụ nữ khác đến
thấy ngôi mộ trống không họ “phân vân”. Luca là một nhà thơ, nên
Luca viết lúc đó trời vừa rạng sáng ngày đầu tiên trong tuần.
Có chuyện gì sẽ xảy đến với các bà này. Có ai sẽ thay đổi
đời sống họ. Nhưng không xảy ra ngay đâu. Cũng như chúng ta, họ
sẽ phải đợi, và lúc chờ đợi đó mới là lúc khó khăn vô cùng.
Ngôi mộ trống chẳng
có ý nghĩa gì. Chỉ là sự trống không. Hãy nhìn vào ngôi mồ
đó với các phụ nữ, với bà bạn tôi kể trên có người con vừa
bị đột tử. Chúng ta hãy mang đến ngôi mộ trống không ấy tất
cả những gì chúng ta đã mất đi trong đời sống chúng ta. Chúng
ta không nhìn thấy Chúa Kitô sống lại. Chúng ta không thấy người
chết đang sung sướng hưởng đời sống sau với các người thân
thương của chúng ta. Ngôi mộ trống không chứng tỏ gì cho các
phụ nữ và bà Maria. Nhưng ngôi mộ trống có ý nghĩa mà chỉ có
đức tin mới cho chúng ta biết. Hai người đàn ông ở mộ không
chứng tỏ về sự sống lại của Chúa Giêsu. Nhưng họ nói “hãy
nhớ lại điều Người đã nói với các bà”. Chúa Giêsu có ý
nghĩa gì đối với chúng ta. Ngài đã thay đổi đời sống chúng
ta, và đứng bên cạnh những ngôi mộ của chúng ta, chúng ta “nhớ”
Chúa Giêsu.
Chúng ta “nhớ” đức tin
chúng ta đặt vào Chúa Kitô sống lại bởi sự chết, làm chúng ta
thêm can đảm thắng những sự dữ trong đời chúng ta, giúp chúng
ta tiếp tục cố gắng làm những gì để sự sống nước trời được
thực hiện trong đời sống chúng ta, và giúp chúng ta không chán
nản vì sự thay đổi chậm trễ trong đời sống chúng ta và đời
sống kẻ khác. Chúng ta nhớ lời Chúa Giêsu khi chúng ta được tin
buồn, và khi chúng ta nhìn ngôi mộ của sự chán nản và thất
bại: “Tất cả, những ai gánh vác nặng nề, và mang gánh nặng,
hãy đến với Ta, và Ta sẽ cho các ngươi nghỉ mệt”. “Đây là mình
Ta đã bẻ ra cho các người” “Phúc cho những ai có lòng khó khăn,
vì nước trời là của họ”. Chúng ta nhìn vào ngôi mộ trống
không với các phụ nữ, và chúng ta nghe lời khuyên bảo của hai
người đàn ông mặc áo chói lóa ở đó. Chúng ta nhớ lời Chúa
Giêsu nói. Lời Chúa và Bí Tích Thánh Thể là lương thực hàng
ngày, là của ăn đường giúp chúng ta sống như lời nói trong
phụng vụ ngày hôm nay “chúng ta vui mừng chờ đợi ngày Đức Giêsu
Kitô đến”.
Lm. Jude Siciliano, OP (FX
Trọng Yên, OP chuyển ngữ)
Tình
Yêu Khơi Nên Hy Vọng Phục Sinh
Ga:
20: 1-9
Người “môn đệ Chúa
yêu” đóng một vai trò quan trọng trong bài Tin Mừng hôm nay. Nhưng đây
không phải là lần đầu người môn đệ này xuất hiện trong Tin Mừng Gioan.
Ông không chỉ xuất hiện trong trình thuật nói về ngôi mộ trống, thấy vải
liệm được cuốn lại và tin. Ông còn có một lai lịch và chính điều này
giúp ông tin ngay lập tức khi nhìn vào ngôi mộ trống. Hẳn chúng ta vẫn
nhớ hình ảnh ông dưới chân thập giá khi Đức Giêsu bị đóng đinh đã tin
tưởng và trao phó thân mẫu của Người cho ông săn sóc. Ông đã ngồi sát
bên Đức Giêsu trong Bữa Tiệc Ly và cùng với Phêrô, ông nhận tin báo của
Maria Mác-đa-la về ngôi mộ trống.
Bà Maria nghĩ rằng thân
xác Đức Giêsu đã bị người ta lấy mất, một kết luận hết sức hợp lý đối
với nhiều người chúng ta. Không một ai chờ đợi sự phục sinh! Khi nhận
được tin của Maria, người môn đệ được yêu đã chạy tới mộ nhanh hơn cả
Phêrô, nhìn vào trong và thấy khăn liệm được xếp gọn gàng. Mặc dù việc
khăn liệm được xếp gọn gàng là bằng cớ loại bỏ khả năng thân xác Đức
Giêsu bị ăn trộm, nhưng đây vẫn không phải là bằng chứng về sự sống lại.
Niềm tin vào sự phục sinh không dựa trên những gì người ta có thể thấy
và đo đếm. Người môn đệ này đã không dùng những lý lẽ hay khả năng loại
suy để đi đến việc tin. Phải có một điều gì khác nữa, đúng hơn, Một Ai
khác.
Người môn đệ này được gọi
là “Người môn đệ được Chúa yêu.”
Tin Mừng thậm chí cũng
không nói với chúng ta là người môn đệ này có nét đặc trưng khác với mọi
người bởi có một tình yêu khác thường dành cho Đức Giêsu, một tình yêu
lớn hơn tình yêu của các môn đệ khác. Tình yêu của ông dành cho Đức
Giêsu như thế nào, chúng ta không hề biết. Chỉ biết rằng ông là người
môn đệ được Chúa yêu. Đúng hơn, ông có được vị trí được ưu ái này là do
tình yêu của Đức Giêsu dành cho ông. (chúng ta xem như người môn đệ
này là một người nam. Điều chúng ta khám phá được về người môn đệ này
chính là tước hiệu “người môn đệ được Chúa yêu” có thể áp dụng cho bất
cứ ai trong chúng ta – cả nam lẫn nữ.)
Vậy thì, đâu là kinh
nghiệm được yêu giúp hình thành niềm tin nơi người môn đệ này? Để biết
mình không được yêu không phải chỉ là công việc của cái đầu,
một sự kiện để suy tư thuần lý. Nó là một “sự kiện” lan
toả khắp mọi phần thân thể, nghĩa là họ phải cảm nghiệm bằng cả con
người. Toàn thể hiện hữu của chúng ta sẽ trở nên sinh động hơn trong sự
ấm áp và đượm nồng của tình yêu. Người môn đệ được yêu biết rõ tình yêu
của Đức Kitô và, mặc dầu rõ ràng biết Đức Giêsu đã chết và được mai
táng, một cách nào đó ông vẫn tiếp tục cảm nghiệm tình yêu của Ngài.
Đấng đã yêu ông vẫn còn yêu ông mãi – Ngài vẫn còn sống, bất chấp những
gì đã xảy ra trên cây thập giá mà ông thấy. Cho nên, điều khiến cho ông
tin không chỉ là những mảnh vải liệm được xếp gọn gàng, mà chính là tình
yêu, một tình yêu mãnh liệt ông vẫn luôn cảm nghiệm. Đó ắt phải là một
tình yêu diệu kỳ vượt trên tất cả. Bởi lẽ, ông được biết như là “người
môn đệ Đức Giêsu yêu” mà. Kinh nghiệm trước tiên của chúng ta với tư
cách là những môn đệ là chúng ta được yêu với một tình yêu mãnh liệt hơn
cả sự chết. Chúng ta tin trong sự lan toả của tình yêu đó và xác tín
rằng không chi có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Đức Kitô dành cho
chúng ta. Ngay cả tội lỗi và cái chết cũng không thể.
Vì chúng ta vẫn
luôn ý thức sâu sắc về tình yêu của Đức Giêsu dành cho chúng ta và tình
yêu chúng ta dành cho Ngài, chúng ta cũng tin vào sự phục sinh. Ngài vẫn
còn sống và chính tình yêu chúng ta vẫn đang cảm nghiệm khẳng định
điều đó. Chúng ta tin rằng chúng ta vẫn đang được ôm ấp trong tình yêu
kỳ diệu này –chúng ta đang được hưởng sự sống đời đời, cả khi chết và
sau cái chết.
Vậy chẳng phải là chúng
ta sẽ sống mãi sao?
Nó có nghĩa là ngay
tại đây và lúc này cái chết không có quyền gì trên chúng ta. Chúng ta đã
được biết đến một sự sống được tái sinh. Sự sống chúng ta được hưởng
trong Đức Kitô. Trong Tin Mừng Gioan, thấy là thấy bằng con mắt đức tin.
Cùng với người môn đệ Chúa yêu chúng ta cũng “thấy và tin.”
Chẳng phải mỗi người
chúng ta vẫn nhìn vào một ngôi mộ dạng này hay dạng khác sao? Khi nhìn
vào như vậy, chúng ta có khi nào bị cám dỗ không tin chưa? Chúng ta vẫn
thấy cái chết và những thi hài: trong bản tin buổi chiều, trên internet,
hay báo đài…
Có nhiều bằng chứng
cụ thể chống lại niềm tin của chúng ta nơi sự mạnh mẽ của tình yêu trổi
vượt trên cái chết. Nơi ngôi mộ trống, người môn đệ biết tình yêu của
Thầy mình, vậy thì ngày nay tình yêu đó ở đâu nơi đời sống của rất nhiều
người đang sống trong cảnh tuyệt vọng. Chắc chắn họ không thể cảm nghiệm
được tình yêu đó dưới bàn tay của các chế độ độc tài, các chính phủ thối
nát, hủ bại, các cuộc xung đột sắc tộc và các nhóm tôn giáo, các tập
đoàn quốc tế đến chiếm đất và tài nguyên của họ…
Ngay cả rất nhiều người trong chúng ta, những con người
đang chịu cảnh thất nghiệp, bạo lực, bất công cũng không đủ tự tin để
nói rằng mình vẫn được yêu.
Qua đời sống của Đức Giêsu, chúng ta đã
nhận biết tình yêu nhưng không của Thiên Chúa dành cho chúng ta và giờ
đây có thêm cơ hội được củng cố trong tình yêu đó nơi bàn tiệc Thánh Thể,
chúng ta phải ý thức rằng đã đến lượt chúng ta phải đặt thịt máu mình
vào tình yêu – như Thiên Chúa đã làm cho chúng ta trong Đức Kitô. Giờ
đây chúng ta rời khỏi ngôi mộ trống, nhìn và mang theo những gì mình tin
– Chúng ta được Thiên Chúa yêu thương. Nhưng chúng ta phải tự vấn rằng :
liệu nhận thức đó sẽ ảnh hưởng thế nào tới cách chúng ta đối xử với
người khác? Liệu lời nói và việc làm của chúng ta có giúp họ nhận ra
Thiên Chúa yêu họ biết bao không?
Chẳng phải qua việc chúng ta tha thứ cho
họ, băng bó vết thương cho họ sao? Chẳng phải đó là việc chúng ta đồng
hành với họ khi họ bị lạm dụng hay bị lợi dụng sao? Chẳng phải việc
chúng ta chia buồn với họ bên mộ phần người thân của họ sao? Chẳng phải
đó là việc đến chăm nom và trợ giúp khi những người khác bỏ rơi không
quan tâm, săn sóc họ sao?
Nơi ngôi mộ trống, nhìn vào những hệ luỵ sau
cái chết, đường như Đức Giêsu luôn vắng mặt: khi kế hoạch của chúng ta
thất bại, tương quan bị mất, sự sống đang rời bỏ chúng ta từng ngày,
bệnh tật thắng thế, hôn nhân đổ vỡ… Những ngôi mộ của sự chết và thối
nát ra như luôn đeo bám ta suốt cuộc đời và luôn chiếm ưu thế. Nhưng
ngôi mộ của Đức Giêsu không chứa đựng sự chết và hư hoại – Nó là một
ngôi mộ trống. Đối với các tín hữu, ngôi mộ trống là một dấu hiệu tràn
đầy hy vọng và hứa hẹn. Nơi ngôi mộ trống của Đức Giêsu, có nhiều điều
mà mắt thường không thấy: các môn đệ được yêu là những người thấy bằng
con mắt đức tin, đã tin và rời khỏi ngôi mộ để sống trong một niềm hy
vọng và một tình yêu thực hành.
Chúng ta đừng quên Phêrô. Bài đọc trong
sách Công Vụ Tông Đồ hôm nay chỉ là một phần trong bài giảng quan trọng
của ngài. Thánh Luca dành khá nhiều không gian cho bài diễn từ này
(10,1–11,8) như thể để nhấn mạnh tầm quan trọng của nó. Bài đọc hôm nay
cho thấy cách rõ ràng việc Phêrô tuyên xưng đức tin ở nhà ông Co-nê-li-ô.
Co-nê-li-ô và mọi người nhà của ông đều là dân ngoại và sắp được lãnh
phép rửa. Phêrô đang đáp lại lời chăn trối của Đức Giêsu trước lúc ra đi
trong Tin Mừng Luca, tin mừng phải được loan báo cho hết mọi dân nước (
24, 47-49).
Phêrô đang bày tỏ những thay đổi sự kiện
phục sinh tạo ra nơi ông và cộng đoàn các tín hữu tiên khởi. Sự hiểu
biết của ông về Thiên Chúa ngày càng gia tăng. Giờ đây ông nhận ra rằng
sứ điệp cứu độ luôn mở rộng với những ai “làm chứng” Đức Giêsu là “Đấng
được Thiên Chúa chỉ định làm Đấng xét xử kẻ sống và kẻ chết.” Phêrô và
các tín hữu tiên khởi đi đến nhận thức rằng Đức Giêsu là Đấng cứu độ phổ
quát: Một dấu hiệu của tình yêu Thiên Chúa dành cho tất cả mọi người,
cho dù họ có khác biệt và cách xa với Phêrô và công đoàn tín hữu nguyên
thuỷ bao nhiêu đi nữa.
Phêrô cho thấy ông tin vào sứ điệp này và mong
muốn công bố cho mọi người. Vậy thì điều gì đã tiếp thêm sự can đảm cho
Phêrô để ông nói một cách đầy uy quyền về sự thành toàn của Thiên Chúa
nơi Đức Giêsu? Làm sao ông có thể đoan chắc rằng Thiên Chúa muốn vượt ra
ngoài dân được chọn để đến với “mọi dân nước”? Ông không trưng dẫn bất
cứ “bản băn làm bằng chứng” nào từ truyền thống. Thay vào đó, ông khẳng
định vai trò chứng nhân, “người được Thiên Chúa chọn trước, cùng ăn cùng
uống với Đức Giêsu sau khi Người trỗi dậy từ cõi chết.” Ông là một chứng
nhân, đã làm chứng cho điều chính bản thân ông cảm nghiệm.
Thế còn ông Co-nê-li-ô, gia đình và các
thế hệ con cháu của những người được rửa tội thì sao? Chẳng phải họ
không chia sẻ kinh nghiệm của Phêrô; họ không phải là những chứng nhân
mắt thấy tai nghe sao? Qua việc đón nhận lời chứng của Phêrô, họ đã trở
thành thế hệ Kitô hữu đầu tiên, chứ không phải thứ hai. Như chúng ta vẫn
nói, “Thiên Chúa không có cháu.” Những ai tin thì thuộc về thế hệ Kitô
hữu đầu tiên, chúng ta là con cái Thiên Chúa, được sinh ra nhờ nước qua
Thánh Thần. Chúng ta cũng là những Kitô hữu chính thống như Phêrô, người
môn đệ Chúa yêu và cộng đoàn những người đầu tiên cảm nghiệm Đức Kitô
Phục Sinh.
Vì lời chứng chúng ta nghe đến từ những
người làm chứng cho sự phục sinh, chúng ta cũng cần nhìn vào ngôi mộ
trống, “để thấy và tin.” Chính đôi mắt và đôi tai chúng ta phải được mở
ra để ta có thể nhận biết Đức Kitô Phục Sinh ngay trong cuộc đời mỗi
người chúng ta.
Giờ đây, chúng ta trở thành những chứng
nhân, chúng ta sẽ diễn tả những chứng từ mà bản thân kinh nghiệm về sự
phục sinh như thế nào đây? Chính là qua việc trao ban những gì chúng ta
đã đón nhận, đó là trao ban sự tha thứ và tình yêu cho những ai chưa tìm
thấy.
Lm.
Jude Siciliano, OP. (Anh Em
Nhà Học Đaminh Gò Vấp chuyển ngữ.)
Sẵn sàng sống
niềm tin của mình
Cv
10, 34a, 37-43; Tv 118; Cl 3, 1-4; Ga 20, 1-9
Kính thưa quý vị,
Bắt đầu với những bối rối, thắc mắc chẳng
hạn như: “đều gì sẻ xảy ra nếu..”, hay sự phấn chấn: “điều đó có thật
không?” “Đáng tin không,” “Chưa bao giờ nghe một sự việc như thế,” “Có
thể chứ,” “Thật quá tốt nếu điều đó là sự thật,” “Có người nói,” “Chính
tôi tận mắt thấy Người!” “Hãy sờ vào đây,” “Tôi tin,” “Lạy Chúa, lạy
Thiên Chúa của tôi!” Thế quý vị đã nghe bao giờ những câu trả lời nào
khác về sự Phục sinh chưa?
Chưa từng có ai nói rằng tin vào sự phục
sinh là điều dễ dàng. Trước đây, chưa ai nói thế, bây giờ cũng vậy. Có
những câu chuyện nói về ngôi mộ trống và những câu chuyện khác thì nói
về việc hiện ra của Đức Kitô. Thậm chí trong những câu chuyện này mặc dù
về tổng thể giống nhau nhưng lại khác nhau về các chi tiết. Tại sao Giáo
hội sơ khai không thanh minh cho rõ ràng những câu chuyện này? Sao không
sắp xếp những chi tiết cho trùng khớp với nhau? Và sau hết, chúng ta cần
ủng hộ niềm tin này tựa như chúng ta tìm cách thuyết phục người khác
rằng Chúa Kitô đang sống. Điều này thực sự giúp ích nhiều để làm cho các
câu chuyện rõ ràng hơn ngõ hầu củng cố cho hoàn cảnh của chúng ta bây
giờ. Ngoài ra, bài Tin mừng hôm nay là bài bất thường dành cho Chúa nhật
Phục Sinh khi nhà thờ chật cứng người, với cả những người hiếm khi tham
dự thánh lễ, những gương mặt quen thuộc, hoặc những người mà chúng ta có
thể nhận ra đã từng cùng xếp hàng tính tiến trong siêu thị nhưng chưa
bao giờ gặp thấy ngồi trong nhà thờ.
Sao chúng ta không kiếm những bài đọc nói
về ánh sáng, với nhiều hình ảnh hơn hoặc có những thiên thần thổi kèn để
đọc vào Chúa Nhật Phục Sinh? Thay vào đó, những gì mà hôm nay chúng ta
có là tin buồn của bà Maria báo cho các môn đệ rằng, xác của Chúa Giêsu
đã bị đánh cắp, ông Phêrô cùng một “môn đệ khác” chạy bộ đến nơi ngôi mộ
trống. Cụm từ “người môn đệ kia” đến sau ông Phêrô, “thấy và tin.” Tất
cả dữ kiện đó nói lên điều gì? Đó chính là ngày Chúa Nhật Phục Sinh và
thậm chí chúng ta cũng chẳng có trình thuật nào về việc hiện ra! Phàn
nàn thế là đủ – hãy nhìn xem những gì chúng ta đã có.
Chắc rằng nhiều người ở đây được lớn lên
trong những gia đình lao động vất vả. Chúng ta sớm biết được những việc
cần phải làm, những gì cần phải sửa khi nó bị hỏng, biết hoàn thành
những gì mà chúng ta đã khởi sự. Chúng ta có thể tỏ ra tự hào với những
công việc mà mình đã làm được trong quãng đời của mình. Nhưng chúng ta
lại không khoe khoang về những điều chưa thực hiện được như: sự thất
vọng hay những bề bộn mà chúng ta đã gây ra trong các mối quan hệ; những
dự án đã khởi sự, nhưng không bao giờ hoàn thành và những thăng trầm
trong niềm tin của mình.
Hôm nay, chúng ta cần dừng lại đôi chút.
Thay vì xắn tay áo lên để giải quyết phần kết cục của trình thuật hôm
nay còn lỏng lẻo, thì chúng ta cứ để nó như thế. Đừng lo lắng gì, chúng
ta không nên thụ động; song cũng đừng dập tắt khả năng suy tư của mình.
Nhưng hãy cố gắng, ít nhất là hôm nay, để cho mầu nhiệm Phục Sinh đi vào
cuộc đời ta. Đơn giản là đón nhận và để cho nỗi hoang mang và sức mạnh
của ngày hôm nay hoạt động trong chúng ta. Sau hết, thậm chí với tất cả
sự nghi ngờ, thì trọng tâm của điều này là, chúng ta vẫn là những tín
hữu. Chúng ta thưa lời “Amen” [xác tín] trong kinh Tin Kính của các Tông
Đồ có đoạn nói rằng: “Ngày thứ ba Người sống lại từ trong kẻ chết.” Ngày
hôm nay, dù có là những người thành đạt đi chăng nữa thì cta cũng không
thể tạo ra một câu xác tín nào khác tinh tế hoặc hợp lý hơn thế. Hãy để
cho ngày lễ hôm nay hoạt động và định hình rõ trong ta.
Chúng ta đón mừng Chúa Kitô phục sinh
bằng cách khép lại cánh cửa của quá khứ, khép lại những gì là thương
tích, đổ vỡ và bất toàn. Hãy để cho Chúa Kitô Phục Sinh thực hiện những
gì mà ta làm chưa tốt. Chúng ta mở cửa đón Chúa Kitô để Người tạo nên
một mái ấm trong những nơi chốn và những ký ức khơi nên sự đau khổ, xấu
hổ và tuyệt vọng. Hôm nay, hãy để cho ngày lễ này trở thành phương dược
chữa trị, khôi phục và hồi sinh sự sống trong chúng ta.
Liệu chúng ta có nói rằng lý do mà ta có
câu chuyện “ngôi mộ trống” hôm nay là để nhắc nhở rằng Chúa Kitô không
có trong mồ, và khép lại câu chuyện lịch sử cách đây 20 thế kỷ hay không?
Chúa Kitô đang sống trong mỗi người. Ngôi mộ không thể nắm giữ Người, và
chúng ta cũng thế. Hãy trải thảm chào mừng, mở cánh cửa ra, để đón một
đời sống mới. Bây giờ chúng ta bắt đầu lại tất cả. Hãy quên quá khứ đi;
nó đã qua rồi và và đã được thứ tha. Nay chúng ta là những môn đệ của
Chúa Kitô thì hãy bỏ lại tất cả để đi theo ánh sáng và chia sẻ Tin mừng,
“Chúa Kitô đã sống lại, Chúa Kitô đã sống lại thật rồi!” Bà Maria
Mađalêna ra đi với ngôi mộ khép kín cửa. Bà vẫn bị khóa chặt với ký ức
còn rất mới về cái chết của Chúa Kitô. Bà đến để làm điều cần làm: khóc
than và dành chút thời gian ở bên người mà bà yêu mến, giờ đang nằm bất
động trong mộ phần. Chúng ta cũng đến nhà thờ với cùng một cách thức; bị
khóa chặt với quá khứ “nếu mà” hay “giá như.” Chúng ta muốn tìm đến ân
sủng, xóa sạch tất cả và tiếp tục sống cuộc đời của mình. Chúng ta có
thể vất bỏ những dụng cụ vệ sinh lau chùi, xô chậu và găng tay. Giờ đây,
ta biết rằng mình chỉ có thể tự làm cho mọi sự mới mẻ và đẹp đẽ hơn một
chút, nhưng không thể tạo ra được một đời sống mới nơi thân xác đã chết
đi. Hãy để cho ngày lễ này tẩy rửa chúng ta. Hãy bỏ đi những nghi ngờ,
lo lắng, thắc mắc, và cố gắng hết mình để loại trừ bao trăn trở trong
lòng. Chúng ta mở rộng đôi tai để lắng nghe Tin mừng mà thánh Phaolô đã
công bố trong thư gởi tín hữu Côlôsê: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với
Đức Kitô.” Nơi đây, Đức Kitô phục sinh đang ở giữa chúng ta: nơi cộng
đoàn hội họp nhau nhân danh Người; trong Lời được công bố và trong bánh
và rượu mà chúng ta cùng chia sẻ.
Nếu đã hiện diện trong suốt Tuần Thánh
đầu tiên, chúng ta hẳn đã cố gắng để “sửa đổi cho đúng.” Những người
ngày ấy và chúng ta bây giờ cũng không thể làm điều gì khác. Những hoang
mang, loa lắng và rúng động từ các môn đệ cũng đã tràn vào tất cả mọi
người chúng ta. Các môn đệ và chúng ta đã nhận ra điều đó, mặc dù những
sự việc đó không diễn ra như cách chúng ta mong đợi, nhưng sau cùng
Thiên Chúa đã chiến thắng và làm cho Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết.
Ngôi mộ giờ đây trống rỗng, vì Người đã sống lại, sống ở giữa chúng ta
và cho chúng ta đời sống mới. Chúng ta có thể hành động cách khác, nhưng
Thiên Chúa lại có những kế hoạch khác. Nào hãy ca tụng Chúa.
Trong bài Tin mừng hôm nay, bà Maria
Mađalêna đã bắt đầu hành động. Bà chạy đến ông Simon Phêrô và đến với
người môn đệ được Đức Giêsu thương mến để thuật lại việc xác của Chúa
Giêsu bị đánh cắp. Bà ra khỏi khung cảnh kế tiếp vì thế chúng ta có thể
tập trung vào ông Phêrô và người môn đệ kia. Nhưng sau đó, bà Maria quay
trở lại cùng với Đức Kitô phục sinh, Người mà bà gặp trong khu vườn gần
ngôi mộ. “Người môn đệ khác” đã thấy gì và liệu ông có tin khi nhìn vào
ngôi mộ trống hay không? Khác với Phêrô, người đã chối Đức Giêsu, người
môn đệ này ở lại với Người: trong bữa Tiệc Ly ông lại tựa đầu vào ngực
Đức Giêsu; ông ở lại với Đức Giêsu trong khi Người hấp hối trên thập giá
và ông là người mà Đức Giêsu tin tưởng trao phó mẹ của Người cho để chăm
sóc.
Người môn đệ được Đức Giêsu yêu mến không
cần nhiều bằng chứng để tin: chỉ cần thấy khăn liệm được cuốn lại và
chiếc khăn phủ trên đầu Đức Giêsu. Ông sẽ làm gì với niềm tin này? Lúc
này, Chúa Giêsu chưa hiện ra với bà Maria Mađalêna và các môn đệ khác.
Họ chưa gặp Đức Kitô phục sinh; Người cũng chưa thổi Thần Khí trên họ và
chưa sai họ đi làm chứng.
“Chứng nhân” là một lối diễn tả trọng
yếu trong Tân Ước. Trong bài đọc một, ông Phêrô, nói thay cho những
người tin, tuyên bố rằng: “Chúng tôi là những chứng nhân về tất cả những
gì mà Người đã thực hiện…” Đó là mối tương quan của chúng ta hiện nay
với Chúa Kitô phục sinh– trở thành chứng nhân. Kinh thánh cho biết về
thế hệ những chứng nhân đầu tiên của sự phục sinh. Bây giờ đến lượt
chúng ta. Khi chúng ta được rửa tội thì cha mẹ và người đỡ đầu được
hướng dẫn để làm chứng cho niềm tin Kitô giáo mà họ đã tin, vì thế chúng
ta cũng sẽ tin như vậy. Bây giờ chúng ta là những chứng nhân cho Chúa
Kitô bằng lời nói và gương lành. Chứng nhân của một tín hữu trong những
hoàn cảnh như phiên tòa, sự cám dỗ và phục vụ yêu thương có thể là một
lời giảng hùng hồn với người khác rằng Chúa Kitô không còn trong ngôi mộ
nữa – đó chỉ là ngôi mộ trống. Người đang sống và đang ban Thần Khí giữa
chúng ta. Thời Giáo hội sơ khai, từ “chứng nhân” cùng nghĩa với “làm
chứng” [tử đạo]. Việc làm chứng công khai về Chúa Kitô cũng có nghĩa là
sẵn sàng chịu đau khổ cho niềm tin của mình. Từ thời đầu cho tới ngày
nay, các chứng nhân đầy tính thuyết phục cho thấy rằng, con người không
chỉ tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Kitô phục sinh bằng lời nói,
mà còn sẵn sàng sống niềm tin của mình nữa – thậm chí chết vì niềm tin.
Chúng ta tin rằng chết không phải là dấu chấm hết, và sự chết cũng chẳng
có quyền gì trên chúng ta, bởi vì Chúa Kitô đã được sống lại trong sự
sống mới, và chúng ta được hiệp nhất với Người.
|