Cầu Nguyện Luôn (20.10.2019 – Chúa Nhật XXIX TNC – Chúa Nhật Truyền Giáo)

BÀI HÁT CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO

NL: ĐẸP THAY

ĐC: NGUỒN TRỢ LỰC

DL: TIẾN DÂNG CHA

HL: TÌNH YÊU CHÚA CAO VỜI

KL: HOA MÂN CÔI

Lời Chúa: Xh 17,8-13; 2Tm 3,14-4,2; Lc 18,1-8

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca

1 Đức Giê-su kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.2 Người nói: “Trong thành kia, có một ông quan toà. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì.3 Trong thành đó, cũng có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: “Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho.4 Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng: “Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì,5 nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc.”

6 Rồi Chúa nói: “Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó!7 Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi? 8Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng? “

Cầu Nguyện Luôn (20.10.2019 – Chúa Nhật XXIX Thường Niên năm C)

Lòng trung thành đòi hỏi con người phải cố gắng, kiên nhẫn khi gặp khó khăn, gian nan thử thách. Trong mối tương quan với Chúa, nhiều người chỉ “sốt sắng có cơn” khi được hưởng những sự tốt lành may mắn. Còn khi ao ước cầu khẩn mãi sự gì mà không được như ý, họ chán nản bỏ cuộc, mất niềm tin và trở thành người khô khan nguội lạnh.

Qua câu chuyện bà góa và ông quan tòa trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu dạy phải luôn trung thành, kiên nhẫn và cầu nguyện luôn, sẽ đạt tới điều tốt đẹp nhất. “Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng: “Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc.” Rồi Chúa nói: “Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi?” (Lc 18, 4b-7). Thời đó người mồ côi góa bụa, người ngoại không được bảo vệ. Nhưng thái độ kiên trì của bà góa này cũng sẽ biến đổi được cách hành xử của quan tòa bất chính, dù chỉ vì một lý do là làm ta nhức đầu, huống là một Thiên Chúa nhân lành lại không minh xét cho con cái mình ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Nhưng làm sao để thực hành cầu nguyện ngày đêm, trong cơn lốc công việc của cuộc sống hàng ngày? Thưa có thể biến mỗi công việc mình làm trở thành hành vi cầu nguyện. Dù là ăn uống, làm việc hay nghỉ ngơi luôn hướng lòng về Chúa, làm việc với Chúa, nghỉ ngơi trong Chúa chính là cầu nguyện liên lỉ, gắn bó mật thiết với Chúa, biến cuộc đời mình thành một đời cầu nguyện không ngừng.

Nhiều người quan niệm cầu nguyện chỉ là xin xỏ, nài nỉ Chúa ban mọi thứ ơn, là đọc kinh thật nhiều… Cầu nguyện là trải lòng và mọi nỗi vui buồn sướng khổ với Chúa, trong mọi nơi mọi lúc, trong mối tương quan thân tình, gần gũi, gặp gỡ Chúa, chiêm ngắm trong niềm vui an bình khi được lòng bên lòng, như cô Maria “chọn phần tốt nhất” bên Chúa ngày xưa. “Trước thánh nhan, lạy Chúa! ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi.” Một khi tôi đón nhận Ngài vào nhà mình thì hạnh phúc ngập lòng và được no thỏa cõi lòng. Tôi sẽ không tìm kiếm, xin xỏ, nài nỉ nhiều chuyện nữa, không lo phải nói thế nào trong tình Cha yêu thương. Khi sống đức tin mạnh mẽ, một lòng phó thác tin cậy vững vàng như bé ngủ yên trong tay Chúa như mẹ hiền, sẽ vững dạ an tâm dù đời đầy sóng gió.

Dầu vậy, Đức Giêsu còn đặt câu hỏi: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,18b).

Chúa ơi! con vẫn trông cậy Chúa, lòng con tin tưởng nơi Ngài. Con hy vọng vào Ngài, đời con nương bóng Chúa thôi. Con xin trao về Chúa niềm tin và ước mơ này, được quên đi những âu lo, tìm vui theo bước chân Cha.” (Thánh ca).

 Én Nhỏ

Kiên trì cầu nguyện (16.10.2016 – Chúa Nhật XXIX Thường Niên năm C)

1. Ghi Nhớ:

“Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm kêu cứu với Ngài sao?”

2. Suy Niệm:

Đã gần một tháng trôi qua, trong lúc đọc kinh chiều, Cha xứ để ý thấy có một học sinh, sau khi tan trường trên đường về nhà thì ghé vào nhà thờ cầu nguyện, thời gian mà em ở trong thánh đường mỗi lần độ khoảng ba mươi phút. Nhưng hôm nay, Cha thấy em ở lại cầu nguyện lâu hơn. Nên khi ra về, Cha hỏi thì em cho biết.

“Thưa cha, con có đứa bạn rất thân học chung một lớp. Ba của nó bị tai nạn giao thông rất nặng, hôn mê, nó ngoại đạo, vì thương bạn nên con thay cho bạn đến trước Chúa Thánh Thể cầu nguyện. Con xin Đức Mẹ chuyển cầu giúp. Con lần chuỗi năm chục. Nhưng hôm nay con rất mừng vì biết tin ba của bạn con đã bình phục xuất viện trở về nhà bình an, nên con tạ ơn Chúa và cảm ơn Đức Mẹ, con đọc hai chuỗi kinh Mân côi cha ạ”.

Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa dạy chúng ta phải biết siêng năng, kiên trì cầu nguyện, không được nản chí! Vì nếu như vị quan tòa bất lương kia còn bênh vực cho bà góa cứ đến nài nỉ mãi, thì Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương lại không đáp ứng cho con cái mình khi nó đến cầu xin hay sao?

Việc cầu nguyện rất cần cho đời sống của người Kitô hữu. Như thánh Bênađô nói: “Cầu nguyện là hơi thở của linh hồn”. Như vậy, linh hồn muốn sống thì nó phải luôn mãi cầu nguyện, nếu ngưng nó sẽ chết. Và thánh nữ Têrêsa Avila thì quả quyết: “Nếu không cầu nguyện, không cần ma quỉ nào lôi xuống địa ngục, tự mình sẽ đưa mình xuống đó thôi!” Thật vậy, cuộc lữ hành trần gian này đầy dẫy những cám dỗ, cạm bẫy, hiểm nguy, mà thân phận chúng ta thì mỏng manh yếu đuối, chỉ có thể đứng vững và vượt qua được bởi ơn Chúa phù trợ mà thôi. Nhưng làm sao có ơn Chúa nếu chúng ta không cầu xin Ngài, “anh em không có bởi anh em không xin, anh em xin mà không được, là vì anh em xin không đúng” (Gc 4,2).

Suốt mười tám năm trời, thánh nữ Monica đã kiên trì cầu nguyện, xin Chúa ban ơn hoán cải cho người con lầm lạc. Và rồi cuối cùng, Augustinô ăn năn thống hối và trở nên thánh.

Bà Louis Elizabeth Vaughan, mẹ của Đức hồng y Henri Vaughan, cũng đã liên tục cầu nguyện xin ơn thiên triệu cho các con. Và thành quả của việc kiên trì cầu nguyện đó là gia đình bà đã đóng góp cho Hội Thánh: Một Đức Hồng y, một Tổng Giám mục, ba Linh mục và năm Nữ tu.

Hôm nay, Hội Thánh cầu nguyện cho công việc truyền giáo. Chúng ta hãy noi gương bắt chước thánh nữ Têrêsa Hài Đồng. Mặc dù ở tu viện kín, nhưng bằng đời sống chăm chỉ cầu nguyện kết hợp với những hy sinh hãm mình, cùng với một niềm tin yêu nồng cháy, thánh nữ đã mang về cho Chúa rất nhiều linh hồn. Vì vậy, Hội Thánh đã chọn Ngài làm bổn mạng các xứ truyền giáo ngang hàng với thánh Phanxicô Xaviê.

Hãy luôn kết hợp gắn bó mật thiết với Thiên Chúa bằng việc cầu nguyện như cành nho gắn liền với thân cây để được trổ sinh hoa trái dồi dào.

3. Cầu Nguyện :

Lạy Chúa, trên thế giới hôm nay còn biết bao người chưa tin Chúa, chưa nhận biết Chúa là một Người Cha nhân từ, xin Chúa ban cho Hội Thánh có nhiều vị mục tử thánh thiện tài năng và nhiệt thành để dẫn đưa nhiều người về với Chúa. Amen.

4. Sống Lời Chúa: 

Mỗi ngày cố gắng làm một việc tốt, có ý cầu nguyện cho những người chưa nhận biết Thiên Chúa.

Đa Minh Trần Văn Chính

 

 

Mục lục

1. Kiên trì cầu nguyện  (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Cầu nguyện  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Kiên trì cầu nguyện. (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

4. Cứ kiên trì  (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

5. .Cầu nguyện  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

6. Cầu nguyện tín thác và kiên trì  (Lm. Giacobe Tạ Chúc)

7. Tỉnh thức và sẵn sàng (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

8. Thái độ của chúng ta khi cầu nguyện  (Lm. JP. Vũ Minh)

9. Một nền tảng của đức tin: Sự cầu nguyện  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

10. Trung thành với đức tin (Lm. Minh Vận, CRM)

11. Kiên tâm cầu nguyện (Lm. Trần Bình Trọng)

12. Xin minh oan cho tôi (Lm. Đaminh Cao Tấn Tĩnh)

13. Lời cầu nguyện  (Lm. Bùi Quang Tuấn)

14. Chứng từ đức tin  (Lm. Nguyễn Hữu Thy)

15. Thiên Chúa của người nghèo (An Phong)

16. Quấy rầy  (Trầm Thiên Thu)

17. Hãy tỉnh thức và sẵn sàng (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

18. Để phán quyết công bằng  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

19. Phải cầu nguyện đừng ngã lòng  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

20. Cầu nguyện để Thiên Chúa xót thương  (Lm. Giacôbê Tạ Chúc)

21. Chúa Giê-su dạy cầu nguyện (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

22. Kiên trì trong cầu nguyện (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

23. Chúa mong muốn thấy niềm tin nào khi Người trở lại?(Lm.Gioan Nguyễn Văn Ty,SDB)

24. Công lý  (Trầm Thiên Thu)

25. Lại quấy rầy  (JM. Lam Thy, ĐVD)

26. Cầu nguyện chuyên nghiệp (AM Trần Bình An)

27. Cầu nguyện là sự sống người Kito hữu  (Jos. Ngọc Biển)

28. Giải thoát  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

29. Kiên nhẫn nài xin thì sẽ được  (Lm. Inhaxiô Trần Ngà)

30. Ơn cứu độ là một bước tiệm tiến  (P. Trần Đình Phan Tiến)

31. Tin vào lời cầu nguyện (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

32. Cầu nguyện- (Lm. Uyen Nguyen)

33. -Cầu nguyện  (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)

34. Hãy kiên trì cầu nguyện  (Lm. Đan Vinh)

35. Chúa Nhật 29 Thường niên_C (Lm. Antôn, giáo xứ Giuse, Tulsa)

36. Hãy cầu nguyện luôn (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

37. Siêng năng cầu nguyện  (Lm. Vũ Đình Tường)


KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Một trong những định nghĩa của tôn giáo là “mối liên hệ giữa con người với Thượng đế”. Mối liên hệ này được thể hiện qua lời cầu nguyện. Người có tôn giáo tức là người cầu nguyện. Cầu nguyện là đặc điểm chung của mọi tôn giáo. Cầu nguyện là cốt lõi của đời sống đức tin. Cầu nguyện cũng là điều kiện chứng tỏ một người có đức tin. Người có tôn giáo mà không cầu nguyện, thì không khác người vô thần, và danh xưng “tín hữu” (tức là người tin) của họ sẽ là một danh xưng giả hiệu.

Để lời cầu nguyện mang lại những kết quả như mong muốn, ta cần phải kiên trì. Như người nông phu gieo hạt rồi kiên trì chờ đợi cho cây mọc lên, người tín hữu cũng phải bền bỉ trong lời cầu nguyện. Hình ảnh bà góa được Đức Giêsu nhắc tới trong Tin Mừng hôm nay muốn chứng minh điều ấy. Trong bất cứ xã hội nào, những người đàn bà góa bụa phải gánh chịu nhiều thiệt thòi và bất công. Lời khiếu nại của bà trước tòa án xem ra không được cứu xét, nhưng bà góa này không nản lòng. Bà tiếp tục khiếu nại, van xin. Cuối cùng, sự kiên nhẫn bền bỉ của bà đã được đáp ứng. Vị quan tòa, dù không biết sợ ai, cũng giải quyết những kiến nghị của bà và làm cho bà được toại nguyện.

Hiệu quả của lời cầu nguyện kiên trì được chứng minh trong Bài đọc I. Trong cuộc giao chiến khốc liệt giữa người Israen và người Amaléc. Khi ông Môisen giang tay cầu nguyện, thì người Israen chiến thắng, khi ông hạ tay xuống thì người Israen thua trận. Người ta phải kê tảng đá dưới tay ông, để ông đỡ mỏi mệt mà giang tay cầu nguyện với Chúa, nhờ đó mà người Israen chiến thắng vẻ vang.

Lời cầu nguyện cũng phải xuất phát từ một tấm lòng chân thành, mong điều tốt đẹp đến với bản thân và những người xung quanh. Có nhiều người chỉ nghĩ đến Chúa khi cầu nguyện cho mình trúng số độc đắc, hoặc thăng quan tiến chức, hay thắng kiện trong những vụ tranh chấp. Cũng có người cầu nguyện mong điều ác xảy đến cho một người đang thù ghét mình. Khi cầu nguyện như thế, những người này coi Chúa là một vị thần luôn làm theo lời sai khiến của con người, để phục vụ tham vọng và lòng hận thù của họ. Cũng có người coi Chúa giống như Bà Chúa Kho, khi cần tiền bạc để đầu tư buôn bán thì đến van xin vay mượn. Nếu không buôn may bán đắt thì họ cũng “cắt liên lạc” với Bà Chúa luôn.

Để được Chúa nhận lời, người cầu nguyện phải tin vào Chúa. Trong Tin Mừng, khi Chúa Giêsu ban ơn cho một người nào, Người thường nói: “Đức tin của con đã cứu chữa con”. Đức tin đem lại cho lời cầu nguyện một sức mạnh phi thường. Đức tin giúp ta xác tín vào Thiên Chúa là Cha yêu thương. Ngài có quyền năng và Ngài có thể làm mọi sự, nếu đó là điều đẹp lòng Ngài và đó là điều mang lại lợi ích thực sự cho người xin. Đức tin cũng giúp chúng ta kiên nhẫn, như người đàn bà góa trong Tin Mừng, liên lỉ kêu van và tin rằng Chúa không dửng dưng trước những nhu cầu của con người.

Lời cầu nguyện của người tín hữu không dừng lại ở những điều xin, nhưng trước hết là lời tôn vinh, cảm tạ. Mối giây giữa Thiên Chúa và con người được thiết lập qua tình yêu mến và chân nhận ra những điều tốt lành Chúa thực hiện trong cuộc sống cá nhân mỗi người. Chúa Giêsu đã khẳng định, cũng như người cha, yêu thương quan tâm săn sóc con cái, Thiên Chúa thấu hiểu những nhu cầu và nguyện vọng của con người. Ai yêu mến Chúa và cố gắng thực thi giáo huấn Người truyền dạy, thì Người sẽ ban những ơn cần thiết cho đời sống. Ai cậy trông vào Chúa sẽ không bao giờ thất vọng, vì họ được Chúa thương phù hộ độ trì. Như thế, lời cầu nguyện của người tín hữu như lời tâm tình chân thành của con cái đối với cha mình, giãi bày những tâm tư, ước vọng và lòng yêu mến cậy trông.

Người có tâm tình cầu nguyện không chỉ xin những ơn cho riêng mình, nhưng còn để ý đến lợi ích của cộng đoàn và những người xung quanh. Đó là lời khuyên của Thánh Phaolô đối với môn sinh của mình là Timôthê (Bài đọc II). Ngài khuyên ông, hãy can đảm cậy trông, hãy kiên trì nhẫn nại để rao giảng Lời Chúa, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện, nhằm mục đích giúp cho các tín hữu được trưởng thành trong đức tin.

Nếu con người còn dễ mủi lòng trước sự kiên nhẫn nài nỉ của đồng loại, huống chi Thiên Chúa là Cha nhân lành! Chúa Giêsu đã khẳng định: “Vậy Thiên Chúa không minh xử cho những kẻ Người tuyển chọn, hằng kêu cầu với Người đêm ngày, mà khoan giãn với họ sao?”. Mạc khải nói với chúng ta, Thiên Chúa luôn luôn đứng về phía người nghèo. Bà góa trong Tin Mừng đại diện cho những người bị bỏ rơi, khinh bỉ và gạt ra bên lề của cuộc sống. Giáo Hội hôm nay, nếu muốn trung thành với sứ mạng của mình, cũng phải quan tâm đến những người bất hạnh, đem cho họ niềm an ủi và sự nâng đỡ.

Câu nói cuối cùng trong bài Tin Mừng hôm nay, khiến chúng ta không khỏi lúng túng và lo âu: “Nhưng khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp đức tin trên mặt đất nữa chăng?”. Câu này được coi vừa như một câu hỏi, vừa như một lời than vãn. Phải chăng Chúa bi quan về tình trạng đức tin của con người? Tương lai chỉ có Chúa biết rõ, vì Ngài là chủ thời gian. Lời Chúa muốn nhắc chúng ta: đức tin như viên ngọc quý mà con người được lãnh nhận, nhưng hãy coi chừng, vì chúng ta có thể dễ dàng đánh mất viên ngọc ấy. Bởi lẽ theo Chúa là bước vào con đường hẹp, đòi hỏi phải hy sinh, kiên trì và trung thành. Không ít người vì lợi lộc thế gian mà chấp nhận từ bỏ đức tin, chối bỏ Thiên Chúa. Như vậy, câu nói của Chúa có thể hiểu như một lời cảnh báo, để mỗi chúng ta trân trọng gìn giữ đức tin, đồng thời tỉnh táo khôn ngoan trước những cám dỗ đang muốn lôi kéo chúng ta.

 

.

CẦU NGUYỆN

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Đây là một dụ ngôn dễ hiểu. Chúa Giêsu đưa ra hai tình ảnh trái ngược. Một bên là bà goá nghèo khổ, bé nhỏ, không có tiếng nói trong xã hội. Một bên là ông quan toà bất nhân, chẳng sợ trời mà cũng chẳng nể người. Thật là một hoàn cảnh tuyệt vọng cho người phụ nữ không có tiếng nói. Nhưng nhờ kiên trì, bà đã đạt được ý nguyện. Chúa kể dụ ngôn này với mục đích: dạy các môn đệ hãy noi gương bà goá, cầu nguyện luôn không được nản chí. Bà goá nêu gương cầu nguyện cho ta ở 4 thái độ sau:

  1. Thái độ khiêm nhường. Người đàn bà này rất khiêm nhường vì bà tự biết mình bé nhỏ nghèo hèn. Bị người ta ức hiếp mà chẳng thể tự bảo vệ. Không có sức khoẻ để chống lại người ác. Không người bênh vực chống lại bất công. Không có cả tiền bạc để mua lấy sự bình an. Bà mất tất cả. Chẳng còn gì. Chẳng có gì. Nói gương bà, khi cầu nguyện ta phải rất khiêm nhường. Khiêm nhường vì biết mình nghèo nàn yếu đuối, biết mình chỉ là thân phận tro bụi. Khiêm nhường biết mình đã cùng đường, không còn nơi nương tựa. Khiêm nhường biết mình bất tài bất lực không thể thoát khỏi hoàn cảnh bi đát này.
  2. Thái độ phó thác. Bà goá này không còn nơi nương tựa. Chỉ còn trông cậy vào ông quan toà như lối thoát duy nhất. Bà đặt niềm tin vào ông quan toà. Đó là niềm hy vọng duy nhất và cuối cùng. Bà bám víu lấy ông quan toà. Bà phó thác vận mạng trong tay ông quan toà. Sự sống của bà ở nơi ông quan toà. Cũng thế, khi ta cầu nguyện, hãy hoàn toàn phó thác vận mệnh cho Chúa. Chúa là lối thoát duy nhất. Chỉ có Chúa mới có thể cứu giúp ta. Hơn nữa Chúa là người Cha toàn năng và giầu lòng thương xót. Ta là đứa con bé nhỏ, yếu ớt. Hãy đặt vận mệnh ta trong tay Chúa. Hãy tin tưởng Chúa sẽ sắp xếp cho ta những gì tốt đẹp nhất.
  3. Thái độ kiên trì. Chỉ còn một con đường duy nhất để sống, nên bà kiên trì theo đuổi cho đến cùng. Thất bại không làm bà nản lòng. Bị hất hủi không làm bà bỏ cuộc. Niềm tin của bà thật lớn lao. Sự kiên trì của bà thật bền bỉ. Bà đã đi đến cùng và bà đã thành công. Cũng thế, khi cầu nguyện ta hãy kiên trì. Kiên trì chứng tỏ sự phó thác trong tay Chúa. Kiên trì chứng tỏ ta hoàn toàn yếu hèn chỉ biết trông cậy vào Chúa. Kiên trì chứng tỏ lòng ta yêu mến Chúa tha thiết. Chắc chắn Chúa sẽ dủ lòng thương ta.
  4. Thái độ khao khát. Bà khao khát vì đó là con đường sống duy nhất. Bà khao khát được sống. Bà không ngồi đó chờ đợi. Nhưng làm hết cách, hết sức mình để đạt được khao khát đó. Bà không chán nản an nghỉ. Nhưng bà làm việc liên lỉ cho ước nguyện của mình. Cũng thế, khi cầu nguyện ta phải có lòng khao khát cháy bỏng. Lòng khao khát đó được biểu lộ trong hành động. Ta không ngồi chờ, nhưng đứng lên, ra đi và bắt tay hành động. Không lùi bước trước khó khăn, nhưng tìm hết cách để đạt được ước nguyện. Lòng khao khát chứng tỏ ta tha thiết với lời cầu nguyện. Lòng khao khát cùng với nỗ lực phấn đấu sẽ được Chúa thương chấp nhận.

Chiêm ngắm tấm gương của bà goá, ta nhận thấy rất nhiều khi ta chưa cầu nguyện cho đủ. Chưa thực hiện sự khiêm nhường nhận biết sự thực về mình. Chưa hoàn toàn phó thác vận mệnh trong tay Chúa. Chưa biết kiên trì đủ. Và nhất là chưa tha thiết tới mức ta tích cực làm hết sức mình cho nguyện ước đó. Hôm nay với bài học của Chúa, ta sẽ biết cầu nguyện hơn. Khi biết cầu nguyện hơn, chắc chắn lời cầu nguyện của ta sẽ đẹp lòng Chúa và đem lại nhiều lợi ích cho linh hồn ta hơn.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

  1. Kể ra những thái độ của bà goá mà ta cần noi theo khi cầu nguyện.
  2. Đối với bạn Chúa là gì? Có phải là nguồn hy vọng duy nhất? Hay chỉ là một chỗ cậy nhờ như những chỗ khác?
  3. Bạn có phấn đấu làm việc cho ước nguyện của mình không? Hay bạn chỉ ngồi chờ Thiên Chúa ban tặng?
  4. Trong 4 thái độ cần có, bạn thiếu thái độ nào nhất?

 

.

KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN.

Bông hồng nhỏ

Sự kiên trì luôn luôn cần thiết để ta có thể đạt tới thành công. Khi làm bất cứ một việc gì, ta thường gặp rất nhiều khó khăn, có những lúc khó khăn làm cho ta chán nản và muốn bỏ cuộc. Trong những lúc ấy, sự kiên trì thật sự rất cần thiết để ta có thể vượt qua được khó khăn và vươn tới đích.

Hôm nay, Thầy Giêsu dạy ta về sự kiên trì cầu nguyện, không được nản chí. Lắng nghe câu chuyện Thầy Giêsu kể, ta tự hỏi: liệu ta có được sự kiên trì như bà góa đến xin ông quan tòa xử kiện không? Ông quan tòa đã chẳng kính sợ Thiên Chúa, không xem ai ra gì nhưng cuối cùng cũng đã chịu thua trước sự kiên trì “quấy rầy” của bà (x.Lc 18, 1-8).

Mỗi khi cầu nguyện, ta đến với Chúa với tâm tình và tâm thế như thế nào? Quả thực, mỗi ngày ta vẫn chạy đến bên Chúa để tâm sự với Ngài nhưng nhiều khi ta chưa để cho tâm hồn được thanh thoát, ta còn bận tâm đến nhiều chuyện ngoài Chúa mà bỏ quên Chúa. Điều chính yếu khi cầu nguyện là gặp gỡ Chúa, để lắng nghe lời yêu thương Chúa dành riêng cho ta. Nếu ta ý thức được điều này, thì khi bước vào cuộc sống, ta cưu mang cả những thao thức của Chúa và sống với những thao thứ đó. Đã bao lần, Chúa thì thầm bên tai ta: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12). Lời ấy đã giúp ta vượt ra khỏi được những cảm xúc rất tự nhiên là nổi nóng hay giận dữ khi có người có lỗi với ta. Lời ấy kéo ta trở về với lòng mình, giục lòng ta hối cải sau những lần vì yếu đuối ta nổi nóng với anh chị em; Lời ấy giúp ta hết buồn rầu khi ta yêu thương ai đó mà họ chẳng đáp lại; có lúc, Lời ấy lại vang lên trong lòng ta, thôi thúc ta dâng lên Chúa lời tạ ơn chân thành khi nhìn thấy người ta yêu thương được nhiều người quý mến, để ta không ghen tương hay đố kỵ. Sống Lời Chúa mỗi ngày, ta cũng có thể được Chúa cho hiểu rõ và đụng chạm thật sự với Lời Chúa trong từng biến cố lớn nhỏ, để từ đó, Lời Chúa đặt ta trước những chọn lựa rất cụ thể để chọn điều làm đẹp lòng Thiên Chúa. Và thật sự, Lời Chúa đã ảnh hưởng rất tích cực trong cuộc đời ta là làm cho đời ta thêm trong suốt như Chúa đòi hỏi, như lời tác giả thư Do thái đã khẳng định: “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm linh, cốt với tủy; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người. Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ” (Dt 4, 12-13).

Thế nhưng, khi mang trong mình những điều ngoài Chúa, ta đã để cho tâm hồn bị lấp đầy chúng và vì thế Lời Chúa không có chỗ trong lòng ta hay nếu có cũng bị bóp nghẹt trong mớ những lo toan trần thế. Mỗi ngày, hãy dành thời gian để nhìn lại vị trí của Lời Chúa trong cuộc đời ta, nhìn lại cách ta cầu nguyện để nhờ ơn Chúa, ta được gắn bó với Chúa hơn, thuộc về Chúa cách trọn vẹn và chỉ khao khát sống cho thánh ý Chúa. Chúa vẫn đang chờ đợi phần đóng góp và thiện chí của ta.

Lạy Chúa Giêsu! Chúa hiểu rõ con hơn con hiểu về con. Xin Chúa khơi dậy nơi tâm hồn con lòng khao khát cầu nguyện, khao khát được gắn bó với Chúa, được gặp gỡ Chúa mỗi ngày một hơn. Con xin dâng lại cho Chúa con người của con, tất cả những cố gắng, nỗ lực và cả những yếu đuối của con. Con tin, trong tình yêu Chúa, mọi sự sẽ trở nên ích lợi cho con khi con hết lòng yêu mến Chúa. Amen.

 

.

CỨ KIÊN TRÌ

Anna Cỏ May

Trước khi về Trời, Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em hãy đi khắp các tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15). Khi còn ở trần gian, Đức Giêsu hằng chỉ dạy các môn đệ nhiều điều trong cuộc sống, nhưng điều quan trọng nhất chính là cầu nguyện. Đó là điều các ông được sống và cùng làm với Thầy.

Trong Tin Mừng Luca, Đức Giêsu dạy các môn đệ phải cầu nguyện luôn và phải kiên trì trong cầu nguyện. Ngài dùng dụ ngôn bà góa quấy rầy ông quan tòa để diễn tả sự kiên trì trong cầu nguyện.

Bà góa là người cô thế cô thân, nhiều lần đến kêu xin quan tòa xét xử cho bà vì đối phương hại bà. Bà gặp phải ông quan tòa chẳng biết kính sợ Thiên Chúa cũng chẳng coi ai ra gì. Nhưng ông vẫn phải xét xử vì sự quấy rầy của bà làm cho ông nhức đầu nhức óc (x. Lc 18, 2-5). Bà kêu xin nhiều lần và không hề nản chí. Sự kiên trì cùng niềm tin và hy vọng vào việc kêu xin của mình. Cuối cùng, bà đã lay động được ông quan toà.

Phần chúng ta là môn đệ của Đức Giêsu nhờ bí tích Rửa tội, chúng ta được ưu đãi hơn bà góa. Chúng ta có Đấng trung gian là Đức Giêsu sẽ cứu giúp và nhậm lời cho chúng ta. Ngài sẽ nâng đỡ chúng ta trước mặt Chúa Cha. Như lời Đức Giêsu đã nói: “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ” (Lc 18,7-8). Vậy sao chúng ta không dùng những ưu đãi Chúa ban để tham gia vào việc truyền giáo bằng tinh thần trung gian là lời cầu nguyện như Chị Thánh Têrêxa thành Li-di-ơ. Là con cái Giáo Hội, chúng ta có bổn phận cầu nguyện cho Giáo hội và cho các công cuộc truyền giáo. Người bệnh tật không đi lại được thì cùng với Mẹ, dùng lời cầu nguyện bằng kinh Mân Côi mỗi ngày. Người khỏe mạnh cầu nguyện qua công việc thường nhật, trong cách ứng xử, cách giúp đỡ với tình bác ái yêu thương. Cầu nguyện với sự kiên trì biểu lộ một sự khao khát, sự mong chờ và niềm tin vào Đấng yêu thương mình. Nhờ đó, Thiên Chúa sẽ tỏ lòng thương xót ban cho điều chúng ta xin. Sự kiên trì cầu nguyện không chỉ đem lại cho Giáo Hội mà còn cho cả chính bản thân mình và những người thân trong gia đình một lòng gắn bó thiết với Chúa. Nhờ đó, mọi người được đứng vững trong ngày Chúa đến. Đức Giêsu cũng không ngừng mời gọi chúng ta: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho”(Mt 7,7).

Lạy Chúa, xin Chúa giúp chúng con biết dùng lời cầu nguyện để phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân. Amen. 

 

.

.CẦU NGUYỆN

Lm. Gius Trần Việt Hùng

Kiên tâm cầu nguyện không ngừng,
Thân tâm kết hợp, vui mừng phó dâng.
Dụ ngôn Chúa dậy xin vâng,
Chớ đừng chán nản, đỡ nâng phận người.
Một người thẩm phán biếng lười,
Coi thường đạo lý, nhạo cười người ta.
Minh oan chẳng xét nhiều ca,
Thời gian trì hoãn, thật là bất công.
Thương thay bà góa chết chồng,
Nài van kêu cứu, thông đồng ém đi.
Ngày qua tháng lại hoài nghi,
Thành tâm kiên nhẫn, ngại gì thời gian.
Quấy rầy nhức óc quí quan,
Yêu cầu thẩm phán, giải oan sớm chiều.
Bất lương cũng phải biết điều,
Định ngày minh xử, đừng khiêu khích lòng.
Các con cầu khẩn trông mong,
Thành tâm phó thác, ẩn trong tâm hồn.
Một lòng thờ phượng kính tôn,
Chúa thương chúc phúc, ơn khôn đổ tràn.

Bài Phúc âm nói về người đàn bà góa xin ông thẩm phán minh oan cho khỏi tay kẻ thù. Qua một thời gian lâu dài, ông không đáp lời nhưng vì sự nài nỉ quấy rầy của bà, ông đã giải quyết cho bà. Qua câu truyện kiên tâm chờ đợi của người đàn bà góa, Chúa dạy chúng ta bài học kiên trì trong sự cầu nguyện. Cầu nguyện là tâm tình và thưa truyện với Chúa.

Muốn có sự liên hệ thông cảm lẫn nhau, chúng ta cần có những cầu nối. Giữa dòng điện nối tiếp nhau, chúng ta có cầu giao và cầu chì. Giữa con người với nhau chúng ta cũng cần bắc một chiếc cầu, gọi là cầu thông cảm. Giữa con người với các thánh nhân, chúng ta có sự liên hệ gọi là cầu bầu, cầu khẩn hay cầu xin. Giữa Thiên Chúa và con người có một khoảng cách xa vời, muốn đến với Chúa, chúng ta có thể bắc một chiếc cầu bằng những kinh nguyện, gọi là cầu nguyện.

Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện qua Kinh Lạy Cha. Kinh Lạy Cha là mẫu mực của tất cả các kinh nguyện. Qua đó chúng ta có thể thân thưa với Chúa. Cầu nguyện không phải là kể lể hay kinh kệ dài dòng mà được nhiều ơn. Cốt lõi của sự cầu nguyện là gặp gỡ thân mật với Chúa. Chính Chúa Giêsu là mẫu gương của sự cầu nguyện. Chúa thưa truyện với Chúa Cha hằng ngày, đặc biệt trong những biến cố lớn như chọn lựa các Tông đồ, Chúa cầu nguyện thâu đêm. Thường khi cầu nguyện chúng ta qùi gối khiêm hạ cầu xin hoặc ngước nhìn lên Chúa, đó là thái độ trút bỏ mọi sự để hướng lòng lên cùng Chúa. Gặp gỡ Chúa phải là sự gặp gỡ thực sự, thân mật và nội tâm.

Khi cầu nguyện, chúng ta sẽ thấy lòng ta lắng xuống và tâm hồn thư thái nhẹ nhàng vì Chúa chính là nguồn ủi an, là suối an bình và là nguồn tươi mát cho tâm hồn. Chúng ta có thể cầu nguyện mọi nơi mọi lúc. Có một anh hỏi rằng: Khi cầu nguyện có được hút thuốc không? Tôi trả lời: Không nên, vì cầu nguyện là chúng ta tâm sự với Chúa nhưng trái lại, trong khi anh hút thuốc anh vẫn có thể cầu nguyện. Chúng ta có thể cầu nguyện khi đi bộ, khi lái xe, khi chờ đợi, khi làm việc, trong công xưởng, ngoài đường, tại nhà và tốt nhất cầu nguyện chung trong nhà thờ. Chúng ta nhớ thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã cầu nguyện trong mọi viêc làm hằng ngày, từ những mái chổi quét nhà tới việc giặt quần áo nhỏ mọn.

Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn. Cầu nguyện liên lỉ đừng chán nản. Chúa Giêsu nói rằng: Vậy Thiên Chúa lại không minh xử cho những kẻ Người tuyển chọn hằng kêu cứu với Người đêm ngày mà khoan giãn với họ mãi sao?

 

.

CẦU NGUYỆN TÍN THÁC VÀ KIÊN TRÌ

Lm Giacôbê Tạ Chúc

Ai cũng biết mỗi một tôn giáo đều có cách thức cầu nguyện riêng, phù hợp với gíao lý của mình. Là người Công giáo, ai mà không biết hoặc đã từng được dạy về cầu nguyện. Hằng ngày trong các sinh hoạt Giáo xứ, Hội đoàn, các gia đình luôn có những giờ cầu nguyện. Thánh Vịnh 63 dạy:

Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ,

ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa.

Linh hồn con đã khát khao Ngài,

tấm thân này mòn mỏi đợi trông,

như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.

Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện,

để thấy uy lực và vinh quang của Ngài.

Bởi ân tình Ngài quý hơn mạng sống,

miệng lưỡi này xin ca ngợi tán dương

Thi sỹ công giáo Hàn Mặc Tử với những vần thơ trong nỗi đau về thể xác cũng đã thốt lên:

Trăng! Trăng! Trăng! Là trăng, trăng, trăng!

Trăng sáng trăng sáng khắp mọi nơi

Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi

Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi

Trăng mới là trăng của rạng ngời

(Trăng vàng trăng ngọc – Hàn Mặc Tử)

Lời cầu nguyện của kẻ thấp hèn

Hình ảnh người đàn bà góa là biểu tượng cho những con người cô thân cô thế, những người mà kinh thánh hay nhắc tới như là: “những người nghèo của Gia-vê”, lời cầu khẩn của bà đã bị viên Quan Tòa bỏ ngoài tai. Bà thấp cổ bé họng, kêu đâu cũng chẳng thấu. Bà làm tất cả và với một lòng kiên trì, không ngã lòng trông cậy. Vị Thẩm phán lẽ ra với nhiệm vụ của mình, ông phải lắng nghe và giúp đỡ cho bà góa này. Viên Thẩm phán quá sức bất công khi ông chẳng kính sợ Thiên, cũng không xem ai ra gì.

Thế nhưng: “nước chảy đá mòn”, bà góa nghèo thay vì bỏ cuộc thì lại đeo bám cho đến cùng. Bà không nản chí, không kiêu căng tự phụ trước thái độ lạnh lùng của vị Thẩm phán bất công. Cuối cùng bà đã được toại nguyện, viên Quan tòa bất chính buộc phải xử kiện cho bà, hay nhận lời kêu xin của bà.

Thiên Chúa trung thành với lời Người đã hứa

Với Kinh Lạy Cha, Chúa Giê-su dạy các môn đệ cầu nguyện, nhưng phải kiên trì và tín thác. Không phải một sớm một chiều, cũng không theo ý muốn của ta. Vị Quan tòa không ngay thẳng rõ ràng không mến yêu Thiên Chúa, cũng không yêu thương gì anh em đồng loại. Động lực thúc đẩy ông ra tay giúp đỡ chính là vì bà này cứ đến quấy rầy mãi. Ông giải quyết cho bà bởi vì bà cứ tới mãi và đã làm ông chấp nhận dù là cực chẳng đã. Nếu hình ảnh vị Quan tòa này để chỉ về Thiên Chúa, thì phải hiểu sao cho khỏi bị méo mó. Con người của vị Thẩm phán không có chi là tốt đẹp, bất chính, không sợ Thiên Chúa cũng không tôn trọng ai, rõ ràng ông ta xấu xa vô cùng. Thế mà, ông đã phải nghe lời van xin của một người đàn bà góa tầm thường trong xã hội Chúa Giê-su. Từ đó, mỗi người mới có thể hiểu hình ảnh của một Thiên cao cả, quyền năng, tình thương biết là dường nào. Ngài tốt lành vô cùng, Đấng thấu suốt mọi nơi bí ẩn sẽ trả công và nhậm lời những ai thành khẩn van xin Ngài. Một lối ẩn dụ quá mạo hiểm để qua đó cho thấy Thiên Chúa sẵn sàng và trả lời cho những ai dẻo dai trong vóc sức, nổ lực trong niềm tin, và tín thác trong sự quan phòng của Ngài, sẽ được Ngài nhậm lời.

Tấm gương về sự kiên trì cầu nguyện

Như Môsê quì giang tay suốt ngày cầu nguyện cho dân Do thái thắng trận, như bà goá suốt bao ngày tháng cầu xin quan toà minh xét cho bà, như thánh Mônica ròng rã 20 năm trường cầu nguyện cho người con là Augúttinô trở lại, chúng ta hãy cầu nguyện liên tục và bền chí, không hề nhàm chán, cả khi xem ra Chúa ngoảnh mặt làm ngơ.

Lạy Chúa xin cho con biết cầu nguyện trong tin tưởng để luôn một dạ sắt son, vâng theo thánh ý Chúa cho tới trọn đời. Amen.

 

.

TỈNH THỨC VÀ SẴN SÀNG

Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

Thưa anh chị em,

Các bài đọc lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta một chân lý ” Sinh ký tử quy, sống gửi thác về”. Cuộc sống của con người là một cuộc hành trình tiến về đích điểm xa vời, về một chân trời xa lạ, đây là cuộc hành trình không bao giờ trở lại. Một cuộc hành trình đơn độc, chẳng ai đi cùng. Cuộc hành trình có một không hai của mỗi người chúng ta. Chính vì thế nên  Đức Giêsu nhắc nhở chúng ta là phải luôn sẵn sàng cho cuộc hành trình này.

Sẵn sàng như người đầy tớ đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ về gõ cửa thì mở ngay cho chủ. Sẵn sàng như chủ nhà canh chừng trộm cướp, không để kẻ trộm vào nhà mình. Sẵn sàng như người quản lý khôn ngoan biết làm theo ý chủ.

Ba dụ ngôn trong Tin mừng hôm nay tuy riêng rẽ, nhưng qui tóm lại cùng một chủ đề là: “Hãy tỉnh thức và sẵn sàng”.

Thế thì, thế nào là tỉnh thức và sẵn sàng?

Thứ nhất, tỉnh thức để khỏi rơi vào cơn cám dỗ của ba thù. Đó là: ma quỉ – xác thịt – thế gian. Kẻ thù đáng sợ nhất là ma quỉ.

Đức Giêsu nói: Ma quỷ là cha của sự dối trá. Nó đánh lừa rất tinh vi, làm chúng ta ươn lười, biếng nhác trong việc đạo đức, và nghĩ rằng mình còn trẻ, còn khỏe còn lâu mới chết, cho nên cứ từ từ lo gì việc đạo đức, nhưng trong thực tế, cái chết không phân biệt tuổi tác giàu nghèo.

Tỉnh thức để khỏi rơi vào cơn cám dỗ thứ 2, đó là xác thịt, xác thịt nó gắn liền với con người như người bạn đồng hành. Người ta nói nhu cầu xác thịt còn lớn hơn nhu cầu ăn uống. Chính vì thú vui xác thịt mà ngày nay người ta ngoại tình tràn lan, bất chấp luân thường đạo lý,  hậu quả là biết bao thai nhi đã bị sát hại không thương tiếc.

Tỉnh thức đừng để rơi vào cơn cám dỗ thứ 3, đó là thế gian. Thế gian ngày nay đầy dẫy những quyến rũ, cám dỗ lôi kéo con người hướng chiều về điều xấu. Những phương tiện truyền thông đa dạng, những thú vui hưởng thụ rất ư hấp dẫn lôi kéo làm chúng ta xa Chúa, làm chúng ta quên đi phần rỗi linh hồn của mình.

Thứ hai, Chúa bảo hãy thắt dây lưng cho gọn. Thắt dây lưng là cách ăn mặc của người Do Thái thời xưa. Y phục của họ là chiếc áo chùng vừa dài vừa rộng. Để khỏi vướng víu khi đi lại hay khi làm việc, họ thường xắn lên và thắt gọn lại bằng sợi dây nịt ngang hông.

Ý Chúa muốn nói là phải loại bỏ tất cả những gì không phù hợp với thánh ý Chúa, như các đam mê xấu, tiền bạc, danh vọng… những thứ đó dễ làm chúng ta quên đi thiên đàng là nơi Chúa đã dành sẵn cho chúng ta mai sau.

Thứ ba, Chúa bảo hãy cầm đèn cháy sáng trong tay. Ngọn đèn tượng trưng cho đức tin. Đức tin cần phải thắp sáng lên từ con tim yêu mến Chúa nồng nàn. Đức tin cần phải thắp sáng lên ngọn lửa yêu thương. Và đức tin cần phải thắp sáng lên niềm tin Giêsu. Vì đời hạnh phúc khi sống là trao ban, đem tình Chúa chiếu sáng thế gian, để cho thiên hạ trông thấy mà ngợi khen Cha trên trời.

Anh chị em thân mến,

Có ngày sinh rồi cũng có ngày tử, đó là quy luật tất yếu của kiếp nhân sinh, thế nhưng, chúng ta không biết chết lúc nào và chết ở đâu. Vì giờ đó hết sức bất ngờ đúng như lời Chúa nói: “Vào lúc các con không ngờ thì Con Người sẽ đến”(Lc 12, 40).

Dẫu biết rằng như thế, nhưng phần đông chúng ta ung dung tự tại nghĩ rằng: đời còn dài, tương lai còn rộng, mình còn trẻ, còn khoẻ còn lâu mới chết. Cứ ăn chơi hưởng thụ tối đa, đợi khi về già hay đau bệnh thì tính sau.

Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy tục hóa, với biết bao mời mọc cám dỗ. Những hấp dẫn trần gian thì sờ sờ trước mắt, còn hạnh phúc thiên đàng sao quá xa vời. Thiên Chúa thì vô hình, mắt phàm trần không thể thấy, mà phần thưởng Chúa hứa lại ở đời sau. Còn những thứ trên trần gian thì mắt thấy, tai nghe, đầy hấp dẫn và lôi cuốn. Cho nên, phải khôn ngoan lắm mới chọn Chúa làm gia nghiệp. Phải can đảm lắm mới khao khát tìm kiếm những sự trên trời.

Mỗi khi cử hành Thánh lễ là chúng ta tuyên xưng việc Chúa chịu chết, sống lại và lên trời, đồng thời trông đợi Ngài lại đến lần thứ hai. Xin cho niềm khát khao quê hương Nước trời sẽ là động lực duy nhất, thúc đẩy chúng ta luôn tỉnh thức sẵn sàng, hi vọng khi nhắm mắt lìa đời chúng ta sẽ nghe những lời âu yếm mời gọi của Chúa: ” Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, hãy vào hưởng sự vui mừng hạnh phúc với Ta”. Amen.

 

.

THÁI ĐỘ CỦA CHÚNG TA KHI CẦU NGUYỆN

Lm. JP Vũ Minh

Thánh sử Luca kể lại hai dụ ngôn về cách chúng ta cầu nguyện: cách thứ nhất qua dụ ngôn về bà goá và người quan tòa bất lương (Lc 18:1-8); thứ hai qua dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế (Lc 18:9-14); và hai dụ ngôn này dậy về thái độ của chúng ta khi ta cầu xin. Đây cũng là phần kết luận cho bài học mà Chúa Giêsu dậy chúng ta về đức tin trong chương 17. Hãy duyệt qua ba điểm sau đây: sự tình của bà góa, cách hành xử của quan tòa, và nghĩ về thái độ của chúng ta khi ta cầu nguyện.

Xã hội Trung Đông đề cao vai trò của nam giới! Hầu hết các công việc ngoài xã hội – từ buôn bán ngoài chợ cho tới văn phòng – vẫn còn do nam giới điều động cho đến ngày nay. Người đàn bà thuộc quyền sở hữu của đàn ông; khi còn là con gái thì thuộc về cha; khi lấy chồng thì thuộc về chồng; và nếu chồng chết mà con trai còn vị thành niên hay không có con trai thì người góa phụ đó không có người nam đứng ra thay mặt mình trong đời sống ngoài xã hội. Sự góa bụa cũng đồng nghĩa với hoàn cảnh của những người thấp cổ miệng bé – họ rất dễ bị xã hội áp bức và không có ai đứng ra bênh vực họ. Điều này không khác gì những người ở Việt Nam bị Cộng Sản đàn áp mà đã không hay chưa thể kháng cự lại.

Trong xã hội Do Thái, các Rabbi hay các luật sỹ thường là người đóng vai quan tòa để xử lý những tranh chấp trong xã hội địa phương. Chỉ những vấn đề có tầm vóc quan trọng thì mới cần đến tòa án và những tòa này đóng vai trò Tòa Án Tối Cao (Sanhedrin) như tòa đã xét xử Chúa Giêsu. Luật pháp thì đã được ghi chép trong Torah (năm quyển sách đầu của Cựu Ước) và những gì được truyền lại theo khẩu truyền hay truyền thống. Trong thời của Chúa Giêsu, người La Mã nắm toàn quyền về những tranh tụng ngoài đời và người Do Thái chỉ có quyền phán quyết về những gì liên quan tới Do Thái Giáo mà thôi. Vị thẩm phán trong dụ ngôn theo chương 18 của Thánh Sử Luca là một người chẳng biết sợ Thiên Chúa lại còn không kiêng nể ai khác cũng giống như Đảng Cộng Sản Việt Nam và những tay sai công an cán bộ, họ là những người chỉ biết xử lý theo quyền lợi của đảng hay của mình.

Bà góa trong dụ ngôn theo chương 18 của Thánh Sử Luca là người bị đặt vào hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan, và do đó bà đã quyết định liều chết cho đến cùng để tìm một giải pháp theo công lý cho những oan ức của mình. Người quan án, tuy dù chẳng biết sợ Thiên Chúa lại còn không kiêng nể ai khác, ông cũng phải nhượng bộ vì sự cương quyết của bà này; ông nghĩ rằng nếu ông không giải quyết vấn đề của bà góa này thì ông cũng sẽ bị bà làm mất mặt hay sỉ nhục trước công chúng. Nhiều khi chúng ta nghĩ rằng những vấn đề chúng ta cầu xin Chúa giải quyết chưa được Chúa trả lời; và nếu chúng ta có đủ lý do để tìm công lý trước tòa Chúa thì ta phải kiên trì nài van. Thiên Chúa là một thẩn phán chí công hay là một người cha mẹ sẽ không cho con mình con rắn khi nó xin con cá hay nó xin quả trứng mà lại cho nó con bọ cạp (Lc 11:5-13). Chúa Giêsu muốn rằng tất cả chúng ta hãy tin vào Chúa hoàn toàn và cứ cầu nguyện liên lỷ vì Thiên Chúa của chúng ta sẽ không như vị thẩm phán bất lương kia mà thiên hạ thường nghĩ.

 

.

MỘT NỀN TẢNG CỦA ĐỨC TIN: SỰ CẦU NGUYỆN

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Sau khi lên các phương kế để dụ Tư Mã ý vào hang động Thượng Phương, Khổng Minh đã sai quân sĩ bịt kín cửa hang rồi dùng hoả công để tiêu diệt viên tướng tài của nước Nguỵ. Đang nắm chắc kết quả, một kết quả có thể xoay đổi tình hình thế sự thời tam quốc phân tranh lúc bấy giờ, hầu đưa nhà Thục thống nhất đất nước, thì bỗng một cơn mưa bất chợt đổ xuống dập tắt đòn hoả công của Khổng Minh và cứu sống Tư mã Ý. Khi ấy Khổng Minh đã than rằng: “Mưu sự tại nhân. Thành sự tại thiên”. Hai từ “trời định” mà dân gian thường dùng nói lên quan niệm về ý định của trời xanh đã chi phối cuộc nhân sinh một cách nào đó.

Niềm tin Kitô giáo cũng có cái nhìn về thiên mệnh nhưng hoàn toàn không theo kiểu thụ động, yếm thế. Chúng ta tin nhận thánh ý của Thiên Chúa, nhưng sự tin nhận này không loại bỏ vai trò của sự tự do mà Thiên Chúa tặng ban cho con người. Thiên Chúa không phải là một vị thần chuyên chế quyết định mọi chuyện thành bại hay được thua của con người. Cách riêng những sự tốt xấu theo chiều kích luân lý thì đều có sự tham gia của sự tự do của chính con người. Giáo lý Công giáo dạy rằng chỉ có hành vi nhân linh nghĩa là những hành vi bao hàm sự hiểu biết và tự do thì mới có giá trị luân lý. Tuy nhiên để đạt được những điều tốt đẹp, Kitô hữu tin rằng phải cần đến ân sủng của Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn của mọi sự thiện hảo. Chúa Kitô đề cập đến chân lý này qua hình ảnh cây nho, cành nho và Người đã khẳng định: “Không có Thầy anh em chăng làm gì được”(Ga 15,5).

Sách Xuất hành tường thuật cuộc chiến giữa quân Israel và quân Amalếch. Trong khi tướng Giosuê đem quân đi giao chiến thì Môsê lên núi cầu nguyện. “Khi nào ông Môsê giơ tay lên, thì dân Israel thắng thế; còn khi ông hạ tay xuống, thì Amalếch thắng thế” (Xh 17,11). Dữ kiện này muốn nói rằng sự thắng thua của dân Israel là do bởi Thiên Chúa mà thôi. Chính vì thế nhất thiết cần phải gắn bó với Thiên Chúa, đặc biệt bằng sự cầu nguyện.

“Luật của cầu nguyện là luật của niềm tin” (lex orandi, lex credendi). Câu ngạn ngữ trên đã nói lên mối tương quan mật thiết giữa niềm tin với việc cầu nguyện, cầu nguyện riêng tư hay cầu nguyện công khai chính chính qua các cử hành Phụng Vụ. Dĩ nhiên nếu hiểu văn phong dụ ngôn thì chúng ta sẽ nhận ra ý nghĩa chính của câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể về “ông quan toà chẳng sợ Thiên Chúa mà phải chào thua sự lì lợm của một bà goá”(x.Lc 18,1-8). Ý nghĩa của câu chuyện dụ ngôn đã được thánh sử Luca nói ngay đầu đoạn tin mừng đó là “để dạy các môn đệ phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” và cái lý do được nêu lên ở câu cuối đó là lòng tin.

Một vấn nạn: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”(Lc 18,8). Câu than thở của Chúa Kitô khiến chúng ta phải giật mình và cảnh tỉnh. Khi nhân loại ngày càng văn minh tiến bộ, khi nên công công nghệ ngày càng tinh xảo và tân kỳ, thì dường như sự tự cao tự đại đang ngày càng xuất hiện dưới nhiều hình thức. Dù nhiều người với cái thói kiêu căng cho rằng ‘bàn tay ta làm nên tất cả…” đã từng “trắng mắt ra” khi đối diện với những nghịch cảnh vượt quá sức mình, thế nhưng vẫn còn đó những hình thái ngông nghênh cao ngạo bằng sự độc tôn, độc đoán, độc quyền, chuyên chế… Những hình thức tự tôn vinh, thần thánh hoá bản thân hay tập thể của mình lên hàng muôn năm hay bất diệt vẫn còn nhan nhãn đó đây. Một khi sự tự tin đã biến thành sự tự tôn thì lòng tin vào Đấng Tối cao sẽ suy giảm và rồi sẽ biến mất. Khi con người đã không còn tin vào Đấng Tối cao thì chắc chắn sẽ làm được sự gì tốt đẹp đúng nghĩa. Như thế, lòng tin hay đức tin, nói theo ngôn ngữ Kitô giáo, chính là nền tảng của mọi thành quả tốt đẹp mà con người đạt được.

Kitô giáo luôn khẳng định rằng tin là đón nhận Thánh ý Thiên Chúa và dấn thân hết mình để sống theo thánh Ý đã lãnh nhận. Hai mẫu gương lớn của lòng tin thường được giáo hội nói đến đó là Tổ phụ Abraham và Mẹ Maria. Đang là người sinh sống bằng nghề chăn nuôi súc vật thế mà Abraham đã can đảm vâng nghe lời Thiên Chúa mời gọi lên đường đi đến nơi chưa từng biết. Nếu nơi ấy là nơi thiếu cỏ hay thiếu nước thì việc chăn nuôi sẽ phá sản. Tuổi đã cao, người phối ngẫu đã qua thời sinh nở thế mà Abraham vẫn vâng lệnh Thiên Chúa để hiến tế người con trai duy nhất, kẻ sẽ nối dõi tông đường, người sẽ giúp ông tránh được sự bất hiếu với tổ tiên. Khi đón nhận và “xin vâng” như lời sứ thần truyền thì Mẹ Maria đã chấp nhận sự hiểu lầm của người bạn đời, Giuse và chấp nhận cả cái án hình bị ném đá theo luật bấy giờ.

Làm sao có thể đón nhận và thực thi Thánh ý Chúa nếu chúng ta không gặp gỡ và lắng nghe Người phán dạy? Và làm sao chúng ta có thể gặp gỡ Thiên Chúa nếu không chuyên chăm cầu nguyện? Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên, gặp gỡ Thiên Chúa, kết hiệp với Người, lắng nghe Người phán dạy để rồi can đảm thực thi. Cầu nguyện là cách thế biểu lộ niềm tin và cũng là phương thế củng cố niềm tin. Vì chúng ta tin nên chúng ta cầu nguyện. Nhờ chúng ta cầu nguyện nên niềm tin của chúng ta được củng cố.

Ai có thể tự hào rằng mình đã vững vàng trong đức tin? Ai có thể tự nhận rằng mình sẵn sàng hy sinh mạng sống để thực thi giới luật yêu thương Chúa Kitô truyền dạy? Ngoại trừ các thánh nhân, có thể nói chúng ta, từ người giáo dân hèn mọn đến vị mục tử trọng chức, thảy đều non kém đức tin, chưa dám xả thân, hiến mình để sống yêu thương đến cùng. Chính vì thế việc chuyên chăm cầu nguyện là điều như tất yếu. Tuy nhiên cần khẳng định rằng cầu nguyện không phải là để bắt Chúa thực hiện ý muốn của chúng ta, nhưng là để chúng ta biết cách thực thi thánh ý Chúa, nghĩa là để sống đức tin. Và xin đừng quên đức tin chính là chìa khoá dẫn chúng ta đến sự sống đời đời.

 

.

TRUNG THÀNH VỚI ĐỨC TIN

Lm. Minh Vận

Lời Chúa phán trong bài Tin Mừng hôm nay: “Không biết khi Con Người đến có còn thấy Đức Tin trên trần gian nữa không”(Lc 18:8). Lời đó khiến chúng ta phải suy tư và nghiệm xét, để tìm ra thánh ý Chúa muốn chúng ta điều gì, hầu chúng ta có thể đáp lại khát vọng của Chúa.

THỰC TRẠNG CỦA THẾ GIỚI HÔM NAY

Với ánh mắt tự nhiên: Thoáng nhìn thế giới và xã hội hôm nay, chúng ta thấy, có lẽ ngày Chúa tái giáng lâm hãy còn xa. Bởi theo lời Chúa phán: “Khi Chúa đến không biết có còn thấy Đức Tin trên trần gian nữa không?” Vì, đó đây biểu hiệu của Đức Tin vẫn còn hiển hiện, trong các nước thuộc thế giới tự do, được coi là vùng đất hữu thần và nhất là tại xứ sở chúng ta đang sống, các Thánh Đường san sát bên nhau, đua nhau mọc lên như nấm: Lớn nhỏ, cổ kim đều có. Nhiều Thánh Đường thật nguy nga, danh tiếng, lộng lẫy, đồ sộ, hấp dẫn, tân kỳ, thu hút các du khách thập phương tuốn đến như thác lũ, tạo nên các cuộc hành hương vĩ đại, tấp nập, các cuộc biểu dương Đức Tin tôn giáo thật trang nghiêm sốt sắng, chẳng hạn như tại Đại Vương Cung Thánh Đường Thánh Pherô Roma, Thánh Đường Đức Mẹ Vô Nhiễm Washington D.C., trung tâm Thánh Mẫu Lộ Đức, Fatima, La Vang… Rồi còn phải được kể đến các cuộc hội thảo thuyết trình, các khóa tĩnh huấn, các cuộc cung nghinh, các khóa giáo lý, các trường dạy Thánh Kinh… Phải chăng tất cả các sự kiện đó cho thấy Đức Tin vẫn còn tồn tại, và có thể nói, là đang trên đà phát triển nữa là khác. Ngay trong các nước vô thần, như Nga Sô, Trung Cộng và các nước đàn em chư hầu, Đức Tin dường như đã tắt ngúm từ lâu; thế mà, mỗi khi nhà cầm quyền muốn thử nghiệm ban sắc lệnh cho tự do tôn giáo, thì lập tức các Thánh Đường lại đua nhau được xây cất, các cuộc biểu dương Đức Tin lại phát hiện rầm rộ. Thế nhưng, tất cả những sự kiện đó có đáng cho phép chúng ta lạc quan không hay ngược lại?

Dưới lăng kính siêu nhiên: Những sự kiện trên đây có phải là tiếng nói trung thực của Đức Tin nơi lòng con người thời đại hôm nay, hay chỉ là nước sơn bóng bảy với vẻ hào nhoáng bên ngoài, những làn ánh sáng lập loè nay còn mai vụt tắt? Điều quan trọng là người ta có còn sống theo Đức Tin nữa không? Nếp sống con người có phù hợp với lương tri, với lẽ phải, với chân lý, với giáo huấn của Chúa và Giáo Hội không? Nếu những nguồn mặc khải tại Fatima, Hoa Kỳ, Việt Nam, Pháp, Đức, Ý kia là thật thì có lẽ ngày Chúa tái giáng lâm đã gần kề. Chúng ta chỉ cần đan cử một vài điều trong thông điệp Đức Mẹ ban tại La Salette sau đây đủ khiến chúng ta phải suy nghĩ: “Các Chính Phủ sẽ theo cùng một kế hoạch chung là đả phá và tiêu diệt mọi nguyên tắc tôn giáo, để thay vào đấy chủ thuyết duy vật, thuyết chiêu hồn và mọi thứ tệ đoan”. Ngay cả nơi những tâm hồn được mệnh danh là Bạn Thân, là người đã thánh hiến cho Thiên Chúa cũng bị thông điệp than trách: “Tội lỗi của những Tâm Hồn Thánh Hiến cho Thiên Chúa vọng tới tận trời cao và đòi báo oán”. Những Nơi Thánh được gọi là Nhà Thiên Chúa lại bị thông điệp nguyền rủa: “Nhiều Tu Viện không còn là Nhà Của Thiên Chúa nữa, nhưng là bãi mục trường”. Thông điệp còn thêm: “Nhiều Tu Viện sẽ mất Đức Tin và nhiều linh hồn ở đấy hư đi!”

Thông điệp La Salette còn tiên báo: “Khắp nơi sẽ có những sự lạ lùng phi thường, vì Đức Tin chân thật đã tắt và ánh sáng giả tạo soi trên thế giới”. Thông điệp còn vọng lên lời thống thiết não nùng: “Hỡi trái đất, hãy run sợ!…Vì những Nơi Thánh đã ra đồi bại!”

Thông điệp không nói: “Hỡi trái đất, hãy run sợ! Vì trái đất đã ra đồi bại”. Nhưng thông điệp nói: “Trái đất hãy run sợ! Vì những Nơi Thánh đã ra đồi bại!”

HÃY TRUNG THÀNH VỚI ĐỨC TIN

Với mấy lời của thông điệp La Salette trên đây đủ cho chúng ta thấy vận mạng thế giới hệ tại các Linh Hồn Tận Hiến. Thế giới phải tiêu diệt cũng do tại các Bạn Thân của Chúa Kitô. Thế giới có được cứu thoát lại cũng do các Linh Hồn Thánh Hiến. Không cần nại đến những lời mạc khải đó, chúng ta cũng quá đủ lý do để thấy được thực trạng của thế giới hiện nay, ít ra cũng không có lý do đủ để lạc quan. Bởi lẽ, những tệ đoan đang lan tràn khắp thế giới như: Nạn ly dị, phá thai, hôn nhân bất hợp pháp, đồng tính luyến ái… Nhiều lý thuyết sai lạc thay thế những nguyên tắc đạo đức, nhiều nhà cầm quyền các quốc gia đã dùng quyền bính mình để công bố những sắc luật vô luân, chẳng hạn sắc luật cho phép và khuyến khích phá thai hoặc truyền buộc phải phá thai, cho phép ly dị; họ còn đài thọ những phí khoản khổng lồ trong ngân quỹ quốc gia vào các việc vô luân này.

Vậy, để khỏi ngã quỵ xuống hố trụy lạc của thời hiện đại, ít ra khỏi nhiễm lây những thác loạn đang diễn ra khắp đó đây; chúng ta là những Tông Đồ có sứ mạng truyền bá chân lý, hướng dẫn các linh hồn, phòng ngừa cho họ khỏi nhiễm lây những tệ đoan xã hội, những đồi phong bại tục thời đại, chúng ta hãy lắng nghe và thực hiện lời nhắn nhủ của Thánh Tông Đồ: “Con thân yêu, con hãy bền tâm, hãy trung thành với các điều con đã học hỏi và xác tín”. Nhất là hãy trung tín thực thi các giáo huấn Chúa Kitô dạy, vì như lời Người đã đoan hứa: “Ai trung tín đến cũng sẽ được cứu rỗi”. Lòng trung tín đó không chỉ ở việc nắm giữ những chân lý cao cả, mà còn hệ tại việc cẩn thủ tuân giữ và thực hành những nghĩa vụ tỉ mỉ trong cuộc sống hằng ngày như lời Chúa đã căn dặn: “Ai trung tín trong những điều nhỏ mọn, cũng sẽ tín trung trong những điều lớn lao, ai khinh thường những điều nhỏ mọn cũng sẽ khinh thường trong những điều lớn lao”.

Người trung thành không những được Chúa yêu thương, ban thưởng phúc trường sinh bất diệt, mà còn được loài người khâm phục, quí mến và ca ngợi. Mẩu truyện sau đây cũng đủ nói lên điều đó:

Ngày 3.8.1974, anh Lê Tấn Bằng, 25 tuổi, con ông Lê Tấn Hanh, một chủ điền giầu có tại quận An Nhân đã qua đời cách đó 20 năm. Hôm nay là lễ thành hôn của anh Lê Tấn Bằng và cô Trần Thị Phượng, 19 tuổi, trưởng nữ của một ông tài xế vùng Qui Nhơn. Lúc hai họ đương chúc mừng lẫn nhau trong tiệc cưới, thì bỗng nhiên một ông già từ ngoài sân tiến vào, tên ông là Nguyễn Văn Như, nguyên trước đây là tá điền của ông Lê Tấn Hanh.

Ông Như xin gặp và trao cho chàng rể Lê Tấn Bằng một gói quà và nói: “Đây món quà của cậu”. Rồi ông trình bày câu truyện như sau: “Cách đây 20 năm lúc ba cậu sắp qua đời, ông đã trao cho tôi 20 lượng vàng này và dặn tôi cất kỹ, đợi cho tới khi nào cháu Hằng lập gia đình, hãy trao lại cho cháu để tạo lập cơ nghiệp. Hôm nay, tôi đã được toại nguyện và làm trọn lời di chúc của ba cậu”.

Chúng ta được biết suốt 20 năm nay từ khi ông thân sinh của Hằng qua đời, vì Hằng mồ côi mẹ từ nhỏ, nên đã được trao cho ông chú ruột tên là Phi 63 tuổi nuôi nấng dạy dỗ, khi tới tuổi khôn, Hằng được đi học và đã tốt nghịệp bậc trung học. Vì ông Phi cũng không khá giả gì, nên cuộc sống của Hằng cũng chật vật; hằng ngày cậu phải đi kèm trẻ học tại tư gia, để kiếm tiền độ thân và có phương tiện học thêm.

Mặc dầu biết Hằng hiện tại rất nghèo, nhưng ông Như vốn không vội trao số vàng trên đây cho cậu, vì ông phải trung thành giữ đúng lời trăn trối của người quá cố, ông chỉ trao số vàng khi Hằng đã lập gia đình. Do đó, hôm nay ngày vui mừng của Hằng, ông Như mới tìm tới và trao đúng số 20 lượng vàng mà thân phụ anh Hằng đã trối cho ông lúc trước giờ lâm chung.

Khi nghe xong đầu đuôi câu truyện, ai nấy đều xúc động đến rơi lệ, trước tấm lòng trung tín và thanh liêm cao cả tuyệt vời của ông tá điền Nguyễn Văn Như. Riêng chú rể Lê Tấn Hằng và cô dâu Trần Thị Phượng vì quá cảm phục tấm lòng cao cả đó, nên đã đồng ý với nhau, xin nhận ông làm dưỡng phụ và nguyện sẽ nuôi ông suốt đời, vì hiện nay ông Như chỉ còn sống một mình trong cảnh nghèo nàn, không vợ không con.

Câu truyện trên đây đã là một đề tài sôi động, được dân chúng khen ngợi nhiệt liệt tại miền nam tỉnh Bình Định và châu thành Qui Nhơn hồi đó.

Kết Luận

Hôm nay, nhân dịp mừng Khánh Nhật Truyền Giáo, xin Chúa cho chúng ta được lòng trung thành với ơn gọi của mình, trung thành với ơn thánh Chúa ban, trung thành với sứ mạng Chúa đã ủy thác cho mỗi người chúng ta. Vì nhờ chính lòng trung thành đó sẽ có mãnh lực vô song giúp chúng ta đạt tới Đích Thánh Thiện của ơn gọi và chu toàn sứ mạng Chúa ủy thác. Xưa các Tông Đồ đã dùng phép lạ để minh chứng Đạo Chúa, nhưng chính đời sống thánh thiện của các ngài còn có sức chinh phục hơn muôn phần.

Lòng trung tín với Đức Tin và Ơn Gọi, là một phép lạ lớn lao hơn tất cả các phép lạ, có sức chinh phục các linh hồn về cho Chúa hơn hết. Xin Mẹ Maria giúp chúng ta là những tông đồ của Mẹ và là con cái yêu dấu của Mẹ, biết noi theo gương mẫu lòng trung tín của Mẹ, để khi Chúa tái giáng lâm còn thấy Đức Tin sống động nơi chúng ta và trên mặt đất này như lòng Chúa mong ước.

 

.

KIÊN TÂM CẦU NGUYỆN

Lm. Trần Bình Trọng 

Chắc nhiều người đã nghe câu chuyện ngụ ngôn của Easop về cuộc chạy đua giữa con thỏ và con rùa. Hai con vật đồng ý làm một cuộc chạy đua. Vừa bắt đầu thì con thỏ liền phóng nước đại, phi một đường rất là ngoạn mục và lả lướt. Còn chú rùa thì cứ ì ạch, khệnh khạng từng bước giống như mấy bà bận áo đình chiến. Để tỏ ra khinh thị đối thủ hạng nhẹ, con thỏ quyết định dừng lại ngủ một giấc cho đỡ buồn. Khi vừa giật mình tỉnh dạy, thì con thỏ đã thấy con rùa gần tới đích, đuổi hết kịp. Ngụ ngôn của câu chuyện là kiên trì sẽ giúp người ta thành công.

Phụng vụ lời Chúa hôm nay dạy ta kiên nhẫn cầu nguyện. Cầu nguyện là việc cần thiết đối với người tín hữu vì mỗi người đều tuỳ thuộc vào Chúa từng hơi thở. Sự cần thiết của việc cầu nguyện bắt đầu từ thái độ khiêm tốn, chấp nhận cái thân phận yếu hèn và những thiếu thốn của mình. Bài trích sách Xuất hành hôm nay ghi lại lòng kiên nhẫn cầu nguyện của Môsê. Khi ông Môsê giang tay cầu nguyện thì dân Chúa thắng thế. Còn khi ông mệt mỏi xuôi tay xuống thì quân địch Amalếch thắng. Thánh Phaolô trong thư căn dặn Timôthê phải kiên nhẫn và trung tín cầu nguyện và suy gẫm lời Chúa trong thánh kinh. Rồi đến ngụ ngôn bà goá trong Phúc âm. Bà goá nài nẵng xin quan toà xét xử công lý cho bà. Để bà khỏi quấy rầy, ông quan toà, mặc dầu là người thiếu thanh liêm, cuối cùng cũng xét xử vụ kiện cho bà.

Cuộc trở lại của thánh Augustinô là một ví dụ điển hình nói lên lòng kiên nhẫn trong việc cầu nguyệen của bà mẹ là Monica. Sống trong thời hiện tại và hiện đại, người ta được dùng nhiều thứ dịch vụ nhanh chóng như trà, cà phê, đồ hộp chế sẵn, máy ảnh chụp lấy ngay, lò nướng microwave, gửi fax, gửi điện thư trong vòng giây lát. Tuy nhiên trong đời sống thiêng liêng, không gì có thể trở nên hoàn hảo nhanh chóng như vậy. Qua ngụ ngôn trong Phúc âm hôm nay, Chúa hứa đáp ứng lời cầu nguyện của ta, nhưng là theo đường lối của Chúa. Bao giờ Chúa mới ban ơn, ta không biết được, nhưng ta phải đặt tin tưởng phó thác vào Chúa.

Có đôi khi ta xin ơn này mà Chúa lại ban ơn khác khiến cho người ta không ý thức được là Chúa đã ban ơn. Ví dụ có người xin khỏi bệnh phần xác, mà Chúa lại ban ơn khỏi bệnh tinh thần: cho người đó vui lòng chấp nhận bản thân và hoàn cảnh. Có trường hợp Chúa không ban ơn liền, nhưng Chúa chữa trị dần dần. Ví dụ một người xin Chúa chữa bệnh đau lưng. Chúa soi sáng cho người đó biết đau lưng là tại đầu óc bị căng thẳng làm máu tụ vào một nơi, không được vận chuyển điều hoà. Và Chúa chữa họ bằng cách soi sáng cho họ đọc sách để hiểu tại sao bắp thịt ở lưng bị yếu đau, để rồi bày cách cho họ tập thể thao ở bắp thịt lưng, cho máu luân chuyển điều hoà. Như vậy bác sĩ cũng như thuốc men là những dụng cụ Chúa dùng để chữa trị bệnh tật loài người. Có trường hợp người ta tưởng Chúa không nghe lời cầu của họ, nhưng thực sự Chúa đã nghe lời mà người ta không hay biết. Ví dụ người ta xin cho một người chịu đau đớn về phần xác được khỏi bệnh, mà Chúa lại cất họ ra khỏi thế gian. Thực ra thì Chúa đã chấp nhận lời họ xin bằng cách chấm dứt đau khổ về phần xác cho người đau ốm.

Còn những lý do tại sao điều ta xin mà chưa được hay không được có thể là vì người ta không cộng tác với ơn Chúa, không biết tự giúp mình. Ví dụ một người xin Chúa giúp chống trả cám dỗ về đức khiết tịnh mà cứ xem phim ảnh trụy lạc thì làm sao tránh khỏi cám dỗ? Chưa được điều mình xin cũng có thể là vì người ta đặt chướng ngại vật, làm cản trở ơn Chúa. Chẳng hạn tính ích kỉ, lòng hận thù là những chướng ngại vật làm cản trở ơn Chúa. Còn không xin được điều mình xin có thể là tại người ta thiếu đức tin. Kiên tâm trong việc cầu nguyện là dấu chỉ người có đức tin. Đức tin là yếu tố quan trọng vì nếu người ta cầu nguyện mà không có đức tin, lời cầu nguyện khó lòng được chấp nhận. Có người cầu nguyện vài lần mà không được sinh ra chán nản, bỏ cuộc không cầu nguyện nữa. Đó chính là điều Chúa thắc mắc cuối Phúc âm hôm nay: Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng? (Lc 18:8).

 

.

XIN MINH OAN CHO TÔI

Lm. Đam. Cao Tấn Tĩnh

Nếu để ý kỹ tiến trình Phụng Vụ Lời Chúa trong mấy tuần vừa qua, chúng ta thấy các bài Phúc Âm đều xoay quanh một chủ điểm duy nhất, đó là vấn đề đức tin. Thật vậy, bài Phúc Âm Chúa Nhật XXV cách đây bốn tuần, Chúa Giêsu khẳng định với các tông đồ rằng “không ai có thể làm tôi hai chủ”, nghĩa là các vị hãy tin tưởng theo Người, hãy hết lòng làm tôi phục vụ Thiên Chúa, “hãy tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài trước, rồi mọi sự khác các con sẽ được ban cho sau” (Mt 6:33). Bài Phúc Âm Chúa Nhật XXVI cách đây ba tuần, Chúa Giêsu nói cho nhóm người Pharisiêu, thành phần không chịu tin họ vừa tham lam vừa có thể phụng sự Thiên Chúa, dụ ngôn về người phú hộ bị đời đời trầm luân chỉ vì “đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Jas 2:26), nghĩa là dù cho họ có giữ luật Chúa một cách công chính đi nữa, song nếu không giữ nghĩa với anh em, họ cũng vẫn không được rỗi. Bài Phúc Âm Chúa Nhật XXVII Mùa Thường Niên Năm C hai tuần trước, Chúa Giêsu đã chỉ cho các môn đệ bí quyết làm cho đức tin nơi các vị tăng phát, bằng việc các vị “hãy hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ” (Mt 18:3), ở chỗ, thâm tín và thực hiện lời Người khuyên dạy: “Sau khi các con làm xong tất cả những gì các con được lệnh làm thì các con hãy nói rằng ‘Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng. Chúng tôi chẳng làm gì khác ngoài nhiệm vụ của mình mà thôi’”. Và bài Phúc Âm Chúa Nhật XXVIII Mùa Thường Niên Năm C tuần vừa rồi, Chúa Giêsu còn tỏ cho chúng ta thấy đức tin phải được bảo tồn bằng lòng biết ơn nữa, như trường hợp của người cùi Samaritanô ngoại lai sau khi thấy mình được lành sạch đã trở về chúc tụng Thiên Chúa, nên đã được Người phán: “Đức tin của con đã cứu con”. Hôm nay, bài Phúc Âm Chúa Nhật XXIX Mùa Thường Niên Năm C lại tiếp tục cho chúng ta thấy đức tin còn phải được tỏ ra bằng một tấm lòng kiên trì chịu đựng vì Chúa khi bị oan ức nữa.

Đúng thế, bài Phúc Âm theo Thánh Luca hôm nay đã thuật lại dụ ngôn Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Người về trường hợp của một bà góa bị oan ức, nên bà đã tha thiết kêu nài vị quan tòa xét xử cho mình, cho đến khi bà được ông minh oan cho mới thôi. Vấn đề được đặt ra ở đây là có phải việc Thiên Chúa ban ơn cho con người nói chung, đặc biệt là việc Ngài giải oan cho họ, chỉ vì Ngài bị con người công chính này gây phiền toái, như trường hợp của vị quan tòa trong dụ ngôn hay chăng? Vì chính Chúa Giêsu đã tóm dụ ngôn này lại bằng cách đặt vấn đề với các môn đệ rằng: “Các con hãy nghe những gì vị quan tòa hư hỏng này nói. Bởi vậy Thiên Chúa chẳng lẽ lại không minh oan cho kẻ Ngài tuyển chọn ngày đêm kêu lên Ngài hay sao?” Ông quan tòa này đã nói những gì? Chúa Giêsu cũng cho biết về ý nghĩ của lời ông ta nói ngay trước đó trong bài dụ ngôn thế này: “Ta chẳng quan tâm mấy đến Thiên Chúa hay đến người ta, thế nhưng cái bà góa này cứ làm ta bị rầy rà phiền phức hoài. Ta sẽ giải quyết theo ý bà ta cho xong kẻo bà ta cứ thôi thúc ta hoài”. Thế nhưng, vai chính hay chủ yếu của bài Phúc Âm hôm nay, nếu xét đến ý nghĩa chung của cả hai bài đọc một và hai, thì không phải là Thiên Chúa, mà là con người, hay là việc con người cầu nguyện, là thái độ con người cần phải tỏ ra khi cầu nguyện cùng Thiên Chúa, đúng hơn là lòng kiên trì tin tưởng của con người được tỏ ra qua lời cầu nguyện, như Thánh Ký Luca đã đề cập đến ở ngay câu mở đầu bài Phúc Âm hôm nay: “Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ dụ ngôn về sự cần thiết của việc luôn luôn cầu nguyện chứ đừng nản lòng”. Đó là lý do bài đọc một, theo Sách Xuất Hành, thuật lại việc Moisen cố gắng giang tay cầu nguyện trên núi để giành phần thắng cho quân Yến Duyên đang ngang ngửa chiến đấu với quân Amaléch; và bài đọc hai, theo Thư Thánh Phaolô gửi Timôthêu, Vị Tông Đồ Dân Ngoại cũng đã khuyên môn đệ của mình là: “Con phải trung thành với những gì con đã học hỏi và tin tưởng, … Cha giao cho con trách nhiệm rao giảng lời Chúa, con hãy thực hiện việc này, dù gặp lúc thuận lợi hay bất thuận lợi…”.

Tuy nhiên, nếu Thiên Chúa thực sự không phải chỉ vì bị “rầy rà phiền phức”, theo nghĩa tiêu cực như vị quan tòa hư hỏng trong dụ ngôn, mà minh oan cho người công chính, thì chắc chắn vấn đề “rầy rà phiền phức” mà người công chính gây ra cho Thiên Chúa phải có một ý nghĩa đặc biệt, một thứ “rầy rà phiền phức” lên đến mức độ đã khiến Thiên Chúa phải giải oan cho họ? Vậy ý nghĩa của việc con người làm “rầy rà phiền phức” đến Thiên Chúa đây, cũng như ý nghĩa của việc Thiên Chúa giải oan cho người công chính đây là gì, nếu không phải là việc gặp gỡ giữa “đức tin tuân phục” (Rm 1:6) và Mạc Khải Thần Linh, hay là việc Thiên Chúa làm cho chân lý được sáng tỏ nơi con người công chính, tức cho đến khi Thiên Chúa được hoàn toàn tỏ mình ra qua đức tin của con người, chẳng những cho chính bản thân của họ là nạn nhân thấy để tin vào Ngài hơn, mà còn cho cả đối phương hà hiếp phạm đến họ thấy nữa, để cả thành phần “lầm không biết việc mình làm” (Lk 23:34) cũng nhận biết chân lý trở về với Ngài. Để xem ý nghĩa sâu xa của bài dụ ngôn về bà góa được quan tòa giải oan trong bài Phúc Âm hôm nay, như chúng ta vừa suy diễn, có thật sự là như thế chăng, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại mấy trường hợp điển hình trong Thánh Kinh, thứ nhất là trường hợp của Tôbia bố và đứa con dâu tương lai của ông; thứ hai là trường hợp của Mẹ Maria và Thánh Giuse; và thứ ba là của chính Chúa Giêsu Kitô.

Trước hết, về trường hợp ông Tôbia bố và đứa con dâu tương lai của ông đã bị oan ức thế nào và đã được Thiên Chúa giải oan ra sao, Sách Tôbia đã cho chúng ta biết rằng: Cả hai đều hướng lòng về Thiên Chúa, bằng cách cầu nguyện với Ngài với tất cả tâm hồn mình, hoàn toàn đặt hết lòng tin tưởng nơi một mình Ngài, chứ không vào một ai khác, kể cả những người thân tín nhất với mình. Chẳng hạn, cả hai đều có thể giải buồn và giải quyết bằng việc tìm kiếm an ủi trần gian. Như Tôbia cha có thể than thở với Tôbia con mình, về những lời vợ ông đay nghiến ông, bởi trong cảnh mù lòa ông đã theo lòng công minh chính trực của mình lầm trách bà khi ông nghe thấy có tiếng con vật lạ trong nhà; hay như đứa con dâu tương lai của ông cũng có thể than thở với cha mẹ của nàng, và xin các vị đuổi đứa tớ gái đi, vì nó đã dám xỉ nhục cảnh góa chồng bất đắc dĩ của mình, cảnh cả 7 người chồng đều chết trước khi động phòng với nàng. Lòng tin tưởng được tỏ ra qua lời cầu nguyện tận đáy lòng của hai người này quả thực đã làm Thiên Chúa phải động lòng, đến nỗi, Ngài đã ra tay giải oan cho họ, như những người làm khốn họ cũng chứng kiến thấy, đó là Ngài đã sai tổng thần Raphaen đến, chẳng những để kết duyên người con gái góa chồng còn trinh này với Tôbia con là người trong chính giòng tộc của nàng, (ở đây chúng ta thấy có sự trùng hợp về cảnh góa bụa của bà góa trong dụ ngôn của Phúc Âm hôm nay với cảnh góa bụa của nàng dâu trong truyện Tôbia này), mà còn giúp cho cả Tôbia cha, nhờ thứ thuốc Tôbia con mang về theo lời mách bảo và chỉ dẫn của vị tổng thần Raphaen, được sáng mắt để thấy lại cả vợ con rất yêu dấu của mình.

Về trường hợp của Mẹ Maria và Thánh Giuse trong Mầu Nhiệm Thiên Chúa Làm Người, cả hai đã bị oan ức và đã được Thiên Chúa ra tay giải oan cho như thế nào, chúng ta đã quá quen biết, như Phúc Âm theo Thánh Mathêu thuật lại ở đoạn 1, từ câu 18 đến 25. Tuy nhiên, trong trường hợp này, không phải chỉ có một mình Mẹ Maria bị oan ức, mà cả Thánh Giuse cũng bị oan ức nữa. Bởi vì, Thiên Chúa đã để xẩy ra một sự việc ngoài suy đoán hạn hẹp của con người tự nhiên, dù đó là một con người được Phúc Âm gọi là công chính như Thánh Giuse, một người chồng vừa mới đính hôn chẳng được bao lâu đã thấy người vợ đính hôn vốn trinh trong thánh đức của mình mang bầu trước khi về chung sống với mình. Thế nhưng, ở đây, Phúc Âm không thuật lại việc cả hai vị cảm thấy hết sức buồn sầu và cầu nguyện cùng Thiên Chúa, như trong trường hợp của Tôbia cha và đứa con dâu tương lai của ông, Thế mà, Thiên Chúa vẫn ra tay can thiệp, bằng cách, Ngài cũng đã sai một thiên thần đến. Vị thiên thần này không như tổng thần Raphaen đã lấy hình người hiện ra với Tôbia con, mà chỉ xuất hiện trong giấc ngủ của Thánh Giuse, để tiết lộ cho thánh nhân biết cách thức Thiên Chúa Nhập Thể trong lòng vị hôn thê đính hôn của thánh nhân. Việc Thánh Giuse, như Phúc Âm kể lại: “khi tỉnh giấc, Giuse đã làm như lời thiên thần Chúa chỉ dẫn là nhận Maria đem về làm vợ”, đã chứng tỏ thánh nhân lúc nào cũng hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa, dù Ngài chỉ tỏ mình ra cho thánh nhân trong giấc ngủ chứ không phải nhãn tiền. Nếu Thánh Giuse có một đức tin chân tình dễ thương, đến nỗi đã làm Thiên Chúa phải động lòng giải oan cho như thế, thì Mẹ Maria đầy ơn phúc, người đã được bà chị họ Isave khen rằng “em có phúc vì đã tin” (Lk 1:45), lại không tin tưởng hơn thánh nhân gấp bội hay sao, bởi trường hợp của Mẹ là trường hợp bị oan ức vì Chúa và cho Chúa, ở chỗ, trước khi thưa “này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng”, Mẹ đã nhắm mắt tin tưởng và liều mình chấp nhận những gì sẽ xẩy ra cho Mẹ rồi.

Còn về trường hợp oan ức của Chúa Giêsu và việc Thiên Chúa minh oan cho Người, Thư gửi Giáo Đoàn Do Thái ở đoạn 5, từ câu 7 đến câu 10, đã cảm nhận và xác tín như sau: “Trong những ngày còn ở trong xác thể, Người đã lớn tiếng dâng những lời kinh nguyện và cầu xin lên Thiên Chúa là Đấng có thể cứu Người khỏi chết, và vì lòng thành kính Người đã được nhận lời”. Ở chỗ nào? Bức Thư viết tiếp: “Mặc dù là Con, Người cũng đã biết tuân phục nơi những gì Người phải chịu, để khi thành toàn, Người đã trở nên căn nguyên cứu độ đời đời cho những ai tín phục Người”.

Vấn đề thực hành sống đạo: Qua bài Phúc Âm Thánh Luca của Chúa Nhật XXIX Mùa Thường Niên Năm C hôm nay, chúng ta thấy rằng, muốn lấy lòng Thiên Chúa, hay muốn thắng được Thiên Chúa, con người cần phải kiên gan tin tưởng. Hay nói ngược lại, Thiên Chúa chắc chắn sẽ phải chịu thua, phải đầu hàng trước lòng kiên trì của con người, nghĩa là chắc chắn Ngài sẽ bị xiêu lòng trước niềm tin tưởng vững vàng của họ. Thế nhưng, có phải lúc nào thành phần sống công chính, một thành phần luôn bị kẻ gian ác chống đối và bách hại trên thế gian này, như bóng tối bao giờ cũng có khuynh hướng muốn lấn át và bao trùm ánh sáng, sẽ thấy được tỏ tường chẳng những việc Thiên Chúa trực tiếp nhúng tay vào giải oan cho họ, mà còn thấy được cả thành quả họ được minh oan cho hay chăng? Nếu có thì tại sao bao kẻ lành đã bị chết đi hết sức oan ức và thảm thương rồi mà thế gian vẫn tràn đầy bất công và sự dữ, đến nỗi, đối với một số người, cả hữu thần lẫn vô thần, lấy cớ đó mà cho rằng Thiên Chúa đã chết mất rồi, hay cho dù có Ngài đi nữa thì Ngài cũng chỉ là một “ông trời không có mắt” mà thôi?

 

.

LỜI CẦU NGUYỆN

Lm. Bùi Quang Tuấn

“Thiên Chúa lại không minh xử cho những kẻ Ngài tuyển chọn cứ mãi kêu cứu với Người đêm ngày sao” (Lc 18:7).

Tôi có đọc được một cuốn hồi ký rất hay của một thanh niên 22 tuổi người Nga, tên Sergi Koudakov. Cuốn hồi ký có tựa đề là “Lời Nguyện Cầu” được viết ra sau khi anh trốn thoát sang thế giới tự do và được hưởng quyền tị nạn tại Canada năm 1971.

Sinh ra trong một gia đình có bố là sĩ quan cao cấp của hồng quân Nga và mẹ là một giáo dân Công giáo ngoan đạo, Koudakov lớn lên với tương lai tràn trề hứa hẹn. Không may, anh bị mồ côi cả cha lẫn mẹ lúc chưa đầy 5 tuổi. Đường đời bắt đầu với những bước chân lang thang trộm cắp để sống còn.

Một ngày kia Koudakov bị bắt đang khi ăn cắp, và bị nhốt vào một viện mồ côi. Tại đây đứa bé bơ vơ bỗng được nhà nước cộng sản chú ý cách đặc biệt và đã đào luyện cậu thành người cộng sản chính tông, tức là trở thành một con người không tim óc, tàn ác, dã man, hăng say đánh đập và tra tấn, nhất là với những ai có đạo.

Từ khi còn ở viện mồ côi cho đến lúc tốt nghiệp sĩ quan với cấp bậc trung uý hải quân, Koudakov không ngừng được tiến cử hết chức vụ này đến danh dự kia, từ cháu ngoan Lênin cho đến thủ lãnh Liên đoàn Thanh thiếu niên cộng sản Nga sô. Thậm chí còn được đề bạt làm trùm mật vụ KGB nữa.

Là con cưng của chế độ với tương lai sáng sủa như thế, vậy mà trong một chuyến hải hành trên chiếc tàu tình báo Elagin dọc theo hải phận Canada, Koudakov đã quyết định vượt thoát chế độ. Anh nhảy khỏi tàu trong một đêm giông bão, bơi suốt 12 hải lý dưới làn nước giá lạnh, để xin tị nạn tại Canada.

Hồi ký của chàng thanh niên Sergi Koudakov không dừng lại nơi đây. Điểm đáng lưu ý là sau khi bừng tỉnh khỏi giấc mơ hãi hùng và rút chân khỏi guồng máy thống trị tàn ác, Koudakov đã chuyển biến từ một tên đồ tể từng tra tấn đánh đập những con chiên của Chúa thành một tông đồ nhiệt thành trung kiên. Anh đã tham gia một tổ chức có tên “Underground Evangelism” (Truyền Giáo Thầm Lặng) chuyên cung cấp Thánh kinh và tài trợ cho các giáo hội đang bị đàn áp tại các nước cộng sản. Rồi vì quá hăng say với công tác vạch mặt sự giả dối và đề cao chân lý, anh đã bị ám hại lúc mới 22 tuổi.

Đọc hồi ký của Sergi, có lẽ mỗi người sẽ có những cảm xúc hay nỗi niềm khác nhau dọc theo diễn tiến của câu chuyện, nhưng phần tôi lại bị lôi cuốn ngay từ đầu bởi cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề của dịch giả Nhị Lang: Với một con người như Koudakov, mồ côi cha mẹ từ thuở bé thơ, trộm cắp đầu đường xó chợ, không ai dạy cho một câu về luân thường đạo lý, lại còn luôn được khuyến khích làm những điều thất nhân ác đức, trong một môi trường như vậy thì đáng lẽ Koudakov phải biến thành một con thú ghê tởm nhất trần gian chứ. Đàng này anh đã không trở thành con thú, nhưng lại dám một mình đột phá chống lại cả một hệ thống đàn áp tôn giáo tinh vi và một chế độ vô thần mênh mông như tại Nga. Anh đã đi từ thái cực bất lương qua thái cực thánh thiện mà không có một sự hướng dẫn hay tia sáng đạo đức nào chung quanh. Thế thì nhờ đâu mà anh đã có được sự biến đổi lạ lùng như vậy?

Câu trả lời thật bất ngờ và lý thú: vì anh còn thừa hưởng được dòng máu đạo đức của người mẹ quá cố. Anh đã thừa hưởng được cái tinh hoa còn tiềm tàng trong huyết quản tâm linh do bà mẹ đạo đức truyền sang. Và nhờ đó anh đã chiến thắng.

Nhớ lại trong sách Cựu ước có đoạn nói về dân Do thái phải bước vào một trận chiến cam go với người Amalek. Từ sáng sớm, Môisen đã đi lên núi với Aharon và một người phụ tá. Trên đó, Môisen đã giơ tay lên trời cầu nguyện. Và hễ ông giơ tay lên thì dân Do thái rượt quân Amalek chạy tơi bời, còn khi mõi tay hạ xuống một tí thì quân Amalek lại vùng lên đuổi dân Do thái chạy bán sống bán chết. Thành ra hai bên đánh nhau mà cứ như trò chơi ngày hội. Nhưng cuối cùng, dân Do thái đã toàn thắng nhờ đôi tay của Môisen được giơ lên cho đến chiều tối.

Một sức mạnh tâm linh đã được truyền qua Môisen sang người Do thái, và nhờ thế họ đã đánh bại quân Amalek.

Cũng vậy, sức mạnh tâm linh đã được truyền sang Sergei từ người mẹ đạo đức và nhờ đó anh đã giành được phần thắng trong cuộc chiến giữa một con người không tim óc với con người có tâm hồn, giữa thế giới vô thần và thế giới niềm tin, giữa hận thù gian ác và bao dung nhân ái.

Vậy mới hay những tinh hoa của lòng đạo đức nơi cha mẹ sẽ có ảnh hưởng biết bao trên cuộc đời con cái. Nhất là khi cuộc đời đó lại đang là một cuộc chiến giữa đúng và sai, tội lỗi và thánh thiện, bất hiếu và có hiếu, đam mê buông tuồng và khổ chế hy sinh. Trước các trận chiến quyết liệt đó, cha mẹ phải là những người không ngừng giơ tay lên cao để khẩn cầu cùng Thiên Chúa cho con cái như Moisen đã khẩn cầu cho Israen. Và phải giơ tay khẩn cầu liên lỉ, từ “hừng đông” cho đến “chiều tà,” từ bắt đầu cuộc chiến cho đến khi toàn thắng. Chứ không vì mỏi mệt hay nhát đảm, quân thù hăng lên hoặc con ta yếu đi, mà buông xuôi, thất vọng, đầu hàng.

Nói đến sức mạnh và sự cần thiết của cầu nguyện, chính Chúa Giêsu đã đưa ra hình ảnh của một bà goá bị người khác chèn ép oan ức. Bà không có tiền để lo lót, cũng chẳng có quyền để tựa nương, thậm chí cũng chẳng có đứa con nào để nhờ cậy. Thế nhưng bà có một thứ vũ khí rất lợi hại: cái lưỡi. Và bà đã biết sử dụng nó. Bà bạo van bạo xin. Kêu đi kêu lại, kêu mãi kêu hoài. Ấy thế mà được việc! Tức là mặc dầu quan toà, và là thứ quan toà bất lương theo lời Kinh thánh, không muốn xử cho bà, thậm chí còn coi bà như rơm rác, ấy thế mà vì điếc tai nhức óc, vì muốn được yên thân, nên ông đã xử cho xong chuyện.

Câu trả lời thật bất ngờ và lý thú: vì anh còn thừa hưởng được dòng máu đạo đức của người mẹ quá cố. Anh đã thừa hưởng được cái tinh hoa còn tiềm tàng trong huyết quản tâm linh do bà mẹ đạo đức truyền sang. Và nhờ đó anh đã chiến thắng.

Nhớ lại trong sách Cựu ước có đoạn nói về dân Do thái phải bước vào một trận chiến cam go với người Amalek. Từ sáng sớm, Môisen đã đi lên núi với Aharon và một người phụ tá. Trên đó, Môisen đã giơ tay lên trời cầu nguyện. Và hễ ông giơ tay lên thì dân Do thái rượt quân Amalek chạy tơi bời, còn khi mõi tay hạ xuống một tí thì quân Amalek lại vùng lên đuổi dân Do thái chạy bán sống bán chết. Thành ra hai bên đánh nhau mà cứ như trò chơi ngày hội. Nhưng cuối cùng, dân Do thái đã toàn thắng nhờ đôi tay của Môisen được giơ lên cho đến chiều tối.

Một sức mạnh tâm linh đã được truyền qua Môisen sang người Do thái, và nhờ thế họ đã đánh bại quân Amalek.

Nếu một thẩm phán bất lương, một quan toà bạo ngược mà còn phải nghe một kẻ tha thiết nài van và vững tâm kêu cầu như thế, thì huống gì là Thiên Chúa, một Thẩm phán đầy lòng xót thương.

Đọc hồi ký của Sergi, có lẽ mỗi người sẽ có những cảm xúc hay nỗi niềm khác nhau dọc theo diễn tiến của câu chuyện, nhưng phần tôi lại bị lôi cuốn ngay từ đầu bởi cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề của dịch giả Nhị Lang: Với một con người như Koudakov, mồ côi cha mẹ từ thuở bé thơ, trộm cắp đầu đường xó chợ, không ai dạy cho một câu về luân thường đạo lý, lại còn luôn được khuyến khích làm những điều thất nhân ác đức, trong một môi trường như vậy thì đáng lẽ Koudakov phải biến thành một con thú ghê tởm nhất trần gian chứ. Đàng này anh đã không trở thành con thú, nhưng lại dám một mình đột phá chống lại cả một hệ thống đàn áp tôn giáo tinh vi và một chế độ vô thần mênh mông như tại Nga. Anh đã đi từ thái cực bất lương qua thái cực thánh thiện mà không có một sự hướng dẫn hay tia sáng đạo đức nào chung quanh. Thế thì nhờ đâu mà anh đã có được sự biến đổi lạ lùng như vậy?

Cũng vậy, sức mạnh tâm linh đã được truyền sang Sergei từ người mẹ đạo đức và nhờ đó anh đã giành được phần thắng trong cuộc chiến giữa một con người không tim óc với con người có tâm hồn, giữa thế giới vô thần và thế giới niềm tin, giữa hận thù gian ác và bao dung nhân ái.

Vậy mới hay những tinh hoa của lòng đạo đức nơi cha mẹ sẽ có ảnh hưởng biết bao trên cuộc đời con cái. Nhất là khi cuộc đời đó lại đang là một cuộc chiến giữa đúng và sai, tội lỗi và thánh thiện, bất hiếu và có hiếu, đam mê buông tuồng và khổ chế hy sinh. Trước các trận chiến quyết liệt đó, cha mẹ phải là những người không ngừng giơ tay lên cao để khẩn cầu cùng Thiên Chúa cho con cái như Moisen đã khẩn cầu cho Israen. Và phải giơ tay khẩn cầu liên lỉ, từ “hừng đông” cho đến “chiều tà,” từ bắt đầu cuộc chiến cho đến khi toàn thắng. Chứ không vì mỏi mệt hay nhát đảm, quân thù

Tất nhiên, Ngài sẽ rộng lòng vạn lần hơn thẩm phán bất lương kia chứ. Ngài sẽ lắng nghe mà xoa dịu cùng đáp cứu cho kẻ nài van Ngài chứ.

Nhưng liệu tôi có đủ kiên cường và bền chí nguyện cầu như bà goá ấy hay không?

 

.

CHỨNG TỪ ĐỨC TIN

Lm. Nguyễn Hữu Thy

Có lẽ đối với một số lớn trong chúng ta, bài Tin Mừng hôm nay hình như còn mới mẽ, ít được nghe tới. Nhưng đó chính lại là cái hay, để chúng ta chăm chú nghe trọn bài, chứ không bị chia trí ngay khi vừa nghe được vài ba câu như đối với các bài Tin Mừng khác!

Thực ra, bản văn bài Tin Mừng hôm nay rất dễ hiểu. Người ta có thể nhận ra ngay được vấn đề đang được đề cập tới ở đây là gì: Đó là một người đàn bà góa, yếu đuối, cô đơn, lẻ loi, không nơi nương tựa, không có tài khoản trong ngân hàng, vô danh tiểu tốt; nói tắt là một người hoàn toàn bất lực để có thể tự vệ cho mình.

Và trong cuộc sống hằng ngày, những hoàn cảnh tương tự như thế vẫn đầy dẫy, vẫn xảy ra ngay trước mắt chúng ta. Nhưng đời là thế! Cuộc sống ô trọc chốn bể dâu này là thế! Đó là lý do thường khiến người ta đành phải thúc thủ tự hỏi: Thế thì trước một hoàn cảnh như thế, ai còn có thể làm được gì nào?

Thế nhưng thật tình cờ: một lối thoát bổng chốc xuất hiện: Người đàn bà góa nghèo hèn đã đạt được mục đích theo đuổi mình, nguyện vọng của bà đã lập tức được chấp nhận. Sự kiện đó muốn nói lên rằng, chính ở đây, trong sự thay đổi đột nhiên đó, lại chứa đựng ý nghĩa trọng yếu mà thánh sử Lu-ca muốn trình bày: Thiên Chúa sẽ lập tức ra tay nâng đỡ và bênh vực cho những ai «đã được tuyển chọn» đang thành tâm kêu cầu Người. Chính Phúc Âm đã ghi lại từng chữ rõ ràng như thế.

Dĩ nhiên, điều đó không muốn nói lên điều gì khác hơn là chân lý này: Thiên Chúa luôn luôn thương giúp; Người rất sẵn lòng thương giúp; Người thương giúp một cách mau mắn, vì chính Người là Đấng bảo vệ chở che những người nghèo đói, những người khổ đau.

Nhưng ở đây, một câu hỏi đầy tính cách thúc bách và thẳng thắn được đặt ra: Phải chăng sự thật là như thế? Phải chăng đó chẳng qua là những ảo tưởng do lòng đạo đức bày đặt ra, hoàn toàn trái ngược với những kinh nghiệm trong cuộc sống cụ thể hằng ngày? Vâng, các phương tiện truyền thông đại chúng, như báo chí, truyền thanh, truyền hình, v.v… lại trưng dẫn những chứng từ cụ thể ngược lại! Và ngay khi gặp gỡ và trao đổi với người khác, người ta cũng nghe được những điều hoàn toàn khác hẳn. Do đó, nhiều người đã cho việc cầu nguyện là vô ích, không cần thiết!

Như vậy, tất cả những kinh ngiệm đó, những điều mà người ta đã phải trải qua trên chính bản thân mình, đều đồng thanh muốn nói lên rằng: Đúng là Thiên Chúa chẳng bênh vực giúp đỡ gì cả; người ta phải nhọc nhằn vất vã không biết bao nhiêu để ngồi chờ đợi sự trợ giúp của Thiên Chúa; những người nghèo khổ cũng vẫn nghèo khổ, chứ chẳng bao giờ ngóc đầu lên được; hàng triệu người hằng ngày vẫn phải sống trong cảnh khốn cùng thảm khốc của mình, v.v… Phải chăng những người như thế không thuộc về thành phần «được tuyển chọn» của Thiên Chúa, tức những người chắc chắn sẽ được Thiên Chúa cứu chữa bênh vực, như Phúc Âm đã nói sao?

Vâng, ở đây chúng ta đang thực sự phải đối mặt với một trong những thách đố cực kỳ khó khăn và đau thương nhất của đức tin; ở đây chúng ta đang thực sự phải trực diện với vấn nạn hầu như hoàn toàn bất khả giải đáp: Vấn đề Thiên Chúa có nhậm lời cầu xin của ta hay không! Nói thế không có nghĩa là chúng ta được phép bỏ ngõ vấn đề và dừng lại ở đây. Chúng ta cần phải tìm ra câu trả lời!

Nhưng phải chăng tôi có thể trả lời là: Thiên Chúa luôn luôn trợ giúp theo cách thế của Người; Thiên Chúa đã biết rõ trước những gì hữu ích cần thiết cho chúng ta và những gì không? Hay tôi có thể trả lời là: Người ta cần phải kiên nhẫn chờ đợi trong ngày sau hết và nơi cuộc sống mai hậu, ở đó mọi sự sẽ được đền bù một cách hoàn toàn công bằng thỏa đáng?

Nếu thế, thì tất cả chỉ mới trả lời có một nửa, chỉ mới trả lời nửa vời mà thôi. Trong khi đó vấn đề khốn cùng và nghèo đói đang đày đọa hàng triệu người khắp nơi trên thế giới vẫn còn tồn đọng đó, chưa đuợc giải quyết xong, và ngày nay đối với nhiều người nó đã trở thành một thách đố cho đức tin; hay nói rõ hơn, nó đã dẫn họ hầu như tới bờ của sự mất đức tin, tức: Thiên Chúa không cứu giúp, Người vẫn im lặng và bất động, Người không hề ra tay, bởi vì đói khát, chiến tranh, nỗi khốn cùng và chết chóc vẫn còn đó và ở khắp nơi: ở Palestina, Li-băng, Pakistan, Áp-ga-nít-tan, Ấn-độ, v.v…!

Trong một trường hợp như thế, chúng ta chỉ còn có thể có hai cách trả lời:

Thứ nhất, hoặc là: «Tôi không còn cầu nguyện nữa, tôi không còn tin gì nữa cả và tôi không còn mong đợi gì nữa cả. Bởi vì tất cả chẳng có nghĩa lý gì nữa!» Hàng ngàn người nói rằng: «Ông bà xem, tôi là người thực tế; tôi đã trải qua nhiều kinh nghiệm; mọi chuyện rồi cứ thế, chẳng có cải thiện được gì đâu; tất cả đều vô ích!» Vâng, có hàng ngàn người nói như thế đó.

Và bởi vì có hàng ngàn người suy nghĩ và nói như thế, nên trên thế giới đã được cải thiện và đổi mới rất ít; bởi vì hàng ngàn người đã hành động như thế, nên trên thế giới đã có quá ít những điều thiện hảo được thực hiện; bởi vì có hàng ngàn người tự thúc thủ và sống một cách bi quan yếm thế như thế, nên cả nhân loại bị dậm chân tại chỗ; bởi vì có hàng ngàn người nói: «Đó là định mệnh, người ta đành bó buộc phải chấp nhận, chứ không thể làm gì khác được nữa, vì mọi sự trước sau rồi cũng chỉ vậy thôi», nên nhân loại đã không thể khá lên được.

Nhưng thái độ mệt mỏi, chán nãn, buông xuôi, ngờ vực và thất vọng, v.v…như thế đều không hòa hợp với tinh thần Kitô giáo.

Thứ hai, hoặc là: Tôi không bao giờ buông xuôi bỏ cuộc; cương quyết tôi phải nỗ lực tranh đấu với cuộc sống để vươn lên; tôi không thể bằng lòng với hoàn cảnh hiện tại được; tôi sẽ đổi mới những gì tôi có thể đổi mới được, vì trong cuộc sống này không bao giờ có gì mà không thay đổi được; tôi không muốn sống tiêu cực và ù lì thúc thủ; nhất định tôi phải tiến lên, chứ không dừng bước hay lui bước lại trên con đường đã đi qua; tôi không bao giờ dùng đến bạo lực, dù chung quanh tôi đang đầy dẫy đủ thứ bạo lực; tôi không thoá mạ lại khi tôi bị thóa mạ; tôi không bao giờ cùng vui cười khi thiên hạ vui cười về những bất công, những mưu mô thâm độc, quỷ quyệt và vô nhân đạo; tôi không dây mình vào những hành động bất công để hưởng lợi; tôi sống và tranh đấu cho một thế giới tốt đẹp và nhân bản hơn, dù không ai biết đến điều đó; «tôi tin tưởng vào điều thiện hảo nơi con người» (Anne Frank)(1) và luôn tìm cách giúp cho người ấy có được dịp may mắn để thể hiện được điều thiện hảo đó.

Vâng, thưa các bạn thân mến, các bạn, những người đang đọc những dòng chữ tôi viết đây, nếu như có hàng ngàn người cùng nghĩ như thế, nếu như có hàng ngàn người cũng sống như thế, và nếu như có hàng ngàn người cũng hành động như thế, thì chắc chắn thế giới sẽ được canh tân đổi mới, tương lai nhân loại sẽ tươi đẹp hơn. Những con người như thế sẽ luôn dũng cảm và đầy tin tưởng tiến bước không ngừng, luôn tìm kiếm, luôn kêu xin, luôn gõ cửa, luôn hy vọng, luôn trông cậy và không bao giờ mỏi mệt, luôn luôn sốt sắng cầu nguyện, vì họ biết rằng họ sẽ không bao giờ có thể thực hiện được hết mọi sự.

Những người như thế: Một đàng, luôn luôn sốt sắng cầu nguyện và đầy lòng tin tưởng phó thác nơi Thiên Chúa, bởi vì họ luôn xác tín được rằng mọi sự đều thuộcc về Người và tùy thuộc một mình Người mà thôi; đàng khác, họ luôn can đảm sống và hành động, vì họ biết rằng mọi sự đều đang chờ đợi bàn tay của họ, đều tùy thuộc vào họ, đều tùy thuộc vào các khả năng sáng tạo mà Chúa đã ban cho họ.

Những con người như thế luôn tâm niệm: «Nguyện xin cho Nước Cha trị đến.» Và nếu như họ thấy rằng Nước Thiên Chúa chưa được hiển trị nơi nào cả, thì ít ra Nước Thiên Chúa đã bắt đầu đặt được nền móng vững chắc trong trái tim họ.

Những con người như thế luôn biết tin tưởng vào Thiên Chúa. Và chính đức tin mang đến cho họ sự tự tín, sức mạnh nội tâm và sự bình an trong tâm hồn, một sự bình an mà không một quyền lực trần gian nào có thế ban tặng hay lấy đi được.

Và bởi vì họ tin tưởng vào Thiên Chúa và cầu nguyện cùng người, họ đã không bị lạc đường, họ sống một cách đúng đắn và hạnh phúc, và luôn thâm tín rằng: «Tốt nhất là thà thắp lên một ánh sáng nho nhỏ, còn hơn là chỉ ngồi im nguyền rủa bóng đêm!»

_____________

  1. Anne Frank, 1929-1945, người gốc Do-thái, năm 1945 cô bị mật vụ Đức Quốc Xã bắt và giết hại tại trại tập trung Bergen-Belsen. Cô đã nỗi danh qua cuốn «Das Tagesbuch der Anne F.» – Nhật Ký của Anne F. mà cô đã để lại sau khi chết.

 

.

THIÊN CHÚA CỦA NGƯỜI NGHÈO

An Phong

Xã hội loài người

Chúa Giêsu kể chuyện một quan toà bất chính, ông ta “chẳng kính sợ Thiên Chúa mà cũng chẳng coi ai ra gì”. Qua lối nói vắn gọn như thế, Chúa Giêsu muốn trình bầy cho chúng ta một con người nắm quyền hành, ngang ngạnh, “khó chơi”…; và điều đó nói lên tình trạng bế tắc, dường như không còn con đường nào để một con người nhỏ bé trong xã hội, một bà goá, có thể tìm được công lý.

“Vũ khí” của người bé mọn

Tuy nhiên, điều tưởng chừng như không thể như thế lại trở nên có thể với lòng kiên nhẫn. Lòng kiên nhẫn của bà góa đã làm cho con đường bế tắc của người yếu thế được thành tựu, nhờ vào chính sự mệt mỏi của vị quan toà cứng lòng. Người nghèo không có tiền bạc, không có sức mạnh, không có lý lẽ khôn ngoan, nhưng có một vũ khí lợi lại, đó là lòng kiên nhẫn. Chính nỗi cực nhọc của đời sống làm cho người nghèo biết kiên nhẫn và có thể đạt được mục tiêu mình mong muốn.

Dĩ nhiên, Thiên Chúa không phải là một quan án bất công. Dụ ngôn ở đây chỉ muốn củng cố kết quả của lòng kiên nhẫn trong việc cầu nguyện. Nếu như lòng kiên nhẫn có thể thay đổi lập trường của vị quán án hắc ám, thì huống hồ gì đối với Thiên Chúa.

“Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn?”

Sự kiên trì của niềm tin

Tuy nhiên, Chúa Giêsu không trình bầy ở đây một sự kiên nhẫn thuần túy con người. Chúa cho thấy căn bản của vấn đề là ở lòng tin. Chính lòng tin vào chúa giúp người ta biết kiên nhẫn. Do đó, Chúa Giêsu muốn củng cố lòng tin của người tín hữu khi khẳng định chắc chắn Thiên Chúa sẽ ra tay tiếp cứu, dù ra như Ngài có đến chậm. Đây là một vấn đề lớn của Giáo Hội sơ khai: người ta tưởng Chúa sắp đến để xét xử chung cuộc, những đợi mãi mà vẫn chưa thấy, người ta tưởng Nước của Ngài sắp tỏ hiện huy hoàng, nhưng người Kitô hữu vẫn bị bắt bớ…. Ngày nay cũng vậy, đã có rất nhiều lời tiên báo về ngày tận thế, rồi nhưng rồi mọi sự vẫn trôi qua một cách “bình thường”. Chúa Giêsu hình như hiểu rõ điều đó, Ngài phải thốt lên:

“Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng? Thực sự ta không thể hiểu được cách làm của Thiên Chúa. Việc của ta và điều Chúa Giêsu nhắc nhở ta là: hãy vững tin, đừng sợ.; vì…”Người sẽ mau chóng bênh vực họ”

Lời nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,

Có lẽ vì con chưa ý thức tình trạng bế tắc của đời con như bà goá nghèo nọ, nên con cũng chưa đủ lòng tin, lòng kiên nhẫn trong lời cầu nguyện. Con còn tìm nhiều đường lối khác để giải quyết đời con, nên chưa hoàn toàn tin vào Chúa. Xin tha thứ cho con.

 

.

QUẤY RẦY

Trầm Thiên Thu

Cuộc đời không bao giờ như ý mình muốn, mình muốn thế này thì xảy ra thế khác. Vì thế, cứ theo sự thường thì người ta cảm thấy “khó chịu” lắm. Nhưng đối với các tín nhân chân thành thì nhận biết rằng Chúa không muốn điều đó nên không xảy ra theo như ý mình. Do đó, rất cần “tôi luyện” đức tin cho vững mạnh để có thể vui sống theo ý Chúa và sẵn sàng trở nên con người mà Ngài muốn, cũng là để “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.”

Một trong những điều khiến người ta không thoải mái là tình trạng bị quấy rầy. Thật phiền toái khi người ta cứ quấy rầy đủ kiểu, không biết ngại, vì họ thuộc loại “mặt dày” lắm rồi. Khổ thật chứ chẳng chơi!

Quấy rầy là làm phiền người khác, gây ảnh hưởng đến công việc hoặc sự nghỉ ngơi của người khác, khiến người ta phải bực mình. Quấy rầy cũng có nhiều mức độ, theo dạng lì lợm với sự yêu cầu, muốn thỏa mãn mà không cần biết mình hành động không đúng chỗ, không đúng lúc.

Quấy rầy có dạng bất chính và chính đáng, tất nhiên có liên quan công lý. Quấy rầy bất chính trở thành quấy rối, quấy nhiễu – như hạch sách, đàn áp, ép buộc,… Công lý là một khái niệm xuất hiện trong lĩnh vực triết học từ thời Hy Lạp cổ đại và được phát triển mạnh mẽ trong nền khoa học pháp lý ngày nay. Công lý là sự công bằng của xã hội, là phán quyết đúng theo luật pháp, đặc biệt là thi hành Thánh Luật của Thiên Chúa: “Anh em không được làm sai lệch công lý, không được thiên vị ai và không được nhận quà hối lộ, vì quà hối lộ làm cho những kẻ khôn ngoan hoá ra đui mù và làm hỏng việc của những người công chính.” (Đnl 16:19) Đó là mệnh lệnh nghiêm chỉnh, giống như “thiết quân luật” vậy.

Công lý có từ xa xưa, thế nhưng người ta thường khinh suất và làm lệch cán cân công lý. Đó là tội ác. Alexander Hamilton (1755-1804, “cha đẻ” của Hoa Kỳ) xác định: “Nghĩa vụ đầu tiên của xã hội là công lý.” Công lý là nghĩa vụ thì ai cũng phải thực hiện, cần can đảm thực hiện công lý với tha nhân và với cả chính mình. Người ta vì sợ liên lụy mà không dám đòi công lý cho tha nhân, cao lắm thì chỉ dám đòi công lý cho mình – nhưng vẫn… run, và có khi hèn nhát với chính mình. Hằng ngày, bất công vẫn không ngừng xảy ra khắp nơi trên thế giới, thậm chí còn xảy ra ngay trong các giáo xứ và các hội đoàn, vì thế mà càng phải mạnh mẽ lên án bất công, đòi lại công lý và đừng bao giờ hèn nhát hoặc kỳ thị nhau! Đó chính là sống Luật Yêu mà Chúa Giêsu truyền dạy, vì Ngài là Vua Công Lý. Thật vậy, Ngài vẫn hiên ngang ngay khi bị người ta cấu kết với nhau mà kết án Ngài.

Kinh Thánh cho biết rằng, một lần nọ, khi Chúa Giêsu lên Đền Thờ và thấy cảnh nhố nhăng, Ngài đã “xốn mắt” nên mới nổi nóng và nói thẳng: “Nhà Ta sẽ là nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi đã biến thành sào huyệt của bọn cướp.” (Lc 19:46) Ngài nổi nóng chính đáng vì Ngài là Đấng Chí Thiện, không chấp nhận cái xấu, và Ngài muốn người ta phải cố gắng hoàn thiện hơn. Thấy cảnh trái tai gai mắt, những người yêu thích Chân-Thiện-Mỹ không thể làm ngơ được, dù biết rằng nói ra sẽ bị người ta ghét, bởi vì họ bị chạm tự ái. Quả thật, rất cần sự can đảm. Đừng ra vẻ mạnh bạo xó bếp: quỵ lụy với người ngoài mà hống hách với người thân, hèn hạ với giặc mà ác độc với đồng bào. Nếu không can đảm hành động vì ích lợi chung (tức là “công ích”) thì làm sao có những vĩ nhân và thánh nhân mà chúng ta thấy xuất hiện trong lịch sử đời và đạo? Dân oan làm sao ngước đầu lên nổi? Chúa Giêsu đến không chỉ cứu thoát những tội nhân mà còn bảo vệ công lý của đám dân đen khốn khổ bị áp bức, bị bóc lột tận xương tủy, bị lũ “đỉa” có chức quyền hút hết máu sống. Kinh Thánh xác định: “Phải một lòng KÍNH SỢ Đức Chúa, mà nắm vững và thi hành công lý, vì Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, KHÔNG DUNG THA chuyện thiên vị bất công, chuyện nhận quà hối lộ.” (2 Sb 19:7)

Cố TT John Adams (1735-1826, tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ) nhận định: “Hãy để công lý được thực hiện cho dù bầu trời có sụp đổ.” Nên vắt tay lên trán mà suy tư thật nhiều. Chính trị gia kiêm sử gia Horace Walpole (1717-1797, Anh quốc) phân tích: “Công lý là hành động của sự thật hơn là đạo đức. Sự thật cho chúng ta biết điều gì do người khác, và công lý thực hiện sự thích đáng đó. Sự bất công là hành động của dối trá.” Rất rõ ràng, chính xác!

Công lý liên quan nhiều lĩnh vực. Trong chiến tranh cũng có “bóng dáng” của công lý: Vì người ta bị áp bức nên phải đấu tranh để đòi lại công lý. Con chó bị dồn vào góc tường thì nó cũng cắn lại, dù đó là chủ của nó. Bị dồn vào thế cùng, người ta sẽ nổi loạn. Mỗi người phải “sống” ba dạng người mà Hiền triết Khổng Tử đề cập: “Người nhân không lo buồn, người trí không nghi kỵ, người dũng không sợ hãi.” Chắc chắn không dễ, nhưng cần thiết.

Ngày xưa, trong lúc quân Amalếch đến đánh Ítraen tại Rơphiđim, ông Môsê bảo ông Giôsuê: “Anh hãy chọn một số người, và ngày mai ra đánh Amalếch. Còn tôi, tôi sẽ đứng trên đỉnh đồi, tay cầm cây gậy của Thiên Chúa.” (Xh 17:9) Ông Giôsuê làm như ông Môsê đã bảo: Ông giao chiến với Amalếch, còn các ông Môsê, Aharon và Khua lên đỉnh đồi. Khi nào ông Môsê giơ tay lên thì dân Ítraen thắng thế; còn khi ông hạ tay xuống thì Amalếch thắng thế. Giơ tay lâu quá, ông Môsê mỏi tay, người ta lấy một hòn đá kê cho ông ngồi, còn ông Aharon và ông Khua thì đỡ tay ông, mỗi người một bên.

Lời cầu nguyện có sức biến đổi chính mình và người khác. Việc cầu nguyện thường được thể hiện qua việc giơ tay hoặc dang tay. Đó là một chút hy sinh khi cầu nguyện, Giáo Hội vẫn dùng dạng này khi dâng lời cầu nguyện. Và Kinh Thánh cho biết: “Ông Giôsuê đã dùng lưỡi gươm đánh bại Amalếch và dân của ông ta.” (Xh 17:13)

Tất cả chúng ta đều là những tội nhân, bị ma quỷ kiềm chế, bị thế lực đen áp đảo, bị điều xấu lôi kéo, và bị cái ác bóc lột, vì thế mà chúng ta rất cần Chúa giải nguy, cứu độ. Cầu nguyện mãi mà thấy vẫn khổ, có thể có lúc chúng ta cũng tự nhủ: “Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao?” (Tv 121:1) Và rồi với đức tin, chúng ta xác nhận nhờ ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần: “Ơn phù hộ tôi đến từ Đức Chúa là Đấng dựng nên cả đất trời.” (Tv 121:2) Chỉ có Thiên Chúa mới làm được điều đó.

Thật tuyệt vời vì Thiên Chúa trao ban cho chúng ta một “vũ khí” rất hữu hiệu: Cầu nguyện. Đúng như vậy, cầu nguyện là sức mạnh của loài người, khiến Thiên Chúa phải “mềm lòng”. Càng kiên trì cầu nguyện liên lỉ thì Thiên Chúa càng “mềm lòng”. Thánh Vịnh gia nói: “Xin Đấng gìn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước, xin Người chớ ngủ quên. Đấng gìn giữ Ítraen, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành!” (Tv 121:3-4) Điều đó không chỉ là điều mơ ước hoặc lời cầu chúc, mà là sự thật minh nhiên: “Chính Chúa là Đấng canh giữ bạn, chính Chúa là Đấng vẫn chở che, Người luôn luôn ở gần kề. Ngày sáu khắc, vầng ô không tác họa, đêm năm canh, vành nguyệt chẳng hại chi. Chúa giữ gìn bạn khỏi mọi điều bất hạnh, giữ gìn cho sinh mệnh an toàn. Chúa giữ gìn bạn lúc ra vào, lui tới, từ giờ đây cho đến mãi muôn đời.” (Tv 121:5-8)

Thiên Chúa tuyệt vời biết bao, nhưng Ngài chưa được người ta tín thác thật lòng vì người ta không thấy nhãn tiền. Đôi khi lời cầu nguyện chỉ vì ích kỷ và tư lợi chứ chưa thật lòng vì tin tưởng và yêu mến Chúa. Lại phải xét mình và “nghĩ ngợi” nhiều lắm, nếu không thì Chúa sẽ đòi công lý ở chính mỗi chúng ta, vì Ngài là Đấng công bình, chính trực: “Đường lối Đức Chúa rất mực thẳng ngay.” (Hs 14:10)

Trong thư gởi cho Timôthê, Thánh Phaolô nói: “Phần anh, hãy giữ vững những gì anh đã học được và đã tin chắc. Anh biết anh đã học với những ai. Và từ thời thơ ấu, anh đã biết Sách Thánh, sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Đức Kitô Giêsu.” (2 Tm 3:14-15) HỌC để BIẾT, BIẾT để TIN, TIN thì mới YÊU, YÊU thì cần DẠY (cho biết), DẠY thì phải GIỮ. Một chuỗi nối kết tuyệt vời biết bao! Không thể cho cái mình không có, nếu không có mà cho thì chỉ là “bánh vẽ”, là “hôn gió”, là “quà ảo”. Nói hay mà không thực hiện thì là “lẻo mép”, viết hay mà không thực hiện thì là “lẻo bút”. Cái “lẻo” nào cũng khốn!

Thật nguy hiểm, bởi vì như vậy chỉ là nói phét, là lừa dối, là giả hình: “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các người cũng vậy, bên ngoài có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác!” (Mt 23:27-28)

Luôn có điều lạ lùng đối với Lời Chúa, vì Lời Chúa có lúc làm chúng ta vui mừng, nhưng có lúc làm chúng ta đau nhói. Thuốc đắng thắng tật. Nhưng vấn đề là chúng ta có dám “uống” hay không. Thánh Phaolô xác định: “Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. Nhờ vậy, người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành.” (2 Tm 3:16-17) Những lời nhẹ nhàng mà như xoáy vào tận đáy tim, vậy mới có thể “nên người”.

Cuối cùng, Thánh Phaolô đưa ra một đề nghị và cũng là mệnh lệnh: “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ.” (2 Tm 4:2) Cứ đọc kỹ và “nuốt” từng chữ thì ai cũng đủ sức hiểu, vì không có gì phức tạp. Quả thật, người ta phải thực sự can đảm mới có thể sống tốt và bảo vệ chân lý, bảo vệ một cách tích cực chứ không nói suông, nói sau lưng, hoặc lơ là, chỉ mong hai chữ bình an cho mình. Kiểu đó chỉ là hèn nhát mà thôi.

Một hôm, Đức Giêsu kể cho các môn đệ một dụ ngôn để dạy các ông bài học về cầu nguyện liên lỉ. Trình thuật Lc 18:1-8 cho biết rằng trong một thành nọ có một ông quan toà không kính sợ Thiên Chúa mà cũng chẳng coi ai ra gì, và có một bà goá. Đích thân bà dân oan này đã nhiều lần đến thưa với ông: “Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho.” Trong suốt một thời gian khá lâu, ông không chịu xét xử cho bà. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng: “Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc.” Sự quấy rầy của bà góa đã khiến ông ta không chịu nổi. Ngày nay không ít những trường hợp tương tự như vậy, nhưng có cái khác là người ta không chịu trả lại công lý cho người kêu oan.

Kẻ ác bất chính nên cũng bất nhân, sẵn sàng làm lệch cán cân công lý. Thẩm phán ác ôn muốn làm ngơ đơn kiện của bà góa kia, muốn bỏ qua hồ sơ dân oan, có thể vì bên bị đơn đã “đi cửa sau” với cái “phong bì” dày cộm. Thế nhưng bà góa biết chắc mình bị oan nên liên tục đưa đơn kiện, quyết đòi lại công lý. Chúa Giêsu nói: “Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ.” Thiên Chúa là Quan Tòa giàu lòng thương xót, và Ngài truyền lệnh: “Hãy bênh quyền lợi kẻ mồ côi, người hèn mọn; minh oan cho người khốn khổ, kẻ bần cùng, giải phóng ai hèn mọn, ai nghèo túng, cứu khỏi nanh vuốt bọn ác nhân.” (Tv 82:3-4)

Tuy là ác nhân, quan tòa kia vẫn sợ bị quấy rầy nên xử cho xong chuyện, vì muốn yên thân chứ chẳng chút thương hại, huống chí Thiên Chúa là Đấng Thánh. Chắc chắn Ngài không để cho ai phải chịu oan uổng lâu, vấn đề là chúng ta phải vững lòng tin, kiên tâm cầu nguyện liên lỉ, chứ không nản chí hoặc thất vọng. Đức Maria đã tuyên xưng: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.” (Lc 1:51-52) Chúa rất thích chúng ta “quấy rầy” Ngài bằng cách cầu nguyện không ngừng.

Cuối cùng, Chúa Giêsu đặt vấn đề: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” Thật đáng quan ngại. Bất kỳ ai cũng bình đẳng trước mặt Chúa về nhân vị, nhân phẩm, và nhân quyền, với ba thiên chức – vương đế, tư tế và tiên tri. Tất nhiên mỗi người phải tự trả lời thành thật, không thể lươn lẹo hoặc “đánh trống lảng”, cũng không thể ỷ mình có chức có quyền, bởi vì Ngài là “Đấng thấu suốt mọi sự” (2 Mcb 7:35; 2 Mcb 9:5; 2 Mcb 15:2; 1 Cr 2:10), không ai thoát khỏi Ngài: “Đi mãi đâu cho thoát thần trí Ngài, lẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan? Con có lên trời, Chúa đang ngự đó, nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài.” (Tv 139:7-8)

Lạy Thiên Chúa công minh và chính trực, xin giúp chúng con luôn sống yêu thương trọn vẹn, thực thi công bằng và bác ái để kiến tạo hòa bình mọi nơi, mọi lúc. Xin cho mọi người biết làm trọn bổn phận của mình, tránh làm phiền người khác. Xin cho chúng con nhận ra Chúa nơi người khác, đặc biệt là nơi những con người hèn mọn. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

 

.

HÃY TỈNH THỨC VÀ SẴN SÀNG

Lm Giuse Đinh lập Liễm

A. DẪN NHẬP. 

Tỉnh thức” là hệ luận cần rút ra khi được Lời Chúa tuần trước dạy rằng mọi sự ở trần gian này đều là phù vân, tạm bợ, chỉ là những phương tiện để con người kiến tạo cho mình cuộc sống đời đời.  Ai cũng phải công nhận, cuộc sống của con người thật bấp bênh. Nhiều thi sĩ Việt nam đã diễn tả tư tưởng ấy trong thơ văn, như “Ôâi nhân sinh là thế ấy ! Như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao” (Nguyễn Khuyến).  Cho nên Lời Chúa hôm nay thúc bách chúng ta đừng coi thường chân lý nền tảng này : “Hãy tỉnh thức ! Hãy sẵn sàng”.

Trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Luca đã thu góp lại một số dụ ngôn của Đức Giêsu nói về việc phải “Tỉnh thức”. Đức Giêsu lòan báo cho các môn đệ biết : Ngài sẽ trở lại trong ngày Quang lâm. Hãy chờ đợi ngày đó. Đồng thời Ngài cũng sẽ đến với từng người khi gọi họ ra đi khỏi đời này, và ngày đó còn được giữ bí mật, nhưng chắc chắn phải đến. Ngày con người phải ra đi khỏi đời này là một bất ngờ như việc kẻ trộm đến lúc chủ nhà đang ngủ say. Ai cũng phải chịu nhận sự bất ngờ ấy, vì như người ta thường nói :”Sinh hữu hạn, tử bất kỳ”.

Đáp lại lời Chúa gọi trong Tin mừng hôm nay, mỗi người chúng ta phải có thái độ nào ? Chúng ta phải tỉnh thức và sẵn sàng chờ đợi Chúa đến. Chúa sẽ đến với chúng ta trong ngày sau hết của đời mình vào một thời gian nào không ai biết, nhưng có một điều quan trọng là chúng ta phảiû “thắt lưng và cầm đèn cháy sáng trong tay” khi Chúa đến. Tỉnh thức và sẵn sàng ở đây phải có tính cách tích cực, nghĩa là  không phải cứ ngồi đấy mà chờ hay không ngủ, hoặc ăn không ngồi rồi, nhưng tỉnh thức ở đây là tư thế của một người đang làm việc với ý thức rằng mình đang đợi Chúa đến. Phúc cho chúng ta, nếu Chúa đến trong lúc chúng ta đang làm việc thì Chúa sẽ thưởng công bội hậu như ông chủ đặt đứa đầy tớ trung thành vào bàn ăn và hầu hạ nó.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA. 

+  Bài đọc 1 : Kn 18, 6-9.

Sách Khôn ngoan được viết vào thế kỷ I trước công nguyên. Có lẽ tác giả viết sách này trong lúc dân Do thái ở bên Ai cập đang cử hành lễ Vượt Qua trong cảnh lưu đầy. Theo yêu cầu của những người Do thái di tản (diaspora), tác giả nhắc lại cho họ một biến cố vĩ đại, đó là việc Thiên Chúa giải phóng dân Ngài khỏi ách nô lệ Ai cập và chọn họ làm dân riêng. Đây là một kỷ niệm sâu đậm trong tâm khảm người Do thái.

Trong bài đọc 1 hôm nay, tác giả sách Khôn ngoan khuyên họ hãy sống xứng đáng là con cháu của thế hệ đã xuất hành khỏi Ai cập bằng cách tin tưởng vào những lời hứa của Thiên Chúa.

+  Bài đọc 2 : Dt 11,1-2. 8-9.

Đức tin chính là “bảo đảm cho những điều ta hy vọng”, là bằng chứng cho những điều ta không thấy. Đức tin của tổ phụ Abraham là gương mẫu cho chúng ta. Tin là đi trong đêm tối nhưng đầy tin cậy và kiên nhẫn trong chờ đợi.

Do lòng tin vào lời Chúa hứa mà tổ phụ Abraham đã rời bỏ quê hương xứ sở, ra đi mà không cần biết trước sẽ đi tới đâu. Đã có Chúa dẫn dắt. Và cũng do lòng tin, Abraham đã dám tế lễ con mình cho Chúa trong tuổi già của mình mà không nghĩ gì đến lời hứa của Chúa sẽ thực hiện ra sao .

 Bài Tin mừng : Lc 12,32-48.

Thánh Luca tập hợp ở đây một loạt những yếu tố có gốc gác khác nhau, nhưng chủ đề cũng chỉ là tỉnh thức và sẵn sàng. Ta chú ý đến hai dụ ngôn chính :

a) Dụ ngôn người đầy tớ: Công việc của người đầy tớ là phải sẵn sàng chờ ông chủ đi ăn cưới về, đó là “thắt lưng cho gọn” và “thắp đèn cho sẵn” vì không biết giờ nào chủ mới về. Tư thế đó đòi người đầy tớ khi vừa nghe thấy một tín hiệu nhỏ báo hiệu ông chủ về thì phải mau mắn phục vụ ngay. Như thế, tỉnh thức đi kèm với sẵn sàng và nhanh nhạy.

b) Dụ ngôn người quản lý: Thánh Luca muốn dùng từ “Người quản lý” để chỉ những người lãnh đạo. Những người được Thiên Chúa giao coi sóc giáo đòan phải trung thành phục vụ mọi người cho tới khi Chúa Quang lâm. Khi Chúa đến, những người đang phục vụ tốt sẽ được trọng thưởng; trái lại, những người lãnh đạo lơ là và biếng nhác trong việc phục vụ sẽ bị trừng phạt. Chúc vụ càng cao thì hình phạt càng nặng. Ý chính của dụ ngôn này là trung thành trong nhiệm vụ được giao phó.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

I. ĐIỀU CHÚA MUỐN DẠY HÔM NAY.

  1. Phải biết sống siêu thóat.

Đức Giêsu gọi nhóm Mười Hai là “đoàn chiên bé nhỏ” bởi vì các ông chỉ là số ít, lại không có địa vị trong xã hội và sống khó nghèo, như đàn chiên giữa sói rừng, đang khi những kẻ chống đối vừa đông lại vừa mạnh. Đức Giêsu có ý động viện họ can đảm trước những khó khăn đang chờ trước mặt, nên Chúa mới gọi họ bằng một từ ngữ thân thương “Đoàn chiên bé nhỏ”.

Nhân dịp này, Đức Giêsu còn nhắc đến ý tưởng của Chúa nhật tuần trước : Muốn làm môn đệ phải sống siêu thoát, biết chia sẻ cho người khác. Chúa động viên các ông khi đang tích trữ làm giầu vật chất, phải biết làm giầu trước mặt Thiên Chúa nữa. Hãy sắm cho mình một kho tàng trên trời được tích trữ bằng những việc lành, bằng cách bố thí những gì mình có.

Truyện : Cái lợi của tiền bạc.

Một người có ba người bạn. Lúc bình an thì hai người bạn đầu rất là thân thiết, còn người bạn thứ ba  thì giao tình sơ sài lạnh nhạt. Chẳng may, ông ta bị bắt và bị đem ra tòa xử tội. Ôâng liền xin ba người bạn đi theo để biện hộ cho mình. Nhưng người thứ nhất từ chối viện cớ bận việc không đi được. Người thứ hai bằng lòng đi đến tòa án, nhưng không dám vào trong. Chỉ có người bạn thứ ba, mặc dầu không được ông ta quí lắm, lại tỏ ra trung tín và can đảm, vào tận tòa án, hăng hái biện hộ cho ông ta đến nỗi không những trắng án mà còn được ân thưởng nữa.

Câu chuyện giúp chúng ta nhận ra rằng : người bạn thứ nhất của con người là tiền vì lúc còn sống ai cũng o bế nó, nhưng khi ta chết, nó liền bỏ rơi ta ngay và nếu nó có thương hại ta thì cũng chỉ buộc lòng  bố thí cho ta một chiếc quan tài và dăm ba cây nến, bó hoa là cùng. Còn người bạn thứ hai của con người chính là người thân trong gia đình vì khi chết đi  dù họ có thương ta bao nhiêu đi nữa thì cũng khóc lóc đôi ba lần, rồi đưa ta ra nghĩa địa chôn cất xong xuôi và lặng lẽ ra về. Riêng người bạn thứ ba của con người là các việc lành phúc đức, bố thí, vì tuy rằng lúc còn sống ta hay lơ là, khinh thường nó, đôi khi ta mắng xử tệ với nó, nhưng khi ta chết nó cương quyết theo ta đến tận tòa phán xét để bênh vực, và cuối cùng hộ tống ta vào nước thiên đàng .

Theo như câu chuyện trên H. Cousin bình luận :”Cho người nghèo của cải mình có (dù là tất cả hay chỉ một phần nhỏ để chia sẻ), chính là làm giầu trước mặt Chúa, là xây dựng cho mình một kho tàng vô tận nơi Chúa; tóm lại, là bảo đảm cho mình một phần thưởng đời đời. Tuy nhiên, đó không phải là phần thưởng cuối cùng, nhưng biến cố Nước Chúa đến phải động viên các Kitô hữu và giúp họ dấn thân với tất cả tâm hồn, đó chính là giá trị duy nhất”. 

  1. Phải biết tỉnh thức.

Để diễn tả sự gắn bó với Nước Trời, Đức Giêsu đã lần lượt dùng những dụ ngôn diễn tả bằng sự tỉnh thức dọn mình chết lành. Về hai dụ ngôn này, Mathhêu chỉ kể lại dụ ngôn “Ông chủ tỉnh thức” (Mt 24,43-44), Marcô chỉ lấy dụ ngôn “Đầy tớ tỉnh thức (Mc 13,33-35), còn ở đây Luca kể cả hai. Kiểu nói “Hãy thắt lưng, Hãy cầm đèn trong tay” được dùng để diễn tả tư thế đang làm việc, đang tỉnh thức. Ở đây diễn tả hành vi sẵn sàng, trong tư thế dọn mình để chờ đợi Chúa đến trong giờ chết.

Dụ ngôn kẻ trộm cũng diễn tả yếu tố bất ngờ,  kẻ trộm chỉ có thể hành động được khi chủ nhà ngủ say, không đề phòng. Giờ chết đến cũng bất ngờ như kẻ trộm, cho nên hãy đề phòng, hãy tỉnh thức.

Vậy tỉnh thức là gì ? 

Tỉnh thức và sẵn sàng có thể hóan đổi cho nhau : Tỉnh thức là đang ở trong tư thế sẵn sàng và sẵn sàng cũng là lúc đang tỉnh thức, đó là lúc con người đang chuẩn bị trong mọi lúc. Được chuẩn bị không có nghĩa là hoàn thành hết mọi việc mà người ta muốn hoàn thành. Nó có nghĩa là phải sống trung thực với trách nhiệm của mình trong giây phút hiện tại.

Tỉnh thức không có nghĩa là không ngủ mà là ngủ trong thức tỉnh. Tỉnh thức không phải là ngồi không mà chờ đợi, nhưng vẫn làm như thường trong tư thế chờ đợi. Có những người tỉnh thức trong kinh kệ, trong nghĩa vụ đạo đức, nhưng lại ngủ mê trong những đòi hỏi của Tin mừng. Tỉnh thức cũng không phải là suốt ngày đọc Lời Chúa, nhưng là để Lời Chúa chi phối đời mình.

Hay nói cách khác, tỉnh thức của chúng ta  là ý thức rằng sống là để yêu thương và phục vụ. Đây chính là ý nghĩa đích thực  mà Đức Giêsu nói đến trong bài Tin mừng hôm nay.

  1. Phải biết trung thành.

Trong huấn dụ về sự tỉnh thức, Chúa đã dạy chúng ta trong Tin mừng :”Hãy thắt lưng, hãy cầm đèn cháy sáng trong tay, hãy làm như người đợi ông chủ đi ăn cưới về, để khi chủ gõ cửa thì mở ngay cho chủ”. Nhiệm vụ của người đầy tớ  phải đứng chờ ông chủ về là nhiệm vụ chính yếu, người đầy tớ phải hết sức cẩn thận, không được lơ là trong một giây phút. Do đó, Chúa cũng dạy chúng ta phải trung thành trong những việc đã được trao phó, việc lớn hay việc nhỏ không quan trọng, việc quan trọng là làm tròn trách nhiệm trong ý thức, làm nhiệt tình và thực lòng chứ không vì miễn cưỡng. Việc ông chủ có hiện diện ở đấy hay không cũng không quan trọng mà cái quan trọng là lúc nào cũng làm việc một cách đầy đủ như ông chủ đang có mặt.

Truyện : Vườn hoa xinh đẹp.

Tại Thụy sĩ, có một vườn hoa tuyệt đẹp, đủ loại hoa, đủ mầu sắc. Nằm giữa vườn là một vườn hoa tráng lệ. Nhìn vườn hoa với cảnh phối trí, cắt tỉa, uốn nắn… ai cũng phải công nhận đã có một sự chăm sóc kỹ lưỡng, kèm theo một óc thẩm mỹ hiếm có của người chủ vườn. Một du khách đi qua đây, thoáng nhìn ông đã thấy như say mê. Giữa lúc đó, người làm vườn bước ra. Chủ khách chào hỏi lẫn nhau. Rồi từ chuyện hoa cỏ, cách chăm bón, trồng tỉa, sự phối hợp mầu sắc… câu chuyện đi đến chỗ thân tình.

Du khách hỏi :

– Xin lỗi cụ, cụ ở đây được bao lâu rồi ?

– Khoảng 40 năm rồi.

– Tôi đoán, có lẽ ông chủ của cụ rất sành về nghề cảnh, chắc giờ này ông có nhà ?

– Ông ta không có ở đây, thỉnh thoảng mới ghé qua đây thôi.

– Ôâng có thư từ gì với cụ không ?

– Không, ông ta bận lắm.

– Ông ta không về cũng không thư từ, thì ai trả lương cho cụ ?

– Hàng tháng tôi chỉ nhận được ngân phiếu từ ông ta  để chi phí mọi sự cho khu vườn này.

– Thế tội gì ông phải săn sóc kỹ lưỡng thế này, ông chủ có mấy khi đến thưởng ngoạn đâu ?

– Tôi thì lại không nghĩ thế, mình là một gia nhân được chủ tín nhiệm trao phó việc bảo quản khu vườn này, mình phải tận tụy chứ lúc nào ông chủ về cũng được, ông sẽ hài lòng với công việc của tôi. Hơn nữa, khi làm đẹp khu vườn cho chủ, chính tôi cũng được thưởng ngoạn cảnh đẹp  do chính tay mình làm nên.

II. ĐÁP LẠI LỜI CHÚA DẠY. 

  1. Hãy dọn mình chết lành.

Đức Giêsu gợi ý để chúng ta quan niệm cuộc đời mình như một cuộc hẹn gặp của tình yêu : Hãy chuẩn bị lòng mình cho một người đang đến. Thiên Chúa đang đến. Đức Giêsu đã loan báo Ngài sẽ trở lại trong ngày sau hết, trong ngày Quang lâm : Maranatha : Xin Chúa hãy đến. Đối với mỗi người, cái chết không thể tránh khỏi có thể được coi như cuộc gặp gỡ “mặt đối mặt” với Đấng Chí Ái.

Sự sống con người thật bấp bênh, có thể kết thúc bất cứ lúc nào. Trong tất cả mọi chuyến bay, khi máy bay vừa cất cánh và đã ổn định đường bay, các tiếp viên hàng không đều chỉ dẫn cho hành khách  phải làm những gì khi rủi mà máy bay gặp tai nạn. Sự việc này có nghĩa là mặc dù chuyến bay đã được chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng, nhưng người ta cũng chưa dám chắc là sẽ an toàn 100%, do đó, phải chuẩn bị đối phó với việc bất ngờ.

Chẳng ai biết Chúa hẹn mình đâu, trong biến cố nào, nhưng chắc chắn cuộc hẹn phải có. Chẳng ai biết giờ chết của mình lúc nào, nhưng chắc chắn giờ ấy sẽ đến. Chỉ sợ chúng ta có ảo tưởng hết sức nguy hiểm này  là mình vẫn còn thời gian. Cái ngày kinh hoàng nhất của một đời người là mình tưởng còn “ngày mai” để chuẩn bị, nhưng lại phải đối diện với một thực tế rất đỗi phũ phàng “ngày mai” ấy không bao giờ đến. Người ta có ai ngờ rằng với hai quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki bên Nhật hồi tháng 8 năm 1945 đã tiêu diệt một lúc 147.000 nhân mạng trong giây lát ?

Truyện : Thiệt hại trong thế chiến II.

Theo đài phát thanh Tòa thánh ngày 1.9.1951 dựa vào bản thống kê của Liên hiệp quốc trong đệ nhị thế chiến, số người chết như sau :

– 32 triệu người chết trong các mặt trận.

– 25 triệu người chết trong các trại giam.

– 15 đến 25 triệu thanh thiếu niên, người già trẻ nít chết vì bom đạn.

– 25 triệu người mất hết tài sản.

– 45 triệu người phải di tản hoặc lánh nạn hoặc đi đầy.

Tất cả những người chết đó có tưởng mình sẽ chết không ? Nếu tài sản chúng ta mất quá dễ dàng như vậy thì hãy tìm bám vào  những cái bền vững hơn.

Không ai muốn chết, ai cũng muốn sống mãi, nhưng thực tế không cho phép. Kẻ trước người sau mỗi người sẽ phải ra đi khỏi cõi đời này như kinh nghiệm của Văn Thiên Trường ngày xưa đã nói :”Nhân sinh tự cổ thùy vô tửlưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”: con người từ xưa đến nay ai mà không chết, phải cố mà giữ lấy tấm lòng thanh.

Ngày xưa, có một người pha trò trong cung đình. Trong nhiều năm liền đã giúp việc mua vui cho nhà vua và triều đình. Nhưng rồi ông đã phạm phải  một hành động thiếu suy xét và bị kết tội chết. Trước khi bản án được thi hành, nhà vua gọi ông ta đến và nói :”Vì nhiều lần ngươi đã đem lại cho trẫm những giờ phút vui vẻ trong bao năm qua, nên trẫm sẽ ban cho ngươi được chọn cách mà ngươi phải chết”.

Người pha trò suy nghĩ một lúc rồi đáp :”Thưa Hoàng thượng, ngài thật là chí lý, kẻ tôi tớ này xin chọn cách chết bởi tuổi già”

Nhà vua thấy rất vui vì lời đáp ấy đến nỗi ngài đã chiếu cố đến lời cầu xin của ông ta.

Phần lớn chúng ta đều muốn chọn lựa như thế. Nhưng chúng ta không biết  liệu chúng ta có được hay không.

  1. Phải tỉnh thức thế nào ? 

Thái độ cơ bản của người Kitô hữu là tỉnh thức. Người Kitô hữu phải tỉnh thức vì biết rằng mỗi khoảnh khắc đều mang một ý nghĩa đối với một giai đọan hoặc cần thiết cho sự trưởng thành, mỗi biến cố đều mang nặng sự hiện diện và tác động của Thiên Chúa.

Tỉnh thức là tình trạng đang luôn luôn  làm nhiệm vụ. Thi sĩ Tagore nói :”Tôi nằm ngủ và mơ thấy đời sống là một niềm vui. Tôi thức dậy và tôi thấy đời là bổn phận. Tôi hành động và tôi thấy bổn phận là niềm vui”. 

Khi ông Dag Hammarskjold bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai của chức vụ Tổng thư ký Liên hiệp quốc, ông đã đọc một bài diễn văn cảm tạ. Trong bài diễn văn ấy, ông trích dẫn câu thơ của một thi sĩ Thụy điển:”Phải chăng sẽ đến ngày mà niềm vui sẽ lớn và nỗi buồn phiền sẽ nhỏ”. Và ông nói thêm câu trả lời của riêng ông :”Đến ngày mà chúng ta cảm thấy mình sống với một bổn phận đã hoàn thành và đáng làm, ngày ấy niềm vui sẽ lớn và chúng ta có thể coi  sự buồn phiền là chuyện nhỏ”.

Chúng ta không biết và không đoán được giờ chết của chúng ta vì giờ chết được giấu kín. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng không phải là chúng ta chết lúc nào và như thế nào mà là chúng ta sống như thế nào. Chúng ta có cố gắng sống viên mãn và nhiệt tình và không chờ khi bệnh tật hoặc tai họa mới nhận ra  bản chất bấp bênh của đời sống con người.

Tỉnh thức là biết sống mọi giây phút hiện tại cho đầy đủ, đừng để phí đi một giây phút nào qua đi trong vô ích vì thời giờ là cái vốn mà Chúa ban cho chúng ta  để làm sinh sôi nảy nở ra các việc lành phúc đức. Một tác giả nào đó đã cho chúng ta những lời khuyên chân thành và thực tế về giá trị của những giây phút hiện tại trong cuộc sống trần gian như sau :

Để nhận ra giá trị của một năm : Hãy hỏi một học sinh thi rớt cuối năm.

Để nhận ra giá trị của một tháng : Hãy hỏi một người mẹ sinh con thiếu tháng.

Để nhận ra giá trị của một tuần : Hãy hỏi người chủ bút của tờ tuần báo.

Để nhận ra giá trị của một ngày :  Hãy hỏi công nhân lao động phải nuôi 10 đứa con.

Để nhận ra giá trị của một giờ :  Hãy hỏi những tình nhân phải chờ đợi nhau.

Để nhận ra giá trị của một phút : Hãy hỏi người vừa trễ chuyến xe lửa, hay xe búyt.

Để nhận giá trị của một giây : Hãy hỏi người vừa thóat khỏi tai nạn.

Để nhận ra giá trị của một sao : Hãy hỏi nhà thể thao Olympic được huy chương bạc.

Và sau cùng để nhận ra giá trị của một đời người : Hãy hỏi, ai sẽ khóc trong buổi tang lễ của bạn (Nguyễn văn Thái).

  1. Đã chuẩn bị sẵn sàng chưa ?

Đại tướng Marc Arthur sau đệ nhị thế chiếân, với tư cách của một tướng lãnh già dặn kinh nghiệm trong binh pháp, có nói :”Lịch sử của những thảm bại trong chiến tranh có thể tóm gọn trong hai chữ :”Quá muộn”. Quá muộn vì chưa sẵn sàng. Quá muộn vì chưa chuẩn bị đủ.

Có lẽ vị tướng này đã từng nghiền ngẫm câu nói của một danh tướng thời La mã xưa để làm cẩm nang cho việc điều hành chiến tranh :”Si vis pacem, para belluu” : Nếu muốn được bình yên, phải chuẩn bị chiến tranh.

Và thời xưa người Trung quốc cũng đã từng có tư tưởng như vậy :Bình thời luyện vũ, lọan thế độc thư” : Thời bình thì phải lo luyện võ, thời lọan thì phải lo đọc sách.  Nói như vậy là người ta khuyến cáo họ, lúc bình yên thì đừng ngồi không đấy mà hưởng thụ, mà phải luyện võ, phải chuẩn bị chiến tranh, để khi chiến tranh xẩy đến thì đã sẵn sàng, đã chuẩn bị  để đối đầu với mọi tình huống bất trắc có thể xẩy ra.

Đối với giờ chết cũng vậy, đang lúc sống thì phải nghĩ đến lúc chết để đề phòng. Nếu ai đã từng chuẩn bị cho giờ chết thì họ sẽ bình tĩnh trong giờ chết, họ bình tĩnh chờ đợi cho giờ ấy xẩy đến vì họ coi mình như nắm chắc được phần rỗi, vì người ta đã khẳng định rằng :”Sống sao chết vậy”.

Nhưng chúng ta hay có ảo tưởng rằng giờ chết còn xa, chưa cần phải chuẩn bị gấp, họ chưa hiểu được câu ngạn ngữ dân gian :”Sinh hữu hạn, tử bất kỳ”, vì thế họ cứ từ từ, chờ đến tuổi già mớùi chuẩn bị. Nhưng ai biết được chữ “ngờ”, ai ngờ được kẻ trộm đến lúc mình không tỉnh thức.

Một nhà văn hào kể một câu truyện giả tưởng. Satan họp đại hội thảo luận phương thức chiếm đọat các linh hồn. Nhiều ý kiến của các cấp quỉ được phát biểu. Nhưng ý kiến được đại hội tán đồng là của một quỉ già đầy kinh nghiệm. Đó là rỉ tai câu này : Gấp gì, còn kịp chán, để gần chết rồi ăn năn trở lại, hãy sống vui đã !

Chúng ta còn trẻ hay đã già, khỏe mạnh hay đau yếu, điều đó không quan trọng, nhưng quan trọng ở chỗ là chúng ta đang sống thế nào ? Đang tỉnh thức hay ngủ mê ? Có biết chu tòan nhiệm vụ được trao phó không ?

Truyện : Cứ tiếp tục họp

Một ngày nọ vào năm 1780 bỗng dưng cả vùng tiểu bang Connecticut bị tối hẳn lại. Ai nấy đều cho rằng đã đến ngày tận thế. Khi đó hội đồng lập pháp tiểu bang đang họp. Nhiều người yêu cầu hoãn cuộc họp để họ có thể về nhà cùng với gia đình chờ Chúa đến.  Nhưng ông chủ tịch nói :”Không biết hôm nay có phải là tận thế không : nếu không thì không cần hoãn họp.  Còn nếu phải thì chúng ta càng cần chu tòan nhiệm vụ hơn nữa. Xin thắp nến lên” (Drinkwater).

Ai cũng muốn chết trong sự bình an. Chớ gì những giây phút cuối cùng chuẩn bị đi vào đời sau, ta cảm thấy Chúa ở gần như người mẹ ấp ủ con. Lúc đó ta thưa với Chúa rằng :”In manus tuas , Domine, commendo spritum meum” : Lạy Chúa, con xin phó dâng hồn con trong tay Chúa. Chớ gì tâm hồn ta được bình an, thảnh thơi như đứa con nằm trong tay mẹ hiền để say trong giấc ngủ ngon lành.

Một bà mẹ kể : tối đó, khi tôi đang dọn giường cho đứa con nhỏ, nó thỏ thẻ :”Mẹ ơi, mẹ ở với con khi con ngủ nhé”! Nghĩ đến bao việc nhà chưa làm sau một ngày ở sở, tôi đã tính ra ngoài để nó ngủ một mình. Chợt một ý tưởng nảy ra trong trí, tôi đến nằm bên con, đặt tay con trong tay mình. Và trong lúc đứa con chìm vào giấc mộng, ý tưởng đó biến thành lời nguyện :”Lạy Chúa, xin giúp con sống thế nào để khi bước vào hoàng hôn cuộc đời, con có thể âu yếm nói với Cha trên trời :”Cha ơi, Cha ở với con khi con ngủ nhé” !

 

.

ĐỂ PHÁN QUYẾT CÔNG BẰNG

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Thẩm phán bước vào phòng xử án, gõ búa và nói:
– Trước khi tôi bắt đầu tuyên án, tôi muốn thông báo rằng, luật sư của bị cáo đã đưa cho tôi 15.000 đôla để tôi lái vụ án theo cách của ông ấy.
– Ôi, thật thế sao? – hàng chục người trong phòng xét xử xôn xao.
Vị thẩm phán tiếp lời:
– Còn luật sư của bên nguyên đơn lại đưa cho tôi 10.000 đôla để lái theo cách của cô ta.
Phòng xử im lặng lắng nghe.
– Vì vậy, để tránh trường hợp đưa ra những phán quyết không đúng và đảm bảo sự công bằng trong việc xét xử, tôi xin phép được trả lại 5.000 đôla cho bên bị cáo. Ai có ý kiến gì nữa không?
Ông thẩm phán trong câu chuyện trên đã rất thông minh và cũng rất công bằng. Ông trả lại cho bị cáo 5 000 đô la và vụ án vẫn diễn ra công bằng mà không ai có ý kiến gì. Nhưng thực ra ông thẩm phán này vẫn nhận được số tiền 20 000 đô la.
Ở đời sao tìm sự công bằng thật khó. Dầu rằng ai cũng muốn công bằng. Ai cũng đòi công bằng nhưng có vẻ như sự công bằng không phải lúc nào cũng được thực thi trong cuộc sống.
+ Đâu đó trong xã hội vẫn có những người lương thiện thiếu thốn, đói khổ lầm than, còn những kẻ xấu xa lại ung dung hưởng thụ cuộc sống an nhàn.
+ Đâu đó trong xã hội vẫn có những người chí thú làm ăn mà vẫn nợ trước trả sau còn kẻ lừa đảo lại ăn uống dư thừa.
+ Đâu đó trong xã hội vẫn có người liêm chính bị thiệt thòi, tù đầy còn kẻ tham quan tham nhũng lại sống vương giả giầu sang.
Phải chăng công lý vẫn là một giấc mơ của con người? Giấc mơ một xã hội không còn phân biệt giai cấp hay màu da? Giấc mơ một xã hội không còn tiếng khóc của oan khiên trái ngang?
Hôm nay Chúa bảo chúng ta hãy an tâm, vì “chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao ? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi ? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ” (Lc 18,7).
Chúng ta hãy tin vào Thiên Chúa quyền năng và sự công minh chính trực của Ngài. Ngài sẽ ban lại công bằng cho chúng ta nếu chúng ta biết kêu xin Người. Ngài sẽ đòi lại công lý nếu chúng ta biết van xin Ngài. Ngài sẽ không để ai thất vọng hổ ngươi vì đã tin tưởng và cậy trông vào Ngài.
Kinh Thánh đã nhiều lần cho thấy Thiên Chúa đòi lại công bằng cho dân Ngài. Khi Cain giết Abel, Thiên Chúa đã nói “máu của Abel đã kêu thấu tới trời và từ nay vạn vật sẽ đứng lên chống lại con người. Khi dân israel bị áp bức bên Ai Cập, Thiên Chúa đã sai Mô-sê đến giải thoát dân Người và trừng phạt Pharao bằng biết bao tai ương hoạn nạn.
Sống giữa một xã hội đầy bất công Chúa mời gọi chúng ta hãy tin thác vào Chúa. Hãy kêu cầu Chúa vì Ngài là vị thẩm phán chí công. Ngài sẽ trả lại công lý cho dân Người. Hãy kiên trì trong cầu nguyện thì chắc chắn Chúa sẽ đáp ứng nguyện vọng cho ta vì Thánh Vịnh đã từng nói:  “Đấng gìn giữ Ítraen, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành!” (Tv 121:3-4). Chúng ta hãy tin vào sự công minh của Chúa, và Ngài sẽ “giữ gìn bạn khỏi mọi điều bất hạnh, giữ gìn cho sinh mệnh an toàn. Chúa giữ gìn bạn lúc ra vào, lui tới, từ giờ đây cho đến mãi muôn đời” (Tv 121:5-8).
Thiên Chúa thật tuyệt vời biết bao! Ước gì chúng ta hãy tín thác vào Chúa để Ngài sẽ mang lại hòa bình công lý cho chúng ta. Amen.

 

.

PHẢI CẦU NGUYỆN ĐỪNG NGÃ LÒNG

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Bài Tin Mừng hôm nay bắt đầu : “Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn, dạy các ông phải cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng”. Dụ ngôn nói về một bà goá gây phiền hà. Để trả lời cho câu hỏi “Chúng ta phải cầu nguyện bao lâu?” Chúa Giêsu trả lời, “phải cầu nguyện luôn!” (Lc 18, 1-2).

Bà góa trong dụ ngôn tin chắc vào vụ kiện của mình, khi chứng tỏ rằng bà đáng được đền bù, nên không ngại đấu tranh vì điều đó, bà có đủ  lý do để khiếu kiện, vì các thẩm phán hành động không theo công lý, “họ không kính sợ Thiên Chúa, cũng không kiêng nể người ta” (Lc 18, 3). Chúa Giêsu không ngại gọi ông là “vị thẩm phán bất lương” (Lc 18, 7), vị này không có ý định xử vụ bà góa kiện, ông chẳng thèm để ý đến vụ kiện của bà. May thay, câu chuyện kết thúc tốt đẹp : từ chối mãi, cuối cùng ông mất kiên nhận vì sự quấy rầy của bà, nên xét xử cho bà, để ông khỏi nhức óc.

Và Chúa Giêsu phán : “Các con hãy nghe lời vị thẩm phán bất lương đó nói”. Cuối cùng vị thẩm phán đó cũng mang lại công lý, hơn nữa chúng ta chắc chắn rằng Thiên Chúa sẽ nghe lời chúng ta. Chúa Giêsu tuyên bố một cách long trọng rằng : “Thầy bảo các con, Chúa lại sẽ kíp giải oan cho họ”  (Lc 18, 8).

Để chúng ta yên tâm Thánh Luca giải thích rằng, “Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ một dụ ngôn, dạy các ông phải cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng (Lc 18, 1). Nguy cơ chán nản thất vọng, khiến chúng ta ngã lòng là vì Thiên Chúa nhân lành không nhận lời chúng ta ngay? Nghĩa là Thiên Chúa có thể trì hoãn đáp lời chúng ta. Đáng ngạc nhiên nhất Đức Giêsu bảo chúng ta “phải luôn luôn cầu nguyện không ngừng”, cần phải kiên trì.

Để giúp chúng ta giải quyết nghịch lý này, phụng vụ cho chúng ta đọc sách Xuất Hành (17, 8-13) có Môisen cầu bầu cho dân Israel trong trận chiến với người Amalec kẻ thù cha truyền con nối. Tình trạng của dân Israel cũng giống như bà góa trong Tin Mừng (Lc 18, 1-8). Israel chiến thắng là do tác động của Thiên Chúa chứ không chỉ bằng vũ lực của các chiến binh. Vì thế, khi nào Môisen mệt mỏi, hạ tay xuống, thì Israel thua trần, còn nếu ông cứ giơ tay lên, thì dân Israel thằng trận (Xh 17, 12). Thực tế cho thấy sức mạnh và sự kiên trì cầu nguyện là chìa khóa để chiến thắng. Môisen đã thể hiện niềm tin của mình vào Thiên Chúa công bình, khi cánh tay của ông giơ cao, dân chúng thấy sức mạnh của  lời cầu nguyện. Tóm lại, Bài đọc I cho thấy niềm tin vào Thiên Chúa có thể đảo ngược những tình huống tuyệt vọng nhất. Thiên Chúa ban ơn cách mau lẹ, Ngài mau đáp lời, nhưng một cuộc chiến vẫn được thực hiện, ân sủng phải được thể hiện trong nhân loại, chúng ta cần có thời gian để khám phá. Sự kiên trì cầu nguyện của con người và sự đáp trả từ từ của Thiên Chúa không phải là mâu thuẫn.

Điểm này khai sáng trang Tin Mừng. “Thầy bảo các con” Chúa Giêsu trả lời chúng ta. Đây không phải là một câu hỏi nhưng một điều chắc chắn : Thiên Chúa nhân lành vẫn lo lắng và ban cho con cái mọi điều chúng cần. Dụ ngôn giúp chúng ta hiểu những gì Chúa quan tâm : “Nhưng khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”. Thật vậy, Thiên Chúa sẽ minh oan cho người Ngài tuyển chọn “kẻ ngày đêm kêu cầu Ngài”. Trong số những người nghe dụ ngôn, làm thế nào “kêu cầu cùng [Thiên Chúa ] ngày và đêm”? Đây là lý do tại sao chúng ta phải luôn luôn cầu nguyện và kiên trì nữa để duy trì lòng tin của chúng ta!

Sự cầu nguyện, như tình yêu, không chịu sự tính toán. Một người mẹ đâu có hỏi bà phải thường yêu con mình bao lâu, hay là một người bạn đâu có hỏi mình phải yêu một người bạn bao lâu? Có thể có những mức độ khác nhau trong sự cân nhắc đối với tình yêu, nhưng không có những khoảng cách nhiều hay ít điều hòa hơn trong sự yêu đương. Với sự cầu nguyện cũng vậy. Lý tưởng của sự cầu nguyện kiên trì này được thực hiện trong nhiều hình thức bên phương Đông và phương Tây. Kitô giáo phương Đông thực hành điều ấy với Kinh cầu nguyện Chúa Giêsu: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót con!

Thánh Augustine dạy rằng bản chất của sự cầu nguyện là sự ước muốn. Nếu sự ước muốn đối với Thiên Chúa là kiên trì, thì sự cầu nguyện cũng vậy, nhưng nếu không có sự ước muốn nội tâm, bấy giờ bạn có thể la hét nhiều như bạn muốn với Thiên Chúa thinh lặng.

Bây giờ, sự ước muốn bí mật đối với Chúa, một công việc của trí nhớ, của nhu cầu đối với sự vô cùng, của sự tưởng nhớ đến Chúa, có thể vẫn sống động, cả khi người ta có những sự khác phải làm: “Cầu nguyện lâu giờ cũng không là một sự như quì gối hay chấp tay lâu giờ. Cầu nguyện đúng hơn hệ tại sự đánh thức một sự thúc đẩy kiên trì và thành kính tâm hồn đối với Đấng chúng ta cầu khẩn.

Chính Chúa Giêsu cho chúng ta gương cầu nguyện không ngừng. Người đã cầu nguyện ban ngày, ban chiều, sớm ban mai, và thỉnh thoảng Người thức suốt đêm cầu nguyện. Sự cầu nguyện là sợi giây liên kết của toàn diện sự sống của Người.

Nhưng gương Chúa Giêsu nói với chúng ta một cái gì quan trọng khác. Chúng ta tự phỉnh gạt mình nếu chúng ta tưởng rằng chúng ta có thể cầu nguyện luôn, biến sự cầu nguyện thành một thứ hơi thở của linh hồn giữa sinh hoạt hằng ngày, nếu chúng ta không chỉ ra những thời gian ấn định cho sự cầu nguyện, khi chúng ta tránh khỏi mọi sự bận việc khác.

Lạy Chúa Giê-su, xin hướng lòng chúng con về với Chúa, giúp chúng con kiên trì cầu nguyện với Chúa không ngừng, xin Chúa dạy chúng con cầu nguyện, để linh hồn, thể xác, trí khôn chúng con luôn hướng về Chúa. Amen.

 

.

CẦU NGUYỆN ĐỂ THIÊN CHÚA XÓT THƯƠNG

Lm Gia-cô-bê Tạ Chúc 

Cầu nguyện như là hơi thở. Sự sống cần hơi thở, cũng như cá cần nước. Thiếu hơi thở con người sẽ không sao tồn tại. Cầu nguyện cũng vậy, nếu thiếu nó người Ki-tô hữu sẽ chết dần chết mòn, như thân cây thiếu các dưỡng chất, sẽ không phát triển được.

Nhưng cầu nguyện thế nào? Chúa Giê-su đã dạy và đã thực hành cho các môn đệ. Khi chúng con cầu nguyện, hãy nói rằng: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, hay khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng hết các cửa lại. Cầu nguyện là tạo kết nối online với Thiên Chúa 24/24. Không để cho đứt mạng, hay số máy bị thuê bao. Liên lỉ và cậy trông, kiên trì và tín thác. Thiên Chúa luôn phát tín hiệu, để con người đón nhận, và hiệp thông với Ngài. Cầu nguyện là tâm tình của một em bé, trong vòng tay nhân từ của bố mẹ, nó say sưa ngủ, mặc cho xung quanh, bức tranh của cuộc đời, với  biết bao điều sáng tối từng phút giây đang diễn ra. Cầu nguyện bằng khẩu nguyện, có lẻ đơn giản và dễ thực hành nhất. Dùng miệng đễ đọc kinh, để nói ra những gì mà mình muốn Chúa ban cho. Cá nhân hay cộng đồng, mỗi cá thể đều có thể chọn cho mình, những lời kinh, lời hát, và lời trong Thánh kinh, như là: “ mượn bút thay lời”, để giãi bày cùng Thiên Chúa. Cách thức mà Giáo hội dạy là cầu nguyện với cộng đoàn, có thể nói: “ Một giờ kinh chung, bằng một thùng kinh riêng”. Dùng trí nguyện để chiêm ngắm Chúa Giê-su, nhất là cuộc khổ nạn, và vinh quang của Ngài, khi tự mình từ cõi chết sống lại. Tâm nguyện tức là dùng con tim, để yêu thương Chúa Giê-su, và thương yêu những người xung quanh mình. Thánh Tô-ma Anquino chủ trương dùng lý trí để tin và yêu mến Thiên Chúa. Còn Augustino thì dạy hãy dùng tình yêu để gặp gỡ Chúa. Khi Chúa Giê-su vào nhà mình, Maria chọn cách ngồi bên chân Chúa để lắng nghe, bàn hỏi với Chúa. Còn Mát-ta thì lại lấy chính sự phục vụ của mình, làm phương thế cầu nguyện. Môi-sê đã kiên trì giang tay ra cầu nguyện cho dân. Cũng vậy, bà góa nghèo cũng không bỏ cuộc cho dù gặp phải những trở ngại. Sự tin tưởng và bền lòng trong cầu nguyện, sẽ mang lại những hệ quả tốt lành cho phần rỗi con người.

Mẹ Thánh Têrêxa Calcutta nói:

“Cầu nguyện là gìn giữ cho ngọn đèn đức tin luôn cháy sáng. Hoa trái của cầu nguyện là đức tin. Hoa trái của đức tin là tình yêu. Hoa trái của tình yêu là phục vụ. Hoa trái của phục vụ là bình an”.

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết cầu nguyện không ngừng, trong mọi hoàn cảnh, hay thậm chí là những nghịch cảnh. Xin cho chúng con gặp được Chúa qua, những cử hành phụng vụ, qua các giờ kinh cộng đoàn. Và xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ. Mỗi ngày, con chọn một lời kinh, cùng với những hy sinh, để dâng lên cho Thiên Chúa, xin Chúa đoái nhận và dạy dỗ con từng phút giây trong đời. Amen.

 

.

CHÚA GIÊ-SU DẠY CẦU NGUYỆN

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Theo tục lệ của người Do thái, Chúa Giêsu cầu nguyện một ngày 3 lần: buổi sáng khi mặt trời mọc, buổi chiều vào lúc cử hành hy tế trong đền thờ Giêrusalem (3giờ chiều) và ban tối khi màn đêm buông xuống. Trước và sau bữa ăn còn có những lời kinh tạ ơn. Các giờ cầu nguyện đó là thói quen hàng ngày của bất cứ người Do thái đạo đức nào. Nhưng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu còn có một cái gì đó vượt cao hơn mô hình truyền thống Do thái.

Lời Chúa hôm nay cho thấy giá trị và tầm quan trọng của cầu nguyện, cách thức cầu nguyện, lòng kiên trì và tính khiêm tốn trong lời cầu nguyện.

  1. Chúa Giêsu cầu nguyện.

Các sách Tin Mừng cho thấy, Chúa Giêsu cầu nguyện vào những giây phút quan trọng nhất trong cuộc đời của Người. Khi chịu Phép Rửa và nhận lãnh sứ mạng Chúa Cha giao phó (Lc 3,21); đêm trước khi chọn các môn đệ (Lc 6,12); trước khi biến hình (Lc 9,28); trước khi chữa bệnh cho nhiều người (Ga Lc 5,16); trước khi đặt ra cho các môn đệ câu hỏi quan trọng: người ta bảo Thầy là ai?; khi dạy các môn đệ cầu nguyện (Lc 11,1-2); khi các môn đệ đi truyền giáo lần đầu tiên trở về; trước khi chịu thương khó (Lc 22,34-46); trong bữa Tiệc Ly; đêm thương khó; trên Thánh giá (Lc 23,34.46)… Lời cầu nguyện đã nuôi sống tất cả sứ mạng của Người.

Các Tông đồ đã nhiều lần thấy Thầy cầu nguyện. Có lẽ khi Thầy cầu nguyện có một cái gì đó thật đẹp, thật huyền bí và cũng thật lôi cuốn tỏa ra từ nơi con người Thầy.

Vào một buổi sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Chúa Giêsu đã ra khỏi nhà ông Phêrô để tìm một nơi thanh vắng mà cầu nguyện (Mc 1,35). Chúa Giêsu phấn khởi trong Thánh Thần, Ngài ngước mắt lên trời và cầu nguyện: “Con ngợi khen Cha là Chúa trời đất, vì Cha đã mạc khải cho những kẻ bé mọn những điều mà Cha giấu không cho những bậc khôn ngoan và trí thức biết” (Lc 10,21).

Chúa Giêsu ngước mắt lên trời tâm sự với Chúa Cha rằng: “Con cảm tạ Cha vì Cha đã nghe lời con cầu xin. Vâng, con biết rằng lúc nào Cha cũng vẫn nghe lời con xin. Sở dĩ con nói thế là để những người đang đứng bên con đây tin rằng Cha đã sai con” (Ga 11,41-41). Đặc biệt là trong phòng Tiệc Ly, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời để cầu nguyện với Chúa Cha. Tâm sự ngỏ với Cha rất nhiều lời tha thiết (Ga 17).

Trong vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu quỳ gối và cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu đựoc thì xin cho con khỏi uống chén này, nhưng xin đừng theo ý con, xin chỉ thực hiện ý của Cha” (Lc 22,42).

Lúc hấp hối trên Thánh giá, Chúa Giêsu cầu nguyện dâng lên ba lời tâm sự tha thiết: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm; Lạy Cha, sao Cha bỏ con?; Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.

Chiêm ngắm Chúa Giêsu cầu nguyện, ta có thể hiểu rằng:

–     Tư thế cầu nguyện rất linh động: có thể quỳ, có thể đứng, có thể ngồi…Ánh mắt ngước lên trời cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa Cha trong cõi vô biên, hoặc nhắm mắt lại để cho hồn xoáy vào vô biên ấy.

–     Nội dung cầu nguyện là ngỏ bày tâm tình của mình cho Chúa Cha. Tâm tình có khi là ngợi khen, chúc tụng, cảm tạ, có khi là thống hối, cầu xin. Luôn luôn kết thúc bằng hai ý nguyện: xin đừng theo ý con mà là theo ý Cha và con xin phó thác hồn con trong tay Cha.

–     Nơi chốn cầu nguyện có thể là một nơi thanh vắng (Lc 5,16), trên núi (Lc 6,12;9,28), mà cũng có thể là nơi chỗ đông người (Ga 12,28).

–     Thời gian cầu nguyện là bất cứ lúc nào, nhưng tốt nhất là sáng sớm tinh mơ hay lúc đêm về.

–     Đỉnh cao của cầu nguyện chính là “xin đừng theo ý con mà theo ý Cha”.

  1. Chúa Giêsu dạy cầu nguyện

Chúa Giêsu dạy phải cầu nguyện như Người hằng cầu nguyện (Lc 6,12); cầu nguyện cho các địch thù (Lc 6,28; Mt 5,34); kiên trì và tin tưởng cầu nguyện (Lc 11,5-8.9-13; Mt 7,7-11); cầu nguyện với lòng khiêm tốn để nhận ơn tha thứ (Lc18,9-14); vững tâm cầu nguyện đón chờ ngày Chúa đến (Lc 21,36); cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ (Lc 22,40.46)… Khi các môn đệ xin Người dạy cách cầu nguyện, Người dạy họ cầu nguyện với kinh Lạy Cha (Lc 11,2-4; Mt 6,9-13). Chúa Giêsu mang theo cả nhân loại trong lời cầu nguyện của mình. Người nói chuyện với Chúa Cha, bàn bạc với Chúa Cha về những việc Người làm cho công cuộc cứu độ nhân loại.

Tin mừng Chúa nhật hôm nay, Chúa Giêsu dạy về sự cần thiết và hiệu nghiệm của lời cầu xin. Phải cầu nguyện liên lỉ, đừng bao giờ nhàm chán, đừng ngã lòng. Chúa dùng Dụ ngôn minh hoạ, ông quan toà bất lương gặp bà goá kêu nài.

Bà góa cô thân cô thế nhưng lại kiên trì cương quyết, bà tin chắc cứ kêu nài, cứ van xin, thế nào quan tòa cũng chịu xét xử. Quan tòa là người chẳng sợ Thiên Chúa mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng cũng chịu thua bà góa. Ông minh xử cho bà goá không phải vì yêu thương, chẳng phải vì trách nhiệm mà là vì sợ bị quấy rầy. Một quan tòa vô đạo, bất công mà còn xét xử cho người van xin thì huống là Thiên Chúa, Đấng công minh chính trực, thưởng phạt công bằng, Đấng giàu lòng xót thương, luôn bênh đỡ những kẻ bé mọn kêu cầu Ngài!

Khi nói dụ ngôn này, Chúa Giêsu không có ý nói phải cầu xin thật dai dẳng thì mới được Thiên Chúa nhậm lời, nhưng Người muốn chúng ta tin tưởng vào hiệu lực của lời cầu xin, bởi vì “Có người cha nào, khi con mình xin cái bánh mà lại cho nó hòn đá? Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn? Nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, Người sẽ ban những của tốt lành cho những kẻ xin Người” (Mt 7,9-11).

  1. Sự cần thiết của đời sống cầu nguyện

Sống lời Chúa Giêsu dạy, Thánh Phaolô khuyên các tín hữu cầu nguyện liên tục, không ngừng, ngày đêm. Ngài nói lên sự cần thiết của cầu nguyện bằng những lời tâm tình mời gọi: “Hãy chuyên cần cầu nguyện” (Rm 12,12); “Anh em hãy bền đỗ cầu nguyện, tỉnh thức cầu nguyện và tạ ơn” (Co 14,2), “Đừng ngớt cầu nguyện” (1Thes 5,7; Rm 8,26-27).

Cầu nguyện là một vấn đề cần thiết, tối quan trọng, là một vấn đề sinh tử. Thánh Gioan Kim Khẩu so sánh sự cần thiết của lời cầu nguyện với chuyện cá trong nước. Bao lâu cá ở trong nước, nó vẫn sống, hoạt động và tăng trưởng, nhưng nếu cá bị bắt ra ngoài, chắc chắn nó sẽ chết. Cũng vậy, con người muốn sống siêu nhiên cần phải cầu nguyện, nếu không cầu nguyện họ sẽ mất ơn Chúa giúp, rồi dần dà họ sẽ mất sự sống siêu việt không khác nào cá phải chết vì không có nước.

Thánh Bênađô cũng đã so sánh sự hô hấp cần thiết cho con người như thế nào, thì lời cầu nguyện cũng cần thiết cho con người như vậy. Đối với linh hồn, cầu nguyện cần thiết cũng như hô hấp cần cho cơ thể con người. Nếu con người hô hấp khó khăn thì thân xác sẽ thành tiều tuỵ, và nếu hô hấp đình chỉ thì con người sẽ chết. Cũng thế, khi ta ít cầu nguyện, linh hồn biến thành bạc nhược, và khi ta không cầu nguyện tí nào, linh hồn ta sẽ chết đi trước mặt Chúa.

Cầu nguyện là hơi thở của linh hồn, là sự sống, là sức mạnh của người Kitô hữu. Một đức tin không có cầu nguyện thì chỉ là một niềm tin vô ngã, vật chất.

Cầu nguyện là lẽ sống. Lời cầu nguyện có một tầm quan trọng đặc biệt trong cuộc sống. Lời cầu nguyện chỉ thực sự có giá trị và sức mạnh khi phát xuất từ một đức tin có chất lượng và sống động.

  1. Đỉnh cao cầu nguyện

Phần đông người tín hữu chúng ta ít khi biết cầu nguyện trong thinh lặng. Hễ cầu nguyện là chỉ biết đọc kinh. Đọc kinh ở nhà thờ, đọc kinh ở nhà. Có khi đọc kinh nhiều mà cầu nguyện chẳng bao nhiêu. Nhưng phút giây thinh lặng là những phút giây quan trọng để lắng nghe Chúa nói. Đỉnh cao của cầu nguyện là thinh lặng kính thờ Chúa.

Cầu nguyện không phải là vấn đề của kiến thức hay kỹ thuật. Cầu nguyện luôn đi đôi với đức tin và lòng mến. Vì thế phải cầu nguyện trong Thánh Thần (Rm 8,1), đơn sơ (Lc 18,15-17), khiếm tốn (Lc 18,14), trong thầm kín (Mt 6,6).

Khi cầu nguyện tâm trí được nâng lên cùng Thiên Chúa hầu suy tôn, tán tụng, cảm mến, tạ tội, xin ơn. Trình độ cầu nguyện cao nhất là : xin đừng theo ý con mà theo ý Cha.

Trong một thế giới ồn ào náo động như hiện nay, một thế giới bị ô nhiễm về môi sinh và bị ô nhiễm về tinh thần, người Kitô hữu phải là chứng nhân cầu nguyện. Với nền công nghệ tiên tiến hiện đại, người ta “muốn là được”, chỉ cần một cái nhấp chuột là biết vô vàn thông tin cho nên con người ít kiên nhẫn và rất lười cầu nguyện, người Kitô phải nêu gương sáng trong đời sống cầu nguyện. Chúng ta cầu nguyện vì muốn nên giống Chúa Giêsu, Đấng hằng cầu nguyện liên lỉ với Cha và dạy chúng ta cách thức cầu nguyện.

Lạy Chúa Giêsu, chiêm ngắm Chúa cầu nguyện, lắng nghe Chúa dạy cầu nguyện, chúng con nhận thấy đời sống cầu nguyện thật cần thiết cho đời tâm linh. Xin cho chúng con luôn yêu mến đời sống cầu nguyện; xin cho chúng con xác tín rằng, tự sức riêng, chúng con không làm được gì cả, nhưng với ơn Chúa, chúng con làm được nhiều điều tốt lành trong cuộc sống hàng ngày. Amen.

 

.

KIÊN TRÌ TRONG CẦU NGUYỆN

Lm. G.B. Trần Văn Hào

Tôn giáo nào cũng đề cao việc cầu nguyện. Cầu nguyện là xác lập mối tương giao giữa con người với Thượng đế, giữa thụ tạo với Đấng Tạo thành. Trong Kitô giáo, cầu nguyện không những là bổn phận, nhưng còn là một nhu cầu thiết yếu để tăng triển đức tin. Như nước cần cho cá, hơi thở cần cho các sinh vật, việc cầu nguyện cũng cần thiết để chúng ta được sống và sống dồi dào.

Các tác giả Tin Mừng cũng nhiều lần thuật lại mẫu gương cầu nguyện nơi Chúa Giêsu. Chính Ngài cũng dạy các học trò phương thức cầu nguyện với Kinh Lạy Cha. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa nhấn mạnh đến sự kiên trì trong việc cầu nguyện qua dụ ngôn về một người đàn bà góa đến trước cửa quan để khẩn nài. Vậy, chúng ta phải thực hành việc cầu nguyện như thế nào?

Cầu nguyện với tâm tình con thảo cách đơn thành.

Việc cầu nguyện trong Kitô giáo khác xa với việc cầu nguyện nơi các tôn giáo khác. Sự khác biệt lớn nhất chính là đối tượng. Đấng mà chúng ta cầu khẩn không phải là một vị thần ở tít trên cao, nhưng là một người Cha rất gần gũi và thân tình. Chúa Giêsu đã nói khá nhiều về điều ấy trong cả 4 sách Tin Mừng. Một người con đến thưa chuyện với cha của mình không cần phải nhiều lời, khi người con biết rằng người bố rất yêu thương nó và biêt rõ nó đang cần gì. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một vị quan tòa khó tính hay cáu gắt, nhưng là một người Cha nhân hậu lúc nào cũng dang rộng đôi tay ôm đón chúng ta vào lòng. Vì thế khi đến với Chúa, chúng ta phải loại bỏ sự sợ hãi, nhưng cần đơn thành trải lòng mình ra để đón nhận tình yêu mà Thiên Chúa hiến trao. Chúng ta cũng cần thâm tín rằng cầu nguyện không phải chỉ là xin xỏ điều này hay điều nọ. Chúa biết rõ chúng ta đang thiếu thốn những gì. Thái độ nội tâm căn bản cần phải có khi cầu nguyện là hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa là Cha nhân lành, rất quảng đại và giàu lòng thương xót. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan 23 kể lại một kinh nghiệm mà Ngài không bao giờ quên. Lúc còn nhỏ, Ngài đi tham dự một cuộc hành hương cùng với thân phụ. Giữa một biển người mênh mông, đứa bé đứng dưới đất không nhìn thấy gì. Thấy vậy, thân phụ của Đức Thánh Cha đã đặt Ngài trên đôi vai mình. Ngài cảm thấy rất tuyệt vời. Cũng vậy, khi chúng ta đến với Chúa, Chúa ôm chúng ta trong vòng tay trìu mến. Chúa cũng đặt chúng ta trên đôi vai Ngài. Trong vòng tay yêu thương của Chúa, chúng ta không còn lý do để sợ hãi.

Cầu nguyện với tâm tình phó thác và tin tưởng.

Tại một giáo xứ nọ, người ta tổ chức học hỏi và hội thảo về việc cầu nguyện. Câu hỏi gợi ý được nêu ra là, chúng ta phải có thái độ như thế nào khi cầu nguyện? Một vị đứng lên chia sẻ như sau: “Khi cầu nguyện, chúng ta phải quỳ gối xuống, tay chắp lại để tôn thờ Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta đang đối diện. Đây là thái độ khiêm cung mà Đức Maria đã nêu gương, đặc biệt trong biến cố truyền tin”. Một vị khác nói : “Không đúng. Khi cầu nguyện chúng ta phải đứng thẳng lên, 2 tay giang rộng, đôi mắt hướng lên trời như Moise khi quân đội của ông tiến đánh quân A-ma-lếch (bài đọc 1 hôm nay). Có như thế, Môise mới chiến thắng. Khi mỏi chân và mỏi đôi tay, Moise ngồi xuống, 2 tay buông thõng và quân đội của ông bị thua tan tác”. Cuộc tranh luận khá sôi nổi với nhiều ý kiến trái chiều. Cuối cùng một chàng thanh niên đứng lên trình bày: “Kính thưa quý vị, khi cầu nguyện không biết chúng ta nên đứng hay nên quỳ, đôi tay giang ra hay chắp lại, cặp mắt mở to hướng về trời hay nhắm lại và cúi xuống cách khiêm cung. Quý vị đã tranh cãi khá nhiều. Riêng tôi, tôi đã trải qua một kinh nghiệm cụ thể. Tôi là thợ điện, một lần trèo lên cao để sửa chữa, tôi trượt chân và rơi xuống. Rất may, tôi bám được một cành cây. Hai chân chổng lên trời vướng vào một cành cây khác, đầu chúi xuống đất. Một tay tôi bám chặt vào thân cây, còn  tay kia giơ ra vung vẩy để kêu cứu. Trong lúc nguy kịch, tôi đã cầu nguyện xin Chúa đến giúp. Không biết ở trong tư thế như vậy để cầu nguyện, tôi có đẹp lòng Chúa hay không, nhưng chắc chắn Chúa đã nhận lời tôi, bằng chứng là tôi còn được sống đến ngày hôm nay”. Lời kết luận của chàng thanh niên rất ý nghĩa để chúng ta suy nghĩ. Đến nhà thờ cầu nguyện với quần áo lịch sự và thái độ trang nghiêm sốt sắng là điều rất tốt cần phải làm. Nhưng quan trọng hơn cả là thái độ nội tâm của cõi lòng chúng ta đối với Chúa. Nếu chúng ta đến với Chúa với quần áo sạch sẽ mà tâm hồn lại quá bẩn thỉu, đầy dối gian lọc lừa, thì chúng ta cầu nguyện làm sao được. Chúng ta không thể cầu nguyện với Chúa mà tâm hồn nhét đầy dao găm hay lựu đạn của oán thù, thì những lời cầu nguyện của chúng ta hoàn toàn giả dối và rống tuếch.

Cầu nguyện với tâm tình biết ơn.

Có một bà cụ quê mùa nhưng rất đạo đức. Nhà bà quá nghèo phải đong gạo từng bữa. Một hôm nhà hết gạo, bà không biết xoay sở cách nào, nhưng vẫn thành tâm cầu nguyện xin Chúa ban lương thực hằng ngày. Anh chàng thanh niên bặm trợn nhà kế bên nghe thấy bà cầu nguyện như thế liền lấy một bịch gạo quẳng sang, lúc bà không để ý tới. Khi vừa thấy bịch gạo, bà dâng lời tạ ơn Chúa ngay lập tức. Thấy vậy, chàng thanh niên nói vọng sang :  “Bà ơi, không phải Chúa cho bà đâu, bịch gạo của cháu đấy, chẳng có Chúa nào hết”. Nghe nói vậy, bà cụ lại ngước mắt lên trời và cầu nguyện tiếp : “Lạy Chúa, con cám ơn Chúa đã xui khiến anh chàng Giuđa này đem gạo đến cho con. Chúa có nhiều cách để thi ân. Con xin cảm tạ Chúa.” Tâm tình biết ơn là chìa khóa để chúng ta có thể mở toang cánh cửa của ân sủng. Mọi sự chúng ta có đều là của Chúa. Chúng ta hãy học lấy thái độ khiêm cung của người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện chứ đừng bắt chước thái độ kiêu căng trịch thượng của ông Pharisiêu. Cũng vậy, người Samari phong hủi sau khi được chữa lành đã quay lại cám ơn Chúa, được Chúa trân quý và xem đó như động thái biểu tỏ đức tin nơi anh ta. Chúa nói : “Hãy đứng dậy mà về, lòng tin của anh đã cứu chữa anh”.

Kết luận

Pascal  đã nói : “Con người nhỏ bé và yếu ớt như cây sậy. Nhưng chúng ta sẽ trở nên vĩ đại khi chúng ta biết cầu nguyện” Xin Chúa giúp chúng ta biết siêng năng cầu nguyện với sự kiên trì và thành tâm như lời Chúa dạy hôm nay.

 

.

CHÚA MONG MUỐN THẤY NIỀM TIN NÀO KHI NGƯỜI TRỞ LẠI?

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Câu chuyện dụ ngôn hôm nay trình bày một phản diện, phản diện gay gắt với niềm tin vào một Thiên Chúa như Đức Giê-su muốn trình bày! Phản diện trong hình ảnh ông quan tòa không có bất cứ niềm tin nào: ‘Chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì’. Ông không có bất kỳ một lý do nào để xót thương bà góa nghèo hèn van xin ông giúp đỡ. Cuối cùng thì chỉ vì không chịu nổi sự quấy rầy đeo bám, ông đã buộc phải ‘ra tay làm phước’ cho bà góa cô thế cô thân; cuối cùng thì vị quan tòa vô tâm đó đã ‘buộc phải’ xót thương, cho dù đó chỉ là bề ngoài và hoàn toàn bất đắc dĩ.

Khi đem một hình ảnh tiêu cực đến như thế để đối chiếu với Thiên Chúa nhân lành: “Anh em nghe ông quan tòa bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ người đã tuyển chọn, hằng đêm ngày kêu cứu với Người sao?” chắc hẳn Đức Giê-su phải có một lý do gì sâu sắc lắm.

Trước hết, ông quan tòa nọ đã bị chính Đức Giê-su gán cho thuộc từ ‘bất chính’;ông bất chínhkhông phải vì đã làm điều gì phạm pháp. Không, tuyệt nhiên không! Tương tự như ông phú hộ trong câu chuyện ‘chàng La-da-rô nghèo khổ’, ông này bị Đức Giê-su gọi là ‘bất chính’ chỉ vì một lý do duy nhất: ông đã không có một chút lòng trắc ẩn, xót thương nào.

Điều này cho chúng ta một gợi ý: thay vì tin vào một Thiên Chúa công chính, như người Do Thái vẫn thường gọi, căn cứ vào giao ước đã ký kết, thì Đức Giê-su, dầu vẫn dùng các từ ngữ cũ, mời gọi các môn đệ hướng tới sự công chính theo một nội dung hoàn toàn mới. Thiên Chúa công chính vì Người từ bi và giầu lòng xót thương (xem nội dung thư thứ nhất của Gio-an, đăc biệt các câu 2:29 và 3:7). Người là trọn vẹn công chính, bởi vì Người là Thiên Chúa trọn vẹn từ nhân! Yếu tính lớn nhất của Người là “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời…, để khỏi bị lên án, nhưng được cứu độ” (Ga 3:16-18). Dấu hiệu của Thiên Chúa từ nhân đó đã được nói tới trong Cựu Ước trong hình ảnh con rắn được Mô-sê giương cao trong sa mạc. Không may các người Do Thái đã hầu như hoàn toàn quên mất hình ảnh này… Tân Ước trái lại đã biểu lộ tình yêu này bằng Thập Giá; Con Người cũng sẽ được giương cao như vậy (Ga 3:14)): Thiên Chúa của Đức Giê-su vẫn là Thiên Chúa ba lần Thánh, nhưng không phải vì sự thánh thiện cao xa tự tại nơi một mình Người. Đối với chúng ta và cho chúng ta, Người là thánh vì Người yêu mến con người tội lỗi với tất cả lòng xót thương. Tôi ngạc nhiên khi nghe Đức Giê-su nói: ‘Thiên Chúa yêu thế gian’. Sau này khi Gio-an cho định nghĩa “Thiên Chúa là tình yêu”,ông không quên giải thích liền sau đó: ‘Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống’ (1 Ga 4:8-9).

Thế nhưng niềm tin vào một Thiên Chúa yêu thương như thế, một phản diện gay gắt với ông quan tòa bất chính trong dụ ngôn, ngay cả đối với Ki-tô hữu chúng ta, cũng có thể trở thành rất mong manh; Thiên Chúa yêu thương, Thiên Chúa xót thương vẫn có thể bị ngay chính các Ki-tô hữu mau chóng quên lãng.

Chưa khi nào ta bắt gặp một Đức Giê-su bi quan và ngờ vực đến thế: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Ngài còn thấy niềm tin trên mặt đất nữa chăng?” Tôi thiển nghĩ: nếu là niềm tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa, thì cho dầu có bị thử thách tới mấy đi nữa, chắc chắn nó sẽ vẫn mãi mãi tồn tại nơi nhân loại; niềm tin cầu khẩn với một Thiên Chúa quyền phép cũng sẽ không bao giờ kết thúc, kể cả khi con người đã hoàn toàn no đủ. Nhưng tin tuyệt đối vào một Thiên Chúa yêu thương, và biểu lộ lòng tin này cách mãnh liệt trong cầu nguyện với thái độ tin tưởng phó thác như thánh nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su đã làm, thì lại luôn có nguy cơ bị nhạt nhòa, ngay cả trong chính Giáo Hội Công Giáo. Lịch sử minh chứng: đã từng có những thời kỳ mà lòng tin vào Thiên Chúa xót thương đã hoàn toàn bị lu mờ ngay trong chính nội bộ Giáo Hội, thay vào đó người ta đề cao và quảng bá một Thiên Chúa công thẳng luận phạt tới mức đáng sợ. Sự phổ biến của học thuyết Giăng-sê-nít hay Thanh Giáo một thời trong suy nghĩ của nhiều tín hữu và giáo sĩ cho thấy điều đó. Lòng tin tuyệt đối vào một Thiên Chúa yêu thương và cứu độ rất có nguy cơ bị biến mất. May mắn thay, việc quảng bá học thuyết ‘Con Tim’ của thánh Phan-xi-cô Sa-lê (Salesian spirituality), và gần đây hơn, việc phổ biến lòng tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa cho thấy niềm tin này đang có dấu hiệu phục hồi. Rất mong lòng tôn sùng này sẽ sớm trở thành một niềm tin chân chính, chứ không chỉ là việc đạo đức bề ngoài…, để rồi, một khi trở lại trong vinh quang Thập Giá, Người sẽ vui mừng thấy niềm tin này đã lan rộng trong Hội Thánh và trên toàn trái đất.

Công việc của tôi, một linh mục của Đức Ki-tô cứu độ và xót thương, chính là thắp lên và chăm sóc cho ngọn lửa niềm tin này bừng sáng nơi tâm hồn nhiều tín hữu!

Lạy Chúa từ nhân, đã có một lần Chúa ngự đến trong giờ chết của con, và may mắn thay lần đó Chúa còn tìm thấy niềm tin này nơi con còn tồn tại chút ít. Xin Chúa tiếp tục phát huy và duy trì trong con, và trong tất cả tâm hồn các Ki-tô hữu, niềm tin vào Thiên Chúa từ ái xót thương; để bất cứ khi nào Chúa đến, cho dầu có đột ngột tới mấy, Chúa vẫn tìm thấy niềm tin này tiếp tục tồn tại, nhất là nơi con, và nơi tâm hồn các giáo dân con phục vụ, hướng dẫn. Xin Chúa tiếp tục củng cố đức tin này trong con. A-men

 

.

CÔNG LÝ

Trm Thiên Thu

Công lý là một khái niệm xuất hiện trong lĩnh vực triết học từ thời Hy Lạp cổ đại và được phát triển mạnh mẽ trong nền khoa học pháp lý ngày nay. Công lý là sự công bằng của xã hội, là phán quyết đúng theo luật pháp, đặc biệt là thi hành Thánh Luật của Thiên Chúa.

Alexander Hamilton (1755-1804, “cha đẻ” nước Mỹ) xác định: “Nghĩa vụ đầu tiên của xã hội là công lý” (The first duty of society is justice). Ai cũng phải thực hiện công lý, can đảm thực hiện công lý với tha nhân và với cả chính mình. Người ta vì sợ liên lụy mà không dám đòi công lý cho tha nhân, cao lắm thì chỉ dám đòi công lý cho mình – nhưng vẫn… run! Hàng ngày, bất công vẫn không ngừng xảy ra khắp nơi trên thế giới, thậm chí còn xảy ra ngay trong các giáo xứ và các hội đoàn, vì thế mà càng phải mạnh mẽ lên án bất công, đòi lại công lý và đừng bao giờ hèn nhát hoặc kỳ thị nhau! Đó chính là sống Luật Yêu mà Chúa Giêsu truyền dạy!

Một lần nọ, khi lên Đền Thờ, thấy cảnh nhố nhăng, Chúa Giêsu đã “ngứa mắt” nên mới nổi nóng và nói ngay: “Nhà Ta sẽ là nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi đã biến thành sào huyệt của bọn cướp” (Lc 19:46). Ngài nổi nóng vì Ngài là Đấng Chí Thiện, không chấp nhận cái xấu, và Ngài muốn người ta phải cố gắng hoàn thiện hơn. Thấy cảnh trái tai gai mắt, những người yêu thích Chân-Thiện-Mỹ không thể làm ngơ được, dù biết rằng nói ra sẽ bị người ta ghét, vì người ta “chạm tự ái”. Quả thật, rất cần can đảm. Đừng mạnh miệng xó bếp! Nếu không can đảm hành động vì ích lợi chung (Giáo huấn Xã hội của Giáo hội Công giáo gọi là “công ích”) thì làm sao có những vĩ nhân và thành nhân mà chúng ta thấy xuất hiện trong lịch sử đời và đạo? Dân oan làm sao ngước đầu lên nổi? Chúa Giêsu đến không chỉ cứu thoát những tội nhân mà còn bảo vệ công lý của đám dân đen khốn khổ bị áp bức, bị bóc lột tận xương tủy, bị lũ “đỉa” có chức quyền hút hết máu sống!

Chính trị gia kiêm sử gia Horace Walpole (1717-1797, Anh quốc) phân tích: “Công lý là hành động của sự thật hơn là đạo đức. Sự thật cho chúng ta biết điều gì do người khác, và công lý thực hiện sự thích đáng đó. Sự bất công là hành động của dối trá” (Justice is rather the activity of truth, than a virtue in itself. Truth tells us what is due to others, and justice renders that due. Injustice is acting a lie). Rất rõ ràng, chính xác. Còn John Adams (1735-1826, tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ) nhận định: “Hãy để công lý được thực hiện cho dù bầu trời có sụp đổ” (Let justice be done though the heavens should fall). Hãy vắt tay lên trán mà suy tư thật nhiều!

Chiến tranh cũng có “bóng dáng” của công lý. Người ta bị áp bức nên phải đấu tranh để đòi lại công lý. Con chó bị dồn vào góc tường thì nó cũng cắn lại, dù đó là chủ nó. Bị dồn vào thế cùng, người ta có thể nổi loạn. Mỗi người phải “sống” ba dạng người mà Hiền triết Khổng Tử đề cập: “Người nhân không lo buồn, người trí không nghi kỵ, người dũng không sợ hãi”.

Khi quân Amalếch đến đánh Ítraen tại Rơphiđim, ông Môsê bảo ông Giôsuê: “Anh hãy chọn một số người, và ngày mai ra đánh Amalếch. Còn tôi, tôi sẽ đứng trên đỉnh đồi, tay cầm cây gậy của Thiên Chúa” (Xh 17:9). Ông Giôsuê làm như ông Môsê đã bảo: Ông giao chiến với Amalếch, còn các ông Môsê, Aharon và Khua lên đỉnh đồi. Khi nào ông Môsê giơ tay lên, thì dân Ítraen thắng thế; còn khi ông hạ tay xuống, thì Amalếch thắng thế. Giơ tay lâu quá, ông Môsê mỏi tay, người ta lấy một hòn đá kê cho ông ngồi, còn ông Aharon và ông Khua thì đỡ tay ông, mỗi người một bên.

Giơ tay hoặc dang tay là một chút hy sinh kết hợp với lời cầu nguyện, Giáo hội vẫn dùng dạng này khi dâng lời cầu nguyện. Và rồi Kinh Thánh cho biết: “Ông Giôsuê đã dùng lưỡi gươm đánh bại Amalếch và dân của ông ta” (Xh 17:13).

Chúng ta đều là những tội nhân, bị ma quỷ kiềm chế, bị thế lực đen áp đảo, bị điều xấu lôi kéo, và bị cái ác bóc lột, vì thế mà chúng ta rất cần Chúa giải nguy, cứu độ. Cầu nguyện mãi mà thấy vẫn khổ, có thể có lúc chúng ta cũng tự nhủ: “Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao?” (Tv 121:1). Và rồi với đức tin, chúng ta xác nhận nhờ ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần: “Ơn phù hộ tôi đến từ Đức Chúa là Đấng dựng nên cả đất trời” (Tv 121:2).

Thiên Chúa trao ban cho chúng ta một “vũ khí” rất hữu hiệu: Cầu nguyện. Thật vậy, cầu nguyện là sức mạnh của loài người, khiến Thiên Chúa phải “mềm lòng”. Càng kiên trì cầu nguyện liên lỉ thì Thiên Chúa càng “mềm lòng”. Tác giả Thánh Vịnh nói: “Xin Đấng gìn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước, xin Người chớ ngủ quên.4 Đấng gìn giữ Ítraen, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành!” (Tv 121:3-4). Điều đó không chỉ là điều mơ ước hoặc lời cầu chúc, mà là sự thật minh nhiên: “Chính Chúa là Đấng canh giữ bạn, chính Chúa là Đấng vẫn chở che, Người luôn luôn ở gần kề. Ngày sáu khắc, vầng ô không tác hoạ, đêm năm canh, vành nguyệt chẳng hại chi. Chúa giữ gìn bạn khỏi mọi điều bất hạnh, giữ gìn cho sinh mệnh an toàn. Chúa giữ gìn bạn lúc ra vào, lui tới, từ giờ đây cho đến mãi muôn đời” (Tv 121:5-8). Thiên Chúa thật tuyệt vời biết bao, nhưng Ngài chưa được người ta tín thác thật lòng vì người ta không thấy nhãn tiền. Đôi khi lời cầu nguyện chỉ vì ích kỷ và tư lợi chứ chưa thật lòng vì tin tưởng và yêu mến Chúa. Lại phải xét mình và “nghĩ ngợi” nhiều lắm, vì nếu không thì Chúa sẽ đòi công lý ở chính mỗi chúng ta!

Thánh Phaolô nói với Thánh Timôthê: “Phần anh, hãy giữ vững những gì anh đã học được và đã tin chắc. Anh biết anh đã học với những ai. Và từ thời thơ ấu, anh đã biết Sách Thánh, sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Đức Kitô Giêsu” (2 Tm 3:14-15). HỌC để BIẾT, BIẾT để TIN, TIN thì mới YÊU, YÊU thì cần DẠY (cho biết), DẠY thì phải GIỮ. Một chuỗi nối kết tuyệt vời biết bao! Không thể cho cái mình không có, nếu không có mà cho thì chỉ là “bánh vẽ”, là “hôn gió”, là “quà ảo”. Nói hay mà không thực hiện thì là “lẻo mép”, viết hay mà không thực hiện thì là “lẻo bút”.

Cái “lẻo” nào cũng nguy hiểm, chỉ là nói phét, là lừa dối, là giả hình: “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các người cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác!” (Mt 23:27-28).

Lời Chúa có lúc làm chúng ta vui mừng, nhưng có lúc làm chúng ta đau nhói. Thuốc đắng “đã” tật. Nhưng liệu chúng ta có dám “uống” không? Thánh Phaolô xác định: “Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. Nhờ vậy, người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành” (2 Tm 3:16-17). Những lời nhẹ nhàng mà như xoáy vào tận đáy tim vậy!

Cuối cùng, Thánh Phaolô đề nghị như một mệnh lệnh: “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” (2 Tm 4:2). Cứ đọc kỹ và “nuốt” từng chữ thì ai cũng đủ sức hiểu, vì không có gì phức tạp. Quả thật, người ta phải thực sự can đảm mới có thể sống tốt và bảo vệ chân lý, bảo vệ một cách tích cực chứ không nói suông, nói sau lưng, hoặc lơ là, chỉ mong hai chữ bình an cho mình – đó là HÈN NHÁT.

Một hôm, Đức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn để dạy các ông phải cầu nguyện luôn và không được nản chí (Lc 18:1-8). Dụ ngôn nói rằng trong một thành nọ có một ông quan toà không kính sợ Thiên Chúa mà cũng chẳng coi ai ra gì, và có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: “Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho” (Lc 18:3). Một thời gian khá lâu, ông không chịu xét xử cho dân oan này. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng: “Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc” (Lc 18:4-5).

Cán cân công lý đã bị lệch. Thẩm phán ác ôn muốn làm ngơ đơn kiện của bà góa kia, muốn bỏ qua hồ sơ dân oan, có thể vì bên bị đơn đã “đi cửa sau” với cái “phong bì” dày cộm. Thế nhưng bà góa biết chắc mình bị oan nên liên tục đưa đơn kiện, quyết đòi lại công lý.

Rồi Chúa nói: “Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ” (Lc 18:6-8a).

Quan tòa kia là ác nhân mà còn sợ bị quấy rầy nên xử cho xong, huống chí Thiên Chúa là Đấng Thánh. Chắc chắn Ngài không để ai chịu oan uổng lâu, vấn đề là chúng ta đừng nản chí thất vọng, hãy kiên tâm cầu nguyện liên lỉ. Đức Maria đã tuyên xưng: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1:51-52). Chúa rất thích chúng ta “quấy rầy” Ngài bằng cách cầu nguyện không ngừng.

Cuối cùng, chúng ta phải lưu ý câu hỏi của Chúa Giêsu: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18:8b). Mỗi người phải tự trả lời thành thật, không thể lươn lẹo hoặc “đánh trống lảng”, cũng không thể ỷ mình có chức có quyền, vì Ngài là “Đấng thấu suốt mọi sự” (2 Mcb 7:35; 2 Mcb 9:5; 2 Mcb 15:2; 1 Cr 2:10), dù chúng ta có trốn lên trời hoặc chui xuống âm ty cũng không thoát Ngài (Tv 139:8), và bất kỳ ai cũng bình đẳng trước mặt Chúa về nhân vị, nhân phẩm, và nhân quyền, với ba thiên chức (vương đế, tư tế và tiên tri).

Ly Thiên Chúa chí minh, chí công và chính trc, xin giúp chúng con cam đm thc s, không hèn nhát, không nghi k, sng công bng và th hin đc bác ái đúng mc đ kiến to hòa bình đích thc, có th sng như thiêđàng ngay trên thế gian này. Chúng con cu xin nhân danh Thánh T Giêsu, Đng cu đ chúng con. Amen.

 

.

LẠI QUẤY RẦY

JM. Lam Thy

Trước đây Đức Ki-tô đã kể dụ ngôn “Người bạn quấy rầy” (CN XVII/TN-C – Lc 11, 5-8) nói về một người bạn đến xin bạn bánh vào nửa đêm. Dù cho người bạn có bánh trả lời: “Xin anh đừng quấy rầy tôi: cửa đã đóng rồi, các cháu lại ngủ cùng giường với tôi, tôi không thể dậy lấy bánh cho anh được?”; nhưng người xin “cứ lì ra đó” để cuối cùng người bạn “không dậy để cho người này vì tình bạn, thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh ta cần, vì anh ta cứ lì ra đó.” Người xin bánh đạt kết quả nhờ anh ta biết kiên trì. Bài Tin Mừng hôm nay (CN XXIX/TN-C – Lc 18, 1-8), Đức Ki-tô lại kể một dụ ngôn về “quấy rầy”. Chuyện lần này không phải là bạn bè ngang vai phải lứa quấy rầy nhau, mà là chuyện một bà goá quấy rầy một ông quan toà. Quan hệ hai bên là quan hệ giai cấp, giữa một bên là giai cấp thống trị và bên kia là giai cấp bị trị. Không có chuyện bạn bè nể tình nhau, và đối tượng bị quấy rầy lại là kẻ “chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì” (Lc 8, 2). Vậy mà cuối cùng cũng đành thua cái đức “lì” của bà goá.

Có hai vấn đề cần suy gẫm: Thứ nhất là lòng tin và đức tinh kiên trì của bà goá. Trong xã hội Do-thái thời đó, các bà goá thường bị xã hội đối xử bất công, bị ức hiếp bóc lột tàn tệ. Chạy đến với quan toà vì bà nghĩ quan toà là những người chuyên xử án công minh và sẵn sàng bênh vực những kẻ cô thế cô thân. Nhờ niềm tin ấy, bà hy vọng sẽ đạt được ước nguyện, và đó cũng là lẽ thường tình. Vấn đề thứ hai là đối tượng mà bà goá đặt niềm tin và hy vọng, giả thử cũng là chỗ quen biết thân cận thì chắc chắn sẽ được nể tình giúp đỡ; nhưng ở đây lại là một quan tham bất chính, đã không coi ai ra gì thì chớ, lại còn bất kính với cả Thiên Chúa nữa. Mấu chốt chính ở điểm này: Với một quan phụ mẫu bất lương như thế, nhưng nhờ lòng tin và nhất là sự kiên trì “quấy rầy” của bà goá, việc bà kêu xin rốt lại cũng được giải quyết. Cũng vì đây là một dụ ngôn, nên phải hiểu ý nghĩa ẩn dụ trong đó: Bà goá đã nêu gương sáng cho vấn đề cầu nguyện.

Nói đến cầu nguyện là nói đến yếu tố sống còn của một tôn giáo. Cầu nguyện được ví như hơi thở, là hoạt động căn bản của đời sống tâm linh người tín hữu. Cầu nguyện đối với người Ki-tô hữu, chính là thể hiện niềm tin, phó thác cho sự an bài quan phòng của Thiên Chúa. Thực thế, “Cầu nguyện giúp người tín hữu tin, cử hành và sống mầu nhiệm đức tin trong tương quan sống động và thân tình với Thiên Chúa hằng sống và chân thật… Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên Chúa hay cầu xin Người ban cho những ơn cần thiết. Khiêm nhường là tâm tình căn bản của cầu nguyện, “vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải” (Rm 8, 26). Khiêm nhường là tâm tình phải có để đón nhận được ơn cầu nguyện: trước mặt Thiên Chúa, con người chỉ là kẻ van xin (x. T. Au-gus-ti-nô, bài giảng 56, 6, 9.)… Thánh Kinh trình bày việc Áp-ra-ham và Gia-cóp cầu nguyện như một cuộc chiến đức tin để giữ lòng tín thác vào Thiên Chúa trung thành và xác tín rằng Người sẽ ban chiến thắng cho kẻ kiên trì.” (Giáo lý HTCG, số 2558-2559.2592).

Chính Đức Giê-su Ki-tô khi xuống trần thi hành sứ vụ cứu độ nhân loại, Người không những chỉ giảng dạy mà còn thực hiện việc cầu nguyện trong bất cứ một công việc hay một hoàn cảnh nào. Sách Giáo lý HTCG đã trình bày thật chi tiết về vấn đề Đức Giê-su cầu nguyện và dạy về cầu nguyện:

1- Đức Giê-su cầu nguyện (GL/HTCG số 2599-2606): Con Một Thiên Chúa khi trở thành Con Đức Trinh Nữ, đã học cầu nguyện (nơi Mẹ Maria) theo tâm tình nhân loại (Lc 1,49; 2,19; 2,51). Người đã học từ những lời kinh và những cách thức cầu nguyện của dân tộc, tại hội đường Na-da-rét và tại Đền Thờ. Đức Giê-su cầu nguyện trước những thời điểm quyết định của sứ vụ: trước khi Chúa Cha làm chứng về Người lúc Người chịu phép rửa (x. Lc 3,21) và Hiển Dung (x. Lc 9,28) ; trước khi hoàn thành ý định yêu thương của Chúa Cha nhờ cuộc khổ nạn. Người cũng cầu nguyện trước những thời điểm quyết định đối với sứ vụ của các tông đồ : trước khi chọn và gọi nhóm Mười Hai (x. Lc 6,12) ; trước khi Phê-rô tuyên xưng Người là “Đức Ki-tô của Thiên Chúa” (x. Lc 9,18-20) ; và cầu nguyện cho vị thủ lãnh các tông đồ khỏi mất lòng tin (x. Lc 22,32). Khi cầu nguyện trước các biến cố cứu độ mà Chúa Cha trao phó cho Người thực thi, Đức Giê-su khiêm tốn và tin tưởng hòa hợp ý chí nhân loại của mình với thánh ý yêu thương của Chúa Cha.

Đức Giê-su thường vào nơi thanh vắng để cầu nguyện một mình trên núi, thường là vào ban đêm. Vì đã làm người khi Nhập Thể, Đức Giê-su “mang lấy mọi người” trong lời cầu nguyện và dâng nhân loại lên Chúa Cha khi hiến dâng chính mình. Ngôi Lời “đã làm Người” đưa tất cả những gì “anh em Người” đang sống vào lời cầu nguyện (Dt 2, 12). Người đã cảm thông được những yếu đuối của họ để giải thoát họ. Chính vì thế Chúa Cha đã cử Người đến (x. Dt 2,15; 4,15). Những lời nói và việc làm của Người bộc lộ những gì Người cầu nguyện trong thầm kín. Tất cả những đau khổ của nhân loại ở mọi thời sống dưới ách nô lệ tội lỗi và sự chết, tất cả mọi lời van xin và chuyển cầu trong toàn lịch sử cứu độ, đều được quy tụ trong Tiếng Kêu Lớn của Ngôi Lời Nhập Thể (x. Mt 27,50; Mc 15,37; Lc 23,46; Ga 19,30b). Chúa Cha đã đón nhận tất cả và Người đã nhận lời vượt quá mọi hy vọng của chúng ta khi cho Chúa Con sống lại.

2- Đức Giê-su dạy cầu nguyện (GL/HTCG số 2607-2615): Khi Đức Giê-su nói với đám đông dân chúng đang theo Người, Người bắt đầu từ những gì họ đã biết về cầu nguyện theo Cựu Ước, rồi mở ra cho họ thấy nét mới mẻ của Nước Trời đang đến. Kế đó, Người mạc khải cho họ nét mới này qua các dụ ngôn. Sau cùng, đối với các môn đệ là những người sẽ phải dạy cầu nguyện trong Hội Thánh, Người nói rõ về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Ngay từ Bài Giảng Trên Núi, Đức Giê-su đã nhấn mạnh đến việc hoán cải tâm hồn: phải làm hòa với anh em trước khi đến dâng lễ vật trên bàn thờ (x. Mt 5, 23-24), phải yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bách hại mình (x. Mt 5, 44-45), phải “cầu nguyện cùng Chúa Cha, Đấng hiện diện nơi kín đáo” (x. Mt 6, 6). Khi cầu nguyện đừng lải nhải nhiều lời (x. Mt 6, 7), phải thật lòng tha thứ cho tha nhân (x. Mt 6, 14-15), giữ tâm hồn trong sạch và lo tìm kiếm Nước Trời (x. Mt 6, 21.25.33). Cuộc hoán cải này hoàn toàn hướng về Chúa Cha, đượm tình con thảo.

Khi lòng mình đã quyết tâm hoán cải, con người sẽ học biết cầu nguyện trong đức tin. Tin là gắn bó với Thiên Chúa bằng tình con thảo, vượt trên những gì thuộc giác quan và nhận thức. Chúng ta được như thế vì Con yêu dấu của Thiên Chúa đã mở đường cho ta đến cùng Chúa Cha. Chúa Con có quyền đòi chúng ta phải “tìm kiếm” và “gõ cửa”, vì chính Người là cửa và là đường (Mt 7, 7-11.13-14). Đức Giê-su cũng dạy cho chúng ta dạn dĩ như người con: “Tất cả những gì anh em xin khi cầu nguyện, anh em cứ tin là mình đã được rồi” (Mc 11, 24). Đó chính là sức mạnh của lời cầu nguyện: “cái gì cũng có thể, đối với người có lòng tin” (Mc 9,23 ); sức mạnh của một đức tin “không chút nghi nan” (Mt 21, 22). Đức Giê-su đã rất buồn khi thấy “đám bà con thân thuộc Người … không chịu tin” ( Mc 6, 6 ), và thấy các môn đệ “kém lòng tin” (Mt 8, 26 ). Trái lại người thán phục trước “lòng tin mạnh mẽ” của viên sĩ quan Rô-ma và người phụ nữ xứ Ca-na-an (Mt 8, 10; 15, 28 ).

Đức Giê-su dạy các môn đệ cầu nguyện với tâm tình muốn cộng tác với thánh ý Chúa (x. Mt 9, 38; Lc 10, 2; Ga 4, 34). Người dùng ba dụ ngôn chính để dạy về cầu nguyện: – Dụ ngôn thứ nhất, “người bạn quấy rầy” (Lc 11,5-13); – Dụ ngôn thứ hai, “Bà góa quấy rầy” (Lc 18,1-8); – Dụ ngôn thứ ba, “Người Pha-ri-sêu và người thu thuế”(Lc 18,9-14) Lúc dạy các môn đệ phải cầu nguyện với Chúa Cha, Đức Giê-su đã dạy một điểm mới là: “nhân danh Thầy mà cầu xin” (Ga 14, 13). Tin vào Người, các môn đệ sẽ nhận biết Chúa Cha, vì “chính Thầy là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14, 6 ). Đức tin này sẽ trổ sinh những hoa trái trong đức mến: giữ Lời Người, giữ các điều răn của Người, ở lại với Người trong Chúa Cha là Đấng yêu mến chúng ta trong Người đến độ ở lại với chúng ta. Trong Giao Ước mới này những lời khẩn cầu của chúng ta chắc chắn sẽ được Chúa Cha nhận lời vì dựa trên lời cầu khẩn của Đức Giê-su (Ga 14, 13-14). Hơn nữa, khi hiệp nhất lời nguyện của mình với lời cầu của Đức Giê-su, Chúa Cha “sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác, đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thánh Thần Chân Lý.” (Ga 14,16-17). Nét mới mẻ này và các điều kiện cần có khi cầu nguyện được Đức Giê-su đề cập đến trong diễn từ cáo biệt của Người (x. Ga 14, 23-26; 15, 7.16; 16, 13-15; 16, 23-27).

Trở lại với bài Tin Mừng hôm nay, sẽ thấy người đời đối với nhau còn không thể làm ngơ trước sự quấy rầy liên lỉ, huống hồ là Thiên Chúa đầy lòng nhân hậu, vốn dĩ đã coi những kẻ quấy rầy ấy là con cái. Cả hai dụ ngôn (“Người bạn quấy rầy” và “Quan toà bất chính và bà goá quấy rầy”) đều ngụ ý răn dạy: “cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho.” (Mt 7, 7-8). Mà muốn xin thì tiên vàn phải có lòng tin, thứ đến là phải biết kiên nhẫn. Nói cách khác, khi xin ai một điều gì thì phải tin tưởng vào người ấy, đồng thời phải biết nhìn lại mình xem có thật sự là thiếu thốn, nghèo đói hay không và nhất là có thực sự tin tưởng vào người mà mình muốn cầu xin hay không. Một cách cụ thể khi cất tiếng cầu xin Thiên Chúa thì không những cần phải có đức tin vững mạnh, mà đồng thời còn phải biết nhìn lại con người tội lỗi, bất toàn của mình.

Tuy nhiên, nói là nói vậy, chớ đối với con người trong xã hội loài người thì nhiều khi cái đáng tin lại không tin mà cái đáng ngờ thì lại nhắm mắt tin. Cách chữa bệnh bằng cách liếm, rờ, hoặc dùng roi đánh bệnh nhân đến ngất ngư, ở VN không thiếu, nhưng khổ một nỗi người ta vẫn cứ tin và nườm nượp kéo nhau đến cho các thầy lang hiện đại chữa bệnh một cách quái dỊ như vậy. Ấy là chưa kể nhiều khi lại tin vào cái áo hơn là con người mặc cái áo đó. Nhìn cái vỏ, cái vẻ bề ngoài hào nhoáng, đã vội cho rằng đó là đặc sản, mà không biết bên trong tốt lành hay thối rữa. Chính Con Thiên Chúa thì lại không tin và cho là “Ông không phải là con bác thợ sao? Mẹ của ông không phải là bà Ma-ri-a; anh em của ông không phải là các ông Gia-cô-bê, Giô-xếp, Si-môn và Giu-đa sao? Và chị em của ông không phải đều là bà con lối xóm với chúng ta sao? Vậy bởi đâu ông ta được như thế?” (Mt 13, 55-56). Trong khi đó, thì lại tối mắt tối mũi tin vào những ông kinh sư ngồi trên toà ông Mô-sê. Phải chăng cuộc thế này đã “đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình mà kiếm hết thầy này đến thầy nọ, bởi ngứa tai muốn nghe. Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường.” (2 Tm 3, 3-4) ?

Cũng vì thế, đọc bài TM hôm nay (Lc 18, 8), đến câu cuối (“Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”) thấy mặn đắng cổ họng. Thật chua xót khi Người nói câu này lại là Người hiện diện trên mặt đất với mục đích thắp sáng lại niềm tin đã bị lu mờ cho nhân loại. Con Người ấy, từ cuộc sống vật chất đạm bạc nơi một làng quê hẻo lánh, đến cuộc sống tinh thần vô vàn phong phú bởi những Lời giảng dạy, những câu chuyện kể, những việc làm, thậm chí đến hy sinh cả tính mạng, chỉ nhằm mục đích củng cố lại niềm tin cho loài người để tiến tới mục đích tối hậu là cứu độ nhân loại cho khỏi sự chết đời đời. Con Người kỳ vĩ ấy chính là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật, đã đến thực thi sứ mệnh như vậy đó, nhưng những người được gặp, được tiếp xúc, được dạy dỗ… đã đón tiếp như thế nào, để đến độ Người phải thốt lên câu nói chua xót như vậy? Và quả nhiên đó là một lời tiên tri, bởi cho đến ngày hôm nay, số người được nghe lời chân lý vẫn chỉ là một thiểu số khiêm nhường so với con số người chưa được nghe rao giảng. Ngay trong số những người đã được nghe, được biết Tin Mừng cứu độ, thì chẳng hiểu những người thực lòng tin tưởng có được là bao nhiêu phần trăm ?

Chúa muốn dùng những hình ảnh thật quen thuộc, thật gần gũi và rất hiện thực trong cuộc sống đời thường để dạy dỗ các tín hữu, nên mới nói đến sự quấy rầy khi cầu xin để đạt hiệu quả. Thiên Chúa không phải là người bị quấy rầy trong dụ ngôn “người bạn quấy rầy”, lại càng không phải là quan toà bị quấy rầy trong dụ ngôn “quan toà bất chính và bà goá quấy rầy”. Tấm lòng Người Cha Nhân Hậu luôn rộng mở đối với con cái, chưa cần nghe lời cầu xin thì Người đã sẵn lòng minh xét, ban phát ân huệ. (“Người không coi thường lời khấn nguyện của kẻ mồ côi, hay tiếng than van của người goá bụa” – Hc 35, 14). Duy chỉ có một điều là con cái tội lỗi, bất toàn có thực lòng ăn năn, thực lòng tin, thực lòng cầu xin hay không, mà thôi. Lời dạy “kiên trì quấy rầy” của Người là muốn các tín hữu kiên trì trong đức tin.

Theo từ nguyên thì “Kiên trì” có nghĩa: Giữ vững không đổi ý (Kiên: cứng, chắc, vững mạnh, cứng cỏi; cương quyết, không nao núng, vững vàng. Trì: cầm, nắm, giữ gìn).  Bởi cuộc sống trần thế có muôn vàn khó khăn, thử thách lòng tin của con người, nên phải kiên vững trong đức tin trước đã, nhiên hậu mới nói đến kiên trì cầu nguyện. Và như thế thì còn lo gì “Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao?” (Lc 18, 7), “lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao?” (Lc 11, 13). Cầu nguyện được ví như hơi thở, con người sống là nhờ hơi thở. Trong khi đó “một thân xác không hơi thở là một xác chết, cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết.” (Gc 2, 26). Rõ ràng người tín hữu đích thực cần thiết có hơi thở để duy trì sự sống cho thân xác như thế nào, thì cũng cần thiết sống đời cầu nguyện gắn liền với đức tin để vun đắp tài bồi đời sống tâm linh như vậy.

Cuối cùng thì chắc ai cũng đồng ý là Chúa dạy chúng ta đức tính kiên trì và nhẫn nại trong cầu nguyện. Kiên trì và nhẫn nại như tổ phụ Ap-ra-ham xin cho thành Xơ-đôm (St 18, 20-32), như chính Người Thầy Chí Thánh đã vì tội lỗi loài người mà kiên nhẫn đến độ bị đánh đòn, tra tấn, bị treo trên thập tự, đến gần tắt thở mà vẫn xin cùng Chúa Cha tha tội cho kẻ đóng đinh mình; kiên nhẫn đến độ đã tắt thở còn tiếp tục bị lưỡi đòng đâm thấu con tim. Kiên nhẫn ư? Từ Hán Việt “nhẫn” (忍) gồm 2 từ: “đao” (刀) ở trên và “tâm” (心) ở dưới, ngụ ý: nhẫn nại là chịu đựng như bị dao đâm vào tim. Lì chịu đánh, chịu đòn, chịu dao đâm vào tim, để xin Chúa Cha “tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Vâng, và chỉ có như vậy thì việc xin mới có kết quả, “Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.” (Lc 11, 10).

Ôi! “Lạy Chúa! Mũi đòng nào đâm thấu con tim, đinh nhọn nào còn loang máu đào, sỉ nhục nào còn vương trên mắt. Lạy Chúa! Những buớc nào gục ngã đau thương, bao roi đòn hằn vết thê lương, đường tình đó Ngài dành cho con. ĐK- Lạy Chúa! Xin cho con bước đi với Ngài, xin cho con cùng vác với Ngài thập giá trên đường đời con đi. Lạy Chúa! Xin cho con đóng đinh với Ngài, xin cho con cùng chết với Ngài, để được sống với Ngài vinh quang” (Văn Chi – “Con đường Chúa đã đi”). Amen.

 

.

CẦU NGUYỆN CHUYÊN NGHIỆP

AM. Trần Bình An

Đức Hồng Y Fx Nguyễn Văn Thuận thuật trong chứng từ: “Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là một người cầu nguyện, cầu nguyện không ngừng và tha thiết. Một ngày ngài vào Nhà Nguyện cầu nguyện đến bảy lần và nhất là cầu nguyện ban đêm. Vì Đức Giáo Hoàng là bạn của tôi. Nên hồi còn làm Linh Mục, Giám Mục, rồi Hồng Y, mỗi khi đến Roma thì ngài đến trọ ở nhà tôi. Nhưng có nhiều lần tôi gặp ngài ban đêm và thấy ngài cứ nằm sấp, hai tay giang ra như hình Thánh Giá như vậy, nằm trên sàn đá ở nhà nguyện. Tôi sợ ngài đau, hoặc bị cảm, sưng phổi, nên tôi phải làm cái nền Nhà Nguyện bằng gỗ cho ngài nằm!” Đức Hồng Y Thuận nhận xét: “Đức Giáo Hoàng cầu nguyện luôn như vậy, cầu nguyện nhiều lắm, hoàn toàn tín thác, tin tưởng nơi Đức Mẹ. Vì thế, ngài không tiếc gì và không sợ gì, dám làm những chuyện mà người khác không dám làm.”

Đức Hồng Y Fx Thuận kể thêm: “Có lần tôi đi qua bên Mêhicô năm 1999. Đức Thánh Cha tới trước. Ngài đến để công bố Tông Huấn “Giáo Hội tại Mỹ Châu” (Ecclesia in America) và ngày cuối cùng, 26.1.1999, Đức Thánh Cha có cuộc gặp gỡ giới trẻ ở sân vận động. Gặp xong, khi về nhà, Đức Thánh Cha nói với Đức Sứ Thần Tòa Thánh: “Mệt quá hè! Thôi đi ngủ!” Chính Đức Sứ Thần Tòa Thánh về sau thuật lại với tôi: “Lúc ấy tôi mệt quá sức, nên khi nghe Đức Thánh Cha nói: “Thôi đi ngủ!” Tôi mừng quá, vì tôi mệt rã người ra rồi… Tôi thì sợ không biết Đức Thánh Cha có thức dậy nổi không, nhưng ngài lại dặn dò tôi: “Sáng mai, nếu Đức Cha muốn đồng tế với tôi thì vào Nhà Nguyện, chúng ta đồng tế với nhau.”

Đức Sứ Thần kể tiếp với tôi: Tôi về phòng, ngủ một giấc, ngủ say, sáng hôm sau, thức rồi mà chưa muốn dậy nữa! Nhưng tôi phải lo, trước 8 giờ, tôi chạy tới phòng Đức Thánh Cha, thấy anh sĩ quan vệ binh Thụy Sĩ gác ở đó, tôi hỏi: Anh có thấy Đức Thánh Cha chưa?- Dạ có! – Anh thấy lúc nào?- Thưa con thấy Đức Giáo Hoàng lúc 12 giờ đêm… Tôi ngạc nhiên quá hỏi tiếp: Vậy ngài đi đâu?- Thưa đi Nhà Thờ? Tôi kinh ngạc hỏi lại: Ngài đi Nhà Thờ lúc 12 giờ đêm?- Dạ đúng, ngài đi lúc 12 giờ đêm.- Vậy ngài có về phòng không?- Dạ không! Ngài có dặn con rằng: Sáng mai, nếu Đức Sứ Thần Tòa Thánh đến tìm tôi, thì nói ngài vô Nhà Thờ, cha đợi ngài đồng tế! Đức Sứ Thần Tòa Thánh nói với Đức Hồng Y Thuận: Mình mệt như vậy, mà Đức Giáo Hoàng thì thức cả đêm! Lại vào Nhà Thờ ở với Chúa cả đêm. Và Đức Hồng Y Thuận kết luận: Đối với Đức Thánh Cha, cầu nguyện như thế là chuyện bình thường…(Chứng từ của ĐHY Fx Nguyễn Văn Thuận)

Tin Mừng thánh Luca hôm nay, “Đức Giêsu phán cùng các môn đệ một dụ ngôn,dạy các ông phải cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng.” Cần kiên nhẫn cầu nguyện, tận tình như bà goá nọ, cứ mãi nài van ông thẩm phán thiếu lòng thương xót, minh oan cho bà. Tuy Thiên Chúa luôn tràn đầy Lòng Thương Xót, nhưng tín hữu cầu nguyện cần đúng đắn nhận thức thân phận thụ tạo, tự hạ, luôn bền chí, chuyên tâm, kiên cường, trong Tin Cậy Mến.

Thành tín cầu nguyện

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thường sấp mình cầu nguyện là tấm gương hạ mình sáng chói cho tất cả Kitô hữu noi theo. Tự hạ với lòng tin chân thành, nồng nhiệt, lời cầu nguyện mới xứng đáng dâng lên Thiên Chúa, chứ không phải chỉ khuya môi múa mép, hay tuân thủ nghi thức bên ngoài. Nếu không, thì thật đáng buồn, khiến Đức Giêsu lại phải trách: “Ngôn sứ Isaia thật đã nói rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta.” (Mc 7, 6).

Thành tín là chìa khoá mở vào phòng cầu nguyện, là điều kiện tiên quyết để dâng lên Chúa tất cả tâm tình biết ơn, cảm tạ, chúc tụng, ngợi khen biết bao hồng ân Chúa, ban tặng cho tất cả mọi loài thụ tạo trong từng giây phút cuộc đời.“Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được.” (Mt 21, 22)

Thánh Giacôbê Tông đồ luôn khuyên nhủ tín hữu xác tín mà cầu nguyện: “Nhưng người ấy phải cầu xin với lòng tin không chút do dự, vì kẻ do dự thì giống như sóng biển bị gió đẩy lên vật xuống.” (Gc 1, 6)

Kính mến cầu nguyện

“Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4, 6 & 16), nên cầu nguyện còn là cuộc gặp gỡ nóng bỏng lòng mến của người con với Cha nhân từ. Ngài không bao giờ từ chối điều gì có lợi ích cho phần rỗi con cái. “Người cha nào trong các con có đứa con xin bánh mà lại cho nó hòn đá ư? Hay nó xin cá, lại cho nó con rắn thay vì cá sao? Hay nó xin quả trứng, lại cho nó con bọ cạp ư? Vậy, nếu các con là những kẻ gian ác, còn biết cho con cái mình những của tốt, phương chi Cha các con trên trời sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người.” (Lc 11, 11-13)

Kính mến Chúa qua việc lắng nghe, vâng phục tuân giữ Lời Chúa thực thi Thánh Ý. “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. (Ga 14, 23) Lời Đức Giêsu hằng mời gọi luôn tỉnh thức và cầu nguyên, hầu được cứu rỗi. “Hãy tỉnh thức luôn, cầu nguyện xin cho sức tránh thoát mọi điều sắp xảy đến, và được đứng vững trước mặt Con người”. (Lc 21, 36)

Trông cậy cầu nguyện

Cứ bền tâm vững chí, hoàn toàn phó thác, cậy trông vào quyền năng vô biên của Chúa, người Kitô hữu sẽ không phải chịu thất vọng, không bao giờ về tay trắng. Cứ kiên trì vững cậy.“Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho. (Lc 11, 9-10)

Đức Giêsu đã công khai hứa ban cho những ai nhân danh Người mà kêu xin, thì Người sẽ ban cho để Danh Chúa được cả sáng: “Bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó.” (Ga 14, 13-14)

Dẫu chịu khốn khó, thử thách liên tục, vẫn cứ mãi kiên trì cầu nguyện trong mọi hoàn cảnh, như thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Roma hãy trung kiên: “Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện.” (Rm 12, 12)

“Chúa dạy đọc kinh để giúp con cầu nguyện, nhưng việc chính là gặp gỡ, nói chuyện giữa Cha và con: “Khi con cầu nguyện, đừng lo phải nói gì! Hãy vào phòng đóng cửa, cầu nguyện với Cha của con cách kín đáo, và Cha con thấy mọi sự, sẽ nghe lời con.” Không cần hình thức, chỉ cần tâm tình phụ tử.” (Đường Hy Vọng, số 127)

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con lửa mến nồng nhiệt, niềm tin chân thành, lòng cậy vững bền, để chứng con luôn khao khát tìm đến với Chúa tâm sự, qua cầu nguyện liên lỉ suốt đời.

Khấn xin Mẹ dạy chúng con siêng năng cầu nguyện, để chúng con biết lắng nghe Lời Chúa, quyết tâm thực hành Thánh Ý, cũng như dâng lên Chúa tất cả niềm vui, nỗi buồn, thành công, lẫn thất bại, để được Chúa yêu thương an ủi, che chở và cứu độ. Amen.

 

.

CẦU NGUYỆN LÀ SỰ SỐNG NGƯỜI KITÔ HỮU

Jos. Vinc. Ngọc Biển

Bất kể một tôn giáo nào, cầu nguyện là yếu tố sống còn của mình. Cầu nguyện được ví như hơi thở, là hoạt động căn bản của đời sống tâm linh. Cầu nguyện đối với người Công Giáo, chính là thể hiện niềm tin, phó thác cho sự an bài quan phòng của Thiên Chúa.

Bài Tin Mừng hôm nay Đức Giêsu một lần nữa nhắc lại cho chúng ta thấy tầm quan trọng của việc cầu nguyện, đồng thời Ngài dạy mỗi chúng ta hãy kiên trì, trung thành khi cầu nguyện qua dụ ngôn vị thẩm phán bất lương và bà góa nghèo.

  1. Sự cần thiết của lời cầu nguyện

Nếu cá cần nước để sống; cây cối cần ánh sáng mặt trời để quang hợp và sinh trưởng, thì cầu nguyện cũng cần cho đời sống của người kitô hữu như vậy. Cầu nguyện chính là nâng tâm hồn lên với Thiên Chúa để xin Ngài ban ơn, nâng đỡ. Cầu nguyện còn nói lên một sự thật là ta thuộc về Chúa; Chúa thuộc về ta. Tuy nhiên, vẫn là khởi đi từ Thiên Chúa, Ngài luôn thúc đẩy tâm hồn chúng ta khao khát Ngài: “như nai rừng mong mỏi, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa”. Hay nói như thánh Âu Tinh: “Lạy Chúa, tâm hồn con vẫn bồn chồn xao xuyến mãi cho tới khi được nghỉ ngơi trong Chúa”.

Khi nói đến sự cần thiết của cầu nguyện, Đức Giêsu cũng đã nhiều lần khuyên các môn đệ của mình hãy cầu nguyện và, chính Ngài cũng luôn luôn cầu nguyện trước, trong và sau khi làm bất cứ việc gì. Thật vậy, Ngài cầu nguyện trong sa mạc; nơi hội đường; trên triền núi; ngoài bãi biển. Đặc biệt, nơi các giáo huấn của Ngài, chúng ta thấy toát lên tâm tình cầu nguyện. Khi dạy các tông đồ cầu nguyện, Ngài nói: “Phải cầu nguyện luôn mãi không ngừng nghỉ” (Lc 18,1). “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (Mc 14,38). Rồi khi dạy các ông về sự tín thác, Ngài nói: “Không có Thầy, chúng con không thể làm được gì” (Ga 15,5). Qua câu nói này, Đức Giêsu cho chúng ta thấy sức mạnh vô song của lời cầu nguyện, cũng như quyền năng của Thiên Chúa trên mọi sự.

Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã nói về sức mạnh của lời cầu nguyện như sau: “Hãy cho tôi một đòn bẩy, một điểm tựa, thì tôi sẽ nâng thế giới lên”.

Như vậy, cầu nguyện là điều quan trọng. Không cầu nguyện, ta đánh mất điều căn bản để làm nên đời sống tinh thần. Tuy nhiên, khi cầu nguyện, Đức Giêsu dạy phải có sự kiên trì và trung thành.

  1. Kiên trì trong cầu nguyện

Nói về sự kiên trì trong cầu nguyện, Đức Giêsu đã kể dụ ngôn bà góa và vị thẩm phán:

Bà góa mà Đức Giêsu nói đến hôm nay chính là một trong những thành phần bị xã hội khinh khi, bỏ rơi; là thành phần thấp cổ bé họng trong xã hội, không có tiếng nói và ít được ai quan tâm. Sở dĩ có sự kỳ thị này là do thói quen, văn hóa và truyền thống của một số nước niềm Cận Đông thời bấy giờ. Thành phần bà góa là một trong ba thành phần không cần quan tâm (quả phụ, cô nhi và di dân). Họ cũng không có quyền đòi xã hội phải công bằng với mình. Chính vì thế, việc ông thẩm phán dửng dưng và không thèm quan tâm tới bà là lẽ đương nhiên, không có gì lạ. Ý thức được điều đó, nên bà đã trai lỳ và hoàn toàn phó thác trong tay vị thẩm phán bất công.

Nói lên tính kiên trì của bà góa này, tưởng cũng nên nhắc lại khuôn mặt của vị thẩm phán trong dụ ngôn hôm nay để thấy được lòng kiên định, trung thành của người đàn bà này.

Vị thẩm phán chính là một người bất lương, tham nhũng, bóc lột. Cuộc đời của ông là tiền và tiền chứ không có ân nghĩa gì hết. Vì thế, ông ta “không có kiêng nể ai” và, cũng “chẳng coi Thiên Chúa ra gì”. Cán cân công lý của ông chính là tiền. Tuy nhiên, ông đã chịu thua bà góa nghèo. Bà này có một thứ vũ khí thần kỳ, khiến vị thẩm phán cứng lòng, vô cảm đến đâu cũng phải khuất phục, đó là: kiên trì để ngồi lỳ, kỳ nèo, năn nỉ. Quả thật, ông thẩm phán này không thể chịu nổi sự phiền hà của bà góa. Cuối cùng, ông ta đã phải mở phiên tòa để minh oan cho bà. Điều mà Đức Giêsu muốn nói ở đây chính là sự kiên trì của bà góa. Và, đi xa hơn một bước nữa, Đức Giêsu muốn nói về lòng nhân từ của Thiên Chúa qua hình ảnh vị quan tòa.

  1. Lòng nhân từ của Thiên Chúa

Nếu người thẩm phán trong bài Tin Mừng hôm nay rất bất lương và bất nhân như thế, mà ông ta còn phải chịu khuất phục trước nỗi thống khổ của bà góa, thì Thiên Chúa là Đấng nhân lành, từ bi, chậm giận và hay thương xót… lại không thương con cái khi chúng chạy đến với mình hay sao? Chính Đức Giêsu đã mạc khải cho thấy tình thương của Thiên Chúa khi nói: “Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ thì sẽ mở cửa cho” (Mt 11,9). Tuy nhiên, lời cầu nguyện của chúng ta có khi đẹp lòng Chúa và ích lợi cho phần hồn thì Chúa sẽ ban cho ngay, nhưng đôi khi chúng ta chỉ biết xin mà không biết điều đó có lợi hay có hại, những lúc như thế, Chúa sẽ trì hoãn hoặc ban những ơn khác tốt đẹp hơn cho chúng ta. Vì vậy, hãy tin tưởng, kiên trì và phó thác nơi Thiên Chúa. Hãy trở thành tác phẩm trong bàn tay tuyệt diệu của Thiên Chúa. Vậy, nếu chúng ta đã được Chúa yêu thương, thì chúng ta cũng phải loan truyền về một vị Thiên Chúa giàu tình thương và muốn cho con người được hạnh phúc đến với hết mọi người, mọi nơi…

  1. Truyền giáo bằng cầu nguyện

Hôm nay là ngày khánh nhật truyền giáo, ngày cả Giáo Hội cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo, đồng thời cũng là dịp để mỗi chúng ta ý thức vai trò loan báo Tin Mừng của mình.

Truyền giáo là bản chất của Giáo Hội. Nếu Giáo Hội không truyền giáo thì Giáo Hội đánh mất bản chất của mình, và như thế đặc tính của chúng ta mất. Tuy nhiên, truyền giáo có nhiều cách. Một trong những cách truyền giáo hữu hiệu nhất chính là cầu nguyện.

Đức Giêsu khi xưa cũng vậy, Ngài khởi đầu sứ vụ của mình bằng việc vào hoang địa ăn chay, cầu nguyện. Ngài cầu nguyện để: nhằm tìm kiếm, đón nhận và thi hành thánh ý của Chúa Cha (x. Mt 4,1-11). Sau khi loan báo Tin Mừng Chúa Giêsu cũng cầu nguyện: “Giải tán họ xong, Ngài lên núi một mình mà cầu nguyện” (Mt 14, 23); “Anh em ngồi lại đây, Thầy đến đàng kia cầu nguyện” (Mt 26,36); “ sau khi từ biệt các ông, Ngài lên núi cầu nguyện” (Mc 6,46); “Ngài lui vào nơi hoang vắng để cầu nguyện” (Lc 5,16)…

Tại sao khi truyền giáo phải cầu nguyện? Thưa vì chúng ta xác định rất rõ: công trình cứu độ là của Thiên Chúa. Chúng ta chỉ là người cộng tác vào công trình ấy mà thôi. Thật vậy: “Nếu như Chúa chẳng xây nhà, thờ nề vất vả cũng là uổng công…”. Chính Thiên Chúa mới làm cho công cuộc truyền giáo sinh hoa kết quả (x. 1 Cr 3, 6-7). Thánh Phaolô cũng nói: “ Trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin, và tạ ơn mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện” (Pl 4,6).

Khi cầu nguyện, chúng ta biết được tính cấp thiết của sứ vụ. Biết mưu cầu hạnh phúc cho người khác. Sẵn sàng hy sinh, trung thành vì Nước Trời và phần rỗi của các linh hồn.

Nếu không có đời sống cầu nguyện, chúng ta sẽ là những người thợ dại khờ trong cánh đồng của sự chết. Cầu nguyện để xin Chúa biến đổi chính chúng ta, làm cho chúng ta trở nên xứng đáng để trở thành sứ giả của Chúa, những người thợ gặt lành nghề như Chúa muốn trong cánh đồng truyền giáo của Ngài, trở nên những người gieo vãi hạt giống Tin Mừng yêu thương giữa một thế giới đang dần dần muốn xa rời Thiên Chúa, đến với những con người chưa có cơ hội biết Ngài, những con người lầm lạc trong thế giới hôm nay.

Lạy Chúa, xin cho chúng con yêu mến đời sống cầu nguyện, bởi vì có cầu nguyện, chúng con mới biết Chúa là Đấng yêu thương. Xin cũng cho chúng con biết kiên trì, trung thành trong khi cầu nguyện. Xin Chúa ban cho cánh đồng truyền giáo của Giáo Hội có được nhiều thợ gặt lành nghề, để ra đi thu lúa về cho Chúa. Amen.

 

.

GIẢI THOÁT

Lm. Jos. DĐH.

Quan niệm chung, vẻ đẹp của nam thanh nữ tú là sắc hương, là tài đức, thao thức của người thành đạt là được giầu hơn, có địa vị xã hội, trong khi người cùng cực lầm than chỉ mong được thoát khổ. Chiếc xe làm sao chạy nếu không có nhiên liệu, không ăn không uống, làm sao con người tồn tại. Con kiến không thể kiện củ khoai, thực tế thì sự chăm chỉ và tinh thần đoàn kết, đàn kiến có một sức mạnh vô cùng lợi hại. Vũ trụ vạn vật sẽ phong phú biết bao, nếu có sự tương tác : nét đẹp bên ngoài bổ túc cho nét đẹp bên trong, tài phối hợp với đức, giầu chia sẻ với nghèo, uy quyền nâng đỡ người yếu thế.

Tiền nhân chúng ta có câu : đố ai nằm võng không đưa, ru con không hát, đò đưa không chèo. Hạnh phúc luôn ở cận kề phía trước, cơ hội 50/50 cho từng hoàn cảnh, cho từng đối tượng, ví như: cờ đến tay ai, người ấy phất, ta không thể đứng đó chờ ai phất hộ. Đất nước thái hòa là nhờ tướng giỏi, binh sĩ có kỷ cương ; cha mẹ nuôi dạy con nên người hữu ích, không thể thiếu tình yêu và trách nhiệm. Tìm lối thoát khổ, là cách nói khác “bạn” đang mơ tưởng hạnh phúc ở phía trước. Chia sẻ, giúp đỡ người anh chị em đang túng thiếu cùng cực, là cách nói khác “bạn” đang thực thi công bằng giữa tình người với nhau.

Lối thoát hiểm kỳ diệu của người phụ nữ góa bụa, mà hôm nay truyện dụ ngôn không thể không gợi lên trong chúng ta ít nhiều suy nghĩ. Vẻ đẹp nơi bà góa đó không phải là “hương sắc”, tài đức, mà chúng ta đọc được là do bà kiên nhẫn, cũng không hệ tại vị thẩm phán công bằng, giầu tình người. Ngày xưa gọi bà góa đó là “mặt dầy”, nay giới trẻ gọi là “cố đấm ăn xôi”, hoặc cho rằng bà ta được ơn “vô ngại”. Căn cứ vào tình thế giữa vị quan tòa và người góa phụ, chúng ta thán phục tính kiên trì bền bỉ, đã đưa bà góa đến kết quả như ý. Đức Giêsu lại đưa các môn đệ, đưa chúng ta đến vẻ đẹp của tình yêu và đức tin, nhờ lời cầu nguyện đầy nhẫn nại, bà góa đó đã được Thiên Chúa giải thoát, cứu nguy.

Xã hội văn minh, môi trường trong sạch, đất nước xinh đẹp, tương quan giữa tình người thân thiện công bằng, gia đình vui khỏe, ai cũng có quyền mơ ước, hy vọng. Để đạt được những điều lớn lao, rất cần ta phải biết khao khát, lên kế hoạch, qua đó ta còn phải hành động trong niềm tin. Bà góa nghèo hèn không thể tự giải thoát, nhờ “ơn ban”, bà không mất niềm hy vọng, dù là mong manh. Uy danh của vị thẩm phán không làm bà góa khiếp sợ, nhờ tác động của nét đẹp nơi tâm hồn, bà đã chiến thắng, chia sẻ được tính chất đẹp của câu tục ngữ : chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo.

Người đời vẫn tiêu cực gọi là “quan tham”, đâu ai gọi là “quan thương”, ít nhiều gì, dụ ngôn cũng cho thấy vị thẩm phán có “ơn tác động” nhằm giúp ông được giải thoát một phần nhỏ phiền toái. Chỉ trong đức tin cầu nguyện, người Kitô hữu mới đọc ra Thiên Chúa luôn tạo cơ hội để kẻ giầu chia sẻ cho người nghèo, người có chức quyền biết phục vụ công bằng yêu thương. Để không bị làm phiền, hết bị quấy rầy, vị quan tòa đã minh oan cho bà góa, không phải ông thua. Trong phương diện đức tin, Thiên Chúa đang giải thoát cho ông, cho tất cả các đối tượng giầu nghèo, đức độ, tội lỗi.

Cha ông chúng ta có câu : người tham ước được của, người cờ bạc ước được tiền, người lành mong được làm việc thiện. Chúng ta mơ ước bình an, tìm kiếm hạnh phúc, hay đang thụ động chờ cơ hội, chờ được giải thoát khỏi “bể khổ” trần gian ? Sống trên đời ai cũng có quyền ước mơ điều tốt cho mình, cho quê hương dòng tộc, miễn sao đừng quá viển vông. Mơ ước của bà góa là được minh oan, bận tâm của vị thẩm phán là không bị làm phiền, từ thao thức nhỏ bé mong manh, con người sẽ còn khám phá những tác động kỳ diệu sâu thẳm bên trong cuộc sống của mình nữa.

Sống đức tin không thể đẹp, nếu chỉ dựa trên lý thuyết, tín thác trong tình yêu Chúa, không phải một vài lần trong đời, Chúa Giêsu gián tiếp nhắc chúng ta hãy theo gương kiên nhẫn sống cầu nguyện của người góa phụ. Ai trong chúng ta cũng thuộc, cũng hiểu ý nghĩa cao đẹp của câu tục ngữ : có công mài sắt, có ngày nên kim. Biết cậy dựa công sức sẵn có của mình đã là khôn ngoan, là một nét đẹp hình thức rồi ; nếu ta tín thác cầu nguyện liên lỉ, ơn đức tin sẽ tác động cho nét đẹp nội dung thực sự trở nên ơn giải thoát chúng ta.

Có chí thì nên, có tìm kiếm hạnh phúc, sẽ tới ngày được thỏa lòng mơ ước, con người tuy giới hạn không thể tận dụng cơ hội quý báu, nhưng dẫu sao Đấng thấu biết mọi sự Ngài hằng ghi nhận nỗ lực của chúng ta. Dụ ngôn còn có ý chỉ dạy ta đừng thối trí nản lòng với khó khăn hiện tại của mình, Thiên Chúa không từ chối kẻ xấu người tốt, Ngài sẽ kịp minh oan cho những ai tin tưởng kêu cầu Ngài. Không ai có thể so sánh lòng quảng đại của Thiên Chúa thế nào, nhưng chắc chắn cơ hội của vị thẩm phán và của bà góa vẫn như nhau, chính Chúa mới giải thoát con người khỏi khổ đau trầm luân. Bằng tình yêu, Chúa Giêsu tiếp tục thúc đẩy mỗi chúng ta biết sống bác ái yêu thương, sống cầu nguyện trong một đức tin hiệp thông với Ngài. Amen.

 

.

KIÊN NHẪN NÀI XIN THÌ SẼ ĐƯỢC

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Có chí thì nên

Một nhát rìu chặt vào thân cây cổ thụ to lớn chỉ tạo ra một vết chém cạn cợt không hề hấn gì, nhưng nhiều nhát rìu nối tiếp nhau liên tục trong thời gian dài sẽ đốn ngã bất cứ cây cổ thụ cao lớn nào.

Một dòng nước nhỏ rò rỉ từ bên ngoài vào lòng thuyền xem ra không có gì đáng ngại, nhưng nếu cứ để cho dòng nước ấy rò rỉ liên tục suốt ngày thì có thể làm đắm cả một con thuyền lớn.

Những hạt mưa mềm mại rơi xuống suốt một giờ chưa thể làm được gì lớn lao, nhưng nếu mưa cứ kiên trì rơi xuống những rặng núi đá vôi suốt hàng triệu năm thì có thể làm nên những kỳ tích vĩ đại. Đó là trường hợp đã xảy ra tại Phong Nha – Kẻ Bàng, khi nước mưa xói mòn những rặng núi đá vôi và đã tạo nên hơn 300 hang động tuyệt vời, đẹp như bồng lai tiên cảnh.

Những minh họa trên đây chứng tỏ rằng những cố gắng của chúng ta, dù rất nhỏ bé, nhưng nếu được kiên trì thực hiện, chắc chắn sẽ đem lại thành quả như lòng ước mong.

Như thế, kiên trì là bí quyết chắc chắn để đạt tới thành công trong mọi lĩnh vực. Vì thế nên người ta thường nói: “Có chí thì nên” hoặc: “Cố công mài sắt, có ngày nên kim.”
Kiên trì cầu nguyện, chắc sẽ được nhận lời

Trong lĩnh vực tâm linh cũng thế, nếu chúng ta biết kiên trì cầu nguyện, chúng ta sẽ nhận được điều chúng ta nhẫn nại cầu xin.

Để dạy chúng ta kiên trì cầu nguyện không sờn lòng nản chí, Chúa Giê-su kể dụ ngôn sau đây:

Một ông quan toà ngang ngược, chẳng kính sợ Thiên Chúa, coi thường mọi người. Gần nơi ông ở có một bà góa tứ cố vô thân đang gặp nỗi oan khiên nên chạy đến nhờ ông ta xét xử, mà lần nào cũng bị khước từ. Tuy nhiên, vì bà góa cứ kêu nài mãi, nên cuối cùng ông quan tòa nghĩ lại: “Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc.”

Rồi Chúa nói: “Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Ngài đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Ngài sao? Lẽ nào Ngài bắt họ chờ đợi mãi sao?” (Lc 18, 2-7)
Thiên Chúa ban điều tốt lành hơn ta mong đợi

Thế thì tại sao có những khi chúng ta kêu xin nhiều lần mà chẳng được Chúa nhận lời?

Trường hợp nầy cũng như khi đứa bé gào khóc đòi mẹ cho tiền mua kem, mua bánh nhưng mẹ kiên quyết không cho vì những món nầy không tốt cho sức khỏe của con. Thay vì bánh kẹo, mẹ cho con những lọ thuốc bổ, những hộp sữa không đường, tuy chẳng làm cho con khoái khẩu, nhưng rất cần thiết cho sức khỏe của con.

Cũng thế, đôi khi Thiên Chúa không ban cho ta những điều ta xin, nhưng Ngài lại ban những ơn cần thiết hơn là điều ta mong đợi.
Không cho cá nhưng lại cho chiếc cần câu

Có những người cha khôn ngoan, không muốn con mình trở thành kẻ ăn xin lười biếng, “nằm há miệng chờ sung” mà muốn tạo cơ hội cho con cái trưởng thành, nên khi đứa con xin con cá, ông không cho cá mà lại cho chiếc cần câu. Thế là nhờ sở hữu chiếc cần câu, đứa con có được hàng trăm con cá mà chẳng phải ngửa tay xin ăn từng bữa, từng ngày.

Ý tưởng nầy đã được một tác giả diễn tả cách chí lý như sau:

“Tôi xin sức mạnh…

Và Ngài đã cho tôi gặp khó khăn để trui rèn tôi nên mạnh mẽ.

Tôi xin khôn ngoan…

Và Ngài đã cho tôi những vấn đề (như những bài toán khó) để giải quyết, nhờ đó tôi trở thành người khôn ngoan.

Tôi xin tiền của…

Và Ngài đã cho tôi khối óc và bắp thịt để làm việc, nhờ đó tôi trở nên giàu có.

Tôi xin được “bay”…

Và Ngài đã cho tôi những trở ngại phải vượt qua (như máy bay vượt qua sức cản của không khí), nhờ đó tôi được “bay cao”.

Thế là tuy không trực tiếp nhận được những gì tôi xin…

Nhưng tôi có được những thứ tôi cần.” (Khuyết danh)
Lạy Chúa Giê-su,

Xin cho chúng con vững tin vào Chúa mà liên lỉ nài xin những điều chính đáng. Một khi đã kiên trì khấn nguyện, cho dù chúng con không đạt được điều mình xin, thì Chúa cũng ban cho chúng con những điều còn tốt đẹp hơn cả điều chúng con nài xin.

 

.

ƠN CỨU ĐỘ LÀ MỘT BƯỚC TIỆM TIẾN

P. Trần Đình Phan Tiến

Kính thưa quý vị, thưa các bạn Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay ( Lc 18, 1-8) là một vấn đề quan trong của Đức Tin. Suy niệm đoạn Lời Chúa hôm nay có thể nói là một Lời an ủi, một sự khích lệ rất lớn lao bởi Chúa Giêsu, đồng thời cũng mang một nỗi buồn man mác. Vâng, chính Chúa Giêsu đã nhìn thấy “niềm tin” của con người trên thế gian nầy thật lung lay, thật yếu ớt, thật mong manh. Người đã thấy điều kiện “ấy” trong viễn cảnh tương lai rồi, .

Vâng , đây là vấn đề quan trọng nhất trong đoạn Lời Chúa hôm nay, chính là ở câu cuối ( Lc 18, 8b) : “ Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn nhìn thấy niềm tin trên mặt đất nữa chăng ?” Tiêu đề của đoan Tin Mừng hôm nay chính là sự “kiên trì cầu nguyện “, qua đó, Chúa Giêsu cũng tiên báo một viễn cảnh buồn cho nhân loại, Người không tự đắc, dù là Thiên Chúa thật, nhưng , Người cũng “buồn” cho ơn Cứu Độ bởi Thiên Chúa và điều kiện cần thiết để nhận được ơn cứu độ ấy là sự “kiên trì” , có nghĩa là” bền đỗ đến cùng”.

Điều nầy, chúng ta thấy hiện thực đang đến gần, đó là công cuộc truyền giáo của Giáo Hội đang bị “co cụm” thu hẹp lại bởi sự “không ra đi rao giảng”, mà như théo ý của Đức Giáo Hoàng Phanxico đó là : phải ra khỏi chính mình, để rao truyền Tin Mừng của Đức Kitô cách trực tiếp, đó là phải ra ngoại” nội vi” mà đến các vùng “ ngoại vi” nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Vâng, đọc Lời Chúa hôm nay, chúng ta có thế nhớ lại Lời Chúa Giêsu thì thào cùng Chúa Cha trong vườn Cây Dầu : “Lạy Cha, nếu được, xin cho Con khỏi uống chén đắng nầy, nhưng xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha” ( Lc 22, 42).

Chén đắng ở đây không phải chỉ là “cực hình” Người sắp chịu mà là “Chén đắng” trong viễn cảnh của “niềm tin” vào ơn Cứu Độ, mà Người thấy trước.

Lời Chúa hôm nay qua Dụ ngôn bà góa quấy rầy và quan tòa bất chính, là một dẫn chứng về lòng tin, Thiên Chúa là Đấng siêu nhiên, dường như không có tai, mắt để nghe chúng ta cầu xin như “ý” của chúng ta. Nhưng, qua sự hữu hình của Con Thiên Chúa, Người cho chúng ta biết phải” kiên trì cầu nguyện”. Vì cầu nguyện không phải chỉ là “xin điều chúng ta muốn”, nhưng “kiên trì cầu nguyện” chính là chúng ta “cộng tác” vào ơn cứu độ bởi Thiên Chúa. Bởi vì, satan hằng muốn cưỡng cầu chúng ta, nhưng Thiên Chúa luôn tiệm tiến. Nghĩa là, nếu chúng ta biết cộng tác vào ơn cứu độ của Thiên Chúa qua Đức Kitô, thì mặc nhiên chúng ta không nghe theo satan. Điều nầy , chúng ta có thể hiểu được qua “Ba cơn bị cám dỗ” của Chúa Giêsu trong Mùa Chay.

Hành trình bước theo Đức Kitô là hành trình tiệm tiến, ơn cứu độ không phải là một miếng bánh thân xác, xin một cái, là bỏ vào miệng nhai, nếu họ không cho, hay chưa cho, thì rụt tay, bỉu môi, không xin nữa, bỏ đi. Nhưng, là một sự cộng tác trung tín, kiên trì không thất vọng. Như vậy, mới chiến thắng và có dũng khí bước theo Người vào Nước Hằng Sống. Điều đó có nghĩa là trong mọi môi trường và hoàn cảnh, lúc thuận lợi cũng như bất tiện, chúng ta phải biết làm chứng cho Tin Mừng Đức Kitô, dẫu chúng ta bất xứng, nhưng công trình cứu độ của Thiên Chúa luôn xứng đáng. Theo lời thánh Phaolo ( Bài đọc II hôm nay 2 Tm 4, 2).

Mọi việc làm của trần gian cũng cần kiên trì, thì công cuộc “niềm tin” càng cần kiên trì mãi mãi. .Vì chúng ta biết không gian và thời gian là bởi Thiên Chúa, là Đấng Hằng Sống.

Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta cách kỳ lạ, đến độ bằng lòng chịu chết cho chúng ta, thì còn gì chúng ta không kiên trì, nhẫn nại bước theo Người.

Bài Đọc I hôm nay ( Xh 17, 8 -13) cho thấy Tiên Tri Giosue chiến đấu chống lại quân Amlach, theo chỉ dẫn của Moise, qua cánh tay của ông, biểu trưng sự nhẫn nại, làm thành một động cớ khích lệ cho Giosue chiến thắng quân Am-lách. Chúng ta thấy, theo nghĩa đen là như thế, nhưng, chính Thiên Chúa nâng đỡ cho Moisen và Giosue.

Vâng, ơn cứu độ là một hành trình tiệm tiến, cuộc đời của mỗi người trần gian, được đo bằng thời gian, nhưng ơn cứu độ là Hồng Ân nhưng không bởi Thiên Chúa, không thể đo đếm bằng thời gian, mà bằng LÒNG THƯƠNG XÓT.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy cho chúng con cách cầu nguyện, cầu nguyện không phải chỉ để xin “bánh” mà thôi, nhưng cầu nguyện còn thể hiện sự gắn kết, sự tri kỷ, sự yêu thương chân thành, và tin tưởng tuyệt đối vào ơn cứu độ bởi Thiên Chúa, không được tính bằng thời gian, mà bằng sự “TÍN THÁC” chân thành vào Chúa ./. Amen.

 

.

TIN VÀO LỜI CẦU NGUYỆN

Lm. Giuse Đỗ Văn Trí

Ai có dịp đến hành hương Đức Mẹ Lavang, Tapao hoặc viếng Cha Bửu Diệp, có thể dễ dàng nhận ra những người đến đó không phải là người Kitô hữu, nhưng là những người dân ngoại. Nhiều người đã để lại những tấm bia tạ ơn cùng với lòng xác tin rằng lời cầu nguyện của họ đã được nhận lời, dù họ chưa biết Chúa và Đức Mẹ, nhưng họ đến với một tấm lòng thành và họ đã được ơn.
Cầu nguyện là hơi thở của người có đạo, là nâng tâm hồn lên tới Chúa và là trải lòng ra trước mặt Chúa. Đó là những định nghĩa về việc cầu nguyện, nhưng thông thường cầu nguyện vẫn là gặp gỡ cầu xin cùng Thiên Chúa ban ơn trợ giúp. Cầu xin là tâm tình chung của nhiều người, vì họ tin rằng Thiên Chúa là đấng quyền năng, làm chủ mọi loài mọi vật, Ngài có thể làm được tất cả. Cầu xin còn là thể hiện sự khiêm tốn, nhìn nhận thân phận giới hạn thấp kém của con người trước mặt Thiên Chúa và sẵn sàng phó thác mọi sự cho Chúa. Đó cũng là những tâm tình phải có, mà hôm nay, lời Chúa nhắc lại cho chúng ta.
Lời cầu nguyện với niềm tin, có sức mạnh vô song. Câu chuyện sách Xuất Hành kể là một minh chứng. Lúc đó dân do Thái đang chuẩn bị bước vào đất hứa thì đã bị những người Amalêch tấn công. Ông Môsê đã phân công cho ông Giosuê dẫn một số người ra đương đầu với giặc, còn Mosê tiến lên đỉnh đồi, tay cầm gậy của Thiên Chúa, giang tay cầu nguyện. Trận chiến diễn ra không phải do tài quân sự của Giosuê, nhưng hoàn toàn tùy thuộc vào lời cầu nguyện của Môsê. Vì, khi nào ông Môsê giơ tay lên thì quân Israel thắng thế, khi nào ông hạ tay xuống, thì quân Amalêch thắng thế. Cho đến chiều, người ta đã phải lấy hòn đá cho ông Môse ngồi và hai người đưa vai kê hai tay của Môsê cho đỡ mỏi cho đến tối. Quân Israel đã chiến thắng. Như thế, không phải Giosuê cùng với quân lính đánh trận mà là chính Mosê đã dùng lời cầu nguyện để đương đầu với quân Amalêch. Lời cầu nguyện của Mose có sức mạnh phá tan quân địch.
Câu chuyên cũng cho thấy, trong vai trò là một người lãnh đạo, là người trung gian giữa Thiên Chúa và Israel, Mose vẫn cần có sự cộng tác giúp đỡ của các cộng tác viên. Trong cuộc cầu nguyện này, chính những cộng tác viên đã giúp lấy hòn đá cho Mose ngồi và còn đưa vai đỡ lấy cánh tay của ông, để lời cầu nguyện của Mose được liên tục dâng lên Chúa từ sáng tới chiều tà. Điều đó cho thấy, sự liên đới hỗ trợ nhau trong việc cầu nguyện là điều cần thiết và là việc đem lại kết quả. Không phải chỉ những linh mục tu sĩ mới là những người cầu nguyện, mà các cộng tác viên, các tín hữu là những người cùng cầu nguyện với các vị đó.
Nếu như bài đọc một nói lên sức mạnh của lời cầu nguyện, thì bài Tin Mừng Chúa Giêsu nói đến việc kiên trì, tin tưởng trong lời cầu nguyện. Có một quan tòa không kính sợ Chúa, cũng chẳng nể ai. Vậy mà, có một bà góa đến năn nỉ ông, xin ông xét xử cho, lúc đầu ông làm ngơ, nhưng vì bà góa này kêu nhiều, nên ông nói: Dù ta không kính sợ Thiên Chúa, không coi ai ra gì, nhưng bà góa này quấy rầy quá, ta xét xử cho rồi vì bà này làm ta nhức óc. Chắc chắn Thiên Chúa không giống như vị quan tòa, Chúa Giêsu chỉ muốn so sánh rằng: Dầu một quan tòa bất chính, mà còn xét xử cho bà góa theo lời van nai của bà, thì Thiên Chúa không thể làm ngơ trước lời kêu xin của con cái Chúa.
Thiên Chúa là cha yêu thương, không có người cha nào có thể làm ngơ khi thấy con mình té ngã kêu khóc, mà không ra tay cứu giúp. Thiên Chúa là cha giàu lòng thương xót, là Thiên chúa hay chạnh thương, Ngài biết chúng ta đang cần gì và Ngài không thể từ chối chúng ta khi chúng ta chạy đến với Ngài. Chúng ta cầu xin mà chưa được nhận lời, vì có thể Chúa muốn rèn luyện lòng tin và sự kiên nhẫn của chúng ta. Sự chậm trễ của Thiên Chúa là cách thế Chúa muốn chúng ta cầu nguyện nhiều hơn nữa. Có thể, chúng ta không được như chúng ta xin, là vì những điều chúng ta xin không có ích lợi cho linh hồn chúng ta. Chúng ta cứ muốn Chúa phải ra tay làm phép lạ ngay tức khắc, giải gỡ khó khăn mà quên rằng Chúa đang ban ơn trợ giúp và sức mạnh để chúng ta có thể vượt qua khó khăn thử thách. Khi cầu nguyện chúng ta thường muốn Thiên Chúa làm theo ý mình, mà quên rằng chúng ta phải nhận ra và làm theo ý Chúa.
Lối sống ngày nay được gọi là “lối sống mì ăn liền”, người ta muốn có ngay những gì người ta cần hoặc muốn, vì thế con người dễ bị cảm dỗ nản chí hoặc thất vọng khi cầu nguyện. Ma quỷ nó nói với người tín hữu rằng: Ông bà cầu nguyện làm gì cho tốn công, Chúa không nhận lời đâu! Anh chị tội lỗi lắm, không xứng đáng để Chúa nhận lời đâu! Tôi bận rộn, làm ăn tối ngày, làm gì có giờ mà cầu nguyện! Những cám dỗ này nhắm kéo chúng ta xa lìa khỏi việc cầu nguyện mỗi ngày và dần dà kéo chúng ta xa Chúa. Ma quỷ không muốn chúng ta cậy dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, nó cám dỗ chúng ta cậy dựa vào sức của mình và những của cải vất chất hơn là Thiên Chúa.
Thực tế nhiều người tin Chúa nhưng lại không cầu nguyện, nếu có cầu nguyện thì cũng chỉ là cầu xin Chúa đáp ứng những nhu cầu vật chất trước mắt. Đời sống đạo không cầu nguyện là một đời sống èo uột, thiếu sức sống; một người tín hữu dễ nản lòng, dễ buống xuôi trong đời sống đạo là người tín hữu thiếu chiều sâu đức tin. Cầu nguyện là thiết lập tương quan cá nhân với Thiên Chúa, là sống tình cha con đối với Thiên Chúa. Nhiều người ngày nay đã mất thói quen cầu nguyện, đọc kinh, họ cho rằng việc đọc kinh cầu nguyện là của người già và trẻ nhỏ. Nghĩ như thế là hết sức sai lầm và rơi vào cạm bẫy của ma quỷ.
Cuộc sống vật chất ngày cảng khá lên, khoa học ngày càng phát triển càng khiến cho nhiều người, đặc biệt là giới trẻ bỏ qua việc cầu nguyện, vì nghĩ rằng khoa học và tiền bạc giải quyết được tất cả. Những ý nghĩ như thế đang đục khoét tâm hồn nhiều người trẻ và biến họ trở thành những con người hời hợt trống rỗng, sống không mục đích không chiều sâu. Họ tôn thờ tiền bạc và khoa học và loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống.
Cầu nguyện là dám phó thác đời mình trong tay Chúa, là gieo mình vào vòng tay Chúa, dù có những lúc thật tăm tối mịt mù. Người ta kể câu chuyện: Đang đêm, ngôi nhà gỗ của hai vợ chồng bốc cháy ngùn ngụt. Vừa phát hiện lửa cháy, hai vợ chồng đã vội lao ra khỏi cửa. Lúc đó, họ chợt nhớ còn đứa con trai ba tuổi đang ngủ trên gác. Lửa đã cháy bịt kín lối vào, hai vợ chồng không thể chạy vào cứu cậu con trai còn mắc kẹt trong nhà. Bỗng từ cửa sổ trên căn gác, cậu bé thò cổ ra ngoài và kêu lớn: Ba ơi cứu con với! Không biết làm thế nào, người cha trả lời: Con cứ nhảy xuống đi. Đứa bé lại kêu lên: Con sợ lắm. Người cha động viên: Con đừng sợ, cứ nhảy xuống đi. Đứa bé trả lời: Nhưng nhiều khói lắm, con không nhin thấy ba. Người cha lại nói vọng lên: Con không nhìn thấy ba, nhưng ba nhìn thấy con, con cứ nhay xuống đi. Thế là đứa bé đã mạnh dạn nhảy xuống, và người cha đã đưa tay ra chộp được cậu bé.
Ta không nhìn thấy Chúa, nhưng Chúa vẫn nhìn thấy ta. Chỉ có điều ta có dám nhảy vào lòng Ngài không mà thôi. Amen.

 

.

CẦU NGUYỆN-

Lm Uyen Nguyen

Cầu nguyện là giáo huấn mà ĐGS dành dạy nhiều trong ba PÂ nhất lãm. Cầu nguyện nhằm rộng rải đến nhiều tiêu chí: cho bản thân, cho mọi người, nhất là những kẻ ngược đãi, kẻ thù, thoát cơn cám dỗ, đứng vững trước các biến cố hiểm nguy sắp xảy đến. Tính chất cầu nguyện được khuôn đúc trong khiêm tốn, tin tưởng, chân tình, đơn sơ vì TC biết trước hết mọi sự. Cầu nguyện mọi nơi mọi lúc khi cần. Không gian để cầu nguyện tốt nhất là nơi hoang vắng, giáo đường, khi hoàng hôn buông xuống hay bình minh vừa ló rạng, và như ĐGS hay lên núi cầu nguyện.

Cầu nguyện với tràn đầy tâm tình sốt mến chỉ khi việc cầu nguyện xuất phát từ sự giao động tâm hồn. Cầu nguyện như thế là việc cầu nguyện trong niềm tin gắn bó với TC, Đấng là Cha trọn hảo tốt lành. Cầu nguyện như thế là chủ đề giáo huấn của ĐGS vào CN hôm nay cụ thể dựa vào hai bài đọc:

Bài đọc 1, sách Xuất Hành. Mô tả diễn biến cuộc chiến giữa quân Amalech và quân Israel. Cuộc chiến đẫm máu cho cả hai phía. Nhưng quân Israel vẫn thắng trong sự có mặt ba vị Aaron, Mosê và Khua trên núi, khi ấy Mosê hai tay giơ lên cầu nguyện với TC, Đấng hùng mạnh bênh đỡ. Khi tay Mosê còn giơ lên, quân Israel mạnh, tay Môsê hạ xuống, quân Amalech lấn lướt.

Bài đọc 3, TM Luca. ĐGS dạy việc cầu nguyện qua dụ ngôn người đàn bà góa kêu cầu quan án giải oan. Câu chuyện gồm hai vai. Vai người đàn bà góa đáng thương và vị quan tòa ‘hống hách’ trong thành, không một thứ gì hiện tại, hữu hình hay vô hình, làm ông nể trọng.

Với người đàn bà góa, điều bà thưa quan không ai hiểu là gì, chỉ biết sự kiên trì của bà làm vị quan tòa thua cuộc, bị nhiều lần bác đơn, từ chối xử án, đuổi về, cuối cùng quan vẫn phải làm theo ý bà để tránh sự phiền toái ‘cứ lì’ ra hết lần này đến lần khác kêu oan quấy rầy không yên.

Trọng tâm giáo huấn ĐGS ở đây là Cầu nguyện kiên trì. Sự kiên trì cầu nguyện phản ảnh niềm tin mạnh mẽ. Cụ thể như quan tòa bất lương chẳng biết nể trọng ai, chẳng biết xót thương ai, thế mà sự kiên trì của gương bà góa trong câu chuyện mang lại thành quả phấn khởi, được quan tòa phân xử. TC là Đấng quan minh chính đại, giàu lòng xót thương, hằng chờ mong ban ơn cho con cái, lẽ nào con cái kêu cầu Ngài mà lại phải bị từ chối? hay phải ra về trắng tay?

Như đã nói ở trên, cầu nguyện xuất phát từ đức tin và sự ‘giao động tâm hồn’. Không thể có cầu nguyện mà không có đức tin. Ví có đức tin, có tin cẩn mới nảy sinh cầu nguyện. Đức tin mạnh gắn với sự kiên trì cầu nguyện, như thánh nữ Monica thuở xưa ròng rã trên 20 năm. Cầu nguyện kiên trì khi ấy là chứng từ cho một đức tin gắn bó. Không thể có cầu nguyện như người vô thần, trong nguy nan treo lơ lửng trên cành cây đeo bám mong manh sắp gẫy, kêu cầu TC cứu thoát: ‘Lạy Chúa, nếu như ông có, xin hãy cứu tôi, tôi sẽ tin ông. Cứu tôi khỏi rơi xuống thung lũng đá sắc nhọn lố nhố bên dưới chết mất’! Giữa không gian mông quạnh, có tiếng nói: ‘Ngươi hãy bỏ tay ra khỏi cành cây, Ta sẽ cứu ngươi’? Cành cây gẫy, trong chới với người vô thần rơi mà tay vẫn nắm chặt cành cây chẳng sao buông rời!?

ĐGS cảnh giác các môn đệ ở cuối câu chuyện dụ ngôn về hai điều: đức tin và cầu nguyện kiên trì, trong lời Người nói: ‘Chẳng lẽ TC không minh xét cho những kẻ Ngài đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Ngài sao? Lẽ nào Ngài bắt họ chờ đợi mãi? Thấy nói cho anh em biết, Ngài sẽ mau chóng minh xét cho họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng’? (c.7-8).

Với các thánh Tử Đạo, làm sao các ngài có thể chịu đựng bao nỗi cực hình? Đâu phải nói tử đạo là được chết ngay, chết ngọt? Phải trải qua bao cực hình thương khó rồi mới đến cái chết tử đạo. Trong mọi loại hình thương khó, các ngài cố giữ vững đức tin, tin vào lời hứa, tin vào hoa trái giữa mọi cực hình, tin vào PHÚC chịu đựng vì ĐKT. Đức tin nơi các thánh Tử Đạo phải là đức tin bền gan, đức tin kiên tâm đợi đến ngày giờ đi gặp ĐKT.

Nhìn chung, trên đường lên Giêrusalem, điểm hẹn Người sẽ về với Cha, ĐGS không khỏi âu lo cho các môn đệ. Người trao cho các ông phương thế tự bảo vệ và gìn giữ bản thân mình luôn gắn bó với Người không rời: Cầu nguyện, Cầu nguyện kiên tâm. Chỉ phương cách này vừa đơn sơ, giản dị, kín đáo, nhưng vô cùng hiệu nghiệm nhờ đó chính đời sống toàn thể các Thánh Tử Đạo, Hiển Tu, Ẩn Tu, Truyền Giáo trong quá trình lịch sử GH đã vẻ vang minh chứng.

            Lạy Mẹ Maria, Mẹ GH và Mẹ chúng con. Mẹ là Mẹ cầu nguyện! Xin dạy và hướng dẫn chúng con cầu nguyện để chúng con hằng đi trong ánh sáng đức tin tinh tuyền son sắt đến với ĐKT Con Mẹ.

 

.

-CẦU NGUYỆN

Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Cầu nguyện là nền tảng của Hội Thánh Công giáo. Cầu nguyện là sự sống còn của Hội Thánh. Đó là hành động cần thiết mà Hội Thánh phải có, phải gìn giữ. Vì quan trọng như thế, nên cầu nguyện là cốt lõi của đời sống đức tin. Cầu nguyện cũng là điều kiện chứng tỏ một người có đức tin. Nếu một ngày nào không còn một ai cầu nguyện, ngày ấy báo hiệu tôn giáo cáo chung, vì đó chính là thời điểm cho biết không còn người tin.

Đối với cá nhân người tín hữu Kitô, cầu nguyện là hoạt động căn bản của đời sống tâm linh. Hành động cầu nguyện không phải chỉ là cầu xin, nhưng trước hết và trên hết là tôn vinh, chúc tụng, cảm tạ Thiên Chúa, Đấng mình tôn thờ.

Chính khi cầu nguyện chuyên chăm, liên lỉ, người cầu nguyện sẽ càng ngày càng thấm thía tình yêu của Thiên Chúa, càng yêu mến Thiên Chúa. Vì thế, cầu nguyện sẽ đem con người đến gần Thiên Chúa mỗi ngày một keo sơn hơn, mạnh mẽ hơn trong chính lòng yêu mến mà hai bên, Thiên Chúa và con người dành cho nhau.

Qua việc cầu nguyện sốt sắng, chăm chỉ, con người sẽ thấy và chân nhận hình ảnh Thiên Chúa là Cha ngày càng rõ nét. Họ sẽ càng tín thác vào lòng yêu thương quan tâm săn sóc của Thiên Chúa. Nhờ đó, họ bình an, tự tin, vững vàng, nhất là mỗi khi phải đối đầu với nghịch cảnh, với khổ đau. Còn Thiên Chúa, Người thấu hiểu những nhu cầu và nguyện vọng của con người. Người sẽ ban và củng cố sức mạnh của lòng tin, lòng mến nơi con người.

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay dạy ta hãy cầu nguyện qua hai câu chuyện: Ông Môisen và dụ ngôn bà góa kêu nài thẩm phán bất lương.

Bài đọc I kể lại cuộc giao tranh kịch liệt giữa người Israen và quân Amaléc. Khi ông Môisen giang tay cầu nguyện, người Israen chiến thắng; nếu ông hạ tay xuống, người Israen thua trận. Người ta phải kê tảng đá dưới tay ông, để ông đỡ mỏi mà tiếp tục giang tay cầu nguyện với Chúa. Nhờ sự hy sinh đi liền với việc cầu nguyện mà ông Môisen dâng lên Thiên Chúa, người Israen chiến thắng vẻ vang (x.Xh 17, 8-13).

Còn trong bài Tin Mừng, Chúa đưa ra hai tình ảnh hoàn toàn trái ngược nhau. Một bên là bà goá nghèo, thân phận bé nhỏ, thấp cổ bé miệng, không có tiếng nói trong xã hội. Bên kia là ông thẩm phán bất lương, chẳng sợ trời mà cũng chẳng nể người. Đã bao nhiêu lần bà góa khiếu nại trước tòa, ông đều không thèm đếm xỉa. Khiếu nại của bà xem ra bế tắt…

Nhưng người đàn bà không tuyệt vọng, không nản lòng. Bà tiếp tục khiếu nại, van xin. Cuối cùng, sự kiên nhẫn bền bỉ của bà được đáp ứng. Vị thẩm phán bất lương kia cũng giải quyết khiếu nại ấy để bà toại nguyện. Chúa kể dụ ngôn này với mục đích dạy các môn đệ hãy noi gương bà goá, cầu nguyện luôn, cầu nguyện thật bền bỉ không được nản chí.

Nghe Lời Chúa, từng người hãy tập siêng năng cầu nguyện. Hãy xin Chúa ban ơn kiên trì cầu nguyện. Sự kiên trì ví như người gieo hạt, chờ đợi cây mọc lên, sinh hoa kết trái vậy.

Để cầu nguyện nên, và nếu có cầu xin, sẽ dễ được nhận lời, chúng ta cần phải:

– Có đức tin mạnh. Trong Tin Mừng, khi Chúa Giêsu ban ơn cho ai, Người thường nói: “Đức tin của con cứu chữa con”. Đức tin đem lại cho lời cầu nguyện một sức mạnh phi thường. Đức tin giúp ta xác tín vào Thiên Chúa là Cha yêu thương.

Bài giảng ngày 14.6.2016 trong thánh lễ tại nhà nguyện Marta, Đức Phanxicô khẳng định: “Người có lòng tin luôn chiến thắng, vì lòng tin có thể chuyển bại thành thắng. Lòng tin tưởng không phải là ma thuật nhưng là một tương quan cá vị với Thiên Chúa. Tương quan ấy người ta không thể học được từ sách vở, nhưng là một quà tặng của Thiên Chúa. Món quà đó rất đáng để chúng ta nài xin…

Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa để lời cầu nguyện của chúng ta luôn được bén rễ sâu trong niềm tin tưởng. Đức tin là một quà tặng. Chúng ta không thể học được đức tin từ sách vở nhưng là món quà Thiên Chúa ban tặng cho ta. Chúng ta hãy nài xin: ‘Lạy Chúa, xin ban thêm lòng tin cho chúng con’. Chúng ta xin Chúa để biết cầu nguyện với lòng tin tưởng, để biết xác tín rằng mọi sự chúng ta xin thì Chúa sẽ ban cho. Lòng tin tưởng chính là chiến thắng của chúng ta”.

– Có lòng yêu mến dồi dào. Tình yêu là món quà quý Thiên Chúa ban tặng con người. Hãy sử dụng quà tặng tình yêu để dâng lên Chúa trọn cuộc đời, trọn tấm lòng của mình. Khi cầu nguyện, nhờ tình yêu, con người sẽ có lòng chân thành, sự tín thác thật sự trong tay Chúa. Cầu nguyện mà không có lòng yêu mến Chúa, con người chỉ có thể vụ lợi, và đòi hỏi Chúa đáp ứng nhu cầu của mình, vì thế con người dễ cầu xin hơn chúc tụng, ca ngợi, cảm tạ Chúa.

Lòng yêu mến dành cho Thiên Chúa phải đặt trên hết mọi sự. Chúa đòi ta yêu Chúa bằng trọn cả con tim, trọn cả linh hồn, trọn trí lực của ta (x.Lc10, 25-37). Nghĩa là trong mọi phút giây của cuộc sống, ta đều quy hướng về Chúa, sống thảo hiền với Chúa, cố gắng thực thi giáo huấn Chúa dạy cách hoàn hảo và nỗ lực hết sức để ngày càng hoàn hảo hơn.

Với lòng yêu mến, ta dâng lên Chúa sự cầu nguyện của mình bằng tất cả niềm cậy trông. Ai cậy trông vào Chúa sẽ không bao giờ thất vọng, vì lòng cậy trông là phương thế tốt để lôi kéo ơn Chúa về cho mình. Bởi thế, người tín hữu hãy cầu nguyện với tất cả niềm cậy trông, hãy thưa lên cùng Chúa chân thành như đứa con đối với cha. Họ hãy giải bày những tâm tư, ước vọng bằng nỗ lực của lòng yêu mến và cậy trông.

– Có thái độ khiêm nhường. Trong Lc 18, 9-14, Chúa Giêsu lấy dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện. Nhưng sau khi cầu nguyện xong, chỉ có người thu thuế được nhận lời, còn người biệt phái thì không.

Thái độ của người biệt phái thật bất xứng: Ông “Đứng thẳng”, khoe khoang thành tích của mình và khi thị người khác: “Lạy Chúa, tôi cảm tạ Chúa vì tôi không như những người khác: tham lam, bất công, ngoại tình, hay như người thu thuế kia, tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, và dâng một phần mười tất cả các hoa lợi của tôi”. Đến trước mặt Chúa mà còn kiêu ngạo thì lời cầu nguyện vô giá trị.

Còn người thu thuế, dù bị xem là tội lỗi, lại rất mực khiêm nhường. Ông không trình bày nhu cầu của mình. Ông không nhận xét ai, chỉ thấy lòng mình nhiều bất xứng. Ông không cầu xin Chúa bất cứ ơn nào dù lớn hay nhỏ, chỉ thưa với Chúa một lời đơn sơ: “Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi”. Ông được nhận lời. Chúa cho biết như thế.

Có lòng khiêm nhường, ta mới dễ nhận ra ân lộc của Chúa, mới có thể hiểu rằng, mọi thuận lợi mà ta đang hưởng đều do Chúa ban. Nếu có chăng những công đức hay việc lành mà ta thực hiện được, cũng chỉ là nhờ ơn Chúa, nhờ lòng yêu thương của Chúa bảo vệ, ta mới hoàn thành nhiệm vụ này, thực hiện tốt những việc kia.

Hãy cầu nguyện trong khiêm nhường. Lời cầu nguyện của người khiêm nhường bay thẳng lên ngai Chúa, được Chúa đón nhận và chúc phúc.

 

.

HÃY KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG : Lc 18,1-8

(1) Đức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí. (2) Người nói: “Trong thành kia, có một ông quan tòa. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. (3) Trong thành đó, cũng có một bà góa. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: “Xin ngài bênh vực tôi chống lại kẻ kiện tôi”. (4) Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng: “Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa mà cũng chẳng coi ai ra gì. (5) Nhưng mụ góa này quấy rầy mãi, thì ta bênh vực mụ cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc”. (6) Rồi Chúa nói: “Anh em nghe quan tòa bất chính ấy nói đó ! (7) Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn ? (8) Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng bênh vực họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?”

2. Ý CHÍNH :

Tin mừng Luca kể ra dụ ngôn ngôn của Đức Giêsu về bà góa và ông quan tòa nhằm dạy các môn đệ: “phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”. Một người bất lương như ông quan tòa mà còn phải chịu thua lòng kiên trì nài xin của bà góa nghèo. Phương chi Thiên Chúa là Cha nhân lành lại không mau chóng bênh vực những kẻ hằng kêu xin Người đêm ngày hay sao? Tuy nhiên có nhiều kẻ vì thiếu kiên trì khi gặp phải gian nan thử thách nên đã sớm bị mất đức tin. Vì thế Đức Giêsu đã phải thốt lên lời than phiền như sau: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”.

3. CHÚ THÍCH:

-C 1-3 : +Đức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn… : Câu dẫn nhập này báo trước ý nghĩa của dụ ngôn : Đức Giêsu muốn nhấn mạnh đến thái độ kiên trì và liên lỉ cầu nguyện để chuẩn bị cho ngày Người tái lâm. +Trong thành kia có một ông quan tòa : Ông này bị coi là bất lương vì ông chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng nể nang người đời. Những quan tòa như thế có nhiều trong dân Ítraen và nhiều lần đã bị các Ngôn sứ lên án (x. Is 1,23; Gr 5,28; Am 5,7). +Trong thành đó cũng có một bà góa : Bà góa là một mẫu người nghèo thường được đề cập tới trong Thánh kinh. Các bà không có chồng bảo vệ nên dễ bị kẻ xấu chèn ép bóc lột. +“Xin ngài bênh vực tôi chống lại kẻ kiện tôi” : Bà góa này xin quan tòa giúp minh oan trước kẻ đang kiện cáo mình.

-C 4-5 : +Một thời gian khá lâu, ông không chịu… : Lúc đầu ông quan tòa hành động vì ích kỷ, nhưng cuối cùng ông cũng đành phải chịu thua lòng kiên trì của bà góa nghèo để đứng ra bênh vực bà, hầu tránh khỏi bị bà quấy rầy mãi.

-C 6-8 : +Rồi Chúa nói : Luca nêu tước hiệu “Chúa” 20 lần trong các bài tường thuật. Qua đó ngài muốn người đọc lưu ý đến vương quyền mầu nhiệm của Đức Giêsu. +“Anh em nghe quan tòa bất chính ấy nói đó: Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn…” : Mục đích so sánh Thiên Chúa với quan tòa bất chính là để làm nổi bật sự tương phản giữa lối hành xử bất lương của viên quan tòa với lòng nhân từ vô biên của Thiên Chúa. Một con người ngang ngược ích kỷ vô tín mà còn biết bênh đỡ người yếu thế để tránh sự quấy rầy như vậy, phương chi Thiên Chúa nhân từ lại có thể nhẫn tâm từ chối lời cầu xin của những kẻ tin tưởng đầy lòng cậy trông nên đã được Người tuyển chọn hay sao? +Dù Người có trì hoãn : Chắc chắn Chúa sẽ can thiệp, nhưng theo cách thức của Người. Mỗi khi cầu xin mà lâu vẫn chưa được như ý, chúng ta hãy nhớ lại trường hợp Đức Giêsu trong vườn cây Dầu: đã cầu xin Chúa Cha cho khỏi uống chén đắng và đã không được Cha ưng thuận, nhưng nhờ đó mà loài người chúng ta mới được hưởng ơn cứu độ nhờ cuộc khổ nạn và phuc sinh của Đức Giêsu. Trong thực tế, có nhiều điều chúng ta cố nài xin Chúa ban cho mình, vì tưởng là điều tốt cho mình, nhưng thực ra lại có hại cho phần rỗi đời đời của ta, nên vì tình thương mà Chúa đã không ban theo ý ta như Đức Giêsu đã nói :”Có ngừoi cha nào đứa con xin bánh mà lại cho nó hòn đá ?….”. Trật tự thế giới này sẽ ra sao nếu các ước muốn ngông cuồng ấu trĩ của mọi người đều được Chúa chấp nhận ?  +Người sẽ mau chóng bênh vực họ : Ở đây cũng như ở nhiều nơi khác (x. Mt 9,1; 13,30). Đức Giêsu báo trước sẽ có một cuộc phán xét để bênh vực những kẻ Người tuyển chọn (x. Lc 17,22-37). +Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng? : Trong cơn thử thách, những kẻ được tuyển chọn cũng vẫn có thể trở thành vô tín nếu không kiên trì (x. Mc 13,20-22). Vì thế Đức Giêsu khuyên các môn đệ tránh lối sống buông thả, nhưng phải vững tâm cầu nguyện, giống như bà góa trong dụ ngôn đã luôn kiên trì cầu xin trước thái độ thờ ơ của vị quan tòa bất lương. Trong thời gian dài từ khi Đức Kitô về trời đến khi Người lại đến vào ngày tận thế, các tín hữu phải “tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21,36).

4. CÂU HỎI : 1)Câu nào trong Tin mừng cho thấy bài học Đức Giêsu muốn dạy môn đệ về sự tin tưởng vào lòng nhân từ của Thiên Chúa ? 2)Phải giải thích thế nào nếu Thiên Chúa trì hõan không nhận lời cầu xin xem ra chính đáng của chúng ta ? 3)Câu nào cho thấy vào ngày tận thế nhiều người có thể mất đức tin vì đã không kiên trì cầu nguyện khi gặp gian nan thử thách ? 4)Chúa đã hứa :”Hãy xin sẽ được…”, vậy tại sao tôi cầu xin hoài mà vẫn không được Chúa ban như ý của mình ?

II.  SỐNG LỜI CHÚA:

1. LỜI CHÚA: “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng đến kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn ?” (Lc 18,7).

2. CÂU CHUYỆN :

– CỨ KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN THÌ CHẮC SẼ ĐƯỢC CHÚA CHẤP NHẬN :

Một nhân viên bưu điện phi ngựa tới một ngôi nhà cửa đóng kín để phát thư. Ông gõ cửa nhưng không thấy ai ra mở cả. Ông biết trong nhà có người, vì đã thấy bóng họ thấp thóang qua khung cửa sổ. Do đó, ông vừa la lớn vừa đập mạnh vào cánh cửa. Sau khi ông đập cửa tới 5 lần thì một lỗ nhỏ trên cánh cửa được mở ra và có tiếng người trong nhà hỏi: “Ông muốn gì ?”. Ông trả lời: “Muốn gì ư ? Tôi đã kêu cửa mấy phút rồi mà không thấy ai ra mở cửa để lấy thư cả !” Bấy giờ người trong nhà mới vặn chốt mở rộng cửa ra và giải thích như sau : “Xin ông thông cảm cho. Mỗi ngày chúng tôi phải chịu đựng lũ trẻ hàng xóm đến phá quấy : Chúng cứ tới đập cửa ầm ầm, rồi khi chúng tôi ra mở cửa thì lại chẳng thấy ai cả. Khi nãy lúc đầu chúng tôi cứ tưởng là lũ trẻ đến phá rối như mọi khi, nên không ra mở cửa. Nhưng về sau thấy cửa cứ bị đập hòai, nên chúng tôi biết là có khách đến thăm thực sự”.

– LỜI CẦU XIN ĐÃ ỨNG NGHIỆM SAU NHIỀU NĂM :

Tạp chí Hướng Đạo có đăng một câu chuyện thú vị về một cô giáo trẻ. Câu chuyện được tóm tắt như sau: Cô giáo Meri được điều về dạy ở một trường học nọ. Trong lớp cô phụ trách có một học sinh ngỗ nghịch tên là Bill. Em này thường gây cho cô giáo trẻ sự bực bội và biến lớp học thành một nơi bát nháo. Một buổi sáng kia, cô Meri đến lớp sớm hơn và ngồi ở bàn thầy giáo hí hoáy viết tốc ký lên một trang giấy, thì bất ngờ Bill xuất hiện. Cậu bé tiến lại gần bàn cô giáo và nói: “Cô đang viết gì vậy?” Meri đáp: “Cô viết lời cầu nguyện với Chúa đó”. Bill chế giễu: “Chúa có thể đọc được chữ tốc ký hay sao?” Meri đáp: “Người có thể làm được mọi sự. Ngay cả việc nhậm lời cầu xin này của cô!”. Nói xong, cô để mảnh giấy kia vào trong cuốn Kinh thánh, và quay lên viết bài học trên bảng cho cả lớp. Lợi dụng lúc cô giáo loay hoay viết, Bill đã lén lấy cắp mảnh giấy có ghi lời cầu nguyện của cô giáo và bỏ vào trong cuốn tập của cậu. Hai mươi năm sau, Bill đã trở thành giám đốc của một công ty lớn. Một hôm ông ta lục tìm một đồ vật cũ để trên gác xép ngôi nhà xưa của cha mẹ ông. Bill tình cờ cầm lên một cuốn sổ ghi bài học thuở nhỏ và đột nhiên thấy một mảnh giấy vàng ố rơi xuống sàn. Đó là mẩu giấy có ghi chữ tốc ký. Bill không hiểu nội dung những dòng chữ ấy. Ông gấp tờ giấy kia lại, mang đến văn phòng nhờ cô thư ký đọc giúp. Cô ta đã viết lời dịch vào một tờ giấy khác và đưa cho Bill. Ông nhận ra đó là lời cầu nguyện của cô giáo Meri năm xưa, nội dung lời cầu ấy như sau: “Lạy Chúa, xin đừng để con bị thất bại trong nghề giáo của con. Con không thể làm cho lớp con đang dạy vào khuôn khổ kỷ luật được, vì có một cậu học trò tên là Bill hay phá bĩnh. Xin Chúa hãy uốn nắn tâm hồn cậu bé này. Vì theo con nhận xét: Cậu bé ấy có thể trở thành một người hoặc rất tốt hoặc rất xấu sau này”. Câu cuối cùng như một nhát búa nện vào đầu Bill, bắt ông phải suy nghĩ. Thật ra chỉ vài giờ trước đó, Bill có dự tính lao vào một vụ làm ăn buôn lậu, hy vọng sẽ đem lại nhiều lợi nhuận cho công ty. Ông cầm tờ giấy kia lên gấp lại cho vào chiếc ví để trong túi quần. Rồi trong suốt một tuần lễ kế tiếp, mỗi khi có dịp là ông lại lôi tờ giấy kia ra đọc đi đọc lại nhiều lần. Cuối cùng thì lời cầu nguyện của cô giáo được viết trước đó hai mươi năm đã phát huy tác dụng và làm thay đổi ý định buôn lậu của Bill. Mấy tuần sau, khi có dịp ngang qua nhà cô giáo cũ, ông đã tìm đến thăm cô và kể cho cô nghe về lời cầu nguyện của cô cách đây 20 năm đã có sức mạnh làm thay đổi cuộc đời hiện tại của ông ra sao.

  1. SUY NIỆM:

Trong Tin Mừng hôm nay Đức Giêsu đã dạy các môn đệ: “Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (Lc 18,1). Người muốn các tín hữu chúng ta cũng phải kiên trì cầu nguyện để được Chúa ban ơn cứu độ. Nhưng tại sao chúng ta lại phải cầu nguyên và phải cầu nguyện như ào?

1) Sự kiện động đất: Trong một vụ động đất lớn khiến nhiều nhà cửa trong thành phố bị sụp đổ. Có ba người bị kẹt trong văn phòng một tòa nhà của một công ty xây dựng. Bấy giờ văn phòng bị tối thui vì cúp điện và một khối bê-tông lớn từ tầng trên rơi xuống đã chắn ngang cửa sổ và cửa ra vào văn phòng. Trước tình huống này, người thứ nhất là trưởng phòng không có đức tin và đã bỏ không đến nhà thờ từ lâu. Ông ta bực tức không ngừng chửi rủa viên kỹ sư thiết kế và là chủ thi công công trình tòa nhà đã không chịu gia cố thêm sắt thép khi xây dựng chân móng và đà cột, khiến tòa nhà dễ dàng sụp đổ khi bị động đất mạnh. Người thứ hai là nhân viên vệ sinh của công ty  có lòng đạo đức bình dân, khi bị kẹt trong văn phòng liền quỳ gối lần chuỗi kinh mân côi thật sốt sắng cầu xin Đức Mẹ thương ra tay cứu giúp. Người thứ ba là nhân viên bảo trì máy móc của công ty là người có đức tin trưởng thành đã tỏ ra bình tĩnh khi gặp sự cố. Anh ta âm thầm đối thoại cầu xin Chúa như sau: “Lay Chúa, Chúa muốn con làm gì để thoát khỏi hoàn cảnh này?” Sau đó anh lấy ra búa và đục trong giỏ đồ nghề luôn mang theo và bắt đầu đục phá khối bê-tông bít lối ra vào kia. Cứ sau một lúc làm việc, anh dừng tay nghỉ mệt và lại thầm thĩ thưa chuyện với Chúa: “Lạy Chúa, xin giúp con đủ sức đục bể khối bê-tông này để cả ba người chúng con mau thoát ra ngoài”. Cuối cùng anh ta đã phá được một mảng lớn bê-tông và cả ba người đã chui ra ngoài an toàn.

2) Ba thái độ đức tin:

Câu chuyện trên cho thấy ba thái độ biểu lộ đức tin:

Người thứ nhất do không có đức tin: Khi gặp sự cố anh ta không cầu nguyện vì nghĩ rằng cầu nguyện vừa mất thời giờ lại vừa vô ích, và chỉ biết đổ lỗi cho hoàn cảnh và tha nhân.

Người thứ hai có đức tin thụ động: Khi gặp sự cố chỉ biết khoanh tay đọc kinh để cầu xin phép lạ, thay vì chủ động giải quyết vấn đề. Có lẽ đại đa số các tín hữu vẫn đang có thứ đức tin thụ động này.

Người thứ ba có đức tin tích cực chủ động: tuy tin vào quyền năng của Chúa, nhưng đồng thời cũng ý thức phải sử dụng các phương tiện Chúa ban để giải quyết sự cố, đồng thời không quên cầu xin Chúa ban ơn trợ giúp. Đây là cách cầu nguyện đúng đắn đẹp lòng Chúa mà các tín hữu cần phải áp dụng trong cuộc sống đời thường.

3) Về sự cần thiết của lời cầu nguyện:

Bài đọc Một ghi lại câu chuyện xảy ra trong thời kỳ Xuất Hành: khi dân Ítraen vượt qua sa mạc trong thời gian 40 năm để về tới Đất Hứa dưới quyền lãnh đạo của ông Môsê. Khi tới nơi, dân Ítraen còn phải giao chiến với các dân đang định cư trong miền đất đó. Trong một trận chiến với quân Amaléc, ông Môsê đã trao trách nhiệm cho tướng Giôsuê trực tiếp giao chiến, còn ông Môsê thì ở trên núi giang tay cầu xin Đức Chúa ban ơn trợ giúp. Bao lâu Môsê còn giang tay cầu nguyện thì quân Ítraen thắng thế; Ngược lại khi ông mỏi mệt xuôi tay xuống thì quân Ítraen lại bị thua. Bấy giờ người ta để Môsê ngồi lên một tảng đá, rồi cử hai ông Aharon và Hur đỡ hai tay ông Môsê, để ông có thể giang tay cầu nguyện lâu giờ. Cuối cùng quân Ítraen đã toàn thắng. Qua đó cho thấy chiến thắng của quân Ítraen không những do sức mạnh chiến đấu của họ, mà còn nhờ vào sự phù trợ đắc lực của Đức Chúa do ông Môsê cầu xin.

Cuộc đời thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu kính ngày 1/10 hằng năm cũng cho thấy sự cần thiết phải cầu nguyện cho công cuộc rao giảng Tin Mừng. Từ năm 15 tuổi vào dòng kín và trong suốt chín năm tu luyện, Teresa đã không giảng đạo cho một người nào. Hằng ngày chị chỉ âm thầm hy sinh hãm mình để cầu nguyện cho các vị thừa sai và cho công cuộc rao giảng Tin Mừng của Hội Thánh, thế mà Hội Thánh đã đánh giá cao lời cầu nguyện của Têrêsa, tôn ngài lên làm thánh tiến sĩ của Hội Thánh và đặt ngài làm bổn mạng các xứ truyền giáo, ngang hàng với thánh Phanxicô Xaviê, là người đã dành suốt cả đời đi giảng đạo tại các miền đất thuộc Châu Á.

4) Về ích lợi của sự cầu nguyện:

Cầu nguyện được ví như dầu làm cho ngọn đèn đức tin được luôn cháy sáng. Cầu nguyện sẽ mang lại nhiều hoa trái thiêng liêng là đức tin, đức cậy và đức mến như sau:

– Hoa trái của sự cầu nguyện làm cho đức tin đức cậy ngày một gia tăng.

– Hoa trái của đức tin đức cậy là làm gia tăng đức mến đối với tha nhân.

– Hoa trái của đức mến đối với tha nhân sẽ dẫn đến thái độ khiêm tốn phục vụ.

– Và hoa trái của phục vụ là tâm hồn sẽ cảm nhận được sự bình an và niềm vui.

5) Chúng ta phải làm gì ?

– Phải kiên trì cầu nguyện: Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã dạy các môn đệ: “Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (Lc 18,1). Người muốn các tín hữu chúng ta phải kiên trì cầu nguyện noi gương bà goá bị oan ức đã kiên trì xin ông quan toà “vốn không tin Chúa mà cũng chẳng kiêng nể người đời” minh oan cho bà. Nhờ biết kiên trì mà cuối cùng bà đã được ông thẩm phán minh oan (Bài Tin Mừng). Mỗi người chúng ta cũng phải kiên trì cầu nguyện, cả những lúc xem ra Chúa im lặng không đáp ứng các yêu cầu chính đáng của chúng ta với lòng tín thác cậy trông vào quyền năng và tình thương cùa Chúa như lời Đức Giêsu: “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn ? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng bênh vực họ” (Lc 18,7-8a).

– Không được đòi hiệu quả tức thời: Khi cầu nguyện, chúng ta tin chắc Chúa sẽ đáp lời cầu xin của chúng ta. Nhưng Ngài không ban lập tức theo ý riêng của chúng ta, mà ban vào thời gian và cách thức nào đó có lợi nhất cho chúng ta. Thời gian Chúa nhậm lời có thể kéo dài lâu hơn chúng ta nghĩ và cách Ngài ban ơn cũng có thể khác với ước nguyện của chúng ta, nhưng bao giờ cũng thích hợp nhất và hữu hiệu nhất cho phần rỗi đời đời của chúng ta.

– Phải biết cầu xin theo ơn Thánh Thần soi dẫn: Thánh Phaolô đã dạy: “Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, nhưng chính Thần Khí sẽ cầu thay nguyện giúp cho chúng ta… theo đúng thánh ý Thiên Chúa” (Rm 8,26-27). Như thế, cầu nguyện không phải là chỉ biết xin ơn cách vụ lợi của chúng ta, cũng không phải là bản liệt kê những nhu cầu để yêu cầu Chúa ban theo ý của ta. Nhưng cầu nguyện là cuộc đối thoại với Thiên Chúa, trong đó, chúng ta kể ra các nhu cầu về thể xác và tinh thần của mình, và xin Ngài ban ơn theo thánh ý của Ngài, noi gương Đức Giêsu đã cầu xin Chúa Cha trước cuộc khổ nạn: “Cha ơi! Nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Tuy nhiên con người vốn yếu đuối dễ nản chí, nên Đức Giêsu đã cảnh báo: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?” (Lc 18,8).

  1. THẢO LUẬN: 1) Bạn cần đọc kinh dự lễ như thế nào để tránh bị lo ra chia trí và để lời cầu nguyện của bạn xứng đáng được Chúa chấp nhận? 2) Ngoài việc đọc kinh dự lễ, bạn cần làm gì để biến đời bạn trở thành một lời cầu nguyện liên lỉ?
  2. NGUYỆN CẦU

– LẠY CHÚA CHA giàu lòng từ bi thương xót. Cha hằng nhận lời cầu xin của chúng con. Qua dụ ngôn hôm nay, Đức Giêsu đã dạy chúng con rằng: Ông quan tòa dù là kẻ bất chính và ích kỷ mà còn sẵn sàng đáp lại lời cầu xin kiên trì của một bà góa nghèo. Phương chi là Cha, Đấng giàu lòng từ bi thương xót, hằng thương yêu săn sóc con cái như gà mẹ ấp ủ đàn con dưới cánh. Chúng con tin tưởng vào tình thương quan phòng của Cha. Xin Cha thương nâng đỡ và ban muôn ơn lành hồn xác cho chúng con.

– LẠY CHÚA GIÊSU. Điều làm cho Chúa đau lòng là nhiều người đã bị mất đức tin, trong đó có thể có cả chúng con nữa. Nhiều lúc chúng con đã không tin vào hiệu lực của lời cầu xin: Khi gặp khổ đau hoạn nạn, chúng con thường than thân trách phận, mà không cầu xin Chúa ban ơn nâng đỡ. Cũng có những lúc chúng con chỉ biết dựa vào sức riêng của mình, dựa vào thế lực của tiền bạc hay những kẻ quyền cao chức trọng… mà không biết cậy dựa vào ơn Chúa giúp. Nhiều lúc chúng con tỏ ra chán nản thất vọng vì cầu xin mãi mà không được Chúa ban theo ý chúng con. Xin giúp chúng con kiên trì cầu nguyện và đừng bao giờ nản chí buông xuôi. Xin cho chúng con luôn ý thức rằng: “Những ai tin cậy vào Chúa, sẽ không bao giờ phải thất vọng hổ ngươi” (Tv 34,6; Sir 2,10).

X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

 

.

CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN_C

Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến.   Qua câu truyện ông Mô-sê và người đàn bà góa trong Kinh thánh Lời Chúa hôm nay, Chúa dạy chúng ta cầu nguyện và kiên tâm cầu nguyện trong đời sống Ki-tô hữu. Chúng ta biết cầu nguyện là nền tảng cuộc sống, là việc rất cần thiết đối với người Ki-tô hữu, vì chúng ta biết mọi sự, to nhỏ, tầm thường hay quan trọng trong cuộc sống đều tuỳ thuộc, đều dựa vào Chúa. Sự cần thiết của việc cầu nguyện bắt đầu từ lòng xác tín và yêu mến Chúa, với thái độ khiêm tốn, chấp nhận thân phận yếu hèn và những thiếu thốn, giới hạn của mình.  Kinh thánh Lời Chúa hôm nay còn hối thúc chúng ta cầu nguyện, nhưng chúng ta tự hỏi “Tại sao phải cầu nguyện và phải cầu nguyện như thế nào?”  Và “Cầu nguyện đã đủ chưa hay còn phải hành động nữa?”

Chúng ta thấy nhiều điều xấu, điều dữ xảy ra trên thế giới tại nhiều quốc gia, trong quốc gia Hoa kỳ và thành phố Tulsa chúng ta đang sống, và ngay chính trong gia đình và trong cuộc sống cá nhân của chúng ta.  Có những hoàn cảnh xảy ra và nếu chúng ta không có lòng xác tín vào Chúa thì có thể chúng ta ngạc nhiên hỏi tại sao. Chúa có quan tâm và chú ý đến không?  Hay Chúa quá bận rộn không thể nào xử lý hết tất cả mọi vấn đề xảy ra?

Sách Sáng thế, sách đầu tiên của cuốn Kinh thánh, cho chúng ta biết từ nguyên thủy, Thiên Chúa tạo dựng nên tất cả đều tốt, nhưng Sa-tan, quỉ dữ đã xen lấn vào, mang sự xấu và tội lỗi không vâng lời, chống đối lại Thiên Chúa đến cho con người trần gian.  Chúng ta thấy nhiều sự dữ và đau khổ tiếp tục xảy ra khắp mọi nơi vì con người chúng ta tiếp tục đi vào con đường của tổ tông chúng ta là A-dong và E-và, tự cho rằng chúng ta khôn hơn Thiên Chúa,  không cần nghe và thực hành những điều Chúa truyền dạy.  Con người trần gian đã và đang từ chối và bỏ Chúa, và như thế tự mang cũng như nhận chịu những khó khăn, đau khổ và sự dữ của chính mình đưa đến và cho người khác.

Vì thế, Chúa dạy chúng ta là những Ki-tô hữu, trong mọi hoàn cảnh hay tình huống cuộc sống phải cầu nguyện và phải kiên nhẫn cầu nguyện để có một niềm xác tín và yêu mến Chúa.  Cầu nguyện để chúng ta luôn kết hợp mật thiết với Chúa, được Chúa phù trợ ban ơn thêm sức và được sống trong an bình và nhận được ơn sủng cứu độ của Chúa.

Bài trích sách Xuất hành hôm nay ghi lại cho chúng ta thấy dân Do thái đã được Chúa đưa ra khỏi cảnh nô lệ ở Ai cập, vượt Biển Đỏ và đang trên đường về Đất hứa.  Nhưng không bao lâu, họ tỏ ra cứng cổ, nghi ngờ thiếu lòng tin, và đã bắt đầu than trách Môsê: “Sao ông không để chúng tôi lại bên Ai Cập? Ở đó có thịt nướng hành thơm. Còn ở chỗ hoang vu nóng bỏng này, chúng tôi sẽ chết đói, chết khát mất.”  Những lời kêu chua chát vô ơn bội nghĩa ấy, không phải chỉ làm cho Môsê buồn sầu đau sót, mà ngay chính Thiên Chúa cũng không cầm nổi giận dữ.  Tuy nhiên lòng nhân từ thương xót, Thiên Chúa tiếp tục ban ơn cho đoàn người kém hiểu biết ấy.  Và chúng ta thấy được lòng kiên nhẫn cầu nguyện của ông Môsê. Khi ông Môsê giang tay cầu nguyện thì dân Chúa thắng thế quân Amalếch. Còn khi ông mệt mỏi xuôi tay xuống thì quân Amalếch lướt thắng. Vì thế ông Aaron và ông Khua phải đỡ tay cho ông Mosê để khỏi rũ xuống. Bài sách Xuất hành cho chúng ta một niềm xác tín Thiên Chúa luôn đồng hành và hiện diện trong mọi hoàn cảnh, và cũng là niềm phấn khởi và giúp chúng ta nhận ra giá trị, sức mạnh của lời cầu nguyện.

Trong bài đọc hai, thánh Phao-lô căn dặn Timôthê cũng như tất cả chúng ta, phải kiên nhẫn và trung kiên cầu nguyện và suy gẫm lời Chúa trong Kinh thánh để tránh sự dữ và nhất là làm những việc tốt lành.  Ngài nói: “Chính Sách Thánh đã dạy con sự khôn ngoan để con được cứu rỗi nhờ tin vào Ðức Giêsu Kitô. Tất cả Kinh Thánh đã được Chúa linh hứng, đều hữu ích để giảng dạy, biện bác, sửa dạy và giáo dục trong đàng công chính, ngõ hầu người của Thiên Chúa được hoàn hảo để sẵn sàng thực hiện mọi việc lành.”

Qua bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta phải kiên tâm cầu nguyện.  Chúa kể một câu chuyện tầm thường mà chúng ta có thể gặp ở bất cứ nơi đâu. Ông làm việc trì trệ. Một quả phụ đã từ lâu xin một vị thẩm phán xét xử giúp cho một việc, nhưng ông vẫn chẳng quan tâm và cũng chẳng hối hả gì, vì có thể bà ta là người góa bụa, chẳng đáng kể gì ở trong xã hội, và sự việc chẳng quan trọng bao nhiêu. Tuy nhiên bà này kiên trì, có lẽ chẳng phải vì bà có đức tính ấy nhưng rất có thể, đối với bà, câu chuyện đem thưa đây rất quan trọng, có thể là một sống một chết đối với bà. Vậy cho nên bà cứ dai dẳng nài xin. Cuối cùng ông thẩm phán tự nghĩ: Phải xử cho bà ta đi cho rồi kẻo nó cứ quấy rầy mình mãi. Câu chuyện tầm thường chỉ có vậy thôi.  Nhưng Lu-ca muốn chúng ta chú ý đến thái độ dai dẳng, kiên trì của người cầu xin, và sự nhượng bộ của người phải nghe tiếng van nài.

Ông bà anh chị em thân mến.  Chúng ta không phải như một góa phụ, ít giá trị trước mặt xã hội. Chúng ta là những người được Thiên Chúa tạo dựng và ưu tuyển chúng ta trở thành dân riêng của Ngài. Và Chúa cũng không giống vị thẩm phán vô tâm. Người yêu mến và rất nhân hậu đối với chúng ta.  Người  luôn hiện diện, nghe lời chúng ta cầu xin và nhất là sẽ ban ơn, sức mạnh và trợ giúp chúng ta. Cho nên chúng ta phải kiên tâm cầu nguyện, tức là luôn xác tín và trung thành với Thiên Chúa. Chính điều kiện tín thành này là khó, vì chúng ta thấy ngày nay, nhiều người, kể cả những người tự xưng là Ki-tô hữu, thờ ơ với Lời Chúa, hay từ chối không sống lời Chúa dạy. Thế nên Chúa Giêsu đã thốt nên những lời có vẻ não nuột nhưng rất chân thành: “Con Người đến sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa không?”

Vì thế, chúng ta cầu xin Chúa giúp chúng ta biết lắng nghe và sống lời Chúa dạy. Xin Chúa dạy chúng ta bài học kiên nhẫn cầu nguyện, để duy trì lòng xác tín vào tình yêu và lòng thương xót của Chúa. Xin Chúa gìn giữ đừng để chúng ta ngã lòng trông cậy Chúa, nhưng luôn đặt lòng cậy trông và phó thác vào Chúa trong mọi hoàn cảnh cuộc sống, nhất là những lúc chúng ta phải đối diện với những khó khăn thử thách, và biết xin điều thích hợp đẹp lòng Chúa, với một lòng xác tín và yêu mến Chúa, để Nước Chúa trị đến và Danh Chúa được cả sáng.  

 

.

HÃY CẦU NGUYỆN LUÔN

Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

Lời Chúa của Chúa Nhật này dạy chúng ta phải kiên trì cầu nguyện.

1- Kiên trì cầu nguyện

Đức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (Lc 18,1). Có một bà góa nhiều lần chạy đến quan tòa để xin ông minh xét cho bà vì những người làm hại bà. Vì bà cứ kêu mãi, nên ông nói: “Dẫu rằng ta không kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ góa này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc.” Và đây là kết luận của Chúa Giêsu: “Anh em hãy nghe quan tòa bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu vớt Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ.”

Cầu nguyện cũng là chủ đề chính của bài đọc I. Trình thuật này nói về hình ảnh Môsê ở trên núi, khi giao chiến với Amalếch, ông Môsê giơ tay lên, thì dân Ítraen thắng thế. Môsê đối thoại với Thiên Chúa để xin Người trợ giúp khi gặp khó khăn và thử thách.

2- Sự cần thiết phải cầu nguyện

Quả thế, cầu nguyện rất cần thiết đối với mỗi người Kitô hữu. Cầu nguyện là hơi thở của đời sống người Kitô hữu. Nếu ngừng thở, chúng ta sẽ chết. Cũng thế, nếu không cầu nguyện, đời sống tâm linh chúng ta cũng sẽ chết.

Cầu nguyện là nhịp cầu đưa chúng ta tới hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi và hiệp thông với mọi loài thụ tạo, với anh chị em đồng loại. Cầu nguyện mang lại cho chúng ta sức mạnh, bình an và nghị lực để sống xứng đáng với nhân phẩm và địa vị của mình.

Cầu nguyện cũng giúp biến đổi xã hội và cuộc sống vốn đang bị sa mạc hóa tâm linh. Có một linh mục người Pháp là tuyên úy của các sinh viên ở Đại Học Sorbone. Sau tuổi 68, ngài sang sa mạc Sahara và hai năm sống trong một túp lều tự mình làm, ngài chỉ mang theo cuốn Kinh Thánh và Thánh Thể. Ở đây, Chúa làm cho ngài hiểu một điều: sa mạc đích thực hôm nay là những thành phố lớn, nơi đó, Thiên Chúa bị lãng quên, con người sống trong nỗi cô đơn còn tồi tệ hơn sự cô đơn ở sa mạc Sahara. Trở lại Pháp, ngài bắt đầu thành lập Cộng Đoàn Đan Tu Giêrusalem ở Paris, được gọi là “những đan viện trong thành phố.” Có nhiều đến đây sống cầu nguyện như những đan tu. Đây là một hình thức giúp cho những ai muốn cùng nhau cầu nguyện mỗi ngày.

Theo một định nghĩa cổ điển, cầu nguyện là “một cuộc đàm thoại đạo đức với Thiên Chúa.” Theo thánh Angela thành Foligno, cầu nguyện là nâng tâm hồn lên và dìm mình trong sự vô biên là Thiên Chúa.” Kinh Thánh thường dùng từ “nâng tâm hồn lên” để nói về cầu nguyện: “Lạy Chúa, con nâng tâm hồn con lên cùng Ngài…” Như thế, cầu nguyện là nâng tâm hồn lên với Chúa, như Thánh Vịnh diễn tả: “Con kêu lên Ngài, lạy Thiên Chúa, vì Ngài đáp lời con. Xin lắng tai và nghe tiếng con cầu. Xin biểu lộ tình thương diệu kỳ của Chúa, Ngài cứu ai trú ẩn dưới cánh tay Ngài khỏi quân thù xông đánh. Xin giữ gìn con như thể con ngươi, dưới bóng Ngài, xin thương che chở” (Tv 17,6-8).

Người ta thường bỏ cầu nguyện khi cho rằng: Thiên Chúa biết hết rồi và Người đã sắp đặt mọi sự rồi: như thế, làm sao chúng ta có thể thay đổi quyết định vĩnh viễn của Thiên Chúa bằng lời cầu nguyện của mình được?

Thánh Tôma Aquinô trả lời: “Chúng ta không cầu nguyện để xin thay đổi quyết định đời đời của Thiên Chúa, nhưng để xin điều mà Thiên Chúa quyết định ban cho chúng ta, khi nhậm lời chúng ta cầu nguyện. Thiên Chúa không chỉ quyết định ban vì những hiệu quả nào đó, nhưng còn ban với những nguyên nhân và cần có điều kiện nào đó. Có những điều Người ban khi chấp nhận lời cầu nguyện của chúng ta, theo cách mà con người xứng đáng đón nhận điều mà quyền năng thần linh đời đời muốn ban cho họ, nhờ lời cầu nguyện của họ (x. Somma teologica II-IIae, q.83, a.2).

Hơn nữa, cầu nguyện là rất hiệu nghiệm. Cầu nguyện có sức mạnh đến mức không thể tin được. Như Pascal tự vấn: “Tại sao Thiên Chúa đã dạy chúng ta cầu nguyện?” Ông trả lời: “Để thông ban cho thụ tạo của Người phẩm chất cao cả nhất” (Tư tưởng, 513). Cầu nguyện là quản lý chính vận mệnh cách ý nghĩa nhất. Khác với điều mà Nietzsche cho rằng “cầu nguyện là một nỗi xấu hổ, là một việc làm của những người nô lệ.”

3- Thiên Chúa sẽ nhậm lời

Hơn là một sự bó buộc, cầu nguyện là một đặc ân cao quý, một sự nối kết với Thiên Chúa. Trong dụ ngôn hôm nay, Chúa Giêsu nói rằng Thiên Chúa không để cho chúng ta phải chờ lâu, nhưng Người sẽ mau chóng đáp trả cho những ai cầu khẩn Người. Nhưng chúng ta tự hỏi rằng tại sao nhiều lần chúng ta cầu nguyện mà không được lắng nghe? Đây là vấn đề nghiêm túc và nhức nhối đối với người tín hữu và cần phải cẩn trọng với những câu trả lời dễ dãi và ngây thơ. Chúa Giêsu biết rõ rằng đôi lúc Thiên Chúa không chấp nhận hoặc chưa nhận lời cầu xin của chúng ta. Bởi thế, Người kể dụ ngôn về bà góa, để khuyến dụ chúng ta “hãy cầu nguyện luôn, mà không được nản chí.”

Đôi khi chúng ta không hiểu tại sao Thiên Chúa không nhận lời cầu xin chính đáng của chúng ta. Nhưng nếu chúng ta xin ơn gì, Người ban ơn đó, thì quả thật là khốn cho chúng ta. Nhiều người sau đó đã tạ ơn Chúa vì Người đã không chấp nhận lời cầu xin của họ. Có một người trẻ, giờ rất hạnh phúc với người vợ của mình, khi còn sinh viên, anh đã tán tỉnh nhiều cô gái khác như các chàng trai thường làm, anh đã cầu nguyện và nhờ người khác cầu nguyện cho anh có được một người vợ phù hợp. Sau khi đã cầu nguyện, nhưng anh thấy Chúa không nhận lời anh cầu xin, anh cảm thấy Chúa bỏ rơi mình và anh kết luận rằng những lời cầu nguyện đó là vô ích. Sau này, anh mới nghiệm ra rằng anh không thể có được người vợ như anh đang có, nếu Thiên Chúa đã nhận lời anh như anh cầu nguyện lần đầu hoặc lần thứ hai.

Như vậy, Thiên Chúa là Cha tốt lành, nhân hậu, sẵn sàng ban những ơn lành cần thiết cho chúng ta. Tuy nhiên, vì là một người Cha tốt lành, nên không phải bất cứ điều gì chúng ta xin, Người đều ban. Bởi lẽ, Người biết điều gì tốt và điều gì có ích để ban cho chúng ta. Bổn phận của chúng ta là hãy tin tưởng, kiên trì và siêng năng cầu nguyện. Chúng ta hãy cầu nguyện mỗi ngày, trước khi đi ngủ, khi thức dậy, khi đi làm, trước khi ăn cơm. Hãy cầu nguyện liên lỉ và đừng bao giờ nản chí. Amen.

 

.

SIÊNG NĂNG CẦU NGUYỆN

Lm Vũđình Tường

Phúc âm tuần này bắt đầu bằng việc Đức Kitô kêu gọi môn đệ Ngài siêng năng cầu nguyện. Ngay sau đó Ngài kể chuyện vị thẩm phán bất lương. Cuối bài Phúc Âm Ngài kết luận Thiên Chúa không bao giờ làm ngơ lời ta cầu xin.

Vị thẩm phán bất lương bởi ông ‘không sợ Thiên Chúa, cũng chẳng yêu thương tha nhân’. Luca 18,4. Chỉ câu này cũng đủ nói lên cuộc sống buồn thảm của người thẩm phán. Không mến Chúa, không yêu người là sống thiếu tình thương. Cuộc sống vắng bóng yêu thương là cuộc sống buồn tênh. Ông ta có quyền, có tiền, có thế. Ngày ngày ông ta ngồi ghế xét xử thiên hạ. Cuối ngày về nhà ông phải đối diện với nỗi buồn cắn rứt, không để ông yên ổn. Cuộc sống của ông là chuỗi ngày buồn thê thảm. Nguyên nhân rất đơn giản, bởi ông không sợ Thiên Chúa, ông cũng không thương ai, ngoại trừ chính ông. Bởi không thương ai nên chẳng ai thương. Điều đáng chú í trong câu chuyện là không phải người quyền thế gây cho ông đau khổ, mất ăn, mất ngủ. Người làm cho vị thẩm phán bất lương lo lắng, bất an là bà goá. Một người nghèo khó, không tên tuổi, không tiếng nói trong xã hội gây cho vị thẩm phán quyền lực lo lắng. Điều này cho biết có quyền, có thế chưa chắc có hạnh phúc, đôi khi là bia cho thiên hạ chế nhạo, chê bai, chửi rủa. Bà goá bị xử oan và bà liên tục khiếu nại cho đến khi bà có được công bằng. Không ai giúp bà, một mình kêu oan. Người thẩm phán bất lương giải oan cho bà không phải vì ông thương bà, cũng không sợ pháp luật, hay mến công bằng mà là thương chính ông. Bởi nếu không giải oan cho bà, ông sẽ không có bình an. Điều trên cho biết gây hận, nuôi thù là chối bỏ bình an. Hận thù, bình an không chung một mái nhà; tha thứ, bình an chung một mái ấm. Chính vị thẩm phán bất lương gây khổ cho mình; ông gieo thù bằng cách xử án bất công và kết quả chính ông đau khổ. Bởi không sợ Chúa, không mến người, vị thẩm phán xử oan cho nhiều người và bà goá chỉ là một ví dụ điển hình. Bà goá cho vị thẩm phán nếm thử chút xíu cái đau khổ của oan ức.

Vị thẩm phán có thể chối bỏ Thiên Chúa nhưng ông không thể chối bỏ được thực tế là tiếng lương tâm cắn rứt. Tiếng nói trong tâm hồn cứ dầy vò ông khiến ông ăn không ngon, ngủ không yên. Không mến Chúa, coi thường tha nhân, mất hạnh phúc. Phán đoán mà dựa thuần vào lí của con người, phán đoán đó khó tránh khỏi sai lầm do thiên tư, suy nghĩ lệch lạc. Chiến tranh, đồng khô, sông cạn, đất trôi đều là những dự án sai lầm trong việc khai quang, đào đất, lấp sông, chương trình thiếu nghiên cứu, nghèo kiến thức, là nguyên nhân gây nên do lãnh đạo phán đoán sai lầm. Những điều này gây đau khổ chồng chất trên vai người nghèo, kẻ khốn cùng trong nấc thang xã hội. Để tránh những phán đoán sai lầm trên người ta cần đặt căn bản phán đoán trên nguyên tắc Đức Kitô hướng dẫn. Đó là mến Chúa và yêu tha nhân. Phán đoán đặt trên căn bản mong mưu ích cho tha nhân, đăt lợi ích tha nhân làm chuẩn, làm nền tảng sẽ giúp tránh được nhiều sai trái, cố tránh gây đau khổ cho người nghèo, bởi phán đoán trên không thuần do lí trí mà có sự hướng dẫn từ Thánh Thần Chúa. Phán đoán chính đáng cần đi chung với cầu nguyện, khiêm nhường lắng nghe hướng dẫn của Thánh Thần.

Cầu nguyện đôi khi sốt sắng, khi buồn nản. Đừng để buồn nản cám dỗ nản lòng, ngưng cầu nguyện. Thiên Chúa nói với ta qua nhiều cách. Buồn nản, nhàm chán trong cầu nguyện rất có thể có ẩn í chi đó. Kiên tâm cầu nguyện sẽ nhận ra điều Chúa gởi gắm trong nhàm chán. Thiếu cầu nguyện sẽ lạc đường. Bắt đầu là lo lắng, quan tâm đến chính mình, sau đó quên tha nhân. Khi nhận ra mình thành người chánh án bất lương, liệu có đủ can đảm quay trở về đường ngay, nẻo chánh không. Trách nhiệm và vất vả trong cuộc sống làm cho ta mệt mỏi, nghĩ đến nghỉ ngơi và hưởng thụ, từ đó dần dần làm mất mục đích cuộc sống, và quên người hàng xóm láng giềng. Tệ hơn nữa bắt họ phục vụ mình. Cần coi cầu nguyện như hơi thở, như thức ăn, nước uống. Hơi thở trong cầu nguyện giúp con mắt tâm hồn nhận biết đường công chính. Thức ăn trong cầu nguyện tăng sức mạnh chống cám dỗ, và nước uống mang tươi mát cho đời sống tâm linh. Đức kitô kêu gọi ta cầu nguyện luôn bởi Ngài biết đó là điều tốt nhất cho tâm hồn. Cầu nguyện là cách tốt đẹp kết hợp với Thiên Chúa đời này và là con đường dẫn vào Thiên quốc đời sau.


KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO

Mục lục

1. Được rửa tội và được sai đi  (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Hãy loan báo Tin mừng (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Khiêm nhường trong truyền giáo  (Gm. Bùi Tuần)

4. Cầu nguyện cho việc truyền giáo  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

5. Say mê Thiên Chúa, say mê con người (Lm. Giuse Nguyễn)

6. Theo đạo phải chăng là một gánh nặng  (Lm. Giuse Lê Danh Tường)

7. Tâm hồn truyền giáo (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

8. Được rửa tội và được sai đi loan báo Tin mừng (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

9. Đừng trở thành bàn tay bại xụi của Chúa  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

10. Các con hãy đi  (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

11. Tin mừng thúc bách tôi  (Lm. G. Nguyễn Cao Luật)

12. Khánh Nhật Truyền giáo (Jorathe Nắng Tím)

13. Truyền giáo trong thế giới hôm nay  (Lm. Đan Vinh)

14. Vì Đấng yêu tôi  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

15. Giáo dân truyền giáo (Lm. Jos Hoàng Mạnh Hùng)

 

ĐƯỢC RỬA TỘI VÀ ĐƯỢC SAI ĐI

TGM. Giuse Vũ Văn Thiên

“Được rửa tội và được sai đi, Giáo Hội Chúa Kitô thi hành sứ mạng trong thế giới”, đó là chủ đề cho tháng Mười năm nay, được Đức Thánh Cha Phanxiccô tuyên bố là “Tháng Truyền Giáo Ngoại Thường”. Mục đích của Tháng truyền giáo ngoại thường là giúp các tín hữu thấy tính thời sự và cấp thiết của công cuộc loan báo Tin Mừng, vì lời Chúa Giêsu sai các tông đồ ra đi loan truyền Tin Mừng vẫn mang tính thời sự. Công đồng Vantican II khẳng định: “Truyền giáo là bản chất của Giáo Hội lữ hành”. Tuy vậy, trong suy tư và thực hành của số đông những người Công giáo, khái niệm “Truyền giáo” thực sự ít được để ý đến. Làm thế nào để hâm nóng nơi mỗi người tín hữu tinh thần truyền giáo, là căn bản của đời sống Kitô hữu? Đó là một trong những băn khoăn của Giáo Hội, của Đức Thánh Cha và của những vị chủ chăn ở mọi cấp độ.

Khái niệm “được sai đi” gắn liền với Bí tích Thanh tẩy. Bởi lẽ Bí tích này trao cho chúng ta ba sứ mạng quan trọng: Ngôn sứ, Tư tế và Vương đế. Chính vì thế, người giáo dân không được giữ lối suy nghĩ cũ kỹ trước đây coi việc truyền giáo là của “nhà tu” hoặc của một số người được tuyển lựa. Mỗi tín hữu đều có bổn phận thực thi sứ mạng này, tùy hoàn cảnh, khả năng và điều kiện của mình. Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu, một nữ tu sống trong Đan viện Các-men, không bao giờ ra ngoài và không tiếp xúc với ai. Tuy vậy, thánh nữ có tinh thần truyền giáo, qua những ước ao cháy bỏng để “đem Thánh giá đi trồng tại mọi miền đất trên thế giới” như lời Thánh nữ đã viết. Vì vậy, Thánh nữ cộng tác vào sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội bằng lời cầu nguyện. Nhiệt huyết truyền giáo được thể hiện qua những lời cầu nguyện sốt sắng và những hy sinh trong cuộc sống hằng ngày. Vì lẽ đó, Thánh Têrêsa được đặt làm Bổn mạng các xứ truyền giáo, ngang hàng với Thánh Phanxicô Xaviê, là người rảo khắp vùng Á châu để rao giảng Tin Mừng. Qua việc chọn Thánh Têrêsa làm Bổn mạng các xứ truyền giáo, Giáo Hội khẳng định với chúng ta: hiệu quả của công cuộc truyền giáo không chỉ đến từ những hoạt động bên ngoài, mà còn đến từ lời cầu nguyện và những thao thức làm cho Chúa Giêsu được mọi người nhận biết.

Nhìn lại thực tế các cộng đoàn tín hữu Công giáo tại Việt Nam, một tác giả đã nhận định: “Giáo dân tự hài lòng và an tâm với những sinh hoạt và tổ chức nội bộ, chưa ý thức vận dụng những thuận lợi sẵn có này cho công cuộc truyền giáo. Các linh mục chuyên chăm việc mục vụ hơn là truyền giáo, ưu tiên lo cho giáo dân hơn là đi tìm lương dân, hoạt động nghiêng về điều hành hơn là mở rộng, quản lý hơn là khám phá, suy nghĩ theo lối mòn hơn là tư duy cải biến, chuộng an thân hơn là dấn thân” (Trích bài viết của Lm G.B Trương Thành Công trong buổi gặp gỡ tại Vinh từ ngày 21-23/8/2019 do UB LBTM của HĐGM VN tổ chức). Quả vậy, hầu hết nơi các cộng đoàn và các cá nhân, chúng ta hài lòng với một tổ chức ổn định trong giáo xứ, nên ít để ý tới việc “đi ra các vùng ngoại biên” như Đức Thánh Cha mời gọi.

“Tháng truyền giáo ngoại thường” đã đến phần cuối và sẽ kết thúc. Tuy vậy tinh thần truyền giáo gắn liền với đời sống đức tin của người Kitô hữu. Cũng trong bài viết được nêu trên đây, tác giả nêu ba bước trong lộ trình truyền giáo cho lương dân: tiếp cận, xây dựng yêu thương và kể lại những điều may lành Chúa làm cho bản thân, như chứng từ chân thực về đức tin và vào sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời. Phương pháp này nhằm tạo sự thân thiện đối với anh chị em không cùng tôn giáo, không mang tính chiêu dụ nhưng khiêm tốn và chân thành trình bày đức tin của mình cho người khác.

Điều cần phải thực hiện trước hết khi nói đến truyền giáo, đó là xây dựng gia đình bền vững trong đức tin và trong tình yêu thương. Một gia đình tốt sẽ có sức lan tỏa sức mạnh truyền giáo đến môi trường xung quanh. Tình nghĩa vợ chồng, mối tương quan hài hòa giữa anh chị em và các thế hệ con cháu… tất cả là một chứng từ hùng hồn và hiệu quả cho đời sống đức tin. Khởi đi từ gia đình, chúng ta liên hệ đến khái niệm “gia đình” rộng lớn hơn, tức là giáo xứ, vì giáo xứ là một gia đình lớn gồm nhiều gia đình nhỏ hợp lại. Tình liên đới hiệp thông nơi cộng đoàn giáo xứ là một trong những điều kiện căn bản để thực thi sứ mạng truyền giáo. Tiếc thay đây đó còn tồn tại những chia rẽ nghiêm trọng nơi các cộng đoàn, như phản chứng của Tin Mừng và làm méo mó hình ảnh của Giáo Hội Chúa Kitô. Những hoạt động từ thiện nhằm giúp những người cơ nhỡ, dù là người đồng đạo hay anh chị em lương dân, đều diễn tả sinh động đức Ái là cốt lõi của Tin Mừng và giúp mọi người nhận ra các tín hữu là con của Cha trên trời.

“Có một thuộc tính không thể thiếu đối với những người bước vào đời sống tông đồ. Một điều tối quan trọng và thiết yếu, đó là họ phải có đời sống thánh thiện, Bởi vì ai rao giảng Thiên Chúa thì bản thân họ phải là một người của Thiên Chúa…” (Maximum Illud, số 26). Sự thánh thiện của mỗi chúng ta là điều cần thiết để Tin Mừng của Chúa được lan tỏa trong cuộc sống hôm nay. Đó cũng là điều mỗi người phải thực hiện trước hết, nếu muốn trở nên tín hữu đích thực và những thừa sai loan báo Tin Mừng.

 

.

HÃY LOAN BÁO TIN MỪNG

TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Một đạo sĩ hỏi các đệ tử: Các con có biết khi nào đêm tàn và ngày xuất hiện, khi nào ánh sáng tới và bóng tối lui đi không? Các đệ tử thi nhau trả lời: Thưa thày, có phải đêm tàn và ngày xuất hiện là khi từ xa nhìn một đoàn vật người ta có thể phân biệt được con nào là con bò và con nào là con trâu không? Thày lắc đầu: Không phải. Đệ tử khác trả lời: Thưa thày có phải ánh sáng tới và bóng tối lui là khi từ xa nhìn vào vườn cây, người ta có thể phân biệt được cây nào là cây xoài cây nào là cây mít không? Thày vẫn lắc đầu: Không phải. Thấy không ai trả lời được, thày mới giải nghĩa: Đêm tàn và ngày xuất hiện, ánh sáng tới và bóng tối lui là khi nào ta nhìn vào mặt người xa lạ và nhận ra đó là anh em mình.

Thật là khó hiểu. Tuy trên đời ta thấy có nhiều thứ ánh sáng. Có ánh sáng mặt trăng mặt trời. Có ánh sáng đèn dầu, đèn điện. Có những ánh sáng như tia X, tia hồng ngoại. Nhưng tất cả những ánh sáng đó chỉ giúp ta nhìn rõ sự vật. Không thấy có thứ ánh sáng nào soi vào mặt người xa lạ mà biến người ấy thành người thân của mình.

Mẹ Têrêxa dường như đã tìm ra thứ ánh sáng ấy.

Mẹ Têrêxa là một nữ tu người Anbani, được sai đến phục vụ người nghèo tại Ấn độ. Đến Ấn độ, thấy người nghèo khổ quá tội nghiệp. Biết bao người hấp hối ngoài lề đường. Chết rồi xác bị quẳng vào đống rác như xác thú vật. Biết bao trẻ thơ bị bỏ rơi. Biết bao gia đình chui rúc trong các căn nhà ổ chuột. Biết bao người đói khát không đủ cơm ăn áo mặc. Mẹ lăn xả vào phục vụ người nghèo.

Một hôm Mẹ đi thăm một ông già cô đơn trong căn lều tồi tàn. Bước vào lều Mẹ động lòng thương cảm. Vì tất cả đồ đạc chỉ là một mớ giẻ rách. Căn lều bụi bặm bẩn thỉu ngoài sức tưởng tượng. Và nhất là ông già thu mình lại không muốn giao tiếp với ai. Mẹ chào hỏi ông cũng không buồn trả lời. Mẹ xin phép dọn dẹp căn lều ông cũng làm thinh. Đang khi dọn dẹp, Mẹ thấy trong góc lều có một cây đèn dầu bụi bám đen đủi. Sau khi lau chùi, Mẹ kêu lên: Ô, cây đèn đẹp quá. Ông già nói: Đó là cây đèn tôi tặng vợ tôi ngày cưới. Từ khi bà ấy chết, tôi không bao giờ đốt đèn nữa. Thấy ông đã cởi mở, Mẹ Têrêxa đề nghị: Thế ông có bằng lòng cho các chị nữ tu mỗi ngày đến thăm và đốt đèn cho ông không? Ông đồng ý. Từ đó mỗi buổi chiều, các chị tới thăm ông, dọn dẹp nhà cửa, nói chuyện với ông. Ngọn đèn ấm áp trong căn lều ấm cúng. Ông trở nên vui vẻ hơn. Ông đã đi thăm mọi người. Mọi người đến thăm ông. Cuộc đời ông vui tươi trở lại.

Trước kia cuộc đời ông tăm tối không phải vì ông không thắp đèn. Nhưng vì ngọn đèn trong trái tim ông đã tắt. Trái tim khép kín nên ông mất niềm tin vào con người, vào cuộc sống. Ông nhìn mọi người như thù địch. Từ ngày các nữ tu đến đốt đèn đời ông vui lên, sáng lên. Đời ông sáng lên không phải vì có ngọn đèn dầu hoả soi sáng. Nhưng vì trái tim ông bừng sáng. Ngọn đèn tâm hồn ông rạng rỡ. Tâm hồn ông cởi mở và ông nhìn thấy mọi người là anh em. Thứ ánh sáng ấy ta thấy trong Phúc Âm. Khi người Samaritano nhân hậu cúi xuống săn sóc, băng bó vết thương cho người bị nạn bên đường. Hai người nhìn nhau. Một làn ánh sáng loé lên. Và họ nhận ra nhau là anh em.

Cứ như thế Mẹ Têrêxa miệt mài phục vụ người nghèo. Lập những trung tâm đón tiếp những người hấp hối, săn sóc để họ được chết, được chôn cất như một con người. Nuôi trẻ mồ côi. Xây bệnh viện. Xây trường học. Công việc càng ngày càng mở rộng. Số người theo Mẹ ngày càng đông và Mẹ đã lập dòng Nữ tử Thừa sai Bác ái chuyên phục vụ người nghèo. Hiện nay nhà dòng đã có mặt trên 132 quốc gia. Mẹ được thế giới biết tiếng. Mẹ được nhiều giải thưởng trong đó có giải Nobel Hoà bình. Năm 1997, khi Mẹ qua đời, 80 nguyên thủ quốc gia, trong đó có phu nhân tổng thống Mỹ Bill Cliton và phu nhân tổng thống Pháp Jacques Chirac đã đến dự đám tang. Và nước Ấn độ, đa số dân theo Ấn độ giáo, vốn không ưa đạo Công giáo, đã chôn cất Mẹ theo nghi thức quốc táng. Hai mươi mốt phát súng đại bác tiễn đưa linh hồn Mẹ về trời.

Mẹ Têrêxa là một nhà truyền giáo thành công của thế kỷ 20. Vì Mẹ đã biết thắp lên ngọn đèn soi trong đêm tối. Giữa đêm tối vật chất hưởng thụ, Mẹ đã thắp lên ngọn đèn siêu nhiên của thiên đàng. Giữa đêm tối rụt rè nghi kỵ Mẹ đã thắp lên ngọn đèn cởi mở tin yêu. Giữa đêm tối lạnh lẽo cô đơn. Mẹ đã thắp lên một ngọn đèn ấm áp tình người. Trái tim Mẹ là một ngọn đèn sáng. Ánh sáng ấy toả lan tới muôn người làm cho mọi người nhận biết khuôn mặt hiền lành khiêm nhường của Đức Kitô và làm cho mọi người nhìn nhau là anh em.

Vào thời Cộng sản còn mạnh và còn chống đối Công giáo kịch liệt. Mẹ Têrêxa vẫn có thể lập nhà ở Nga, ở Cuba và cả ở Việt Nam. Với tấm lòng bác ái, Mẹ đã chiếu toả ánh sáng Tin Mừng khắp thế giới.

Hôm nay Giáo Hội cầu nguyện cho việc truyền giáo. Hôm nay Giáo Hội mời gọi chúng ta góp phần vào việc truyền giáo. Không gì bằng ta hãy noi gương Mẹ Têrêxa, thắp lên ngọn lửa tin yêu trong lòng mình, đem ngọn lửa yêu thương phục vụ soi sáng khắp nơi. Thế giới sẽ bừng sáng và mọi người sẽ nhìn nhận nhau là anh em.

GỢI Ý CHIA SẺ

1- Nhờ đâu Mẹ Têrêxa đến được cả những nước Cộng sản?

2- Nhờ đâu việc truyền giáo của Mẹ Têrêxa thành công tốt đẹp?

3- Đời sống bạn là ánh sáng hay là bóng tối cho những người chung quanh?

4- Bạn quyết tâm làm gì để loan báo Tin Mừng cho mọi người?

 

.

KHIÊM NHƯỜNG TRONG TRUYỀN GIÁO

GM. Bùi Tuần

Người truyền giáo tốt có thể là người không hiểu biết nhiều và sâu sắc về Chúa, nhưng nhất định phải là người có sự sống của Chúa trong mình.

Tôi vẫn nghĩ như vậy. Và tôi có kinh nghiệm như thế.

Người ta không nhìn thấy Chúa trong họ. Nhưng người ta có thể cảm được phần nào sự hiện diện của Chúa trong họ qua một số dấu chỉ. Một trong những dấu chỉ dễ thấy nhưng lại chắc chắn, đó là sự khiêm nhường.

Trước khi khiêm nhường được nâng lên hàng nhân đức siêu nhiên, nó đã là một đức tính nhân bản.

Ngay trên lãnh vực nhân bản, khiêm nhường vẫn được coi là một giá trị cao quí. Văn hoá Việt Nam vốn ca ngợi người khiêm tốn. Lễ giáo Việt Nam vốn đề cao đức khiêm nhường, coi khiêm nhường như một yếu tố của đạo làm người.

Trong xử thế, khiêm nhường là chià khoá mở lòng người ta, gây nên thiện cảm. Nhờ thiện cảm, người ta dễ chấp nhận ta, và dễ nghe ta. Trái lại, kiêu căng dễ gây nên ác cảm. Khi ác cảm đã chớm nở, thì lý luận dù đanh thép đến đâu, chứng từ dù rõ ràng đến mấy, người ta cũng không muốn đón nhận ta và những gì ta trình bày, kể cả khi ta trình bày Tin Mừng cứu độ.

Cái kiêu căng dễ xúc phạm đến người khác nhất, chính là sự tự đắc cho mình là đúng, là đẹp, là đáng kính trọng; còn người khác thì bị coi là sai, là xấu, là phải loại trừ. Nhất là trong việc phê phán tôn giáo, tín ngưỡng và những lựa chọn liên quan.

Người tự tôn, hay khinh miệt người khác rất dễ rơi vào những sai lầm trầm trọng và sự mù quáng thê thảm. Hơn nữa, họ có thể làm cho chính mình lâm vào tình trạng điên rồ. Để rồi, sẽ làm sụp đổ mọi sự nghiệp đạo đức của mình chỉ trong giây phút. Thảm thương nhất là kẻ kiêu căng cứng lòng sẽ vô tình mở rộng cửa lòng mình, rước quỷ Satan là thần kiêu ngạo vào ngự trị trong đó, để rồi lập liên minh với các hình thức kiêu căng khác, chống lại Nước Thiên Chúa.

Đọc Phúc Âm, tôi thấy Chúa Giêsu nhắc bảo chúng ta phải hết sức tránh mọi hình thức kiêu căng như:

Đừng thích tìm địa vị cao trước công chúng, như trong đám tiệc (Lc 14,7). Đừng giả hình đạo đức bằng cái vỏ bề ngoài, còn bên trong thì dơ bẩn (Mt 23,5-25). Đừng căn cứ vào mấy việc đạo đức của mình, để khinh chê người khác (Lc 18,9-14).

Đang khi đó, Kinh Thánh rất khen người khiêm nhường. Đến mức Chúa Giêsu coi họ là những người được Chúa Cha mạc khải cho biết nhiều điều cao siêu, mà Người không cho những người khôn ngoan và thông thái biết (Lc 10,21). Chính bản thân Chúa Giêsu cũng rất khiêm nhường. Ngài nói: “Hãy học với Thầy, vì Thầy hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29). Hơn nữa, suốt cuộc đời, từ khi sinh ra trong hang đá cho đến lúc chết trên thánh giá, Chúa Giêsu luôn làm chứng Đấng cứu thế không phải là một quyền lực, nhưng là tình yêu xót thương phục vụ khiêm nhường.

Do đó, sự khiêm nhường của người truyền giáo không phải chỉ là một đức tính nhân bản, mà còn phải là một nhân đức được chia sẻ từ sự khiêm nhường của Đức Kitô. Đức Kitô truyền sang cho họ sự khiêm tốn của Người, để nhờ đó, họ sẽ luôn nhận được thêm chân lý và sự sống cứu độ của Người.

Chính ở điểm này, mà đến lượt mình, chính người truyền giáo cũng là người cần được Chúa Giêsu thường xuyên truyền giáo cho. Và đây chính là một kinh nghiệm quí báu họ có được về người được truyền giáo.

Kinh nghiệm cho thấy người được truyền giáo rất cần có lòng khiêm tốn.

Thuở xưa, các thầy thượng tế, các kỳ lão, các kinh sư, các biệt phái đã nghe tận tai chính Chúa Giêsu giảng, đã xem tận mắt những phép lạ Chúa Giêsu làm. Nhưng không mấy người trong họ đã tin. Hơn nữa, càng nghe thấy và càng nhìn thấy Chúa Giêsu, họ càng đâm ghét. Sau cùng họ đã giết Người.

Sở dĩ Tin Mừng đã không vào lòng họ được, chính là vì sự kiêu căng tự đắc đã khoá chặt lòng họ.

Thời nay cũng thế. Những người đơn sơ, khiêm tốn dễ đón nhận được những cái mới mẻ của Tin Mừng hơn những người tự phụ kiêu căng.

Vì thế, tôi nghĩ rằng: Người truyền giáo cần phải khiêm nhường. Người được truyền giáo cũng cần khiêm nhường.

Để có đức khiêm nhường, chúng ta không thể coi thường việc tập luyện mình về nhiều mặt. Một người không được uốn nắn tập luyện kỹ lưỡng về đức khiêm nhường sẽ dễ trở nên hư hỏng: Hư hỏng do những thất bại và do cả những thành công, do những thực tế cuộc đời và cả do những ước mơ và ảo tưởng của mình, nhất là do sự cố chấp tôn thờ cái tôi và làm nô lệ cho ý riêng mình.

Không những chúng ta cần tập luyện để nên khiêm nhường, mà cũng cần cầu nguyện khẩn xin Chúa ban ơn khiêm nhường.

Ơn khiêm nhường, mà Chúa ban cho kẻ cậy trông nài van Chúa, sẽ đặt ta dưới cái nhìn thánh thiện của Chúa. Nhờ đó ta sẽ nhận ra Chúa nơi người khác và ta là kẻ tội lỗi, bất xứng, mọi sự Chúa ban cho ta đều do tình xót thương nhưng không của Chúa. Càng được ơn khiêm nhường, ta càng hiểu thấm thiá lời thánh Giacôbê: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (Gc 4,6). Và chúng ta cũng sẽ càng thấy rõ thói quen tìm đắc thắng, phô trương, trịch thượng, bất bao dung trong truyền giáo không những đang trở nên quá lỗi thời, mà còn gây nhiều thiệt hại cho Hội Thánh. Bởi vì đó là những điều rất trái nghịch với thánh ý Chúa.

Một điều lợi nữa, mà ơn khiêm nhường hôm nay sẽ đem lại cho ta, đó là nó giúp ta biết kiểm điểm lại bổn phận đón nhận Tin Mừng và bổn phận loan báo Tin Mừng. Ai trong chúng ta cũng có hai bổn phận đó.

Trong hoàn cảnh cụ thể ta đang sống, Chúa vẫn gửi cho ta vô số Tin Mừng mới mẻ. Ta đã đón nhận thế nào?

Trong địa vị cụ thể của ta và với những phương tiện cụ thể của ta, ai trong chúng ta cũng vẫn có thể góp phần không nhỏ vào việc loan báo phần không nhỏ vào việc loan báo Tin Mừng, hoặc bằng cách này, hoặc bằng cách khác. Ta đã thực hiện bổn phận đó thế nào?

Nếu khiêm tốn biết mình, khiêm tốn ăn năn, khiêm tốn sửa mình về bổn phận truyền giáo, chúng ta sẽ có một lương tâm truyền giáo đổi mới. Để từ nay, ta biết nhận lãnh, biết sinh lời và biết chia sẻ Tin Mừng cho những người gần xa, mà ta có thể gặp.

Nếu ta ý thức được như vậy và cố gắng làm như vậy, thì đời ta sẽ mang ý nghĩa cao đẹp, đi theo đúng hướng về với Cha trên trời.

 

.

CẦU NGUYỆN CHO VIỆC TRUYỀN GIÁO

Lm. Jos Tạ duy Tuyền

Có người nói với tôi: “Thưa cha gia đình ông B sống trong giáo xứ bao nhiêu năm mà chẳng chịu theo đạo?” Tôi hỏi lại: “Bạn đã bao giờ cầu nguyện cho ông B đó theo đạo chưa? Nếu không làm gì mà họ theo đạo mình cũng khó phải không?”. Cũng có người nói: “anh C đó hay đi chơi với chúng con mà chẳng thấy theo đạo?”. Tôi nói: “Chúng con có ai  cầu nguyện cho anh C theo đạo chưa mới là vấn đề?”.

Thực vậy, việc truyền giáo không dựa theo khả năng của chúng ta mà dựa vào sức mạnh của quyền năng Thiên Chúa. Chúa Giê-su khi sai 72 môn đệ ra đi thì Ngài đã nhắc các ông việc làm đầu tiên là cầu nguyện : “các con hãy cầu nguyện xin chủ ruộng sai thợ đến gặt”. Chúa muốn nhắc chúng ta việc truyền giáo không thể dựa vào sức mình mà phải dựa vào quyền năng của Chúa. Thế nên phải cầu  nguyện để ơn Chúa tác động, lôi kéo, còn chúng ta chỉ là khí cụ nhỏ bé trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa mà thôi.

Vậy cầu nguyện là gì?

Cầu nguyện theo thánh Augstinô là thưa chuyện với Chúa, như một người con hiếu thảo thưa chuyện với cha mẹ, hoặc như hai người bạn chân tình tâm sự với nhau.

Và cầu nguyện như thế nào?

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy cầu nguyện trong kiên trì và tín thác. Thiên Chúa sẽ không bỏ rơi những ai kêu cầu Người, nhất là những người thấp hèn, bé nhỏ, miễn là biết đặt niềm tin tưởng vào Chúa.

Bà goá  mà Phúc âm nhắc tới là một phụ nữ nghèo và “thấp cổ bé miệng”, bà ta chẳng hy vọng được xét theo lẽ công bằng. Nhưng bà có khí giới là sự kiên trì. Sự kiên trì đã đánh gục tính kiêu ngạo của ông quan, trời chẳng sợ, người chẳng nể, thế mà phải nhượng bộ xử tốt cho bà.

Việc truyền giáo cũng phải khởi đi từ lời cầu nguyện của mọi thành phần dân Chúa. Cầu nguyện trong kiên trì để Chúa sẽ làm những điều tốt nhất cho giáo hội của Chúa.

Mỗi năm chúng ta tổ chức ngày khánh nhật truyền giáo rất linh đình nhưng thử hỏi con số theo đạo được bao nhiêu? Chúng ta tự hào có một lực lượng rất đông tông đồ giáo dân nhiệt thành thăm viếng, tặng quà cho anh chị em lương dân, nhưng thử hỏi được mấy người đã nhờ những cuộc thăm viếng phát quà của chúng ta mà họ theo đạo? Chúng ta tự hào là Đạo chúng ta là đạo yêu thương, nhưng thử lắng nghe lương dân họ nói gì về người có đạo? Người có đạo vẫn sống thiếu tình yêu, vẫn sống lỗi công bằng và bác ái? Nơi xứ đạo vẫn còn nhiều tệ nạn xì ke ma tuý, băng nhóm “Đức ma tuý” hay “Huy cần sa” mà không ai dám ý kiến chỉ làm ngơ cho cái xấu lộng hành? Nơi xứ đạo vẫn còn tụ điểm cờ bạc, cá độ làm sao có thể thu hút người ngoại theo đạo? . . .

Thế nên, chúng ta cần phải nhắc lại với nhau rằng việc truyền giáo không dựa trên con người mà là dựa vào quyền năng của Thiên Chúa. Các tông đồ năm xưa từng cầu nguyện và khi tràn đầy Chúa Thánh Thần họ mới ra đi loan báo Tin mừng. Các ngài đã ra đi dưới bóng của Chúa Thánh Thần nên đã mang lại mùa xuân cứu độ trải rộng khắp mọi nơi trên địa cầu.

Thiết tưởng việc truyền giáo phải khởi đi bằng một cuộc hiệu triệu cho toàn thể tín hữu về bổn phận cầu nguyện trong việc truyền giáo. Cầu nguyện không chỉ cho có nhiều nhà truyền giáo để đến với lương dân. Cầu nguyện một cách cụ thể cho ông A, anh B mà mình quen biết được ơn trở về với Chúa. Cầu nguyện kèm theo những dịp thăm viếng chia sẻ bác ái sẽ làm cho muôn dân cảm mến Thiên Chúa và khao khát tìm kiếm Ngài. Đó mới là cách chúng ta đang biến mình làm khí cụ của Chúa để mang tin mừng đến cho mọi nơi. Chúng ta đừng nói “tại sao anh A không theo đạo?”, mà phải nói: “tại sao tôi không cầu nguyện cho anh A, người bạn thân của tôi được gặp Chúa?”. Đó mới là cách thức truyền giáo hữu hiệu nhất.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn ý thức việc truyền giáo và sống tinh thần truyền giáo trong lời cầu nguyện và đời sống chứng nhân hằng ngày của mình. Amen

 

.

SAY MÊ THIÊN CHÚA, SAY MÊ CON NGƯỜI

Lm. Giuse Nguyễn

 Trong Tông thư gửi Thánh bộ Truyền giảng Tin Mừng cho các dân tộc ngày 22/10/2017, ĐTC. Phanxicô nhắc lại những nét chính yếu trong Thông điệp Maximum Illud về hoạt động của các nhà truyền giáo trên thế giới của ĐTC. Bênêđictô XV (30-11-1919). Từ đó Ngài mời gọi phải có biện pháp hữu hiệu cho việc truyền giáo trong thời đại hôm nay ; phải mạnh dạn, không sợ hãi với quyết định truyền giáo ; nhất là phải mạnh mẽ cải tổ việc mục vụ để tất cả mọi hoạt động phải quy về việc Truyền giáo.

ĐTC đề nghị : “Tháng 10 năm 2019 sẽ là Tháng Truyền Giáo ngoại thường để tái đánh thức một cách mạnh mẽ hơn nữa  ý thức về Missio Ad Gentes – sứ vụ đến với muôn dân -,… để Tình Yêu đối với sứ vụ truyền giáo được lớn lên, mà sứ vụ truyền giáo ấy chính là một niềm say mê của Chúa Giêsu, nhưng đồng thời cũng là niềm say mê của dân Ngài.” Tất cả những đề nghị trên chỉ có thể được thực hiện với niềm say mê.

Niềm say mê đó được ĐTC viết trong sứ điệp Truyền giáo 2019 gởi cho toàn thể cộng đồng dân Chúa với chủ đề: “Được chịu phép rửa và được sai đi: Giáo Hội của Chúa Kitô trong sứ mạng giữa thế giới”. Niềm say mê đó được khởi hứng bằng việc nhận món quà nhưng không qua Bí tích Rửa tội, thì cũng phải tự hào cho đi cách nhưng không. Vì thế, Chúa Nhật Truyền giáo hôm nay thêm một lần nữa nhắc nhở các Kitô hữu về niềm tin vào Đức Giêsu mà họ đã được Thiên Chúa qua Giáo hội ưu ái ban tặng để họ biết giữ gìn; từ đó thôi thúc họ ban tặng lại cho người khác bằng “đôi mắt và con tim của Chúa”.

“Đôi mắt” đó luôn hướng về Thiên Chúa Cha bằng đời sống cầu nguyện: “Đức Giêsu ngước mắt lên trời và cầu nguyện” (Ga 17, 11b)

“Trái tim” đó luôn hướng về mọi người: “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con” (Ga 17, 20).

Quả thật, trong suốt cuộc đời sứ vụ, Đức Giêsu đã thể hiện niềm say mê Thiên Chúa và say mê con người. “Niềm say mê của Chúa Giêsu”, cũng phải là “niềm say mê của dân Ngài”. Muốn Truyền giáo không phải là             quan tâm đến việc làm gì, nhưng phải là làm như thế nào. Vì thế, Truyền giáo là thể hiện niềm say mê của Chúa Giêsu trong cuộc đời chúng ta.

Đức Giêsu “say mê Thiên Chúa”. Các Kitô hữu cũng phải vậy. Đó là nhắc nhở ta muốn truyền giáo trước hết phải quay về với nguồn cội đức tin của mình là Thiên Chúa chứ không là ai khác.

Một số người Công giáo Việt Nam đang bị lệch lạc trong hình thức thờ phượng. Vì vậy họ khó mà “Truyền Giáo” trong xã hội hôm nay. Lệch lạc khi chúng ta là người Công giáo mà vẫn thờ thần tài, vẫn xem thầy xem bói, xem ngày xem tháng.

Đứng trước những nguy hiểm đó, Ủy ban Văn hóa thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đã gởi văn bản “Hướng Dẫn Việc Tôn Kính Tổ Tiên”, trong đó có phần nói việc “những thói tục trái với đức tin Công giáo”, nói rõ:

“Giáo hội tại Việt Nam luôn tôn trọng nền văn hóa dân tộc mình, nhưng giáo hữu không được thực hiện những thói tục ngược chiều với đức tin Công giáo sau đây:

  • Coi tuổi, chọn ‘ngày lành tháng tốt’ là đi ngược với xác quyết: “Đức Kitô là chủ thời gian và muôn thế hệ”.
  • Cúng vái và đặt tượng Thần Tài, Ông Địa tại cửa hàng hay nhà riêng để cầu xin tiền tài như các lương dân quen làm là lỗi phạm giới răn thứ nhất: “thờ phượng và kính mến mộtThiên Chúa duy nhất”.
  • Đặt hồn bạch hay linh vị,mở cửa mả… là ngược với đức tin Công giáo.

Quả thật khi không có một niềm xác tin vào Thiên Chúa thì chúng ta khó mà sống đạo, huống hồ chi đến việc truyền đạo. Hãy thành tâm suy nghĩ về điều này để chúng ta một lòng say mê Thiên Chúa.

ĐTC. Phanxicô đã khẳng định: “phải mạnh dạn, không sợ hãi với quyết định truyền giáo”. Chúng ta cứ nói và cổ vũ cho việc truyền giáo, nhưng chúng ta đã dám mạnh dạn dấn thân chưa? Mạnh dạn bằng việc loại bỏ những thói quen thờ phượng không đúng đắn xưa nay, bằng việc tin tưởng và sống theo sự hướng dẫn của Chúa. Ước mong sẽ không còn bóng dáng của những việc mê tín dị đoan, của những niềm tin lệch lạc trong cộng đoàn, trong giáo xứ, có như vậy mới mong Tin Mừng của Đức Giêsu hiện diện trong môi trường chúng ta đang sống.

Đức Giêsu “say mê con người” qua việc Ngài dành cho nhân loại một tình yêu thương nồng nàn và dám mạnh dạn hy sinh tất cả cho nhân loại chúng ta. Tình yêu đó hướng đến mọi người, nhưng nhất là những người nghèo khổ, bệnh tật, già yếu, những người có hoàn cảnh khó khăn… Để Ngài sẵn sàng hy sinh, phục vụ họ.

Mối bận tâm trong cuộc đời Đức Giêsu không phải là vật chất, tiện nghi, những gì cho mình, nhưng là cho cộng đoàn, cho người khác.

Cách thức để truyền giáo hữu hiệu trong thời đại hôm nay chính là việc “say mê con người”, nghĩa là biết tôn trọng sự sống, biết nâng cao phẩm giá con người bằng tất cả sự nổ lực của bản thân, của cộng đoàn.

Chắc chắn khi thực hiện những điều này, Kitô hữu sẽ mất mát nhiều thứ: vật chất, thời giờ, sức khỏe…, nhưng nếu đã là đam mê thì người ta sẽ sẵn sàng làm tất cả.

Ước mong mọi người trong giáo xứ chúng ta sẽ “say mê con người” bằng cách biết tôn trọng sự sống và góp phần nâng cao phẩm giá con người.

Xin Chúa qua lời bầu cử của Mẹ Maria, người nữ Truyền giáo cho ngày Chúa Nhật Truyền giáo trong tháng Truyền giáo ngoại thường này giúp các Kitô hữu ý thức về việc “say mê Thiên Chúa và say mê con người” để chúng con lo củng cố đức tin và tình mến. Đó chính là phương tiện Truyền giáo hữu hiệu trong mọi thời đại, nhất là ngày hôm nay.

 

.

THEO ĐẠO PHẢI CHĂNG LÀ MỘT GÁNH NẶNG

Lm. Giuse Lê Danh Tường

Người bổn đạo gốc sinh ra trong một gia đình Công giáo, được lãnh nhận bí tích Rửa tội từ khi còn nhỏ; lớn lên, học bổn xưng tội lần đầu, chịu phép Thêm sức; rồi khi lập gia đình thì học thêm chút ít về giáo lý hôn nhân. Ta theo đạo là vì gia đình ta có đạo. Ta giữ những luật lệ trong đạo và kể như ta đã là người có đạo. Chính vì thế mà đôi khi đạo trở nên một gánh nặng cho cuộc sống của ta, một cuộc sống vốn đã có quá nhiều khó khăn và nặng nhọc. Nhưng phải chăng theo Đạo là như thế?

Nếu theo đạo mà lại trở nên một gánh nặng thì có lẽ ta nên xem lại. Hoặc là ta đã sai lầm khi theo đạo, hoặc là ta đã sai lầm trong cách sống đạo.

Dù là người có đạo hay không có đạo, ta đều thấy rằng: khi tôi làm điều gì sai trái thì tôi cần được tha thứ, khi ta gặp khó khăn thì ta cần giúp đỡ, khi ta đổ vỡ thì ta cần sự bù đắp. Người ta chạy đến ông thần nọ bà thánh kia là để cầu xin che chở, cầu xin cứu giúp, cầu xin ban ơn, cầu xin chỉ dẫn.

Tìm đến sự trợ giúp của thần thánh là khôn ngoan. Nhưng đâu là nơi ta tìm về, đâu là nơi ta cậy dựa? Đức Giê-su, chính Ngài là Chúa và là người. Chính Ngài là Đấng mà mọi người xưng mình có Đạo đi theo. Chính Ngài là Đạo, là Đường.

Chúa Giêsu là vị thần đích thực, là Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Ngài đã ở với ta để nói cho ta biết Thiên Chúa là thế nào và cũng nói cho ta hay làm người thì phải sống làm sao. Chính Chúa Giêsu, Ngài là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Đạo là đường. Ta theo đạo là đi theo con đường của Chúa Giêsu, sống theo cách sống của Ngài, làm theo cách Ngài đã làm, đối xử với người khác theo cách Ngài đối xử. Và hơn thế nữa, chính Ngài nâng đỡ ta trong mọi cảnh huống của cuộc đời.

Khi bạn lầm lỗi hay khi phạm tội bạn cần được tha thứ, bạn đến với Chúa Giêsu. Ngài luôn sẵn sàng tha thứ cho bạn, đón nhận bạn vào trong vòng tay yêu thương của Ngài. Bạn sẽ được bình an.

Khi bạn bị oan ức, bị sỉ nhục, bạn chạy đến với Chúa Giêsu, bạn sẽ được Ngài đồng cảm với bạn, chia sẻ với bạn. Bởi chính Ngài đã bị người ta sỉ vả, bị hiểu lầm đến độ bị kết án tử hình trên cây thập giá một cách oan uổng.

Bạn bị đổ vỡ cần được hàn gắn, bạn đến với Chúa Giêsu bạn sẽ được Ngài yêu thương vỗ về và hàn gắn vết thương cho bạn. Ngài sẽ làm cho bạn trở nên phong phú hơn bạn tưởng.

Khi bạn có những tâm sự mà không biết nói với ai, bạn đến với Chúa Giêsu, Ngài luôn sẵn sàng lắng nghe bạn và cảm thông với bạn.

Nếu bạn đang lâm cảnh túng bấn, đói khổ, bạn đến với Chúa Giêsu, bạn sẽ gặp Ngài, một Đấng vốn là Thiên Chúa nhưng đã sống một kiếp người nghèo khổ tột cùng: sinh ra trong hang đá bò lừa, sống nơi thôn giã, lang thang không nơi gối đầu và chết nhục nhã, tàn tạ trên cây thập giá. Bạn sẽ nhận thấy giá trị đích thực của cuộc sống và tìm ra lối thoát cho cuộc đời.

Khi bạn bị người mà mình hết mực yêu thương quay lại phản bội bạn, bạn đến với Chúa Giêsu bạn sẽ được Ngài yêu thương và chia sẻ với bạn. Bởi chính Ngài đã yêu thương con người ta, yêu đến tột cùng, yêu đến chết vì người yêu. Thế nhưng biết bao con người đã phản bội lại tình yêu của Ngài, quay lại sỉ vả Ngài thậm tệ.

Bạn đang cần sự chỉ dẫn, bạn đến với Chúa Giêsu, Ngài sẽ chỉ dẫn cho bạn. Hơn nữa, Ngài còn tìm cách giúp đỡ bạn, tiếp sức cho bạn để bạn đạt đến điều Ngài chỉ dẫn. Nếu cần một bằng chứng để chứng minh cho sự thật mà Ngài chỉ dẫn thì Chúa Giêsu đã lấy cái chết của mình, lấy chính mạng sống mình để làm chứng cho sự thật ấy.

Theo đạo là thế, là đi theo Đức Giêsu, là gặp gỡ Ngài, là sống với Ngài, là chia sẻ với Ngài, là kết hiệp với Ngài mọi nơi mọi lúc trong cuộc sống của ta, chứ không phải chỉ trong nhà thờ lúc đi lễ mà thôi. Theo đạo không phải chỉ để giữ một số luật lệ trong đạo cho qua. Nhưng theo đạo là sống một cuộc sống gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu.

Thế nhưng, ta thử nhìn xem đã có bao nhiều người gặp gỡ Chúa Giêsu, bao nhiêu người sống gắn bó với Chúa Giêsu. Xung quanh ta còn hàng vạn hàng vạn người chưa được biết về Chúa Giêsu. Nếu ta đã nhận biết Chúa Giêsu mà ta không giới thiệu Ngài cho những người đang sống xung quanh ta thì ta đã sống quá ích kỷ chăng: thấy hay, thấy tốt mà chỉ biết khư khư giữ cho mình.

Trong những câu chuyện hàng ngày với hàng xóm, trong những giờ giải lao nơi công sở với đồng nghiệp, trong những giờ ra chơi với các bạn cùng lớp tại sao lại không nói về Chúa Giêsu? Việc nhận biết Chúa Giêsu sẽ đưa ta đến sự nhận biết nhau là anh em con một Cha trên Trời. Đẹp làm sao khi mọi người cùng sống yêu thương, đùm bọc nhau theo gương Chúa Giêsu, trong tình yêu của Chúa Giêsu. Truyền giáo là ra đi giới thiệu cho người khác biết về Chúa Giêsu để mọi người cùng trở về đón nhận nguồn ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã thực hiện cho ta.

Lạy Chúa Giêsu, xung quanh chúng con còn hàng vạn, hàng triệu người chưa được biết đến Chúa. Xin Chúa hun đúc tâm hồn chúng con để chúng con biết can đảm nói về Ngài cho mọi người đang sống xung quanh chúng con.

 

.

TÂM HỒN TRUYỀN GIÁO

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Nhà truyền giáo không tự dưng biết Lời Chúa để thành người rao giảng. Không có siêu nhiên nào mà không gắn liền tự nhiên. Mẹ Maria là nữ vương truyền giáo, bởi tâm hồn Mẹ được ướp trong kinh nguyện gia đình, hội đường để Lời Chúa trở nên Người. Mẹ được sứ thần Gabriel chào chúc: “Kính Mừng Maria đầy ơn phúc”. Mẹ Maria một tâm hồn truyền giáo tuyệt diệu!

Gia Đình Nơi Ươm Mầm truyền giáo.

Thưở xưa, thời của Đức Maria, mọi đứa trẻ Do Thái tới tuổi hiểu biết một chút, đều có một niềm vui khi đến ngày Sabat. Một tâm hồn tôn giáo được hun đúc từ tấm bé. Mặt tươi vui, quần áo đẹp nhất, tung tằng cùng cha mẹ khao khát đến hội đường hằng tuần, tham dự cầu nguyện, nghe kinh Tora và giảng giải.

Việc giáo dục con trẻ, người chính yếu là người mẹ trong năm năm đầu đời. Người mẹ luôn nhắc lại cho con cháu mình điều thiết yếu trong sách Đệ Nhị Luật: “ Ngươi sẽ yêu mến Yavê Thiên Chúa của ngươi hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, hết sức lực ngươi.  Các lời ta truyền cho ngươi hôm nay hãy ở nơi lòng ngươi, ngươi sẽ lặp lại cho con cái ngươi; và ngươi sẽ ôn lại khi ngươi ngồi nhà và khi ngươi đi đường; khi ngươi nằm và khi ngươi dậy.” (Đnl 6, 5 – 7). Từ trong gia đình cha mẹ và con thấm nhuần kinh nguyện, Lời Chúa, ngay trong những hoạt động thường ngày cũng đượm chất thiêng liêng, thành kính.

Nơi trường học.

Bé từ năm tuổi trở lên đi học ở “nhà đọc sách” về kinh Tora, đến trưa về nhà. Khi ở nhà đứa trẻ phụ giúp cha mẹ, làm việc nhà hay việc nông hoặc một nghề của cha mẹ. Trẻ được học tiếng Hip ri vỡ lòng, rồi nghe đọc từng trang trong kinh Tora, đứa trẻ thông mình, ghi nhớ nhiều đoạn trong sách, sau này có thể trao đổi lưu loát về Lời Chúa cho cả người lớn hơn mình.

Đối với người Do Thái về hiểu biết Lời Chúa không quan trọng lớn tuổi hay nhỏ tuổi, mọi người đều có quyền trao đổi và giảng nghĩa như nhau. Có thể thấy điều này năm 12 tuổi Chúa Giê su lên đền thờ Giê ru sa lem, vừa nghe vừa hỏi, trả lời cùng các kỳ lão về Lời Chúa. Sử gia Josephus vào thế kỷ thứ nhất có thể tự hào về dân tộc mình: “Nếu ai có hỏi về lề luật, sách Thánh, anh ta sẽ đọc thuộc dễ dàng còn hơn tên của mình”.

Khi Thánh Luca trình bày sự việc xảy ra khi Chúa Giê su sinh ra: “Còn Maria thì bà giữ kỹ mọi điều ấy và hằng suy đi nghĩ lại trong lòng.” (Lc 2, 19). Điều này đã được ghi từ tấm bé trong cuộc đời của Mẹ Maria. Có câu truyện kể lại: Một người cắc cớ hỏi một nhà khôn ngoan Do Thái, “làm sao tiêu diệt được người Do Thái, người khôn ngoan trả lời: Nếu ông đi quanh hội đường người Do Thái mà không còn nghe tiếng kinh Tora con trẻ đọc, lúc ấy người Do Thái sẽ bị tận diệt.

Lên mười tuổi, đứa trẻ sẽ học lên cao hơn nơi “nhà học hỏi”. Ở đây thầy trò học hỏi theo lý luận từ sơ cấp đến cao cấp. Nghe những câu dụ ngôn và tự trả lời bằng Lời Chúa ứng với dụ ngôn. Cách học hỏi này, cho Chúa Giê su kinh nghiệm và có thể sáng tác những dụ ngôn minh hoạ hoặc trả lời một câu hỏi hóc búa, ác ý của kẻ chống đối Ngài bằng một bài học Lời Chúa.

Tâm hồn truyền giáo.

Nhà truyền giáo là người đón Chúa sinh hạ trong lòng mình và cũng đem Chúa đến sinh hạ trong lòng người khác.

Đối với người nữ trong xã hội Do thái, công việc chính yếu là nội tướng trong nhà, kéo len, đan sợi, nhà cửa, bếp ăn, giữ hơi ấm trong gia đình. Ngoài ra, còn là người nối tương quan với mọi người trong khu xóm bằng tính cách dịu dàng, tế nhị, giúp đỡ, làm nên làng xóm yêu thương. Sách Thánh đã dạy trong thập giới: “Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi” (Lv 19, 18)

Được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, Mẹ Maria mau mắn lên đường đến thăm người chị em họ đã mang thai được 6 tháng. Việc thăm viếng không chỉ là đi đến thể hiện tình bác ái, mà với Mẹ Maria là mang Chúa Giê su đến và sinh hạ trong tâm hồn người mình gặp gỡ. Bởi vậy phản ứng đầu tiên của bà Isave vừa gặp Mẹ Maria thưa lên: “Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến thăm, Tai tôi vừa nghe em chào thì hài nhi nhảy trong lòng tôi” ( Lc 1, 41).

Một tâm hồn truyền giáo với Mẹ Maria là thưa “Xin Vâng, cứ làm cho tôi như lời Sứ Thần truyền” (Lc 1, 38). Suốt cả cuộc đời của Mẹ từ khi cưu mang Con Chúa, khi sinh hạ, khi sang Ai cập, khi sống tại NaZareth. Khi cùng với anh chị em mình đến tìm gặp con vì lời đồn thổi, khi chứng kiến con bị người đời tố cáo, đánh đòn, vác thập giá, chết trên Thánh Giá, hạ xác, táng xác. Tất cả sự kiện ấy đến với Mẹ như đã xin vâng như lời cụ Simeon loan báo: “Này! Ngài có mệnh làm cớ cho nhiều người bổ nhào và chỗi dậy trong Israel, và làm dấu gợi lên chống đối, và hồn bà, mũi gươm sẽ đâm thâu – ngõ hầu ý nghĩa của nhiều tâm hồn phải bày ra”. (Lc 2, 34 – 35).

Theo gương mẹ Maria sống đời truyền giáo, xin Mẹ giúp chúng con có “một tâm hồn truyền giáo” là: Hằng suy gẫm Lời Chúa, để Lời Chúa sinh hạ nơi chính chúng con và nhờ Chúa chúng con đến với anh chị em, với mọi người.

 

.

ĐƯỢC RỬA TỘI VÀ ĐƯỢC SAI ĐI LOAN BÁO TIN MỪNG

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Tháng 10, tháng truyền giáo

Tháng 10 tháng Mân Côi, Giáo hội mời gọi chúng ta hãy khám phá lại nét đẹp của lời kinh này và siêng năng đọc kinh Mân Côi. Tháng 10 năm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô đã mời gọi toàn thể Giáo Hội cử hành “Tháng ngoại thường về truyền giáo” để cầu nguyện cho hòa bình thế giới và  làm mới mẻ lại tinh thần Loan Báo Tin Mừng nơi người Kitô hữu.

Giáo hội tự bản chất là truyền giáo.

Nếu như Isaia con trai Amót được thị kiến: “Các dân nước sẽ đổ xô về núi Chúa… trong ngày sau hết” (x. Is 1, 1-5). Thánh Phaolô cho người con tình thần của mình biết rằng: “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu rỗi” (x.1 Tm 2, 4 – 6). Cả bốn sách Tin Mừng đều nêu bật ý nghĩa của việc truyền giáo. Nội dung sứ vụ mà Chúa Giêsu trao cho Giáo hội, chứng tỏ bản chất của Giáo hội là truyền giáo. Chính Chúa Giêsu Phục sinh đã nói với các tông đồ nơi Phòng Tiệc Ly như sau: “Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con” (Ga 20,21). Đến lượt Chúa Con cũng sai Giáo hội ra đi cho đến tận cùng trái đất. Ðây là một sứ mạng duy nhất, một sứ điệp duy nhất, phát xuất từ Thiên Chúa và được gửi đến cho mọi người, ngõ hầu họ được cứu chuộc và trở nên con cái Thiên Chúa.

“Chúa Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thư ba, từ cõi chết sống lại và phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân. Chính anh em là chứng nhân về những điều ấy” (Lc 24, 46-48).

Nhân dịp Đại Năm Thánh 2000, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Sứ mạng của Giáo Hội kéo dài sứ mạng của Chúa Kitô. Giáo Hội không ngừng rao giảng cho thế giới Tình Phụ Tử của Thiên Chúa, bằng việc rao giảng và bằng chứng tá của những con cái mình… nhờ việc thực hành mệnh lệnh tình thương đối với Thiên Chúa và đối với anh chị em”. (Huấn Đức ngày 22 tháng 10/2000, tại Roma).

Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh: Sứ vụ truyền giáo là bổn phận của toàn thể Giáo hội, vốn bởi bản chất là thừa sai (x.Ad gentes, số 2). Trích dẫn lời Chân phước Phaolô VI, ngài tiếp: “Giáo Hội hiện hữu để truyền giáo, để giảng thuyết và giáo huấn, để làm máng chuyển quà tặng của các ân sủng, để hoà giải các tội nhân với Thiên Chúa, để trường tồn hy lễ của Chúa Kitô trong Thánh Lễ, đó là việc tưởng niệm cuộc tử nạn và phục sinh vinh hiển của Người.”

Tháng truyền giáo ngoại thường

Đại chiến thế giới lần thứ I nổ ra đã cướp đi hàng triệu sinh mạng con người, hậu quả là thế giới hoang tàn, đổ nát, con người chia rẽ nhau…. Trong lúc như thế,  Đức Bênêđíctô XV đã viết tông thư MAXIMUM ILLUD (hoạt động truyền giáo trên toàn thế giới) để nâng đỡ những nạn nhân chiến tranh; cỗ võ người Kitô hữu dấn thân cho công cuộc truyền giáo và mang Tin Mừng Cứu độ đến mọi nơi trên thế giới.

Bởi vậy, nhân dịp kỷ niệm  100 năm Tông thư MAXIMUM ILLUD ( 1919 – 2019) về hoạt động truyền giáo trên toàn thế giới,   Đức Thánh Cha Phanxicô đã mời gọi toàn thể Giáo Hội cử hành “Tháng ngoại thường về truyền giáo” vào tháng mười năm 2019 này để cầu nguyện cho hòa bình thế giới và  làm mới mẻ lại tinh thần Loan Báo Tin Mừng nơi người Kitô hữu.

Sứ điệp Truyền giáo năm nay mang chủ đề: “Được rửa tội và được sai đi – Người tín hữu Chúa Kitô tham gia sứ mạng loan báo Tin Mừng”. Sứ điệp nhắc nhở chúng ta rằng mọi Kitô hữu đã lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy đều được sai đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo (x. Mc 16,15). Không ai được viện bất cứ lý do nào để miễn chuẩn sứ mạng này.

Loan báo Tin Mừng là sứ mạng của Thiên Chúa, được Chúa Giêsu thi hành trước, rồi trao cho các Tông đồ và Giáo Hội qua lệnh truyền: “Các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loại thọ tạo” (Mc 16,15). Chúng ta phải lấy làm vinh dự được cộng tác vào sứ mạng cao quý này. Đức Thánh Cha Phanxicô quả quyết : “Mỗi người là một sứ mạng” (EG 273). Ngài muốn nói lên sự gắn bó mật thiết của mỗi Kitô hữu với Chúa và sứ mạng này.

Đức Thánh Cha Phanxicô quả quyết rằng: “Hội Thánh phát triển không bởi chiêu dụ, nhưng bởi thu hút” (EG số 14). Lịch sử Giáo Hội qua hàng thế kỷ đã minh chứng điều đó. Vì thế, chúng ta hãy sống thế nào để mọi người nhận thấy Đạo đem lại niềm vui, bình an và hạnh phúc đích thật, không những cho cuộc sống hôm nay mà còn cuộc sống vĩnh cửu trong Vương Quốc Thiên Chúa. Động lực của Đạo là tình yêu Thiên Chúa được Đức Giêsu Kitô diễn tả bằng chính cuộc sống của mình. Tình yêu này hấp dẫn và mời gọi tất cả mọi người trong gia đình nhân loại.

Giảng trong giờ Kinh Chiều tại Đền thờ Thánh Phêrô, dịp khai mạc Tháng Truyền giáo Ngoại thường ngày 01 tháng 10, Đức Thánh Cha nói: “Thiên Chúa không yêu cầu chúng ta cất giữ cuộc đời và đức tin của chúng ta, nhưng Ngài mời chúng ta làm cho nó sinh lợi. Tháng Truyền giáo Ngoại thường này thúc bách chúng ta trở thành những người chủ động với những nén bạc. Không phải như người cất giữ đức tin và nắm lấy ân sủng, nhưng trở thành những nhà truyền giáo”.

Truyền giáo, trước hết là sống chứng tá về một đời sống biết Chúa Giêsu, làm chứng: không phải bằng lời nói mà bằng cuộc sống. Chúng ta phải tự hỏi trong tháng này: chứng tá của tôi thế nào?

Nhờ lời chuyển cầu của thánh Phanxicô Xaviê, thánh nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu, Đấng Đáng kính Pauline Jaricot là quan thầy các xứ truyền giáo, nhất là của Mẹ Maria Ngôi Sao truyền giáo, mẫu gương loan báo Tin Mừng, cầu thay nguyện giúp cho Hội Thánh trở nên một mái nhà của tình yêu và một người mẹ cho mọi dân tộc và là nguồn suối tái sinh cho thế giới chúng ta. Amen.

 

.

ĐỪNG TRỞ THÀNH BÀN TAY BẠI XỤI CỦA CHÚA

Lm. Ignatiô Trần Ngà

Khi tôi muốn dùng tay để gắp thức ăn mà cánh tay bị bại xụi, không gắp được thức ăn cho mình, thì thật là điều đáng buồn.

Khi anh hay chị muốn viết một lá thư thăm người bạn xa cách lâu ngày, mà tay bị tê bại, nắm bút lên thì bút lại rơi xuống, cầm tờ giấy lên, giấy cũng rơi xuống luôn, thì cũng thật đáng buồn.

Khi người mẹ muốn đưa tay ra ẵm lấy đứa con thơ rất yêu quý, rất dễ thương, nhưng đôi tay của bà bị bại xụi, nên không ẵm được cháu như ý muốn thì thật là đau lòng.

Thiên Chúa cũng phải chịu một cảnh đau lòng như thế, hết thời này qua thời khác, vì có nhiều “phần thân thể” của Ngài bị bại, bị liệt nên không hoạt động được như ý Ngài mong muốn.

Khao khát mãnh liệt nhất của Thiên Chúa là đưa muôn vàn đứa con yêu quý của Ngài tản mác khắp nơi về đoàn tụ dưới mái nhà chung. Vì lòng khao khát cháy bỏng nầy, vì ước vọng tha thiết nầy, Thiên Chúa đã dùng nhiều cách để đưa loài người về với Ngài.

Thứ nhất: Ngài dùng các ngôn sứ mà phán dạy.

Trước hết, Thiên Chúa dùng các ngôn sứ thời Cựu Ước như Mô-sê, I-sai-a, Ê-li-a, Giê-rê-mi-a, Gioan Tẩy Giả… để giảng dạy cho dân Do-thái nhận biết, tôn thờ Ngài và trở về với Ngài. Nhưng đa số đã không đón nhận các ngôn sứ Chúa gửi đến, lại còn lên án các vị nầy.

Thứ hai: Thiên Chúa sai Người Con Một.

Sau thất bại thứ nhất, Thiên Chúa cho Người Con một xuống thế làm người, trực tiếp dạy dỗ loài người, nộp mình chịu chết để cứu độ loài người. Thư Do-thái viết về sự kiện nầy như sau: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết nầy, Thiên Chúa phán dạy chúng ta qua Người Con.” (Dt 1,1-2)

Thứ ba: Trao cho mỗi người chúng ta tiếp nối sứ mạng của Chúa cứu thế.

Sau 33 năm sống trên dương thế dùng nhiều cách để bày tỏ cho nhân loại nhận biết Thiên Chúa Cha và nộp mình chịu chết đền tội cho loài người, Chúa Giêsu lên trời và chuyển giao công trình cứu độ của Ngài cho Hội Thánh tiếp nối.

Để thực hiện việc nầy, Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Tẩy để nối kết chúng ta vào thân mình Ngài như cành nho liền với thân nho, như cánh tay nối liền cơ thể. Nhờ đó, chúng ta với Chúa Giêsu không còn là hai mà chỉ là một. Thế là từ đây, Chúa Giêsu tiếp tục công cuộc cứu độ của Ngài qua chúng ta là chi thể, là thân mình Ngài.

Đừng để cho đôi tay Chúa bị tê liệt

Thiên Chúa có một đoàn con đông đảo tản mác khắp nơi nhưng chưa hề biết mặt Cha mình là Thiên Chúa Cha, chưa từng quen biết Anh Cả của mình là Chúa Giêsu, không được chung sống và nuôi dưỡng trong gia đình Thiên Chúa. Họ là những anh chị em lương dân đang sống chung quanh chúng ta.

Chúa Giêsu khao khát ngày đêm dẫn dắt đoàn con lưu lạc nầy về đoàn tụ trong gia đình Hội Thánh. Ngài nhờ chúng ta là những bàn tay của Ngài chịu khó đưa ra để dẫn đưa họ về sum họp trong gia đình Thiên Chúa… Nếu chúng ta không chịu làm theo ý Ngài, thì đoàn con của Thiên Chúa là những anh chị em lương dân vẫn còn phải sống xa Cha Mẹ của mình là Thiên Chúa như những đứa con lưu lạc xa nhà. Như thế thì Thiên Chúa phải vô cùng đau khổ và chúng ta vô tình trở thành bàn tay bại xụi của Chúa Giêsu vì không “cử động được” như ý Ngài muốn.

Chúa Giêsu mong muốn ẵm lấy những anh chị em lương dân khắp nơi như người mẹ ẵm lấy những người con bé bỏng dễ thương vào lòng. Ngài nhờ đến chúng ta là đôi cánh tay của Ngài vươn ra, ẵm lấy những anh chị em đó, nhưng chúng ta không thực hiện ý Ngài. Như thế, anh chị em lương dân vẫn còn là những đứa con xa mẹ. Như thế, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục phải đau khổ vì không được bồng ẵm chăm sóc đoàn con; còn chúng ta, chúng ta vô tình trở thành đôi tay bại liệt của Chúa Giêsu, không cho Ngài thực hiện được ước vọng của Ngài qua chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa là Đầu, chúng con là chi thể, là chân tay của Chúa; xin đừng để chúng con trở thành đôi tay bại liệt, chẳng chịu “cử động” theo lệnh truyền của Chúa.

Xin cho chúng con mau mắn đáp lời mời gọi của Chúa, sẵn sàng lên đường, sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng phục vụ để đem Tin Mừng của Chúa đến với anh chị em lương dân, để dẫn đưa đoàn con lưu lạc của Chúa về đoàn tụ trong gia đình Chúa.

 

.

CÁC CON HÃY ĐI

             Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

Thưa anh chị em,

Hằng năm, Giáo hội dành một ngày gọi là ngày thế giới truyền giáo, để kêu gọi mọi tín hữu ý thức nhiệm vụ của mình là truyền giáo. Điều này công đồng Vat II đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong sắc lệnh Ad Gentes (2): “Mỗi Kitô hữu phải là một tông đồ cho Chúa”.

Bài Tin mừng mà chúng ta vừa nghe, thánh Máccô kể lại sau khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, Ngài hiện ra với các môn đệ và nói ” Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15).

“Các con hãy đi” đây là một lệnh truyền chứ không phải là một lời khuyên. Đức Giêsu được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian này để loan báo Tin mừng và cứu rỗi nhân loại. Rồi Đức Giêsu sai các tông đồ “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân…”. Đến lượt các tông đồ tiếp tục sai tất cả mọi thành phần dân Chúa tham gia vào sứ mạng loan báo Tin mừng.

Bằng chứng sau mỗi lần kết thúc Thánh lễ, linh mục chủ tế nói ” Lễ xong chúc anh chị em đi bình an”. Có nghĩa là lễ xong anh chị em hãy đi. Hãy đi loan báo sự bình an của Chúa mà chúng ta đã lãnh nhận từ nơi đây. Hãy đi loan báo niềm tin mà anh chị em mới vừa tuyên xưng trong Thánh lễ này. Cho nên, chúng ta nên ý thức truyền giáo là bổn phận của mọi người và không phải là một việc làm tùy sở thích, muốn làm hay không cũng được, đây là một bổn phận, một nhiệm vụ bắt buộc, không ai có quyền trốn tránh và không ai có lý do nào tự miễn chuẩn cho mình hay tự bào chữa cho mình được.

Thế thì, chúng ta truyền giáo bằng cách nào? Thưa, Đức Giêsu đưa ra nhiều phương thế, nhưng ở đây xin chỉ xin đưa ra ba phương thế căn bản.

1/ Cầu nguyện: Chúa Giêsu nói “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến gặt lúa”. Anh chị em biết thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu suốt đời sống trong bốn bức tường Dòng Kín không đi ra ngoài truyền giáo, nhưng tâm hồn thánh nữ từng giây, từng phút cầu nguyện cho các vị thừa sai, cầu nguyện cho việc truyền giáo. Thánh nữ không chỉ cầu nguyện trong nhà thờ, nhưng còn dâng những hi sinh nho nhỏ trong đời sống tu trì để cầu cho việc truyền giáo. Vì thế, thánh Nữ được Giáo hội tôn phong làm bổn mạng các xứ truyền giáo.

Không ai trong chúng ta có khả năng làm thay đổi được tâm hồn người khác. Anh chị em có thể là nhà giáo dục giúp kiến thức cho người khác, nhưng chúng ta không thể nào có khả năng làm thay đổi được tâm linh người khác nếu không ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy. Bởi thế, chúng ta cần cầu nguyện, nhờ ơn Chúa biến đổi đời sống của họ.

2/ Sống chứng nhân: Đạo chúng ta là đạo yêu thương, nên Chúa sai chúng ta đi loan báo tình thương Chúa Trời yêu thương loài người. Nhưng để công việc truyền giáo đem lại hoa trái, người tông đồ trước hết phải cảm nhận được tình Chúa yêu thương mình. Bởi lẽ sứ điệp mà chúng ta cần chuyển tải cho anh chị em là dung mạo lòng Chúa thương xót và yêu thương con người. Một khi cảm nhận rõ nét tình Chúa yêu thương mình, lời chứng của chúng ta mới có sức thuyết phục. Chớ gì, người Công giáo hiện diện ở đâu thì hãy cố gắng sống hiền hòa, sống tình liên đới, kết nối yêu thương để làm chứng cho đạo thánh Chúa.

3/ Loan báo: thế giới rất cần Tin mừng của Chúa Kitô. Hãy gieo Tin mừng vào tâm hồn người khác: Đọc Tin mừng cho họ nghe, giảng Tin mừng cho họ hiểu, tặng Tin mừng cho họ đọc, phổ biến Tin mừng bằng mọi cách nhất là qua các phương tiện truyền thông. Khi họ đã nghe, đã hiểu thì chắc chắn họ sẽ sống và được biến đổi. Cho nên Chúa sai chúng ta đi là để nói, để rao giảng, để giới thiệu Chúa cho anh chị em mình. Nhiều khi chúng ta ngại nói về Chúa hay không dám xưng mình là người theo đạo Chúa.

Vì thế, chúng ta hãy là những chứng nhân tình thương, đáp lại lệnh truyền của Chúa, là ra đi khỏi ngôi nhà êm ấm, ra đi khỏi tính ích kỷ của mình… để dấn thân vào những vùng ngoại biên, mà Đức thánh cha Phanxicô đã mời gọi. Để diễn tả lối sống mới của lòng thương xót. Ngôn ngữ mới của lòng thương xót và cung cách mới là lòng thương xót.

Cuối cùng, nhà truyền giáo cần noi gương Mẹ Maria: Noi gương Mẹ lên đường mang Chúa đến với mọi người như biến cố Mẹ đi thăm bà Êlizabet; Noi gương Mẹ biết quan tâm giúp đỡ sự thiếu thốn của kẻ khác như biến cố tại tiệc cưới Cana; Noi gương Mẹ biết can đảm chấp nhận thánh ý Chúa hy sinh Con Một vì nhân loại như biến cố trên thập giá. Đồng thời, chúng ta cần nhờ Mẹ Maria đồng hành và nâng đỡ trên mọi nẻo đường truyền giáo.

Cầu chúc anh chị em có một hồn truyền giáo, là mang bình an và niềm vui của Chúa đến chia sẻ cho những người chúng ta gặp gỡ, đặc biệt những người chưa nhận biết Chúa, được như thế là chúng ta chu toàn sứ mạng mà Chúa và Giáo hội đã trao phó cho chúng ta. Amen.

 

.

TIN MỪNG THÚC BÁCH TÔI

Lm G. Nguyễn Cao Luật

Hơn một năm trước đây, nhân loại trong bầu khí chuẩn bị buớc vào thiên niên kỷ thứ ba, kỷ niệm 2000 năm Mầu Niệm Nhập Thể. Trong dịp trọng đại đó, Giáo hội nhìn lại việc loan báo Tin Mừng cho thế giới, đồng thời đề ra những đường huớng mới cho một cuộc loan báo Tin Mừng cách cụ thể cho từng châu lục. Đặc biệt với giáo hội tại Á Châu đã vui mừng đón nhận được Văn kiện “Eccelesia in Asia – Giáo Hội Tại Á Châu” được công bố tại New Delhi (Ấn độ), tháng 11 năm 1999, như một “kim chỉ nam” cho giáo hội nơi đây chuẩn bị mừng Năm Đại Toàn xá 2000; đồng thời có dịp nhìn lại vấn đề truyền giáo của mình và tìm ra một hướng đi mới cho thiên niên kỷ này.

Và mới đây trong phiên họp chung ngày 10-10-2001, ĐHY Jan Schotte, Tổng thư ký Thượng Hội Đồng Giám Mục, đã loan báo các nghị phụ về việc công bố Văn kiện Hậu- Thượng Hội Đồng Giám Mục riêng của Châu Đại dương (Ecclesia in Ocaenia). Ngài nói: “Tôi vui mừng loan báo trong phiên họp chung này là Đức Thánh Cha, sau khi suy tư lâu dài và bàn hỏi, đã quyết định công bố Tông huấn Hậu- Thượng Hội Đồng “Ecclesia in Oceania” tại Vatican (thay vì đi đến một địa điểm trong miền này), trong một buổi tiếp kiến riêng, được ấn định vào ngày 22 tháng 11 năm 2001, lúc 11g30, tại Phòng Khánh Tiết Clementina của Phủ Giáo Hoàng, nhân dịp kỷ niệm năm thứ bốn của lễ nghi khai mạc khóa họp riêng cho Châu Đại dương”.

ĐHY Jan Schotte nhấn mạnh: “Trong lúc này, tôi xin các Nghị phụ cầu nguyện cho Giáo hội tại Châu Đại Dương, đã từ lâu chờ đợi với nhiều lo âu về văn kiện này. Giáo hội trong miền này được mời gọi đón nhận giáo huấn Hậu Thượng Hội Đồng trong tinh thần yêu mến, được mời gọi phổ biến văn kiện này và thực hiện nội dung của nó trên cấp bậc giáo phận và giáo xứ với lòng nhiệt thành truyền giáo, đáp lại lời kêu gọi của Đức Thánh Cha tiến đến việc tái rao giảng Tin Mừng, cách riêng trong lúc bước vào Ngàn Năm thứ ba”.

Với những ý nghĩa đó, Chúa Nhật Truyền Giáo có chiều kích của một cuộc khởi khởi đầu mới trong nỗ lực loan báo Đức Giêsu cho thế giới.

Anh em sẽ làm chứng cho Thầy

Các tông đồ là những người được Đức Giêsu kêu gọi để chia sẻ cuộc sống của Người; các ông đã được tham dự và chứng kiến những biến cố khác nhau trong cuộc đời của Đức Giêsu. Những điều đó không phải chỉ là những sự kiện lịch sử,?không phải chỉ làô1 xảy ra trong quá khứ. Các tông đồ không phải chỉ là những chứng nhân về những sự kiện tầm thường. Trái lại đây là những biến cố làm đảo lộn lịch sử, những biến cố đem lại ơn giải thoát cho con người, và các tông đồ là những người loan báo, những người tiếp tục thực hiện công trình ấy.

Những biến cố tập trung vào sự kiện: Đức Ki-tô đã chết và sống lại. Các tông đồ không làm chứng về điều gì khác ngoài sự kiện đó. Đó không phải là hoạt động của con người, nhưng là những hoạt động của Thiên Chúa, để thể hiện tình thương và ơn cứu độ cho thế giới. Loan truyền sứ điệp ấy có nghĩa là làm chứng về biến cố quan trọng này. Vì đó là biến cố quan trọng nên phải dồn hết mọi nỗ lực, mọi khả năng để loan báo, để làm chứng. Phải làm chứng bằng lời nói, bằng đời sống và có khi bằng máu nữa.

Do đó, ý thức được tầm quan trọng của sứ điệp, các tông đồ, những người đã được chứng kiến tận mắt, đã đem hết cuộc đời của mình để làm chứng: các ông đã giảng dạy, đã viết thơ, viết sách, đã chịu nhiều gian nan vất vả với một ước mong duy nhất là sứ điệp phục sinh được công bố cho tất cả mọi người. Các ông đã không ngần ngại chịu đổ máu, chịu hy sinh cuộc đời, bởi vì các ông được sai đi làm nhân chứng, theo gương Vị Thầy, Đấng đã gọi và sai các ông đi.

Và, như lịch sử cho thấy, việc loan báo sứ điệp Ki-tô giáo trong những thế kỷ đầu tiên dựa trên biến cố nền tảng này. Các ki-tô hữu thời sơ khai không chú trọng về các quy luật luân lý, cũng không trình bày nhiều về các chi tiết trong cuộc đời Đức Giêsu, nhưng tất cả cuộc sống, mọi sinh hoạt của họ đều xoay quanh biến cố phục sinh, vì họ hiểu rằng, đó là biến cố trọng tâm của lịch sử ơn cứu độ.

Như vậy, sứ điệp Ki-tô giáo không phải là một ý tưởng sáng tạo, một sáng kiến độc đáo chi phối những khám phá mới; cũng không phải là việc tìm kiếm các chân lý, nhưng chính là xác quyết sự kiện: Đức Ki-tô đã chết và sống lại. Ki-tô giáo trước hết là một biến cố, và người loan báo phải làm chứng về biến cố ấy.

Tin Mừng thúc bách tôi

Ơn cứu độ phải được loan đi cho đến tận cùng vũ trụ. Đó là sự nôn nóng của một tâm hồn đã được đổ tràn tình thương của Thiên Chúa. Đó cũng là thao thức của một tâm hồn đã được cảm hóa nhờ sự chết và sống lại của Đức Ki-tô, và đó cũng là niềm phấn khởi của tâm hồn tràn đầy sức sống và gắn bó sâu xa với Đức Ki-tô.

Người làm chứng phải là người có kinh nghiệm về điều mình làm chứng. Tin Mừng không phải chỉ là những điều được rao giảng, được công bố, nhưng chính là cuộc sống, là những tiếp xúc thâm sâu với Đức Giêsu, để rồi từ đó mới chuyển qua những hoạt động cụ thể, những công việc bên ngoài.

Đã có một thời người ta quan niệm việc truyền giáo như là những hoạt động rầm rộ nhằm áp đặt, lôi kéo người khác theo đạo. Dĩ nhiên, những công việc này rất ích lợi nếu phát xuất từ tấm lòng nhiệt tình với Tin Mừng, với ơn cứu độ. Khốn thay, không phải lúc nào cũng được như thế. Không những người ta đã bó buộc, đã áp đặt, nhưng còn lợi dụng danh nghĩa truyền giáo để mưu tìm những ích lợi cho riêng mình…

Tuy thế, chúng ta không hề có ý phủ nhận công lao vất vả của các vị truyền giáo đã đem Tin Mừng đi khắp thế giới. Chỉ có điều là, vẫn có những bóng đen trong lịch sử truyền giáo, và điều ấy phải là một kinh nghiệm sâu sắc cho cuộc loan báo Tin Mừng mới.

Như vậy, truyền giáo không phải là lôi bè, kết đảng làm sao lôi kéo nhiều người về với phe mình. Nhưng truyền giáo phải là tiếng gọi, là nhu cầu bên trong của cõi lòng tha thiết yêu thương, của tâm hồn có được kinh nghiệm về Đức Giêsu. Ngoài ra, truyền giáo cũng chính là để mọi người được sống trong tình thương, được tôn trọng để từ đó Nước Chúa được hiển trị và muôn người hợp nhất nên một trong ơn cứu độ nhờ mầu nhiệm Đức Ki-tô chịu chết và sống lại.

Từ đó, con đường hành động của người Ki-tô hữu không thể nào khác hơn con đường của Thầy mình: là hạt lúa mì gieo vào lòng đất, chịu thối rữa đi; là phải cúi xuống rửa chân cho anh em mình, là phải sẵn sàng phục vụ giúp đỡ những người khó khăn bên cạnh mình … nghĩa là phải đối xử với mọi người cách chân tình, đầy tâm tình yêu mến và kính trọng, bởi vì tâm hồn mình đang thấm đầy tình yêu và sức sống của Đức Ki-tô, Đấng đã chịu chết và sống lại cho tất cả mọi người.

Tin Mừng là tin mừng tình thương, chỉ khi nào con người sống trong tình thương, và loan báo, thể hiện tình thương đó, khi ấy mới thực sự là truyền giáo.

Lạy Chúa, con là sứ giả của Chúa

“Lạy Chúa, Chúa đã muốn chọn con để cộng tác vào việc loan báo Tin Mừng của Chúa. Chúa muốn đến với nhân loại qua cuộc đời của con. Chúa muốn đi sâu vào cõi thâm cung của lòng người qua trung gian của con.

Con là người được tham dự vào công trình của Chúa, con là sứ giả của Chúa. Không còn gì vĩ đại hơn, không còn danh hiệu nào vinh dự hơn.

Vâng, lạy Chúa, Con biết rõ điều đó.

Chính Chúa đã kêu gọi con, đã đổ xuống trên con tình thương của Chúa. Chính Chúa đã đóng dấu ấn của Chúa trên con, dù con khốn khổ và nghèo hèn. Chúa đã muốn dùng con để công bố những điều kỳ diệu mà không sợ rằng chân lý bị suy suyển vì tội lỗi của con.

Riêng con, con rất vui mừng và sung sướng được góp phần nhỏ nhoi của mình vào công việc lớn lao của Chúa. Con cảm thấy hạnh phúc vì được trở nên khí cụ để Chúa bày tỏ quyền năng.

Xin cho con luôn cảm thấy ngỡ ngàng khi thấy có những người nhận ra được Chúa đã sai con đi và đã đón nhận con với tư cách là sứ giả của Chúa.

Xin cho con cảm nhận được niềm vui chân thật đó mỗi khi con được đón nhận, dù con thật bất xứng.

Nhưng lạy Chúa,

Con cũng nhận ra đây là một gánh nặng.

Con phải hoàn thành sứ mạng đã được trao phó “khi thuận tiện cũng như lúc khó khăn”.

Con phải loan báo về Chúa, phải làm chứng – vì khốn cho con, nếu con không rao giảng. Con không thể tháo lui, bỏ mặc sứ mạng của mình.

Con phải ra đi, ra khỏi mình để loan báo, để thể hiện ơn cứu độ của Chúa cho mọi người, dù người đó là ai chăng nữa.

Đôi lúc con cảm thấy mình không đủ sức để chu toàn sứ vụ, đôi lúc con cảm thấy sứ vụ quá khó khăn mà dường như con không thể vượt qua.

Xin con luôn nhớ rằng Chúa vẫn ở bên con, vẫn là người hướng dẫn, vẫn là người chịu trách nhiệm về sứ vụ đã trao cho con.

Xin cho con đủ tin tưởng và can đảm để trở thành một khí cụ tốt …

Và lạy Chúa,

Làm sao con có thể thông truyền chân lý của Chúa mà chính con lại đã không đích thân chiếm lấy chân lý ấy, và Chúa cũng đã chẳng chiếm lấy con rồi?

Làm sao con có thể loan báo Tin Mừng mà đã không được Tin Mừng ấy ghi dấu sâu xa nơi tâm hồn mình.

Làm sao con có thể làm chứng về Chúa nếu con đã không có kinh nghiệm về Chúa?

Con hiểu rằng Chúa là Ánh Sáng, và ánh sáng đó bừng lên là nhờ chất dầu của cuộc đời con.

Con phải để cho ánh sáng đó bừng lên trong cuộc đời mình trước khi bừng lên trong thế giới.

Cuối cùng, lạy Chúa,

Chúa đã muốn sử dụng con, xin đừng để con thành một ngăn trở. Xin đừng để những vụng về, những yếu đưối của con làm hỏng đi công trình của Chúa, trái lại, xin cho mọi người đón nhận được Chúa qua cuộc đời của con.”

Theo Karl Rahner

 

.

KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO

Jorathe Nắng Tím

Tin Mừng Chúa Nhật Truyền Giáo chia thành hai phần với nội dung hoàn toàn trái ngược : phần nhất từ câu 35 đến câu 41 là câu chuyện hai tông đồ Gioan và Giacôbê quấn quýt, bám chặt Đức Giêsu để chạy chức, chạy quyền với lời van xin tha thiết : “Xin cho chúng con được ngồi, một người bên hữu, một người bên tả trong vinh quang của Thầy”, và phần hai từ câu 41 đến 45 với giáo huấn của Đức Giêsu : Ai muốn làm lớn thì hãy trở nên tôi tớ, vì “Con Người không đến để được phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống mình làm giá chuộc tội thay cho nhiều người” (Mc 10,45).

  1. Sống đạo là truyền giáo:

Truyền giáo là căn tính của Giáo Hội, nên không có Giáo Hội, nếu không có Truyền Giáo, vì căn tính và sứ vụ của Giáo Hội là : “Hãy đi khắp thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu thanh tẩy thì sẽ được cứu rỗi …” (Mc 15,15-16).

Một cách cụ thể, truyền giáo là “loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến”, điều mà mọi tín hữu đều long trọng xướng lên ở phút cao điểm của thánh lễ. Đây chính là lẽ sống, đường sống, và sinh hoạt của đời người Kitô hữu. Họ sống đạo khi loan truyền Đức Giêsu chịu đóng đinh, chết và sống lại. Họ trở thành người có Đạo một cách thiết thực, sống động và chính danh khi loan báo cho mọi người Thiên Chúa vì yêu thương con người đã làm người, chết cho con người và sống lại để con người được sống. Sống đạo và truyền đạo là một, vì chung một mục đích, chung một hoạt động. Vì thế sẽ không có tín hữu sống đạo mà không truyền giáo, cũng như không có nhà truyền giáo nào bị coi là không sống đạo.

Từ chối bổn phận truyền giáo là không sống đạo ; phủ nhận trách nhiệm loan báo Đức Giêsu cho mọi người chung quanh là mặc nhiên chối đạo ; bỏ quên sứ mệnh “được sai đi” khi chịu bí tích thánh tẩy là đào ngũ, bởi loan báo Đức Giêsu, tuyên xưng Đức Giêsu, giới thiệu Đức Giêsu, dẫn người ta đến gặp Đức Giêsu, tạo điều kiện để Đức Giêsu ngự đến trong nhà người khác, chuẩn bị mảnh đất tâm hồn tha nhân để hạt giống Tin Mừng của Đức Giêsu được mọc lên tươi tốt là căn tính, điều kiện không thể thiếu để trở thành người có đạo, người sống đạo, người có Đức Giêsu.

Như thế, người Kitô hữu trước hết phải được sứ mệnh truyền giáo cuốn hút, bằng xác tín mãnh liệt : mình được sai đi qua bí tích Thánh tẩy. Có tin rằng mình được Thiên Chúa sai đi qua Giáo Hội, chúng ta mới tự tin và hăng hái lên đường truyền giáo. Sở dĩ nhiều người công giáo đã không tha thiết với sứ vụ truyền giáo là vì não trạng : truyền giáo là việc của các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, chứ không phải việc của “con chiên, giáo dân”. Chính não trạng này, cộng thêm não trạng “giáo sĩ trị” đã làm hoang mang và chùn chân người giáo dân trong sứ vụ truyền giáo của mình.

Nhờ được sứ vụ truyền giáo cuốn hút, chúng ta sẽ nhận ra trách nhiệm của mình với thế giới, với mọi người chung quanh : trách nhiệm loan báo Tin Mừng để mọi người được hạnh phúc như chúng ta.

Chính trong trách nhiệm làm cho thế giới được hạnh phúc nhờ lãnh nhận Tin Mừng của Đức Giêsu, chúng ta nhận được niềm vui đích thực của Tin Mừng, niềm vui mà Thiên Chúa hứa ban cho những ai đi theo Ngài để làm chứng Thiên Chúa yêu thương và cứu độ mọi người.

  1. Truyền giáo là Phục Vụ:

Có lẽ, anh chị cũng như tôi, chúng ta đã có lần suy nghĩ và tự hỏi : Vẫn biết truyền giáo là loan báo Đức Giêsu làm người, đã chết và sống lại ; truyền giáo là giới thiệu Đức Giêsu – Thiên Chúa làm người cho mọi người, mọi nơi, mọi thời, nhưng cụ thể, chúng ta bắt đầu truyền giáo từ đâu, từ công việc nào ?

Quả thực, câu hỏi rất quan trọng và ít nhiều đã làm chúng ta băn khoăn. Trong Tin Mừng của ngày Truyền Giáo hôm nay, Đức Giêsu trả lời chúng ta rất rõ ràng, chính xác : Truyền giáo là Phục Vụ mọi người như tôi tớ.

Hai tông đồ Giacôbê và Gioan đã năn nỉ hai chỗ quan trọng trong vương quốc của Đức Giêsu, và cả hai đã nhận được câu trả lời : “Các ngươi biết : các kẻ được coi là thủ lĩnh các dân tộc thì làm chúa trên họ, và những người làm lớn thì bắt người khác phục quyền mình. Nhưng các ngươi thì không như thế ! Ai muốn làm lớn trong các ngươi thì hãy hầu hạ các ngươi, và ai muốn làm đầu các ngươi thì hãy làm tôi tớ mọi người” (Mc 10,42-44).

Đức Giêsu đã không ngần ngại làm vỡ mộng “quan lớn” của hai tông đồ, bằng đưa ra một đường lối hoàn toàn trái ngược : phục vụ mọi người như đầy tớ. Làm môn đệ, tông đồ, chứng nhân, người được sai đi loan báo Tin Mừng của Ngài sẽ không cai trị ai, không bắt ai phục dịch, hầu hạ mình, càng không đàn áp, khống chế, bóc lột ai vì tư lợi, nhưng tự nguyện trở nên tôi tớ để phục vụ mọi người. Từ đây, tông đồ không còn nuôi giấc mộng bá quyền, cai trị, nhưng chỉ còn một thách đố trước mắt là qùy xuống rửa chân cho mọi người như tôi tớ ; nhà truyền giáo không còn lên đường với não trạng “kẻ cả, người trên” bố thí Tin Mừng, nhưng là loan báo Tin Mừng bằng phục vụ mọi người như người anh em hèn mọn ; người được chọn lãnh đạo trong Giáo Hội cũng không còn tơ vương làm vua làm chúa, nhưng biết mình được chọn để trở nên “đồng hình đồng dạng” với Đấng đến trong thế gian để “phục vụ chứ không phải để được phục vụ, đến để hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc nhiều người”.

Đức Giêsu đã đưa ra một nguyên tắc truyền giáo : Phục Vụ ; đã chỉ cho chúng ta một phương án truyền giáo : Phục Vụ ; đã dậy chúng ta một bài học truyền giáo : Phục Vụ bằng quả quyết sứ mệnh của Ngài là Phục Vụ : “Con Người không đến để được phục vụ, nhưng là để phục vụ” (Mc 10,45).

Không còn gì chính xác hơn lời qủa quyết này, vì nếu sứ vụ cuả Đức Giêsu, Đấng đến trong thế giới để loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Thiên Chúa được thực hiện bằng Phục Vụ mọi người, bằng qùy xuống rửa chân môn đệ mình như đầy tớ, thì những người khác được Ngài sai đi tiếp nối sứ vụ loan báo Tin Mừng sẽ không thể làm khác, nghiã là không thể né tránh đòi hỏi Phục Vụ, không thể khước từ lời mời gọi Phục Vụ, không thể khấu trừ điều kiện Phục Vụ. Trái lại, không phục vụ sẽ không thể loan truyền Đức Giêsu chịu chết cho ai, không phục vụ sẽ không có cách tuyên xưng Đức Giêsu sống lại cho người nào, không phục vụ sẽ vô phương làm chứng Đức Giêsu – Thiên Chúa làm người, chết cho con người vì yêu thương con người.

Phục Vụ từ nay không còn là việc làm có cũng được, không có cũng chẳng sao, nhưng là điều kiện mang tính quyết định thành bại trong đời sống đạo, cũng như trong công cuộc truyền giáo. Thiếu phục vụ, không ai tin lời chứng của chứng nhân ; không phục vụ, tiếng nói của nhà truyền giáo không thuyết phục ; bỏ quên phục vụ, dung mạo đích thực của Đức Giêsu sẽ không chỉ bị bóp méo, bôi nhọ, xấu xí, dị hợm, mà còn biến dạng thành kinh tởm, đe doạ, đáng ghét trên môi miệng người được sai đi.

Ước gì Lời Chúa đang mời gọi chúng ta lên đường truyền giáo bằng cúi xuống phục vụ mọi người như tôi tớ, loan báo Nước Thiên Chúa bằng qùy xuống rửa chân cho anh em như đầy tớ hèn mọn, giới thiệu Đức Giêsu là Tình Yêu thương xót và Tin Mừng Cứu Độ bằng hiến mạng sống cho hạnh phúc của anh em được thực hiện ngay hôm nay bằng một việc làm cụ thể : phục vụ một người gần nhất đang cần sự giúp đỡ của chúng ta.

 

.

TRUYỀN GIÁO TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Mt 28,16-20.

(16) Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. (17) Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. (18) Đức Giê-su đến gần, nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. (19) Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. (20) Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.

2. Ý CHÍNH:

Trong bài Tin mừng của thánh Mát-thêu hôm nay, Đức Giê-su Phục Sinh hẹn các Tông đồ đến một ngọn núi tại miền Ga-li-lê. Ở đó sau khi tuyên bố được Chúa Cha trao toàn quyền trên trời dưới đất, Chúa Phục Sinh đã chỉ thị cho các Tông đồ đi khắp thế gian thâu nạp môn đồ cho Người, làm phép rửa cho họ “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Người cũng hứa sẽ ở cùng các ông mọi ngày cho đến tận thế.

3. CHÚ THÍCH:

-C 16-17: + Mười một môn đệ: Đây là Nhóm Mười Hai, nhưng thiếu Giu-đa, kẻ phản bội, và lúc đó Mát-thi-a chưa được bổ sung vào danh sách để thế chỗ Giu-đa (x. Cv 1,15-26). Nhóm này là Tông Đồ Đoàn được trao quyền lãnh đạo Hội Thánh. Còn về Giu-đa Ít-ca-ri-ốt: khi thấy Thầy Giê-su sắp bị kết án tử hình, anh ta đã hối hận, liền đem ba mươi quan tiền trả lại cho các đầu mục Do thái nhưng bị từ chối. Giu-đa thất vọng ném tiền vào gian cung thánh Đền thờ rồi đi thắt cổ tự tử (x. Mt 27,3-5)+ Đi tới miền Ga-li-lê: Tức là đến miền đất dân ngoại theo chỉ thị của Chúa Phục Sinh, qua bà Ma-ri-a Mác-đa-la (x. Mt 28,10), và cũng để noi gương Đức Giê-su đã khởi đầu rao giảng Tin Mừng Nước Trời tại xứ Ga-li-lê (x. Mt 4,12-17), + Đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến: Ngày nay người ta không thể xác định đây là núi nào. Nhưng có lẽ Mát-thêu chỉ muốn nói đến ngọn núi với ý nghĩa tượng trưng: Núi là nơi Thiên Chúa gặp gỡ và mặc khải cho loài người. Chẳng hạn : Đức Chúa đã trao Thập Giới cho Mô-sê trên núi Khô-rép (x. Xh 24,13.15.18). Đức Giê-su cũng đã công bố Hiến Chương Nước Trời hay Tám Mối Phúc Thật trên núi, gọi là “Bài Giảng Trên Núi” (x. Mt 5,1-7,27). +Thấy Người, các ông bái lạy: Sau nhiều lần hiện ra để củng cố niềm tin cho môn đệ, trước khi về trời Chúa Phục Sinh đã hiện ra để trao cho các ông sứ mệnh loan Tin mừng đi khắp thế gian. Cử chỉ bái lạy nói lên các ông đã tin Chúa Giê-su là “Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa”. + Nhưng có mấy ông lại hoài nghi: Câu này xem ra mâu thuẫn với thái độ bái lạy vừa nói. Thực ra, hoài nghi là thái độ phải xảy ra nơi các môn đệ trước khi các ông đạt được đức tin hoàn hảo. Chắc là Mát-thêu muốn nói đến sự hoài nghi đã xảy ra trước đó mà ngài chưa lần nào đề cập đến. Như vậy đây chỉ là một sự trục trặc về lối hành văn, chứ không mâu thuẫn về mặt tư tưởng. Ngoài ra cũng có người cho rằng: Vì đây là cuộc hiện ra để “trao sứ mệnh” cho Nhóm Mười Một đại diện Hội Thánh, nên sự hoài nghi ở đây ám chỉ sự hòai nghi nói chung của Hội Thánh xưa nay: Mầu nhiệm Phục Sinh tuy là một sự thật hiển nhiên, nhưng bao giờ cũng vẫn có kẻ còn hoài nghi.

-C 18-19: +Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất: Lúc khởi đầu sứ mệnh, cũng trên núi cao, Đức Giê-su đã từ chối quyền hành trên các nước thế gian do Xa-tan hứa ban (x. Mt 4,8-10). Nhưng giờ đây Người tuyên bố đã được Thiên Chúa trao toàn quyền trên trời dưới đất, ứng nghiệm lời tuyên sấm của Ngôn sứ Đa-ni-en về sứ mệnh của Con Người như sau: “Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị; Muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; Vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong, khác hẳn với mọi vương quốc. Nó sẽ ăn hết toàn cõi đất, sẽ dẫm nát và nghiền tan” (Đn 7,14). + Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ: Hội Thánh phải dùng quyền Đức Giê-su ban để nhân danh Người mà làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Người. Trước hết là dân Do Thái (x. Mt 10,5-6), rồi đến mọi dân nước trên thế giới (x. Mt 8,11). +Làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần:  Để người ta trở nên môn đệ Đức Giê-su, các Tông đồ phải làm phép rửa tái sinh họ bằng nước và Thần Khí (x. Ga 3,3.5). Phép rửa được cử hành nhân danh Chúa Ba Ngôi là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần (x. Mt 28,19).

-C 28,20: +Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em: Sứ mệnh các Tông đồ gồm cả quyền dạy dỗ các tín hữu cho tới khi Hội Thánh đạt tới tình trạng viên mãn (x. Ep 1,23).+Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế: Chúa Phục Sinh hứa sẽ luôn ở trong Hội Thánh cho đến ngày tận thế nhờ Chúa Thánh Thần và qua các vị mục tử, để giúp Hội Thánh chu toàn sứ mệnh “được sai đi”. Qua đó Đức Giê-su chứng tỏ là “Đấng Em-ma-nu-en: Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23).

4.CÂU HỎI: 1)Tại sao chỉ có mười một Tông đồ hiện diện lúc Chúa lên trời? 2)Số phận của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt thế nào sau khi phạm tội phản nộp Thầy? 3)Tại sao Chúa Phục Sinh  truyền cho các Tông đồ trở về Ga-li-lê? 4)Ngọn núi Chúa truyền cho các Tông đồ đến là núi nào? 5) Mấy kẻ còn hoài nghi gồm những ai và họ hoài nghi điều gì? 6) Đức Giê-su đã từ chối quyền hành trên các nước thế gian do Xa-tan hứa ban vào lúc nào? 7) Đức Giê-su đã được ai trao toàn quyền trên trời dưới đất, ứng nghiệm sấm ngôn của vị Ngôn sứ nào và nội dung lời sấm đó thế nào? 8) Sau khi thâu nạp môn đệ, Hội Thánh phải tiếp tục làm gì cho họ? 9) Làm thế nào để loan báo Tin Mừng cách hữu hiệu cho lương dân hôm nay?

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.
  2. CÂU CHUYỆN: THÁNH TÊ-RÊ-XA HÀI ĐỒNG TRUYỀN GIÁO BẰNG CẦU NGUYỆN:

Tê-rê-xa sinh ngày 02 tháng 01 năm 1873 tại Alecon, Normandie, Pháp. “Tê-rê-xa Hài Ðồng Giê-su” là tên nhận khi khấn Dòng. Tê-rê-xa mồ côi mẹ từ năm bốn tuổi, được cha là ông Louis Martin săn sóc và giáo dục chu đáo. Dù ở tuổi vị thành niên chưa được phép tu Dòng, nhưng Tê-rê-xa năm 15 tuổi đã được Ðức Giáo Hoàng Lêô 13 đặc cách cho vào tu trong Dòng kín Carmêlô thành Lisieux, nước Pháp.

Tê-rê-xa chỉ là một nữ tu hèn mọn quanh năm suốt tháng đóng khung trong bốn bức tường tu kín cho đến khi lìa trần ngày 30-9-1897 và thời gian tu mới được 9 năm. Vậy mà chỉ 28 năm sau, năm 1925, Tê-rê-xa đã được Ðức Giáo Hoàng Piô XI tôn phong lên bậc Hiển Thánh. Hai năm sau, lại được đặt làm Quan Thày các Nhà Truyền Giáo và các Xứ Truyền Giáo, cùng với thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê. Gần đây Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II còn nâng Tê-rê-xa lên hàng Tiến Sĩ Hội Thánh vào năm 1997.

Thánh nữ Tê-rê-xa Hài Ðồng Giê-su chỉ là một thiếu nữ hèn mọn, không lập được thành tích gì nổi bật. Nhưng “đằng sau những việc nhỏ bé ấy lại ẩn chứa một tình yêu cao cả”: Yêu mến Chúa, rồi từ Chúa, yêu thương các nhà truyền giáo và các xứ truyền giáo. Làm việc truyền giáo bằng lời cầu nguyện, bằng những hy sinh hãm mình giống như “những bông hồng nhỏ” dâng lên Chúa Hài Ðồng để cầu xin cho lương dân sớm được ơn nhận biết Chúa.

Thánh Tê-rê-xa Hài Ðồng Giê-su, Tiến Sĩ Hội Thánh, Bổn Mạng các Xứ Truyền Giáo chính là tấm gương sáng cho giới trẻ về cách truyền giáo cho con người thời đại hôm nay. Đó là truyền giáo bằng một cuộc sống tin yêu như “Con thơ phó thác” trong tay Chúa quan phòng.

  1. THẢO LUẬN: Theo các cách truyền giáo của thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê, thánh nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, thánh nữ Tê-rê-xa Can-quýt-ta… Bạn thích cách truyền giáo của vị thánh nào nhất? Tại sao?
  2. SUY NIỆM:

1) SỨ VỤ TRUYỀN GIẢNG TIN MỪNG:

a) Chúa Giê-su đã truyền cho các môn đệ trước khi lên trời: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Đây là một sứ vụ đẹp lòng Thiên Chúa như ngôn sứ I-sai-a đã thốt lên: “Đẹp thay, những bước chân đi truyền rao Tin Mừng ơn cứu độ”. Thánh Phao-lô Tông đồ dân ngoại cũng viết: “Làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin ? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe ? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng ? Làm sao rao giảng, nếu không được sai đi ?” (Rm 10,14-15). Nơi khác, ngài còn khẳng định : “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9,16).

b) Các tông đồ phải rao truyền mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Chúa Giê-su: Người là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa, đã từ trời xuống thế làm người, để dạy đường lên trời cho nhân loại là ”Qua đau khổ vào trong vinh quang”. Tông đồ Phao-lô cũng viết: “Trước hết, tôi truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là : Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như Lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như Lời Kinh Thánh” (1 Cr 15,3-4).

2) PHẢI TRUYỀN GIẢNG TIN MỪNG THEO CÁCH NÀO ?:

a) Cách truyền giảng của thánh nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su:

– Thánh nữ Tê-rê-xa đã truyền giáo bằng lời cầu nguyện và các việc bác ái hãm mình: Tê-rê-xa không giảng bằng lời nói nhưng bằng lòng ước ao của một con tim cháy lửa yêu mến Chúa, bằng cách làm các việc bổn phận thường ngày bằng một cách thức phi thường, nghĩa là nhằm để làm vinh danh Thiên Chúa và vì phần rỗi các linh hồn.

– Mỗi người chúng ta hôm nay cần noi gương thánh Tê-rê-xa: năng dâng những lời nguyện tắt kèm theo nhưng việc bác ái hãm mình để cầu cho việc truyền giáo: “Lạy Chúa, con xin làm việc hãm mình này để cầu cho một người lương sớm nhận biết tin yêu Chúa và hy vọng sẽ được hưởng ơn cứu độ của Chúa giống như con”.

b) Cách truyền giảng của Mẹ Tê-rê-xa Can-quýt-ta:

– Thánh TÊ-RÊ-XA CAN-QUÝT-TA đã âm thầm loan báo Tin Mừng bằng những cử chỉ nhân ái với những người bệnh tật cùng khổ và bị bỏ rơi. Mẹ đã đi nhiều nơi trên thế giới để thành lập nhiều cộng đoàn tu viện theo lý tưởng thừa sai bác ái của Mẹ, lập ra nhiều nhà mở để tiếp đón các bệnh nhân gần chết đang bị bỏ rơi, không phân biệt tôn giáo mầu da tiếng nói… Việc bác ái từ thiện của Mẹ đã đánh động lương tâm của nhiều người trên thế giới, để cùng xây dựng Trời Mới Đất Mới. không còn đau khổ bệnh tật thù hận chết chóc…

– Mỗi người chúng ta hôm nay cũng phải thể hiện lòng bác ái yêu thương ngay trong gia đình ruột thịt, khu xóm, xứ đạo và môi trường xã hội chung quanh. Không nhất thiết phải làm những việc lớn lao tốn phí nhiều tiền bạc, mà chỉ cần làm những việc nhỏ bé vừa tầm tay của mình như ân cần thăm hỏi, chia sẻ giúp đỡ vật chất tinh thần, phục vụ những người cụ thể bằng những gì mình đang có, hợp tác với những người thiện chí dù khác biệt về chính kiến, tôn giáo… để xây dựng thế giới mới an lành hạnh phúc.

c) Cách truyền giảng của thánh Phan-xi-cô Xaviê:

– Thánh PHAN-XI-CÔ XA-VI-Ê đi truyền giáo ở vùng Đông Á bên Ấn Độ. Trong suốt 10 năm truyền giáo ngài đã đi cả trăm ngàn cây số. Đã rửa tội cho hàng trăm ngàn tân tòng và gầy dựng nhiều cộng đoàn tín hữu khắp nơi. Cuối cùng ngài đã đến đảo Thượng Xuyên Trung quốc. Tại đây ngài ngã bệnh và qua đời ngày 3.12.1552, được phong thánh và được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo. Ngài là vị truyền giáo vĩ đại cho cuộc truyền giáo thời mới: Ngài hòa nhập vào dân mà ngài muốn mang Tin Mừng đến ; sống nghèo với những người lao động. Ngài hoạt động thật năng nổ cho cuộc truyền đạo và kích thích được tinh thần này ở Âu Châu. Hàng nghìn người đã theo gương ngài để mang Tin Mừng đi muôn phương.

– Mỗi người chúng ta hôm nay cần trang bị cho mình vốn liếng Lời Chúa, nhờ Lời Chúa soi dẫn, chúng ta sẽ đi đến các vùng sâu vùng xa của đồng bào dân tộc, đến với các trại nuôi người già, trại cùi, cô nhi viện, v.v… để thi hành sứ vụ loan Tin Mừng của Chúa, noi gương thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê.

d) Cách truyền giảng của Chúa Giê-su và các Tông đồ:

– Giới thiệu Chúa cho người khác: An-rê sau khi gặp Thầy Giê-su đã dẫn em là Si-mon đến với Đức Giê-su; Phi-lip-phê đã đưa bạn là Na-tha-na-en đến với Đức Giê-su…

– Đi bước trước tiếp cận người lương: Đức Giê-su đã mở lời trước xin người phụ nữ Sa-ma-ri cho uống nước và từ đó đã nói với chị về Nước Hằng Sống. Rồi người phụ nữ này đã về làng đưa dân làng ra gặp Đức Giê-su và mời Người vào giảng Tin Mừng cho cả làng.

– Cần xin ơn Thánh Thần trợ giúp: Noi gương các Tông đồ xưa đã hăng say loan báo Tin Mừng và đem lại nhiều thành quả tốt đẹp nhờ được Thánh Thần biến đổi trong ngày lễ Ngũ Tuần. Còn chúng ta hôm nay cũng cần được ơn Thánh Thần thôi thúc mới hy vọng chu toàn sứ vụ giới thiệu Chúa cho anh em lương dân chung quanh chúng ta.

3) CHU TOÀN SỨ VỤ TRUYỀN GIÁO HÔM NAY ?

– Cần năng cầu nguyện bằng những lời nguyện tắt để được kết hiệp mật thiết với Chúa.

– Góp phần thánh hóa gia đình và xã hội mình đang sống ngày một tốt đẹp hơn: Nhờ biết sống tình bác ái yêu thương cụ thể, chúng ta sẽ làm cho môi trường sống ngày một an toàn sạch đẹp hơn, công bình nhân ái hơn. Cúng cần ý thức đưa đức tin thấm nhập vào phim ảnh, bài hát, kịch nghệ, văn chương, hội họa, điêu khắc… hầu giúp anh em lương dân nhận biết tin yêu Chúa.

– Mỗi ngày quyết tâm đọc kinh Hòa Bình của thánh Phan-xi-cô để xin Chúa biến đổi chúng ta nên khí cụ bình an của Chúa, thành chứng nhân tình yêu của Chúa trước mặt mọi người.

– Hằng tuần dành ít nhất hai giờ để đi thăm những trại mồ côi, nhà dưỡng lão để chia sẻ tình thương cụ thể cho họ, sẵn sàng dấn thân phục vụ những bệnh nhân liệt giường cô đơn, để làm chứng cho Chúa như lời Chúa dạy: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).

Ðức Phao-lô VI đã dạy: “Con người thời đại ngày nay thích nghe các chứng nhân hơn là những thầy dạy, và nếu họ có nghe thầy dạy thì cũng bởi vì những thầy dạy này là các chứng nhân“.

  1. LỜI CẦU:

Lạy Chúa Giê-su, Tình Yêu của con, nếu Hội Thánh được ví như một thân thể gồm nhiều chi thể khác nhau, thì hẳn Hội Thánh không thể thiếu một chi thể cần thiết nhất và cao quý nhất là trái tim, một trái tim bừng cháy tình yêu. Chính tình yêu làm cho Hội Thánh hoạt động. Nếu trái tim Hội Thánh vắng bóng tình yêu, thì các tông đồ sẽ ngừng rao giảng, các vị tử đạo sẽ chẳng chịu đổ máu mình…

Lạy Chúa Giê-su, cuối cùng con đã tìm thấy ơn gọi của con chính là tình yêu. Con đã tìm thấy chỗ đứng của con trong lòng Hội Thánh: Nơi trái tim Hội Thánh con sẽ là tình yêu, và như thế con sẽ là tất cả. Vì tình yêu bao trùm mọi ơn gọi trong Hội Thánh. Lạy Chúa, với chỗ đứng Chúa ban cho con, mọi ước mơ của con chắc chắn sẽ được thực hiện.

(Dựa theo lời cầu nguyện của thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su)

 

.

VÌ ĐẤNG YÊU TÔI

Lm. Jos. DĐH.

Luật công bằng tự nhiên mách bảo: có làm thì mới có ăn, có gieo vãi thì có quyền tận hưởng thành quả. Tiền nhân chúng ta cụ thể hơn khi nói đến tinh thần trách nhiệm của người quân tử: làm trai cho đáng nên trai, xuống đông, đông tĩnh, lên đoài, đoài yên. Tạ ơn trời đất, biết ơn bậc sinh thành, nhớ ơn các vĩ nhân, thế hệ con cháu đâu phải chỉ là những kẻ thụ hưởng gia sản của tiền nhân, vì mọi người đều được mời gọi ý thức phát huy tinh thần dân tộc: cha anh hùng, con hảo hán. Chính nguồn hạnh phúc hiện tại, hướng tới niềm an vui ở tương lai, người quân tử dù đức dù tài có hạn chế, cũng không thể đứng khoanh tay chờ thời, hay ngồi đó than thân trách phận, mà bằng ý chí quyết tâm một lòng sống niềm tin: con hơn cha, nhà có phúc.

Xã hội thời nào cũng phức tạp: có người tốt, sống chung với kẻ chưa tốt, có người thật thà chân thành, phải đối diện với kẻ lắm mưu nhiều kế ! Cũng vì phúc lộc dư tràn là có thật, nên từ sâu thẳm của tâm tư, phận làm con cháu đều được nhắc nhớ: uống nước nhớ nguồn. Khánh nhật truyền giáo, một ngày, một tuần, hay một đời truyền giáo, người tín hữu Kitô chúng ta đang hít thở, đang chung một thao thức, một niềm tin, một tình hiệp thông trong Đấng đã chết và sống lại vì yêu, vì muốn cứu độ chúng sinh. Khánh nhật truyền giáo là nét đặc trưng của Đại gia đình gồm tất cả các thành viên đang sống trong tình liên đới yêu thương. Vì tình yêu, Đức Kitô sẽ thắp sáng niềm tin nhằm giúp từng đối tượng trong Đại gia đình của Ngài hiểu: non kia ai đắp mà cao, sông kia biển rộng ai đào mà sâu. Đấng mà chúng ta gọi là Thầy là Chúa, Ngài sẽ mở ra cho chúng ta “hồng ân cứu độ”, lấp đầy khoảng trống tâm tư mỗi người bằng một điệp khúc “yêu đến cùng”.

Vì Đấng yêu tôi, vì tôi được yêu nên tôi biết yêu, một tình yêu vừa đầm ấm tình người, vừa thanh thoát linh thánh ở trong “sứ mạng riêng” của mọi thành viên gia đình Kitô. Trên phạm vi đức tin, người tín hữu đều biết bản chất của hội thánh là truyền giáo, truyền giáo không phải chỉ thuộc về một số đại diện: linh mục tu sĩ, truyền giáo là mang bình an, mang tin vui đến cho mọi người. Trên thực hành, nhiều người cho rằng truyền giáo là sống gương sáng đức tin bằng lời nói việc làm cho con cháu, cho anh chị em xung quanh mình, cả những thành phần chưa một lần bước chân đến nhà thờ. Có thực mới vực được đạo, có tình yêu Chúa trong lòng, ngoài môi miệng và cách cư xử của ta mới bày tỏ được lời hay ý đẹp. Đức Giêsu đã nói, đã có lệnh truyền đến các học trò: “Thầy đã được toàn quyền trên trời dưới đất, vậy anh em hãy đi khắp muôn dân thiên hạ rửa tội cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.

Vì yêu, năm xưa Đức kitô trực tiếp mời gọi các tông đồ truyền giáo, đã gián tiếp nhắc nhớ đến sứ mạng loan báo Tin mừng là của mọi người. Vì tình yêu Đức kitô, ngày hôm nay, trẻ hay già, giầu sang nghèo hèn, nhiều tài thiếu đức, đạo gốc đạo theo, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, tất cả đều được gọi là thành viên của gia đình Chúa, khi đã lãnh nhận bí tích rửa tội. Vì Đấng đã yêu, đã chết và sống lại, mỗi thành viên Kitô vừa có bổn phận, vừa có trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ và phát sinh hoa trái thánh thiện như lòng Chúa mơ ước. Đấng kitô không thẩm vấn các học trò xem có đủ tài trí thông minh, năng lực bằng cấp, Đức Kitô không trao ban vật chất, phương tiện, ngựa, xe, cho các học trò, nhưng Ngài cần các môn đệ một tinh thần tông đồ.

Vì yêu, “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Vì yêu, người môn đệ mới cảm nhận được sức mạnh, quyền năng và ơn bình an của Thầy để dấn thân, phục vụ Tin mừng mà không sợ hãi thế lực trần gian. Cha ông chúng ta có câu: muốn làm phúc ở đâu, cũng phải bắt đầu từ nhà mình đã. Đúng, muốn làm môn đệ Đức kitô, muốn truyền giáo, trước hết tâm hồn mình phải có tình yêu Giêsu, có tinh thần người chiến sĩ theo Thầy… Vì Đấng yêu tôi, vì sự tự do của người môn đệ, khi sức mạnh của tình yêu Giêsu vừa đủ trong tâm trí, người môn đệ theo Đức kitô sẽ tự tin để nói rằng: yêu ai cứ bảo là yêu, phục vụ Đức kitô cứ bảo là phục vụ Đức kitô. Vì tình hiệp thông, các môn đệ đã hết tình hết mình sống lời căn dặn: “anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Thầy”.

Vì Đấng đã yêu tôi, vì truyền giáo là sứ mạng của tất cả những ai theo Đức kitô, vì nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực, mà là nơi không có tình người ; Đức kitô không hứa hẹn phần thưởng, nhưng Ngài đã quả quyết: “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Mỗi ngày chúng ta có thể quên đi nhiều thứ, nhưng người môn đệ đi con đường Thầy Giêsu đã đi, không được quên Thầy luôn đồng hành và hiện diện bên chúng ta. Vì Đấng yêu tôi, người đời có thể hiểu sai, hoặc ghét những việc làm của các môn đệ Đức Giêsu, nhưng ta hãy tha thứ, hãy bỏ qua, dù ta từng bị thất bại, từng bị người đời cản trở, lên án bất công. Xin Thầy Chí Thánh tiếp tục biến đổi và thánh hoá những môn đệ của Thầy bằng tình yêu, bằng gương sáng đức tin, toả chiếu đến mọi người mọi nơi. Amen.

 

.

GIÁO DÂN TRUYỀN GIÁO

Jos. Hoàng Mạnh Hùng

Lúc còn là một cậu thiếu niên, khi nghe đoạn Tin Mừng trong ngày lễ Chúa Nhật truyền giáo có câu “Hãy đi khắp cả thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.” (Mc 16,15) cộng với tiếng hát hân hoan, ca ngợi:

Ôi đẹp thay những bước chân tiến vào giữa lòng thế giới
Loan tình thương Chúa Trời, loan niềm vui cứu đời
Cho mọi người và mọi nơi.
(Đẹp thay – Mi Trầm – Thánh ca cộng đồng)

Lòng tôi lại rạo rực ước mơ được trở thành một tông đồ đi đến những miền đất xa lạ để rao giảng Tin Mừng cho những người, những dân tộc chưa biết Chúa. Những cảnh tượng đồng lúa mênh mông trĩu nặng những hạt lúa chín vàng không có người gặt hái khiến tôi ngây ngất tưởng tượng như mình là một người thợ gặt chính hiệu dù chưa bao giờ cầm tới một cái liềm, cái hái!

Dần dà tôi cảm nghiệm ra rằng truyền giáo không chỉ như Thánh Phanxicô Xaviê từng bôn ba suốt đời nơi cuối trời góc biển nhưng còn là những lời kinh nguyện âm thầm trong nhà tu kín của Thánh nữ Têsêsa Hài đồng Giêsu. Ngoài ra còn biết bao hình thức truyền giáo khác nhau của hàng giáo sĩ và tu sĩ, là những người được huấn luyện trong trường lớp đặc biệt có bài bản để tiếp nối sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu.

Rồi khi được học hỏi về Sắc lệnh Tông đồ giáo dân, tôi mới vỡ lẽ thêm rằng: giáo dân cũng có bổn phận và quyền làm tông đồ vì qua bí tích Thánh Tẩy, họ cũng được tham gia vào chức vụ Tư Tế, Ngôn Sứ và Vương Giả của Đức Kitô. Đức Kitô là Ðầu của họ và họ trở thành chi thể của nhiệm thể Người. Họ được chính Chúa chỉ định làm việc tông đồ. Việc tông đồ được thực thi nhờ đức tin, đức cậy và đức ái.

Để thực hiện tông đồ giáo dân, có hai phương pháp hoạt động là tông đồ tập thể và tông đồ cá nhân. Các hội đoàn Công Giáo Tiến Hành trong đó có GĐPTTTCG là phương pháp hoạt động tông đồ tập thể được Giáo hội khuyến khích vì nó có tổ chức quy củ sẽ đáp ứng hữu hiệu hơn cho nhu cầu của con người và tín hữu.

Để có thể nói về Chúa cho mọi người, người tông đồ giáo dân cần phải được huấn luyện: huấn luyện chung cho mọi tín hữu và những lớp huấn luyện chuyên biệt cho đoàn thể tông đồ có nhiều đoàn viên và hoàn cảnh khác nhau. Đồng thời tự thân họ cũng phải cố công học hỏi để hiểu sâu Lời Chúa và để biết cảm thông với những người mình gặp gỡ. Biết lắng nghe, đọc, chiêm ngắm, suy niệm và sống Lời Chúa mỗi ngày là điều kiện nòng cốt để có thể chu toàn sứ mệnh loan báo Tin Mừng cho tha nhân, bởi ta không thể cho ai điều mình không có.

Trong Tông huấn ”Niềm Vui Phúc Âm”, Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định rằng “với các việc làm và cử chỉ của mình, cộng đoàn rao giảng Tin Mừng cần bước vào cuộc sống thường ngày của người khác …”. Không cần thiết phải đi đến những nơi xa xôi, không cần có khả năng thuyết giáo với những lí lẽ mang tính thuyết phục …mỗi giáo dân trong cuộc sống thường ngày có thể làm việc tông đồ như men ủ trong bột ở ngay trong môi trường sống “theo mức độ Đức Ki-tô ban cho” (Ep 4,7). Người tông đồ giáo dân ý thức mình sẽ đóng nhiều vai trò vừa trong Giáo hội vừa nơi xã hội, nơi làm việc, gia đình của mình… Nơi nào họ cũng mong mình trở thành ánh sáng, là men, là muối cho trần gian. (x Mt 5,13-14)

Khi thực hiện đọc kinh Đền tạ luân phiên tại các gia đình, các đoàn viên GĐPTTTCG đã đem Lời Chúa, câu kinh đến từng gia đình, khu xóm nơi gia đình mình sinh sống. Lời Chúa, câu kinh ta đọc đó cần phải được tỏa sáng bằng những việc làm thường ngày trong sinh hoạt cộng đồng.

Để trở nên men Tin Mừng cho mọi người, người tông đồ giáo dân phải là người có cuộc sống mẫu mực, luôn vui vẻ chu toàn bổn phận, nói đi đôi với làm, dám quên mình vì ích chung, quảng đại góp phần vào những việc bác ái – xã hội chung trong khu xóm, trong giáo xứ. Vì người khác chỉ có thể bị thu hút bởi những người sống có uy tín đối với mọi người và biết cách làm cho điều tốt đi vào lòng người.

Xã hội nói chung và từng khu xóm hiện nay đều có những hoàn cảnh sống trái ngược nhau: kẻ lắm tiền nhiều của, người nghèo khó neo đơn …. Muốn loan truyền Tin Mừng yêu thương cho tha nhân, mỗi người tông đồ giáo dân phải thực hiện việc bác ái ngay trong nơi làm việc, khu xóm và gia đình mình.

Quan tâm đến mọi người sống chung quanh, không phân biệt giai cấp, tín ngưỡng trong tinh thần bác ái – xã hội. Người tông đồ giáo dân cần bắt chước Đức Kitô khiêm hạ, chuyên lo làm đẹp lòng Thiên Chúa và yêu thương con người. Khi thực thi bác ái cần phải nhận ra hình ảnh Thiên Chúa nơi tha nhân và bất cứ sự gì trao tặng cho người nghèo là đã thực sự được dâng cho chính Đức Kitô

Lạy Chúa, xin cho ngày Chúa Nhật Truyền Giáo đánh thức nơi mỗi kitô hữu chúng con sự đam mê và nhiệt huyết cần thiết để đem Tin Mừng cho toàn thế giới. Xin cho chúng con luôn ý thức về trách nhiệm truyền giáo của một Kitô hữu và hun đúc trong chúng con ơn gọi làm tông đồ. Cho lòng chúng con luôn rộng mở khi đóng góp vào công việc mở mang nước Chúa. Xin cho chúng con lắng nghe và thực thi Lời Chúa mỗi ngày để gia đình chúng con trở thành một “cộng đoàn cầu nguyện, sống tình yêu hợp nhất thủy chung, phục vụ sự sống và hăng say loan báo Tin mừng”.

Xin Chúa giúp chúng con trở nên những tia sáng, hạt muối, hạt men tốt: nhập thể nhiều hơn vào những lãnh vực trần thế để biến cải môi trường mình sống trở nên tốt đẹp hơn. Cho chúng con biết quan tâm sống tinh thần Tin Mừng là tinh thần yêu thương trong gia đình, trước khi loan báo cho người khác cùng sống theo. Xin thánh hóa để chúng con trở nên những chứng nhân Tin Mừng, biết quan tâm tới đau khổ và hạnh phúc của những người khác trong giáo xứ, khu xóm của chúng con. Amen.

 

.