Thượng nghị sĩ, Bộ Trưởng Tư Pháp Úc, và Đại Sứ Úc cạnh Tòa Thánh trở thành linh mục giáo xứ

 

1. Thượng nghị sĩ, Bộ Trưởng Tư Pháp Úc, và Đại Sứ Úc cạnh Tòa Thánh trở thành linh mục giáo xứ

Những hình ảnh quý vị và anh chị em đang xem thấy đây là lễ an táng Cha Michael Tate, cha sở nhà thờ South Hobart, Tasmania. Ngài từng là Cha Tổng Đại Diện của tổng giáo phận Hobart, Tasmania. Trước khi trở thành một linh mục ở miền quê xa xăm, con người phi thường này từng là Thượng nghị sĩ, Bộ Trưởng Tư Pháp Úc, và Đại Sứ Úc cạnh Tòa Thánh.

Thượng nghị sĩ, Bộ Trưởng Tư Pháp Úc, và Đại Sứ Úc cạnh Tòa Thánh trở thành linh mục giáo xứ

Trong bài giảng thánh lễ an táng diễn ra hôm Thứ Ba, 16 Tháng Sáu, Đức Tổng Giám Mục Anthony John Ireland đã kể lại cuộc đời của Cha Michael Tate, bắt đầu bằng một câu chuyện về một cuộc gặp gỡ mà vị linh mục quá cố không bao giờ quên và rất thích kể lại.

Năm 1996, Đại sứ Úc tại Tòa Thánh, Ngài Michael Tate, đã gặp Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong một buổi tiếp kiến chia tay sau khi hết nhiệm kỳ.

Đó là một trong nhiều buổi tiếp kiến như vậy mà Đức Thánh Cha đã gặp trong ngày hôm đó, Cha Tate nhớ lại, và trông ngài có vẻ mệt mỏi và hơi buồn chán.

“Nhiệm vụ tiếp theo của ngài Đại Sứ là gì?” Đức Giáo Hoàng hỏi một cách lịch sự. Và vị đại sứ trả lời, “Thưa Đức Thánh Cha, thực ra con không nhận nhiệm vụ khác nhưng sẽ đi học để trở thành linh mục.”

Đột nhiên, Đức Giáo Hoàng trở nên vui vẻ với một nụ cười tươi và nói bằng giọng trầm ấm pha chút giọng Ba Lan, “Một ơn gọi muộn màng!”

“Không, thưa Đức Thánh Cha,” Đại Sứ Tate đáp lại, “một ơn gọi sớm nhưng bị trì hoãn lâu.”

Cha Michael Tate AO được thụ phong linh mục tại Nhà thờ Đức Bà ở Hobart vào tháng 5 năm 2000, khi ngài 54 tuổi.

Trong 26 năm tiếp theo, ngài phục vụ với tư cách là linh mục giáo xứ ở Tasmania, xa Canberra, xa những trang báo, một cuộc sống rất khác so với những chức vụ cao mà ngài từng nắm giữ.

Cha Tate qua đời vào ngày 5 tháng 6 sau khi nhận bí tích xức dầu cho người bệnh từ Đức Tổng Giám Mục Tony Ireland. Ngài thọ 80 tuổi.

Michael Tate sinh năm 1945 tại Sydney nhưng lớn lên ở Hobart. Ông học luật tại Đại học Tasmania và tiếp tục học thạc sĩ thần học tại Đại học Oxford năm 1971.

Ông trở lại Hobart để giảng dạy luật và cuối cùng trở thành trưởng khoa luật.

Là một người trung thành của Đảng Lao động, Tate được bầu vào Thượng viện năm 1977.

“Mặc dù Tate luôn trung thành với Đảng Lao động, ông vẫn rất độc lập, dù trong khuôn khổ đoàn kết của nhóm Dân biểu.”

Với tư cách là Thượng Nghị Sĩ và bộ trưởng, ông đã tham gia điều tra một số vụ bê bối gây chú ý trên trang nhất các báo, chẳng hạn như cuộc điều tra Thượng Nghị Sĩ Lionel Murphy về cáo buộc tham nhũng, tái cấu trúc Cảnh sát Liên bang Úc và Cơ quan Tội phạm Quốc gia, xem xét lại luật kiểm soát súng sau vụ thảm sát phố Hoddle, và soạn thảo lời tuyên thệ trung thành mới.

Năm 1985, ông chủ trì một ủy ban Thượng viện về chủ đề gai góc là nghiên cứu phôi người.

“Cuối cùng, quan điểm được nêu trong báo cáo đa số của ủy ban không khác biệt nhiều so với lập trường của Giáo Hội Công Giáo. Sự tận tâm của Tate đối với đức tin Công Giáo luôn thể hiện rõ trong công việc nghị viện của ông.”

Ông Tate từng giữ chức Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ của ông Hawke và ông Keating từ năm 1987 đến năm 1993. Tuy nhiên, vị trí của ông trong Đảng Lao động luôn không ổn định.

Bị suy yếu bởi những tranh giành phe phái nội bộ, ông đã bị loại khỏi nội các mới của ông Keating sau cuộc bầu cử tháng 3 năm 1993. “Ông quyết định rằng việc ở lại ‘để dậm chân tại chỗ’ sẽ đẩy ông vào ‘con đường cay đắng’”.

Cuối năm đó, ông từ chức Thượng Nghị Sĩ để nhận nhiệm vụ ngoại giao với tư cách là đại sứ Úc tại La Hay và Tòa thánh.

Ở Úc, và thậm chí trên trường quốc tế, hành trình từ chức vụ chính trị cao cấp đến linh mục của Michael Tate chắc hẳn là chưa từng có tiền lệ.

Câu chuyện về Ngoại trưởng và thủ tướng của Cộng hòa Trung Hoa những năm đầu thế kỷ 20, người đã trở thành linh mục dòng Bênêđíctô và viện trưởng sau khi vợ ông qua đời, thậm chí còn đáng kinh ngạc hơn.

Nhưng trong thế giới nói tiếng Anh, hành trình từ chính trị gia đến linh mục của ông Tate không có tiền lệ.

Thật không may, con đường ngược lại, từ linh mục trở thành chính trị gia, lại phổ biến hơn nhiều, và thường dẫn đến thảm họa, cả về chính trị lẫn cá nhân.

Tại Slovakia, Cha Jozef Tiso từng giữ chức tổng thống trong Thế chiến II và bị xử tử vì tội ác chiến tranh năm 1947. Tại Haiti, Cha Jean-Bertrand Aristide trở thành tổng thống và rời bỏ chức linh mục. Tại Paraguay, Giám mục Fernando Lugo được bầu làm tổng thống và rời bỏ chức vụ tổng thống và chức linh mục trong bê bối.

Ngược lại, Cha Tate, dù sở hữu cá tính mạnh mẽ và trí tuệ tuyệt vời, lại chọn con đường phục vụ Giáo hội một cách thầm lặng.

Như Đức Tổng Giám Mục Ireland đã nói, “Cha Michael là một người độc nhất vô nhị, tài năng về trí tuệ, một người truyền đạt mạnh mẽ, và là một mục tử vô cùng quảng đại và trung thành, yêu thương giáo dân của mình.”


Source:Catholic Weekly

2. Quan hệ giữa Chính Thống Giáo Nga và Điện Cẩm Linh

Liên minh Âu Châu đã áp đặt lệnh trừng phạt đối với hơn 80 cá nhân và thực thể liên quan đến cuộc chiến của Mạc Tư Khoa ở Ukraine, trong đó có một linh mục Chính thống giáo được Điện Cẩm Linh mô tả là “cha giải tội” của nhà độc tài Vladimir Putin.

Mikhail Khodorkovsky, một nhà hoạt động đối lập người Nga, và là một tín hữu Chính Thống Giáo nhiệt thành cho biết thêm như sau về mối quan hệ giữa Chính Thống Giáo Nga và Điện Cẩm Linh.

Ông nói một câu có thể hoàn toàn gây sốc đối với nhiều người: “Chính thống Nga hiện đại không phải do Chúa tạo ra, do Đảng Cộng sản Liên Xô tạo ra.”

Theo ông, mối quan hệ giữa Giáo hội Chính thống Nga và Đảng Cộng sản đã phát triển từ sự đàn áp bạo lực thời Liên Xô thành một liên minh thực dụng, được thúc đẩy bởi sự cùng chia sẻ các giá trị bảo thủ, và tâm tình chống phương Tây. Đó là nói ở bình diện vĩ mô. Nói cụ thể hơn, liên quan đến cuộc sống thường nhật hơn liên minh thực dụng ấy là kết quả của sự sợ hãi tử đạo, lối sống thích được yên thân, ăn ngon mặc đẹp của hàng giáo sĩ Nga.”

Sau Cách mạng Bolshevik năm 1917, Đảng Cộng sản cầm quyền đã tích cực đàn áp tôn giáo. Những năm 1920 và 1930 chứng kiến bạo lực lan rộng, sự phá hủy các nhà thờ và việc hành quyết hoặc bỏ tù hàng nghìn giáo sĩ.

Trong Thế chiến II, Joseph Stalin đã nới lỏng các hạn chế đối với Giáo hội để tận dụng chủ nghĩa dân tộc Nga cho nỗ lực chiến tranh. Khodorkovsky cho rằng Joseph Stalin thực sự đã khai sinh ra một Giáo Hội Chính Thống Giáo Nga mới tinh bị giám sát chặt chẽ và phục tùng bộ máy nhà nước và an ninh.

Sau sự sụp đổ của Liên Xô, Đảng Cộng sản Liên bang Nga, gọi tắt là CPRF, đã áp dụng cương lĩnh cánh tả bảo thủ kết hợp Kitô giáo Chính thống. Lãnh đạo CPRF trong lịch sử đã lập luận rằng chủ nghĩa cộng sản và Chính thống giáo có chung mục tiêu, chẳng hạn như chống lại chủ nghĩa tự do phương Tây và sự suy thoái đạo đức.

Khodorkovsky nhận xét rằng Giáo hội Chính thống Nga hiện đại và Điện Cẩm Linh hiện tại có mối liên hệ mật thiết. Mặc dù Giáo hội đôi khi cảnh giác với những người cộng sản công khai, nhưng nhìn chung cả hai thể chế đều ủng hộ các giá trị xã hội truyền thống và cùng quan điểm về các vấn đề địa chính trị.

Theo các cuộc thăm dò dư luận ở Nga, nhiều công dân lớn tuổi coi cả lập trường ủng hộ Giáo hội và ủng hộ chủ nghĩa cộng sản là những trụ cột truyền thống, yêu nước.

Khodorkovsky cảnh giác rằng Thượng phụ Kirill, người đứng đầu Giáo hội Chính thống Nga, là người ủng hộ nhiệt thành và công khai cuộc xâm lược Ukraine của Tổng thống Vladimir Putin. Ông đã cung cấp sự hỗ trợ về ý thức hệ và tinh thần quan trọng cho chiến dịch quân sự của Điện Kremlin.

Sự ủng hộ của Đức Thượng phụ Kirill đối với cuộc chiến bao gồm một số hành động quan trọng: Thứ nhất, tuyên bố “Thánh Chiến”: Dưới sự chủ trì của ông, Hội đồng Nhân dân Nga Thế giới đã ban hành một sắc lệnh mô tả cuộc xung đột ở Ukraine là một “thánh chiến” chống lại phương Tây, kêu gọi sáp nhập toàn bộ Ukraine vào Nga.

Thứ hai, là sự biện minh về mặt tôn giáo: Ông thường xuyên mô tả cuộc xâm lược như một cuộc đấu tranh sinh tồn và tâm linh để bảo vệ luật lệ thiêng liêng và các giá trị truyền thống của Nga chống lại những gì ông mô tả là các hệ tư tưởng phương Tây suy đồi.

Thứ ba, lời hứa về ơn cứu rỗi: Ông đã công khai khuyến khích nỗ lực quân sự của Nga bằng cách hứa với binh lính Nga rằng việc hy sinh trong trận chiến nhằm khôi phục “Nước Nga Thánh Thiện” sẽ xóa sạch mọi tội lỗi của họ.

Thứ tư, sự chấp thuận cho các hành động: Ông đã chúc phúc cho quân đội Nga và mô tả cuộc chiến là một sứ mệnh thiêng liêng, điều này đã dẫn đến sự chỉ trích quốc tế từ Hội đồng Giáo hội Thế giới và các nhà lãnh đạo tôn giáo khác, bao gồm cả Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

Trong khi Kirill kiên quyết ủng hộ cuộc chiến, sự liên kết của ông với Điện Kremlin đã gây ra một sự chia rẽ lớn trong Chính thống giáo toàn cầu và chia rẽ Chính Thống Giáo, với hàng trăm linh mục ở cả Ukraine và Nga lên tiếng phản đối cuộc xung đột.

Tưởng cũng nên biết thêm: Mikhail Khodorkovsky, từng là người giàu nhất nước Nga trước khi lên tiếng chống lại Vladimir Putin và thành lập nhóm Open Russia, nghĩa là nước Nga cởi mở, với chủ trương thân phương Tây. Ông bị tịch thu tài sản và bị bỏ tù từ năm 2003 cho đến khi được Putin ân xá vào này 20 Tháng Mười Hai, 2013, sau một thập niên tù tội. Ông hiện đang sống lưu vong ở Luân Đôn và thành lập Trung tâm Dossier nhằm điều tra các nguồn tài sản của Putin, không do Putin trực tiếp đứng tên nhưng do các tình nhân của ông ta đứng tên.

3. Lịch sử Giáo hội Chính thống Nga

Giáo hội Chính thống Nga bắt đầu với việc Kitô hóa Kyivan Rus’ vào năm 988 dưới triều đại của Vladimir Đại đế. Trong những thế kỷ tiếp theo, Kyiv và sau đó là các thành phố khác, bao gồm Novgorod, Pskov, Rostov, Suzdal và Vladimir, đã trở thành những trung tâm khu vực quan trọng về tâm linh và văn hóa Kitô giáo. Sau cuộc xâm lược của Mông Cổ vào Kyivan Rus’ vào thế kỷ 13, giám mục chính tòa đã chuyển từ Kyiv đến Vladimir vào năm 1299, sau đó đến Mạc Tư Khoa vào năm 1325, từ đó trở thành trung tâm của Giáo hội Chính thống Nga.

Các Tổng Giám Mục của Giáo hội Nga đã ủng hộ sự trỗi dậy của công quốc Mạc Tư Khoa và sự hiện diện của họ đã làm tăng thêm quyền lực và tham vọng mở mang bờ cõi đất nước của các hoàng tử Mạc Tư Khoa. Đổi lại, các Tổng Giám Mục đã có thể tăng cường sự ổn định của Giáo hội và truyền cảm hứng cho sự thống nhất giữa các công quốc Nga bị chia cắt. Đến giữa thế kỷ 15, Mạc Tư Khoa vừa là trung tâm chính trị vừa là trung tâm tôn giáo của đất nước. Giáo hội Nga tuyên bố tự trị vào năm 1448, ngay trước khi Constantinople thất thủ, do phản đối Công đồng Florence. Theo yêu cầu của đại công tước Mạc Tư Khoa, một hội đồng các giám mục Nga đã bầu ra một giám mục địa phương mà không cần sự chấp thuận của Constantinople.

Sau khi Constantinople thất thủ năm 1453, Mạc Tư Khoa trở thành cường quốc Chính thống giáo độc lập duy nhất và các nhà lãnh đạo của nó nhanh chóng bắt đầu tuyên bố rằng Mạc Tư Khoa là người kế thừa Đế chế Byzantine. Năm 1589, vị Tổng Giám Mục được phong làm thượng phụ và nền độc lập của Giáo hội Nga lần đầu tiên được Constantinople công nhận. Vào giữa thế kỷ 17, một cuộc ly giáo trong Giáo hội đã dẫn đến sự trỗi dậy của phong trào Tín hữu Cổ. Cuộc cải cách Giáo hội của Peter Đại đế diễn ra vào đầu thế kỷ 18, bắt đầu thời kỳ Công đồng trong lịch sử Giáo hội Nga kéo dài cho đến Cách mạng Nga năm 1917.

Những người Bolshevik đầu tiên đã đàn áp Giáo hội, nhưng Joseph Stalin đã khôi phục Giáo hội vào năm 1941 khi đối mặt với cuộc xâm lược của Đức.

Mối quan hệ giữa Joseph Stalin và Giáo hội Chính thống Nga đã phát triển từ sự đàn áp tàn bạo, được nhà nước cho phép và sự phá hủy thể chế trong những năm 1920 và 1930 đến một liên minh thực dụng, được nhà nước cho phép trong Thế chiến II.

Bọn cầm quyền Bolshevik thời kỳ đầu coi tôn giáo là rào cản đối với ý thức hệ cộng sản và là một thế lực cạnh tranh với nhà nước. Stalin đã phát động các chiến dịch chống tôn giáo quyết liệt, tịch thu kho báu của nhà thờ, biến các nơi thờ phượng thành các cơ sở thế tục và đóng cửa gần như toàn bộ khoảng 55.000 nhà thờ đang hoạt động trên khắp Liên Xô. Hàng chục ngàn giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân mộ đạo đã bị bắt, đưa đến các trại lao động hoặc bị hành quyết. Đến năm 1939, Giáo hội chính thống đã bị đẩy đến bờ vực sụp đổ. Sau khi Hiter xâm lược Liên Xô, năm 1941, Stalin đã chấm dứt các chiến dịch chống tôn giáo. Ông ta nhận ra rằng Giáo hội có thể tập hợp người dân và thúc đẩy họ theo cách mà ý thức hệ Cộng sản không thể làm được. Đỉnh điểm là thỏa thuận lịch sử năm 1943, trong đó Giáo hội được phục hồi dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước để đổi lấy sự ủng hộ trung thành của Giáo hội đối với nhà nước. Ngày 4 tháng 9 năm 1943, Stalin đã gặp gỡ các vị Tổng Giám Mục hàng đầu của Giáo hội Chính thống Nga. Trong cuộc họp, Stalin đưa ra quyết định cho phép khôi phục chính thức Tòa Thượng phụ Mạc Tư Khoa, bầu chọn Thượng phụ mới, mở lại các chủng viện và trả lại một số tài sản của Giáo hội, đồng thời tặng thêm một số tài sản lớn tịch thu của Giáo Hội Công Giáo.

Sau chiến tranh, Stalin đã sử dụng Giáo hội được tái lập và kiểm soát bởi nhà nước như một công cụ địa chính trị để mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô sang Đông Âu và biện minh cho việc sáp nhập các vùng lãnh thổ biên giới như miền tây Ukraine.

Mặc dù được phép hoạt động công khai, Giáo hội vẫn bị các cơ quan nhà nước giám sát chặt chẽ, bảo đảm rằng giới chức cao cấp trong Giáo hội chủ yếu hoạt động như một công cụ phục vụ chính sách của Liên Xô. Nhiều chức sắc cao cấp của Chính Thống Giáo thực chất là các đặc vụ cộng sản.

Trong suốt thời gian tồn tại còn lại của Liên Xô, giới chức cao cấp của Giáo hội Chính thống Nga và Đảng Cộng sản đã hợp tác và chia sẻ quyền lực, trong khi những ai bất đồng chính kiến bị đàn áp, và tài sản của Giáo Hội Công Giáo bị tịch thu giao cho Chính Thống Giáo Nga. Sau khi Liên Xô tan rã, Chính Thống Giáo Nga lại một lần nữa giành được nhiều quyền lực trong xã hội Nga dưới thời nhà độc tài Vladimir Putin nhờ sự sẵn sàng làm tay sai cho chế độ. Năm 2018, một sự chia rẽ mới với Constantinople bắt đầu sau khi Constantinople công nhận Giáo hội Chính thống Ukraine.

CHIA SẺ:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *