
Chuyến đi của đoàn Opera Romana Pellegrinaggi là một trong những đoàn hành hương đầu tiên sau lệnh ngừng bắn tại Gaza. Cha Francesco Ielpo, Giám quản Thánh Địa: “Được thấy anh chị em hiện diện tại những nơi này mang lại hy vọng. Điều đó cho thấy đây không chỉ là những bảo tàng, mà là những kinh nghiệm gặp gỡ sống động.”
Cần phải lên đường hành hương để trao cho Lời Chúa một chiều sâu mới, để chiêm niệm một hình thức khác của mầu nhiệm. Tin Mừng và Thánh Địa: những thiên niên kỷ lặng lẽ trải dài cho đến sự hỗn loạn của hiện tại. Những khuôn mặt, những địa điểm, âm thanh, chính chất liệu của các đồ vật đều kể lại câu chuyện, dẫn dắt đời sống thiêng liêng đi vào đối thoại với lịch sử. Hiện diện trọn vẹn trong thời đại của mình bằng sự hiện diện và lắng nghe, bước vào mớ hỗn độn ồn ào và đón nhận nó trong thinh lặng.
Vì thế, trong mùa chiến tranh – khi hơn bao giờ hết “những kẻ được coi là thủ lãnh các dân tộc thì thống trị họ” – việc công bố và lắng nghe Tin Mừng Phục Sinh theo thánh Mátthêu tại Anastasis (Nhà Phục Sinh) của Vương cung Thánh đường Mộ Thánh trở nên một mặc khải sống động.

Trời vừa rạng sáng tại Giêrusalem thì đoàn hành hương của Opera Romana Pellegrinaggi, sau khi kết thúc Thánh lễ, bước ra khỏi Edicola – ngôi tiểu điện gìn giữ mồ Chúa Giêsu. Ngay trong Rotonda, các linh mục trẻ người Brazil chuẩn bị cho phụng vụ, những khách hành hương đầu tiên thắp nến, những người nghèo ngồi trên các băng ghế xin bố thí, khéo léo chọn ngôn ngữ thích hợp.
Chẳng bao lâu nữa, Khu Phố Cổ sẽ lại trở thành chiếc nồi luyện kim quen thuộc của các dân tộc: dòng người đông đúc tràn qua những con đường đá, nơi cái thánh thiêng và cái du lịch, cái huyền nhiệm và cái trần thế cùng tồn tại. Lệnh hưu chiến khó khăn đạt được vào tháng Mười tại Gaza đã tạm thời giải phóng bầu trời khỏi mối đe dọa tên lửa, và các con đường khỏi sự hiện diện dày đặc của binh lính và vũ khí.
“Việc thấy các Kitô hữu từ khắp nơi trên thế giới vẫn tiếp tục đến với những nơi này mang lại hy vọng. Điều đó giúp các thánh địa không chỉ là những bảo tàng, mà trở thành không gian của một cuộc gặp gỡ đích thực với các dân tộc đang sinh sống tại đây. Những người đến thăm chúng tôi trong thời gian xung đột mang theo rất nhiều câu hỏi. Cầu nguyện là điều thiết yếu đối với người có đức tin, nhưng câu trả lời đầu tiên chính là trở lại làm người hành hương, bởi vì hành hương là một trong những nguồn sinh kế chính của vùng đất này, không chỉ đối với cộng đồng Kitô hữu”, cha Francesco Ielpo, Giám quản Thánh Địa, chia sẻ với đoàn Opera Romana.
Không chỉ Giêrusalem và Nazareth phải chịu đau khổ. Bêlem, thuộc Bờ Tây, đang gánh chịu hậu quả chồng chất của đại dịch và các biện pháp trừng phạt được áp dụng sau ngày 7 tháng Mười. Cuộc phong tỏa kinh tế và quân sự đã khiến nơi Chúa Giáng Sinh lâm vào cảnh kiệt quệ. Taybeh – ngôi làng duy nhất hoàn toàn Kitô giáo tại Bờ Tây – có khoảng 8.000 dân vào năm 1967; nay chỉ còn hơn 1.300 người.
“Chúng tôi phải giúp người hành hương không rơi vào đối đầu phe phái. Không đứng về phe nào không có nghĩa là không giúp đỡ; nhưng là không để mình bị cực đoan hóa, không tiếp nhận một cái nhìn chỉ làm xói mòn niềm tin giữa con người với nhau và với tương lai”, cha Ielpo nói thêm.
Việc nhận biết và nhìn nhận người khác – một thái độ đại kết bắt đầu ngay trong nội bộ Kitô giáo – gắn liền với di sản phức tạp của chế độ ‘status quo’, tức là hệ thống quyền sở hữu và thẩm quyền phụng tự tại các thánh địa chính, được ấn định từ thời Ottoman. Điều này đôi khi lạc mất trong suy tư thần học nhưng lại bộc lộ rõ trong cử hành nghi lễ: các tín hữu Êthiôpia xức dầu thơm trên Phiến Đá Xức Dầu, nơi họ sẽ thấm các mảnh vải đặt trên thi hài; các đan sĩ Armenia quây quần thành vòng tròn trong nhà thờ Thánh Giacôbê; tiếng búa trầm vang gõ trên semantron, tấm ván gỗ thay thế chuông nhà thờ.
Buổi chiều tại Mộ Thánh, cộng đoàn đa dạng của những người tin dừng lại để tham dự cuộc rước phụng vụ của các tu sĩ Dòng Capuchino: những chặng cầu nguyện bằng tiếng Latinh tại các nơi thánh thiêng nhất, ánh nến, thánh ca và cử chỉ quỳ gối trước khe đá nơi thập giá được cắm vào trên đồi Canvê.
“Khi đến đây, người hành hương phải hiểu Tin Mừng theo một cách khác với điều họ vẫn thường đọc. Hai năm gần đây, có lúc chúng tôi bị khạc nhổ khi đi trên đường. Dù rồi cũng quen, nhưng điều đó đã làm tôi suy sụp. Một ngày nọ, khi hát thánh ca, tôi dừng lại ở một câu: ‘Sputa clavi et lancea’. Khi hiểu rằng đó chính là những cái nhổ vào mặt mà Chúa Giêsu đã chịu, mọi sự bước sang một chiều kích khác – không còn là chiều kích tâm lý của nỗi lo âu cá nhân, mà là chiều kích thiêng liêng của việc theo Đức Kitô”, cha Giuseppe Garuffini, Bề trên Cộng đoàn Tu viện Mộ Thánh, xúc động chia sẻ. Những hành vi ấy, theo lời ngài, đến từ một số người Do Thái chính thống cực đoan – “điều trái ngược với một nụ hôn”.
“Anh chị em là một trong những đoàn đầu tiên trở lại sau khi các chuyến hành hương được tái khởi động nhờ lệnh hưu chiến. Chúng tôi hy vọng điều này sẽ tiếp diễn, và hòa bình sẽ đến”, Đức cha danh dự Marcuzzi nói với các khách hành hương. Ngài thay mặt Đức Thượng phụ Latinh Giêrusalem, Đức Hồng y Pierbattista Pizzaballa, đang công tác tại Rôma, tiếp đón đoàn.
Nguyên Giám mục giáo phận Nazareth kể về giáo phận của mình, những thách đố mục vụ, và sự suy giảm tín hữu kéo dài tại Thánh Địa, nay càng trầm trọng vì xung đột. Với một nghịch lý có chủ ý, ngài nhận định: “Chúng tôi quan trọng hơn nhờ các trường học của mình so với các giáo xứ.” Đó là những nơi chung sống giữa Kitô hữu và Hồi giáo, những trung tâm giáo dục chất lượng cao, nơi sự hòa hợp lớn lên trong thinh lặng, “bởi vì sự hiện diện Kitô giáo luôn là một yếu tố của hòa bình và hòa hợp xã hội”.
“Trẻ em và người trẻ là bánh và cá của chúng tôi”, cha Davide Meli, Chưởng ấn của Tòa Thượng phụ, nói – ánh mắt vẫn còn in đậm những tàn phá tại Gaza, nơi ngài đã đến thăm cùng Đức Hồng y Pizzaballa ít ngày trước lễ Giáng Sinh. Tại Dải Gaza, nơi “người ta không còn nhận ra các con đường”, nơi ít nhất 100 trẻ em đã thiệt mạng sau lệnh hưu chiến và tám em chết vì hạ thân nhiệt, Giáo Hội đã và vẫn đang nâng đỡ giáo xứ Thánh Gia cùng các cộng đoàn xung quanh bằng giáo dục, lương thực và chăm sóc y tế.
Từng mảnh ghép, bức khảm dần hình thành. Các khách hành hương suy tư, trao đổi, nhớ lại chuyến viếng thăm đầu tiên nhiều năm trước. Ý nghĩa được canh tân sau mỗi lần trở lại: “Một mình tôi thì lạc hướng, ở với người khác tôi tìm lại được phương hướng”, Federica thổ lộ khi màn đêm bao phủ các con hẻm của Khu Phố Cổ.
Mưa rơi trên vườn Cây Dầu (Ghết-sê-ma-ni) và Bêlem, bên kia trạm kiểm soát dẫn vào các Lãnh thổ bị chiếm đóng. Những ban nhạc từng tụ họp từ khắp Palestine dịp Giáng Sinh không còn làm đầy các con phố bằng âm thanh rộn ràng của lễ hội. Chỉ còn vài du khách quanh Vương cung Thánh đường Giáng Sinh.
Nhưng chính “những viên đá sống động” – nỗi đau khổ và lòng can đảm của con người – mới ghi dấu cách chân thực ý nghĩa của cuộc hành trình:
“Biên giới, trạm kiểm soát, hàng rào. Giờ đây chúng tôi từ bỏ việc ra ngoài, trở thành tù nhân của thành phố. Hôm nay có chút gì đó, ngày mai chúng tôi hoàn toàn lệ thuộc vào điều Thiên Chúa gửi đến. Tôi quyết định ở lại, nhưng các con tôi thì còn có thể chịu đựng được bao lâu?”, ông Robert Giacaman, chủ một cửa hàng đồ đạo, chia sẻ trong cuộc gặp gỡ giữa đoàn Opera Romana và giáo xứ do cha Raffaele Tayem coi sóc.
“Các tu sĩ Phanxicô không chỉ gìn giữ các thánh địa, mà còn gìn giữ sự hiện diện của chúng tôi. Xin anh chị em hãy đem ánh sáng cho mảnh đất này bằng chứng tá của mình; hãy đi xa hơn các vương cung thánh đường, bước vào các khu phố, và trò chuyện với người dân”, ông Robert tiếp lời.
“Tôi đã đến thẳng Mộ Thánh. Tôi cầu nguyện cho hòa bình tại Palestine, tôi cảm nhận sự hiện diện của Chúa Giêsu – thật không thể diễn tả”, Lina, 20 tuổi, kể lại. Đây là lần thứ hai trong đời cô được chính quyền Israel cấp phép nửa ngày để đến Giêrusalem dịp Giáng Sinh – thành phố chỉ cách nhà cô khoảng 10 km.
Một trong rất nhiều tiếng nói ấy vang vọng trong tâm trí các khách hành hương, khi họ quy tụ ban đêm trong Hang Giáng Sinh. Dưới ánh sáng mờ nhạt, kinh Mân Côi được lần chuỗi, và bao quanh là sự thinh lặng của Vương cung Thánh đường, của Bêlem, của toàn thể Thánh Địa.
