HOME

 
 

Chúa Nhật XXXIII Thường Niên - Năm C
Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Lc 21:5-19 ;  Ga 12,24-26

 

An Phong op : Tin tưởng vững vàng (Lc 21:5-19)

Máu Các Thánh Tử Đạo Là Hạt Giống Đức Tin

Sự sống nên trọn vẹn nhờ cái chết

Giuse Nguyễn Cao Luật op : Hướng Tới Vô Cùng (Lc 21, 5-19)

Fr. Jude Siciliano, op : Mặt Trời Công Chính Sẽ Mọc Lên (Lc 21, 5-19)

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Các chứng nhân (Ga 12,24-26)

Joseph Vũ Hải Bằng op : Máu Các Thánh Tử Đạo : Trổ Sinh Các Tín Hữu

Lm Sertillanges, OP : Thiên Chúa Hiển Minh

Đỗ Lực op : Vượt Qua Nỗi Sợ (Lc 21:5-19)

Fr. Jude Siciliano, op : Hăy Kiên Tâm Chờ Đợi

Fr. Jude Siciliano, op: Mặt Trời Công Chính sẽ mọc lên

 

 


An Phong op

Tin tưởng vững vàng
(Lc 21:5-19)

* Vẻ đẹp của trần gian

Có người trầm trồ về vẻ đẹp và sự sang trọng của đền thờ. Nhân đó, Chúa Giêsu tiên báo về ngày đền thờ bị tàn phá như thể một dấu hiệu của việc thế giới này sẽ qua đi; v́ với người Do thái, cũng như với các môn đệ, việc đền thờ bị tàn phá là một điều ǵ kinh khủng như tận thế vậy.
Như thế, trần gian này chưa phải là thiên đàng; v́ thế, luôn có những dấu hiệu cho thấy có sự dở dang, đổ vỡ, trục trặc trong cuộc sống. Nhưng Chúa Giêsu không trả lời rơ khi nào là tận thế và cũng tỏ cho thấy rằng tận thế không đến ngay đâu.

* Qui luật sống của người môn đệ Chúa

Ngươi môn đệ bị ghét bỏ, điều đó là một qui luật của đời sống Kitô hữu. Nếu chúng ta chưa sống trọn vẹn vai tṛ ngôn sứ, chúng ta thích nghi rất giỏi với những thay đổi của thời thế và trong thời đại nào cũng thế, chúng ta có thể t́m thấy được những lợi lộc, những ưu đăi; nhưng điều đó lại làm giảm bớt mất tính vượt qua của sứ điệp Chúa Kitô đối với xă hội con người.

Chúng ta không muốn để cho cuộc đời động đến một sợi "lông chân" của ḿnh nên cũng chẳng thể thấy được Chúa bảo vệ những "sợi tóc" trên đầu ḿnh.

* Ḷng tin

Môn đệ Chúa sẽ thấy những dấu hiệu của một sự đổ vỡ ngay trong trần gian, sự sụp đổ của đời sống hiện tại; nhưng những điều đó chẳng là ǵ đâu. Thế giới phải được trải qua một cuộc thay đổi trọn vẹn, một sự hoàn tất bằng một sự đổi mới hoàn toàn. Trần gian này chưa phải là "thiên đàng" nên đời sống con người c̣n phải được biến đổi trong "thử thách" để được thanh luyện và trở nên tinh tuyền.

Trong bất cứ lănh vực nào cũng cần một sự vượt qua như thế. Tránh né không phải là cách tốt nhất để vượt qua. Chỉ có một ḷng can đảm "dấn thân" mới cho ta biết ḿnh và mới giúp ta vượt qua chính ḿnh...

Với ḷng tin vào Chúa Giêsu, người môn đệ Chúa sẽ được b́nh an trước những biến động của lịch sử, "các ngươi đừng sợ". Chính trong nhưng lúc khó khăn là những lúc chứng tỏ ḷng trung tín rơ ràng hơn hết; và chính trong những khó khăn lớn, người Kitô hữu sẽ thấy rằng chỉ có Chúa mới có thể là chỗ tựa nương của đời ḿnh mà thôi.

"Các con sẽ bị mọi người ghét bỏ v́ danh Thầy, nhưng dù một sợi tóc trên đầu các con cũng sẽ chẳng hư mất"

Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
Lời Chúa cho con thấy thực chất của ḷng con :
con bám víu vào cuộc đời và con lẩn tránh những khó khăn.

Lời Chúa cho con thấy
con đă muốn đầu hàng ngay cả trước khi vào vào cuộc chiến.

Xin ban thêm sức mạnh và ḷng tin cho con.


An Phong op

Máu Các Thánh Tử Đạo Là Hạt Giống Đức Tin

Hôm nay, chúng ta cùng toàn thể Giáo hội Việt Nam nói riêng và Giáo hội Công giáo toàn cầu nói chung – mừng kính các Thánh Tử đạo tại Việt Nam, những người tôi tớ anh dũng của Thiên Chúa, những người con trung hiếu của Giáo hội và dân tộc. Các ngài đă lấy t́nh yêu và máu hồng để tuyên xưng đức tin, tuyên xưng sự hiện diện sung măn của Thiên Chúa trên mảnh đất nhỏ bé châu Á này. Tôn phong lên Thánh là chuẩn y đời sống thánh thiện, đức tin mạnh mẽ, đức ái tuyệt hảo và đức mến nồng nhiệt của một người thuộc về Thiên Chúa. Tôn phong lên Thánh là chấp nhận một cung cách sống triệt để Tin mừng, đặt bàn chân ḿnh vào vết chân Đức Giêsu đă đi qua, là tôn vinh một kiểu mẫu - không phải là cá nhân - sống phục vụ Thiên Chúa, phục vụ Giáo hội và phục vụ con người hết ḿnh. Hơn nữa, đối với các Thánh Tử đạo, là đóng dấu ấn mạnh mẽ, quyết liệt lên ḷng can đảm, chí can cường, sự hiên ngang, kiêu hùng, đầu ngẩng cao, mắt hướng về trời của những người con của Thiên Chúa. Đă dám sống cho Chúa th́ cũng dám chết v́ Chúa. Không phải là gông cùm, xiềng xích, tù đày; không phải là xương tan thịt nát, máu chảy đầu rơi cho bằng ḷng hiếu nghĩa và tín trung với Thiên Chúa. Máu đă thấm vào ḷng đất Mẹ Việt Nam để làm những hạt giống đức tin sinh sôi nảy nở.

Từ ngàn xưa ấy : "Phúc cho những ai bị bách hại v́ sự công chính, v́ Nước Trời là của họ".

Từ miền hoang vu đồi núi Galilê, lời Đức Giêsu nhắn nhủ c̣n vang vọng đến mút cùng bờ cơi trái đất. Lời từ miền đất Palestin xa xưa đó vượt qua các biên giới thiên nhiên, địa lư, qua toàn thể các lục địa châu Âu, Mỹ, Úc và đến đất châu Á này. Lời đă vượt qua muôn ngàn cách trở của ḷng người, của ngôn ngữ, màu da và đă đến nơi đây – nước Việt của chúng ta. Theo vết chân của Vị truyền giáo đầu tiên vượt qua bao gian nguy, giông băo của biển cả mênh mông. Lời đă đậu lại trên đất Ninh Cường, Quần Anh, thuộc giáo phận Bùi Chu, Bắc Việt năm 1533.

Ngày ấy, sừng sững trên cửa bể Đà Nẵng, một Thập giá cao to, không biết đă được dựng từ khi nào và do ai. "Đất này rồi sẽ lắm đau thương". Lời tiên tri của vị thừa sai đă không sai. Nhưng lời "Phúc cho những ai bị bách hại v́ sự công chính..." lại càng mạnh mẽ, thôi thúc hơn. Vang vọng từ thế kỷ thứ nhất qua các thời đại và đến năm 1883, năm bách hại đầu tiên dưới thời chúa Trịnh Doanh, Lời đă chan ḥa khắp không gian đất Việt như một sự khích lệ, an ủi và hứa hẹn những tín hữu đương thời. Hạnh phúc của những người nghe lời Chúa phải trả bằng giá quá đắt : hơn một trăm ngàn chứng nhân anh dũng đă nằm xuống.

Nhưng hôm nay, đă hơn 400 năm tính từ ngày hạt giống đức tin được gieo xuống mảnh đất này, đă trổ sinh những bông lúa vàng tươi, đầy nhựa sống. Hào khí đau thương hiên ngang đến pháp trường "chết v́ đạo" đă được thay thế bằng hào khí vui tươi "sống v́ đạo". Hào khí đau thương "chết cho Chúa" được thay thế bằng niềm vui "sống cho Chúa".

Noi gương các ngài :

Những trang sử tuy đầy máu và nước mắt nhưng là những trang sử kiêu hùng anh dũng của một ḍng giống hùng anh, chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa. Các ngài đă bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đăi nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngă nhưng không bị tiêu diệt. Các ngài luôn mang nơi thân ḿnh cuộc khổ nạn của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân ḿnh các ngài. Thật vậy, tuy sống, các ngài bị cái chết đe dọa v́ Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân xác phải chết của các ngài.

Trong mọi sự, các ngài luôn chứng tỏ ḿnh là những người phục vụ Thiên Chúa, khi phải chịu đựng đ̣n vọt, tù tội, loạn lạc, lo âu, vất vả, nhọc nhằn. Các ngài chứng tỏ điều đó bằng đời sống trong trắng; bằng sự hiểu biết; bằng cách sống nhẫn nhục, nhân hậu; bằng một tinh thần thánh thiện, một t́nh thương không giả dối, bằng lời chân lư, bằng sức mạnh của Thiên Chúa. Các ngài lấy công chính làm vũ khí tấn công và tự vệ. Khi vinh cũng như khi nhục, lúc được tiếng tốt cũng như khi mang tiếng xấu. Bị coi là bịp bợm, nhưng kỳ thực, các ngài chân thành; bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực, các ngài được mọi người biết đến; bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực, các ngài vẫn sống; coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực, các ngài luôn vui vẻ; coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực, các ngài làm cho bao người trở nên giàu có; coi như không có ǵ, nhưng kỳ thực, các ngài có tất cả.

Lạy Chúa,

chúng con xin cảm tạ Chúa
đă ban cho Giáo hội Việt Nam chúng con
một món quà tuyệt vời : 117 vị tử đạo tại Việt Nam.

Các ngài đă theo Chúa trên con đường thập giá,
xin cho chúng con được vững chí bền ḷng
khi gặp thử thách gian nan.

Các ngài đă vâng lời Thiên Chúa
hơn là vâng lời người phàm.

Xin cho chúng con biết noi gương các ngài
những khi phải lựa chọn.


An Phong op
 

Sự sống nên trọn vẹn nhờ cái chết

Hội thánh của Đức Giêsu là Hội thánh hiệp thông (koinonia), hoán cải (métanoia) và chứng tá (martyria).

“Chứng ta” lại thường được đồng nhất với “tử đạo”; v́ tử đạo là làm chứng bằng “máu”, bằng cả mạng sống. Do đó, tử đạo trở nên một chứng tá trọn vẹn nhất; đồng thời cũng là “hiệp thông trọn vẹn” với niềm Tin của Hội thánh là “hoán cải trọn vẹn” của một con người.

Như thế, tử đạo là h́nh ảnh rơ ràng nhất (chứng tá) về một Hội thánh v́ niềm Tin và sống bằng niềm Tin. Đó là một niềm Tin không ǵ lay chuyển nổi; v́ đời sống người kitô hữu, nếu không có niềm Tin, th́ không c̣n ư nghĩa; ngược lại, với niềm Tin, người kitô hữu có thể chấp nhận những khó khăn khốc liệt nhất.

Tử đạo là sức mạnh lớn lao nhất để nối kết người kitô hữu với nhau trong gia đ́nh Hội thánh (hiệp thông). Dù cái chết cũng không thể chia cắt sự hiệp thông của người ktiô hữu với nhau trong cùng một niềm Tin nơi Thiên Chúa cứu độ.

Tử đạo là sự từ bỏ con người cũ để sống đời sống mới trong Đức Kitô (hoán cải). Cái chết, cùng những “con cái” của sự chết, đă thống trị trên nhân loại khi tội lỗi đột nhập vào thế gian, nay bị khuất phục do sức mạnh của t́nh yêu. Quả thật, t́nh yêu mạnh hơn sự chết. Nơi đây, ta thấy ḷng “mến Chúa trên hết mọi sự” và t́nh “yêu tha nhân như chính ḿnh” được thể hiện trọn vẹn.

117 Vị thánh Tử đạo tại Việt Nam là bằng chứng về một nền tảng vững chắc, một sức mạnh lớn lao của niềm Tin nơi Giáo hội Việt Nam; 117 Vị thánh Tử đạo tại Việt Nam tạo nên một truyền thống hào hùng, để cho các kitô hữu Việt Nam biết noi gương kiên trung, biết trung tín với truyền thống hào hùng của cha ông; 117 Vị thánh Tử đạo tại Việt Nam là lễ dâng toàn thiêu của Hội thánh Việt Nam, tiến dâng lên Thiên Chúa là Cha yêu thương, là Thiên Chúa cứu độ.

Như thế, lễ các thánh Tử đạo tại Việt Nam là dịp để hun đúc đời sống đức Tin, đức Cậy, và đức Mến của người kitô hữu Việt Nam.

Đời sống quí gấp ngàn lần cái chết, nhưng cái chết v́ Đức Tin lại làm cho đời sống đáng sống hơn !


Giuse Nguyễn Cao Luật op

Hướng Tới Vô Cùng
(Lc 21, 5-19)

Thế giới này sẽ qua đi

Các môn đệ thán phục vẻ nguy nga của đền thờ với những phiến đá đổ sộ, những lễ vật quư giá ; các ông nh́n đền thờ như biểu tượng cho sự bền vững. Nhưng Đức Giêsu lại nói đến sự khủng hoảng. Người loan báo sự đỗ vỡ, sự diệt vong. Các mối tương giao cá nhân, gia đ́nh, thế giới ; những cơ chế, tỗ chức và cả vũ trụ : tất cả đều quay cuổng trong cơn lốc và sụp đỗ.

"Nhưng trước khi xảy ra những điều ấy ..." Tại sao lại "trước khi" ? Đây không phải là vấn đề thời gian niên biểu, nhưng là nguyên tắc : ở nền tảng của tất cả những sự kiện đó.

Bởi v́ ngay từ bây giờ, cả trần gian đă bị lung lay : Nước Thiên Chúa đă đến. Đức Giêsu đă không ngừng loan báo điều đó. Giờ đây, Người lặp lại theo thể văn khải huyền, là thể văn thời đó thường sử dụng. Người diễn tả bằng những h́nh ảnh bên ngoài và sống động về một thực tại sâu xa. Người đă chẳng từng loan báo về sự thay đỗi trong đời sống gia đ́nh, trong những tương giao xă hội đấy sao ? Người đă chẳng từng đặt lại vấn đề quyền bính đấy sao ? Nhiều lần, Người đă cho thấy tất cả thực tại nhân loại chỉ là biểu hiện bề ngoài cho một cuộc sống thực và cuộc sống đó ở nơi khác chứ không phải ở đây. Nước Thiên Chúa xuất hiện làm bùng nỗ từ bên trong mọi thực tại nhân loại và mời gọi nhân loại vươn tới một tŕnh độ mới. Như thế, các tín hữu được kêu mời sống trong một thế giới mới, một thế giới không phải là trần gian này.

Con đường phải đi

Bức tranh do bài Tin Mừng vẽ nên chẳng có ǵ đáng vui cả !

Tuy nhiên, đó lại là một h́nh ảnh khá xác thực về thế giới ta đang sống, thế giới của con người suốt 2000 năm qua và cả thế giới tương lai nữa.

Hằng ngày, báo chí và màn ảnh truyền h́nh tràn ngập những tin tức và h́nh ảnh về sinh hoạt của con người ở khắp nơi trên thế giới. Phần lớn những tin tức và h́nh ảnh đó là những điều không vui. Nào là chiến tranh, xung đột, đảo chính, nào là động đất, thiên tai, đói kém ... Những điều đó xảy ra thường xuyên và quá nhiều đến nỗi có người nghĩ rằng ngày tận thế đă gần kề. Không phải chỉ có con người ngày nay mới có ư tưởng đó, nhưng từ xa xưa, dân chúng của thành phố Thê-xa-lô-ni-ca cũng đă nghĩ như vậy. Họ chẳng thiết làm ǵ nữa, họ bỏ bê mọi công việc để chỉ chờ ngày Chúa trở lại.

Có lẽ, Đức Giêsu đă nh́n thấy mối thất vọng đó. Người đưa ra một giải pháp cho những kẻ muốn theo Người. Đức Giêsu cho thấy những tai ương là điều phải xảy ra, nhưng đổng thời cũng đề nghị những cách thức phải theo. Giải pháp của Người hoàn toàn khác với sự lựa chọn của con người.

* Trước hết, người tin Chúa phải kiên vững trên con đường đă chọn, đó là t́nh yêu. Chỉ có con đường này dẫn đến sự sống, các con đường khác sẽ đưa đến cái chết. V́ thế, trước những hoàn cảnh khó khăn, trước những thách đố của cuộc sống, các tín hữu phải xác tín hơn nữa về con đường t́nh yêu. Họ phải thể hiện, phải loan báo t́nh yêu đó cho mọi người.

* Tiếp đến, phải tin tưởng vào sức mạnh do Chúa ban. Người tín hữu được Thiên Chúa mời gọi để làm cho Nước Thiên Chúa được thể hiện giữa ḷng thế giới. Những thất bại, những khó khăn không thể làm họ mất tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa. Họ không được phép để ḿnh bị ngă gục, bị đè bẹp bởi các biến cố, trái lại, phải nhận ra sức mạnh tiềm tàng, sức mạnh mănh liệt của một Vị Thiên Chúa không ngừng hoạt động, không ngừng cứu độ.

* Cuối cùng, họ phải nắm lấy những cơ hội này, coi đó như là những dịp may để làm chứng cho Tin Mừng, để loan báo t́nh thương của Thiên Chúa hằng sống. Các tín hữu là những người nhận ra rằng, đàng sau những biến chuyển, những đảo lộn đó, Nước Thiên Chúa đang được thành h́nh, t́nh thương của Thiên Chúa đang được công bố. Họ là những người đă sống trong Vương quốc đó, đă cảm nhận t́nh thương đó, và lúc này đây, giữa những ngỗn ngang của cuộc sống, họ trở thành những người làm chứng, những người nhận được tín hiệu tốt lành và báo lại cho người khác.

Chẳng có ǵ là ngạc nhiên khi thấy những tai biến đó xảy ra. Các môn đệ của Đức Giêsu không thể để ḿnh bị xâu xé, bị giằng co, cũng không được quyền thất vọng, buông xuôi. Trái lại, hơn lúc nào hết, họ phải chứng tỏ ḷng can đảm, thái độ cương quyết của ḿnh. Họ sẽ phải đối diện với sự thật là cái chết, sẽ phải chấp nhận vất bỏ khỏi con người ḿnh mọi thứ sai lầm và dối trá của cuộc sống theo khía cạnh con người. Nhưng điều cốt yếu là họ không được sợ hăi v́ họ đă được gia nhập vào sự sống.

Như vậy, con đường do Đức Giêsu đề nghị không phải là nghỉ ngơi, trốn tránh hay sợ hăi. Những người ủng hộ thế giới mới do Đức Giêsu đề ra có dáng vẻ gần giống như "vị tướng đang tả xung hữu đột" giữa sức mạnh của con người và các biến cố.

Ngay giữa tiếng gầm rú của đạn pháo, họ là những người loan báo hoà b́nh là điều có thể thực hiện được ; và giữa tiếng gào thét của hận thù và nạn phân biệt chủng tộc, họ hô lớn lên rằng mọi người đều là anh em. Đó không phải là điều dễ dàng cũng không phải là dễ tin. Nhưng đó lại là sứ mạng của họ. Đó lại là điều họ phải thực hiện.
Đức Kitô kêu mời tất cả những ai tin vào Người phải đi tới việc lựa chọn có tính cách mâu thuẫn và điên rổ này. Sự kiện vũ trụ thay đỗi chẳng là ǵ cả : chúng là cơ may để các tín hữu dùng đời sống của ḿnh mà bày tỏ t́nh yêu đối với Thiên Chúa và phục vụ người khác.

Đi trong hôm nay mà hướng tới ngày mai

Người Kitô hữu đi giữa cuộc đời, giữa muôn ngàn biến chuyển đỗi thay, giữa những biến cố dổn dập ; họ ư thức được rằng thế giới này sẽ qua đi, nhường chỗ cho một thế giới mới. Một mặt họ cảm thấy những giới hạn của cuộc sống này, và mặt khác họ hướng tới cái vô hạn, cái sẽ đến như tương lai đích thực.

Kitô hữu là người không trốn tránh thực tại của cuộc sống này, nhưng cũng là người luôn vượt lên trên những thực tại ấy. Họ không xao lăng bỗn phận của ḿnh đối với trần thế, nhưng đổng thời không dừng lại đó, mà luôn muốn vươn lên, bởi v́ họ thấm thía được rằng cuộc sống trần gian mới chỉ là khởi đầu, mới chỉ là những mục tiêu gần để đạt tời mục đích xa hơn, mục đích cuối cùng.

Trong Đức Kitô, một tương lai mới được mở ra cho con người, hay nói khác đi, nhân loại t́m thấy con đường phải đi, một con đường có vẻ như chênh vênh nhưng lại là con đường duy nhất, con đường chắc chắn để hướng tới mục đích chân thật.

Mặc dù, nh́n từ bên ngoài, cuộc sống hôm nay và thế giới tương lai có vẻ như trái ngược nhau, nhưng thực ra, chúng không đối nghịch nhau. Tất cả chỉ là những giai đoạn khác nhau để đi tới một mục đích. Tất cả chỉ là những bước tiến khác nhau của một lịch sử duy nhất, là lịch sử cứu độ.

Do đó, thái độ của người Kitô hữu chúng ta, những người tin vào Thiên Chúa quyền năng chính là phải chọn lựa. Chúng ta đi theo Đức Kitô, theo con đường Người đă vạch ra để đi tới thế giới mới. Chúng ta không được để cho ḿnh bị những mục đích của cuộc sống này lôi kéo mà quên lăng mục đích sau cùng. Chúng ta không để ḿnh bị gục ngă v́ những biến chuyển phải xảy ra mà lạc xa con đường hướng tới chung cuộc.

Cuối cùng, chỉ có người nào bền đỗ đến cùng mới được cứu thoát.

* * *

Dù chúng tôi sẽ yên nghỉ trong ḷng đất,
trần trụi hơn cả khi mới sinh ra,
và ḍi bọ rúc rỉa thân ḿnh,
nhưng không sao cả !

Đă có bàn tay của Thiên Chúa,
bàn tay chịu đóng đinh trên cây gỗ,
sẽ mở toang cửa cho chúng tôi.

Dù chúng tôi đứng vững hay què cụt,
áo rách tả tơi, thân h́nh méo mó,
giơ đôi tay dơ bẩn, nghèo hèn,
nhưng không sao cả !

Đă có vết thương đẫm máu,
và bàn tay của Thiên Chúa,
sẽ mở toang cửa cho chúng tôi.

(phỏng theo D. Rimand )


Fr. Jude Siciliano, OP

Mặt Trời Công Chính Sẽ Mọc Lên
(Lc 21, 5-19)

Thưa quư vị.

Đối với năo trạng tân thời, cách mô tả động đất, tai ương, chiến tranh, phản nghịch, dấy loạn, thế giới bị tàn phá trong ngày tận thế của Tin mừng hôm nay xem ra xa vời, cổ hủ và quá thô thiển. Cách mô tả của Tv, chiếu bóng hấp dẫn hơn nhiều. Nhưng biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001 đă làm sống lại những h́nh ảnh đó. Cả thế giới văn minh được xem quang cảnh thực sự mà tiên tri Malachia và Tin mừng Luca loan báo cách đây hơn hai ngàn năm. Riêng dân chúng Hoa Kỳ lại c̣n được đích thân cảm nghiệm mất mát, đau thương của biến cố kinh hoàng đó. Họ đang cố gắng "trả thù" để xoá bỏ kinh nghiệm ghê gớm khỏi tâm trí. nhưng chưa thành công. Thật là vất vả để có thể quên đi !

Thời Chúa Giêsu, đền thờ Giêrusalem cũng là biểu tượng cho những vững chắc của con người, đến nỗi kẻ nào dám nói phạm đến sự vững bền của nó là bị án tử h́nh. Ấy vậy mà Lầu năm góc, Tháp đôi thương mại thế giới chỉ trong nháy mắt đă thành đống tro tàn. Đền thờ đứng vững được lâu hơn, một năm, rồi cũng bị phá huỷ ngày 10 tháng 8 năm 70 do tay một người lính La-mă châm lửa đốt. Nó chẳng c̣n cho đến ngày nay. Tương tự như thế, những chi chúng ta coi là bền vững chẳng qua chỉ là ảo tưởng. Đời sống mong manh hơn là chúng ta dám chấp nhận.

Cả hai bài đọc, tiên tri Malachia và Tin Mừng Luca đều loan báo những tận cùng cực kỳ khủng khiếp. Thế giới chúng ta thấy trước mắt sẽ sụp đổ bất chợt và tàn bạo. Trước đó là chiến tranh, loạn lạc, tai ương, đói khát tương tự như ngày hôm nay. Đền thờ tưởng như trường tồn vạn kỷ, được cả dân tộc Do thái ngưỡng mộ, cuối cùng th́ cũng chịu số phận "không c̣n ḥn đá nào trên ḥn đá nào". Khi thánh Luca viết những ḍng chữ trên đây th́ sự việc đă xảy ra rồi. Nhưng Chúa Giêsu đă thấy trước. Ngài là một người Do thái nhiệt thành, Ngài đă nhận ra t́nh h́nh tôn giáo thực tế không đáp ứng được ḷng Thiên Chúa mong ước và nhu cầu của dân vô tội. Có thể là đền thờ c̣n dáng vẻ uy nghiêm bên ngoài, nhưng bên trong th́ việc tôn thờ chính danh không c̣n nữa. Người ta đă rời bỏ Thiên Chúa mà thờ thần Mammon, bầy đặt nhiều lễ nghi dối trá để trục lợi. Họ là những kẻ tham tiền (Lc 15, 14). Cho nên số phận tàn phá của đền thờ là không thể tránh khỏi. Nó là kết quả tất yếu của lối sống đạo sai lạc.

Trong thời gian của ngài, tiên tri Malachia cũng tố cáo sự xuống dốc thê thảm của việc thờ phượng trong đền thờ.Chúng ta sẽ tập trung vào tư tưởng của ngài hôm nay, bởi v́ trong suốt năm C, các bài Tin Mừng phần lớn là trích từ Phúc Âm theo thánh Luca (năm A sẽ bắt đầu trích Phúc Âm theo thánh Matthêo). Nhưng tiên tri Malachia th́ hoạ hoằn lắm chúng ta mới được đọc. Lời loan báo của ngài mang đầy tính yếm thế, đe doạ, rất ích lợi để chúng ta chất vấn lối sống và tư duy của ḿnh trong những Chúa nhật cuối năm này.

Tiên tri Malachia là ngôn sứ cuối cùng của Cựu Ước. Ông viết vào khoảng đầu thế kỷ V trước công nguyên. Ông là ngôn sứ cực kỳ giận dữ về sự lạnh nhạt tôn giáo của dân Do thái được biểu trưng bằng sự sa sút việc thờ phượng trong đền thờ (1, 7), hàng tư tế thối nát (1, 6-8) và bất công tràn lan đất nước (3, 5). Thêm vào đó, nhân dân đă mất ḷng tin vào quyền năng cai trị của Thiên Chúa, nghi nan về sự có mặt của một Thiên Chúa công bằng vô cùng. Cũng như ngày nay, họ có khuynh hướng phàn nàn rằng làm tôi Thiên Chúa chẳng được lợi lộc ǵ, những kẻ gian ác dễ thành công, dễ thắng lợi hơn trong cuộc đời. Có ai trừng phạt kẻ dữ, kẻ làm điều bất chính đâu ? Họ được mặc sức tung hoành hành hạ con dân Thiên Chúa. Malachia quả đă có lư khi nêu lên những nhận xét trên. Nó vẫn đúng cho t́nh thế ngày nay. Cấp lănh đạo, hàng tư tế thời ông quả thực băng hoại luân lư đến cùng cực, tương tự như bây giờ.

Tuy chán nản về thời thế hiện tại, nhưng Malachia, nhân danh Đức Chúa cũng hứa hẹn một ngày canh tân khi đền thờ sẽ vang lên lời ca ngợi Chúa chân thành. Hàng tư tế sẽ thánh thiện để dẫn dắt dân Chúa trở về với Thiên Chúa, trở về với lời hứa xa xưa. Một cuộc thanh tẩy toàn diện sẽ xảy ra vào thời điểm thuận lợi. Kẻ dữ sẽ bị trừng phạt. Người lành sẽ lănh phần thưởng xứng đáng. Bởi lẽ mặt trời công chính sẽ mọc lên. Điều mà nhân dân khát khao trông đợi sẽ diễn ra trên mặt địa cầu.

Trước ngày hạnh phúc đó xảy đến, Malachia cảnh cáo : "Này đây sẽ đến ngày bừng cháy lên như hoả ḷ ? Tất cả những kẻ kiêu căng và những người làm tội ác sẽ như rơm rạ. Ngày ấy sẽ đến thiêu đốt họ và không để cho họ cội rễ, ngành chồi ǵ cả (Ml 3, 19). Bài đọc sẽ vang lên trong nhà thờ Chúa nhật hôm nay. Chẳng hiểu có bao nhiêu người làm điều dữ thực sự có mặt ở đây, trong nhà thờ này. Nhưng thành thực mà nói sứ điệp thật dễ sợ, nó lục lọi hết mọi ngóc ngách trong lương tâm, chẳng để ai yên lành. Khi đến mùa gieo trồng thời vụ mới, các nông dân phải đốt hết rơm rạ của thời vụ trước để sửa soạn đất mới. Thiên Chúa cũng hành động quyết liệt để thu dọn ruộng trần gian của Ngài. Ngài đốt hết gốc rạ cũ và gieo trồng trời mới đất mới. Bất công, áp bức không c̣n chỗ tồn tại. Công lư và hoà b́nh ngự trị. Những người tin tưởng vào Chúa, những kẻ bị thiên hạ chà đạp có cơ hội ngẩng đầu lên chờ đợi ngày phán xét và đổi mới. Số phận của chúng ta sẽ ra sao ? Xin cứ theo ánh sáng của ngày này mà quyết định. Liệu sứ điệp của tiên tri trong bài đọc hôm nay là niềm vui hay nỗi buồn, sự an ủi hay khóc than? Xây dựng hay phá đổ ?

Trong những ngày cuối năm này, Thiên Chúa biết chúng ta có rất nhiều điều buồn thảm. Tôi ngồi viết bài suy gẫm này, từ giáo xứ Brooklyn, hơn một cây số khỏi bờ sông phía Đông. Tôi có thể dễ dàng nh́n thấy bầu trời New York. Chỉ thiếu có biểu tượng quen thuộc của nó: Ngọn tháp đôi Trung tâm thương mại Quốc tế. Trong giáo xứ này, nó chẳng phải là một nỗi đau. Phần c̣n lại của đất nước cũng không coi mất mát đó là quá xót xa, chúng ta vẫn b́nh thản sống, gạt qua một bên biến cố đó, nhưng mọi sự sẽ không c̣n như cũ. Liệu tội ác đó có được xử lư công bằng ? Liệu mặt trời công chính c̣n chiếu soi trên trái đất này ? Liệu sự dữ có bị làm cỏ khỏi cuộc đời chúng ta ?

Cộng đồng Hội thánh của Chúa Giêsu hôm nay có thể nói lên những nghi vấn này và nhiều nghi vấn khác nữa khi đấu tranh làm cho thế giới và ngay cả giáo xứ chúng ta đi đúng đường lối Chúa, công b́nh và yêu thương. Chúng ta chẳng thể trả lời cho hết mọi câu hỏi đó. Điều chúng ta phải làm là thi hành đúng các chức năng của ḿnh, đừng để một bổn phận nào rơi vào quên lăng vĩnh viễn. Tiên tri Malachia đă loan báo mọi sự sẽ được chỉnh đốn lại. Thiên Chúa sẽ thắng chứ không phải thế gian và sự dữ. Trong khi thế giới đang ở trong chiến tranh chống khủng bố với hết ḷng can đảm, th́ chúng ta phải tiếp tục kiến tạo hoà b́nh, cậy trông vào quyền năng Thiên Chúa, bất chấp số người vô tội bị giết, bị hành xích ngày càng cao. Thiên Chúa không hề ngủ quên hay lạnh lùng trước nỗi khổ đau của nhân loại và ngay cả trong, ngoài giáo xứ chúng ta c̣n đầy bê bối cũng không thể dấu kín trước tôn nhan Ngài, mặc dầu Ngài có vẻ làm ngơ chưa ra tay dẹp bỏ. Tiên tri Malachia cam đoan sẽ đến ngày bất công không c̣n nữa. Ḷ lửa công chính sẽ quét sạch mọi nhơ nhớp khỏi bộ mặt thế giới và Thiên Chúa sẽ toàn thắng. Chúng ta chẳng cần là những tội phạm nổi tiếng, các Mafia, các hội viên Tam hoàng mới thấy những lời cảnh cáo trên đây là khủng khiếp. Nó giúp mọi người rà lại lương tâm ḿnh.

C̣n đối với những ai kính sợ Thiên Chúa, những ai vốn giữa vững đức tin của ḿnh mà chịu đựng gian nan khốn khó, tiên tri Malachia mang đến cho sứ điệp vui mừng. Bởi v́ "Mặt trời công chính" sẽ mọc lên, chiếu toả "Ánh sáng huy hoàng" chữa lành mọi tật nguyền. Nếu như chúng ta nh́n nhận "Mặt trời" đó là Đức Giêsu Kitô trong thánh lễ hôm nay, chắc hẳn Ngài sẽ đổi mới linh hồn, tâm trí và thể xác chúng ta bằng ánh sáng ơn huệ của Ngài. Ngài sẽ là đền thờ mới, loan báo lời hoà giải của Thiên Chúa. Ngài sẽ dạy dỗ chúng ta biết thờ phượng và ngợi khen cho đúng đường, đúng hướng. Bởi Ngài là linh mục thượng phẩm thánh thiện tự đời đời và cho đến muôn thuở. Ngài chính là đền thờ đă được canh tân, nơi cực thánh. Trước mặt Ngài chúng ta hội họp và thờ phượng Thiên Chúa. Amen.


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Các chứng nhân
Ga 12,24-26

Trong những năm giảng dạy, có lần Chúa Giêsu đă nói với các môn đệ : “Anh em sẽ làm chứng về Thầy”, và chứng ấy là “người ta sẽ hành hạ và giết anh em”. Những lời tiên báo đó thực sự đă xảy ra, trong ba thế kỷ đầu, Giáo hội Công giáo đă bị bắt bớ, hành hạ ghê gớm, và không biết bao nhiêu người đă đổ máu để làm chứng đạo Chúa. Rồi lịch sử đạo Công giáo tại Việt Nam cũng thế, đây là những trang sử oai hùng, những trang sử mà không một trang nào lại không được tô điểm bằng những nét vàng son chói lọi về những cái chết anh hùng của tiền nhân, dưới đủ mọi h́nh thức tàn bạo ghê gớm. Thực vậy, từ ngày đạo Chúa chính thức bắt rễ vào đất nước chúng ta cho đến cuối thế kỷ XIX, nghĩa là vào khoảng từ năm 1638 đến 1866, lịch sử Giáo hội Việt Nam là một cuộc tử đạo kéo dài, gần 300 năm đầu rơi máu chảy, với trên 100 ngàn vị tử đạo, đă sẵn sàng dâng hiến xương máu chứng minh đạo Chúa. Hùng hồn thay, cảm động thay và thật hănh diện cho ḍng dơi Lạc Hồng. Vậy cái chết của các vị tử đạo nói lên điều ǵ ?

Trước hết, không những chúng ta nh́n nhận mà c̣n xác tín rằng : những người chết v́ Chúa như thế được gọi là tử đạo, nghĩa là những chứng nhân của đạo Chúa. Tại sao vậy ? Bởi v́ khi ấy cũng như ngày nay, Giáo hội dùng cái chết của các ngài để minh chứng đạo Công giáo là đạo của Chúa. Có lẽ có người sẽ không muốn công nhận lời chúng ta quả quyết trên đây, họ nói : nhiều tôn giáo khác cũng có người tử đạo, và có những tên loạn tặc, cũng đă chết cho lư tưởng của họ. Như vậy tử đạo trong đạo Công giáo làm chứng thế nào được đạo Công giáo là đạo của Chúa ? Chúng ta có thể trả lời : các vị tử đạo của chúng ta đă đem ra ba bằng chứng để minh chứng cho đạo, và các bằng chứng ấy bất khả kháng, nghĩa là không thể phủ nhận được.

Bằng chứng thứ nhất, cái chết của các vị tử đạo đă được nói trước. Đọc Tin Mừng chúng ta không thể không ngạc nhiên khi thấy ba ngày trước, Chúa Giêsu đă nói với các môn đệ là các ông sẽ làm nhiều phép lạ để chinh phục thế giới cho Chúa, hôm nay Chúa lại nói trước những cơn bách hại các ông sẽ phải chịu. Xét theo tự nhiên làm sao hiểu được ? Các ông sẽ chữa bệnh, sẽ làm cho người chết sống lại, nhưng rồi chính các ông lại không tránh được bị người ta đánh đập và giết chết. Chúa nói trước cả hai việc, xem ra trái ngược nhau, thật là lạ kỳ. Thế rồi chúng ta thấy sự thực đă xảy ra đúng như lời Chúa nói, đă được thực hiện từng nét. Vậy sự kiện các ông chịu chết ứng nghiệm như lời Chúa đă nói trước là một bằng chứng minh chứng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, và đạo Công giáo do Chúa lập là đạo thật, là đạo của Thiên Chúa.

Bằng chứng thứ hai, là chính sự bền gan của các vị tử đạo. Chúng ta thấy ở trong tôn giáo khác, có những người đă can đảm nhận lấy cái chết, do sự nhiệt cuồng mạnh mẽ, nhưng nhất thời, c̣n các vị tử đạo Công giáo không phải những người nhiệt cuồng, trong một thời gian lâu dài trước, các ngài đă biết hễ ai theo đạo Công giáo là sẽ bị chết, các ngài luôn luôn sống với cái ư tưởng : không sớm th́ muộn ḿnh sẽ phải chịu đau khổ và phải chết cho đức tin, sống như vậy th́ đau khổ hơn chết. Mặc dù thế các ngài vẫn nhẫn nại trung thành với những bổn phận hằng ngày, vẫn b́nh thản sống trong sự tinh tấn của lương tâm, và đợi chết hằng ngày. Thái độ đó khác hẳn với thái độ nhiệt cuồng của những người cuồng tín. Lúc đầu mặc dù các ngài cũng t́m hết cách để tránh cho khỏi bị hại, nhưng khi giờ tử đạo đến, các ngài biết chết một cách b́nh  tĩnh cũng như các ngài đă sống b́nh tĩnh, chết cách ấy quả là một việc anh hùng và phải có một sức mạnh siêu nhiên nào đó, đối với chúng ta, là phải có bàn tay vô h́nh của Thiên Chúa nâng đỡ.

Bằng chứng thứ ba, là chính chứng tá của các vị tử đạo. Các ngài lấy máu ḿnh để làm chứng, không phải là làm chứng cho một lư tưởng nhưng là cho một việc. Ở trên chúng ta đă nói : việc chết cho một lư tưởng chưa phải là bằng chứng quyết định cho lư tưởng ấy, v́ người ta có thể tưởng lầm rằng : lư tưởng ấy là đúng, và chết cho một lư tưởng chỉ minh chứng ḿnh có ḷng ngay, ḿnh thành thực. Nhưng khi người ta chết cho một việc th́ khác, đó chính là cái chết của các vị tử đạo. Trước sự chết, các ngài tỏ ra can đảm, anh hùng, cương quyết, b́nh tĩnh, khiến cho mọi người phải thán phục. Các ngài cũng là những con người mang một thân xác mỏng ḍn như chúng ta, biết rung cảm, biết ham sống, nhưng trong cảnh máu chảy đầu rơi, các ngài đă tỏ ra tự chủ biết bao, và giây phút hy sinh đến, các ngài đă thắng lo sợ, đă khuyến khích nhau, đă cầu nguyện, ḷng tràn ngập b́nh an, vui tươi tiến lên dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa. Do đó, cái chết của các ngài có một ư hướng nhất định: các ngài là những nhân chứng cho đạo Chúa, v́ thế, danh từ “tử đạo” có nghĩa là kẻ làm chứng, và dùng đau khổ tử h́nh để bảo đảm cho lời chứng.

Tóm lại, cuộc du nhập đạo Chúa vào đất nước chúng ta đă được đánh dấu bằng cây thánh giá trồng trên cửa biển, từ thời vị truyền giáo đầu tiên đặt chân đến đất nước này, đó là một dấu báo hiệu, hạt giống Tin Mừng, hạt giống đức tin sẽ nảy mầm và phát triển sau nhiều gian nan đau khổ. Nhưng cũng từ đây, thánh giá Chúa ngày càng tăng số thêm nhiều, nhiều hơn, và mọc lên khắp nơi. Từ cây thánh giá đó chia ra, và được trồng khắp nẻo đường đất nước Việt Nam, đă thấm máu đào của trên 100 ngàn anh hùng tử đạo. Và hạnh phúc thay, thánh giá ấy cũng được trồng vào gia đ́nh chúng ta, trên trán, trên ngực và trên trái tim chúng ta, biến chúng ta trở thành những tông đồ, những chứng nhân của Chúa. Chúng ta nghĩ sao về trách nhiệm và địa vị cao quư này ? Chúng ta nên nhớ : nguồn sáng có thể trở nên tối tăm dễ hơn là Ki-tô hữu mà không tỏa sáng chung quanh, chúng ta đừng nói chúng ta không thể làm chứng cho Chúa, thực ra, chính việc làm hại kẻ khác mới là việc chúng ta không thể làm được.

 
Joseph Vũ Hải Bằng op

Máu Các Thánh Tử Đạo : Trổ Sinh Các Tín Hữu
(Lc 21,5-19)

"Ai gieo trong lệ sầu, Sẽ gặt trong hân hoan" (Tv. 125-126, 5, 6)

Tin mừng Thánh Luca (21, 5-19) cho chúng ta thấy một bức tranh hiện thực về một bối cảnh, trong đó Đức Giêsu báo trước cho các môn đệ những ǵ các ông sẽ phải trải qua và nhận được khi sống quyết liệt và triệt để Tin mừng v́ Danh Đức Kitô. Chúa tiên báo cho các Tông Đồ và cho các đồ đệ các ngài trong mọi thời đại, và Chúa tiên báo một cách hết sức rơ rệt, không úp mở. Chúa không đưa đẩy với những lời hứa hẹn xa gần, nhưng với thói quen nói thẳng lời chân lư toàn diện. Chúa chuẩn bị tâm hồn các Ngài trước nguy cơ : “V́ danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu. Có kiên tŕ, anh em mới giữ được mạng sống ḿnh.” (Lc 21, 17-19).

Một dự báo thật khó khăn và khắc nghiệt. Nhưng xem ra, dường như những người theo Chúa Kitô Giêsu hôm nay không phải chịu cảnh khắc nghiệt đó ?! V́ danh Đức Kitô, người ta dễ dàng yêu mến và tôn trọng những người sống Tin Mừng cách triệt để. Dù chiến tranh, bạo động… vẫn đang xảy ra tại các điểm nóng trên thế giới, nhưng mọi người dù theo chủ trương bạo động hay bất bạo động, dù công khai hay âm thầm, vẫn chân nhận quư mến và cảm phục những người đă hết ḿnh sống cho lư tưởng và tinh thần của Tin Mừng (như Mẹ Têrêsa Calcutta, Đức Gioan Phaolô II…)

Nhưng, nếu chúng ta nghiên túc kiểm điểm và hạch toán đời sống đức tin của chúng ta, chúng ta sẽ nhận ra thật không dễ dàng chút nào khi sống quyết liệt và trọn vẹn lư tưởng và tinh thần của Tin Mừng, thờ phượng và kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, hướng trọn toàn tâm toàn trí về Danh Đức Kitô.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu không bỏ rơi những ai tin theo Ngài trong những cơn bách hại : "Khi bị nộp vào tay họ, các con đừng lo phải nói thế nào và nói ǵ, lúc đó sẽ dạy cho các con những điều phải nói. V́ thực ra không phải các con nói, nhưng Thánh Thần của Chúa Cha nói trong các con" (Mt 10, 19-20). Thánh Thần, chính là Thần Chân Lư. Ngài sẽ là mănh lực trong thân xác yếu hèn của con người. Nhờ Ngài là mănh lực mà anh em mới có thể thành chứng nhân. Phải, chính sự kiện anh em là chứng nhân cho Chúa Kitô tử nạn, sự kiện đó há chăng phải là khôn ngoan, là mănh lực vượt mức loài người đó ư ? Chính Thánh Phaolô đă nói : "Sự kiện Chúa Kitô tử nạn là một ô nhục cho người Do Thái, là một cử chỉ điên rồ đó ư ?" (I Cor. 1, 23). Từ đời các Thánh Tông Đồ đă vẫn thế rồi, qua các thế hệ lịch sử vẫn tiếp tục như thế; cũng như qua mấy thế kỷ bách hại tại Việt Nam, sự kiện đó vẫn không thay đổi.

Thật vậy, cần phải có mănh lực, khôn ngoan từ Thiên Chúa mới có thể tuyên xưng Mầu Nhiệm T́nh Yêu của Ngài, chính là t́nh yêu được diễn tả trong cuộc tử nạn trên Thập Giá để cứu chuộc trần gian: quả là mầu nhiệm bao la vượt hẳn sự suy luận của loài người. "Là v́ cái điên rồ nơi Thiên Chúa c̣n khôn ngoan hơn cả sự khôn ngoan của người đời, và cái yếu hèn nơi Thiên Chúa c̣n mạnh hơn cả sức lực phàm nhân" (I Cor. 1, 25).

Các vị Tử Đạo Việt Nam là những chứng nhân lịch sử của Tin mừng đă sống triệt để Lời Chúa dạy. Trong vũng nước mắt của các ngài đă gieo xuống hạt giống ân sủng, để rồi trổ thành vô số bông hoa Đức Tin : "Hạt giống gieo xuống mà không mục đi th́ chỉ trơ trọi một ḿnh, nếu mục đi sẽ sinh nhiều bông lúa" (Ga. 12, 24). Thực hiện lời dạy của Chúa, Thánh Vinh Sơn Liêm, Ḍng Đa Minh là người Việt Tử Đạo đầu tiên năm 1773, bất chấp những khó khăn nguy hiểm của thời cấm cách. Lúc nào, cha cũng luôn nhiệt t́nh yêu thương, giúp đỡ mọi người, nên ai cũng hết ḷng thương mến. Cha khích lệ mọi người thêm can đảm, cha an ủi những người buồn sầu, và không nề hà bất cứ điều ǵ v́ lợi ích thiêng liêng của họ. Cha c̣n xin bề trên của ḿnh cầu nguyện cùng Chúa khi dâng lễ và trong kinh nguyện, để mỗi ngày được ḥan thiện hơn, và vui ḷng đón nhận những khốn khó theo ư Chúa".

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, để có thể sống : “V́ Danh Đức Kitô” (Lc 21, 17), chúng con cũng phải đổ máu trong cuộc sống đời thường. Chúng con cũng phải bắt chước giống như các thánh Tử Đạo Việt Nam, đă anh dũng và can đảm sống chứng nhân Tin Mừng. Dù không bị ai bắt bớ, giam hăm, nhưng cuộc sống của chúng con sẽ là lời chứng hay phản chứng về Tin Mừng của Đức Kitô. Máu các thánh Tử Đạo đă đổ ra để ươm mầm và nảy nở hạt giống đức tin của Giáo Hội. Phần chúng con cũng phải “đổ máu” để góp phần làm trong sách hoá đức tin, làm lành mạnh hoá môi trường sống.

Quả thật, Lời Chúa vẫn c̣n vang măi và mang lại ơn ích cho người muốn lắng nghe. Dù xă hội có bị xáo trộn và phức tạp v́ những đổi thay thời “mở cửa”, chúng con vẫn nhận ra t́nh yêu quan pḥng của Thiên Chúa: “Dù một sợi tóc trên đầu rơi xuống cũng không bị mất đi” (Lc 21, 18). Máu các thánh Tử Đạo đă không đổ ra một cách vô ích. Những chứng nhân hiện đại vẫn sống Tin Mừng cách âm thầm không bị rơi vào vô vọng và lăng quên, ít nhiều đă gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh và làm chứng cho Lời Chúa vẫn c̣n hấp -lực thu hút và thuyết phục, là ánh sáng soi đường cho những ai muốn sống hướng thượng và toàn tâm toàn trí cho “Danh Chúa”. Một lần nữa, khẳng định : “Có kiên tŕ, anh em mới giữ được mạng sống ḿnh” (Lc 21, 19) giúp chúng con vững tin và tạo thêm động lực để chúng con bước đi dưới ánh sáng Lời Chúa.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng con không thể làm được ǵ nếu không có ơn Chúa. Xin cho chúng con biết ư thức những ǵ chúng có có được cũng là nhờ “Danh Chúa”, và nếu, chúng con có gặp khó khăn, trở ngại hay chống đối , thiệt tḥi ǵ, th́ cũng là v́ “để Danh Chúa được tôn vinh hơn”. Xin Chúa thêm sức cho chúng con, để chúng con biết sống đức tin trong đời thường, trong môi trường làm việc và sinh hoạt… biết can đảm và dám đổ máu “chết đi” con người cũ, ích kỷ, hưởng thụ và vô trách nhiệm… hầu chúng con có thể trở thành chứng tá cho t́nh thương Chúa, và trở thành khí cụ b́nh an của Chúa. Ước ǵ nhờ máu các thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng con ngày càng được triển nở và thăng tiến đức tin trong t́nh yêu Thiên Chúa. Amen.


Lm Sertillanges, OP

Thiên Chúa Hiển Minh
(Lc 21, 5 – 29)

Thưa quư vị, Tin Mừng tuần này kể về việc phá huỷ đền thờ Giêrusalem và thành thánh. Bài suy niệm của linh mục Jude Siciliano, OP chỉ nhắc lại các tư tưởng củ, tôi đă dịch nhiều lần. Vậy để thay đổi không khí, xin trích đăng một đoạn trong cuốn “Les choses que Jesus a vues de sa croix” của linh mục Sertillanges, OP. (Lm Trần Ngọc Tôma Túy op)

Vua Salomon không có đủ phương tiện để kiến thiết một ngôi đền to lớn. Dĩ nhiên ông có vàng bạc, ruộng vườn, tài sản, đàn gia súc. Ông có hoa lợi và ḷng kiêu căng, nhưng không có vật liệu xây dựng hảo hạng, thợ lành nghề và ư niệm nghệ thuật xây dựng tốt. V́ vậy ông phải nhờ đến người Tyrians, họ có tài nguyên cần thiết và quan niệm cơ bản cộng với nghệ thuật kiến trúc của Ai Cập và Assyria.

Trong ṿng bảy năm (từ 1013 đến 1006), nhà của Giavê được hoàn thành. Giống như các đền đài Ai Cập, phần cơ bản của nó là Pylon hay tiền đường, cung thánh ngoại vi, và phần linh thiêng. Phần linh thiêng gồm nơi thánh và cực thánh. Cực thánh chứa ḥm bia giao ước, không ai được bước chân vào, trừ thượng tế một năm một lần. Một số các pḥng phụ cận khác dùng cho những quan chức phục dịch đền thờ. Toàn bộ cấu trúc được các dăy cột bao quanh gọi là hàng hiên có mái. Hàng hiên này được hoàn tất muộn về sau.

Bên dưới Haram (đền thánh) của Salomon là các bể chứa nước dùng vào việc thanh tẩy và tế lễ, cùng nhu cầu của những người phục dịch. C̣n việc tắm rửa thường th́ đả có hồ bằng đồng gọi là “biển đồng”. Nó bắt chước các chậu tắm của các Sara Ai Cập. Cuối cùng là cung điện nhà vua và hoàng hậu. Vua phải cư ngụ bên cạnh Đức Chúa của ḿnh.

Như thế công tŕnh của Salomon thật tráng lệ, tuy sau này nó sẽ bị vượt qua. Xin lưu ư về các kích thước của đền thờ. Chúng đều là biểu tượng chứ không phải ngẫu nhiên. Kích thước, diện tích, hoa văn, phù điêu, chữ nghĩa đều phổ thông trong các đền đài Ai Cập. Chiều dài rộng của từng phần và các chi tiết được sắp xếp như các yếu tố của một bài toán đố mà lời giải là tổng thể kiến trúc. Thí dụ nền cao phía hông được đặt trên nền tảng h́nh tam giác đều. Nền phía trước là tam giác vuông. Theo triết gia Hy Lạp Platô, th́ tam giác đẹp nhất là tam giác có các cạnh kích thước 3, 4 và 5, tức không phải vuông đều, mà là chữ nhật.

Vật trang trí gồm các phù điêu dát vàng theo thói quen của người Babylon. Sàn nhà bằng gỗ bá hương và gỗ thông già. Vỉa hè củng bằng các thứ gỗ đó. Các b́nh thánh thiêng gần như bằng vàng khối. Bàn dâng lễ vật, các chân đèn, các cánh thiên thần Kêrubim bằng gỗ dát vàng, các dụng cụ tuỳ thuộc khác được trang trí hào phóng.

Ngôi đền này đứng vững không thay đổi chừng hơn bốn trăm năm và dân tộc Israel hảnh diện về nó tới mức chúng ta chẳng thể tưởng tượng nổi. Đức Giêsu từ trên thập tự trông thấy nó như “niềm vui của toàn thể địa cầu”, và những tâm hồn Do Thái nhiệt thành pha trộn kiêu hảnh quốc gia với cảm giác hạnh phúc khi xem thấy Đức Chúa của ḿnh được tôn vinh như vậy. Đúng thế, họ sẵn sàng đồng hoá t́nh yêu đền thánh với ḷng sùng mộ Đức Chúa : “Lạy Đức Chúa các đạo binh, cung điện Ngài khả ái biết bao !” (Tv 83, 2).

Tuy nhiên, vào năm 688 trước Tây lịch, ông vua người Canđê tên là Nachubodônorô làm ô uế rồi phá huỷ đền thờ lộng lẫy này. Năm mươi năm sau, vua Cyrus tha cho dân Do Thái trở về quê quán và Zorobabel xây tạm lại đền thánh, cũng trên nền đất củ, nhưng nhỏ hơn. Phải hai mươi năm nữa (536 - 516) mới hoàn tất được. Năm 445, Nehêmia mới khởi sự xây tường lũy bảo vệ chung quanh.

Ngôi đền Zorobabel tồn tại cho đến khi tướng Pompey của Roma thôn tính Palestine và Giêrusalem. Vua Hêrôđê đại đế tự phong cho ḿnh lên ngôi. Ông vua tiếm vị và sát nhân này cho xây lại đền thờ. Ông làm như vậy để hoà giải với hàng tư tế, đồng thời đền bù những tội ác ghê tởm mà ông đă xúc phạm đến tuyển dân. Ông cần đến ba năm nguyên để thu gom vật liệu. Ông bám sát vào đồ án cũ của Zorobabel, tôn tạo các dấu vết xưa, cố gắng sắp xếp theo phương án ban đầu, dù rằng kỹ thuật chủ yếu là Hy Lạp – Roma.

Khi chuẩn bị đă xong, Hêrôđê truyền bắt tay vào việc. Mười ngàn thợ tốt, dưới sự giám sát của một ngàn tư tế. Chỉ các tư tế mới được phép làm việc nơi thánh và cực thánh. Trong ṿng 18 tháng, phần Naas mới xong và được cung hiến. Tám năm nữa để xây dựng tiền đường và các hành lang. Nhưng nhiều công tŕnh phụ kéo dài măi tới thời Agrippa, phỏng năm 64 sau công nguyên, tức chiều hôm trước ngày bị tướng Titô (La Mă) tàn phá.

Xét tổng quát, th́ ngôi đền Hêrôđê thể hiện một quan niệm kiến trúc thật tinh vi. Các hàng cột xoay chung quanh một dinh cơ đồ sộ. Cái nọ chồng chất cái kia, gọi là hành lang hàng cột. Tột đỉnh là chính cung thánh toạ lạc ngay trên đỉnh đồi Sion (Moriah).

Coi từ xa và trong ánh sáng thuận lợi, cả kiến trúc có một hiệu ứng thần diệu. Tường đá cẩm thạch trắng, trang trí vàng bạc giống như một khối tuyết khổng lồ, lấp loáng trong ánh nắng. Từ núi Olivêtê nh́n về, lúc mặt trời mọc, kiến trúc sáng chói với các mái ṿm mạ vàng. Các cổng, các hoa văn lớn, các dây leo giả dát vàng ṛng nơi các cổng chính, long lanh dưới ánh nắng lung linh. Trước quang cảnh rực rỡ đó, ḷng khách hành hương không khỏi dâng lên một niềm kiêu hănh. Ông th́ thầm lời thánh vịnh: “Tại Sion cảnh sắc tuyệt vời. Thiên Chúa hiển minh” (Tv 49, 2).

Nhưng khi thiên hạ kéo về từng đoàn lũ từ khắp bốn phương trời để tham gia các lễ hội lớn, xô lấn nhau qua cổng, tràn ngập các sân, khi các tư tế lăng xăng chu toàn nhiệm vụ, khi các tiến sĩ tranh cải về lề luật chung quanh có các học tṛ mới cũ. Khi hội đồng Sanhedrim nhóm họp để cân nhắc đại sự. Khi các súc vật chiên ḅ dê cừu heo gà chim chóc được đưa qua cổng để dâng lễ hiến tế. Khi các cùi hủi, ăn xin đến để được chứng minh thanh sạch. Khi các người chồng lo lắng dẫn vợ đến để chịu thanh tẩy trong hồ nước “cay đắng”. Khi những lái buôn đổi tiền, mua bán bánh tiến, chim câu. Khi các dịch vụ sôi nổi ồn ào … Th́ toàn bộ kiến trúc đồ sộ trở nên sống động, náo nhiệt biểu lộ sức sống của tất cả những thứ mà nó đứng làm biểu tượng.

Lúc ấy, toàn thể nơi chốn uy nghi đầy ắp tiếng nổ lách tách của lửa hồng, tiếng rống của súc vật bị giết, tiếng cười, giọng nói, tiếng chân bước, kèn đồng thúc giục làm nền móng cho các sinh hoạt, th́ quang cảnh của nó không c̣n là đền thờ, núi Moriah (Sion), Giêrusalem, hay cả Palestine nữa mà toàn bộ thế giới Do Thái, ở quê hương hay hải ngoại, người ta t́m gặp trong đền thánh tột đỉnh tinh thần, tột đỉnh tôn giáo, chính trị, kinh tế, dân sự và trí thức.

Tiên tri Aggeus nói về đền thánh thứ hai này: “Vinh quang của đền thờ lúc này sẽ rạng rỡ hơn khi trước” (Agg 2, 9). Chính vua Hêrôđê cả cho ḿnh làm tṛn lời sấm đó. Nhưng v́ ngôn sứ lại thêm: “Tại nơi này ta sẽ ban b́nh an”. Về câu cuối cùng này, chỉ Đức Giêsu mới thực hiện nổi. Ngài mua b́nh an cho chúng ta bằng cái giá đau đớn của ḿnh.

Đấng Cứu Thế đang gồng ḿnh trên khổ giá nghĩ ǵ khi nh́n ngắm ngôi nhà Cha Ngài lần cuối cùng với tất cả biểu tượng, h́nh thù của nó? Chúng ta khó ước đoán được chính xác. Nó là đề tài muôn thuở.

Nhưng hiện thời trong đền thờ khói hương nghi ngút, toả lên không gian cơ man làn khói, hương thơm ngào ngạt, cơ man nào âm thanh nhịp nhàng, nghi lễ tưng bừng mang dấu ấn mầu nhiệm của Ngài và Cha Ngài. Tuy nhiên lúc này trống rỗng, không mang ư nghĩa nào nữa v́ đă khước từ Ngài và Ngài cũng từ khước những thứ ấy. Mặc dù chúng là lễ vật phong phú thu gom từ khắp mọi miền đất nước và thế giới. Lúc này chúng đă mất hết vẻ rạng ngời của ư nghĩa tôn giáo truyền thống. Chúng trở nên đền đài khoe khoang, vênh váo, loè loẹt, giả h́nh trơ trẽn. Những phiến đá hoa cương trắng mướt chỉ c̣n dáng vẻ mồ mả tô vôi, chứa đầy xương cốt hôi hám, mục nát bên trong. Phe Pharisêu đă biến nó thành địa điểm buôn gian bán lận. Kinh sư tranh luận ương gàn, người khác biến nó thành trung tâm dịch vụ đổi chác hay “hang trộm cướp”.

Mục tiêu Thiên Chúa an bài là làm tiền thân cho đền thờ chân thật. Và đúng như thời đại nó phồn thịnh nó là tiền đường cho kỷ nguyên Kitô giáo. Nhưng v́ bất trung với ơn gọi, đền thờ đứng đấy để chờ lănh án trầm luân.

Israel đă từng được cảnh báo trước. Các biến cố đă từ lâu nói lên bản án. Các ngôn sứ đă thường đề cập đến sự sụp đổ của đền thờ và thánh thánh. Một đại diện của họ đă hô lớn: “Ngay cả như vậy”. Tiên tri Giêrêmia vừa đập bể chiếc b́nh sành trước mặt các tư tế, kỳ mục, vừa nói: “Ngay cả như vậy, Ta sẽ phá huỷ thành phố này, như chiếc b́nh thợ gốm, mà chẳng chữa lành lại được” (Gr 19, 11). Rồi đến Gioan Tẩy Giả ở buổi giao thời giữa tiên báo và ứng nghiệm: “Chiếc ŕu đă đặt sẵn dưới gốc cây” (Mt 3, 10). Lời cảnh báo cuối cùng là từ chính Đức Giêsu. Một tuần trước khổ nạn, Ngài đă nói với các môn đệ và tính nghiêm trọng của lời Ngài, lúc này, tôi h́nh dung ra sự biểu lộ qua nét nh́n buồn rầu của Ngài trên cây gỗ, cộng thêm một chút t́nh thương xót nhẹ nhàng. V́ chẳng có ai có thể giận dữ và thô lỗ với kẻ đă bị kết án huỷ diệt.

Một hôm, sau những ngày rao giảng và tranh luận mệt nhọc, thầy tṛ lui về Betania t́m chút yên tĩnh để nghỉ ngơi. Một môn đệ bất ưng chỉ tay về phía đền thờ nói: “Thưa Thầy, Thầy xem, những viên đá lớn thật. Công tŕnh xây cất vĩ đại thật”. Đức Giêsu liền đáp: “Anh nh́n ngắm công tŕnh vĩ đại đó ư? Tại đây sẽ không c̣n tảng đá nào nằm trên tảng đá nào, tất cả đều sẽ bị phá đổ” (Mc 13, 1 – 2).

Những lời nói ấy lọt vào tai người nghe như như một đ̣n sét rách trời. Các môn đệ ngỡ ngàng chẳng ai dám thốt nên lời và không nói thêm ǵ nữa. Thày tṛ xuống dốc Cedron, rồi lại leo dốc lên đồi Olivêtê. Khi gần đến chỗ cao nhất, Đức Giêsu đột nhiên đứng lại, quay về phía các tông đồ. Ngài truyền các ông ngồi nghỉ chân. Ơ đó, đối mặt với núi đá đồ sộ, bền vững, Ngài lột sạch tấm màn vinh quang lừa lọc mà mặt trời đang lặn mặc cho đền thờ. Ngài cất đi chiếc triều thiên giả hiệu mà bầu sáng trên trời soi chiếu ngôi nhà của Cha Ngài: “Anh em hăy coi chừng kẻo bị người ta lường gạt” (Mc 13, 15), tức Ngài nói tiên tri về số phận đền thánh và quốc gia Do Thái. Ngày tận cùng đă gần kề.

Lời Ngài mô tả là chi tiết, tuy chưa xảy ra. Các môn đệ được Chúa cho biết tấm thảm kịch đổ vỡ với các chi tiết trước và sau: tức các dấu chỉ, các biến cố và hậu quả tất yếu. Tất cả đều được Chúa loan báo trước, nhưng chưa xảy ra. Do đó, lời Chúa nói tiên tri thật dễ sợ, tuy nhiên, hiện thời nó chỉ mang tính biểu tượng và c̣n được dùng để ám chỉ một tai hoạ vĩ đại hơn, dứt khoát hơn: ngày tận thế.

Khi nào việc ấy xảy ra? Không ai biết, kể luôn cả “con loài người” (Mt 24, 36). C̣n về phần sụp đổ của Giêrusalem và sự tàn phá đền thờ th́ không c̣n bao xa: “thế hệ này sẽ chẳng qua đi, cho đến khi mọi điều xảy ra” (Mt 24, 34). Thực tế, không tới bốn mươi năm sau, chiếc gươm mà ông Đavit xem thấy thiên sứ cầm trong tay ở sân đập lúa của Ornan[1], bắt đầu hoạt động. Nó vun vút phá huỷ tất cả những chi có h́nh dạng, ngay cả sự sống, trong thành phố đă từng nổi loạn chống Con Thiên Chúa.

Trớ trêu hơn, chính bàn tay của những người Do Thái gây nên việc tàn phá đền thời trước, nhất là trong cuộc nội chiến giữa Eleazar, Gioan Giscala và Siomon người Indumea. Roma chỉ đến sau. Họ tấn công và phá huỷ hoàn toàn thành phố Giêrusalem. Búa ŕu và ngọn đuốc của họ san bằng từ nền móng vững chắc của thành. Ông bội giáo Giulianô cố gắng tôn tạo lại, nhưng vô ích, chỉ tổ làm cho nó hoang tàn thêm, để ứng nghiệm trọn vẹn lời Chúa Giêsu: “Chẳng c̣n viên đá nào trên viên đá nào”. Than ôi, số phận mọi người đều như vậy cả, nếu không biết ăn năn sửa lỗi.

 

 
Đỗ Lực op

Vượt Qua Nỗi Sợ
(Lc 21:5-19)

Ngày 28 tháng 10 năm 2007 vừa qua, Giáo Hội phong chân phước cho 498 vị tử đạo Tây Ban Nha. Trong số đó, đặc biệt có chân phước Bartolomé Blanco Márquez. Márquez bị tử h́nh vào ngày 02 tháng 10 năm 1936, lúc mới có 21 tuổi, trong lúc hô to : “Vạn tuế Vua Kitô !” Chính niềm tin vào Đức Kitô đă giúp Márquez can đảm từ bỏ tất cả. Nhưng trước khi chết, Márquez không quên viết cho bạn gái một lá thư rất ư nghĩa và giá trị. Anh dặn ḍ người yêu : “Bản án kết tội anh trước ṭa án nhân loại sẽ mạnh mẽ bênh vực anh trước ṭa Thiên Chúa. Khi cố sức nhục mạ anh, họ đă tôn vinh anh. Khi sắp kết án anh, họ đă giải thoát anh, và khi toan tiêu diệt anh, họ đă cứu anh. V́ khi giết anh, họ cho anh sống thực sự và khi kết án anh v́ lư tưởng cao đẹp nhất của tôn giáo, quốc gia và gia đ́nh của anh, họ mở cánh cửa thiên đàng trước mặt anh. Anh xin phép nêu lên một vấn đề với em : lúc này chúng ta nhớ tới t́nh yêu đă chia sẻ với nhau. T́nh yêu đó vẫn lớn mạnh. Mong em hăy lấy việc cứu rỗi linh hồn ḿnh làm mục tiêu hàng đầu. Nhờ đó, chúng ta sẽ đoàn tụ để sống đời đời trên thiên đàng, nơi không có ǵ ngăn cách được chúng ta.” (1)

Làm sao Márquez có thể hy sinh tất cả và có thể vượt qua nỗi sợ trước cái chết như thế ? Tại sao trong cuộc sống hàng ngày chúng ta không thể vượt qua nỗi sợ ? Nếu không thể vượt qua nỗi sợ thường t́nh, làm sao có thể chống chọi với những tai họa ngày tận thế ? Có cách nào không những vượt qua mà c̣n có thể lợi dụng những đau khổ để đạt tới niềm hy vọng lớn lao không ?

LÀM SAO VƯỢT QUA NỖI SỢ ?

Chúa Giêsu không sợ đối diện với thực tế. Người không muốn chúng ta trốn chạy hay quên lăng những đau khổ của kiếp người. Trái lại, Người c̣n muốn chúng ta thấy trước nỗi khổ lớn nhất con người phải đối đầu vào ngày cùng tận của thế giới. Vào những lúc khủng hoảng cùng cực đó, con người không c̣n biết trốn chạy vào đâu. Người ta có thể chạy theo bất cứ ai đưa ra lời hứa hấp dẫn nhất. Nhưng Chúa cảnh giác : “Anh em hăy coi chừng kẻo bị lừa gạt. Anh em chớ có theo họ.” (Lc 21:8.9)

Đó là chưa kể có những kiểu lường gạt tinh vi hơn nhiều. “Có nhiều kẻ sẽ mạo danh Thày đến nỗi nói rằng : ‘Chính ta đây.’” (Lc 21:8) Thực tế, những hạng giả dạng ngôn sứ hay Kitô đó cố t́nh khai thác sự nông cạn và dễ tin của quần chúng để thống trị và lôi kéo những người đang hoảng loạn trước những đường cùng. Nhiều người đổ xô theo họ khi nghe những lời tiên báo về ngày tận thế với những tai họa gần kề.

Khi Chúa mới nói một chút về số phận cùng tận của đền thờ Giêrusalem, các môn đệ đă nhốn nháo hỏi về ngày tháng và điềm báo. Họ tưởng biết trước những thông tin như thế, có thể giúp họ tỉnh thức hơn, y như người ta theo dơi đài khí tượng tiên báo về thời tiết vậy. Chúa đă không đáp lại sự mong đợi đó của các môn đệ. Trái lại, người c̣n nói về các loại đau khổ cả tinh thần lẫn thể xác sẽ ập đến hành hạ con người. Người không muốn cho họ tính toán ngày tháng, nhưng muốn cho họ thấy ư nghĩa lịch sử nhân loại. Lịch sử đầy những biến động đau thương và bi đát, nhưng phải có hồi kết thúc, kết thúc trong một định hướng. Định hướng này phân chia lịch sử Giáo hội làm hai cực : bóng tối và ánh sáng. Chúng ta đang hướng tới sự sống, dù đang phải trải qua cơn đau khổ. Lịch sử phải đi tới một kết quả và thăng hoa nhờ cuộc phục sinh của Chúa Kitô, Đấng tuyên bố chiến thắng dứt khoát trên tử thần và tội lỗi.

Nếu không thấy được hướng sống đó, chúng ta sẽ ngă gục trên đường đời. Nhiều người tưởng đang sống trong một thế giới được bảo đảm về mọi mặt. Những tiến bộ kỹ thuật, phương tiện vật chất mạnh mẽ, hệ thống xă hội phức tạp và những phương tiện truyền thông vạn năng đủ bảo đảm cuộc sống. Nhưng chính lúc đền thờ Giêrusalem đă làm cho mọi người lóa mắt và hănh diện, Chúa Giêsu đă loan báo cho các môn đệ biết tương lai sẽ “bị tàn phá hết không c̣n tảng đá nào trên tảng đá nào.” (Lc 21:6) Cũng thế, “cuộc đời như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao.” (2) Một cuộc động đất, sập cầu, khủng bố, dịch tả, cúm gà v.v. cũng đủ làm tiêu tan bao mộng ước. Không ai có thể t́m được chỗ dựa vững chắc cho cuộc sống nữa.

Giữa cuộc đời bấp bênh và đầy cạm bẫy đó, “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi.” (Tv 119:105) Có Lời Chúa dẫn đường, chúng ta không thể sa hầm sập bẫy trần gian. Lời Chúa không lừa dối, nhưng xua tan mọi ảo tưởng và phơi bày mọi sự thực trần gian.

Hơn nữa, có điểm dựa nào vững chắc bằng Tin Mừng ? Chính Chúa quả quyết : “Ai nghe những lời Thày nói đây mà đem ra thực hành, th́ ví được người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay băo táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, v́ đă xây trên nền đá.” (Mt 7:24) Được Lời Chúa làm nền tảng, bản lănh chúng ta sẽ vững chắc và đủ sức đương đầu với bất cứ thách đố nào trong cuộc đời.

Lời Chúa sẽ soi sáng cho chúng ta thấy “núi đá và thành luỹ bảo vệ con, chính là Chúa.” (Tv 31:4) Đó là lư do tại sao ĐGH Gioan Phaolô dám nhắc lại lời Thày chí thánh để kêu gọi Giáo hội “Đừng sợ!” ngay từ lúc mở đầu triều đại giáo hoàng.

Nếu thời đại có làm cho chúng ta lo âu về thế giới và Giáo hội, th́ cũng đừng thối chí nản ḷng. Chúa bảo đảm cho chúng ta. Người không bỏ rơi thế giới Người đă kết ước, cũng chẳng ĺa xa Giáo hội “Người đă hiến thân.” (Ep 5:25) Phải nh́n lên Chúa Kitô mới thấy được tất cả sức mạnh và lư do của niềm hy vọng. Nếu không, chúng ta sẽ bị trôi dạt như những chiếc lá trong cơn nước lũ.

Khi đă tỉnh thức và t́m được ư nghĩa lịch sử cũng như chỗ dựa vững chắc, không những chúng ta tràn trề niềm hy vọng, mà c̣n có thể vận dụng chính những đau khổ thành phương tiện làm chứng cho Thiên Chúa t́nh yêu.

Đối đầu với cơn lốc lịch sử nhân loại và những cuộc bách hại không phải là một thái độ tiêu cực, nhưng là làm chứng một cách tích cực. Tin Mừng không che đậy khi nói những thử thách đó có thể là cơ hội “tử đạo” (nguyên nghĩa là “làm chứng”). Đó là lư do tại sao Chúa nói : “Phúc thay ai bị bách hại v́ sống công chính, v́ Nước Trời là của họ.” (Mt 5:10) Vào thời thánh Luca viết Tin Mừng, thánh Phêrô, Phaolô và nhiều người đang làm chứng rất mănh liệt. Hiện nay, nhiều anh em kitô hữu, giám mục, linh mục, tu sỹ và giáo dân đang bị bách hại. Mỗi năm hàng chục người đổ máu để làm chứng cho Chúa ở Phi châu, Á châu và các nơi khác. Mặt trời công chính không bao giờ lặn !

Từ ngàn xưa, Chúa đă hứa : “Đối với các ngươi là những kẻ kính sợ Danh Ta, mặt trời công chính sẽ mọc lên, mang theo các tia sáng chữa lành bệnh.” (Ml 3:20) Mặt trời công chính đă mọc lên là Đức Kitô. Giữa cảnh tăm tối trần gian, các tông đồ đă thấy “dung nhan Chúa chọi lọi như mặt trời.” (Mt 17:2) Phải có niềm tin sâu xa mới thấy ánh sáng phục sinh là “các tia sáng chữa lành bệnh” cho những người đă bị thương tích v́ Chúa Kitô. Tất cả sẽ được tái sinh trong một cuộc sống phong phú gấp vạn lần. Nhưng phải nhớ một điều : “Có kiên tŕ, anh em mới giữ được mạng sống.” (Lc 21:19) Tất cả không nằm ngoài chương tŕnh quan pḥng của Thiên Chúa. Thật vậy, “dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu.” (Lc 21:18)

Phần đông chúng ta không bị bách hại như thế. Nhưng chúng ta bị nhạo báng và chê cười về niềm tin. Những người vô tín châm chọc chúng ta tại nhà trường, văn pḥng và cả trong gia đ́nh nữa. Đó là cơ hội làm chứng. Đừng mất công t́m cách đối đáp với những người đó. Chúa bảo đảm : “V́ chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thủ của anh em không tài nào chống chọi hay căi lại được.” (Lc 21:15)

Tuy nhiên, nên nhớ chứng từ có sức thuyết phục nhất không phải là những bài diễn văn hùng hồn, nhưng là hành động : ḥa hoăn, khoan dung, chia sẻ và tha thứ. Có thể thêm nhiều hơn nữa vào các sứ vụ và bổn phận hàng ngày của chúng ta.

KHI MẶT TRỜI CÔNG CHÍNH MỌC LÊN

Trên bước đường theo Đức Kitô, nhiều người bị ngược đăi, bắt bớ, tù đày, bị chính những người thân nhất phản bội. C̣n ǵ đau khổ hơn ?! V́ danh Đức Kitô, nhiều người đă trở thành đối tượng cho mọi sự thù ghét. Mọi h́nh thức xỉ nhục và đau khổ thi nhau xuất hiện. Sau cùng, một số người bị đẩy vào cơi chết. Thật là những mất mát quá lớn lao! Làm sao bù lại được những ǵ đă mất sau những hy sinh đó ?

Xét về mặt trần gian, quả thật không ǵ có thể bù đắp được! Nhưng tử đạo là một tiếng nói uất nghẹn và phản kháng những thế lực chà đạp tự do tôn giáo. Khi chấp nhận cái chết, các vị tử đạo không những muốn tuyên xưng đức tin, nhưng c̣n muốn khẳng định quyền tự do tôn giáo là quyền căn bản nhất của con người. Không tuân phục lệnh nhà vua hay bọn cường quyền, họ muốn khẳng định quyền tự do tôn giáo là một ân huệ Thiên Chúa, chứ không phải là một thứ quà tặng theo chế độ “xin cho” của nhà nước. Công đồng Vatican II quả quyết : “Tự do tôn giáo có căn cứ nơi phẩm giá con người và phải được thừa nhận như một dân quyền trong lănh vực pháp lư xă hội.” (3) Con người chỉ có một thứ phẩm vị duy nhất. Thế nên, không thể có tiêu chuẩn kép hay hai cách hiểu về nhân quyền, nhất là về tự do tôn giáo. Khi bóp nghẹt hay đàn áp tự do tôn giáo, nhà cầm quyền đă chà đạp lên nhân phẩm và phủ nhận nhân quyền.

Đàng khác, tự do tôn giáo là tổng hợp mọi thứ tự do, v́ nhờ đó, con người có quyền sống trong chân lư đức tin và sống phù hợp với phẩm giá siêu việt con người. (4) Giá trị cao cả nhất nằm trong quyền tự do tôn giáo : “Mọi người không thể bị bất cứ cá nhân hay đoàn thể xă hội và quyền lực loài người nào cưỡng bức. Không ai bị buộc phải hành động trái với niềm tin, cách kín đáo hay công khai, một ḿnh hay với người khác, trong những giới hạn đ̣i buộc.” (5) Tôn trọng quyền tự do này là dấu chỉ “con người có tiến bộ đích thực trong bất cứ chế độ xă hội, hệ thống hay hoàn cảnh nào. (6) Tất cả những tiến bộ về mặt kinh tế, chính trị v.v. không thể nhằm đáp ứng những nhu cầu tâm linh hay tôn giáo. Nhà nước không thể đóng vai tṛ giáo hội. Các người lănh đạo cũng chỉ là con người. Không ai có thể thay thế vai tṛ Thượng đế.

Hơn nữa, phát triển kinh tế để làm ǵ ? Nếu chỉ dừng lại ở những sinh hoạt đó, con người chỉ đạt đến những phương tiện sống, mà quên mất mục đích và cứu cánh cuộc đời. Trong khi đó, tín ngưỡng hay tôn giáo nhằm thỏa măn nhu cầu tâm linh cao cả nhất của con người. Nếu là một quyền sống, tôn giáo phải được công lư bảo vệ khỏi những cuộc xâm phạm và đàn áp.

Công lư đ̣i mọi người phải tôn trọng quyền tự do tôn giáo. Những người bị đàn áp và giết chết v́ niềm tin đă tạo thành một tiếng nói phản kháng những chế đô độc tài. Máu họ đổ ra có sức kêu thấu trời xanh và thức tỉnh lương tâm con người. Những ai c̣n chút lương tâm không thể không tôn trọng quyền tự do tôn giáo. Chỉ tôn giáo mới có thể huấn luyện và hướng dẫn con người sống đúng lương tâm. Nếu hoàn toàn vô thần, làm sao lương tâm được hướng dẫn ? Không có niềm tin tôn giáo, không thể có lương tâm ngay chính. Người ta giữ luật pháp chỉ v́ sợ tù tội mà thôi. Nhưng luật nào chẳng có kẽ hở ? Chế độ làm sao có thể thay thế lương tâm kiểm soát mọi sinh hoạt dân chúng ? Trong chế độ vô thần, tự do tôn giáo không được tôn trọng. Đàn áp tôn giáo là hủy diệt một sức mạnh lớn nhất giúp con người sống theo đường ngay lẽ phải. Chỉ tôn giáo chân chính mới có thể huấn luyện lương tâm và hướng dẫn con người sống theo công lư.

SỨC MẠNH ĐỨC TIN

Đàn áp tôn giáo cũng có nghĩa là chà đạp lương tâm của chính ḿnh. Nhưng chính khi những người cầm quyền chà đạp lương tâm ḿnh, tiếng nói công lư vang lên mạnh mẽ từ những con người đă liều thân v́ niềm tin tôn giáo. ĐGH Gioan Phaolô II đă gọi họ là những người “tử đạo v́ đức tin.” Những nhà độc tài đă dùng đủ mọi biện pháp bóp nghẹt đức tin đó. Nhưng các vị tử đạo đă dùng cái chết để phản kháng và nói cho mọi người biết không có ǵ mạnh hơn đức tin.

Đức tin nảy sinh trong tâm hồn tín hữu từ khi họ được ǵm vào trong cái chết và phục sinh của Đức Kitô nơi giếng rửa tội. Nhờ đó, họ được sống và sống dồi dào. Nhờ tin vào chân lư hằng sống là Đức Kitô, họ được hứng khởi và can đảm làm chứng cho Chúa. Nếu không yêu Chúa Kitô mănh liệt, Kitô hữu không thể hy sinh cả mạng sống cho Chúa và anh em. Nhưng các vị tử đạo biết ḿnh đă đón nhận được ân sủng lớn lao để có thể chọn cái chết v́ đức tin. Chỉ có ân sủng mới có thể giải thích và cho ta thấu hiểu tại sao các ngài lại hy sinh đến thế.

Năm 1843, giữa gông cùm xiềng xích ngục tù, thánh Lê Bảo Tịnh đă viết cho bạn: “Tôi là Phaolô đang bị xiềng xích v́ danh Chúa Kitô, muốn kể cho anh về những khổ cực tràn ngập thân tôi mỗi ngày để v́ yêu mến Thiên Chúa, anh có thể dâng lên Người lời tạ ơn ‘v́ muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn t́nh thương.’ Nhà tù này quả là h́nh ảnh Hỏa ngục đời đời ... Nhưng ngày xưa Chúa đă giải thoát ba em nhỏ khỏi ngọn lửa, giờ đây Thiên Chúa cũng luôn ở bên tôi và giải thoát tôi khỏi kiếp khốn cùng này và biến cải những khổ đau thành hương vị ngọt ngào, ‘v́ muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn t́nh thương.’ Xin hăy cầu nguyện giúp tôi chiến đấu tới cùng, kết thúc ṿng đua một cách hân hoan. Nếu không c̣n nh́n thấy nhau trên cơi đời này, chúng ta sẽ vui mừng khi đứng trước ṭa Con Chiên vẹn tuyền, chung tiếng ngợi khen Chúa, hân hoan mừng chiến thắng đời đời. Amen.” (7)

Khi chọn tử v́ đạo, các Kitô hữu hoàn toàn tự do bước theo Chúa Kitô để dấn thân vào sứ mệnh Giáo hội. Họ từ bỏ mạng sống để sống hoàn toàn tự do và tiếp tục sống măi, nghĩa là được cứu độ. Nói khác, ơn cứu độ làm cho con người hoàn toàn tự do và có thể sống hiệp thông hoàn toàn cũng như đối thoại với Thiên Chúa. Đó là mục tiêu cao cả và quyết liệt nhất của mọi công cuộc loan báo Tin Mừng. Nghĩa là, “chân lư Tin Mừng cũng được công bố để cứu văn nhân phẩm và sự thánh thiêng của đời sống con người. Do đó, tự bản chất bất cứ hành động nào nhằm cổ vơ nhân phẩm đều có đặc tính cứu độ, và bất cứ hoạt động nào nhằm dẹp bỏ hay ngăn trở việc công bố này đều bị coi là cản trở hay bách hại đức tin.” (8) Người ta đă huy động bao nhiêu lực lượng để đàn áp tôn giáo ? Nhưng lực lượng nào có thể đọ với đức tin ? Lịch sử cho thấy trở lực nào cũng có hồi kết thúc và phải trả lại công lư cho những người bị đàn áp tôn giáo.

Nói tóm, chỉ có một con đường cứu thoát duy nhất là Đức Kitô. Chúa Giêsu quả quyết : “Chính Thày là con đường, là sự thật và là sự sống.” (Ga 14:6) Giữa bao nhiêu thách đố, Kitô hữu có thể t́m được nơi Lời Chúa một nền tảng vững chắc và một nơi ẩn trú b́nh an. Đó là tất cả bí quyết giúp Kitô hữu vượt qua mọi cơn sợ hăi và vận dụng mọi khả năng biến đau khổ thành phương tiện làm chứng cho Đức Kitô. Không nắm được bí quyết ấy, nhiều người sợ chết mà đành kéo lê kiếp trâu ngựa suốt đời. Đó có phải là số phận dân tộc ta hôm nay không ?

Lạy Chúa, xin cho chúng con một đức tin kiên cường như cha ông Tử Đạo Việt Nam, để chúng con có thể vượt qua mọi nỗi sợ hăi hiện tại và biến những đau khổ thành phương tiện làm chứng cho Chúa giữa ḷng dân tộc và nhân loại hôm nay. Amen.

đỗ lực 18.11.2007


-------

1. http://www.zenit.org/article-20956 ?l=english

2. Nguyễn Công Trứ.

3. Dignitatis Humanae, AAS 58 (1966), 929-946.

4. x. Gioan Phaolô II, Tông Thư Centesimus Annus, 47: AAS 83 (1991), 851-852.

5. Dignitatis Humanae, AAS 58 (1966), 930-931.

6. Gioan Phaolô II, Tông Thư Redemptoris Hominis, 17: AAS 71 (1979), 300.

7. http://en.wikipedia.org/wiki/Andrew_Dung-Lac

8. Dictionary of Fundamental Theology 1995:629.


Lm. Jude Siciliano, OP (
Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh G̣ Vấp)

HĂY KIÊN TÂM CHỜ ĐỢI
Luca 21: 5-19

Bài đọc ngắn trích sách ngôn sứ Malachi khiến tôi thở dài luyến tiếc– thở dài v́ sự tŕ hoăn. Đó là tiếng thở dài khi chúng ta phải chờ đợi quá lâu cho một biến cố quan trọng xảy đến – một biến cố quan trọng đối với cuộc đời của chúng ta cũng như của những người chúng ta yêu mến. Đó là sự luyến tiếc của những người có ḷng tin khi chúng ta nh́n vào những hoàn cảnh tàn khốc thế giới xung quanh. Chúng ta thấy có quá nhiều thứ bất tất; có quá nhiều nỗi đau và bạo lực dường như chẳng bao giờ nguôi ngoai. Thực ra, hiện nay, chúng ta cảm thấy rằng mọi thứ đang ngày càng trở nên tồi tệ, thế giới đang lao ḿnh về phía trước và mù quáng đâm đầu vào ngày tận thế. Chúng ta chỉ c̣n hai tuần nữa là bước vào mùa vọng, một mùa của những nuối tiếc và hy vọng. Chúa Nhật này dường như là sự chuẩn bị cho mùa đó.

Chúng ta không biết Malachi là ai, và cũng chẳng biết ông ta từng tồn tại hay không. Nhưng cái tên “Malachi” có nghĩa là “người đưa tin của tôi”, v́ thế ông là ai th́ không quan trọng bằng việc chúng ta ta là ai. Thực ra, chúng ta có phải là người đưa tin hay không? Phải, chúng ta cách nào đó là những người đưa tin. Nhưng chúng ta đưa tin ǵ hay công bố điều ǵ cho người khác? Chúng ta nhận thông điệp đó từ đâu? Hay đó chỉ là sự lập lại của những tham lam, thờ ơ, ngờ vực và tranh chấp của thế gian?Hay chúng ta là hiện thân của những thông điệp Sách Thánh mà chúng ta nghe hàng tuần: quảng đại, tha thứ, quan tâm đến những người thiếu thốn, t́nh yêu và sự kiến tạo ḥa b́nh? Nói cách khác, chúng ta có dùng Lời Chúa để biến đổi tâm hồn và được biến đổi biến những lời ấy thành lời nói và hành động của chúng ta hay không? Liệu chúng ta có phải là kẻ đưa tin của Thiên Chúa hay không?

Sách Malachi khép lại bộ Cựu Ước. (Quyển tiếp theo trong Sách Thánh của chúng ta là Tin Mừng Mathêu). Malachi là sách ngôn sứ chú trọng đến những chủ đề kinh thánh như: sự chân thành trong các thực hành tôn giáo, và giống như những sách ngôn sứ khác, sách nhấn mạnh đến công b́nh (3,5) và việc Chúa đến.

Thông điệp của Malachi dành cho những ai thấy những t́nh trạng của thế giới và có kết luận rằng những kẻ xấu th́ thịnh vượng, trong khi người nghèo bị bắt phải sống thiếu thốn chật vật và đau khổ. V́ thế, sách Malachi nhắc nhở chúng ta về sự chối bỏ công b́nh của Thiên Chúa như thế. “Ngày ấy” sẽ đến, đang đến, khi Thiên Chúa chúng ta ấn định mọi sự một lần cho tất cả. Malachi không phủ nhận rằng kẻ xấu hiện giờ đang sống thịnh vượng, nhưng cũng không quên nhắc chúng ta rằng tất cả những bằng chứng đó th́ chưa là ǵ cả. “Ngày ấy” sẽ đến khi Thiên Chúa thiết lập sự công b́nh của Ngài.

Hầu hết những bản văn của các ngôn sứ mang phong cách thơ ca cả về ngôn ngữ lẫn h́nh thức. Bản văn Malachi hôm nay cũng không ngoại lệ. Ông mở đầu thế này: “Nh́n ḱa, ngày ấy đến cháy như hỏa ḷ, khi mọi kẻ kiêu ngạo và mọi kẻ làm điều ác sẽ nên như rơm rạ”.  Chẳng nhẽ những điều đó không khiến những kẻ ư thức về chuyện làm điều dữ và điều bất chính lại chẳng lưu tâm hay sao? “Ngày Của Chúa” là chủ đề xuyên suốt trong các tác phẩm ngôn sứ. Trước đó, ngôn sứ Amos xem ngày đó như ngày kinh hoàng và tối tăm, là lúc Thiên Chúa phán xét Israel, những người đă quay lưng lại với Thiên Chúa. Sau này, trong sách Malachi, ngày “đó” trở thành ngày hy vọng cho những kẻ tin, ngày mà Thiên Chúa ân thưởng người công chính và giáng phạt kẻ tội tỗi.

Trong khi những kẻ làm điều ác có thể được thịnh vượng, những kẻ tin tưởng được làm cho mạnh sức trong lối nh́n của Malachi. Với sự tin tưởng vào viễn tượng đó, chúng ta sẽ không bị ném vào trong sự tuyệt vọng hay bi quan khiến chúng ta từ bỏ chính ḿnh, thế gian hay giáo hội bất tất và bị tổn thương của chúng ta. Nhất là chúng ta sẽ không từ bỏ Thiên Chúa. Chúng ta “quyết tâm” – tiếp tục cố gắng lập lại trật tự trong thế giới. Nhưng chúng ta không phải là những người cố gắng cách ngờ nghệch hay rập khuôn như robot; nhưng chúng ta làm việc với sự chú tâm hoàn toàn vào những ǵ chúng ta phải thực hiện. Trong khi đó, chúng ta cũng chú tâm đến “ngày” mà người đưa tin Malachi kêu gọi chúng ta hướng đến “Ngày Của Chúa”, khi Thiên Chúa của chúng ta sửa sai mọi sự và thiết lập luật của Ngài trên Trái Đất này. Trong khi đó, chúng ta được nên mạnh mẽ v́ chúng ta tin tưởng vào những lời ngôn sứ Malachi nói với chúng ta hôm nay, “…mặt trời công chính sẽ mọc lên, mang theo những tia sáng chữa lành bệnh”.

Thánh vịnh hôm nay diễn tả sự đáp lời của chúng ta với thông điệp của Malachi. Đó là lời cầu nguyện của niềm hy vọng: “Đức Chúa đến cai trị bằng đức công b́nh”. Đó không chỉ diễn tả niềm hy vọng, trước hết đó là sự mong ước rằng chúng ta sẽ thấy “ngày” mà sách Malachi hứa với chúng ta khi, “…mặt trời công chính sẽ mọc lên, mang theo những tia sáng chữa lành”. 

Thế giới không phải là một chốn dễ dàng. Đối với nhiều người, đó là một ngôi nhà hết sức khắc nghiệt, nơi của những xung đột và lan man hàng ngày; đầy những lo lắng, sợ sệt và khiếp kinh. Khi tôi viết những điều này, dịch bệnh đang diễn ra ở Haiti. Chẳng lẽ những con người khốn khổ bần cùng này chịu đựng chưa đủ hay sao? Vào tháng Giêng, họ bị động đất và mười ngàn người vẫn đang phải sống trong cảnh khốn cùng và bẫn thỉu không tưởng nỗi. Họ không có nước sạch và giờ đây lại thêm cơn dịch bệnh khiến họ càng khốn khổ hơn. Một chị nữ tu Đaminh mới nói chuyện với tôi sau chuyến viếng Haiti lần thứ tư: “Những nỗi thống khổ ở đây thật không tưởng tượng nổi! Chỉ nguyên mùi hôi thối thôi cũng gần như không chịu đựng nổi rồi !”

Qua bao năm tháng chịu đựng cảnh khốn cùng, người ta chỉ mong ngóng cho thế giới khốn khổ này mau kết thúc. Những ngôn sứ giả thậm chí đă loan báo sự tận cùng của thế giới và ngày giờ chính xác của Ngày Quang Lâm. Những người coi đó là nghiêm trọng th́ bỏ bê công việc, bỏ cửa bỏ nhà và cứ thế chờ đợi, ..chờ đợi.

Chúng ta cũng đang chờ “ngày ấy”, nhưng Đức Giêsu cảnh báo chúng ta, trong những diễn từ về ngày cánh chung của Người rằng, ngay cả khi mà những sự phá hủy tồi tệ nhất như: “động đất, đói kém và dịch bệnh” có xảy ra th́ ngày ấy vẫn chưa đến. Các môn đệ cũng sẽ phải đối mặt với tất cả những thử thách, ngay cả bị gia đ́nh phản bội. Nhưng đó vẫn chưa phải là dấu chỉ của ngày tận cùng của thế giới và ngày Đức Giêsu trở lại. Đối với tất cả những thời kỳ khó khăn ấy hay sự tận cùng của cái này, điều kia th́ Người khuyên chúng ta hăy kiên tâm.

Có những sự kết thúc lớn, như những thành phố bị phá hủy do sóng thần, động đất, chiến tranh và xung đột sắc tộc. Cũng có những kết thúc mà chúng ta trải qua cách riêng tư hơn khi thế giới của chúng ta đi đến kết thúc. Ai trong chúng ta chưa từng trải qua cảm giác của những thiên tai cá nhân – “động đất, đói khát và dịch bệnh” – cách này hay cách khác. Sự ra đi của người thân yêu; kết thúc một hôn nhân; mất nhà hoặc mất việc; bị người mà ta hết ḷng tin tưởng phản bội; yếu nhược, …. Người ta sau khi trải nghiệm những tai họa ấy sẽ nghĩ “Thế giới của tôi thế là hết.”

Nhưng, sự chữa lành và đời sống mới có thể xảy ra, dù có vẻ như không thể vào lúc ấy. Nhưng chúng ta không thể tự ḿnh tạo nên một thế giới mới. Chúng ta cũng chẳng có đủ sức mạnh để kiên vững trong niềm tin và niềm hy vọng chỉ với sức mạnh ư chí trong những lúc khó khăn ấy. Chúng ta hôm nay cũng nghe Đức Giêsu hứa với chúng ta. Sau những tai ương và thử thách, “Có kiên tŕ anh em mới giữ được mạng sống ḿnh”. Làm sao có như vậy được? Chắc chắn là không chỉ do chúng ta.

Đức Giêsu, Đấng luôn cầu nguyện và tin tưởng vào Thiên Chúa, ngay cả khi thế giới của Người sụp đổ, đă hứa với chúng ta. Người sẽ không bỏ chúng ta mồ côi, nhưng sẽ gửi Thánh Thần đến cho chúng ta. Chúng ta nhận lănh Thần Khí đó khi chịu Phép Rửa. Thần Khí đó là một Thần Khí kiên vững và cầu xin trong chúng ta. Điều đó giúp chúng ta tin tưởng dù cho thế giới có kết thúc nơi chúng ta. Thánh Thần giúp chúng ta tràn đầy hy vọng khi trước mắt chúng ta hoàn toàn mờ mịt và đầy thử thách.

Khi chúng ta đang đến gần với Mùa Vọng và thương cảm cho anh chị em của chúng ta, những người đang chịu khốn khó: v́ nội chiến như Irap và Afghanistan; những cô nhi v́ dịch AIDS ở Châu Phi; v́ dịch bệnh và những hậu quả của cơn động đất ở Haiti; những người thất nghiệp và vô gia cư ở trong đất nước của chúng ta; những người nghiện ma túy và gia đ́nh khắc nghiệt của họ, (những nạn nhân của đợt lũ lụt ở miền Trung), chúng ta trung thành với Đức Giêsu và lời hứa của Người cũng như khao khát và trông chờ luồng khí mới của Thánh Thần.

Hôm nay, chúng ta tưởng nhớ và cử hành mầu nhiệm sự chết và phục sinh của Đức Giêsu trong Tiệc Thánh này. Lời hứa từ sách Malachi đă nên hoàn trọn nơi Đức Giêsu, Đấng là “…ánh sáng công chính mang theo tia sáng chữa lành bệnh”. Người đă dăi sáng trên chúng ta, những con người đổ vỡ, và Người vẫn luôn là ánh sáng soi  cho chúng ta trong một thế giới đen tối này.

 

Lm. Jude Siciliano, O.P.

 

MẶT TRỜI CÔNG CHÍNH SẼ MỌC LÊN

Ml 3,19-20; Tv 98; 2Tx 3,7-12; Lc 21,5-19

Kính thưa quư vị,

Có những đứa trẻ thích nghe chuyện ma và chuyện yêu tinh, mặc dù sau khi nghe những câu chuyện đó chúng có thể gặp ác mộng, và không sao ngủ lại được nếu không nằm với cha mẹ. Có những người lại thích đi xem phim kinh dị, dẫu cho xem trên màn h́nh toàn những thứ làm họ nổi da gà và gào thét inh ỏi. Khi xem xong những phim đáng sợ như thế, người ta rời rạp chiếu phim và trở về với cuộc sống thường ngày của họ. Họ để lại sau lưng sự choáng váng và nỗi sợ hăi đó trong bóng tối.

Bài đọc I và Tin Mừng hôm nay tựa như những kịch bản cho một trong số những câu chuyện kinh hoàng đó. Khi những câu chuyện này được đọc lên, các bậc cha mẹ muốn bịt tai con ḿnh lại v́ sợ chúng bị ảnh hưởng. Những đoạn văn này không phải dành cho người nhút nhát. Mặc dù chúng kết hợp những đặc điểm giàu tính văn chương, nhưng đây không phải là câu chuyện đêm khuya ngày lễ Halloween để kể cho các trẻ em dạn dĩ. Nhưng các bài đọc này nhằm thức tỉnh những tâm hồn cần thay đổi đời sống, hoặc những ai bị giam cầm cần đến niềm hy vọng khi họ thấy toàn là sự ảm đạm.

Cuốn sách ngắn gọn của ngôn sứ Malachi đă khép lại Kinh Thánh Hípri, Cựu Ước. Tác giả giữ bí mật danh tánh của ḿnh v́ lời b́nh luận sắc bén về những tư tế và các nhà lănh đạo dân chúng. Danh xưng Malachi có nghĩa là “Sứ Giả Của Tôi.” Đó là những vị ngôn sứ, sứ giả từ Thiên Chúa, họ mang đến những ngôn từ khẩn thiết cho dân chúng: có nhiều vị đem đến một lời an ủi giữa những đau buồn; các vị khác th́ lại đưa ra những lời cảnh báo chói tai cho dân chúng, những ai vi phạm mối quan hệ giao ước với Thiên Chúa.

Chúng ta t́m thấy hai thông điệp trong bản văn hôm nay từ sách Malachi. Thứ nhất, phần “phim rùng rợn.” Vị ngôn sứ cảnh báo về “ngày” sẽ đến. Những người Dothái chịu đau khổ và bị lưu đày đang mong mỏi “ngày của Đức Chúa,” khi Thiên Chúa ra tay đầy quyền năng chống lại những kẻ ngược đăi họ, và Thiên Chúa đến để giải thoát họ. Một lần nữa, Thiên Chúa đến giải thoát, dẫn họ ra khỏi ách nô lệ, và đưa về quê hương. Nhưng họ đă lơ là sống bổn phận giao ước. Thế nên, ngôn sứ Malachi đă lớn tiếng chỉ trích việc tuân thủ đạo nghĩa của dân chúng, đặc biệt sự thực hành lỏng lẻo và không đúng cách của các tư tế. Ngài cũng kết án những ai đă lừa gạt người nghèo và góa phụ.

Thiên Chúa không chỉ là Thiên Chúa nơi cung thánh, bị giới hạn bởi bốn bức tường trong đền thời hay nơi thánh đường. Thiên Chúa tỏ ḷng xót thương với người nghèo khổ, và lên án những ai cậy dựa quyền thế để trục lợi. V́ ngày bất công của Thiên Chúa đến sẽ là ngày tính sổ. Nhưng trong lời cảnh báo của ngôn sứ Malachi c̣n có ân sủng; ngày đó chưa đến và v́ thế, vẫn c̣n thời gian để thay đổi. Thực ra, những lời tiên báo của ngôn sứ Malachi đă giúp thúc giục Ezra và Nehemiah sửa đổi.

Những ai trung thành với Thiên Chúa, hoặc những người biết ăn năn, th́ “ngày của Đức Chúa” sẽ được thể hiện rơ bởi ḷng trắc ẩn của Thiên Chúa. Đối với họ, Thiên Chúa đến sẽ mang theo ánh sáng vào nơi tối tăm, bởi lẽ, “Mặt trời công chính sẽ mọc lên, mang theo các tia sáng chữa lành bệnh.”

Ngôn sứ Malachi nói với chúng ta khi chúng ta thờ phượng “ngày của Đức Chúa”, nghĩa là ngày Chúa Nhật. Chúng ta đă đến thờ phượng nhiều lần trong suốt cuộc đời của ḿnh, điều đó trở thành lệ thường, vậy liệu chúng ta có phải làm điều ǵ nữa trong tuần hay không? Chúng ta có thấy cần thiết để làm điều ǵ khác nữa hay không? Nếu cầu nguyện tất cả mọi việc, th́ liệu những lời cầu nguyện của ta có chiếu lệ hay không? Chúng ta phải tuân theo vài bước để làm hồi sinh những thực hành đạo đức.

Một vài bản tin của giáo xứ có đính kèm những phần phụ trương mang tính giáo dục liên quan vấn đề đức tin. Chúng ta có thể bắt đầu sự hồi sinh của ḿnh bằng cách dành thời gian đọc và suy tư về những ǵ nằm trong tầm tay chúng ta ở những bản tin đó. Vậy, chúng ta có thể làm được ǵ? Hăy đến nhà thờ sớm hơn để dành thời gian suy gẫm trước khi buổi lễ bắt đầu. Hăy ghé thăm thư viện giáo xứ, hoặc quầy sách tôn giáo ở địa phương. Hăy hỏi một người nào đó trong hội đồng giáo xứ, hoặc một người bạn am hiểu để được giới thiệu một cuốn sách làm món ăn tinh thần. Có những người thức dậy sớm hơn vài phút để lặng lẽ suy tư trước khi bắt đầu một ngày làm việc mới của ḿnh. Người khác nữa lại cài những phần mềm trong điện thoại, và nhận những suy gẫm từ những bài đọc phụng vụ hằng ngày.

Ngôn sứ Malachi thúc đẩy chúng ta suy tư và quay về cuộc sống tinh thần. Liệu tinh thần đó có đầy sức sống và mạnh mẽ hay không? Hoặc tinh thần đó đang ngủ mê và chẳng hướng dẫn ǵ cho đời sống hằng ngày của chúng ta chăng? “Ngày đó” đến với chúng ta thật t́nh cờ qua một khủng hoảng cá nhân, hoặc một biến cố làm thay đổi trầm trọng về trật tự cuộc sống của chúng ta. Khi “ngày đó” đến, liệu chúng ta có t́m thấy những nhu cầu, và sự thiếu thốn mà chúng ta cần có hay không?

Trong phần hai của bài đọc sách ngôn sứ Malachi nói về những thay đổi của ḥn đá và ám chỉ những ai bị căng thẳng và gặp khủng hoảng. Người tín hữu sẽ nh́n thấy “Mặt trời công chính mang theo các tia sáng chữa lành bệnh.” Tác giả đă mượn h́nh ảnh từ những tôn giáo ngoại bang của vùng Persia và Aicập. Họ tôn thờ thần mặt trời như là nguồn ánh sáng và nguồn mạch của sự sống. Ngôn sứ Malachi đặt danh hiệu “mặt trời công chính” là nhằm ám chỉ Thiên Chúa của dân Israel. Đối với những ai coi cuộc đời của ḿnh như sự ảm đạm, hoặc sống dưới một bóng mây đen tối, th́ “mặt trời công chính” là dấu chỉ đầy hy vọng. Nơi nào có bóng tối th́ Thiên Chúa sẽ chiếu dọi ánh sáng. Những lời của ngôn sứ nuôi dưỡng niềm hy vọng chúng ta khi chúng ta chưa nhận ra những dấu chỉ rơ ràng mà chỉ biết trông cậy vào niềm hy vọng.

Nếu những bóng tối do bất công tạo ra sẽ được lan truyền vào “ngày đó”, th́ khi “Mặt trời công chính” đến sẽ mang theo các tia sáng chữa lành bệnh. Chúng ta biết được lư do tại sao những người Kitô hữu tiên khởi đă mượn h́nh ảnh mặt trời công chính và đặt danh hiệu đó cho Đức Kitô. Như thánh Gioan đă nói: “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đă không diệt được ánh sáng” (Ga 1,5).

Có người trả lời với thánh Gioan rằng, vẫn c̣n bóng tối, và bóng tối đă gây thiệt hại trên những người đang đấu tranh để giữ vững đức tin. Đó là bóng tối về: ốm đau bệnh tật, những nạn nhân của chiến tranh không nơi nương tựa, các trẻ em nghiện ngập, sự thờ ơ của chính phủ đối với những người cùng cực, căn bệnh thế kỷ AIDS, v.v… Thêm vào đó, chúng ta có trong ḿnh những bóng tối về tinh thần, có lẽ đó là kết cục của việc sao lăng hoặc thờ ơ những đường lối của Thiên Chúa. Nhiều lúc chính điều đó làm cho ta cảm giác rằng bóng tối lại tiêu diệt ánh sáng.

Tuy vậy, chúng ta vẫn đặt hy vọng vào những ǵ ngôn sứ Malachi nói với chúng ta. Thiên Chúa thấu suốt thân phận của ta. Khi “ngày đó” đến th́ công lư của Thiên Chúa sẽ mang lại một sự đảo ngược lớn lao. Việc làm sai trái sẽ bị kết án, và mọi quốc gia sẽ đối diện với ánh sáng mặt trời rực rỡ của công lư Thiên Chúa. Không c̣n chừa lại “một rễ hay cành” nào. Người Kitô hữu chờ đợi ngày đó với ḷng kiên nhẫn nhờ thông điệp của vị ngôn sứ nuôi dưỡng.

Như đề cập ở trên, danh xưng Malachi có nghĩa là “Vị Sứ Giả Của Tôi.” Ngày xưa là như thế, nhưng đây là chuyện thời nay. Vậy, giờ đây ai là những “sứ giả” để nói lên những lời của ngôn sứ Malachi? Ai sẽ lên tiếng chống lại “kẻ ngạo mạn và mọi kẻ làm điều gian ác?” Ai sẽ chiếu dọi ánh sáng vào những nơi tối tăm của thế giới này, nơi mà sự lừa dối và trục lợi cứ tràn lan trong lănh vực kinh doanh. Ai sẽ là ánh sáng cho những người gặp tai ương và đau thương? Nói cách khác, ai sẽ trở thành một ngôn sứ Malachi, phát ngôn viên cho Thiên Chúa, để nhờ đó, “mặt trời công chính” một lần nữa sẽ mang theo các “tia sáng” chữa lành bệnh?