Năm C

 
 


Chúa Nhật Phục Sinh 01 - Năm C

Cv 10,34a.37-43 / Cl 3,1-4 / Ga 20,1-9


Jude Siciliano, op. : Các Bài Đọc Vọng Phục Sinh

An Phong op : Hãy vững tin, Đấng Phục Sinh đang ở với bạn đó

Như Hạ op : Halleluia !!!

Đỗ Lực op : Sức Mạnh Tình Yêu

Giuse Nguyễn Cao Luật op : Chúng tôi xin làm chứng

Jude Siciliano, op. : Ánh sáng đã bùng lên giữa đêm tối

Jude Sicilianô, op : Hãy Phục Sinh với Chúa Kitô Alleluia

Jude Siciliano, op. : Ánh Sáng Của Niềm Tin

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Sự kiện mộ trống

Đaminh Vũ Hà Tiên op : Chúa Kitô phục sinh là lẽ sống đời ta

Đỗ Lực : Ngàn Năm Một Thuở

Jude Siciliano, op. : Trong Niềm Tin vượt qua sự chết của tội

Jude Siciliano, op : Tình Yêu Khơi Nên Hy Vọng Phục Sinh

Jude Siciliano op: Sẵn sàng sống niềm tin của mình

 


Lm. Jude Siciliano, OP.

Các Bài Đọc Vọng Phục Sinh

Thưa quý vị. Hôm nay có khá nhiều bài đọc Thánh kinh. Tất cả là 9 bài. Mỗi bài nói lên một khía cạnh của ơn Thiên Chúa cứu độ. Xin kiên nhẫn lắng nghe, đừng bỏ qua bài nào. Và lưu ý đến dòng chảy của chúng. Trước hết, là trình thuật về vũ trụ và hai ông bà nguyên tổ được tạo dựng. Sau khi có mặt, hai ông bà được Chúa trao cho chức vụ "quản gia" toàn bộ những gì Ngài đã dựng nên. Bản văn này là một mẫu mực tiêu biểu để lượng giá tốt xấu công tác của loài người hiện nay trong việc "trông coi" vũ trụ. Ô nhiễm ghê gớm sông ngòi, biển khơi, đồng ruộng, núi đồi, thôn quê, thành thị. Thực vật, động vật bị tàn phá không nương tay. Đó là những gì con người đang làm trong cương vị "quản gia" ! Thế thì tự hỏi xem lời chúc phúc nguyên thủy của Thiên Chúa trên vạn vật "mọi sự đều tốt đẹp" trong vườn địa đàng có được loài người lắng nghe ?

Nếu có, tại sao chúng ta không chia sẻ tình yêu của chúng ta với vạn vật trong vũ trụ ? Chúng đang chịu khốn đốn, rên siết dưới bàn tay con người ! Do đâu vậy ? Rõ ràng là tội lỗi đã thâm nhập linh hồn con người và thế giới, phá hủy hành ảnh và họa ảnh (giống như Ta) của Thiên Chúa nơi mỗi cá nhân. Từ đấy suy ra rằng, ơn cứu độ là cần thiết, để cứu loài người, cứu thế giới khỏi sức công phá của tội lỗi.

Thượng đế đã ra tay cứu giúp và khởi sự bằng ơn gọi của Abraham (bài đọc II). Thiên Chúa chọn và gọi ông cùng vợ là Sara, bỏ cha mẹ, nhà cửa, quê hương, xứ sở, để đi đến đất Canaan cư ngụ. Hai ông bà chưa có con và chỉ vì lời "hứa" có dòng giống đông đúc như "sao trên trời, cát dưới biển" mà hai ông bà cất bước ra đi vào nơi vô định. Đến khi có một mụn con trai là Isaac thì Chúa lại truyền phải hiến tế cho Ngài. Abraham vâng lời nhưng ruột gan như cắt. Nghi lễ hiến tế Isaac là hình ảnh rất cảm động của Chúa Giêsu sau này. Từ Isaac nảy sinh một dân tộc được chúc phúc, được tuyển chọn. Ngày nay là dân Do thái. Chúa Giêsu đã sinh ra từ dòng giống Do thái.

Bài đọc thứ III, sách Xuất hành, phản ánh công trình Thiên Chúa giải thoát dân Israel ra sao. Một biến cố hết sức kỳ bí, hùng vĩ. Nói lên quyền năng giải phóng của Thiên Chúa cứu vớt tuyển dân khỏi vòng nô lệ Ai cập. Ngày nay là nhân loại khỏi vòng tội lỗi. Điều này được thực hiện bằng phép lạ "nước rẽ ra", biểu tượng cho bí tích rửa tội của Hội Thánh qua mọi thời đại. Như vậy, bài đọc thứ ba mang tính cứu chuộc cao độ qua việc thanh tẩy con người khỏi ảnh hưởng tội lỗi. Thế là chúng ta được nghe Isaia, Baruch, Ezekiel rao giảng về lòng Chúa thương xót, thứ tha. Các ngài kêu gọi nhân loại trở về với Thiên Chúa một cách rất cụ thể, dùng những hình ảnh sống động đến mức khó nghe : "Đấng đã trở nên chồng của ngươi". Nhiều tiên tri tiến xa hơn nữa làm như thể Thiên Chúa "điên khùng" vì yêu thương nhân loại. Chúng ta sẽ tìm thấy ơn tái sinh và tiến trình đối mới ở đâu ? Tiên tri Isaia chỉ rõ : "Tất cả những ai đang khát, hãy đến mà uống nước không phải trả đồng nào" (Các câu trích từ các bài đọc).

Sứ điệp thuyết phục nhất trong các bài đọc đêm nay là lòng nhân từ, hào hiệp của Thiên Chúa. Ngài thương xót nhân loại, chẳng phải vì họ trung thành. Họ phụ bạc là điều quá hiển nhiên. Họ chẳng xứng đáng điều chi nếu lượng định trên căn bản công lênh. Hình phạt hỏa ngục là kỷ phần thích đáng nhất cho những công việc nhân loại đã làm. Tiên tri Ezekiel tuyên bố : "Họ đã làm nhơ bẩn danh Ta giữa các dân tộc". Cho nên "Hỡi nhà Israel, không phải vì các ngươi mà ta hành động, nhưng vì danh Thánh Ta đã bị các ngươi xúc phạm". Ngài hằng luôn yêu thương và tha thứ, bất kể nhân loại ngang ngược ra sao. Thiên Chúa không thể làm khác được. Đó là bản chất của Ngài. Ngài luôn luôn hành động tuân theo bản chất đó. Tự nhiên phải là như vậy.

Nước tẩy rửa đã được loan báo nhiều lần trong Kinh thánh đêm nay sẽ tuôn trào trên các tân tòng, sát nhập họ vào cộng đồng chúng ta, vào thân thể nhiệm màu Chúa Kitô. Mang thân phận con người như chúng ta, họ đã lang thang khắp nơi, quanh co khắp nẻo, lạc khỏi chương trình của Thiên Chúa, khỏi phúc lành cội rễ của Ngài. Nhưng Ngài vẫn trung thành với chúng ta. Chương trình, ước muốn của Ngài cho chúng ta, là chúng ta được tự do hạnh phúc, chứ không phải nô lệ kìm kẹp. Cho nên nước rửa tội đêm nay nhắc nhớ mọi người tín hữu công việc giải phóng của Ngài cho nhân loại. Chúng ta chẳng xứng đáng cuộc giải phóng đó, chẳng xứng đáng tình yêu "điên khùng" của Thiên Chúa. Nhưng qua tiên tri Ezekiel Ngài nói : "Vì danh thánh Ta" Ngài chẳng để chúng ta mãi mãi làm nô lệ, kẻ lưu đày. Cuối cùng các bài đọc sẽ dẫn dắt người nghe đến tư tưởng cao nhất của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại là Ngài sai con Người đến trần gian. Cuộc đời Chúa Giêsu cứu thế chứng minh sứ điệp Thiên Chúa yêu thương chúng ta bất kể thái độ của chúng ta. Ngay cả dưới sự đe dọa tử hình, Chúa Giêsu không lùi bước khỏi sứ điệp đó. Tiên tri Isaia đã bóng gió "Lời từ miệng Ta phán ra, sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mệnh Ta ủy thác" (bài đọc 5).

Chuyển sang bài thánh thư, trích từ lá thư dài, danh tiếng, của thánh Phaolô gởi giáo đoàn Roma. Điều làm tôi chú ý là cụm từ : "Chúng ta đã chịu phép rửa trong cái chết của Ngài". Câu đó có nghĩa chi ? Và những hậu quả nào trong cuộc đời tín hữu ? Xưa nay, bên giếng rửa tội, chẳng mấy người dám nói lên điều đó. Có lẽ sợ rằng người ta sẽ chẳng dám xin rửa tội nữa chăng ! Người ta thích nhấn mạnh khía cạnh lạc quan hơn, tức là được sinh lại để sống cuộc sống mới. Tôi cũng thích như vậy. Nhưng xin nhớ, chúng ta đang sống trong Tam Nhật Vượt Qua. Chúa Giêsu phải qua cái chết rồi mới sống lại. Chúng ta phải chết cho con người cũ, thói quen cũ, tội lỗi cũ rồi mới có thể tiến vào cuộc sống mới.

Nói theo cách hoàn toàn nhân loại, đầu tiên, là chúng ta được rửa trong số phận loài người – nước rửa là nước ấm của dạ mẹ chúng ta. Rồi chúng ta được dìm vào thân phận con người. Đó là cuộc sống duy nhất mà chúng ta biết được. Bên cạnh những điều vui, có biết bao hạn chế và ô nhiễm mà chúng ta vướng mắc phải khi sống với những người chung quanh. Tỷ như chúng ta mắc bệnh ho lao, là bởi đi qua những phòng lao, thở hít không khí nhiễm lao. Tội lỗi cũng ở trong bầu không khí xã hội. Chúng ta cũng hít vào ngay trong hơi thở đầu tiên của cuộc đời – ghen ghét, thù hằn, ích kỷ, độc ác, dâm ô, phân biệt chủng tộc, màu da… danh sách dài vô tận. Suốt cuộc đời chúng ta hít thở bầu khí hôi thối, ô nhiễm. Muốn được trong lành, chúng ta phải chấm dứt hít thở theo lối này. Và phải bắt đầu bằng lối khác.

Thánh Phaolô dạy chúng ta phải chết để có cuộc sống mới, hay "phải chịu phép rửa trong Đức Kitô". Ngài nhận ra Chúa Kitô là nhân loại mới. Chúng ta phải tháp nhập vào nhân loại đó để có được không khí trong lành, không còn ô nhiễm nữa, tức đời sống mới. Thánh nhân nói rõ hơn (2 Cr 5,15) Đức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình. Phép thánh tẩy của mỗi người chúng ta nói lên tư tưởng đó. Sự thật cũng là như vậy.

Trong những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội, người ta thực hành bí tích Rửa Tội rất cụ thể : Dìm toàn thân xuống nước, rồi lại nhô lên. Dìm xuống có nghĩa là chết đi, bị chôn vùi và nhô lên tượng trưng sống lại (Cv 8,36-39). Khi dìm xuống ngưng thở, khi nhô lên chúng ta thành một người mới, hít hơi thở đầu đời như đứa trẻ sơ sinh ra khỏi lòng mẹ. Ơn thánh trong lành đã tràn ngập linh hồn chúng ta. Lúc này, xin hãy chú ý đến từ ngữ của thánh Phaolô : "Với Chúa" qua bí tích Rửa Tội, tỷ như : "Với Ngài qua cái chết giống như Ngài", "chịu đóng đinh thập giá với Ngài", "chết với Ngài", "cùng sống với Ngài". Những từ ngữ này diễn tả chúng ta liên kết chặt chẽ với Chúa Kitô. Có một thành ngữ khác thánh Phaolô dùng còn chính xác hơn : "Lớn lên trong sự hợp nhất với Ngài" dịch sát chữ là : "Lớn lên cùng với Ngài". Đó là từ ngữ của kỹ thuật ghép cây. Như vậy khi chịu phép thánh tẩy, chúng ta được tháp vào Chúa Kitô, cùng lớn lên với Ngài. Ngài chết thì cây ghép cũng chết. Ngài sống lại thì chúng ta cũng phục sinh. Tuy nhiên, biến cố phục sinh của chúng ta vẫn còn ở trong tương lai. Cho nên đời sống kết hợp với Chúa Kitô, tháp nhập vào Ngài, chưa phải là đã hoàn hảo. Chúng ta vẫn còn chờ đợi trạng thái hoàn hảo, tiến lên trong trạng thái đó, tức phải trông mong điều mà thánh Phaolô diễn tả trong cụm từ trên : "Cùng sống với Ngài".

Như vậy, chúng ta vẫn còn phải tiếp tục đấu tranh chống "bầu khí ô nhiễm (bad air)" trong môi trường chung quanh. Thật rất khó để làm được như vậy, hít không khí vào mà không khí bị ô nhiễm ! Tuy nhiên, chúng ta không cô độc trong đời sống mới này. Chúa Giêsu hằng ngự trong linh hồn chúng ta. Người là bạn đồng hành, là đại tướng chỉ huy. "Ngài đã chết một lần cho tội là đủ". Nghĩa là tội lỗi có thể giết chết Ngài, nhưng không thể thắng được Ngài. Chiến thắng đã là kỷ phần của chúng ta, chỉ còn việc là chiếm lấy và thời gian chẳng còn bao xa. Amen. Alleluia.


An Phong op

Hãy vững tin, Đấng Phục Sinh đang ở với bạn đó
(Ga 20,1-9)

Nguồn mạch sự sống đã đến giữa chúng ta. Nguồn mạch sự sống đã chết cho chúng ta. Đấng đã tặng ban chúng ta cái chết của Người, Người chẳng để lại sự sống của Người cho ta đấy sao ?

Vì vậy ơn cứu độ đâu phát sinh từ cõi hư vô.

Tại sao (thế ) ? - Vì ơn cứu độ không hề chấm dứt.

Này anh em, Chúa Giêsu hiện ra lúc nào ? - Lúc họ đang bẻ bánh.

Nơi chúng ta, không có gì phải xao động. Chúng ta bẻ bánh và chúng ta nhận ra Chúa. Chúng ta là những kẻ không xem thấy Người trong xác thịt, nhưng lại tiếp nhận thân xác Người.

Này bạn, dù bạn là ai, bạn là người tin vào Người, bạn đừng mang danh kitô hữu cách hư luống, bạn đâu có vào nhà thờ cách ngẫu nhiên, bạn là người lắng nghe lời Chúa trong kính sợ và hy vọng, bạn hãy vững lòng trong lúc bẻ bánh này; Sự vắng bóng của Chúa không phải là một sự vắng bóng đâu.

Bạn hãy vững tin vì Chúa đang ở với bạn, dù bạn không xem thấy Người. Khi được Chúa Giêsu xuất hiện, các môn đệ không hề có chút lòng tin. Họ không tin Người đã sống lại, họ không hy vọng việc Người có thể sống lại. Họ đánh mất niềm tin, họ đã mất hy vọng. Họ bước đi bên cạnh một Đấng đang sống như những người chết, họ bước đi như những người chết bên cạnh người sống. Sự sống cùng đi với họ nhưng trong tâm hồn họ, không một sự sống nào đã lại phát sinh.

Nếu bạn ước mong sự sống, bạn hãy làm như hai môn đệ và bạn sẽ nhận ra Chúa. Họ đã mời Ngài ở lại. Còn Chúa làm như muốn đi xa hơn, nhưng họ đã giữ Người lại. Khi đã tới nơi định tới, họ nói cùng Người :

Ngài hãy ở lại với chúng tôi, vì trời đã tối rồi.

Bạn hãy giữ người khách lạ lại nhà, nếu bạn muốn nhận ra Đấng Cứu Thế của bạn. Sự hiếu khách đã trả lại cho hai môn đệ những gì mà sự nghi ngờ đã cướp đi khỏi họ. Chúa đã tỏ mình cho họ đang lúc bẻ bánh. Anh em cũng hãy học biết nơi tìm Người, nơi chiếm hữu Người, nơi nhận ra Người : đó là lúc bẻ bánh với Người. (Thánh Augustinô).

Lạy Chúa,

Đừng ai làm tảng đá ngăn Chúa và con,
con muốn nhìn thấy Chúa, chạm tay vào người Chúa.

Lạy Chúa,
đừng có sách vở nào, dù thông thái, dù đạo đức tới đâu,
làm giảm tính chất trong sáng và hương vị sứ điệp Chúa,
con muốn gặp Đức Kitô của Maria Mađalêna,
của các thánh tông đồ,
Đức Kitô của những kẻ bé mọn, những kẻ đơn sơ,
Đức Kitô nói giọng quê Galilê,
rất gần gũi thân thiết với giọng miền quê con,
Đức Kitô cất tiếng bảo con : "Ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy".

Lạy Chúa,
xin cho con được gặp Ngài trong niềm vui của lòng tin.


Lm Như Hạ

HALLELUIA !!!

Niềm vui chỉ là mấy phút phù du hay là điểm quan trọng làm nên cuộc đời ? Đức Giêsu sẽ mạc khải cao điểm cuộc đời chính là niềm vui, chứ không phải đau khổ trong thân phận con người.

NIỀM VUI PHỤC SINH.

Đức Giêsu đã tìm thấy ý nghĩa khổ đau khi đối diện với cái chết. Nhưng nếu không dẫn đến Phục sinh, chắc chắn cái chết đó chẳng có ý nghĩa gì cả. Bởi vậy, Phục sinh phải đem ý nghĩa cho cuộc đời. Tự bản chất, đau khổ thật là phi lý. Chính vì thế, Phục sinh trở thành một biến cố vĩ đại nhất, vì trả lại cho đời tất cả những nét tươi mát và trong sáng nhất.

Có ánh sáng Phục sinh, tất cả đêm đen sẽ tan biến. Làm chứng cho ánh sáng Phục sinh có cả đội ngũ ngôn sứ và tông đồ. Quả thực, "tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội." (Cv 10:43). Sứ mệnh cứu độ đó chỉ được hoàn thành trong biến cố Phục sinh. Chính các tông đồ là chứng nhân Phục sinh đã xác quyết : "Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại." (Cv 10:40-41)

Người vẫn hiện diện âm thầm như thế trong đời thường. Những kinh nghiệm cụ thể đó đã bù đắp vào những thiếu sót trong hiện tượng mồ trống, một kinh nghiệm vừa ẩn vừa hiện.

Hiện trường mồ trống hoàn toàn vắng bóng nhân vật chính. Đức Giêsu chỉ hiện diện một cách vô hình nơi nấm mồ trống với những băng vải và khăn che đầu, cũng như nơi các môn đệ với những trao đổi qua lại. Nhưng Người hiện diện mãnh liệt nhất qua niềm tin của môn đệ : "Ông đã thấy và đã tin" (Ga 20:8) Đức Giêsu Phục sinh. Mãnh liệt đến nỗi hầu như ông thấy toàn bộ Kinh thánh đều hướng về biến cố Phục sinh và củng cố niềm tin ấy. Thực vậy, "theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy tự cõi chết." (Ga 20:9). Quả thực, làm sao ơn cứu độ có thể mở ra với cái chết như một bế tắc của định mệnh khắc nghiệt ? Nếu Đức Giêsu kết thúc sứ mệnh nơi cái chết, làm sao có thể thấy được bằng chứng Chúa Cha đã nhận lời Chúa Con ? Nếu Đức Giêsu không Phục sinh, bao lời Người hứa chỉ là hão huyền và niềm tin thành hư không. Nếu không sống lại, chắc chắn Đức Giêsu đã không thể làm cho cuộc đời thành một Tin Mừng lớn lao đến thế.

Quả thực, sau khi Phục sinh, Đức Giêsu đã làm vang lên khắp vũ trụ lời ca Halleluia. Chính nhờ Đức Giêsu Phục sinh, thánh Phaolô mới có lý do để hô hào : "Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa ! Tôi nhắc lại : vui lên anh em !" (Pl 4:4) Bất cứ ai khi đã gặp Đức Giêsu Phục sinh đều không che dấu nổi niềm vui bùng vỡ. Quả thế, khi ra khỏi mộ, các phụ nữ "rất đỗi vui mừng." (Mt 28:8). Khi xem thấy chân tay Đức Giêsu, các tông đồ "mừng quá" (Lc 24:41) vì vượt quá sức tưởng tượng. Niềm vui bùng bỡ vì Đức Giêsu đã sống lại để hoàn thành tất cả công trình cứu độ vĩ đại như Người đã hứa.

Niềm vui từ đầu tỏa xuống toàn thân. Ngày nay nhiệm thể Đức Giêsu vẫn giữ được trọn vẹn niềm vui đó. Bằng chứng Giáo Hội vẫn có khả năng rao truyền Tin Mừng Phục sinh cho toàn thể nhân loại. Sở dĩ Giáo Hội có khả năng đó vì "Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí làm cho thân xác của anh em được sự sống mới." (Rm 8:11) Đó là lý do tại sao thánh Phaolô dám quả quyết : "Sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa." (Cl 3:3). Sự sống mới tràn ngập "sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần." (Rm 14:17) Đó là những sức mạnh nâng cao vũ trụ. Đó là những giá trị thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô "đang ngự bên hữu Thiên Chúa." (Cl 3:1) Muốn canh tân bộ mặt trái đất và xây dựng một cuộc sống thực sự hạnh phúc, "anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới," (Cl 3:2) tức là những bất công, ích kỷ, hận thù, tham lam, v.v.

Tuy thế, "nếu Đức Kitô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính." (Rm 8:10) Vì chính Thần Khí sẽ làm cho mọi người sám hối như bước đầu niềm hi vọng, bắt nguồn từ niềm tin vào Đức Giêsu Phục sinh.

NIỀM VUI PHỤC SINH HÔM NAY.

Đó là lý do tại sao trong cuộc giảng tĩnh tâm cho giáo triều Roma, cha Raniero Cantalamessa kêu gọi mọi người hãy chiêm ngắm đúng dung nhan Đấng Phục sinh. Theo cha, "người ta đã có cơ hội Phúc âm hóa và thánh hóa sự đau khổ, nhưng "niềm vui" không được Phúc âm hóa cho đủ. Dung nhan Đức Kitô đôi khi đã không được chiêm ngắm thỏa đáng vì truyền thống dồn mọi sáng kiến mục vụ vào "thời kỳ cao độ" và tập trung vào việc cử hành các nghi thức mùa chay (Zenit 22/03/2002).

Mười bốn đàng Thánh Giá kết thúc nơi nấm mồ lạnh lẽo. Làm sao Đức Giêsu có thể mở ra chiều hướng khá hơn cho nhân loại khi đi vào ngõ cụt như thế ? Cần phải thêm vào nơi thứ mười lăm với hình ảnh Phục sinh huy hoàng mới nói lên trọn vẹn công cuộc cứu độ. Nếu không, cái chết chỉ đem lại những bế tắc cho cuộc đời vốn đã quá nhiều bế tắc hôm nay.

Theo cha Cantalamessa, những thế kỷ đầu, trước khi thiết lập Mùa Chay, Phục sinh đã là một thời gian đặc biệt để chịu các bí tích, học giáo lý và cử hành các nghi thức phụng vụ. Ngày nay, trái lại, các chủ đề Khổ nạn trổi vượt hơn các chủ đề Phục sinh. "Trong thế giới hôm nay, hơn bao giờ hết, chúng tôi nhận thấy Phúc âm hóa hạnh phúc và niềm vui cũng quan trọng không kém việc Phúc âm hóa sự đau khổ. Việc Phúc âm hóa đau khổ sẽ làm cho các bạn trẻ và cả những người khác nghĩ rằng Thiên Chúa là kẻ thù của niềm vui, và tưởng rằng đối với Thiên Chúa, mọi thứ hạnh phúc, lễ lạc, niềm vui bộc phát đều là tội lỗi." (Cantalamessa : Zenit 22/03/02) Khuynh hướng tự nhiên ai cũng cho đời là bể khổ. Nhưng nếu nhìn đời theo nhãn quan đó, làm sao Đức Giêsu có thể trở thành Tin Mừng cho trần gian ?

Chính ánh sáng Phục sinh sẽ đem Tin Mừng đến cho trần gian đau khổ. "Phục sinh của Đức Kitô phải là lời khẳng định quyết liệt nhất cho mọi người biết rằng vào cuối đời không còn đau khổ và từ bỏ, nhưng tràn đầy niềm vui và hạnh phúc. Đức Giêsu đã đập tan xích xiềng của thứ hạnh phúc sinh đau khổ và đã thay thế bằng thứ đau khổ sinh hạnh phúc." (Cantalamessa :Zenit 22/03/02) Lúc lên tới tột điểm khổ đau, Đức Giêsu vẫn không đánh mất hạnh phúc. Giữa lúc mọi sự đều tan rã, Người bám chặt vào tình yêu Thiên Chúa, Đấng sẽ trả lại sự sống cho Người trong vinh quang Phục sinh. Hơn lúc nào, khi cả nhân loại đang bên bờ diệt vong, Đức Giêsu Phục sinh phải được rao giảng như niềm vui lớn lao nhất. "Niềm vui phải là tiếng nói cuối cùng, chứ không phải đau khổ. Phải cấp thiết làm cho dung nhan Đấng Phục sinh chiếu sáng trước mắt người thời nay." (Cantalamessa : Zenit 22/03/02) Nếu không, thế giới vẫn mãi mãi tiêu điều như "sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối Maria Mácđala đi đến mộ." (Ga 20:1) Hôm nay, Maria và các môn đệ Đức Giêsu đã hăng hái rao giảng Đức Giêsu Phục sinh cho toàn thể nhân loại. Không còn lý do gì để trở lại cảnh hoang lạnh như nấm mồ trước mắt Maria nữa !


Như Hạ op :

SỨC MẠNH TÌNH YÊU !

Nhân loại hôm nay vẫn xôn xao đi tìm hạnh phúc. Đã có nhiều người vẫn cứ tưởng hạnh phúc nằm trong thực tại trần gian. Nhưng hạnh phúc vẫn vuột khỏi tầm tay. Chỉ có Đấng Phục sinh mới mạc khải cho mọi người biết hạnh phúc nằm ở đâu.

CÒN MỘT CHÚT GÌ.

Sau ba năm vất vả gầy dựng cộng đoàn niềm tin, Đức Giêsu đã hoàn toàn trắng tay. Công xây dựng bao năm một sớm một chiều tan thành mây khói. Bao nhiêu giây phút dặn dò, tâm sự đều trôi vào hư vô. Bao nhiêu tin tưởng đã tan thành mảnh vụn. Bằng chứng, vào giây phút nguy khốn nhất, các môn đệ đã bỏ trốn hết. Niềm tin đặt nơi con người nguy hiểm chừng nào ! Cái chết thể xác chỉ là dấu chỉ băng hoại của niềm tin bấy lâu tưởng đã bén rễ và vươn lên.

Khi chọn các môn đệ, chắc chắn Đức Giêsu rất sáng suốt. Nhưng Chúa không dùng quyền năng để phá hủy tự do con người. Tự do cộng với nhát đảm có thể sinh ra phản bội. Ngay cả khi tỏ ra khẳng khái nhất trong các tông đồ, Phêrô vẫn không che dấu nổi sự hèn nhát. Trong biến cố đau thương nhất cuộc đời, Đức Giêsu muốn mạc khải Người lệ thuộc ai. Chắc chắn con người không thể là điểm tựa. Bởi vậy, cho dù tất cả đều bỏ cuộc, Đức Giêsu vẫn kiên cường đứng vững. Đối với Chúa, chẳng ai là quan trọng cả ! Công cuộc cứu độ tùy thuộc một mình Thiên Chúa mà thôi.

Điểm tựa duy nhất của Đức Giêsu chính là tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa không hề vơi bớt chút nào trong suốt cuộc đời Đức Giêsu. Bởi thế, Người tin tưởng mãnh liệt và hiên ngang lên đường đi Giêrusalem nộp mạng. Tình yêu sẽ phục hồi tất cả và làm nên tất cả. Chính “Thiên Chúa (là tình yêu) đã làm cho Người trỗi dậy.” (Cv 10:40) Bởi đó, tình yêu có một sức mạnh lạ thường ! Từ ngàn xưa, chính tình yêu đã tự vẽ đường cho mình. Thật vậy, “tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người” (Cv 10:43) như một Đấng chết vì tình yêu và cho tình yêu.

Không những có các chứng nhân quá khứ, tình yêu còn chuẩn bị những chứng nhân tương lai đẩy mạnh niềm tin nhân loại vào mầu nhiệm tình yêu nơi biến cố Đức Giêsu Phục sinh. Thiên Chúa “cho Người xuất hiện tỏ tường trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại.” (Cv 10:41) Từ nay, mọi người sẽ thấy ơn cứu độ chỉ tùy thuộc vào một người duy nhất là Đức Kitô. Thực vậy, “phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội,” (Cv 10:43) nghĩa là được hòa giải với Thiên Chúa và chia sẻ gia sản Thiên quốc với Đức Giêsu. Chỉ tình yêu mới có sức mạnh biến thù thành bạn ! Không những thế, từ nay một sức sống mới đã ùa vào nhân loại. Thật vậy, tận chiều sâu con người, “sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa.” (Cl 3:3) Sự sống đã trào vọt lên từ nguồn mạch Phục sinh của Đức Giêsu. Sự sống ấy không tự nhiên chiếm hữu được. Nhưng từ cõi chết “anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô,” (Cl 3:1) nhờ sức mạnh tình yêu Thiên Chúa. Chính sức mạnh tình yêu Thiên Chúa đang làm những việc kỳ diệu trong Giáo hội và khắp thế giới. Hơn nữa, tình yêu luôn hướng con người lên cao. Bởi thế, “hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa,” (Cl 3:1) Từ nơi đầy sức mạnh tình yêu đó, Đức Giêsu sẽ làm cho vạn vật được phục sinh trong ánh sáng của Người.

CHỨNG TỪ TÌNH YÊU.

Nhìn vào cuộc sống với bao nhiêu thứ tin tưởng hiện tại, chúng ta thấy tình yêu vẫn còn là một sức mạnh áp đảo trước những cơ chế văn minh vật chất. Giáo hội vẫn hiện diện như một dấu chỉ cho mọi người biết con đường giải thoát ở đâu. Ngày nay, như Maria Mácđala, con người vẫn thắc mắc : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu ?” (Ga 20:2) Nhiều người vẫn còn tin Chúa nằm chết trong mộ. Nhiều tín hữu vẫn trình bày cho mọi người như thể Đức Giêsu chưa bao giờ trỗi dậy. Nhưng “theo Thánh Kinh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết.” (Ga 20:9) Phải, chỉ khi nào sống theo Lời Chúa, mới có thể làm chứng Đức Giêsu đã Phục sinh ! Ngày nay, cũng như ông Simôn Phêrô, nhân loại đi vào Giáo hội như “đi thẳng vào trong mộ, thấy những băng vải để ở đó và khăn che đầu Đức Giêsu.” (Ga 20:6) Một cái nhìn quá cơ chế như con mắt Phêrô dễ làm lạc hướng con tim muốn khám phá Đức Giêsu đang Phục sinh trong từng mạch sống và hơi thở thiên nhiên và lòng người. Có thể người ta thấy Giáo hội rất có tổ chức và trật tự. Nhưng họ không như Gioan. “Ông đã thấy và đã tin.” (Ga 20:8) Ong thấy cái gì và tin cái gì ? Ong thấy mọi sự như Phêrô. Nhưng ông tin Đức Giêsu đã từ cõi chết trỗi dậy, vì ông là môn đệ đã nằm sát ngực Đức Giêsu. Chỉ có con tim mới đọc được ý nghĩa của những bằng chứng tình yêu.

Nhân loại đang cần những con tim hơn những khối óc ! Văn minh cực kỳ như thế giới hôm nay, vẫn còn hằng triệu người đau khổ vì anh em đồng loại. Trên thế giới hiện tại vẫn còn trên 200 triệu Kitô hữu đang bị bách hại và hằng tỉ người nghèo đói vì cơ chế bất công vàsự thờ ơ hay thù ghét của đồng loại. Bao giờ chúng ta mới có thể cùng mở hội ăn mừng đại lễ Phục sinh “bằng bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật.” (1 Cr 5:8) giữa một thế hệ gian tà và bất công này ? Bao giờ mới có thể vùng dậy khỏi thế giới hạn hẹp, trần tục này để “tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Cl 3:1) ? Thế giới đang thèm khát hòa bình. Chính Đức Giêsu Phục sinh đã trả lại niềm hi vọng lớn lao cho nhân loại khi nối kết con người với con người và với Thiên Chúa.


Giuse Nguyễn Cao Luật op

"CHÚNG TÔI XIN LÀM CHỨNG"

Buổi sáng vội vã

Vào buổi sáng ngày lễ Vượt Qua này, theo các trình thuật Tin Mừng, dường như mọi người đều ở trong tâm trạng bồn chồn, có vẻ rất vội vã. Ngay từ sáng sớm, đã có nhiều người tìm đến một ngôi mộ, mỗi người có hoàn cảnh và mục đích riêng.

Theo Tin Mừng Mác-cô, "sáng tinh sương, ngày thứ nhất trong tuần, lúc mặt trời hé mọc ...", các phụ nữ đã chứng kiến việc an táng Ðức Giêsu vào ngày thứ sáu, đã ra mộ, mang theo dầu thơm để ướp xác Ðức Giêsu ... Sau đấy, khi đã nhìn thấy ngôi mộ trống, và gặp một nhân vật lạ, các bà đã rời nơi ấy, "cắm đầu chạy, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía".

Còn theo Tin Mừng Gioan, cô Maria Mác-đa-la ra thăm mộ và "thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ". Mấy ngày trước đây, cô đã trải qua những giờ phút đầy phiền muộn khi chứng kiến Vị Thầy yêu quý của mình chịu chết và được an táng trong mộ. Lúc này, cô cảm thấy sợ hãi : cô nghĩ rằng ai đó đã lấy cắp thi thể của Ðức Giêsu và đem đi mất. Trong đầu cô xuất hiện một mối hoài nghi : Ðức Giêsu đã là nạn nhân của lòng thù ghét, phải chăng Người còn bị truy đuổi ngay cả khi đã nằm trong mộ ? Thế là cô chạy về báo tin cho những người bạn của Ðấng đã từng giải thoát cho cô.

Nghe lời thuật lại của cô Maria Mác-đa-la, hai ông Phêrô và Gioan liền đi ra mộ. Cả hai người đều chạy. Tới mộ, các ông đã nhìn thấy "những băng vải, và khăn che đầu Ðức Giêsu, được cuốn lại, xếp riêng ra một nơi". Trước bằng chứng này, các ông gạt bỏ giả thuyết thi thể Ðức Giêsu bị đánh cắp.

Nhưng trong khi ông Phêrô còn phân vân, chưa hiểu được sự kiện xảy ra có ý nghĩa gì, thì người môn đệ Ðức Giêsu yêu quý đã hiểu rõ : ông nhận ra rằng không có chuyện đánh cắp thi thể Ðức Giêsu. Qua các tấm khăn được xếp lại và để riêng, ông đọc thấy những dấu chỉ về một cuộc Phục Sinh đích thực ; sự sống đã đánh bại vương quốc tử thần. Chỉ có tình yêu mới đem lại cho người môn đệ ấy cặp mắt sáng ngời, biết nhìn ra mầu nhiệm giấu ẩn đằng sau những sự kiện. Nhờ tình yêu ấy, ông đã nhìn và đã tin, đổng thời khám phá ý nghĩa trọn vẹn của con người Giêsu - Ðấng đang sống.

Trở lại chuyện với cô Maria Mác-đa-la, cũng do tình yêu thúc đẩy, cô đã tìm đến mộ mà than khóc. Nhờ đó, cô là người đầu tiên được gặp gỡ Ðức Giêsu Phục Sinh, và sau đó trở thành người đầu tiên loan báo Tin Mừng Phục Sinh.

Quả là một buổi sáng nhiều vội vã, dồn dập sự kiện quanh một ngôi mộ. Nhiều người đã tìm đến ngôi mộ, và rồi lại từ đó ra đi, bắt đầu một hành trình mới, tin tưởng hơn, hăng hái hơn.

Phục Sinh, một hứng khởi kỳ diệu

Nếu không có Phục Sinh thì cuộc đời Ðức Giêsu đã chấm dứt với một thất bại rõ ràng : chết trên thập giá, những người bạn thân tín bỏ trốn hết.

Tuy nhiên, vấn đề được nêu lên là làm sao có thể giải thích được cái chết ấy là khởi đầu cho một hứng khởi kỳ diệu là niềm tin Kitô giáo ? Trong thế kỷ đầu, mặc dù những cuộc bách hại khốc liệt diễn ra khắp nơi, nhưng Ðức Giêsu đã được biết đến, được yêu mến, được tiếp nối và thờ kính ở khắp vùng ven Ðịa Trung Hải và cả những miền lân cận.

Về vấn nạn này, các tông đồ và các môn đệ đã giải thích : "Ðức Kitô đã sống lại. Chúng tôi xin làm chứng." Cụ thể như trường hợp ông Gioan : "ông đã thấy và đã tin". Khởi đầu từ những yếu tố khác nhau như ngôi mộ trống và những lần Ðức Giêsu hiện ra, tất cả trở nên sáng tỏ trước mắt ông : ông nhớ lại những điều Ðức Giêsu nói, những việc Người làm, và ông tin. Nhờ ánh sáng của Thần Khí, ông cảm nghiệm được rằng : Ðức Giêsu đã chỗi dậy, Người đang sống.

Với tất cả các tông đồ khác cũng vậy. Các ông xác tín vào mầu nhiệm Phục Sinh và xác tín này làm thay đỗi cuộc đời các ông : thái độ sợ hãi được nhường chỗ cho thái độ can đảm trong lòng tin. Các ông sẵn sàng làm chứng về Ðức Giêsu Phục Sinh dù phải hy sinh tính mạng. Cũng nhờ xác tín đó, nhờ thái độ can đảm và kiên quyết, các ông đã lôi kéo cả một đám người, mỗi ngày một đông hơn, Do-thái lẫn dân ngoại, đi theo các ông và cùng tin như các ông. Sau đó, đến lượt mình, những người này cũng quả quyết Ðức Giêsu đã sống lại, Người là Chúa.

Thật thế, sự chỗi dậy từ cõi chết là đỉnh cao trong cuộc đời Ðức Giêsu, giúp cho các tông đồ thấy rõ cuộc đời và con người Ðức Giêsu. Ðối với các ông, những lời Người nói, những việc Người làm, lời Người cầu nguyện, nhất là cái chết của Người, tất cả đều có ý nghĩa thâm sâu và phong phú. Sự Phục Sinh này đã mở mắt các ông, cho các ông nhận ra Ðức Giêsu thực sự là Con Thiên Chúa, Người là ánh sáng trần gian.

Do đó, cái chết của Người trên thập giá có ý nghĩa đặc biệt : đó không phải là dấu chứng về thất bại, nhưng là chứng tá tuyệt vời về tình yêu. "Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu" (Ga 15,13). Trước mắt các ông, Ðức Giêsu thật là Ðấng Cứu Thế.

Mở đường hướng tới tương lai

Cuộc Phục Sinh của Ðức Giêsu cũng soi chiếu cuộc đời chúng ta và lôi kéo chúng ta. Ðức Giêsu, Ðấng đã trải qua cái chết, chính Người là Thiên Chúa, đổng thời cũng vẫn là một người như chúng ta, là anh em của chúng ta. Lễ Phục Sinh đem lại cho chúng ta biết bao hứng khởi để cố gắng bênh vực con người, để mỗi người cũng được phục sinh như Ðức Kitô.

Quả thế, lễ Phục Sinh cho thấy tất cả mọi khía cạnh trong câu nói của Ðức Giêsu : "Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở trong tình thương của Thầy ... hãy yêu thương nhau ..."

Những việc Ðức Giêsu làm, những lời Người nói giúp chúng ta nhìn cuộc đời theo một cách thức mới ; chính Người là Thầy, nhưng lại sống trong thân phận một tôi tớ. Người đã nói : "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó ... ai hiền hoà ... xây dựng hoà bình ..." và Người đã sống đến cùng. Chính Thiên Chúa nói trong Ðức Giêsu Kitô và thúc đẩy chúng ta bước theo Người, hành động như Người.

Lễ Phục Sinh còn mở ra cho chúng ta những cánh cửa hướng tới tương lai. Phục Sinh, đó là vượt qua. Ðức Giêsu là người đầu tiên vượt qua để làm cho chúng ta cũng vượt qua với Người. Phục Sinh, đó là cánh cửa hướng đến sự sống không bao giờ tận : từ nay cuộc đời trần thế của chúng ta đã có một chiều kích mới, chiều kích vĩnh cửu.

Với Ðức Giêsu Phục Sinh, không có con đường nào là con đường cùng, không lối ra ; cái chết không còn phải là rào cản ; tội lỗi có thể được thứ tha và tội nhân có thể được giải thoát. Chúng ta luôn có thể lên đường lại, và không bao giờ thất vọng về chính mình cũng như người khác, bởi vì từ nay, Ðức Giêsu đã làm nảy sinh tình yêu, khởi đầu từ những hận thù đổ xuống trên chính Người.

"Này Maria,
hãy mau tìm các môn đệ của Thầy,
hãy cất tiếng hát đem lại bình an
cho những người bạn của Thầy đang sợ hãi,
để họ thức dậy và đến gặp Thầy,
để họ thắp lên những ngọn đuốc.
Này các Tông đồ, hãy xua đi mọi ưu sầu phiền muộn,
vì Thầy đã chỗi dậy và đem lại sự sống
cho loài người đang tuyệt vọng ..."
(theo Romanos le Melode)


Lm. Jude Siciliano, OP.

ÁNH SÁNG ĐÃ BÙNG LÊN GIỮA ĐÊM TỐI
(Lc 24,1-12)

Thưa quý vị,

Việc lựa chọn bài Phúc Âm cho đêm vọng Phục Sinh có điều khác thường. Các tín hữu khắp hoàn cầu đều hiểu những giây phút này là rất trọng đại, những giây phút đợi chờ một biến cố rung trời lở đất. Chủ tế làm phép lửa. Ngọn nến Phục Sinh được thắp sáng, rồi truyền đi từ người này đến người khác tượng trưng đời sống mới từ Chúa Phục Sinh ban cho chúng ta. Chúng ta rước kiệu vào nhà thờ tối om trong ánh sáng bập bùng của cây nến Phục Sinh. Đúng là biểu tượng niềm khao khát của các tín hữu theo Chúa sống lại. Ánh sáng bừng lên trong đêm tối mù mịt. Rồi các bài đọc Cựu ước: Sự sáng tạo oai hùng của Thiên Chúa dựng nên vũ trụ, trời đất, trăng sao, cây cỏ và loài người. Ơn gọi của Abraham. Sự xuất hành vĩ đại của tuyển dân Do Thái ra khỏi Ai Cập. Các tiên tri loan báo Chúa Cứu Thế, tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa đến thế gian.

Thánh Phaolô nhắc nhớ tín hữu thành Rôma về quyền năng Thiên Chúa trong việc phục hồi sự sống cho thiên hạ nơi Đức Kitô Giêsu. Kỳ diệu của muôn diệu kỳ ! Thánh nhân cam đoan với chúng ta, thần chết không còn quyền lực gì nữa trên Chúa Giêsu và toàn thể nhân loại. Hội Thánh hoan hỷ giang tay đón các tín hữu được máu Chiên Con hiến tế vào lòng. Toàn thể địa cầu đều mừng vui vì tin Chúa phục sinh.

Người ta háo hức đợi chờ bài đọc Tin Mừng vĩ đại. Đáng lẽ bài đọc phải thật oai phong lẫm liệt, như thể chiếu chỉ hoàng đế lên ngôi, như thể trăm nghìn pháo bông nổ tung cùng một lúc, như thể sấm chớp rền vang, dân Do Thái chứng kiến ngày xưa ở chân núi Xinai lúc Thiên Chúa ban mười giới răn : “Xin ông nói, kẻo chúng tôi chết mất”. Đáng lẽ bài đọc phải thuật rõ ràng giây phút Chúa sống lại, phải kể thật oai hùng, như thể một thiên anh hùng ca, như suối tuôn thác đổ, như sóng vỗ đại dương, như thơ mầu nhiệm ra đời. Nhưng thực tế chỉ là bản văn bình thường, với giọng đều đều của chủ tế: “Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn. Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mồ, nhưng khi bước vào, họ không thấy xác Chúa Giêsu đâu cả…” Rồi hai thanh niên lạ mặt mặc áo trắng nói vài lời an ủi. Có thế thôi trong đêm chờ đón Chúa phục sinh và ngày khải hoàn vinh hiển !

Ngoài ra, bài Phúc Âm kết thúc với lời lẽ đầy bí nhiệm : “Ông Phêrô trở về nhà, rất đỗi ngạc nhiên về sự việc đã xảy ra”. Ông ngạc nhiên điều gì ? Ngôi mộ trống với những dây băng và khăn che đầu còn để đó. Cái gì đã xảy ra? Chúng ta chẳng có chứng cớ xác thực để trả lời câu hỏi. Phải chăng đã có tên vô lại ăn trộm xác chết và vì vội vàng nên để quên khăn liệm khiến ông Phêrô ngạc nhiên?

Suy gẫm kỹ thì thật đúng là nhiệm mầu. Phần tôi, tôi rất hoan hỷ về câu chuyện và văn phong thánh Luca. Các chi tiết trong chuyện hoàn toàn không thể là bịa đặt hoặc các tông đồ đã sắp xếp trước. Bằng chứng là sự việc rất lộn xộn. Không thể là một sự sắp đặt có tính toán. Các phụ nữ mang dầu thơm ra mồ để tẩm xác người chết chứ không phải để giả tạo một cuộc sống lại. Khi không thấy xác Chúa, họ ngạc nhiên, phân vân chưa xác định được hoàn cảnh và khi thiên sứ loan báo, họ cúi gằm xuống đất chưa dám tin vào tai mình, chứ không hồ hởi ngay. Rõ ràng họ chẳng ngờ được sự việc, ý nghĩ của họ tự ban đầu là sẽ tìm thấy xác Ngài như đã quan sát chiều hôm thứ sáu: “Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xét xác Người được đặt như thế nào.” (Lc 23,56). Các bà chạy ngay về báo tin cho các môn đệ. Các tông đồ nghi ngờ và không tin. Thánh Phêrô chạy ra mộ thấy sự việc đúng như các phụ nữ báo cáo, trở về “ngạc nhiên”, chứ không vội vã loan tin ngay. Như thế câu chuyện Chúa sống lại được mô tả “tự nhiên” chứ không phải như người ta ước đoán, chuyện “bày đặt”.

Khi hai người đàn ông mặc áo trắng nói với các phụ nữ: “Tại sao các bà lại tìm Người Sống giữa kẻ chết”. Nghĩa là các bà đã nhìn “lầm chỗ” để tìm Chúa Giêsu. Ngài không còn ở nơi “quá khứ” mà họ đã quan sát kỹ. Ngài không có mặt nơi những kẻ chết, Ngài không thử thách đức tin của các bà và không còn gây đau đớn cho các bà nữa. Ngài không còn ở trong thất bại, trong tàn phá huỷ diệt của chúng ta như ông thần ưa trả thù, muốn người ta sụp lạy cầu khẩn van nài. Ngài không tham gia trận chiến nào, không bắn nhau phe này hay huỷ diệt bên khác, không giúp đỡ đạp đổ và tàn phá. Xin đừng tô vẽ hình tượng Ngài trên các khiên thuẫn chiến tranh, trên các cờ hiệu vua chúa, Ngài chẳng ban thêm tiền bạc hay của cải cho những chân tay trung tín phản bội người nghèo. Ngài tức giận rời bỏ yến tiệc của những kẻ tai to mặt lớn, phí phạm thực phẩm, trong khi ty tiện với những kẻ bần cùng. Không, Ngài không còn ở những tử địa đó nữa. Hai thiên sứ đã chỉ cho các phụ nữ tìm Ngài nơi người sống chứ không phải nơi những kẻ chết. Đó cũng là nơi chúng ta hôm nay phải kiếm Ngài, nhưng làm thế nào?

Bí quyết là ở lời nói của hai thanh niên ăn vận chói loà : Tìm kiếm Ngài ở những miền đất sống lại từ cõi chết. Các Phúc Âm mà chúng ta vừa nghe trong mấy ngày qua kể rằng: Ngài chắc chắn đã đi vào cõi chết, nhưng là để nâng họ trỗi dậy, và ban cho họ đời sống mới. Ngài đã từng cho kẻ mù được xem thấy, kẻ què đi được, kẻ câm nói được, người điếc được nghe… Ngài đã từng đồng bàn với các linh hồn sa đoạ, tội lỗi; Ngài tha thứ và ban cho họ niềm vui tái sinh trong nhân phẩm và tinh thần con thảo. Cho nên nơi nào Ngài hiện diện thì nơi ấy có sự sống, nơi ấy thần chết và mục rữa không thể ngự trị. Chúng ta sẽ tìm thấy Chúa khi hòn đá lấp mồ đã được lăn sang một bên, khi các bức tường ngăn cách bị gỡ bỏ, khi không còn hy vọng và khi cuộc đời đã chấm dứt. Ngài luôn sống với các chứng nhân của Ngài, nuôi dưỡng cô nhi quả phụ, băng bó những vết thương, an ủi những người vô vọng sầu đau, là tiếng nói cho những người thấp cổ bé miệng, cải tạo trẻ bụi đời, cho mái nhà các gia đình lang thang, di dân và ngoài lề.

Hai thiên sứ nói đúng, chúng ta không thể tìm Ngài nơi kẻ chết mà tìm nơi miền đất sống, Ngài sẽ sống với chúng ta, trong chúng ta, khi từ bỏ tính hư tật xấu, tham lam, tội lỗi, những thế lực huỷ diệt, mà trở về với thanh cao thánh thiện. Ngài sẽ ở bên chúng ta khi thu gom sức lực quyết định cho những khởi sự mới. Thiên sứ nói đúng, Ngài không còn ở nơi mồ trống đen ngòm, nhưng cõi vinh quang rực rỡ ánh sáng theo cả hai nghĩa tinh thần và vật chất và loài người mãi mãi chỉ tìm thấy Ngài ở đó.

Nhưng phải nhớ Ai là diễn viên chính trong chuyện này ? Các phụ nữ đi ra mồ từ sáng sớm và họ đã sửa soạn mọi sự cho việc chôn cất theo truyền thống. Ngài đã bị thế lực đền thờ giết chết không chút xót thương, ngược lại còn nghĩ mình thờ phượng Thiên Chúa cách cụ thể và xứng đáng, bởi họ đã loại trừ được tên gây rối vô lại. Việc chôn cất Ngài quá vội vàng vì luật nghỉ ngày Sabath. Xác chưa được xức dầu theo tục lệ cha ông. Ngài đâu phải là phường tội ác ghê gớm mà thân xác phải vất cho chim trời ăn! Ý nghĩ của quý bà đúng thói thường, các bà mang dầu liệm xác ra mộ là chí phải, làm công việc cuối cùng cho thầy mình; nếu không thì trước mặt thiên hạ, thật là tủi hổ cho người đã chết cũng như thân thích còn sống. Nhưng khi các bà tới mộ, mọi công việc đã có ai làm xong. Chẳng còn chi phải làm nữa cho thân xác Ngài. Phêrô, kẻ đến mộ chậm cũng chẳng phải làm gì mà chỉ đứng nhìn ngỡ ngàng. Ông lững thững ra về bụng bảo dạ: “Lạ nhỉ !” Ông và các phụ nữ đâu biết rằng Thiên Chúa đã khiến Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết để toàn thể nhân loại cũng được như vậy. Tử thần từ nay bị tước đoạt vũ khí và hoàn toàn thất bại trước vận mệnh mới của loài người. Chúng ta hồ hởi cử hành lễ Vượt Qua cũng vì lý do ấy, vì những gì Thiên Chúa đã làm cho Đức Kitô và toàn thể nhân loại. Hy vọng tràn trề trong từng trái tim người tín hữu. Cuộc đời dù thế nào đi nữa, đắng cay, khổ ải và chết chóc thì niềm hy vọng vẫn còn đấy. Phục sinh khải hoàn là điều vững chắc, đã được Đức Kitô minh chứng. Tính “hợp lý” của trí tuệ con người trong những ngày này thất bại. Nó rêu rao rằng ngôi mộ, sự chết là những tận cùng không thể đảo ngược. Nhưng đức tin thì lại khác, soi rọi ánh sáng tin yêu vào thất vọng, nó biến quang cảnh buồn thảm thành cõi bồng lai!

Cho nên đêm nay chúng ta mừng Chúa phục sinh thì chẳng có gì thích hợp hơn. Chúng ta nghe chuyện sống lại trong đêm tối, nhưng thâm tâm vẫn chờ đợi ánh sáng. Và Ánh Sáng đã thực sự chiếu rọi trí lòng chúng ta như Gioan thuở xưa : “Ông đã thấy và ông đã tin” (Ga 20,8). Câu chuyện đêm nay giúp chúng ta xác nhận chân lý sống lại, bất chấp chứng cớ hay không mà các phụ nữ tìm thấy. Nhưng chỉ qua đức tin mà Chúa ban cho qua bí tích rửa tội. Hiện thời chiến thắng của tội lỗi và sự dữ xem ra nhan nhản khắp thế giới. Nó mang tính thuyết phục cao. Nhiều trí thức, nhiều học giả, nhiều triết gia từng chao đảo vì nó. Nhưng người tin Chúa nhìn vào mồ trống, bóng tối, sự dữ mà vẫn có thể nói rằng: “Vâng chúng tôi đã xem thấy tối tăm, nhưng cuối cùng thì vẫn có ánh sáng. Đức Kitô đã trỗi dậy và toàn thể nhân loại cũng sẽ trỗi dậy với Ngài.” Phép thanh tẩy cho người tín hữu khả năng nhìn thấy ánh sáng Chúa qua tăm tối trần gian. Satan không thể tung hoành mãi mãi. Chiến thắng cuối cùng thuộc về Thiên Chúa, Đấng đã phục sinh Đức Kitô từ cõi chết.

Đúng, trời đất tối tăm lắm. Chỗ này chiến tranh, nơi khác ức hiếp, bóc lột. Ở đây giáo sĩ sa đoạ, chỗ kia giông tố, bão lụt. Nhưng nhờ Tin Mừng đêm nay Chúa đã sống lại, ngôi mộ của Ngài bỏ trống, để chúng ta có thể nhìn thấy tình yêu Thiên Chúa dành cho loài người thật vĩ đại. Nó vượt trên bóng tối và sự chết, vượt trên đau thương và nghi nan! Khi quá tối tăm chúng ta nói: Trời đất! Tôi chẳng trông thấy bàn tay mình giơ lên trước mặt. Nhưng trong ánh sáng Chúa Kitô đêm nay, chúng ta nhìn qua không gian riêng tư của mình mà thấy những đau khổ, những nhu cầu, những khó khăn của đồng loại và luôn cả con đường phải tiến bước trong đêm tối. Dầu sao, tín hữu vẫn mang tiếng với xã hội, với thế gian, với các kẻ không tin mình là những người nhìn thấy thị kiến trong đêm !

Thế nhưng, hai thiên sứ bên mộ trống lại chẳng đưa ra bằng chứng nào cụ thể để thuyết phục các phụ nữ rằng Chúa đã sống lại. Các ông chỉ nhắc nhớ họ lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Con Người sẽ bị nộp vào tay phường tội lỗi, bị đóng đinh thập giá, rồi ngày thứ ba sẽ sống lại…” Đó cũng là điều các “Thị Kiến Trong Đêm” ngày nay tin tưởng. Họ đặt toàn bộ lòng tín thác nơi Chúa Giêsu, sống những ký ức về Ngài và kể chuyện cho thế gian hay. Chúng ta cũng được mời gọi dấn thân vào đức tin như thế trong đêm nay: “Ngài không còn ở đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi”. Các phụ nữ nghe loan báo, họ ngưng tìm kiếm quanh ngôi mộ, chạy về kể cho nhóm mười một và các môn đệ khác nghe. Thì ra họ cũng giống như chúng ta được mời gọi tin theo mặc khải của Đức Chúa Trời: “Người đã trỗi dậy!”

Trong tuần phục sinh này, các chuyện Phúc Âm chúng ta nghe rất khác nhau về chi tiết, về số các nhân chứng và về các biến cố tiếp theo. Người tín hữu trung bình khó mà phân biệt nổi. Nhưng điều căn bản là Thiên Chúa đã làm công việc kỳ lạ nơi Đức Kitô Giêsu, nâng Ngài từ cõi chết sống lại, đóng ấn lên các sinh hoạt, các lời rao giảng của Ngài. Bởi vì Ngài phục sinh, chúng ta có thể vững tin nơi Ngài, mọi tội lỗi được tha thứ và hy vọng vào phúc trường sinh. Bởi vì Ngài sống lại nên chúng ta được ban cho khả năng sống đời của Ngài: Công chính và thánh thiện. Chúa Giêsu từng tuyên bố Nước Trời sẽ ngự trị, khi đó Thiên Chúa sẽ lôi kéo mọi người đến với Ngài. Được Thánh Thần ban khả năng, chúng ta làm việc để xua tan bóng tối, đẩy lùi tội lỗi, chữa lành bệnh nhân, tha thứ xúc phạm, chống lại áp bức bất công, tháo gông cùm cho kẻ thấp cổ bé miệng và ban bánh ăn cho những người đói khát nghèo hèn. Hoặc là thế giới sẽ được thăng tiến hoặc là ngôi mộ vẫn há mồm chờ đón xương cốt. Điều đó hoàn toàn tuỳ thuộc vào các môn đệ của Chúa. Vậy chúng ta nên suy nghĩ và hạ quyết tâm khi họp nhau đêm nay như anh chị em, bẻ bánh và uống chén. Xin cho mỗi người đủ can đảm loan báo Tin Mừng phục sinh và tình yêu Thiên Chúa cho toàn thể thế giới. Hallêluia. Amen. Fr Jude Siciliano, OP.


Fr. Jude Sicilianô, OP.

Hãy Phục Sinh với Chúa Kitô Alleluia
(Ga 20, 1-9)

Thưa quý vị,

Chúng ta có năm lựa chọn cho Phúc âm tuần này. Tuy nhiên, các bài đều mở đầu giống nhau : “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần” (Ga). “Chiều ngày Sabat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng” (Mt)… Tuần tới thánh Gioan cũng dùng giọng văn tương tự để thuật chuyện Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ ở phòng trên lầu của nhà tiệc ly : “Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín vì sợ người Do thái.”(Ga 20, 19) Thường thường các tác giả Phúc âm không quan tâm đến ngày tháng chính xác, chỉ kể chung chung. Thí dụ : “Sau đó Chúa vào thành Giêrusalem” hoặc “Sáng sớm Chúa lên đền thờ”. Nếu ai hỏi lý do tại sao thì các thánh sử trả lời : Việc đó không quan trọng. Điều quan trọng là sự kiện. Vậy hôm nay là ngoại lệ và chắc chắn phải có lý do.

Mặc dù chi tiết trong các bài Tin Mừng hôm nay rất lộn xộn, không bài nào ghi lại đầy đủ những lần Chúa hiện ra, hoặc theo một thứ tự hợp lý. Thí dụ, có mấy thanh niên mặc áo trắng trong mồ ? Hai thiên thần hay chỉ một ? Marcô viết : “Vào trong mộ các bà thấy một người thanh niên ngồi bên phải mặc áo trắng.” Luca lại nói : “Họ còn đang phân vân thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói đứng bên họ.” Gioan rõ hơn : “Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mồ thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giêsu, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân.” Bà Maria Macdala ra mộ một mình hay còn các phụ nữ khác cùng đi ? Tuy nhiên, về thời gian Chúa sống lại thì các thánh sử đều rõ ràng, không phải bất cứ ngày nào trong tuần mà là ngày thứ nhất. Các vị có dụng ý cho độc giả thấy việc Chúa phục sinh là một khởi đầu mới, giống như việc tạo dựng vũ trụ.

Cho nên Tân Ước ưa dùng cụm từ “trời mới đất mới” để mô tả Hội thánh trong kỷ nguyên phục sinh. Tín hữu không còn thuộc về thế giới cũ, nô lệ cho tội lỗi, mà thuộc về vương quốc tái sinh, tràn đầy ơn thánh. Ngày tạo dựng, Thiên Chúa đã làm cho ánh sáng chiếu thâu qua bóng tối để soi sáng vũ trụ, thì ngày hôm nay, Chúa phục sinh cũng xuyên qua tối tăm của sự chết để mang hy vọng cho nhân loại. Hai biến cố đều do bàn tay quyền năng của Thiên Chúa . Cho nên chúng ta không còn lý do để sợ hãi, không còn lý do làm tôi dục vọng, nhưng phải sống tinh tuyền theo ánh sáng Chúa soi đường.

Chúng ta nên suy gẫm thấu đáo hơn về các bài đọc hôm nay. Và lấy chuyện của ba môn đệ trong biến cố Chúa sống lại (Maria Macdala, Phêrô, Gioan) làm thầy dạy. Trước hết, bà Maria đi ra mồ trong tâm trạng giống hệt mọi người trước đau thương : Khóc lóc, thở than, thất vọng, tôn kính người quá cố, gợi nhớ các kỷ niệm, cái chết bất ưng không lường trước. Chắc chắn bà không có tư tưởng thầy sẽ sống lại. Thánh Gioan ký thuật : “Lúc trời còn tối bà Maria Macdala đi đến mộ thì thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mồ.” Bà chẳng hiểu điều chi đã xảy đến cho xác Thầy. Bà hoàn toàn ngỡ ngàng, vì vẫn ở trong vòng tăm tối, chưa được đức tin soi sáng. Ngôi mộ trống không đủ thuyết phục bà Chúa đã chỗi dậy. Tư tưởng của bà vẫn bình thường như mọi người : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ và chúng tôi chẳng biết họ để người ở đâu.” Bà chỉ biết có thế và đã báo tin cho hai tông đồ Phêrô và Gioan có vậy. Chúng ta không thể gán cho bà tội giả tạo, sắp xếp sự việc rồi loan tin thất thiệt. Cũng chẳng thể tưởng tượng ra điều chi phức tạp hơn. Có chăng thì cố gắng nhìn vào thế giới thiên nhiên để tìm ra vài hình thức của sự hồi sinh.

Thí dụ, tổ kén sẽ trở thành bươm bướm nhờ ơn huệ của trời đất và di truyền. Ở miền Bắc địa cầu, mùa đông chỉ thấy đất giá lạnh, trơ trụi, cây cối trơ cành như chết, nhưng mùa xuân ấm áp tới, thiên nhiên hồi sinh, cảnh vật trở thành nâu, rồi xanh và hoa lá bắt đầu trổ bông. Chúng ta có thể tưởng tượng đó là những dấu hiệu của sự hồi sinh, những chỉ dẫn cho thấy sự sống có thể phát xuất bất ưng từ cõi chết. Tuy nhiên, với những bằng chứng chết chóc hằng ngày không đủ để thuyết phục nhân loại là có hy vọng phục sinh. Thí dụ tai hoạ sóng thần ở Đông Nam Á, ôm bom tự sát ở Palestin, Iraq, sập mỏ ở Trung quốc, chết đói hằng triệu ở Phi châu, buôn bán phụ nữ trẻ con trên thế giới, chạy đua nguyên tử, tai nạn xe hơi, máy bay, xe lửa, xảy ra hầu như hằng ngày khắp nơi. Những biến cố đó và nhiều sự kiện chết chóc tương tự, chứng tỏ dù tổ kén biến thành bươm bướm, dù cành khô trổ bông tươi tốt cũng không đủ bằng chứng cống hiến cho nhân loại tình cảnh hồi sinh. Gần đây, một người họ hàng có chồng mới qua đời nói với tôi : “Anh ấy là toàn bộ đời con và các cháu. Anh ấy qua đi đột ngột chúng con làm thế nào đây ?” Những nỗi đau thương như vậy làm sao vượt qua ? Cái kén trở thành con bươm bướm không đủ. Cho nên lý luận biện chứng tự nhiên, chết đi để nảy sinh đời sống mới, vẫn chỉ là một ẩn số, cần bằng chứng lớn hơn, vững chãi hơn, ngõ hầu thiên hạ có thể tin.

Tạ ơn Thiên Chúa. Hôm nay chúng ta được bằng chứng đó. Các thánh sử thuật : bà Maria Macdala thực sự đã được gặp Chúa phục sinh và bà nhanh chóng loan truyền cho các môn đệ sợ hãi đang tụ họp ở căn phòng trên lầu : “Tôi đã xem thấy Chúa.” (20, 18) Một khi đã lãnh nhận ơn này, chúng ta cũng phải biết noi gương bà đem Tin Mừng cho mọi người. Nếu không thì là ích kỷ.

Tôi tự hỏi điều gì khiến ông Phêrô chạy chậm lại khi cùng người môn đệ khác hối hả đến mồ. Người ta thường giải thích là vì tuổi già sức yếu. Nhưng lúc ấy có lẽ ông chưa đầy 30. Vậy thì phải loại bỏ vấn đề tuổi tác. Thánh Gioan, người cùng chạy với ông, ngầm cho hay đó là do tâm lý. Phêrô nhớ lại mình chối thầy chỉ mới mấy ngày trước. Sự kiện còn quá mới mẻ để trực diện với ngôi mộ của Thầy. Gánh nặng quá khứ đeo đuổi lương tâm ông. Nếu đúng như vậy thì sự tha thứ của Chúa rất cần thiết cho ông. Đức tin vào Chúa phục sinh sẽ hoàn toàn thay đổi ông. Đức tin ấy ông không đạt đến được mà là ơn huệ nhưng không của Đấng phục sinh. Vì vậy ông cũng phải sẵn sàng ban cho kẻ khác. Xin nhớ có lần ông đã hỏi thầy phải tha thứ đến 7 lần chăng ? Chúa trả lời tới bảy mươi lần bảy. Lúc này ông cảm nghiệm điều đó một cách cụ thể, áp dụng vào chính bản thân mình. Cho nên, việc tha thứ không còn là lý thuyết mà là điều ông phải thực hành. Đây là bài học quý giá cho mỗi chúng ta, những kẻ đã nghe phúc âm nhiều lần, nhưng thực hành quá ít. Nếu như thời Trung cổ người ta hoả thiêu nhau vì hận thù thành kiến, thì bây giờ người ta cũng không kém độc ác. Phải chăng chúng ta là môn đệ Đức Kitô ? Câu trả lời tích cực xem ra gượng ép.

Nếu như chúng ta nhìn vào ngôi mộ trống với các tông đồ hôm nay và bày tỏ đức tin vào Chúa sống lại, thì chúng ta phải sẵn lòng tha thứ cho bất cứ ai xúc phạm đến mình. Có thể chúng ta không nặng nề lương tâm vì phản bội Chúa đến nỗi phải chậm lại bước chân khi đến gần mồ Chúa. Nhưng phẩm chất người tín hữu nơi chúng ta thật nghèo nàn, tình yêu chúng ta dâng cho Chúa thường khi yếu ớt. Chúng ta không dám dấn thân như Ngài đòi hỏi, không dám phục vụ những kẻ nghèo nàn, xấu số, bơ vơ, ngoài lề như đức ái thúc giục, chúng ta tìm kiếm tiện nghi dễ dãi cho bản thân, quên bẵng những nhu cầu của hàng xóm láng giềng. Tệ hơn nữa, lánh xa không dám tiến đến gần “ngôi mộ trống” của đức tin chân thành, tức các hy sinh hãm mình, từ bỏ đam mê tội lỗi, các ưa thích riêng tư, tivi, đầu máy, các băng đĩa khiêu dâm đồi bại, các giải trí “lành mạnh” nơi hộp đêm, hồ tắm ; nói chung “đi sung sướng” như kiểu nói bóng bảy của một số tu sĩ trẻ.

Nhưng nếu chúng ta vì gánh nặng quá khứ mà chậm bước như Phêrô thì có nguy cơ chẳng bao giờ được trông thấy Chúa phục sinh. Ngày thứ nhất trong tuần sẽ bình thường như các Chúa nhật khác, chẳng có chi để mà “mừng vui hân hoan” cất cao bài “Alleluia”. Ngược lại, nếu tông đồ Phêrô đã tin vào ơn sống lại, ông sẽ nhìn thế giới bằng quan điểm khác, qua lăng kính của Chúa Giêsu. Đối với ông không còn tiêu chuẩn đạo đức nào ngoài tiêu chuẩn Chúa Giêsu đã dạy, không còn thế giới quan nào ngoài giáo huấn của Chúa Cứu Thế. Ông sẽ hoàn toàn gắn bó với Chúa, đi theo con đường hẹp của Ngài, từ bỏ mọi quyền lực trái nghịch với cây thập tự. Thực tế Phêrô đã làm như vậy. Chuyện này đã rõ ràng mọi tín hữu đều thông suốt cả. Phần chúng ta nếu tin vào sự sống lại, chúng ta sẽ khám phá ra rất nhiều vấn đề của thế giới. Và hành động để thay đổi các quyền lực sự dữ, ngõ hầu bày tỏ công lý và tình yêu như Chúa dạy bảo. Thí dụ, tại sao trong một nước giàu có nhất thế giới như nước Hoa Kỳ lại có đến 25 % trẻ con sống trong cảnh nghèo khổ ? Tại sao dân chủ như nước Mỹ mà phần lớn phụ nữ chưa được hưởng quyền bình đẳng ? Tại sao nữ giới trong Giáo hội Công giáo chưa có tiếng nói ? Mặc dù Tin Mừng Chúa sống lại được một phụ nữ loan báo đầu tiên ? Làm thế nào đức tin vào Đấng phục sinh ban cam đảm và khả năng để chúng ta đối mặt với thế giới sa đoạ ngày nay, “ngày thứ nhất trong tuần” ?

Nếu lúc này đúng là “ngày thứ nhất trong tuần” thì thánh Gioan nhắc nhở toàn thể nhân loại, đặc biệt là Giáo hội rằng có một điều gì hoàn toàn mới, hoàn toàn không biết trước đang xảy ra và chúng ta có lý do để phấn khởi. Một người nào đó được ơn soi sáng đã nhận ra. Thánh Gioan không tiết lộ rõ tên người ấy, chỉ nói “người môn đệ được Chúa yêu mến”. Xưa nay người ta vẫn gán cho chính ông. Nhưng thánh nhân để trống chỗ cho mỗi tín hữu được phép điền tên mình vào. Thật là một dụng ý tốt đẹp ! Chúng ta nên nhanh chóng thi hành kẻo lỡ vận hội trong mùa này : “Người môn đệ Chúa yêu mến nhìn vào trong mồ, ông đã thấy và ông đã tin”. Tình yêu mở mắt cho ông. Chúng ta cũng được đức tin mở mắt linh hồn và hãy tự gọi mình : “Người môn đệ được Chúa mến thương”. Hạnh phúc và hy vọng của mỗi tín hữu nằm ở đây. Kinh nghiệm về tình yêu Chúa mở ra cho chúng ta cơ hội lành thánh để thấy được bổn phận ơn gọi của mình “ngày thứ nhất trong tuần” ở không gian phục sinh. Khi nhìn vào trong mồ, các tín hữu cũng được mở mắt. Tình yêu Chúa đã ban tặng ơn đó, không do công nghiệp, tài khéo hay khôn ngoan của mình. Nó hoàn toàn là một ơn huệ nhưng không. Nhờ đó chúng ta chẳng còn sợ hãi thần chết trong muôn vàn thể hiện. Nó kêu mời mỗi người nhìn về tương lai, không còn nhìn lại quá khứ xem mình là ai, đã làm gì. Bởi vì quá khứ làm chúng ta nhát đảm. Đây là ngày thứ nhất trong tuần lễ mới, với những thực tại và khả năng mới cho các môn đệ Chúa. Tình yêu Chúa phục sinh là căn bản của nếp sống mới này.

Chúng ta sẽ khởi sự hành động như những người được Thiên Chúa yêu thương, không còn mang trong lòng thù hận, ghét ghen; không tẩy chay, loại trừ nhau, không đòi hỏi đặc quyền đặc lợi. Bởi vì Chúa đã cứu chuộc hết thảy mọi người. Làm thế nào những người được cứu chuộc lại có thể chia rẽ ? Làm thế nào họ không hợp lại thành một gia đình nhân loại yêu thương ? Tôi hy vọng chúng ta sẽ không rơi ra ngoài vòng tay thương yêu của Thiên Chúa. Chúng ta hoàn toàn liên kết với Đức Kitô trong cuộc sống của Ngài. Các mầu nhiệm của Ngài cũng là các mầu nhiệm của chúng ta. Cái chết của Ngài trên đồi Calvariô cũng là cái chết của các tín hữu. Ngài chịu thương khó không phải riêng lẻ mà như đại biểu của toàn thể nhân loại tội lỗi mà Ngài đã nhận lấy thân phận khi nhập thể làm người. Ngài nhân cách hoá nơi mình mọi lợi ích của chúng ta và có năng lực trả nợ cho mọi người. Ngài đã gánh chịu cái án tử hình mà tội lỗi chúng ta gây ra, còn Ngài hoàn toàn trong trắng.

Cho nên khi Ngài sống lại là mọi người đều được phục sinh trong Ngài. Thánh Phaolô ở bài đọc 2 quả quyết như vậy. Sự trỗi dậy của Ngài nhất thiết kéo theo sự phục sinh của toàn thể nhân loại. Chúng ta có thể tự hào mình đã sống lại và ngự bên hữu Thiên Chúa trên các tầng trời cao : “Thật vậy, anh em đã chết và sự sống mới của anh em hiện đang ẩn tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa.” Trong lúc kỷ niệm cuộc khổ nạn, phục sinh và thăng thiên của Chúa Giêsu, chúng ta không chỉ nhớ lại quá khứ, nhưng là cử hành những mầu nhiệm hiện tại, tức là sự khổ nạn, phục sinh và lên trời thiêng liêng của mỗi linh hồn. Chính bí tích rửa tội nói lên tất cả thực tại đó. Vì thế, mọi người nhắc lại lời thề trong đêm vọng phục sinh. Lời thề không phải là hình thức nghi lễ mà có nội dung nghiêm trọng kèm theo. Chúng ta buộc phải thi hành, nếu muốn là môn đệ Chúa. Ước chi hôm nay đúng là “ngày thứ nhất trong tuần” của mỗi cuộc đời tín hữu trong nếp sống mới, nếp sống phục sinh nơi Đức Kitô. Amen. Allêluia.


Lm. Jude Siciliano, OP.

ÁNH SÁNG CỦA NIỀM TIN
Ga 20, 1 – 9.

Thưa quý vị,

Phúc Âm hôm nay mở đầu như sau: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối.” Hẳn độc giả có cảm tưởng u tối là cảnh trí chung của trời đất lúc ấy. U tối về nhiều mặt. U tối bao quanh nấm mồ, u tối vì buồn rầu, u tối vì không biết sự gì đã xảy ra. U tối vì mất mát, u tối vì bất ngờ trước đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu. Sự thực đối với môn đệ Chúa và các phụ nữ, bầu khí quả là ảm đạm nặng nề. U tối bao trùm ngoại cảnh và nhất là trong tâm trí họ, cho tới khi người môn đệ kia nhìn vào nấm mồ. Có lẽ đây cũng là hoàn cảnh chung cho các tín hữu hôm nay, khi nhìn vào tình hình thế giới: Chiến tranh, áp bức, bóc lột, độc tài, nghèo khổ. Liệu chúng ta có đủ can đảm để nhìn vào nấm mồ Chúa và tin? Hay chỉ than khóc xuông rồi chẳng làm gì cả?

Nhưng xin lưu ý, cả 2 tồng đồ Phêrô và Gioan cùng cúi nhìn vào mồ, thấy cùng một sự việc: ngôi mộ trống với mấy cuộn dây băng. Người môn đệ kia đã thấy và đã tin. Chắc chắn ánh sáng giúp đỡ không phải là ánh sáng vật lý. Nhưng là ánh sáng Chúa Kitô, kiểu như ánh sáng mà người mù từ thủơ mới sinh của Gioan đoạn 9: “Bao lâu thầy còn ở thế gian, thày là ánh sáng thế gian.” Anh mù đi rửa mắt ở hồ Silôac và được sáng mắt. Sau đó anh phải giải thích cho các tư tế, luật sĩ, kinh sư Do thái về thứ ánh sáng đó. Gioan đã nhìn vào mồ trống trong luồng ánh sáng ấy và ông đã tin. Chúng ta cũng không thể làm hơn nếu chúng ta muốn gặp Chúa sống lại. An ở kiểu Pharisêu thì muôn đời sẽ chẳng thể thấy Chúa phục sinh. Tệ hại thay, đây lại là lối sống của đa phần tín hữu, gồm luôn linh mục, tu sĩ, giám mục mà thánh Catarina thành Sienna thường phàn nàn. Khi anh mù của Gioan bị đuổi ra khỏi công đường sau phiên xử án, Chúa Giêsu tìm gặp và hỏi anh xem có tin vào Con Người hay không. Anh ta nói: “Thưa Ngài, Người ấy là ai để tôi tin”. Chúa trả lời: “Người anh đang thấy và nói chuyện với anh.” Người mù sấp mình xuống chân Chúa và nói: “Thưa Ngài, tôi tin.” Như vậy anh không nhìn bằng đôi mắt thường, mà bằng đôi mắt đức tin. Ước chi chúng ta cũng được đôi mắt ấy, từ bỏ mọi sự và đi theo Ngài.

Đúng vậy, đức tin của chúng ta sẽ ra sao nếu Maria Macdala đi ra mồ mà còn thấy xác Chúa Giêsu? Đây không phải là sự kiện Kinh Thánh, mà chúng ta giả dụ như vậy để cho thấy đức tin thế nào là đúng nghĩa. Nếu Maria tìm thấy xác Chúa vẫn nằm trong mồ, thì đức tin của người tín hữu chẳng qua chỉ là ký ức về đấng sáng lập tôn giáo lạ lùng, đầy thương cảm với số phận nhân loại, thế thôi, như ký ức về đức phật, lão tử, khổng tử. Chúng ta chỉ còn thấy Ngài như một vị tôn sư, dạy dỗ những điều hiền lành, làm gương cho con cái noi theo. Chúng ta sẽ nhắc nhở: Vào hoàn cảnh của con, Chúa Giêsu sẽ làm chi? Đó sẽ là nguyên tắc phải theo để có hạnh kiểm tốt, nhưng chẳng còn chi hơn. Chính chúng ta cũng vậy, hai mươi thế kỷ sau chúng ta sẽ phản ánh giáo lý của Ngài, tìm ra những lối sống phù hợp, thế thôi. Nghĩa là Đức Kitô xếp hàng với các nhà sáng lập tôn giáo trên thế giới. Nhưng sự thật, xác Chúa không còn trong mộ nữa, biến mất từ lúc nào. Đó là sự khác nhau giữa Chúa Giêsu và các vĩ nhân khác. Sự khác nhau to lớn đến độ đảo lộn nhân loại. Đảo lộn từ gốc rễ, niềm tin và trí não, từ cách suy nghĩ và nếp sống.

Nhưng xin dừng lại một chút để tìm hiểu xem Maria đã lý giải ra sao khi chứng kiến ngôi mộ trống? Đối với bà, đơn giản chỉ là: “Người ta đã lấy xác thầy ra khỏi mồ.” Nhưng người ta là ai? Là chính quyền Rôma? Là thế lực đền thờ, là kẻ trộm, là các môn đệ? Vô số câu trả lời. Nhưng chẳng lý lẽ nào đủ thuyết phục. Thái thú Rôma sai lính đến lấy xác Chúa Giêsu đi vì sợ các môn đệ Ngài biến ngôi mộ thành nơi hành hương và như thế ấp ủ một cuộc nổi loạn? Họ quá hiểu tâm lý đám đông Dothái, đã từng nghe, từng chứng kiến những phép lạ ông Giêsu làm và từ đấy nổi lên chống đối Rôma. Chi bằng phi tang đi là thượng sách. Thế lực đền thờ? Rất có thể, bác thợ mộc làng Nazareth đã từng thách thức luật Môisê và các tập tục cha ông? Lại còn nguyền rủa họ là mồ mả tô vôi, hội đồng phải vất vả lắm mới triệt hạ được hắn, phải dùng đến cả mưu mẹo xé áo để có thể kết án được hắn. Nhưng hắn đã lôi kéo được đám đông khổng lồ về phe. Không khéo các môn đệ hắn lợi dụng nấm mồ để phát tán giáo lý và lối sống của hắn. Lúc ấy, mối nguy còn lớn hơn. Chi bằng đem xác hắn đi, để bịt miệng vĩnh viễn. “Người ta” có thể còn là bác làm vườn, hay các môn đệ, bởi vì Chúa Giêsu đã hứa ba ngày sau Ngài sống lại. Phải thực hiện cho được lời hứa này bằng cách giấu xác đi và phao tin sống lại!

Đây không phải là những giả định viễn vông, vì cho đến hôm nay “nhiều triết gia” đã đưa ra các giải trình “ghê gớm”. Thí dụ có kẻ giải thích rằng: các môn đệ Chúa đã quá thất vọng về thày mình, không làm trọn mộng ước bá vương của họ. Cho nên việc Chúa sống lại chỉ là cặn bã của óc tưởng tượng, mộng mơ. Các môn đệ nghĩ là đã gặp thầy, chẳng qua chỉ là cơn hốt hoảng của ấn tượng mạnh mẽ mà thôi, để rồi chạy ra phố loan truyền tin thất thiệt.

Nhưng chúng ta, những kẻ tin, hôm nay tụ họp nhau trong nhà thờ, có phải là hậu quả của cơn hốt hoảng các tông đồ xưa? Đúng là một ý nghĩ dễ sợ, phải không quý vị? Nhưng làm sao chúng ta chứng minh được Chúa đã sống lại, để phản bác các kẻ không tin? Xin thưa ngay chẳng được đâu. Vì muôn đời việc Chúa phục sinh vẫn là một mầu nhiệm, làm sao chúng ta chứng minh nổi? Phương pháp tốt nhất là hãy đồng hoá mình với những kẻ “nhìn vào trong mồ”. Nhiều người cũng nhìn như Phêrô, nhưng chẳng thấy chi ngoài tấm khăn niệm và cuộn vải băng. Họ nhìn vào cuộc đời mình, nhưng toàn thấy một màu u tối: “Tảng sáng ngày thứ nhất, lúc trời còn tối.” U tối tràn lan khắp cuộc đời họ, tương tự không gian Phúc Âm hôm nay. Nhưng khi người môn đệ được Chúa yêu dấu nhìn vào ngôi mộ trống thì có ánh sáng ở cuối đường hầm: “Ông đã thấy và ông đã tin.” Như vậy, “thấy” đối với Phúc Âm thứ tư là trông bằng con mắt tinh thần chứ không phải vật chất. Thực ra, đối với Gioan chỉ có yêu mến mới ban cho người ta khả năng “thấy” được. Hẳn nào xưa nay chúng ta không được thấy vì chưa yêu mến thực sự, chưa từ bỏ mọi sự mà theo thầy, môi miệng là chính.

Đó là điều hôm nay chúng ta được mời gọi: Tin yêu Chúa thì mới có thể được “thấy” Ngài phục sinh. Cho nên sau này Gioan chỉ rao giảng có hai chữ thương yêu vì không thương yêu, chẳng đời nào người ta được phúc “thấy” Chúa sống lại. Còn nếu yêu mến Ngài thực sự thì thấy Ngài phục sinh trên mọi nẻo đường đời, mọi biến cố của cuộc đời. Bởi lẽ Chúa sống lại để biến đổi mỗi cuộc đời thành ánh sáng. Mùa này là mùa xuân, cây cối khắp nơi đâm chồi nảy lộc, mang những phiến lá mới, xanh tươi mơn mởn, chứng minh sức sống mới trong thân cây. Vậy thì Chúa phục sinh cũng mang đời sống mới cho nhân loại như vậy. Nhưng chỉ những kẻ tin yêu mới trông thấy được mà thôi. Thánh Phaolô trong bài đọc hai viết: “Thưa anh em, anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới…chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.” Là để chúng ta có khả năng sống nếp sống của Đức Kitô. Ngài sẽ ban cho chúng ta nếp sống mới, nếp sống phục sinh.

Trên thế giới, mặc dù còn chiến tranh, chém giết nhau nhưng vẫn có vô số người tốt lành. Cuộc sống của họ phản ánh tính yêu và phục vụ kẻ khác. Họ là những mẫu mực của lòng thương cảm đối với số phận hẩm hiu của nhân loại. Họ sống rất tốt lành mà chưa hề biết Chúa Kitô đã chết và sống lại để bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa. Liệu cuộc sống của họ có thách thức chúng ta? Liệu việc Maria Macđala còn thấy Chúa trong ngôi mộ có đòi hỏi chúng ta phải tin? Liệu lời giải thích ban đầu của các môn đệ “người ta đã lấy xác Chúa ra khỏi mộ” là đúng thì chúng ta hành xử ra sao? Tôi nghĩ chúng ta phải có thái độ khác. Nhưng Chúa đã sống lại và chúng ta không giải thích được. Sức sống Chúa ban qua bí tích rửa tội có khả năng làm cho thế giới nhìn thấy Chúa phục sinh. Chúa phục sinh là thành phần của cuộc sống mỗi người. Nó phải là nguyên lý để chúng ta ảnh hưởng thế giới. Đức tin ban cho chúng ta cái nhìn mà con mắt xác thịt không thể thấy. Cho nên bổn phận của mỗi tín hữu là bày tỏ Chúa phục sinh cho nhân loại.

Các triết gia còn đang bàn tán: “Liệu có cần Chúa hiện ra để các môn đệ tin Chúa sống lại? Theo thiển ý của tôi thì không cần. Bởi vì người môn đệ kia đã thấy ngôi mộ trống và đã tin. Cho nên chúng ta không cần gặp Chúa nhãn tiền như Maria Macđala và các người khác trong Tin Mừng hôm nay để có thể tin. Đức tin của bí tích Rửa Tội là đủ rồi, như Chúa phán cùng Tôma: “Phúc cho những ai không xem thấy mà tin.” Chúng ta nên giống như Gioan, chỉ nhìn vào ngôi mộ trống và đã tin. Chúng ta nên giống như anh mù từ lúc mới sinh, đi rửa mắt ở hồ Siloê và đã xem thấy. Chúng ta nhìn thấy Chúa phục sinh trong những kẻ nghèo hèn chung quanh mình mà cố gắng giúp đỡ. Chúng ta nhìn thấy Chúa phục sinh trong những hoạt động giáo xứ, hội đoàn để tích cực tham gia vào đời sống đức tin chung. Chúng ta nhìn thấy Chúa sống lại trong hàng giáo phẩm, linh mục, tu sĩ, hội dòng để xây dựng nước Chúa giữa trần gian. Chúng ta nhìn thấy Chúa sống lại trong các chính phủ, các trung tâm giáo dục, cứu trợ bác ái để cố gắng làm dậy men muối cho đời. Liệu chúng ta có nhận ra rằng: khổ chế, hi sinh, từ bỏ bản thân là dấu hiệu của Chúa phục sinh trong cuộc đời mình? Và sức sống mới đang tăng trưởng để vươn tới Nước Trời vĩnh cửu?

Người ta hỏi cha Pio 5 Dấu, giải thích về thánh lễ vì ngài dâng lễ rất sốt sắng, tuy kéo dài tới hơn 2 tiếng đồng hồ. Ngài trả lời: “Đó là vĩnh cửu, giống như Chúa Kitô. Làm sao tôi giải nghĩa nổi.” Đức Kitô phục sinh cũng là vĩnh hằng, quyền phép vô biên, chúng ta không thể cắt nghĩa được. Nhưng chúng ta nhìn vào trong mồ trống và chúng ta tin. Ngài sống lại sáng láng hơn biến cố trên núi Tabor. Sáng láng không lưỡi nào tả xíêt như thánh Phaolô viết.

Nhưng Ngài cũng có thân xác loài người như chúng ta. Hy vọng của chúng ta là ở chỗ đó, cũng được phục sinh vinh hiển như Ngài. Ngài sẽ lên cùng Thiên Chúa Cha cũng là Thiên Chúa chúng ta, và thưa: “Con xin về cùng Cha, Con đã thắng trận, là người đầu tiên trong nhân loại sống lại để sống vĩnh cửu, là người đầu tiên trong tạo vật mới của Cha. Xin cha vui mừng với Con. Anh chị em con sẽ theo sau, từng người một trong đời sống đức tin vào Con. Cuối cùng tất cả đều sẽ trở về cùng Cha vinh hiển để sống muôn đời như con nay đang sống.”

Vậy hôm nay chúng ta nên nhập đoàn với các tông đồ khi họ nhìn vào ngôi mộ trống và với người môn đệ kia, chúng ta nhìn thấy cuộc sống mới: Cuộc sống của Đức Kitô Phục Sinh, đang thả rông khắp thế gian, không ai ngăn cản được nữa. Thiên hạ sẽ trông thấy rõ ràng khả năng biến đổi đời mình, biến đổi thế giới, đang sẵng sàng cho những ai đặt hết tin tưởng vào Đấng từ cõi chết sống lại. Amen. Alleluia.


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Sự kiện mộ trống
(Ga 20,1-9)

Chương trình Thiên Chúa cứu chuộc loài người được thực hiện nơi cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu. Tại sao lại dùng cái chết ? Chúng ta có thể trả lời : Không phải Thiên Chúa cần đến sự đau khổ của Chúa Giêsu như một hình phạt, thay thế cho hình phạt mà loài người đáng chịu, nhưng vì Thiên Chúa muốn Chúa Giêsu, con của Ngài, diễn tả tình yêu lớn lao đối với Thiên Chúa và đối với loài người. Nghĩa là với tư cách là trung gian giữa Thiên Chúa và loài người, Chúa Giêsu đền thay tội lỗi của loài người bằng cách ấy. Ngài đã chứng tỏ một tình yêu vô cùng lớn lao là yêu đến chết trên thập giá, đến thí mạng sống vì kẻ mình yêu thương.

Nhưng sự hy sinh lớn lao của Chúa Giêsu trên núi Sọ đã được Thiên Chúa đáp ứng. Thực vậy, mặc dầu người ta đã niêm phong ngôi mộ và cho lính canh gác cẩn thận, nhưng đến ngày thứ ba, tảng đá che cửa mộ đã bật tung ra, ngôi mộ trống rỗng, Thiên Chúa đã cho con của Ngài sống lại từ cõi chết và siêu tôn Người, như thánh Phao-lô đã viết : “Đức Kitô đã tự hạ sống phục tùng cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt hơn muôn ngàn danh hiệu, để vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong cõi âm ty, muôn vật phải bái quỳ cùng mở miệng tuyên xưng : Đức Giêsu là Chúa”.

Tin Mừng cho biết : sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, các bà đạo đức thân quen với Chúa, trong số đó có bà Maria Mác-đa-la, là người đầu tiên khám phá ra ngôi mộ trống, và cũng là người đầu tiên loan báo cho các tông đồ điều mà các Kitô hữu gọi là Tin Mừng Phục Sinh : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”. Thực chất lời ấy chỉ mô tả một sự kiện mộ trống. Vậy mà sự kiện ấy được mau chóng giải thích rất khác nhau : người thì nói các môn đệ Chúa tổ chức ăn cắp xác lúc lính canh ngủ; người thì cho rằng Đức Giêsu ở trong tình trạng hôn mê, chưa chết, nên đã tỉnh dậy do bị lạnh và ra khỏi mộ; người thì cho rằng cơn động đất đã nuốt Chúa vào lòng đất; người thì giải thích rằng các phụ nữ, các tông đồ đã “lộn mộ”, chôn ở một nơi nhưng đi tìm ở một nơi khác.

Phải chăng niềm tin Chúa sống lại không có cơ sở vững chắc ? Thưa niềm tin ấy rất vững chắc, vì không dựa trên hiện tượng mơ hồ : mộ trống, nhưng trên lời Chúa, hay đúng hơn, thấy lời Chúa được ứng nghiệm. Sự kiện ấy làm cho các tông đồ nhớ lại những lần Đức Giêsu nói tiên tri : “Con Người sẽ bị giết chết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại”. Lời ấy đã ứng nghiệm ở phần trước, nghĩa là các tông đồ đã chứng kiến tận mắt cuộc khổ hình của Chúa. Đức Giêsu đã thực sự chết và đã thực sự được chôn táng trong mộ. Đó là sự kiện không ai nghi ngờ, vậy giờ đây xác ấy không còn trong mộ, sự kiện ấy làm các tông đồ tin rằng lời Chúa đã được thực hiện cách trọn vẹn. Thực hiện ở phần trước : cuộc khổ nạn, và thực hiện ở phần sau : sống lại, nhờ đấu chỉ mộ trống. Nếu tách sự kiện mộ trống ra khỏi lời Chúa thì nguyên sự kiện ấy cũng không thể đưa tới niềm tin Đức Giêsu Kt-tô. Thế nhưng, vì các môn đệ đã từng chứng kiến lời Chúa đã được làm trọn nơi Đức Giêsu, thì chỉ cần một dấu chỉ (mộ trống) cũng đủ làm cho các ông tin lời Chúa vẫn tiếp tục được làm trọn.   

Đức Kitô phục sinh là trung tâm của niềm tin Kitô giáo và cũng là trung tâm của đời sống Kitô hữu. Thánh Phao-lô quả quyết : “Nếu Đức Kitô không sống lại thì tất cả lời rao giảng của tôi đều vô ích, và người Kitô hữu chân chính là người “vô phúc hơn hết mọi người”.

Tại sao vậy ? Chúng ta hiểu những lời đó thế nào ? Sự phục sinh của Đức Kitô không chỉ liên hệ đến cuộc đời Ngài, nhưng nó lại ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh của toàn thể nhân loại, cũng như ảnh hưởng mật thiết đến cuộc sống, đến lòng tin và niềm hy vọng của tất cả chúng ta. Thiên Chúa đã hy sinh chết thay để cho loài người được sống, không phải cuộc sống mau qua của đời tạm này mà là cuộc sống bất diệt trên cõi trường sinh. Sự sống lại của Chúa là bằng chứng cụ thể cho niềm tin đó, nghĩa là chúng ta tin Chúa sống lại là chúng ta tin chúng ta được cứu chuộc, bởi vì Chúa sống lại Chúa mới cứu chuộc được nhân loại, nếu như Ngài chết luôn thì Ngài không có quyền gì cứu chuộc chúng ta. Nhưng Ngài đã sống lại để chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa hằng sống và là nguồn sống, từ đó Ngài ban sự sống cho tất cả mọi người, ai tin vào Ngài thì được sống đời đời. Cũng thế, Chúa sống lại còn là niềm hy vọng cho chúng ta , tất cả chúng ta cũng sẽ sống lại, thân xác chúng ta sẽ sống lại. Do đó, đức tin của chúng ta vào Đức Kitô phục sinh không phải là điều hão huyền mà là một bảo đảm có giá trị to lớn, tuyệt vời. Cho nên việc Chúa sống lại là một niềm vui và cũng là một niềm hy vọng chắc chắn cho chúng ta. Chúng ta hãy quăng bỏ tất cả những gì là đau buồn, thất vọng, lo lắng; hãy đem tất cả những thứ đó xe kết lại làm bấc đốt nến phục sinh cho sáng niềm tin, để trong mọi cảnh ngộ chúng ta vẫn vui sống và sống hào hùng.

Niềm tin Đức Kitô phục sinh đã thúc đẩy các tông đồ ra đi làm chứng cho Chúa đến nỗi sẵn sàng làm chứng bằng cả mạng sống bất chấp mọi đe dọa, khủng bố, bách hại. Lời chứng ấy vẫn vang lên luôn mãi qua các thế hệ Kitô hữu suốt hai ngàn năm qua. Còn chúng ta hôm nay thì sao ? trong mỗi thánh lễ, chúng ta tung hô sau truyền phép : “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho đến khi Chúa đến”. Chúng ta tin trong lòng, chúng ta tuyên xưng ngoài miệng, và chúng ta biết rằng hiệu quả hơn chính là trong cuộc sống : cuộc sống vui mừng và hy vọng, cuộc sống bình an giữa những thử thách nghiệt ngã của cuộc đời. Đó là cách chúng ta diễn tả niềm tin Đức Kitô phục sinh trong hoàn cảnh hôm nay.


Đaminh Vũ Hà Tiên

CHÚA KITÔ PHỤC SINH LÀ LẼ SỐNG ĐỜI TA
Ga 20,1-9

Con người mọi thời đại đều mong ước được bất tử. Cùng với thời gian con người không ngừng tìm kiếm, phát minh nhằm bảo tồn sự sống. Cho đến nay, dù khoa học đã tiến bộ vượt bậc, đến nỗi con người có thể điều khiển phi thuyền bay lên mặt trăng, bay đến tận sao Kim sao Hỏa và có thể đến các vì sao khác xa hơn thái dương hệ, nhưng họ vẫn chịu khuất phục trước cái chết. Mọi người mong kéo dài được tuổi thọ, nhưng trong thực tế tất cả đều phải chết. Vì vậy, trong giới hạn nhận thức của con người cũng chẳng có sự sống lại. Theo Tin Mừng thánh Luca, khi nghe bà Maria Mác-đa-la và những người cùng đi với bà kể về ngôi mộ trống, các tông đồ đã cho rằng các bà nói những chuyện vớ vẩn nên chẳng tin!

Thế nhưng nhờ mạc khải, họ đã tuyên xưng Đức Kitô sống lại. Với thánh Gioan, ngôi mộ trống và các khăn niệm được xếp ngăn nắp, dấu chỉ giúp ông nhớ lại lời Kinh Thánh và ông đã tin Thầy mình sống lại. Còn những người khác; như bà Maria Mác-đa-la chỉ khi nghe tiếng Thầy gọi đúng tên của mình mới nhận ra Thầy; các môn đệ thấy Thầy hiện đến: chúc bình an, cùng ăn, cho xem các dấu đinh mới tin Thầy sống lại; Tôma còn cứng lòng hơn nữa: phải thấy, phải xỏ tay vào lỗ đinh ở chân tay Thầy mới tin. Còn chúng ta ngày nay, sự nghi ngờ của các tông đồ, lòng cứng tin của Tô-ma, giờ đây đã trở nên bằng chứng đầy thuyết phục đối với chúng ta, và chúng ta vinh dự được lãnh nhận niềm tin vào Đức Kitô phục sinh không phải bằng giác quan nhưng nhờ ân sủng: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,24).

Tin vào Đức Kitô phục sinh là lẽ sống trong cuộc đời mỗi chúng ta. Vì tin vào Đức Kitô phục sinh chúng ta không chỉ dừng lại để hưởng thụ sự sống thể lý mà là vượt qua cái chết để hưởng sự sống vĩnh cửu trên Thiên Đàng. Để hưởng trọn niềm vui vĩnh cửu ấy, chúng ta phải sống như thế nào trước những cám dỗ của thời đại ngày nay ?

Lạy Chúa Chúa Giêsu phục sinh,

Liệu chúng con có đủ can đảm để từ bỏ những của cải bất chính như Chúa đã từng từ bỏ vinh hoa, lợi lộc trần gian mà Satan hứa cho Ngài, nếu Ngài chịu quì lạy nó; Chúng con có đủ can đảm để tránh xa những tệ nạn xã hội, thú vui xác thịt dẫn đến hậu quả là những căn bệnh thời đại và tệ nạn nạo phá thai đang ở mức báo động; Hay chúng con có dám dành một ít thời gian vui chơi giải trí để thăm hỏi, an ủi những người đang sầu khổ, thất vọng hoặc để cầu nguyện với Chúa.

Lạy Đức Kitô phục sinh,

Dẫu biết rằng Ngài chiến thắng tội lỗi và sự chết là để mở ra cho chúng con đường vào lẽ sống mới, nhưng chúng con có mới được hay không, mới nhiều hay ít, mới trong hay ngoài là tùy thuộc vào tâm tình sống của chúng con đối với Ngài. Sẽ là đong đầy nếu chúng con biết dành cho Ngài một trái tim chân thành sẵn sàng dấn thân trước những lời gọi của Tin Mừng. Sẽ là ngọt ngào cuộc sống nếu chúng con biết gắn bó cùng Ngài vượt qua những nghịch cảnh cuộc sống. Và sẽ đi đến vô cùng của sự sống nếu chúng con biết dệt đời mình bằng những bước đi nhiệt thành tin yêu, dẫu cho ở đâu đó người ta vẫn cư xử với nhau bằng trái tim sỏi đá, hay vẫn còn hiện diện bên nhau bằng sự giả dối, xảo quyệt. Được như thế, niềm tin vào Đức Kitô phục sinh mới là lẽ sống cho chính chúng con và lẽ sống ấy đáng lan tỏa đến mọi người.

Lạy Chúa Kitô phục sinh,

Xin cho chúng con luôn biết dõi theo Ngài làm lẽ sống đời chúng con, để chúng con được tự do bay cao không bị nỗi sợ hãi của phận người chi phối; sợ thất bại, sợ đau khổ, sợ nhục nhã và sợ chết. Để chúng con nhận ra giá trị của cuộc đời và sống tận tình với Chúa và với mọi người. cho dù cuộc sống của chúng con có gặp nhiều những khó khăn ngang trái, thử thách, xin cho chúng con luôn can đảm chịu đựng và vượt qua để chúng con trở nên giống Chúa hơn. Amen.


Nguyễn Tương Như 

Ngàn Năm Một Thuở

Cách đây 4.500 năm pharaoh Khufu đã xây kim thự tháp Cheops. Từ lâu các nhà khoa học đã đau đầu về cách người ta nâng được 3 triệu tảng đá, mỗi tảng nặng đến 2,5 tấn, lên đúng vị trí của nó. Sau 8 năm nghiên cứu, kiến trúc sư Jean-Pierre Houdin đưa giả thuyết : ở độ cao 40 mét đầu tiên của kim tự tháp, những người thợ đã dựng một đường dốc ở bên ngoài để kéo đá. Nhưng sau đó, đường dốc lại được chuyển vào trong lòng kim tự tháp, theo hình xoắn ốc để hoàn tất cấu trúc cao 135 mét này.

Chẳng biết giả thuyết đó có đúng không ? Kim tự tháp vẫn còn đầy bí ẩn.

Nhưng kim tự tháp cũng chỉ là công trình của loài người. Công trình loài người còn bí ẩn như thế, làm sao hiểu nổi công trình Thiên Chúa thực hiện nơi Ðức Kitô phục sinh ? Phục sinh trở thành biến cố vượt ngoài sức tưởng tượng của con người. Mầu nhiệm càng dầy đặc khi con người tò mò muốn biết làm cách nào Thiên Chúa có thể phục sinh Con Người từ cõi chết.

Kinh nghiệm đó chính các tông đồ đã từng trải qua. Dù thuộc lòng Kinh thánh từ thuở nhỏ và được Thày tiên báo, các ông vẫn không hiểu ý nghĩa sự kiện “Ðức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết.” (Ga 20:9) Bà Maria Mácđala cũng không khá hơn. Bà hoảng hồn vì không thấy xác Chúa và chỉ biết thuật lại sự kiện cho các tông đồ (Ga 20:2). Nghe theo lời bà, hai ông Phêrô và Gioan đã chạy đến mồ để tìm hiểu sâu hơn và bình tĩnh hơn. Ông Phêrô đã bạo dạn chui hẳn vào trong mồ. Tiếp theo là bước chân ông Gioan với niềm tin bừng sáng trước mặt. Bao nhiêu ác mộng tiêu tan ! Từ nay, các ông xác tín vào Chúa Phục Sinh và đã lấy cả mạng sống trả giá cho niềm tin đó.

Niềm tin Phục Sinh bắt đầu từ “tảng đá đã lăn khỏi mộ,” (Ga 20: 1) mở đường cho Ðức Kitô vinh thắng. Mồ trống là dấu chỉ vương quốc tử thần đã tan hoang. Thần chết đã mất hết mãnh lực. Bởi đó, dù chỉ loan báo cho các tông đồ sự kiện mồ trống, bà Maria cũng xứng đáng là tông đồ của các tông đồ. Từ đó, các ông không những nhớ lại lời nói và việc làm đầy quyền uy của Ðức Giêsu, nhưng cả những đau khổ và cái chết của Người nữa. Chính ở chỗ bế tắc nhất và vô nghĩa nhất của kiếp người, Chúa đã tìm thấy con đường giải thoát cho toàn thể nhân loại.

Người vô tội nhưng đã được Chúa Cha sai đến “mang thân xác giống như thân xác tội lỗi” (Rm 8:3) và mặc lấy mọi chiều kích của thân phận con người. Nhờ vâng phục thánh ý Chúa Cha, Người đã biến cái chết thành của hiến lễ dâng tiến Chúa Cha. Chỉ vì muốn tỏ lòng thần phục và yêu thương Chúa Cha, Người đã chết để sống đời đời với Chúa Cha trong cõi vĩnh phúc. Chính Chúa Cha đã dùng quyền lực Thánh Linh phục sinh Người. Từ đó sự chết đã thay đổi hoàn toàn ý nghĩa. Sự chết trở thành dấu chỉ tình yêu Thiên Chúa đang hiện diện để cứu độ nhân loại.

Con Chúa trở thành nguồn ơn cứu độ loài người, thành nguyên ủy ban Thánh Linh nguồn sống, Ðấng dẫn đưa con người qua đau khổ và sự chết tới thừa hưởng sự sống vĩnh cửu với Người. Như thế, ánh sáng đem lại sự sống vĩnh hằng cho con người. Ðức tin đã sát nhập con người vào Ðức Kitô hằng sống. Sống trong Ðức Kitô, con người sẽ không bao giờ sợ bị án phạt đời đời. Cái chết làm cho con người nên giống Người và nên một với Người. Cái chết mở đường vào cõi sống vĩnh hằng. Chết trở hành phương tiện cứu độ.

Trên đường theo Ðức Kitô, con người đón nhận được sức mạnh của Chúa qua sự sống, cái chết và Phục sinh của Người. Con người tin chắc sẽ được biến đổi trong thân xác vinh quang của Người. Chết không phải là một sự đầu hàng hay thất bại, hủy diệt hay vĩnh viễn xa lìa Chúa Cha. Cái chết vén màn cho chúng ta thấy dung nhan Chúa Cha là Thiên Chúa tình yêu. Tình yêu bất tử. Sự chết như một chân trời chỉ giới hạn tầm nhìn con người. Xuyên qua cái chết, niềm tin cho ta thấy tất cả sự thật Chúa Cha mạc khải trong Ðức Kitô Phục sinh.

Phục sinh gởi một sứ điệp vừa cổ điển vừa hiện đại : Ðức Kitô không còn nằm trong quyền lực tử thần. Ngày nay, Kitô hữu được kêu gọi sống, công bố và chào mừng chiến thắng này. Bằng cách nào ? Họ phải chống lại mọi hình thức văn hóa sự chết và khủng bố đầy dẫy trong thế giới hôm nay. Ðể phục sinh, Chúa Kitô đã phải vác thập giá lên đồi Canvê. Chẳng lẽ muốn phục sinh nhân loại và dân tộc, người Kitô hữu lại ngồi lì trong nhà để thụ hưởng những bổng lộc và lễ nghi ? Không ! Chúa Kitô mời gọi họ vác thập giá theo Người. Không có con đường giải thoát nào khác ngoài thập giá Chúa Kitô.

Nếu Chúa cũng hoàn toàn im lặng trước những cơ chế bất công và quyền lực tối tăm, chắc chắn Chúa đã không làm chứng. Khi nào Chúa im lặng và khi nào Chúa cất tiếng nói ? Trong suốt cuộc khổ hình, Chúa Giêsu giữ thinh lặng một lần trước Thượng Hội Ðồng khi họ tố cáo và xuyên tạc những lời giảng của Người (Mc 14:61). Philatô rất ngạc nhiên khi thấy Chúa làm thinh trước cảnh các thượng tế và kỳ mục chống đối đòi lấy mạng Người (Mt 27:14; Mc 15:5). Nhưng Chúa không bao giờ thinh lặng khi cần phải xác định về bản tính và sứ mạng của mình. Chúa đã bị cơ chế bất công đẩy vào cõi chết để bịt miệng Người.

Ngày nay, khi thấy cảnh một linh mục kia bị bàn tay hộ pháp bịt miệng trước tòa án, nhiều người muốn xác định danh tánh người công an đó. Ðể làm gì vậy ? Ðiều đó có cần thiết không ? Sao không nhớ Chúa đã trả lời cho Philatô khi ông xưng hùng xưng bá để đe dọa Người : “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn.” (Ga 19:11) Can đảm chưa ?! Rõ ràng chưa ? Nếu không có cả một chế độ bao che, chắc chắn bàn tay hộ pháp đó cũng chẳng làm gì được !

Thú thật, không còn gì ý nghĩa và giá trị hơn khi thấy cảnh cha Nguyễn văn Lý bị bịt miệng và mang còng số 8 trước tòa án. Hình ảnh ấy đập vào mắt mọi người ngay trước Tuần Thánh 2007. Chưa bao giờ Tuần Thánh đầy ý nghĩa như vậy ! Phải cám ơn Nhà Nước Việt nam mới phải, vì họ đã đưa lên màn hình thế giới một cảnh tuyệt vời về thực trạng nhân quyền tại Việt nam và về một hiện thân Ðức Kitô giữa thời đại !

Hình ảnh ấy có giá trị hơn cả triệu bài viết về nhân quyền. Không cần nói nhiều nữa. Tất cả đã rõ ! Có thể chú thích dưới bức hình nổi tiếng đó như sau : “Không có gì quý hơn độc lập và tự do” hay “Việt nam bước vào sân chơi thế giới sau WTO.” Xưa nay, nhiều người cứ tưởng những người đấu tranh cho dân chủ quay lưng lại với dân tộc. Còn những người đấu tranh ở hải ngoại bị xếp vào nhóm cử tri lỗi thời. Những người chống Cộng không sao thuyết phục được giới trẻ hiểu về lý tưởng của mình. Hình ảnh đó đã đủ cho giới trẻ hải ngoại thấy rõ sự thật. Cám ơn Nhà Nước Việt nam đã tung ra một màn ngoạn mục giúp cho cả đạo lẫn đời hiểu rõ vấn đề ! Hình ảnh đó có sức phục sinh cả một dân tộc đang chết nhát trước bạo lực.

Niềm tin Phục Sinh làm sống lại một ký ức kinh hoàng về một thời đại hình như sự chết mạnh hơn sự sống. Theo chân Chúa, cha ông tử đạo chúng ta đã anh dũng đánh đổi mạng sống để dành lấy quyền tự do tôn giáo ! Các Thánh Tử Ðạo Việt nam đã từng là nạn nhân của những cơ chế bất công. Từ dưới những nấm mồ, các ngài vẫn còn lớn tiếng kêu gọi mọi người chú ý tới quyền tự do tôn giáo là quyền căn bản của con người.

Hơn ai hết, các vị lãnh đạo Giáo Hội đánh giá cao những hy sinh đó. Chẳng lẽ các vị tử đạo để được tôn kính trên những tòa cao chót vót với những nghi lễ rùm beng ? Hẳn các vị lãnh đạo còn nhớ lời thách thức của Giám Mục Nguyễn Kim Ðiền : có giám mục nào dám chết vì quyền làm người không ? Có Giám mục nào đã từng nhận được giải thưởng Rafto như Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ chưa ? Nhưng chắc chắn GHVN có hai giám mục Nguyễn Văn Sang và Bùi Tuần được Chủ tịch Nhà nước Nguyễn Minh Triết ban Huân Chương Đại Đoàn Kết Dân Tộc vào ngày 18-11-2006. Mỉa mai thay !

Thật vô cùng xấu hổ khi nhìn sang nước Zimbabwe, Phi châu. Giữa cảnh đàn áp bất công, Tổng Giám Mục Pius Ncube tố cáo : “Áp bức là tội lỗi và là điều không thể tương nhượng. Nó phải bị khuất phục.”(Liên Hội Đồng Giám Mục Phi Châu và Madagascar, viết tắt là SECAM) Người đã dẫn đầu đoàn biểu tình chống lại chính phủ chính quyền Mugabe . Có ai đặt vấn đề Giáo hội có được phép làm chính trị hay không đâu. Trái lại, Đức Tổng Giám Mục Ncube bày tỏ vui mừng vì sự ủng hộ của các Đức Giám Mục tại các nước Phi Châu dành cho chính nghĩa tự do dân chủ của người Zimbabwe là “chưa từng có.”

Làm sao có tự do dân chủ, nếu không mạnh dạn lên tiếng và dấn thân như Ðức Kitô ? Chúa nhật vừa qua, Đức Giáo Hoàng Bênêđict XVI mời gọi những người trẻ hãy can đảm chống lại bạo lực, dối trá và thối nát,1 Lời mời gọi này cũng dành cho tất cả những ai đang tha thiết với công cuộc tranh đấu cho tự do và quyền làm người. Những gì đụng tới con người là đụng tới Chúa Kitô. Không thể nhân danh lề luật để giết chết con người. “Ngày Sabát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sabát.” (Mc 2:27)


Lm. Jude Siciliano, OP

SỐNG TRONG NIỀM TIN
VƯỢT QUA SỰ CHẾT CỦA TỘI LỖI

Lc 24: 1-12

Bài Phúc Âm đêm vọng lễ Phục Sinh rất lạ, vì chúng ta thường nghĩ đi lễ để mừng sự sống lại. Nhưng thật ra bài Phúc âm lại không nói gì về sự sống lại cả. Đây là một bài nói về sự mất mát, sự bối rối, do lời của hai người mặc quần áo chói lòa, do lời nói của vài phụ nữ với 11 môn đệ, sự ngạc nhiên của 11 môn đệ và của Phêrô khi nhìn vào mộ trống.

Trong giáo xứ chúng tôi, phải mất nhiều thì giờ và công sức đón mừng đêm vọng lễ Phục Sinh. Trong các giáo xứ tôi đã đi giảng tỉnh tâm mùa chay năm nay, các ban phụng vụ và nhạc đoàn đã sẵn sàng đâu vào đấy cho đêm vọng Phục Sinh. Nếu bạn hỏi nhỏ đã soạn những gì, họ sẽ trả lời là họ soạn một đêm vui mừng Chúa sống lại. Việc sửa soạn cẩn thận của họ chắc sẽ làm cho cộng đoàn giáo dân hăng hái cầu nguyện sốt sắng hơn.

Vậy sao bài phúc âm không trình bày câu chuyện cho rõ ràng hơn, và hợp với tất cả các sửa soạn nói trên. Anh chị em nghĩ sao? Có lẽ do các phụ nữ, 11 môn đệ và Phêrô làm chúng ta nghĩ đến đêm hôm nay khi chúng ta cùng với các phụ nữ và Phêrô nhìn vào ngôi mộ trống. Chúng ta nghe lời khuyên của hai người mặc áo trắng nói với các phụ nữ ở mộ “hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà”. Hai người đó nhắc đến lời Chúa Giêsu nói trước về sự thương khó và sự sống lại của Ngài. Chúa Giêsu đã đến với chúng ta trong sự chết của chúng ta; Ngài đã đi đến tận nấm mồ với chúng ta.

Nhưng, hai người mặc áo trắng sáng còn muốn các phụ nữ và các ông nhớ lại nhiều hơn. Họ phải nhớ lại và đặt niềm tin vào lời hứa của Chúa Giêsu là Ngài sẽ sống lại. Sự sống lại sẽ kế tiếp theo những đau khổ của sự thương khó… và sự chết. Sau khi các môn đệ thấy sự đau khổ tột cùng của Chúa Giêsu và sự chết của ngài, thật khó mà nhớ đến lời hứa về sự sống lại. Chúng ta cũng vậy. Sau những đau khổ và những ngôi mộ trống mà chúng ta nhìn thấy, thật là khó cho chúng ta để nhớ đến sự sống lại.

Cách đây vài năm, trong Tuần Thánh, lúc nử̃a đêm, tôi được một cú điện thoại của một người bạn. Do khoảng 25 năm về trước tôi có gặp bà ta khi người chồng bà ta 52 tuổi ở bệnh viện vào lúc người ta đã tắt các máy trợ sinh. Bà ta nuôi 3 đứa con một mình. Và bà gọi tôi lúc đó để báo tin người con 48 tuổi đột tử trong lúc đang nói chuyện với vợ. Tôi vội đến nhà bà ta để thăm và tôi ngồi bên cạnh Bà đang nức nở khóc. Bà ta nói “Thật là quá đáng cho con, con có thể chịu đựng sự chết của chồng con, nhưng giờ đây thì thật là quá đáng cho con !” Bà ta than vãn rất đau đớn và trách móc Chúa. Trong những trường hợp đau khổ lớn như thế, bà ta cảm thấy đức tin đang bị thử thách. Bà nắm trong tay một cây thánh giá bằng lá dừa con bà cho bà ngày lễ lá trước đó. Ai có thể nói gì với bà được ? Rồi bà nắm tay người khác, mân mê cây thánh giá bằng lá, và nhìn xuống đất trước mặt chúng tôi. Bà cố gắng nhớ lại đức tin của mình, cố gắng đặt niềm hy vọng vào lời Chúa hứa sẽ cho con bà sống lại với Chúa Kitô. Chúng tôi cũng như hai người ở mồ chúa Giêsu cố gắng “nhớ lại”. Tôi có cảm tưởng như chúng tôi đang nhìn vào ngôi mộ trống mà không cảm thấy chút nào bớt nỗi đau đớn. Tôi chắc đó là cảm tưởng của các môn đệ ngay sau khi Chúa Giêsu vừa chịu chết thãm và chịu mai táng. Nói gì bây giờ? Làm gì bây giờ? Chúng ta vẫn thấy bị thất bại nặng nề vì kẻ thù.

Trong ngôi mộ tối đen. Và có ai chưa nhìn vào cõi u tối với nhiều đớn đau đâu? Ngay cả khi một người lớn tuổi qua đời cũng làm cho chúng ta đặt nhiều dấu hỏi khi nhìn vào ngôi mộ. Chúng ta cũng biết nhiều ngôi mộ khác như: ngôi mộ của sự tan vỡ hôn phối; ngôi mộ của sự bội phản của bạn thân; ngôi mộ của sự thất bại trong một chương trình; ngôi mộ của những mơ ước bị thất bại; ngôi mộ của bệnh hoạn lâu dài v.v… Và khi nhìn vào những mộ đó, chúng ta khóc, và tự hỏi trong ước vọng: Có cách nào để kéo lại thời gian của những ngày vui trước đây chăng.

Các phụ nữ đến ngôi mộ để ướp xác Chúa Giêsu theo thủ tục địa phương, và đó là dịp chia tay cuối cùng. Đó là việc thường làm đối với người họ thân thương. Họ còn làm gì nữa được? Bà Maria Magdala cũng có đó. Câu chuyện kể trong phúc âm cho biết là Chúa Giêsu đã thay đổi đời bà. Bà ta không phải là người đàn điếm mà người ta gán cho bà. Nhưng bà đã gặp khó khăn và Chúa Giêsu đã thay đổi đời bà. Thánh Luca nói khi bà và các phụ nữ khác đến thấy ngôi mộ trống không họ “phân vân”. Luca là một nhà thơ, nên Luca viết lúc đó trời vừa rạng sáng ngày đầu tiên trong tuần. Có chuyện gì sẽ xảy đến với các bà này. Có ai sẽ thay đổi đời sống họ. Nhưng không xảy ra ngay đâu. Cũng như chúng ta, họ sẽ phải đợi, và lúc chờ đợi đó mới là lúc khó khăn vô cùng.

Ngôi mộ trống chẳng có ý nghĩa gì. Chỉ là sự trống không. Hãy nhìn vào ngôi mồ đó với các phụ nữ, với bà bạn tôi kể trên có người con vừa bị đột tử. Chúng ta hãy mang đến ngôi mộ trống không ấy tất cả những gì chúng ta đã mất đi trong đời sống chúng ta. Chúng ta không nhìn thấy Chúa Kitô sống lại. Chúng ta không thấy người chết đang sung sướng hưởng đời sống sau với các người thân thương của chúng ta. Ngôi mộ trống không chứng tỏ gì cho các phụ nữ và bà Maria. Nhưng ngôi mộ trống có ý nghĩa mà chỉ có đức tin mới cho chúng ta biết. Hai người đàn ông ở mộ không chứng tỏ về sự sống lại của Chúa Giêsu. Nhưng họ nói “hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà”. Chúa Giêsu có ý nghĩa gì đối với chúng ta. Ngài đã thay đổi đời sống chúng ta, và đứng bên cạnh những ngôi mộ của chúng ta, chúng ta “nhớ” Chúa Giêsu.

Chúng ta “nhớ” đức tin chúng ta đặt vào Chúa Kitô sống lại bởi sự chết, làm chúng ta thêm can đảm thắng những sự dữ trong đời chúng ta, giúp chúng ta tiếp tục cố gắng làm những gì để sự sống nước trời được thực hiện trong đời sống chúng ta, và giúp chúng ta không chán nản vì sự thay đổi chậm trễ trong đời sống chúng ta và đời sống kẻ khác. Chúng ta nhớ lời Chúa Giêsu khi chúng ta được tin buồn, và khi chúng ta nhìn ngôi mộ của sự chán nản và thất bại: “Tất cả, những ai gánh vác nặng nề, và mang gánh nặng, hãy đến với Ta, và Ta sẽ cho các ngươi nghỉ mệt”. “Đây là mình Ta đã bẻ ra cho các người” “Phúc cho những ai có lòng khó khăn, vì nước trời là của họ”. Chúng ta nhìn vào ngôi mộ trống không với các phụ nữ, và chúng ta nghe lời khuyên bảo của hai người đàn ông mặc áo chói lóa ở đó. Chúng ta nhớ lời Chúa Giêsu nói. Lời Chúa và Bí Tích Thánh Thể là lương thực hàng ngày, là của ăn đường giúp chúng ta sống như lời nói trong phụng vụ ngày hôm nay “chúng ta vui mừng chờ đợi ngày Đức Giêsu Kitô đến”.


Lm. Jude Siciliano, OP
(
FX Trọng Yên, OP chuyển ngữ)

Tình Yêu Khơi Nên Hy Vọng Phục Sinh
Ga: 20: 1-9

Người “môn đệ Chúa yêu” đóng một vai trò quan trọng trong bài Tin Mừng hôm nay. Nhưng đây không phải là lần đầu người môn đệ này xuất hiện trong Tin Mừng Gioan. Ông không chỉ xuất hiện trong trình thuật nói về ngôi mộ trống, thấy vải liệm được cuốn lại và tin. Ông còn có một lai lịch và chính điều này giúp ông tin ngay lập tức khi nhìn vào ngôi mộ trống. Hẳn chúng ta vẫn nhớ hình ảnh ông dưới chân thập giá khi Đức Giêsu bị đóng đinh đã tin tưởng và trao phó thân mẫu của Người cho ông săn sóc. Ông đã ngồi sát bên Đức Giêsu trong Bữa Tiệc Ly và cùng với Phêrô, ông nhận tin báo của Maria Mác-đa-la về ngôi mộ trống.

Bà Maria nghĩ rằng thân xác Đức Giêsu đã bị người ta lấy mất, một kết luận hết sức hợp lý đối với nhiều người chúng ta. Không một ai chờ đợi sự phục sinh! Khi nhận được tin của Maria, người môn đệ được yêu đã chạy tới mộ nhanh hơn cả Phêrô, nhìn vào trong và thấy khăn liệm được xếp gọn gàng. Mặc dù việc khăn liệm được xếp gọn gàng là bằng cớ loại bỏ khả năng thân xác Đức Giêsu bị ăn trộm, nhưng đây vẫn không phải là bằng chứng về sự sống lại. Niềm tin vào sự phục sinh không dựa trên những gì người ta có thể thấy và đo đếm. Người môn đệ này đã không dùng những lý lẽ hay khả năng loại suy để đi đến việc tin. Phải có một điều gì khác nữa, đúng hơn, Một Ai khác.

Người môn đệ này được gọi là “Người môn đệ được Chúa yêu.”

Tin Mừng thậm chí cũng không nói với chúng ta là người môn đệ này có nét đặc trưng khác với mọi người bởi có một tình yêu khác thường dành cho Đức Giêsu, một tình yêu lớn hơn tình yêu của các môn đệ khác. Tình yêu của ông dành cho Đức Giêsu như thế nào, chúng ta không hề biết. Chỉ biết rằng ông là người môn đệ được Chúa yêu. Đúng hơn, ông có được vị trí được ưu ái này là do tình yêu của Đức Giêsu dành cho ông. (chúng ta xem như người môn đệ này là một người nam. Điều chúng ta khám phá được về người môn đệ này chính là tước hiệu “người môn đệ được Chúa yêu” có thể áp dụng cho bất cứ ai trong chúng ta – cả nam lẫn nữ.)

Vậy thì, đâu là kinh nghiệm được yêu giúp hình thành niềm tin nơi người môn đệ này? Để biết mình không được yêu không phải chỉ là công việc của cái đầu, một sự kiện để suy tư thuần lý. Nó là một “sự kiện” lan toả khắp mọi phần thân thể, nghĩa là họ phải cảm nghiệm bằng cả con người. Toàn thể hiện hữu của chúng ta sẽ trở nên sinh động hơn trong sự ấm áp và đượm nồng của tình yêu. Người môn đệ được yêu biết rõ tình yêu của Đức Kitô và, mặc dầu rõ ràng biết Đức Giêsu đã chết và được mai táng, một cách nào đó ông vẫn tiếp tục cảm nghiệm tình yêu của Ngài. Đấng đã yêu ông vẫn còn yêu ông mãi – Ngài vẫn còn sống, bất chấp những gì đã xảy ra trên cây thập giá mà ông thấy. Cho nên, điều khiến cho ông tin không chỉ là những mảnh vải liệm được xếp gọn gàng, mà chính là tình yêu, một tình yêu mãnh liệt ông vẫn luôn cảm nghiệm. Đó ắt phải là một tình yêu diệu kỳ vượt trên tất cả. Bởi lẽ, ông được biết như là “người môn đệ Đức Giêsu yêu” mà. Kinh nghiệm trước tiên của chúng ta với tư cách là những môn đệ là chúng ta được yêu với một tình yêu mãnh liệt hơn cả sự chết. Chúng ta tin trong sự lan toả của tình yêu đó và xác tín rằng không chi có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Đức Kitô dành cho chúng ta. Ngay cả tội lỗi và cái chết cũng không thể.

Vì chúng ta vẫn luôn ý thức sâu sắc về tình yêu của Đức Giêsu dành cho chúng ta và tình yêu chúng ta dành cho Ngài, chúng ta cũng tin vào sự phục sinh. Ngài vẫn còn sống và chính tình yêu chúng ta vẫn đang cảm nghiệm khẳng định điều đó. Chúng ta tin rằng chúng ta vẫn đang được ôm ấp trong tình yêu kỳ diệu này –chúng ta đang được hưởng sự sống đời đời, cả khi chết và sau cái chết.

 Vậy chẳng phải là chúng ta sẽ sống mãi sao?

Nó có nghĩa là ngay tại đây và lúc này cái chết không có quyền gì trên chúng ta. Chúng ta đã được biết đến một sự sống được tái sinh. Sự sống chúng ta được hưởng trong Đức Kitô. Trong Tin Mừng Gioan, thấy là thấy bằng con mắt đức tin. Cùng với người môn đệ Chúa yêu chúng ta cũng “thấy và tin.”

Chẳng phải mỗi người chúng ta vẫn nhìn vào một ngôi mộ dạng này hay dạng khác sao? Khi nhìn vào như vậy, chúng ta có khi nào bị cám dỗ không tin chưa? Chúng ta vẫn thấy cái chết và những thi hài: trong bản tin buổi chiều, trên internet, hay báo đài…

Có nhiều bằng chứng cụ thể chống lại niềm tin của chúng ta nơi sự mạnh mẽ của tình yêu trổi vượt trên cái chết. Nơi ngôi mộ trống, người môn đệ biết tình yêu của Thầy mình, vậy thì ngày nay tình yêu đó ở đâu nơi đời sống của rất nhiều người đang sống trong cảnh tuyệt vọng. Chắc chắn họ không thể cảm nghiệm được tình yêu đó dưới bàn tay của các chế độ độc tài, các chính phủ thối nát, hủ bại, các cuộc xung đột sắc tộc và các nhóm tôn giáo, các tập đoàn quốc tế đến chiếm đất và tài nguyên của họ… Ngay cả rất nhiều người trong chúng ta, những con người đang chịu cảnh thất nghiệp, bạo lực, bất công cũng không đủ tự tin để nói rằng mình vẫn được yêu.

Qua đời sống của Đức Giêsu, chúng ta đã nhận biết tình yêu nhưng không của Thiên Chúa dành cho chúng ta và giờ đây có thêm cơ hội được củng cố trong tình yêu đó nơi bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta phải ý thức rằng đã đến lượt chúng ta phải đặt thịt máu mình vào tình yêu – như Thiên Chúa đã làm cho chúng ta trong Đức Kitô. Giờ đây chúng ta rời khỏi ngôi mộ trống, nhìn và mang theo những gì mình tin – Chúng ta được Thiên Chúa yêu thương. Nhưng chúng ta phải tự vấn rằng : liệu nhận thức đó sẽ ảnh hưởng thế nào tới cách chúng ta đối xử với người khác? Liệu lời nói và việc làm của chúng ta có giúp họ nhận ra Thiên Chúa yêu họ biết bao không?

Chẳng phải qua việc chúng ta tha thứ cho họ, băng bó vết thương cho họ sao? Chẳng phải đó là việc chúng ta đồng hành với họ khi họ bị lạm dụng hay bị lợi dụng sao? Chẳng phải việc chúng ta chia buồn với họ bên mộ phần người thân của họ sao? Chẳng phải đó là việc đến chăm nom và trợ giúp khi những người khác bỏ rơi không quan tâm, săn sóc họ sao?

Nơi ngôi mộ trống, nhìn vào những hệ luỵ sau cái chết, đường như Đức Giêsu luôn vắng mặt: khi kế hoạch của chúng ta thất bại, tương quan bị mất, sự sống đang rời bỏ chúng ta từng ngày, bệnh tật thắng thế, hôn nhân đổ vỡ… Những ngôi mộ của sự chết và thối nát ra như luôn đeo bám ta suốt cuộc đời và luôn chiếm ưu thế. Nhưng ngôi mộ của Đức Giêsu không chứa đựng sự chết và hư hoại – Nó là một ngôi mộ trống. Đối với các tín hữu, ngôi mộ trống là một dấu hiệu tràn đầy hy vọng và hứa hẹn. Nơi ngôi mộ trống của Đức Giêsu, có nhiều điều mà mắt thường không thấy: các môn đệ được yêu là những người thấy bằng con mắt đức tin, đã tin và rời khỏi ngôi mộ để sống trong một niềm hy vọng và một tình yêu thực hành.

Chúng ta đừng quên Phêrô. Bài đọc trong sách Công Vụ Tông Đồ hôm nay chỉ là một phần trong bài giảng quan trọng của ngài. Thánh Luca dành khá nhiều không gian cho bài diễn từ này (10,1–11,8) như thể để nhấn mạnh tầm quan trọng của nó. Bài đọc hôm nay cho thấy cách rõ ràng việc Phêrô tuyên xưng đức tin ở nhà ông Co-nê-li-ô. Co-nê-li-ô và mọi người nhà của ông đều là dân ngoại và sắp được lãnh phép rửa. Phêrô đang đáp lại lời chăn trối của Đức Giêsu trước lúc ra đi trong Tin Mừng Luca, tin mừng phải được loan báo cho hết mọi dân nước ( 24, 47-49).

Phêrô đang bày tỏ những thay đổi sự kiện phục sinh tạo ra nơi ông và cộng đoàn các tín hữu tiên khởi. Sự hiểu biết của ông về Thiên Chúa ngày càng gia tăng. Giờ đây ông nhận ra rằng sứ điệp cứu độ luôn mở rộng với những ai “làm chứng” Đức Giêsu là “Đấng được Thiên Chúa chỉ định làm Đấng xét xử kẻ sống và kẻ chết.” Phêrô và các tín hữu tiên khởi đi đến nhận thức rằng Đức Giêsu là Đấng cứu độ phổ quát: Một dấu hiệu của tình yêu Thiên Chúa dành cho tất cả mọi người, cho dù họ có khác biệt và cách xa với Phêrô và công đoàn tín hữu nguyên thuỷ bao nhiêu đi nữa.

Phêrô cho thấy ông tin vào sứ điệp này và mong muốn công bố cho mọi người. Vậy thì điều gì đã tiếp thêm sự can đảm cho Phêrô để ông nói một cách đầy uy quyền về sự thành toàn của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu? Làm sao ông có thể đoan chắc rằng Thiên Chúa muốn vượt ra ngoài dân được chọn để đến với “mọi dân nước”? Ông không trưng dẫn bất cứ “bản băn làm bằng chứng” nào từ truyền thống. Thay vào đó, ông khẳng định vai trò chứng nhân, “người được Thiên Chúa chọn trước, cùng ăn cùng uống với Đức Giêsu sau khi Người trỗi dậy từ cõi chết.” Ông là một chứng nhân, đã làm chứng cho điều chính bản thân ông cảm nghiệm.

Thế còn ông Co-nê-li-ô, gia đình và các thế hệ con cháu của những người được rửa tội thì sao? Chẳng phải họ không chia sẻ kinh nghiệm của Phêrô; họ không phải là những chứng nhân mắt thấy tai nghe sao? Qua việc đón nhận lời chứng của Phêrô, họ đã trở thành thế hệ Kitô hữu đầu tiên, chứ không phải thứ hai. Như chúng ta vẫn nói, “Thiên Chúa không có cháu.” Những ai tin thì thuộc về thế hệ Kitô hữu đầu tiên, chúng ta là con cái Thiên Chúa, được sinh ra nhờ nước qua Thánh Thần. Chúng ta cũng là những Kitô hữu chính thống như Phêrô, người môn đệ Chúa yêu và cộng đoàn những người đầu tiên cảm nghiệm Đức Kitô Phục Sinh.

Vì lời chứng chúng ta nghe đến từ những người làm chứng cho sự phục sinh, chúng ta cũng cần nhìn vào ngôi mộ trống, “để thấy và tin.” Chính đôi mắt và đôi tai chúng ta phải được mở ra để ta có thể nhận biết Đức Kitô Phục Sinh ngay trong cuộc đời mỗi người chúng ta.

Giờ đây, chúng ta trở thành những chứng nhân, chúng ta sẽ diễn tả những chứng từ mà bản thân kinh nghiệm về sự phục sinh như thế nào đây? Chính là qua việc trao ban những gì chúng ta đã đón nhận, đó là trao ban sự tha thứ và tình yêu cho những ai chưa tìm thấy. 

Lm. Jude Siciliano, OP.  (Anh Em Nhà Học Đaminh Gò Vấp chuyển ngữ.)

 

Sẵn sàng sống niềm tin của mình

Cv 10, 34a, 37-43; Tv 118; Cl 3, 1-4; Ga 20, 1-9

 

Kính thưa quý vị,

Bắt đầu với những bối rối, thắc mắc chẳng hạn như: “đều gì sẻ xảy ra nếu..”, hay sự phấn chấn: “điều đó có thật không?” “Đáng tin không,” “Chưa bao giờ nghe một sự việc như thế,” “Có thể chứ,” “Thật quá tốt nếu điều đó là sự thật,” “Có người nói,” “Chính tôi tận mắt thấy Người!” “Hãy sờ vào đây,” “Tôi tin,” “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của tôi!” Thế quý vị đã nghe bao giờ những câu trả lời nào khác về sự Phục sinh chưa?

Chưa từng có ai nói rằng tin vào sự phục sinh là điều dễ dàng. Trước đây, chưa ai nói thế, bây giờ cũng vậy. Có những câu chuyện nói về ngôi mộ trống và những câu chuyện khác thì nói về việc hiện ra của Đức Kitô. Thậm chí trong những câu chuyện này mặc dù về tổng thể giống nhau nhưng lại khác nhau về các chi tiết. Tại sao Giáo hội sơ khai không thanh minh cho rõ ràng những câu chuyện này? Sao không sắp xếp những chi tiết cho trùng khớp với nhau? Và sau hết, chúng ta cần ủng hộ niềm tin này tựa như chúng ta tìm cách thuyết phục người khác rằng Chúa Kitô đang sống. Điều này thực sự giúp ích nhiều để làm cho các câu chuyện rõ ràng hơn ngõ hầu củng cố cho hoàn cảnh của chúng ta bây giờ. Ngoài ra, bài Tin mừng hôm nay là bài bất thường dành cho Chúa nhật Phục Sinh khi nhà thờ chật cứng người, với cả những người hiếm khi tham dự thánh lễ, những gương mặt quen thuộc, hoặc những người mà chúng ta có thể nhận ra đã từng cùng xếp hàng tính tiến trong siêu thị nhưng chưa bao giờ gặp thấy ngồi trong nhà thờ.

Sao chúng ta không kiếm những bài đọc nói về ánh sáng, với nhiều hình ảnh hơn hoặc có những thiên thần thổi kèn để đọc vào Chúa Nhật Phục Sinh? Thay vào đó, những gì mà hôm nay chúng ta có là tin buồn của bà Maria báo cho các môn đệ rằng, xác của Chúa Giêsu đã bị đánh cắp, ông Phêrô cùng một “môn đệ khác” chạy bộ đến nơi ngôi mộ trống. Cụm từ “người môn đệ kia” đến sau ông Phêrô, “thấy và tin.” Tất cả dữ kiện đó nói lên điều gì? Đó chính là ngày Chúa Nhật Phục Sinh và thậm chí chúng ta cũng chẳng có trình thuật nào về việc hiện ra! Phàn nàn thế là đủ – hãy nhìn xem những gì chúng ta đã có.

Chắc rằng nhiều người ở đây được lớn lên trong những gia đình lao động vất vả. Chúng ta sớm biết được những việc cần phải làm, những gì cần phải sửa khi nó bị hỏng, biết hoàn thành những gì mà chúng ta đã khởi sự. Chúng ta có thể tỏ ra tự hào với những công việc mà mình đã làm được trong quãng đời của mình. Nhưng chúng ta lại không khoe khoang về những điều chưa thực hiện được như: sự thất vọng hay những bề bộn mà chúng ta đã gây ra trong các mối quan hệ; những dự án đã khởi sự, nhưng không bao giờ hoàn thành và những thăng trầm trong niềm tin của mình.

Hôm nay, chúng ta cần dừng lại đôi chút. Thay vì xắn tay áo lên để giải quyết phần kết cục của trình thuật hôm nay còn lỏng lẻo, thì chúng ta cứ để nó như thế. Đừng lo lắng gì, chúng ta không nên thụ động; song cũng đừng dập tắt khả năng suy tư của mình. Nhưng hãy cố gắng, ít nhất là hôm nay, để cho mầu nhiệm Phục Sinh đi vào cuộc đời ta. Đơn giản là đón nhận và để cho nỗi hoang mang và sức mạnh của ngày hôm nay hoạt động trong chúng ta. Sau hết, thậm chí với tất cả sự nghi ngờ, thì trọng tâm của điều này là, chúng ta vẫn là những tín hữu. Chúng ta thưa lời “Amen” [xác tín] trong kinh Tin Kính của các Tông Đồ có đoạn nói rằng: “Ngày thứ ba Người sống lại từ trong kẻ chết.” Ngày hôm nay, dù có là những người thành đạt đi chăng nữa thì cta cũng không thể tạo ra một câu xác tín nào khác tinh tế hoặc hợp lý hơn thế. Hãy để cho ngày lễ hôm nay hoạt động và định hình rõ trong ta.

Chúng ta đón mừng Chúa Kitô phục sinh bằng cách khép lại cánh cửa của quá khứ, khép lại những gì là thương tích, đổ vỡ và bất toàn. Hãy để cho Chúa Kitô Phục Sinh thực hiện những gì mà ta làm chưa tốt. Chúng ta mở cửa đón Chúa Kitô để Người tạo nên một mái ấm trong những nơi chốn và những ký ức khơi nên sự đau khổ, xấu hổ và tuyệt vọng. Hôm nay, hãy để cho ngày lễ này trở thành phương dược chữa trị, khôi phục và hồi sinh sự sống trong chúng ta.

Liệu chúng ta có nói rằng lý do mà ta có câu chuyện “ngôi mộ trống” hôm nay là để nhắc nhở rằng Chúa Kitô không có trong mồ, và khép lại câu chuyện lịch sử cách đây 20 thế kỷ hay không? Chúa Kitô đang sống trong mỗi người. Ngôi mộ không thể nắm giữ Người, và chúng ta cũng thế. Hãy trải thảm chào mừng, mở cánh cửa ra, để đón một đời sống mới. Bây giờ chúng ta bắt đầu lại tất cả. Hãy quên quá khứ đi; nó đã qua rồi và và đã được thứ tha. Nay chúng ta là những môn đệ của Chúa Kitô thì hãy bỏ lại tất cả để đi theo ánh sáng và chia sẻ Tin mừng, “Chúa Kitô đã sống lại, Chúa Kitô đã sống lại thật rồi!” Bà Maria Mađalêna ra đi với ngôi mộ khép kín cửa. Bà vẫn bị khóa chặt với ký ức còn rất mới về cái chết của Chúa Kitô. Bà đến để làm điều cần làm: khóc than và dành chút thời gian ở bên người mà bà yêu mến, giờ đang nằm bất động trong mộ phần. Chúng ta cũng đến nhà thờ với cùng một cách thức; bị khóa chặt với quá khứ “nếu mà” hay “giá như.” Chúng ta muốn tìm đến ân sủng, xóa sạch tất cả và tiếp tục sống cuộc đời của mình. Chúng ta có thể vất bỏ những dụng cụ vệ sinh lau chùi, xô chậu và găng tay. Giờ đây, ta biết rằng mình chỉ có thể tự làm cho mọi sự mới mẻ và đẹp đẽ hơn một chút, nhưng không thể tạo ra được một đời sống mới nơi thân xác đã chết đi. Hãy để cho ngày lễ này tẩy rửa chúng ta. Hãy bỏ đi những nghi ngờ, lo lắng, thắc mắc, và cố gắng hết mình để loại trừ bao trăn trở trong lòng. Chúng ta mở rộng đôi tai để lắng nghe Tin mừng mà thánh Phaolô đã công bố trong thư gởi tín hữu Côlôsê: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô.” Nơi đây, Đức Kitô phục sinh đang ở giữa chúng ta: nơi cộng đoàn hội họp nhau nhân danh Người; trong Lời được công bố và trong bánh và rượu mà chúng ta cùng chia sẻ.

Nếu đã hiện diện trong suốt Tuần Thánh đầu tiên, chúng ta hẳn đã cố gắng để “sửa đổi cho đúng.” Những người ngày ấy và chúng ta bây giờ cũng không thể làm điều gì khác. Những hoang mang, loa lắng và rúng động từ các môn đệ cũng đã tràn vào tất cả mọi người chúng ta. Các môn đệ và chúng ta đã nhận ra điều đó, mặc dù những sự việc đó không diễn ra như cách chúng ta mong đợi, nhưng sau cùng Thiên Chúa đã chiến thắng và làm cho Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết. Ngôi mộ giờ đây trống rỗng, vì Người đã sống lại, sống ở giữa chúng ta và cho chúng ta đời sống mới. Chúng ta có thể hành động cách khác, nhưng Thiên Chúa lại có những kế hoạch khác. Nào hãy ca tụng Chúa.

Trong bài Tin mừng hôm nay, bà Maria Mađalêna đã bắt đầu hành động. Bà chạy đến ông Simon Phêrô và đến với người môn đệ được Đức Giêsu thương mến để thuật lại việc xác của Chúa Giêsu bị đánh cắp. Bà ra khỏi khung cảnh kế tiếp vì thế chúng ta có thể tập trung vào ông Phêrô và người môn đệ kia. Nhưng sau đó, bà Maria quay trở lại cùng với Đức Kitô phục sinh, Người mà bà gặp trong khu vườn gần ngôi mộ. “Người môn đệ khác” đã thấy gì và liệu ông có tin khi nhìn vào ngôi mộ trống hay không? Khác với Phêrô, người đã chối Đức Giêsu, người môn đệ này ở lại với Người: trong bữa Tiệc Ly ông lại tựa đầu vào ngực Đức Giêsu; ông ở lại với Đức Giêsu trong khi Người hấp hối trên thập giá và ông là người mà Đức Giêsu tin tưởng trao phó mẹ của Người cho để chăm sóc.

Người môn đệ được Đức Giêsu yêu mến không cần nhiều bằng chứng để tin: chỉ cần thấy khăn liệm được cuốn lại và chiếc khăn phủ trên đầu Đức Giêsu. Ông sẽ làm gì với niềm tin này? Lúc này, Chúa Giêsu chưa hiện ra với bà Maria Mađalêna và các môn đệ khác. Họ chưa gặp Đức Kitô phục sinh; Người cũng chưa thổi Thần Khí trên họ và chưa sai họ đi làm chứng.

 “Chứng nhân” là một lối diễn tả trọng yếu trong Tân Ước. Trong bài đọc một, ông Phêrô, nói thay cho những người tin, tuyên bố rằng: “Chúng tôi là những chứng nhân về tất cả những gì mà Người đã thực hiện…” Đó là mối tương quan của chúng ta hiện nay với Chúa Kitô phục sinh– trở thành chứng nhân. Kinh thánh cho biết về thế hệ những chứng nhân đầu tiên của sự phục sinh. Bây giờ đến lượt chúng ta. Khi chúng ta được rửa tội thì cha mẹ và người đỡ đầu được hướng dẫn để làm chứng cho niềm tin Kitô giáo mà họ đã tin, vì thế chúng ta cũng sẽ tin như vậy. Bây giờ chúng ta là những chứng nhân cho Chúa Kitô bằng lời nói và gương lành. Chứng nhân của một tín hữu trong những hoàn cảnh như phiên tòa, sự cám dỗ và phục vụ yêu thương có thể là một lời giảng hùng hồn với người khác rằng Chúa Kitô không còn trong ngôi mộ nữa – đó chỉ là ngôi mộ trống. Người đang sống và đang ban Thần Khí giữa chúng ta. Thời Giáo hội sơ khai, từ “chứng nhân” cùng nghĩa với “làm chứng” [tử đạo]. Việc làm chứng công khai về Chúa Kitô cũng có nghĩa là sẵn sàng chịu đau khổ cho niềm tin của mình. Từ thời đầu cho tới ngày nay, các chứng nhân đầy tính thuyết phục cho thấy rằng, con người không chỉ tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Kitô phục sinh bằng lời nói, mà còn sẵn sàng sống niềm tin của mình nữa – thậm chí chết vì niềm tin. Chúng ta tin rằng chết không phải là dấu chấm hết, và sự chết cũng chẳng có quyền gì trên chúng ta, bởi vì Chúa Kitô đã được sống lại trong sự sống mới, và chúng ta được hiệp nhất với Người.