| | Chúa Nhật V Thường Niên - Năm C Is 6,1-2a.3-8 / 1Cr 15,1-11 / Lc 5,1-11
An Phong op : Phép Lạ Là Dấu Chỉ Yêu Thương
Fr Jude Siciliano, op. : Nhận Mình Yếu Hèn Trước Quyền Năng Chúa
Lm Như Hạ op : Cái Thuở Ban Đầu
Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Tin tưởng vào Chúa
Giuse Nguyễn Văn Dũng op : Chúa là Niềm Vui và là Lẽ Sống của con
Fr. Jude Siciliano, op. : Thiên Chúa “quấy rầy” cuộc sống chúng ta
Giuse Nguyễn Thanh Tùng - Thừa sai TMCCT :
Tin Tưởng để ra khơi
Lm Đỗ Lực : Biển Cả Và Ngư Ông
Fr. Jude Siciliano, op : Này Con Đây, Xin Hãy Sai
Con Đi
Fr. Jude Siciliano op: Dạ
con đây, xin sai con đi
An Phong op
Phép Lạ Là Dấu Chỉ Yêu ThươngTin mừng hôm nay thuật lại phép lạ "bắt được rất nhiều cá đến nỗi hầu như rách cả lưới" (Lc 5,8). Simon Phêrô đã vất vả suốt đêm mà không bắt được con cá nào, nhưng vì vâng lời Đức Giêsu, phép lạ đã xảy ra. Đức Giêsu hiện diện ở đâu, Người đều mang đến hạnh phúc, bình an và hoan lạc. Hơn nữa, theo quan niệm Do Thái, nước trên biển là nơi ở của Satan và các thế lực chống lại Thiên Chúa. Mẻ cá lạ lùng được Đức Giêsu thực hiện như là một chiến thắng trên Satan và các quyền lực ác thần bị đẩy lui. Đức Giêsu giải thoát con người khỏi quyền lực của ác thần. Ông Simon Phêrô nói với Chúa Giêsu : "Lạy Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả ". Câu nói này đã bộc lộ nỗi chán chường tuyệt vọng của SimonPhêrô. Simon Phêrô cảm nhận được tình huống phức tạp : một đàng đã vất vả nhiều mà không kết quả; đàng khác, lời mời gọi của Chúa Giêsu khiến ông sợ sệt, tuy sau đó "Thầy đã bảo thì tôi xin thả lưới". Dường như có một sự đấu tranh nội tâm nơi con người Phêrô, nhưng cuối cùng lời Chúa đã thắng. Những cơn cám dỗ chán chường, nản lòng như thế vẫn đe dọa chúng ta. Đôi khi chúng ta không biết phải làm như thế nào vì bao nhiêu nỗ lực cố gắng đã tan tành theo mây khói. Chúng ta buồn sầu vì kết quả mong muốn không đạt được. Rồi có thể đi đến chỗ, chúng ta sẽ đầu hàng. Lúc đó cần bình tâm lại, lắng nghe lời Chúa nói : "Hãy cứ tiếp tục, hãy bắt đầu lại". Như Phêrô đã vâng lời Chúa mà thả lưới, chúng ta cũng thế. Hãy cứ tiếp tục và bắt đầu, vì Thiên Chúa đang hiện diện. "Lạy Thầy, xin tránh xa tôi vì tôi là kẻ tội lỗi". Sau khi chứng kiến phép lạ mẻ cá, Phêrô đã sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và nói như thế. Ông kinh ngạc, ông sợ hãi, ông nhận ra thân phận con người mình. Nhưng Đức Giêsu lại bảo : "Đừng sợ, từ nay anh sẽ đi lưới người như lưới cá". Qua lời Đức Giêsu nói, Phêrô lãnh nhận một sứ vụ mới : Loan báo Tin mừng. Sấp mình xuống và nhìn nhận mình tội lỗi là thái độ sám hối. Phêrô đã nhận ra Chúa là Đấng quyền năng, muốn mang lại hạnh phúc cho con người. Phêrô đã nhận ra mình là hèn yếu, tội lỗi. Việc nhận ra đó đã làm cho ông được trao ban sứ vụ. Chúng ta cũng vậy, nếu biết sấp mình xuống và nếu biết nhìn nhận mình là tội lỗi, chúng ta cũng sẽ được trao ban một sứ vụ. Hơn nữa, "hoán cải và tin vào Tin mừng" là hai yếu tố làm nên đời sống công giáo. Chúng ta cần nhận ra con người của mình là tội lỗi để có thể tin vào quyền năng, tình yêu của Thiên Chúa. Và lúc đó, Chúa sẽ nói với chúng ta : "Đừng sợ". Chúa giải thoát chúng ta khỏi những nỗi sợ hãi của cuộc đời, miễn là chúng ta cần đến Người - "Lạy Thầy... con là kẻ tội lỗi ". Hơn nữa, con tàu Phêrô đó là hình ảnh Giáo hội. Khi Đức Giêsu không ở trên tàu, Phêrô đã chẳng bắt được con cá nào. Nhưng khi Người đã lên tàu, ông bắt được rất nhiều cá. "Không có Thầy, chúng con không làm gì được" (Ga 15,5). Với sự giúp đỡ của Thầy, mọi sự đều có thể thực hiện. "Tôi có thể làm mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi" (Ph 4,13). Ngày hôm nay, Đức Giêsu tiếp tục hiện diện, giảng dạy, khích lệ từ con tàu Giáo hội Người. Giáo hội vãn đang lớn lên nhờ những con người biết nhận ra mình là tội lỗi, vì "người bệnh mới cần đến thầy thuốc". Phải chăng chúng ta đã nỗ lực nhiều, nhưng kết quả chẳng bao nhiêu ? Phải chăng chúng ta tin vào quyền năng và tình yêu cứu độ của Thiên Chúa nơi thân phận con người tội lỗi của mình. Lạy Chúa, Con chỉ xin Ngài khoan dung với chúng con, che chở chúng con trong mọi giây phút và tha thứ chúng con đến cùng. Xin cho cuộc sống chúng con được sung mãn, cho chúng con được hạnh phúc. Xin ban cho chúng con những ân huệ bao la của Ngài và những đặc ân muôn dạng của Ngài. Xin cho chúng con thấy tình Ngài tế nhị biết bao, và lòng nhân hậu của Ngài mau mắn chừng nào. (Ghazali Islam - thế kỷ thứ II) Fr Jude Siciliano, OP.
NHẬN MÌNH YẾU HÈN TRƯỚC QUYỀN NĂNG CHÚAThưa quý vị, Sau mẻ lưới lạ lùng ở bờ hồ Giênêsaret như thánh Luca kể lại, thì thánh Phêrô sấp mặt xuống dưới chân Chúa Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”. Tự nhiên độc giả thắc mắc: Thánh nhân phạm tội gì to lớn đến nỗi cảm thấy xấu hổ, xin Chúa tha thứ ? Không thấy thánh Luca liệt kê những tội đó và có thực thánh Phêrô thuộc hàng ăn chơi khét tiếng như Maria Madalena ? Thực tế đây là lần đầu tiên chúng ta đối diện với thánh nhân trong Phúc Âm Luca. Sau khi Chúa Giêsu chữa bệnh sốt rét cho mẹ vợ thánh nhân (4,38) và một vài cuộc hội ngộ khác, chúng ta không thấy Phêrô phát biểu điều chi. Vậy thì tại sao lần này với tất cả chân thành ông van xin Chúa tha tội cho mình ? Mà cứ theo não trạng Do Thái, thì chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội mà thôi. Phải chăng ông đã nhận được một mặc khải to lớn ? Nói chi thì cũng là ước đoán. Phêrô trên thực tế cũng như chúng ta hoặc ngàn vạn người khác. Ông đã có gia đình và một người con gái, hàng ngày đi kiếm cơm cho vợ con bằng nghề chài lưới. Tức ông là một người cha, một người chồng lương thiện, cố gắng làm gương sáng cho vợ con và hàng xóm láng giềng, hắng ngày cầu xin cho có đủ sức khoẻ nuôi nấng vợ con, chu toàn trách nhiệm của một kẻ nam nhi, làm chủ gia đình. Ông không thể bị coi như một người xấu, phạm tội ghê gớm. Đa phần chúng ta cũng thế, so sánh với những phạm nhân nổi tiếng của thế giới thì Phêrô chẳng thấm vào đâu, không đáng là một bóng mờ nhỏ xíu trên màn ảnh bạo lực hàng ngày. Tuy nhiên câu nói của ông vẫn còn đó, vang vọng khắp năm châu, bốn biển từ hai ngàn năm qua : “Lạy Chúa, xin tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi”. Không phải vì Phêrô quá xấu xa, nguy hiểm, nhưng vì so sánh với cái vĩ đại ông vừa thoáng thấy nơi Chúa Giêsu, thì ông quả thật là thân sâu bọ. Ông sợ hãi khi được tận mắt chứng kiến một Thiên Chúa toàn năng đang hiện diện trước mặt. Một luồng sáng vĩ đại, một sự hiển linh chói lọi xuyên qua không gian và thời gian. Trước mặc khải to lớn này ông thấy mình quá nhỏ bé, hèn hạ, không xứng đáng và… vâng, một tội nhân. Có lẽ ông đã theo Chúa nửa vời, chưa đáp trả ơn gọi của Ngài trọn vẹn, chưa toàn tâm toàn ý dấn thân theo Ngài phục vụ tha nhân, chưa thúc giục nước Ngài trị đến bằng các hy sinh của mình. Có lẽ trước mẻ cá lạ lùng trong đời, Phêrô nhận ra Thiên Chúa rộng lượng vô biên mà mình thì bần tiện, bẩn thỉu, hoặc có lẽ đơn giản là ông cảm thấy bóng mình mờ nhạt trong một luồng sáng quá rực rỡ, quá chói loà. Phải chăng cảm nghĩ của Phêrô cũng là cảm nghĩ của mỗi tín hữu, mỗi người chúng ta trước thánh nhan Thiên Chúa, nhất là sau khi rước lễ ? Xin cố gắng sống thế nào để chúng ta cũng được hàng ngày cảm nhận như Phêrô ! Chỉ có thế mới xứng đáng là kẻ theo Ngài như Phêrô và các bạn tông đồ của ông. Điều này không phải là ước vọng viển vông, trái lại có thể thực hiện được, nếu chúng ta có tâm tình và nếp sống lương thiện. Mới đây tôi gặp một bà lão 80 tuổi thuộc hệ phái Tin Lành Baptist. Bà từng là nhà truyền giáo ở Phi Châu, chăm sóc các bệnh nhân và những người cùng khổ. Bà và chồng đã xây một bệnh viện tại đó và huấn luyện các dân địa phương thành y tá, bác sĩ để tiếp tục công việc khi họ về hưu, vì tuổi già sức yếu. Năm nay ông bà đã trở về Mỹ nghỉ ngơi nhưng vẫn đọc Kinh Thánh và cầu nguyện hàng ngày. Qua ngần ấy năm công tác bác ái, bà nhận ra một điều : God is so big and we are so puny = Thiên Chúa quá vĩ đại và chúng ta quá nhỏ bé. Ở đây không phải là chuyện giả đò, nó là sự chân thật của một bà già đã quá tuổi bát tuần. Đối diện với sự vĩ đại, mênh mông của Thiên Chúa qua cuộc đời dài, bà cũng cảm nhận giống hệt Phêrô: “Lạy Chúa, xin tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi”, “God is so big and we are so puny”. Sau mẻ lưới lạ lùng của Phêrô và các bạn hay sau một cuộc đời hết tâm phục vụ Thiên Chúa và tha nhân, với những lời cầu nguyện chân thành, những hy sinh nguyện ngắm, người ta đến cùng một kết luận mà bài Tin Mừng hôm nay diễn tả sâu sắc tuyệt vời! Đó cũng là kinh nghiệm của tiên tri Isaia trong bài đọc 1 và thánh Phaolô trong bài đọc 2. Tất cả đều nói về ơn Thiên Chúa kêu gọi và sự thánh thiện mênh mông của Ngài, sự nhỏ bé của con người. Năm 740 tcn Isaia mới 20 tuổi, được thị kiến xem thấy đền thờ Giêrusalem huy hoàng. Thiên Chúa ngự trên ngai cao oai phong rực rỡ, tà áo của Ngài bao phủ đền thờ. Các thần sốt mến đứng chầu và la to: “Thánh ! Thánh ! Chí Thánh! Thiên Chúa các đạo binh là Đấng Thánh, cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa.” Isaia sợ hãi thốt lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người miệng lưỡi ô uế”. Isaia phản ứng lại sự thánh thiện vô biên của Thiên Chúa, giống như Phêrô trong Phúc Âm hôm nay, hoặc bà bạn Baptist của tôi. Thiên Chúa quá vĩ đại và chúng ta quá bé nhỏ. Trước mặc khải của Thiên Chúa, Isaia cảm thấy tội lỗi: “Vì miệng lưỡi tôi nhơ bẩn”. Thiên Chúa trả lời: “Đây, cái này chạm đến môi ngươi, ngươi sẽ được tha lỗi và xá tội”. Ngài thực hiện công việc Ngài thường làm, Ngài dùng con người bình thường của Isaia để làm xướng ngôn viên cho Ngài giữa lòng dân Do Thái cứng cổ và chai lì. Ngài khởi sự lại tiến trình tạo dựng nơi bản thân Isaia, biến đổi ông thành ngôn sứ vĩ đại với tất cả sự yếu đuối, mỏng giòn, giới hạn của một thân phận loài người. Xin nhớ đây chính là Thiên Chúa tạo dựng muôn loài muôn vật từ hư vô. Ngài đã thanh tẩy Isaia, để ông loan báo sứ điệp cho thế giới. Thiên Chúa sẽ nói qua Isaia những điều dân Israel cần nghe. Cho tới hôm nay con người “miệng lưỡi chẳng sạch” đã thành phát ngôn viên của Thiên Chúa can đảm và bền vững. Loài người đã được dạy bảo bao nhiêu tốt lành qua sứ vụ Isaia. Cũng ở trong cảnh ngộ hoàn toàn trùng hợp, Thiên Chúa lựa Phêrô, các tông đồ, thanh tẩy miệng lưỡi, trí lòng, tâm hồn họ và sẽ hoạt động qua các ông. Giống Isaia, các ông biết rõ giới hạn của mình, nhưng vẫn sẵn sàng thưa lại : “Dạ, con đây, xin sai con đi”. Phúc Âm Luca kể: Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người. Năm thánh truyền giáo này chúng ta nói được như vậy không ? Hội Thánh Việt Nam dám can đảm như Isaia và các tông đồ không ? Xin mọi người cùng suy gẫm và sửa sai. Trong bài đọc 2, thánh Phaolô ý thức mình được Thiên Chúa chọn : “Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non. Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các tông đồ, tôi không đáng được gọi là tông đồ vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa”. Nhưng ông không cậy vào sức riêng mình mà hoàn toàn dựa vào Thiên Chúa: “Nhưng tôi có là gì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu”. Rõ ràng thánh Phaolô cũng là nhân chứng chính hiệu việc Chúa Giêsu sống lại. Vì Ngài đã hiện ra với ông trên đường đi Damas (câu 35). Và ông cũng nỗ lực rao giảng biến cố này, chịu khốn khổ, tù đày, cuối cùng chịu chém đầu vì danh Đức Kitô. Ơn kêu gọi của Phaolô không thua kém Isaia và Phêrô : “Này con xin đến để làm theo ý Thiên Chúa”. Xin lưu ý đến cách gọi tên của thánh Luca trong Phúc Âm. Trước mẻ lưới ông Phêrô được gọi bằng Simon, tên cũ của ông. Ông và các bạn làm việc khó nhọc suốt đêm mà không được con cá nào : “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không được gì cả”. Tự thân loài người không thể đạt được những cao vọng mà Thiên Chúa đã trù tính cho mình. Khi Simon nhận ra quyền phép Thiên Chúa trong Đức Kitô, ông sợ hãi và được thánh Luca gọi bằng cả hai tên: Simon-Phêrô. Có lẽ thánh sử Luca muốn cho chúng ta hay có một sự chuyển đổi trong con người Phêrô. Từ cũ cho tới mới, từ bác thuyền chài lao động suốt đêm trắng tay cho đến một thủ lãnh thành công với lời hứa trợ giúp của Chúa Giêsu. Khi Phêrô tự thân chài lưới, ông chẳng bắt được chi. Nhưng với đức vâng lời và Chúa Giêsu ở cùng, công việc của ông trở nên hiệu quả không thể tưởng tượng nổi. Cuộc đời ông đã có định hướng và mục tiêu. Cuộc đời mỗi tín hữu cũng vậy, không có Chúa cùng làm việc, chúng ta lao động luống công, nhất là trên cánh đồng truyền giáo. Hội Thánh chỉ thành công nếu có Chúa ở trên thuyền. Đây là kinh nghiệm thực sự đã xảy ra chứ không phải lý thuyết suông. Vì vậy, muốn cho việc truyền giáo trong năm thánh có hiệu quả, chúng ta phải cải tổ nếp sống, mời Chúa Giêsu ngự trị trong các hoạt động của mình. Ngoài ra chỉ là sắp xếp lại các sự kiện đã cũ trong cuộc sống mỗi người. Chẳng phải vô tình mà thánh Luca đã dùng các tên khác nhau mà gọi Phêrô trong những giai đoạn khác nhau. Từ công đồng chung Vatican II, Hội Thánh mời gọi chúng ta suy nghĩ nhiều về bài Tin Mừng hôm nay. Quyền năng Thiên Chúa và sự phong phú của ơn gọi mỗi người không thường xuyên xảy ra trong nơi thờ phượng, giờ cầu nguyện mà là ở nơi con người lao động. Các nông gia, thợ thuyền, ngư phủ gặp gỡ Thiên Chúa khi đang vật lộn với công việc của mình. Thiên Chúa gọi chúng ta khi khi làm việc kiếm sống. Thiên Chúa mời gọi mỗi người cộng tác vào chương trình Ngài đã hoạch định cho nhân loại, tức thăng tiến Nước Trời. Tin Mừng hôm nay khuyến khích tín hữu coi lại công việc mình đang thực hiện ở gia đình, nơi làm việc, nhà trường, láng giềng và toàn thể thế giới. Thực sự chúng ta có đang lao động với Thiên Chúa không? Nhiều tín hữu giữ đạo sốt sắng, nhưng không thấy mối liên kết giữa đức tin và những cách thức sinh sống của mình, nhất là ở những nơi làm việc hàng ngày. Đi nhà thờ thì vận áo phụng vụ, ra khỏi thì cởi áo cất đi và cất luôn đức tin của mình vào tủ, sinh hoạt như những người vô đạo, thậm chí còn tệ hơn. Có một sự phân rẽ rõ rệt giữa đức tin và đời sống, thử hỏi làm sao chúng ta có thể trở nên muối men cho nhân loại ? Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã từng nhận xét : Thế giời ngày nay cần chứng nhân cho Tin Mừng Chúa Giêsu hơn thầy dạy. Ngược lại chúng ta ưa làm thầy dạy hơn làm chứng nhân. Tương tự một mục sư Tin Lành nói về Giáo Hội Tây Phương: “There‘s Tremendous prayer but little penance” (nhiều lời cầu nguyện nhưng rất ít việc đền tội). Trong khi Phúc Âm dạy: cầu nguyện, ăn chay và bố thí đi song hành, không tách rời được, việc nọ bổ túc cho việc kia, thiếu một việc là không trọn Phúc Âm. Cho nên vai trò của người tín hữu rất quan trọng trong thế giới đời thường. Họ cũng đựơc Thiên Chúa kêu gọi làm muối và ánh sáng trong sinh hoạt hàng ngày như các linh mục và tu sĩ. Một tín hữu tốt không nhất thiết phải cầu nguyện nhiều giờ trong thánh đường hoặc sinh hoạt hăng say trong nội bộ đoàn hội. Ơn gọi của họ là làm chứng giữa đời. Họ phải sống thế nào cho thế giới thấy được : Thiên Chúa quá vĩ đại về tình thương, sự thánh thiện và chúng ta quá nhỏ bé bần tiện. Câu chuyện hôm nay xảy ra trên bờ hồ, chỗ có nước, không phải là vô tình, ít ý nghĩa. Thiên Chúa cũng đã kêu gọi chúng ta làm nhân chứng cho Ngài ở chỗ có nước, giếng rửa tội. Chúa Giêsu đã nhìn thấy Phêrô và các bạn sẽ trở thành “những kẻ chài lưới người ta”. Ngài cũng nhìn thấy mỗi linh hồn xin chịu phép thanh tẩy một chứng nhân tương lai cho Phúc Âm của Ngài. Chúng ta cầu nguyện xin Thiên Chúa cho mình nhận ra sự thánh thiện sáng ngời nơi công việc đời thường và nghe rõ tiếng Chúa mời gọi mỗi người. Thánh Thể là nơi thuận tiện nhất để Chúa Giêsu nghe lời cầu xin của chúng ta : Ôi lạy Chúa, xin biến đổi chúng con thành nhân chứng cho Chúa trong công ăn việc làm, ở học đừơng, gia đình, hè phố và trên thế giới. Amen. Như Hạ op
CÁI THUỞ BAN ĐẦU Mỗi sáng đứng ngắm bình minh từ từ trườn trên ngọn cây và xà xuống mặt đất, ai chẳng thấy sung sướng hân hoan. Có một tiếng gọi mơ hồ từ vạn vật vọng lên hay từ trên cao thoang thoảng. Con người thấy mình gần gũi với cảnh vật và trời đất. Ơn gọi đã vang lên. Con người phải làm gì trước tiếng mời gọi đó ? ƠN GỌI ĐẦU ĐỜI Quang cảnh buổi sáng hôm đó thật rạng rỡ. Nhưng cơn thất vọng đêm qua vẫn đè nặng tâm hồn các ngư phủ bờ hồ Ghennexarét. Không một con cá lọt lưới. Sau khi thi hành xong sứ mạng giảng dạy quần chúng, Đức Giêsu nói với ông Simôn : “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.” (Lc 5:4) Xuất thân từ ngành mộc, làm sao Đức Giêsu có thể kinh nghiệm nghề đánh cá bằng Simon ? Bởi vậy, Simon mới phản ứng : “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đem mà không bắt được gì cả.” (Lc 5:5) Trên bình diện tự nhiên, ông không thể nghe lời một người không chuyên môn như thế. Nhưng tương quan Thầy trò đã tạo được sức mạnh khiến ông có thể vượt trên bình diện tự nhiên ấy. Ong đã mạnh mẽ nói : “Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới.” (Lc 5:5) Sự vâng phục của ông đã được đáp ứng ngoạn mục: “họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.” (Lc 5:7) Những tính toán tự nhiên không còn là tiêu chuẩn tối hậu để tìm thấy sự thật nữa. Từ mẻ cá lạ lùng đó, ông Simon Phêrô đã nhận thức được một khoảng cách vô cùng giữa siêu nhiên và tự nhiên, giữa Thiên Chúa và con người. Ông thưa với Chúa : “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi !” (Lc 5:8) Tội lỗi khiến ông nhìn nhận mình chỉ là hư vô trước Đấng Tạo Hóa. Tất cả “đều kinh ngạc” (Lc 5:9,10) Người ta chỉ kinh ngạc khi thấy mâu thuẫn nơi hai thực tại kề cận nhau. Mâu thuẫn tới mức tuyệt đối. Một bên Thiên Chúa chí thánh. Một bên con người tội lỗi đang đi tới biên giới hư vô. Nỗi kinh ngạc diễn tả một khoảng cách vô cùng to lớn giữa hai cực tuyệt đối. Một bên hiện hữu vô cùng sung mãn. Một bên vô cùng hữu hạn và hư không. TC tạo dựng vạn vật từ hư vô. Người cũng sẽ cứu độ con người một cách vô điều kiện. Đúng hơn, tất cả công cuộc tạo dựng và cứu độ đều phát xuất từ tình yêu TC. Bởi dó, Đức Giêsu trấn an ông Simon : “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” (Lc 5:10) Đừng sợ, vì khoảng cách vô cùng đó sẽ được lấp đầy bằng tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Đừng sợ, mặc dù tội lỗi đã đẩy Phêrô tới bờ vực thẳm, nhưng Thiên Chúa vẫn cương quyết trao cho ông sứ mệnh cao cả nhất. Thiên Chúa là thung lũng tình yêu sẽ nuốt trọn con người biết phó thác hoàn toàn nơi Chúa. Cảm phục trước tấm lòng vô bờ bến đó, các môn đệ đầy phấn khởi và vô cùng mạnh mẽ. Họ đã dám “bỏ hết mọi sự mà theo Người.” (Lc 5:11) Thật là một quyết định táo bạo. Tấm lòng quả cảm đó chính là thái độ sẵn sàng đáp ứng lời mời gọi của Thiên Chúa. Ngày xưa Chúa cũng lên tiếng kêu mời Isaia : “Ta sẽ sai ai đây ?” Tức khắc ông đáp lại : “Dạ, con đây, xin sai con đi.” (Is 6:8) Lời Chúa đã tác động đến toàn thể cuộc sống và con người. Chính lời Chúa đã lôi cuốn đám đông đến với Chúa : “Dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa.” (Lc 5: 1) Không những lời Chúa có sức qui tụ, nhưng còn biến đổi con người. Đức Giêsu chính là Ngôi Lời đã lôi cuốn mọi người đến với Thiên Chúa. Từ nay, Người cũng cho các môn đệ trở thành điểm thu hút muôn dân vào Nước Thiên Chúa. Chính ông Phêrô và các môn đệ được trao một sứ mệnh cao cả : thu phục muôn dân bằng sức mạnh lời Chúa. Lời Chúa đã được trao vào tay các ông để xây dựng một Giáo Hội mà “quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.” (Mt 16:18) Tại sao những con người yếu đuối và tội lỗi lại có một sức mạnh như vậy ? Chính nhờ lời cầu nguyện sâu thẳm, Giáo Hội đã chiến thắng ác thần. Sở dĩ lời cầu nguyện có một sức mạnh khủng khiếp, vì noi gương thày chí thánh, ông Phêrô đã biết khiêm tốn nhìn nhận sự thật về chính mình và Thiên Chúa. Càng khiêm tốn, càng đi sâu vào tương quan với Thiên Chúa và càng nhận ra sự lệ thuộc hoàn toàn vào Người. Càng đi sâu vào tương quan với Người, càng thấy rõ sưc mạnh Thiên Chúa trong những yếu đuối con người (2 Cr 12 : 9). GIÁO HỘI : ĐIỂM QUI TỤ MUÔN DÂN Giáo Hội đã vấp phải bao lỗi lầm quá khứ. Nhưng không một sức mạnh tà thần nào có thể ngăn cản Giáo Hội trở thành điểm thu hút muôn dân. Chính nhờ lời hứa của Đức Giêsu, Giáo Hội đã làm cho muôn dân “chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa.” (Lc 5:1) Lời Thiên Chúa là sức mạnh qui tụ mọi người thuộc mọi sắc tộc và ngôn ngữ, thuộc mọi nước mọi dân. Mọi nền văn hóa có thể tìm thấy chỗ đứng trong Nước Thiên Chúa. Ngược lại, Nước Thiên Chúa không biết đến bất cứ thứ biên giới nào do các nền văn hóa, kể cả văn hóa của dân tộc Do thái hay Âu Mỹ, dựng nên. Thế nên, nếu muốn xây dựng Nước Thiên Chúa ở trần gian, phải biết vượt trên ranh giới của sắc tộc, ngôn ngữ, văn hóa, chính trị. Tự cho mình có sứ mạng rao truyền lời Chúa mà còn hoạt động trên nền tảng văn hóa là đánh mất chính căn tính và sức mạnh của mình. Nếu chỉ dừng lại ở bình diện tự nhiên, ông Phêrô không thể đến với Chúa, không thể chứng kiến phép lạ lớn lao và không được trao sứ mệnh qui tụ muôn dân vào Nước Chúa. Đã đến lúc những não trạng cục bộ phải mở rộng cái nhìn vào miền đất vô biên của Nước Chúa. Không vượt qua biên giới tự nhiên của văn hóa, chủng tộc, xã hội, chính trị, không thể hoàn thành sứ mệnh Chúa trao phó và không thể thực hiện một Giáo Hội phổ quát cho muôn dân. Hôm nay, Giáo Hội còn bị khựng lại nhiều nơi chỉ vì còn đầy dẫy những con người có óc cục bộ. Nếu không “bỏ hết mọi sự mà theo Đức Giêsu”, họ sẽ giống như “gà mù ăn quẩn cối xay” mà thôi. Giacôbê Phạm Văn Phượng op
Tin tưởng vào Chúa (Lc 5,1-11) Sau khi giảng dạy và làm nhiều phép lạ ở thành Ca-phác na-um, Chúa Giê-su ra khỏi thành và đi về mạn biển Ga-li-lê, tức là hồ Ghen-nê-xa-rét, dân chúng theo Ngài rất đông. Tới bờ biển, Ngài xuống thuyền của Phê-rô, đứng trên thuyền quay vào giảng dạy dân chúng. Tin Mừng không cho biết hôm ấy Chúa giảng gì, nhưng kể tiếp ngay câu chuyện Chúa cho Phê-rô và các tông đồ bắt được một mẻ cá lớn. Trước mẻ cá lạ lùng này, ông Phê-rô sấp mình trước Chúa xin Chúa tránh xa ông vì ông là người tội lỗi. Chúng ta hãy tìm hiểu và ghi nhận bài học hữu ích cho chúng ta. Chúng ta nên biết : trước đó ông Phê-rô và các bạn đã đánh cá suốt đêm mà không bắt được gì. Sáng sớm, kéo lưới vào bờ, gặp Chúa, Chúa bảo thả lưới, các ông vâng lời thả lưới. Như vậy, các ông thả lưới là vì nghe lời Chúa thôi, chứ theo kinh nghiệm nghề nghiệp thì các ông chỉ còn việc giặt lưới rồi về nhà ngủ một giấc cho khỏe bù lại suốt một đêm vất vả. Thực vậy, Phê-rô và các tông đổ đầu tiên là những tay đánh cá nhà nghề, chuyên nghiệp, các ông dư đoán được chỗ nào có cá và lúc nào có nhiều cá. Thế mà bây giờ Chúa lại chỉ chỗ cho các ông thả lưới, không những ở gần bờ, lại vào giữa ban ngày, ít hy vọng có cá hơn ban đêm. Dầu có hơi thắc mắc, nhưng các ông vâng lời ngay, sự vâng lời của các ông đã đem lại một phần thưởng lớn là một phép lạ đầy hai thuyền cá, các ông hết sức kinh ngạc. Như vậy, kết quả của mẻ lưới này không phải do kinh nghiệm nghề nghiệp của các tông đồ mà là do quyền phép của Chúa Giê-su, Ngài có quyền để cho mẻ cá này có ý nghĩa riêng của nó. Thực vậy, Chúa dùng mẻ cá này như là hình ảnh của công việc sắp tới mà Ngài trao phó cho các ông: từ nay các ông không thả lưới đánh cá nữa mà thả lưới đánh người, nghĩa là từ nay các ông sẽ là tông đồ của Chúa để đi chinh phục mọi người đưa vào Giáo hội Chúa. Như thế mẻ cá này có ý chỉ công cuộc truyền giáo, công cuộc tông đồ của Giáo hội. Rồi đây Phê-rô và các bạn chài lưới của ông cũng như những người kế tiếp các ông sẽ rảo khắp mặt biển thế gian, để kéo người ta ra khỏi vực thẳm tối tăm, đem ra ánh sáng, đưa vào Giáo hội, và dẫn đến thiên quốc. Thánh Gio-an Kim Khẩu, khi giải thích mẻ cá lạ lùng này đã nói : đó là phương pháp đánh cá tân kỳ, vì người đánh cá kéo cá ra khỏi nước để giết chúng, còn chúng ta thì thả lưới để cứu sống những kẻ chúng ta bắt được”. Ngoài bài học truyền giáo, chúng ta còn ghi nhận được một bài học nữa, cũng rất có ý nghĩa và giá trị đối với chúng ta. Thực vậy, trước mẻ cá đầy ắp thuyền, với con mắt chuyên nghiệp, đúng ra Phê-rô phải vui sướng reo hò, thì ông lại quì sụp xuống dưới chân Chúa Giê-su và xin Ngài tránh xa, vì ông là kẻ tội lỗi. Cá và tội lỗi có ăn nhằm gì hay liên hệ gì với nhau ? Nhưng chắc chắn không phải vô lý mà Phê-rô run rẩy sợ hãi, chúng ta có thể tìm ra một số lý do của sự sợ hãi này : trước hết, có lẽ vì Phê-rô đã nghĩ đến con người tội lỗi đang còn thiếu tin và đầy ngờ vực của mình, chính ra vừa khi gặp được Chúa ông phải xin ngay Ngài giúp đỡ. Hơn nữa, cả khi vắng mặt Chúa, đức tin cũng đòi phải hướng lòng về Ngài, nhất là khi thất bại, Phê-rô đã không làm cả hai việc đó. Đàng khác, Phê-rô hiện đang đối diện với Đấng toàn năng toàn hảo, chế ngự được cả định luật thiên nhiên, mọi loài mọi vật trên trời dưới đất đều phải tuân phục. Sự kiện mẻ cá lạ lùng vừa mới xảy ra là một bằng chứng làm cho ông hết sức kinh ngạc : cả đêm, một thời gian dài vất vả mà không bắt được con cá nào so với trong phút chốc số cá bắt được hai thuyền chở không hết, Phê-rô sợ hãi là tất nhiên thôi. Tuy nhiên, các môn đệ thả lưới suốt đêm không được con cá nào là vì không có Chúa ở trong thuyền, nhưng khi có Chúa cùng đi thì họ được đầy hai thuyền cá. Đây là một bài học thiết thực cho cuộc đời chúng ta, có thể cuộc đời chúng ta gặp cảnh huống éo le, phức tạp, cuống cuồng không biết cậy nhờ vào ai hay cậy dựa vào đâu, rồi hữu sự vái tứ phương. Hình ảnh ban đêm của các tông đồ là hình ảnh đời con người trong những lúc hết hy vọng, những lúc cực nhọc, vất vả, mệt mỏi, rã cánh mà không kiếm đủ nuôi thân và gia đình. Giữa những lúc ấy chúng ta càng cần phải có Chúa : “Không có Ta, các con không làm gì được”, thánh Phao-lô thì nói : “Với Chúa, tôi có thể làm được tất cả”. Chúng ta hãy lắng nghe lời Chúa hôm nay : “Hãy cứ thả lưới”, nghĩa là hãy kiên nhẫn, hãy trung thành, hãy vâng lời mà làm việc thì kết quả sẽ đến, một khi Chúa ban, kết quả sẽ quá sức chúng ta mong tưởng. Chúng ta thấy đó, giữa lúc các tông đồ mệt mỏi nhất, thất vọng nhất, thì Thiên Chúa đã can thiệp đúng lúc, ban cho các ông một mẻ cá lạ lùng. Chúng ta cũng vậy, hãy kiên nhẫn cầu xin, hãy vâng lời chu toàn bổn phận mình, Chúa sẽ ban cho chúng ta không những như chúng ta cầu xin mà còn hơn cả chúng ta cầu xin nữa. Qua mẻ cá lạ lùng này, Chúa muốn dạy cho các tông đồ và mọi người biết : việc đánh cá suốt đêm mà không được gì, đó là sự giới hạn của con người : “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, nếu con người cứ thành công mãi như ý mình, người ta sẽ tưởng mình là vô địch, mình có thể làm được mọi sự mà không cần đến Chúa. Nhưng rất may, ở trần gian này có một định luật là sự giới hạn : giới hạn của vật chất chung quanh chúng ta, giới hạn của khả năng con người, giới hạn của chính đời sống chúng ta, không ai có thể sống vượt ra ngoài những giới hạn đó. Cho nên, chúng ta tin Chúa là chúng ta nhận biết thế đứng của mình trước Thiên Chúa, biết sự giới hạn của mình trước Đấng toàn năng đã phán : “Không có Ta, các ngươi không làm gì được”. Vậy hôm nay và luôn mãi trong suốt cuộc sống, chúng ta hãy xin Chúa thực thi chương trình của Ngài nơi mỗi người chúng ta, và xin Chúa cho chúng ta biết thân phận mình, biết sự giới hạn của mình, để chúng ta luôn tin tưởng và cậy trông vào Chúa. Giuse Nguyễn Văn Dũng op
CHÚA LÀ NIỀM VUI VÀ LÀ LẼ SỐNG CỦA CON (Lc 5, 1-11) Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, qua bài Tin Mừng hôm nay Chúa đã tỏ cho chúng con thấy đâu là quyền năng của Chúa khi chúng con biết đặt niềm tin tưởng nơi Ngài và lấy Ngài làm niềm vui và lẽ sống của chúng con. Qua một đêm dài, sự thất vọng và chán nản vẫn còn đè nặng tâm hồn các ngư phủ nơi bờ hồ Ghennexarét vì không có một con cá nào vào lưới. Nhưng Chúa lại bảo với Phêrô : “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Xuất thân từ ngành mộc, làm sao Chúa có thể kinh nghiệm nghề đánh cá bằng Phêrô ? Bởi vậy, Phêrô mới phản ứng : “Thưa Thầy, chúng con đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”. Trên bình diện tự nhiên, Phêrô không thể nghe lời một người không chuyên môn như thế. Nhưng với niềm tin vào Chúa đã khiến ông vượt qua bình diện tự nhiên ấy mặc dù biết Chúa không phải là người làm nghề chài lưới. Ông đã mạnh mẽ nói : “Nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới”. Sự vâng phục của ông đã được đáp lại: “Họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm”. Qua đó, Chúa đã cho các môn đệ đầu tiên thấy rằng những tính toán tự nhiên của con người không còn là tiêu chuẩn tối hậu để tìm thấy sự thật nữa. Cảm phục trước quyền năng của Chúa các môn đệ đã “bỏ hết mọi sự mà theo Người”. Thật là một quyết định dứt khoát. Tấm lòng quảng đại của các tông đồ chính là thái độ sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Chúa. Ngày xưa, Chúa cũng lên tiếng kêu mời Isaia : “Ta sẽ sai ai đây ?”. Tức khắc ông đáp lại : “Dạ, con đây, xin sai con đi”. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Trong xã hội hôm nay làm sao chúng con có thể diễn tả Đức tin của chúng con vào Chúa ? Nhiều lúc chúng con cảm thấy đức tin của mình chao đảo bởi những nghịch cảnh xảy ra trong cuộc sống mỗi ngày. Tin vào Lời Chúa đòi hỏi mỗi người chúng con phải từ bỏ kiểu lý luận vững chắc xét theo lối người đời, để sống trọn niềm tin vào Chúa một niềm tin không lay chuyển vì cậy trông nơi Chúa là Đấng quyền năng và hằng hữu. Hằng ngày, nếu cuộc sống của chúng con thiếu đi sự tin tưởng vào người khác, thì cuộc đời chúng con sẽ như cánh cửa bị đóng kín. Bởi vì niềm tin là nền tảng để xây dựng cuộc đời, xây dựng mối tương quan giữa con người với con người, không thể xây dựng bất cứ cái gì mà không cần đến nền tảng ấy. Nhưng Đức tin của chúng con được lớn mạnh một cách từ từ và tiệm tiến, khiến nhiều lúc chúng con khó nhận ra rằng Chúa đang đi vào đời chúng con một cách âm thầm lặng lẽ. Chính tình yêu thương mà Chúa đã làm cho chúng con mọi sư. Chúa kêu gọi chúng con ngay trong cuộc sống đời thường, qua những biến cố lớn nhỏ trong đời người. Những lúc chúng con vui mừng hạnh phúc, những lúc chúng con sắp chán chường thất vọng hay cô đơn Chúa đều mời gọi chúng con hãy đến và “Hãy trút nhẹ gánh lo vào tay Chúa”, rồi Ngài “sẽ đỡ đần cho”. Kinh nghiệm sống cho chúng con biết nhờ có đức tin chúng con sẽ thấy Chúa luôn ở cùng chúng con. Chính niềm tin vào Chúa mà chúng con dám bỏ mọi sự để có được niềm hạnh phúc duy nhất là Nước Trời. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Ước mong sao trong cuộc sống hôm nay chúng con luôn biết chia sẻ niềm vui và hạnh phúc vì có Chúa cho anh chị em chúng con. Ước mong sao trong cuộc sống chúng con luôn lấy yêu thương, công bằng, bác ái, mà sống cũng như biết liên đới trách nhiệm với nhau. Xin Chúa cho chúng con luôn có Đức tin vững mạnh vào quyền năng của Chúa khi phải đối diện với những những nghịch cảnh xảy ra trong cuộc sống hằng ngày của chúng con. Amen Fr. Jude Sicilianô, op.
Thiên Chúa “quấy rầy” cuộc sống chúng ta (Lc 5, 1 – 11) Thưa quý vị, Để cảm nghiệm được ý nghĩa lời chúa hôm nay đòi hỏi người ta phải có kinh nghiệm bản thân- như tuần trước. Mường tượng chung chung chẳng đủ. Vì thế những ai quen sống lầu hồng gác tía sẽ thất bại. Chỉ những người dám dấn thân dính líu vào các rắc rối “sự đời” mới có khả năng cảm nhận Chúa muốn nói gì với chúng ta. Hay dùng kiểu diễn tả thường tình: Tại sao tôi lại vướng mắc vào chuyện này? Tại sao tôi lại nhúng tay vào chân? Chẳng là vì cuộc sống hàng ngày gây cho người ta nhiều phiền toái. Thí dụ con cái hư hỏng, nợ nần ngập cổ, cãi cọ gia đình. Mới lập gia đình, đượclàm cha làm mẹ là một hạnh phúc tuyệt vời, nhưng qua nhiều năm tháng sống, chuyện gia đình trở nên khó khăn nhiều gánh nặng, đỏi hỏi kiên nhẫn, yêu thương và cố gắng hy vọng liên tục. Liệu những bậc làm cha mẹ nào mà không cảm thấy như vậy? Tu sĩ, linh mục sống một mình nhiều lần cũng phải phàn nàn như vậy. Tôi quen biết một ông bạn, ông ta nhắc đi nhắc lại lời tôi vừa kể: “Tại sao tôi lại gặp rắc rối ngoài ý muốn?” Con cái ông ta đã lớn, cần thêm phòng ngủ. Ong nới rộng nhà và làm một mình, giữa chừng công việc nhiều quá. Ong vất luôn búa xuống sàn, dơ tay lên trời kêu than! Thế đấy, các học sinh, sinh viên trước bài vở ngập đầu cuối năm để thi tốt nghiệp, chuyển lớp, chuyển cấp đều gặp khó khăn tương tự! Đây là tâm lý thánh Phêrô và các bạn gặp phải khi đi trên con đường làm tôi Chúa. Nhất là sau khi nghe Chúa giảng và mục kích những việc Ngài làm, những khó khăn, chống đối, nhất là khi Ngài nhắc tới Giêrusalem như điểm tới của cuộc đời mình: “Tại sao chúng ta phải vướng mắc vào? Họ hỏi và không có câu trả lời. Rồi họ còn được Chúa yêu cầu từ bỏ bản thân, gia đình, nghề nghiệp, địa vị để theo Ngài? Tại sao chúng ta lại vướng mắc vào chuyện của ông ta? Nhưng xin khoan đề cập đến kết thúc, chúng ta đang ở giai đoạn đầu. Chúa Giêsu đang kêu gọi và thu thập các môn đệ. Công việc xem ra đơn giản, nhưng sự thực Tin Mừng hôm nay gợi ý Phêrô và các bạn đang chìm sâu vào “sự kiện” làm tôi Chúa. Họ được Chúa đòi hỏi phải dấn thân hơn nữa trong quan hệ với Ngài. Tất cả câu chuyện khởi sự khi Chúa bước xuống thuyền và yêu cầu ông ra khơi thả lưới bắt cá: “Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon, và Người xin ông chèo ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống và từ trên thuyền người giảng dạy đám đông. Giảng xong Người bảo ông Simon: chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.” Quý vị hẳn đã đoán ra ý nghĩa của đoạn Tin Mừng? Lời giảng dạy liên quan đến chiếc thuyền và bản thân ông Phêrô. Chúng ta có thể mường tượng mình được nghe Lời Chúa từ thuyền ông, chứ không phải từ bất cứ thuyền hay địa điểm nào khác. Y nghĩa hết sức quan trọng và rồi Phêrô sẵn sàng nghe theo lời bác thợ mộc khuyên bảo “ chèo ra chỗ nước sâu thả lưới bắt cá”. Điều mà nghề nghiệp của ông đã luống công, chẳng bắt được gì. “Thưa thầy chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”. Rõ ràng ông và các bạn đã thất bại, mặc dù bắt cá là nghề nghiệp của họ. Từng bước một chứ không phải ngay lập tức Phêrô và các bạn trở nên môn đệ chính quy của Chúa Giêsu! Đầu tiên là “xa bờ một chút”. Rồi Phêrô và các bạn phải tiến sâu hơn: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới”, tức chỗ mà Phêrô và các bạn không còn khả năng. Các ông đã thất bại, suốt cả đêm chẳng bắt được con cá nào! Nhưng việc nghe lời Chúa và theo ý Chúa đã khíên mọi sự ra khác, hoàn toàn khác. Đây là bài học sâu sắc cho chúng ta, bởi thường kiêu ngạo, cậy dựa vào tài sức mình hoặc huênh hoang vì những thành công to lớn, không thèm nghe và làm theo tiếng Chúa. Tệ hơn nữa bắt Chúa phải theo ý mình mới thành công, không thì chắc chắn thất bại. Thái độ của đa phần các nhà giảng thuyết bây giờ là như vậy. Xin lưu ý, thánh Luca lúc này gọi Phêrô bằng tên kép: Simon-Phêrô, trước kia ông chỉ viết Simon mà thôi. Luca đã ghi nhận một bước tiến nhỏ của Phêrô trong ơn gọi làm môn đệ Chúa, sau mẻ cá khổng lồ! Chúng ta cũng vậy, từng bước từng bước thay đổi lòng dạ để theo Chúa, chứ không phải tức thời nhảy vọt. Thực tế đúng như vậy. Nhiều linh hồn khiêm nhường đã chỉ dám thực hiện những “việc bé nhỏ” để phục vụ Chúa giúp đỡ tha nhân. Nhưng dần dần họ lớn lên trong tinh thần bác ái, và thực hiện những kỳ công dưới ơn soi sáng của Chúa Thánh Linh. Liệt kê hết thì vô kể, chẳng hạn như Charle de Foucauld, Têrêsa thành Calcutta, cha Pierre (qua đời 01/2007). Họ làm việc cực nhọc, đôi khi cảm thấy kiệt sức, thất vọng nhưng vẫn yêu mến công viêc. Thí dụ, người tín hữu nào đó quyết định làm giáo lý viên dạy các lớp giáo lý cho trẻ em, sau đó theo dõi các em và đưa các em tham dự các tuần tĩnh tâm, học giáo lý thêm sức, bao đồng, hôn phối … Còn những trường hợp khác, tụ họp thành các nhóm xây dựng, hoặc sửa chữa nhà cửa cho những cư dân nghèo ở nông thôn, vùng sâu vùng xa hay khu ổ chuột thành phố … Ngoài ra họ cũng có thể đi quyên góp quần áo cũ, đồ dùng dư thừa ở các khu phố khá giả sau đó phân phát cho người nghèo thiếu thốn. Hàng trăm công việc từ thiện như vậy thuộc sứ vụ vươn tới xã hội. Một người đàn ông mua một bữa cơm trưa cho trẻ em lang thang trong khu phố, gần chỗ ông làm việc, thấy công việc hữu ích, ông khuyến khích gia đình hàng xóm, láng giềng, bạn bè thân thích góp tay làm 50 đến 100 ổ bánh mì kẹp thịt phát không cho những gia đình nghèo dọc theo con đường ông đi làm việc. Đó là cách thức chúng ta dần dần trở nên môn đệ Chúa, mở rộng bàn tay nhân ái đến các thân phận nghèo trong xã hội. Ở mỗi buổi phụng vụ, chúng ta luôn được nghe Chúa thúc giục qua các bài đọc Kinh Thánh, chúng ta đừng để tiếng gọi đó tắt ngúm khi ra khỏi cửa nhà thờ. Nhưng hãy đem ra thực hành. Trước hết, “ xa bờ một chút”, rồi dần dần ra “chỗ nước sâu”. Chúng ta hãy lắng nghe và đáp trả như Phêrô và các bạn ông khi xưa. Chúng ta trở nên “đồng chí” với Phêrô và rồi chia sẻ thay đổi căn tính như ông, từ bác thuyền chài chuyên nghiệp đến kẻ chuyên “bắt cá” linh hồn người ta. Đó là điều Thiên Chúa muốn. Khi đã chín muồi, thay đổi từ chiều rộng đến chiều sâu, Chúa Giêsu sẽ cải tên cho chúng ta giống như Ngài đã cải tên cho Phêrô, gọi ông là đá tảng đức tin mà Luca thuật lại ở cuối bài đọc 3 hôm nay: “Bấy giờ Đức Giêsu bảo ông Simon: Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta. Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.” Theo Chúa Giêsu đòi hỏi phải từ bỏ hết mọi sự, nhận lấy căn tính mới và đi thu hút linh hồn tha nhân. Liệu chúng ta có làm đúng tiến trình đó? Hay bỏ qua một khâu nào đó? Từng bước, từng bước một chúng ta là những kẻ lắng nghe, thấm thía Lời Chúa và đáp trả thành thật. Cũng trong bài Phúc Âm này, lần đầu tiên sử gia Luca dùng cụm từ “Lời Chúa”. Cụm từ mà ngày nay phổ thông trong thế giới công giáo, nhưng cũng là cụm từ bị hiểu sai nhiều nhất. Thánh nhân viết: “Dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa”. Ước chi các nhà rao giảng thời nay cũng có được quang cảnh này. Nhưng để được như vậy, họ không còn cách nào khác ngoài noi gương cách sống của Chúa Giêsu. Chính Người là lời Thiên Chúa. Và đây cũng là lần đầu tiên các môn đệ gọi Chúa Giêsu bằng “thày” : “Thưa thày, chúng tôi đã vất vả suốt đêm…” Phêrô có sáng kiến khởi sự gọi Chúa như vậy. Trong suốt Phúc Âm Luca, chỉ có các môn đệ gọi Ngài bằng danh xưng ấy mà thôi. Chúng ta hãy suy nghĩ xem tại sao? Tiếng thày có ý nghĩa chi với họ (với chúng ta)? Sau này trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu xác nhận tước hiệu đó: “Anh em gọi ta là Chúa và là thày thì chí phải…” (Ga 13, 13). Rồi Ngài giải nghĩa “vậy nếu thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em phải rửa chân cho nhau”. Thật quá thấm thía, nếu so với thái độ cha chú của chúng ta ngày nay. Lạy Chúa, xin cho chúng con đủ khiêm tốn phục vụ Chúa mà không cần phải là ông kia bà nọ. Nhưng biết lắng nghe tiếng Chúa chỉ bảo và quyết tâm làm theo những gì Chúa đòi hỏi, vì Chúa là thầy dạy của linh hồn chúng con. Và “quyền năng” chủ yếu của chúng con hệ tại việc nghe và đáp trả “lời Thiên Chúa” chứ không phải hò hét, dương oai. Bất cứ ai trong chúng ta đáp lời Chúa kêu gọi “chèo ra chỗ nước sâu” đều cảm nhận được công việc là gì và cần bao nhiêu sức lực để trung thành với Ngài, nhất là khi kết quả chẳng thể trông thấy ngay. Chúng ta đâu có xem thấy lập tức mẻ lưới nặng trĩu những cá như Phêrô và các bạn? Hơn nữa đôi lúc cũng giống như Phêrô, chúng ta cảm thấy mình yếu đuối và tội lỗi. Chúng ta thường kêu lên như ông: Lạy Chúa xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi. Hay như Isaia trong bài đọc một: “Khốn thân tôi, tôi chết mất vì tôi là một người môi miệng ô uế!”. Tác giả Luca nhấn mạnh lời Thiên Chúa như nguồn mạch quyền năng và thực phẩm nuôi dưỡng chúng ta trong vai trò làm môn đệ Chúa. Chúng ta đang trên đường đi với Ngài, cố gắng sống lời Ngài và đáp lại tiếng Ngài mời gọi, đặc biệt khi Ngài dẫn đưa chúng ta ra “chỗ nước sâu”, và chúng ta lại phải tự hỏi: “Tại sao tôi vướng mắc vào hoàn cảnh như thế này?” Tuần vừa qua, Luca đã thuật lại sứ mệnh của Chúa Giêsu trong hội đường Dothái, nó giống của Giêrêmia, được thi hành với nhiều cay đắng và khổ nhục, thậm chí cái chết. Hôm nay Isaia cũng thấy mình đứng trước nhan Thiên Chúa và cũng cảm thấy bất xứng, nhưng ông đã được thanh tẩy và sẵn sàng làm theo thánh ý. Tương tự, Phêrô cảm nhận mình ngập chìm trong uy quyền của Đức Kitô, và cũng phải hô lên: Lạy Chúa, xin tránh xa con vì con tội lỗi. Nhưng Chúa Giêsu đã gọi và chọn ông để làm công việc của Ngài bất chấp yếu đuối và bất xứng. Vấn đề là, không phải chúng ta có xứng đáng hay không, nhưng là Thiên Chúa gọi và chọn. Ngài đủ quyền tha thứ và ban ơn. Chúng ta có thể nhiều lần cảm thấy mình bất xứng. Tuy nhiên Chúa Giêsu không bảo Phêrô làm một cử chỉ chứng tỏ đức tin rồi đi về nhà ăn chay cầu nguyện. Đúng là tin vào Ngài phải như vậy và còn nhiều hơn nữa. Nhưng Ngài bảo ông cùng các bạn ra xa thả lưới bắt cá, tức hãy đi vào thế gian thu thập môn đệ cho Ngài. Chúng ta, những môn đệ Chúa cũng vậy, phải dùng lời nói và hành động hàng ngày chia sẻ đức tin cho tha nhân, để họ trở nên môn đệ Chúa. Simon Phêrô nhận được ơn gọi khi đang hành nghề kiếm sống. Ong đáp trả thuận lợi bằng cách thay đổi cuộc sống, nếp suy nghĩ. Chúng ta thì sao? Là Kitô hữu, chúng ta cũng phải bày tỏ tiếng xin vâng của mình bằng cách lớn lên trong ơn nghĩa Chúa, từ bỏ tội lỗi, chấm dứt kiêu ngạo, ăn ở khiêm tốn. Chẳng có gì là hèn hạ trước mặt Chúa, ngoại trừ phản bội. Chẳng có chi là “cao sang, thứ nhất” trước mặt Chúa ngoại trừ lòng khiêm nhường. Cho nên những công việc hàng ngày chúng ta thực hiện với lòng khiêm cung chân thật đều mang giá trị trước mặt Thiên Chúa. Khi vâng theo thánh ý, có thể Thiên Chúa sẽ dẫn đưa chúng ta đến nơi, đến việc chúng ta chẳng thể ngờ trước. Chúng ta sẽ ngạc nhiên nói rằng: “Tôi chẳng biết tại sao lại vướng mắc vào chuyện này… nhưng thế nào đi nữa vẫn hữu ích cho tôi.” Vì luôn có Chúa ở cùng tôi, tôi đang phục vụ Ngài. Và Ngài sẽ nói với tôi: “đừng sợ.” Amen. Giuse Nguyễn Thanh Tùng - Thừa sai TMCCT
Tin Tưởng để ra khơi.Kính thưa cộng đoàn dân chúa. Vào ngày 01-10-1977, trên một sân vận động ở NewYork, trước 80 ngàn khán giả hâm mộ bóng đá, Pélé đã ghi cho mình bàn thắng thứ 1278 và sau đó anh đã tuyên bố giã từ đời cầu thủ chuyên nghiệp. Sau khi cởi áo gởi tặng giao lưu với khán giả thì có một phóng viên đặt với anh câu hỏi như sau : “Pélé, anh đang là thần tượng của hàng ngàn triệu bạn trẻ, vậy trong cuộc đời của anh, anh có thần tượng nào không ?” Pélé chỉ vào cây thánh giá đang đeo trước đôi ngực trần vạn vỡ và trả lời “Có chứ thần tượng của tôi là chính Đức Giêsu Kitô”. Có thể nói, đây là một tuyên xưng niền tin tuyệt vời vào Thiên Chúa. Ông bà, anh chị và các bạn thân mến. Bài Tin Mừng chúa nhật thứ V thường niên hôm nay, Chúa bảo Phêrô “Hãy chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Ông mau mắn làm theo : “Vâng lời Thầy, tôi xin thả lưới”. Qua câu nói trên, chúng ta thấy niềm tin tưởng nơi Phêrô đã đặt hoàn toàn vào Chúa, suốt cả một đêm mà không bắt được con cá nào, huấn chi bây giờ trời đã sáng, ấy thế mà lưới đã đầy cá, đến độ ông không kéo nổi, phải nài đến những người bạn lân cận giúp đỡ. Đến lúc này Phêrô đã nhận ra rằng, với những kinh nghiệm của nghề chài lưới mà mình đã tích lũy từ xưa nay, đã không đem đến cho mình những thành công, mà ngược lại, quá vất vả mà không được gì. Thưa cộng đoàn, trong cuộc đời ông bà anh chị và tôi cũng vậy. Khi ta bước vào đời, sau một thời gian chuẩn bị cho mình những hành trang kiến thức, kinh nghiệm làm việc, sự quen biết bạn bè và ta thường nghĩ đây là những yếu tố cần thiết để đem đến cho mình những thành công. Nhưng kinh nghiệm cho thấy, có lúc thật chua cay và nghịch lý, những điều ta có được trong tay nhiều khi không dâng hiến cho ta sự thành công mà trái lại những nỗi thất bại ê chề cứ ngang nhiên mà tới, đến nỗi vất vả suốt đêm mà không được gì, bây giờ con người hoàn toàn bất lực với khả năng của mình, lúc này bàn tay Thiên Chúa can thiệp vào cuộc đời chúng ta. Và đâu là yếu tố khiến mẻ lưới của Phêrô đầy cá như vậy ? Thưa, ông đã hoàn toàn đặt niền tin nơi Chúa, mau mắn làm theo “Vâng lời Thầy, tôi thả lưới”. Một câu nói phát xuất từ lòng tin vững mạnh vào Thầy vào Thiên Chúa, chấp nhận hy sinh, sẵn sàng hành động, lên đường như Abraham ngày xưa, sau khi nghe Chúa gọi, ông hăng hái lên đường, trút bỏ lại sau lưng những gì thiết thân nhất là quê cha đất tổ, tình cảm thiêng liêng bao đời đã gắn bó, để dõi theo những gì là thiết yếu nhất của cuộc sống, ấy chính là sự phong phú tình thân và thần linh đang mở ra cho ông phía trước cho dẫu đường đi không thênh thang như mộng ước là phải mạo hiểm ra khơi, ra chỗ nước sâu. Tiếng gọi lời hứa cũng chẳng rõ nét rạch ròi, và biết bao nhiêu bất trắc đang đợi chờ. Mặc kệ, bất kể. Ông đã lên đường với niềm tin xác tín vào Chúa, ông dám hy sinh những gì mình đang có, đang sở hữu để vươn tới một điều lớn lao tuyệt vời, tin là phải dấn thân vượt khó. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa bảo với Phêrô phải ra chỗ nước sâu mà thả lưới và Chúa cũng bảo và mời gọi mỗi chúng ta. Nhưng chúng ta có can đảm như Phêrô, như Abraham ngày xưa không, hay còn rụt rè và chần chư, bởi một lẽ đơn giản là chúng ta ưa thích và ưa tìm sự dể dãi, mà dễ dãi cũng thường đồng nghĩa với dễ dàng, dễ chịu, sống thoải mái, sống theo sở thích, ngại khó khăn, không phải “vì ngăn sông cách núi" mà vì "lòng người ngại núi e sông”. Nhưng chúng ta phải nhận thức rằng, vượt khó không phải là điều “khó vượt” mà là phải quyết tâm lên đường để đạt được mục tiêu là nước trời và nhờ đó nó tôi luyện cho cuộc sống niềm tin của chúng ta mỗi ngày được lớn lên mà thường ngày trong nhịp sống ta phải đương đầu . Vậy thì trong cuộc sống của ông bà anh chị các bạn và tôi có như Phêrô đã đặt niền tin của mình vào Chúa, để hiến thân, dấn thân hòa nhịp trong cuộc sống chưa. Thánh Giacôbê đã nói “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” Ngài đã lập đi lập lại trong thư của Ngài. Như vậy. Chúng ta không phải đắn đo nên hay không nên mà phải suy nghĩ làm sao để có thể diễn tả niềm tin của mình vào Chúa trong cuộc sống hàng ngày, dẫu có gặp sóng gió nghiệt ngã bất ngờ thì lòng cũng đừng sờn. Nếu cuộc sống này thiếu đi niềm tin vào nhau thì cuộc đời không biết phải đi về đâu ! Bởi vì nó làm nền tảng xây dựng cuộc đời, xây dựng mối tương quan giữa người với người. Chúng ta biết rằng, không thể xây dựng bất cứ cái gì mà không cần đến nền tảng. Ước mong rằng những gợi ý chân thành ở đây sẽ gặp được những tấm lòng nhiệt thành chia sẻ và tan chảy trong niềm tin của mỗi người. Niềm tin bản thân gọi ta hãy sống kiên tâm, niềm tin hiến thân mời gọi ta hãy vươn tới, và niềm tin dấn thân cứ nhủ ta cứ lạc quan yêu đời cho dẫu đời vẫn còn đó bộ mặt thương khó và dáng dấp khó thương. Để khép lại tôi xin trích một câu thánh vịnh 37 “Hãy ký thác đường đời cho Chúa” Đỗ Lực
BIỂN CẢ VÀ NGƯ ÔNG (Lc 5:1-11) Cách đây hơn hai chục năm, chúng tôi bị giam trong một phòng kín tại Sóc Trăng, Việt Nam. Phòng rộng chừng 16 thước vuông, nhốt tất cả 58 người. Tất cả các việc ăn uống, ngủ nghỉ, vệ sinh, đều phải giải quyết trong phạm vi nhỏ hẹp đó. Mỗi ngày chúng tôi chỉ được phép ra ngoài chừng năm phút tắm giặt tại một ao nước đục ngàu. Phòng có một cửa cái trông sang bức tường phía sau của một trại tù bên kia con đường nhỏ. Suốt ngày chúng tôi chỉ nhìn thấy một bức tường trắng xóa. Nếu không nhờ hai cửa sổ, mỗi cửa to bằng hòn gạch thẻ, chúng tôi hoàn toàn không thấy được ánh sáng mặt trời. Nhưng phải thay nhau xếp hàng mới được diễm phúc đó, nhất là khi ngắm các bạn tù nữ từ phòng bên cạnh ra ngoài trời ... Nhờ có mảnh trời ló qua cửa sổ tí hon đó, chúng tôi còn may mắn hơn nhiều người trong thế giới hôm nay đang tự nhốt kín mình trong thế giới vật chất với những bức tường dầy đặc kinh nghiệm giác quan và niềm tin duy vật. “Khi con người chỉ nghĩ tới vật chất và những vật khả nghiệm, họ tự đóng kín trước những vấn đề về sự sống, về chính mình và Thiên Chúa, tự làm cho mình ra nghèo nàn. Phải nhận rằng khi chỉ coi những gì trong vòng kinh nghiệm là thực, người ta có khuynh hướng tạo một giới hạn cho lý trí và từ đó phát sinh một thứ bệnh phân liệt khủng khiếp, cho thuyết duy lý và duy vật, siêu kỹ thuật và các bản năng buông thả cùng tồn tại với nhau.” (1) Sống giữa bưng bít và hỗn độn đó, làm sao con người có đủ khả năng nhìn thấy tương quan sâu xa và phong phú nơi vạn vật ? Ngày xưa, các môn đệ Ðức Giêsu cũng đã sống trong một thế giới đóng kín với những kinh nghiệm và bận rộn với cuộc sống hằng ngày. Bỗng dưng bao kinh nghiệm trên biển cả bỗng trở thành vô ích. Ông Simon đã phải cay đắng thú nhận với Chúa : “Chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả.” (Lc 5:5) Câu trả lời đó hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm nghề nghiệp, lý luận và thực tại vật chất. Nếu không may mắn gặp Thày Chí Thánh, chắc chắn các ông không bao giờ có thể ra khỏi khung trời nhỏ hẹp của mình. Từ bao năm nay, các ông vẫn tin tưởng tuyệt đối vào những đồ nghề và tài năng đánh cá của mình. Nhưng không ngờ những tin tưởng đó đã bị phá vỡ. Không ngờ có thể có một cái nhìn khác đang chọc thủng niềm tin của mình. Cả khối nước biển dầy đặc cũng không che khuất nổi những bầy cá trước cái nhìn đó. Cái nhìn đó đã bộc lộ tất cả sức mạnh qua lệnh truyền cho ông Simôn : “Chèo ra chỗ sâu mà thả lưới bắt cá.” (Lc 5:4) Ðó là mệnh lệnh không phát xuất từ kinh nghiệm thực tế hay lý trí, nhưng là từ một quyền năng siêu nhiên tuyệt đối. Ðiều duy nhất đòi hỏi ông là đức tin. Thật là một thử thách ghê gớm đối với ông. Ông không thể tin vào tai mình nữa. Thày có nói đùa không ? Trong tiếng thở dài, lòng ông như hoang mang, khi phải thưa “vâng lời Thày.” (Lc 5:5) Câu trả lời phát xuất từ đức tin, tuy chưa trọn vẹn, nhưng cũng đủ cho Chúa làm một phép lạ. Có thế mới hiểu tại sao ông cảm thấy tôi lỗi (x. Lc 5:8) sau khi chứng kiến quyền năng lạ lùng nơi Lời của Chúa Giêsu. Một Lời đã làm thay đổi con người. Một Lời mời gọi ra khơi. Một Lời thúc đẩy hành động : hãy thả lưới bắt cá ! Một Lời đầy hiệu lực làm mọi người kinh ngạc trước mẻ cá lạ lùng : ông này là ai mà có quyền phép khiến bắt được mẻ cá lớn như vậy ! Quả thực, từ lúc thưa “vâng lời Thày,” ông Simon đã thấy tất cả mọi sự đều biến chuyển. Mặc dù đang chán nản và thất vọng, ông như bắt được làn sóng tình yêu Thiên Chúa. Có lẽ ông thầm nghĩ, cứ theo Thày thả lưới một lần, có mất mát gì đâu. Trong thái độ mạo hiểm đó, ông đã tỏ ra tin tưởng và phó thác vào quyền năng Chúa. Niềm tin đó không ngăn cản hay thu hẹp tầm nhìn của ông. Trái lại, niềm tin mở rộng tâm hồn và làm cho con người thấy rõ chân trời huyền nhiệm. Nói khác, “lý trí con người không mất mát gì khi cởi mở đón nhận các nội dung đức tin. Hơn nữa, đức tin còn mời gọi lý trí tham gia một cách tự do và ý thức.” (2) “Hãy ra khơi ! Hãy thả lưới ! Tôi sẽ làm cho các anh thành những người lưới người như lưới cá !” Một ai đó đưa đề nghị, mở ra những cái nhìn mới, biến đổi cuộc sống hằng ngày với một ý nghĩa mới, một sức năng động mới. Phải chăng từ đó không gợi lên một khởi động mới, một cuộc đổi đời ? Dù sao, rõ ràng trong cuộc hội ngộ này có một cái gì rất sâu xa. “Từ bỏ mọi sự, các ông đi theo Người” để trở thành những người thu phục người ta. Họ có hiểu ý nghĩa điều đó không ? Không rõ. Nhưng hiển nhiên, Người đã kêu gọi họ đổi đời để gặp gỡ mọi người. Từ một đêm dài không hiệu quả, họ đã có cơ duyên hội ngộ với con người ấy. Vì Lời Người, họ lại quăng lưới, thay đổi hẳn thói quen và đặt vấn đề về tương lai. Hôm nay phải chi Lời này còn sức mạnh đối với các cộng đoàn chúng ta ! Phải chi Lời này có thể khơi dậy nơi các bạn trẻ những phản ứng tích cực, tiếp bước ông Simon và các bạn đồng nghiệp, để trở thành các môn đệ Chúa Kitô cho Giáo hội và thế giới được nhờ ! Nhưng cũng như cộng đoàn Côrintô, có lẽ chúng ta còn nghi ngờ về tâm điểm của đức tin : Chúa Phục Sinh. Bởi thế chúng ta không thấy cần phải kêu gọi nhân danh Chúa nữa. Tuy nhiên, trong thư gởi giáo đoàn Côrintô, chứng từ đức tin của tông đồ Phaolô chắc chắn là lý do thúc đẩy ông thi hành sứ mạng truyền giáo. Ðây là Tin Mừng độc nhất, là điều chúng ta loan báo trong thánh lễ : “Ðức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta. Ðức Kitô đã chịu mai táng trong mồ. Ðức Kitô đã phục sinh và chúng ta mong chờ Chúa lại đến.” Ðó là biến cố đổi đời thánh Phaolô, các Tông đồ và hằng trăm anh em. Các cộng đoàn chúng ta thường quen nghe hát các câu đó, nhưng không cảm thấy thúc bách phải loan báo cho mọi người biết biến cố đó và cũng không thấy mình có sứ mệnh tìm kiếm giúp đỡ những ai đang loan báo Tin Mừng nữa. Bởi vậy, vấn đề cấp thiết hôm nay là phải chọc thủng bức tường thế giới vật chất, và “tái khám phá một đường lối mới để lý trí nhân loại hướng mở về ánh sáng của ‘Ngôi Lời’ Thiên Chúa và mạc khải toàn hảo của Người là Ðức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người.” (3) Ngay trong Giáo hội cũng không thiếu những tâm thức dán chặt vào thế giới vật chất và xác tín vào những năng lực trần thế mà thôi. Quyền lực và tiền bạc khiến họ mờ mắt, không thể nhìn thấy tính Thiên Chúa nơi nhiệm thể Chúa Kitô là Giáo hội. Họ không dám ra khơi theo lời mời gọi của Chúa, vì sợ phải rời xa những bờ bến họ đã bám trụ lâu đời. Họ tin tưởng tuyệt đối vào những kiến thức, dư luận, phe cánh, không đủ can đảm ra khỏi lâu đài bê tông cốt sắt là chính cái tôi của mình mà đến với mọi người. Họ sợ phải đối diện với những gì xa lạ và khác biệt với mình. Từ nội tâm sâu thẳm đã không gặp gỡ Thiên Chúa, làm sao có thể đối thoại anh em ? Chỉ khi nào tin tưởng tuyệt đối vào Lời Chúa, chúng ta mới có thể mạnh dạn ra khơi. Lời Chúa luôn thúc đẩy con người dấn thân, cởi mở và đối thoại với mọi người. Khi không trao đổi với anh em, chúng ta sẽ tin những điều mình nghĩ là sự thật. Kết luận được đặt ra trước tiền đề. Người ta cố tìm những dữ kiện hay dư luận phù hợp để củng cố kết luận đó. Họ chỉ thấy những hiện tượng, chứ không tìm hiểu sâu xa nội dung các sự kiện. Nhìn vào con người qua những ống kính phòng thí nghiệm, làm sao biết được thực tại tâm linh ? Theo nữ sĩ Dương Thu Hương, nửa ổ bánh mì là bánh mì, nhưng một nửa sự thật không phải là sự thật. Ðó là chưa kể nhiều trường hợp sự thật bị bẻ cong để phục vụ mục tiêu hay quyền lợi phe đảng. Nhiều trường hợp sự thật đã phải hy sinh chỉ vì con người đam mê tìm kiếm chính mình. Không có đức tin, không thể ra khỏi chính mình để mạo hiểm lao vào thực tế đầy thách đố. Ðức tin luôn bơm thêm khí thế dũng cảm cho con người. Không có đức tin, làm sao ông Simon và các bạn đồng nghiệp có thể lao vào chỗ nước sâu mà thả lưới đánh cá ? Ðức tin luôn cho con người sức mạnh khởi sự hành động và đi đến cùng nếu phải vác thập giá lên đồi Canvê với Chúa. Không có đức tin, họ không thể tìm thấy ý nghĩa trong việc theo Chúa. Nhiều người muốn thênh thang theo Chúa. Bất cứ khổ giá nào đặt trên vai họ đều tạo nên những chống đối hay buồn phiền cay đắng. Ông Phêrô đã trải qua kinh nghiệm đó sau khi rời vườn Cây Dầu vào trong dinh Philatô với Thày. Simon được kêu gọi không phải đổi từ nghề bắt cá sang việc chinh phục nhân tâm bằng những phương tiện tự nhiên. Sứ mệnh cứu độ là một kỳ công của ân sủng Thiên Chúa. Nếu đó là công việc của Thiên Chúa, làm sao con người có thể thực hiện một mình ? Xưa nay, người ta vẫn cứ tưởng mình “ngon” hơn người khác, đến nỗi quên mất vai trò Thiên Chúa trong công cuộc cứu độ. Hành trình đem ơn cứu độ đến với mọi hạng người trong xã hội rất phức tạp. Nhưng con đường dài đó cũng không khó bằng con đường trở về với chính mình để khám phá sự thật về mình. Những tương giao chồng chéo nhau trong xã hội đã đem lại bao hứa hẹn cũng như thất vọng. Sự thánh thiện hay tội lỗi cũng từ những tương quan đó. Nhưng nên nhớ “sự thánh thiện chủ yếu không phải là không bao giờ lầm lỗi hay phạm tội. Sự thánh thiện tăng triển khi chúng ta có khả năng trở lại hay sám hối, khả năng sẵn sàng bắt đầu lại, và trên hết, khả năng hòa giải và tha thứ.” (4) Sự thánh thiện đó đã có nơi thánh Phaolô. “Nhưng thánh Phaolô và Banaba đã có những bất đồng lớn ngay lúc khởi sự hành trình truyền giáo lần thứ hai và đã chia tay nhau.” (5) Ðó là những khác biệt trong quan niệm và đường lối, chứ không phải là những bất hòa. Nhiều người lẫn lộn bất đồng với bất hòa. Theo họ, bất cứ ai có tư tưởng khác biệt đều là kẻ phá hoại, bất hòa, chống đối. Thực tế, “ngay giữa các thánh cũng có những khác biệt, bất đồng và các cuộc tranh luận.” (6) Các ngài rất sợ bất hòa, vì đó là phản chứng, lỗi đức bác ái. Thích lên án người khác trước khi đối thoại để tìm hiểu sự thật, mới gây chia rẽ và bất hòa trong cộng đoàn. Mất sự hiệp nhất, làm sao cộng đoàn có thể chu toàn sứ mệnh phúc âm hóa ? Thời gian chỉ có một. Nếu dồn hết sức vào việc “bới lông tìm vết,” chúng ta sẽ không còn khả năng đến với muôn dân. Lạy Cha, khi vâng lời Cha xuống trần gian, Ðức Giêsu đã gọi ông Simon và các bạn đồng nghiệp từ bỏ nghề đánh cá để trở thành những người lưới người như lưới cá. Xin cho chúng con luôn lắng nghe tiếng Con Cha mời gọi để dấn thân và can đảm thi hành sứ mệnh cứu độ trong niềm tin yêu tuyệt đối vào uy quyền toàn năng của Cha. Amen. - đỗ lực 04.02.2007 - dzuize@gmail.com (1) ÐGH Bênêđictô XVI, Zenit 28.01.2007. (2) ibid. (3) ibid. (4) ÐGH Bênêđictô XVI, CWNews.com, 31.01.2007. (5) ibid. (6) ibid.
Lm. Jude Siciliano, OP (Anh Em HVĐM chuyển ngữ )
Này
Con Đây, Xin Hãy Sai Con Đi
Lc
5: 1-11
Kính thưa anh chị em,
Thánh Phêrô không phải là người duy nhất
“vất vả suốt đêm.” Nhiều người trong chúng ta cũng phải “vất vả làm việc
cả đêm”; nhiều lúc vất vả làm việc cả ngày mà đêm vẫn phải thức trắng
làm tiếp. Lúc đó, chúng ta thấy văng vẳng trong mình giọng nói mệt mỏi,
chán nản và thất vọng của thánh Phêrô. Có những lần chúng ta phải thốt
lên như Phêrô trong bài Tin mừng hôm nay: “chúng tôi chẳng bắt được gì
cả…”
Chúng ta đã cố gắng để duy trì mối tương
quan với nhau, nhưng những gì chúng ta nhận được chỉ là sự vụn vỡ; chúng
ta đã cố gắng chu cấp cho gia đình trong thời buổi mà mọi thứ bị cắt
giảm thế này, dạy dỗ đức tin cho con cái, nhưng chúng lại bỏ nhà đi bụi;
chúng ta đã vất vả làm việc cả đời để rồi nhận ra những hạn chế về sức
khỏe, về tài chánh của mình, … Cũng như Phêrô và những bạn chài của ông,
chúng ta còn bao nhiêu thứ để mà bận tâm lo lắng.
Phêrô chẳng có thời gian rảnh rỗi mà ngồi
trên những sườn đồi hay trong hội đường để nghe Đức Giêsu giảng dạy. Ông
có những việc khác quan trọng hơn phải làm. Ông phải lo cho gia đình và
phải làm việc. Vì Phêrô không thể đến gặp Đức Giêsu, thì Đức Giêsu đến
gặp ông. Người chọn chính con thuyền của Phêrô để làm “tòa giảng.” Từ
trên đó, Đức Giêsu giảng dạy đám đông dân chúng, mà như thánh Luca mô tả
thì “họ chen lấn nhau đến gần Đức Giêsu để nghe lời Thiên Chúa…” Chả lẽ
những nhà giảng thuyết như chúng ta lại không ghen tị với điều đó sao:
người ta chen lấn nhau để nghe một bài giảng! Chắc chắn Đức Giêsu đã nói
lên những điều mà họ thấy là quan trọng và có thể áp dụng cho cuộc đời
của họ. Phêrô không thể ngăn được những gì Đức Giêsu giảng và cuối cùng
thì cả hai cũng ở trên cùng một chiếc thuyền. Những lời của Đức Giêsu
thuyết phục đến nỗi khiến Phêrô hành động ngược lại với chính kinh
nghiệm của mình, kinh nghiệm của bao năm chài lưới, và tin tưởng vào lời
của Đức Giêsu. Khi nghe Đức Giêsu nói: “chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới
bắt cá…,” Phêrô đã răm rắp làm theo.
Đây chính là chỗ của chúng ta trong bài
Tin mừng hôm nay: chúng ta đang thất bại và chán nản, nhưng Đức Giêsu đã
bước vào cuộc sống này, vào trong thế giới này với một lời có thể lôi
kéo người ta đến với Người. Phêrô đã nghe lời đó và đáp trả, vì ông nhận
ra rằng cuộc đời của mình sinh hoa trái – như một người chài lưới có thể
nhận ra – là một mẻ cá lớn. Câu chuyện này không hề xa vời. Nó đề cập
đến việc Đức Giêsu gọi đích danh một người ngay lúc người ấy đang bận
túi bụi, nhưng người ấy đã đáp lời Người. Phêrô chuyển từ tình trạng mất
định hướng và thất bại đến chỗ có mục đích và quảng đại. Ông nhận biết
điều gì đã xảy ra và quyết định đi theo Đấng có thể bắt cá cho ông và
hơn nữa lời của người ấy mang lại sự sống.
Nhưng ngay lúc đầu Phêrô hơi do dự. Ông
cảm thấy chẳng ăn nhằm khi đứng trước một người vừa dạy một dân chài dày
dặn kinh nghiệm như ông cách bắt cá. Giờ đây Đức Giêsu bắt những con cá
khác, trước hết là Phêrô và sau đó là mấy người bạn chài của ông. Như
Người nói, Người dùng chính tấm lưới ấy mà bắt những người đàn ông quen
việc chài lưới này. Có thể các ông không xứng đáng nhưng nếu tin tưởng
vào lời Đức Kitô, chứ không phải tin vào chính các ông, thì các ông sẽ
trở thành “kẻ đi lưới người ta.” Vì thế, khi các ông tin tưởng vào chính
Đức Giêsu chứ không phải vào bản thân, các ông có thể gạt qua một bên sự
do dự của mình để đi theo Đức Giêsu.
Cuộc sống của chúng ta cũng bận rộn đấy
chứ. Những thứ làm bận tâm và ám ảnh chúng ta suốt đêm thì chẳng phải là
những chuyện không đâu, chúng là một phần quan trọng của cuộc sống của
chúng ta và vì thế chúng ta cần quan tâm. Nhưng chúng ta cũng cần đến
những trợ giúp để tập trung hơn và hướng dẫn những quyết định của chúng
ta. Dù chúng ta biết rằng không thể dễ dàng có ngay giải pháp cho những
vấn đề quan trọng mà chúng ta gặp phải, thì chúng ta vẫn rất muốn được
quan tâm; chúng ta cần cảm giác được ưu tiên và được hướng dẫn. Nói cách
khác, chúng ta vẫn muốn tiếp tục được nghe lời mời gọi của Đức Giêsu để
bước theo Người và đôi khi chúng ta muốn như thế khi vất vả lê bước qua
những giai đoạn tăm tối nhất của cuộc đời mình.
Chính cuộc sống bận rộn của Phêrô lại trở
thành một “nơi để ông lắng nghe.” Ngay lúc mà ông đang giặt lưới sau một
đêm làm việc vất vả mà không có kết quản thì ông nghe được tiếng Đức
Giêsu. Lúc đầu, ông cũng chỉ lắng nghe như bao người khác có mặt ở đó
ngày hôm ấy. Đấy cũng là cách mà chúng ta lắng nghe Lời Chúa trong cộng
đoàn này, khi chúng ta cử hành phụng vụ. Tôi cho rằng chính việc lắng
nghe chung với nhau như thế đã giúp Phêrô nghe thấy điều tiếp theo- đó
là tiếng gọi của riêng ông. Việc cử hành phụng vụ hằng tuần mà chúng ta
chia sẻ với nhau như thế này là một nơi quan trọng để chúng ta có thể
lắng nghe như một cộng đoàn giáo hội. Chúng ta cùng nhau lắng nghe Đức
Kitô gọi đích danh mỗi người, và nhờ vào lời hữu hiệu của Người, chúng
ta có thể trở nên “giáo hội lưới cá” của Người. Noi theo Người, chúng ta
đến với những kẻ bị lầm lạc và bối rối để giúp họ một hướng đi và một
nơi để được đón nhận. Sứ vụ hiện nay của chúng ta là trả lời cho tất cả
những ai đang nói với như Phêrô đã từng nói: “Chúng tôi đã vất vả suốt
đêm mà chẳng được gì.”
Ngoài việc lắng nghe Đức Giêsu trong
khung cảnh đám đông, Phêrô cũng nghe thấy Đức Giêsu nói trực tiếp với
ông ngay giữa cuộc đời bận rộn một lời mời gọi bước theo Người. Vì thế,
cuộc sống thường ngày cũng có thể là nơi mỗi chúng ta lắng nghe Lời.
“Hãy nghe đi!” Hãy tập quan tâm đến những những gì chúng ta trải nghiệm
hay nghe được mỗi ngày. Chẳng hạn, chúng ta có một người bạn thông thái
nói cho chúng ta biết sự thật mà chúng ta muốn nghe hay không? Chúng ta
có nắm được bài Tin Mừng mà chúng ta nghe mỗi Chúa Nhật và cố gắng áp
dụng trong cuộc sống của chúng ta hay không?Mỗi khi xong việc chúng ta
có ngừng lại và hỏi “Lạy Chúa tiếp theo con phải làm gì?” và sau đó có
lắng nghe lời đáp trả hay không?Chúng ta có thể khởi đầu một ngày mới
với cố gắng tìm gặp đức Kitô và lắng nghe ý Người trong lúc làm việc hay
không?
Bài Tin Mừng hôm nay được sắp xếp chặt
chẽ. Mở đầu với những khó khăn và nhu cầu; rồi có tiếng nói cất lên và
người ta đáp lại những gì đã nghe; việc đáp trả của họ mang lại sự hữu
hiệu. Rồi một lời khác được nói ra, thì lại có thêm một đáp trả mới –
một hành trình suốt đời bắt đầu. Chẳng có gì bảo đảm rằng những ai đón
nhận lời mời gọi của Đức Giêsu sẽ thành công, ít là theo cách nghĩ thông
thường của chúng ta. Chúng ta có thể không thấy được một chiếc thuyền
đầy cá. Đức Giêsu cũng chẳng cho biết chính xác đời sống của các môn đệ
mới sẽ như thế nào. Hầu như cả Phêrô cũng như những người khác chẳng
biết gì mấy về cái gọi là “lưới người.” Họ sẽ làm như thế nào đây? Bao
nhiêu “mẻ lưới” thì mới gọi là thành công?Họ sẽ bắt đầu từ đâu và kết
thúc như thế nào? Có biết bao điều tôi muốn biết trước khi tôi đặt bút
ký một bản hợp đồng suốt đời. Tuy nhiên, Đức Giêsu hiện diện với Phêrô
cũng như chúng ta trong suốt cuộc hành trình. Chúng ta sẽ không đi một
mình, nhưng còn có một Đấng khác, Người sẽ luôn ở giữa chúng ta. Chúng
ta tin tưởng rằng trong suốt cuộc hành trình Người sẽ tiếp tục nói lên
một lời khi chúng ta thật sự mất lòng tin sau một đêm chẳng bắt được gì.
Phêrô không chỉ thấy mẻ cá nhưng ông còn
thấy nhiều hơn thế. Ở đây, có một Đấng có thể bước vào cuộc đời ông và
hướng dẫn ông, giúp ông mở mắt ra và cho ông niềm hy vọng. Có một đấng
khiến ông ý thức được khoảng cách giữa ông với Thiên Chúa thật là xa và
chỉ cho thấy cuộc đời của ông còn bất toàn biết bao. Vì thế, ông nói lên
cảm giác bất xứng, chứ không phải là cảm thức về tội lỗi cách cường điệu
hay hoang mang, nhưng từ một trải nghiệm mà chúng ta cũng có thể cảm
nhận khi đứng trước nhan Đấng Thánh.
Isaia cũng từng có một kinh nghiệm về một
Thiên Chúa thánh thiện khiến ông kinh hãi nhưng cũng kính sợ. Giống như
Phêrô quỳ gối trước Đức Giêsu, Isaia cũng cảm thấy mình bất xứng và thấy
được lòng thương xót của Chúa. Nhưng, ông là một người “môi miệng ô uế.”
Nhưng đối với Chúa, điều đó chẳng hề gì. Sứ vụ của Isaia không lệ thuộc
vào việc ông xứng đáng hay không nhưng nhờ vào lời của Đấng đã gọi và
sai ông đi. Ông đáp lời Thiên Chúa “Này con đây, xin hãy sai con đi.” Đó
cũng có thể là lời cầu nguyện chúng ta cất lên trong suốt tuần lễ này.
Dù có thấy mình xứng đáng hay không, giữa cuộc sống thường nhật này
chúng ta hãy cất lời cầu xin và tin tưởng vào lời mời gọi chúng ta và
thưa lên rằng: “Này con đây, xin hãy sai con đi.”
Người Phi Châu có câu ngạn ngữ thế này:
“Ở gần một tên trộm thì không phải là quá tốt.” Simon Phêrô có lẽ đã cảm
thấy như thế, và chúng ta cũng vậy. Thiên Chúa sẽ hỏi chúng ta điều gì
khi chúng ta chấp nhận lời mời gọi để đến gần Ngài hơn? Thiên Chúa muốn
ta gần cỡ nào? Hơn nữa, Thiên Chúa muốn ban cho ta bao nhiêu? Vẫn chưa
có câu trả lời cho Simon cũng như cho chúng ta. Tất cả những gì chúng ta
có là một lời động viên “Đừng sợ” và một lời mời gọi để bước theo và tin
tưởng. Amen.
Fr.
Jude Siciliano, OP. (Anh em Học Viện Đaminh chuyển ngữ)
Dạ Con Đây, Xin Sai Con Đi
Is 6,
1-2a, 3-8; Tv 138; I Cr 15, 1-11; Lc 5, 1-11
Kính thưa quý vị,
Tuần trước, chúng ta đã nghe về lời mời
gọi của ngôn sứ Giêrêmia. Có một đoạn ở giữa bị lược bớt trong bài đọc (Gr
1,6) khi vị ngôn sứ thốt lên: "Ôi ! Lạy ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng, con đây
còn quá trẻ, con không biết ăn nói!" Giêrêmia hẳn đã phải chống lại CẢ
vương quốc, các tư tế và dân trong xứ. Lẽ ra ông phải mạnh mẽ nhưng
trong giây phút được gọi, ông cảm thấy không thích hợp với một công việc
lớn lao mà Thiên Chúa trao phó. Điều gì sẽ hỗ trợ ông và biến ông thành:
“thành trì kiên cố, lũy sắt, thành đồng chống lại cả xứ” (Gr 1,18)?
Giêrêmia nói khá cô đọng: “Có Lời Chúa phán cùng tôi…” Đó là lý do một
con người bình thường có thể trở thành ngôn sứ, “Có Lời Chúa phán cùng
tôi…” Điều này cũng tóm kết chủ đề của ba bài đọc trong ngày hôm nay:
con người cảm thấy không xứng hợp khi Thiên Chúa kêu gọi và sức mạnh của
Lời Chúa đi cùng với ơn gọi ấy.
Isaia mô tả ơn gọi của ông qua hình ảnh
phụng tự trong đền thờ với ca đoàn chúc tụng sự thánh thiện của Đức
Chúa. Ông thấy một thị kiến: “Tôi thấy Chúa thượng, ngự trên ngai rất
cao”. Cuộc gặp gỡ giữa ông với Đức Chúa khiến ông cảm thấy mình sợ hãi
và bất xứng. Đức Chúa đã tẩy trừ sự nhơ bẩn và thanh tẩy ông. Được chuẩn
bị, Isaia sẵn sàng trả lời cách nhanh chóng khi Đức Chúa hỏi: “Ta sẽ sai
ai đây?” Isaia trả lời: “dạ con đây, xin sai con đi”.
Lời đáp trả của ngôn sứ: “Dạ con đây” là
môtíp kinh thánh xuyên suốt hai Giao Ước. Khi Thiên Chúa kêu gọi, người
được chọn đáp lời: “Dạ con đây”. Dù con người cảm thấy mình bất xứng,
lời đáp trả ấy cũng cho thấy sự tín thác vào lời mời gọi của Thiên Chúa
và sẵn sàng phục vụ ý định của Người. “Dạ con đây, xin sai con đi”. Lời
cầu nguyện ngắn gọn và tín thác đó chúng ta có thể dùng như lời suy niệm
lặp lại trong suốt Mùa Chay và suốt đời ta.
Trong bài Tin mừng, Phêrô được mời gọi.
Bối cảnh không giống như thị kiến trong đền thờ của Isaia. Phêrô là một
mẫu người thực tế và bình dị. Ông là một ngư phủ. Làm thế nào Thiên Chúa
khiến ông chú ý? Chẳng lẽ ông phải lên đỉnh núi cao hay lên Giêrusalem?
Làm thế nào Đấng Tối Cao đến với một con người suốt ngày chỉ biết giăng
câu, thả lưới và dán mắt vào thời tiết và tình trạng của con nước?
Ngư phủ Phêrô sẽ có một thị kiến giống
Isaia: ông sẽ được thấy một điều kinh ngạc. Thị kiến và ơn gọi của Phêrô
đến từ lời nói của Đức Giêsu và kết quả của Lời ấy là một mẻ lưới đầy
cá. Phêrpô sẽ làm như Isaia và Giêrêmia khi các ông nghe được tiếng mời
gọi. Ông trở nên sợ hãi trước Đấng phán ra lời có thể làm cho lưới đầy
cá. Ông nhận thấy sự hiện diện phi thường và sức mạnh thánh thiêng của
Đức Giêsu và thấy mình bất xứng. Đức Giêsu lại lên tiếng một lần nữa:
Người mời gọi Phêrô hãy đánh cá kiểu mới. Từ nay trở đi, ông sẽ rời mắt
khỏi lòng biển, luồng gió và thời tiết để quan tâm đến những người ông
sẽ gặp gỡ và sẽ thấy những cơ hội để mang về cho Đức Giêsu nhiều môn đệ
hơn nữa. Ơn gọi của Phêrô không làm cho ông bớt bất xứng, nhưng nếu ông
chú tâm lắng tai nghe lời của Đấng đang mời gọi ông, ông sẽ trở thành kẻ
“thu phục người ta cho Chúa”
Mùa Chay sẽ bắt đầu trong tuần này. Đây
là thời gian thuận tiện để thực hành một số hình thức kỷ luật. Chúng ta
làm thể để giúp mình có thể ngày càng làm chủ được đời mình hơn. Rất
nhiều người quanh chúng ta thường nói lên một điều ngược lại: “Tôi phải
có cái tôi muốn, và đúng lúc tôi cần nó!” Nền văn hóa của chúng ta dường
như trước hết được hướng dẫn bởi những nguyên tắc chiếm hữu nhiều hơn
nữa. Nhưng, như những môn đệ của Đức Giêsu, chúng ta muốn tránh khỏi
những gì khiến tinh thần chúng ta bị chia trí hay bị làm cho xa sút.
Chúng ta không muốn bị điều khiển bởi: tiền tài, thói hư, nghiện ngập,
tìm kiếm lạc thú và giải trí. Vì thế, chúng ta thực hành từ bỏ chính
mình để nhắc nhở ta lưu tâm hơn đến tiếng của Đức Kitô và tách chúng ta
ra khỏi những tiếng gọi của ganh đua không ngừng. Những thực hành Mùa
Chay có thể giúp chúng ta nghe thấy lời mời gọi khởi đi từ Phép Rửa của
mình và hình thành lên đời sống chúng ta.
Cả ba bài đọc đều phản ánh một lời đáp
trả tương tự của con người (Isaia, Phaolô và Phêrô). Các ngài đều thấy
mình bất xứng khi thấy mình được Thiên Chúa kêu gọi để phụng sự Người.
tuy nhiên, có một ẩn ý (hoặc được nói ra) – “nhưng”. Lời này xảy ra sau
khi người ấy thấy mình được mời gọi và diễn tả sự bất xứng của mình.
Chúng ta có lý do nào để bào chữa cho
việc đã không tiến lên đáp lại khi nghe thấy lời mời gọi hay không?
Chúng ta biết tiếng gọi ấy không đến như ánh chớp và một áng mây. Đó
thường giống như kiểu ai đó gọi mình: “muốn đi đưa Mình Thánh Chúa cho
bệnh nhân không?” “Anh có muốn giúp tôi thu gom thức ăn cho người vô gia
cư hay không?” “Ô không, tôi không muốn, tôi chưa làm thế bao giờ!” Khi
chúng ta bị cám dỗ trả lời như thế, chúng ta có thể tua lại những lời
thánh Phaolô nhắn nhủ: “tôi có là gì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn
Người ban cho tôi đã không vô hiệu”.
Có thể chúng ta nhận ra Phêrô đón nhận ơn
gọi ra sao – đó là một tiến trình với các giai đoạn. Trước hết, Đức
Giêsu giảng cho đám đông từ trên thuyền của Phêrô. Phêrô có lẽ đã nghe
và bị đánh động bởi những gì Đức Giêsu nói. Sau đó, Phêrô nghe theo lời
“đề nghị” của Đức Giêsu để thả lưới bắt cá. Sau mẻ cá lạ lùng, Phêrpô
nhận ra ơn gọi của mình, “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người
ta”. Ngay khi nghe được Lời, Phêrô đã được nên mạnh mẽ và ông có thể đáp
lại.
Các bài đọc hôm nay cũng đưa ra một thực
hành Mùa chay cho chúng ta. Nếu chúng ta chưa sẵn sàng thực hiện, thì
hãy dành chút thời gian mỗi ngày để lắng nghe Lời Chúa. Để kết thúc
những suy niệm này, tôi đã nối kết với bài Tin mừng Chúa Nhật này. Tại
sao không in những bài đọc này ra và dựa vào đó suy niệm mỗi ngày trong
suốt tuần phụng vụ này?
Một số cá nhân và nhóm nhỏ thực hành một
phương pháp truyền thống về việc lắng nghe Lời Chúa trong Sách Thánh.
Phương pháp này được gọi là “Lectio Divina”. Đại loại giống như sau:
Lectio – đọc. Sách Thánh là lời sống
động, vì thế đọc chậm rãi một vài câu, thậm chí có thể đọc lớn tiếng. Để
Thánh Thần soi dẫn và để mình ý thức về một từ hay đoạn cụ thể nào đó.
Chìm sâu vào đó một lúc.
Meditatio – suy niệm. Hãy để mọi khả năng
của quý vị vào trong bối cảnh đó. Quý vị thấy gì? Ngay ở đây? Cảm thấy
gì? Nghĩ gì? ...
Oratio – cầu nguyện. Đáp lại những gì quý
vị cảm nghiệm được với cảm súc sâu xa nhất: vui mừng, chúc tụng, buồn
phiền, tạ ơn...
Contemplatio – chiêm niệm. Đây là điều
các tác giả tâm linh gọi là “ở lại trong Chúa”. Ở đây chúng ta gác lại
mọi hoạt động trí óc cũng như cảm xúc và ở lại trong vòng tay Chúa. Một
số người mô tả khoảnh khắc này như là “cung lòng” trong đó Sách Thánh
được tái sinh và nhập thể thành xương thịt của chúng ta.
Chúc quý vị một Mùa Chay hạnh phúc!
|