Bài hát và suy niệm (24.11.2020 – Lễ Trọng Các Thánh Tử Đạo Việt Nam)

Chuỗi Kinh cầu nguyện trong cơn Đại dịch Covid-19

NL: ANH HÙNG TỬ ĐẠO

ĐC: NGÀY VỀ

HALL: Phúc cho ai bị bắt bớ vì công lý vì Nước Trời là của họ

DL: NHƯ HƯƠNG THƠM

HL: BÀI CA NGÀN TRÙNG

KL: NGỢI KHEN CÁC THÁNH TỬ ĐẠO

THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM 2019

NL: BÀI CA NGÀN TRÙNG

ĐC: NGÀY VỀ

HALL: Phúc cho ai bi bắt bớ vì công lý vì Nước Trời là của họ.

DL: CỦA LỄ TRẦM HƯƠNG

HL: TÌNH CA VÔ TẬN

KL: ANH HÙNG TỬ ĐẠO

 

Lời Chúa:  2 Mcb 7,1.20-23.27b-29, Rm 8,31b-39, Lc 9,23-26

 

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca (Lc 9,23-26)

23 Khi ấy, Đức Giê-su nói với mọi người rằng : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. 24 Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. 25 Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì ? 26 Ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của mình, của Chúa Cha và các thánh thiên thần.”

Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình

Tin Mừng hôm nay, về những ngày cuối năm phụng vụ, làm ta cũng nghĩ đến ngày tận cùng của thế giới và ngày tận cùng của đời ta. Hôm nay Hội thánh trưng ra cho ta những đòi hỏi thật khắt khe của Chúa Giêsu đối với những ai muốn đi theo Chúa, đồng thời cũng nêu ra những lời cam kết của Chúa đối với ta trong ngày tận cùng ấy.

“Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo”. Thật là một đòi hỏi lớn lao qua sức nghe như ngược đời nữa. Khi đến trần gian, Chúa đã nhìn thấy những khát khao trần tục vật chất của mọi người, kể cả các tông đồ. Họ mong Đấng Cứu Thế sẽ đến xây dựng đất nước Do Thái của họ, hùng cường, thịnh vượng, mà mọi người trong đó hạnh phúc no say… Lời đòi hỏi trên  của Chúa đã chặn lại cái tham vọng thấp hèn trần đời của họ để rồi hướng họ tới chốn cao sang hơn. Lời đòi hỏi của Chúa chẳng quá đáng chút nào. Bởi vì mạng sống con người, thân xác linh hồn con người ta là thứ quý nhất đối với ta ở trần gian này thật mà Chúa cũng dạy ở đây: “Vì người nào được cả thế giới mà đánh mất chính mình hay là thiệt thân thì nào có lợi gì”. Nhưng Chúa lại là chủ, độc quyền tạo dựng nên thân xác linh hồn ta. Vì vậy nếu Người có đòi lại để rồi ban cho ta điều tốt lành lớn lao hơn thì đó chính là quyền năng và tình yêu thương quảng đại của Người. Các thánh tử đạo xưa nay đã thấm nhuần lời Chúa dạy đó, nên đã hớn hở vui mừng tiến ra pháp trường để được hy sinh vì Chúa.

Hôm nay Chúa cũng dạy ta phải “vác thập giá mình hàng ngày mà theo”. Đó là những hy sinh vất vả khi thực thi bổn phận làm người, làm con cái Chúa ở trần gian này. Sự đau khổ đã đế trần gian này từ sau khi ông bà nguyên tổ phạm tội. Khi Chúa đến trần gian Người đã không loại trừ những đau khổ mà còn vui lòng vác lấy thập giá ấy. Ta cứ yên tâm vâng nghe, đi theo Chúa vì đau khổ có sức đền bù tội lỗi, nên công phúc và cứu độ ta.

Một điều hôm nay cũng làm ta lưu ý: dù tình yêu thương của Chúa đối với con người là vô điều kiện. Khi chết trên thập giá là Chúa đã ký với nhân loại một giao ước yêu thương một chiều bất bình đẳng cho đến muôn đời. Nhưng hôm nay Chúa muốn vì lợi ích của ta, để thúc giục ta mà cam kết một giao ước bình đẳng như những giao ước của người trần thế: “Ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của Người”.

Cuối cùng khi suy gẫm Lời Chúa hôm nay: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”. Tôi suy gẫm về nhân loại hôm nay, nhất là thế giới Âu, Mỹ. Họ vẫn tự hào mình có đời sống văn minh thịnh vượng, một ngành y học tiên tiến giữa một nền khoa học 4.0. Vậy mà họ đã phải bất lực bó tay trước con covid mắt thường không nhìn thấy. Cùng biết bao con người chỉ biết lo tìm kiếm của ngon vật lạ để được khỏe mạnh béo tốt sống lâu, mà rồi chỉ lại thấy nhiều bệnh lạ xuất hiện. Biết bao người chỉ biết đầu  tư cho con cái mình thành tài, nhiều tiền, còn việc học hành Lời Chúa thì…

Lạy Chúa! Con cảm tạ Chúa vì đã ban cho con mạng sống với thân xác, linh hồn tốt lành biết bao. Nhưng trước vũ trụ bao la huyền bí, trước quyền năng nhiệm mầu của Chúa, thì con người con chỉ như hạt bụi. Xin cho con biết dùng của Chúa ban ấy mà ca ngợi, phụng thờ Chúa không ngừng để ngày sau hết được Chúa đón nhận con trong nước Chúa.  Amen.

Giuse Ngọc Năng

Sức Mạnh Thần khí

“Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta? Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta? Ai sẽ buộc tội những người Thiên Chúa đã chọn? Chẳng lẽ Thiên Chúa, Đấng làm cho nên công chính? Ai sẽ kết án họ? Chẳng lẽ Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã chết, hơn nữa, đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta?

Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? Như có lời chép: Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh.

Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta.

Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.” (Rm 31b-39)

“Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục. Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.

“Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” (Mt 10,28-33)

Dâng lễ kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta có cơ hội trở về nguồn cội đức tin của dân Việt, của dân Ít-ra-en Thánh Kinh đã ghi lại. Để nhìn ngắm kỳ công của ân sủng và lòng tin, cùng tinh thần quả cảm của cha ông chúng ta. Ngày nay chúng ta thừa kế gia sản đức tin của các ngài, bước vào sống trong lâu đài ân sủng nguy nga rực rỡ ánh sáng và sự sống vĩnh hằng. Được như thế là một phúc rất trọng, vô cùng trọng đại, bởi vì phẩm vị của một con người: là thụ tạo của Thiên Chúa. Bỗng chốc không những đã được nâng lên thành con Thiên Chúa, mà còn trở nên những người con ưu tú, siêu việt đầy thánh thiện của Thiên Chúa Ba Ngôi. Một sự biến đổi địa vị và phẩm chất mà con người không bao giờ có thể tự mình làm ra được, một đặc ân nhưng không, nhờ Con Thiên Chúa chịu chết cho chúng ta. Ngài chuộc chúng ta về từ cuộc đời nô lệ cho tội lỗi và cho ma quỷ, giải phóng chúng ta khỏi xích xiềng đam mê và các khuynh hướng tự nhiên dẫn vào cõi chết muôn đời. Nên người Ki-tô hữu mới được Thánh Tâm Chúa Thánh Thần ban cho sức mạnh thần khí nuôi dưỡng sự dũng mãnh của niềm tin.

Các Thánh Tử Đạo Việt Nam hay bà mẹ trong sách Ma-ca-bê cùng mang phận người như tất cả chúng ta, vốn thật yếu đuối và tăm tối. Nhưng động lực nào làm cho một người mẹ có thể cùng lúc hy sinh bảy người con trai, tận mắt chứng kiến con mình chịu khổ hình và bị phanh thây? Hay người phụ nữ bình dân như thánh An-nê Lê Thị Thành chấp nhận chịu tra tấn tàn bạo rất nhiều lần trong thời gian dài mà vẫn kiên vững đức tin: tôn thờ Chúa cho đến lúc tàn hơi. Trong lúc đó, thời nay, nhiều vị Giám mục thuộc Giáo Hội Thầm Lặng ở Trung Quốc chỉ vì áp lực khó khăn cho cuộc sống, mà đã dễ dàng bỏ đi đức tin chính thống để gia nhập Đạo Yêu Nước của chế độ độc tài Tập Cận Bình. Hay vô số những người phụ nữ khác sẵn sàng giết con từ khi con còn trong dạ mẹ, để bản thân được sống thoải mái.

Sự khác biệt ở đây, bố muốn nói đó chính là nhịp sống thần khí. Ai sống được nhịp sống thần khí mới có thể có sức mạnh thần khí. Xin tạm phân bậc đời sống đức tin theo hiện trạng chung của những người có đức tin. Đầu tiên

–  Đời sống đạo đức:

Là những người thường xuyên làm việc đạo đức: đọc kinh, dâng lễ, làm tông đồ v.v…

(Có thể đọc hay làm vì nhiều động lực tự nhiên mang tính vụ lợi, có hậu ý, hướng về bản thân hay thụ tạo. Do đó còn rất nhiều nguy cơ phạm tội trọng.)

 – Đời sống nhân đức:

Những người coi trọng lề luật Chúa, sống đức tin, sẵn sàng hy sinh phần lớn những gì là của mình, thuộc về mình để phụng sự Chúa.

(Ý thức đức tin nơi những tâm hồn này thật đáng trân trọng, đáng quý, tuy nhiên vẫn cần hướng tới sự bỏ mình nhiều hơn. Đời sống ở bậc nầy đã có thần khí, nhưng chưa mạnh. Bởi đó, từ bỏ ý riêng và sở thích chưa tận tuyệt nên khả năng phạm tội nhẹ còn nhiều.)

– Đời sống tận hiến:

Những người dám dâng Chúa tất cả xác hồn, tài sản tự nhiên và siêu nhiên, không giữ lại bất cứ điều gì. Quyết tâm sống cho Chúa, sống với Chúa, với tình mến và lòng tri ân sâu xa nơi tâm hồn khiêm hạ chân thành. Họ kiên trì trong cuộc sống nhân đức, thà hy sinh chính mình chứ không để Chúa buồn lòng.

(Nhờ quảng đại dâng tiến chính mình và mọi sự hết lòng, hết tình với Chúa, Lòng Thương xót Thiên Chúa Ba Ngôi âu yếm bao phủ lấy linh hồn và dễ dàng tuôn đổ những ơn cao trọng cho, dù linh hồn bất xứng. Nhờ nhịp sống thần khí vẹn toàn này, linh hồn có sức mạnh để vượt qua tội lỗi, đau đớn và cả cái chết.)

Biết được những bậc thang ân sủng và nhân đức, các con có lối đường thiêng liêng cụ thể để tiến bước kín múc sủng ân thần khí. Hy vọng các con biết nuôi dưỡng tâm tư tận hiến mình cho Thiên Chúa, và trân trọng giữ mãi ý nguyện tốt lành cao quý nầy. Nhờ đời sống tận hiến chân thật và hết lòng, các con mới có thêm đức tin để đủ sức xác tín “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục. Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi.” Không có niềm tin đầy xác tín Chúa nói đây, các con không có sức tử đạo bằng máu hay bằng chân lý, không dám tiêu hao chính mình cho Nước Chúa hay các linh hồn qua cuộc sống từng ngày.

Nỗi “sợ” mà Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta “đừng sợ”, nó ăn sâu vào trong cốt tủy tâm linh một con người. Nỗi sợ đi cùng sự u mê tăm tối này xuất phát từ hậu quả tội nguyên tổ, và càng lớn thêm lên do tội riêng đã phạm. Ai phạm càng nhiều tội trọng, sự sợ hãi đau khổ và cái chết càng gia tăng, bóng đêm tăm tối nơi linh hồn càng lớn. Nên thế lực ác thần càng dễ dàng chế ngự tâm linh chi phối mọi chọn lựa trong cuộc sống. Vì vậy, muốn có được sức mạnh thần khí của các Thánh tử đạo, các con phải tận hiến mình cho Thiên Chúa để bước vào nhịp sống thần khí. Hầu được Thánh Tâm Thương Xót Vô Biên Chúa Ba Ngôi đưa vào lối đường ân sủng ưu tiên nhất của Lòng thương xót, và nuôi dưỡng tâm linh bằng những sủng ân cao trọng. Như Chúa từng nói rất bóng bẩy và sâu nhiệm qua Thánh Kinh

“Thức ăn ngon, Ta đãi hàng tư tế,

và dân Ta hưởng ân lộc dư đầy,” (Gr 31,14)

Lời Chúa đây với nghĩa đen đã phúc, nghĩa bóng phúc còn trọng hơn. Làm Tư Tế thực mà không sống cho Chúa thì nguy cơ mất phần rỗi rất cao, mọi lương thực thần linh Chúa ưu đãi không sinh ích cho linh hồn. Trái lại, người tận hiến mình cho Thiên Chúa, dù trong cuộc sống âm thầm vẫn là tư tế được Chúa coi trọng và tận tình chăm nom nuôi dưỡng linh hồn bằng tình yêu bởi lòng thương xót không bến bờ. Và ban cho những sủng ân mà người đời không sao hiểu thấu tầm mức cao quý, vinh quang và danh dự.

Được như vậy, có đổ máu hay không các con vẫn xứng danh con Thiên Chúa, sống ở giữa trần gian nhưng không thuộc về thế gian. Và cho dù các con không được thánh hiến trước mắt người đời, thì nhờ đời sống tận hiến đích thực các con được Thánh Tâm Người thánh hiến trước tôn nhan Thiên Chúa.

Kết lại:

Các con có tử đạo bằng máu hay bằng chân lý cũng bởi “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em.” (Ga 15,18-19) “Con đã truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến.” (Ga 17,14-19)

Chúng ta nhận biết mình có sức mạnh thần khí, khi thấy vì mình luôn cố gắng sống công chính, thánh thiện mà thế gian ghét bỏ mình.

Tình Yêu Hoa Cỏ

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Thầy Giêsu sai các môn đệ ra đi làm chứng cho Thầy và dặn trước rằng:“Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại.” Nghe những lời này ai cũng cảm thấy sợ hãi muốn chùn bước chân. Chính Thầy Giêsu là lá cờ đầu tiên phong, là vị Tử Đạo đầu tiên đã bị nộp, đánh đập và bị đóng đinh chết nhục nhã đau thương. Kế đến các tông đồ, theo sau là các thánh Tử Đạo cũng đã bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền. Các ngài đã trải qua bao nhiêu cấm cách, bắt bớ, đánh đập giết chóc đau thương với nhiều cách ghê sợ. Những hình ảnh đó thật đúng là chiên đi vào giữa “bầy sói”.

Nhưng ngày nay Thầy sai chúng con đi vào thế gian, giữa thời đại @, không có sói, chẳng bị cấm cách gì hết. Nhiều khi mạnh ai nấy sống, người ta mải mê kiếm tìm lợi nhuận hưởng thụ, của cải, danh vọng, tìm cách vươn lên làm giàu, chứ chẳng tìm bắt bớ, bách hại lẫn nhau. Không thấy ai nộp chúng con cho hội đồng, không bị đánh đập trong hội đường hay điệu ra trước nhà chức trách vì Chúa. Nhưng cũng chính trong thời đại bon chen xô bồ này, chúng con bị thách thức, bắt bớ bởi những cám dỗ đam mê, tiền, vàng, đôla, nhà đất… Chúng làm lé mắt, lôi kéo trói buộc, chúng con   thật khó để chiến đấu mà giải thoát gỡ mình ra khỏi. Vì bản năng con người lại thích “sự êm dịu” của nó. Cũng chính vì những lợi lộc trần gian này, vì tiền của, nhà đất, ruộng vườn mà người ta bon chen giành giật, vu oan kiện cáo đưa nhau ra tòa không phân biệt thân sơ. Từ đây có cảnh “Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết.” Báo chí cập nhật đăng tải bao cảnh bê bối tang thương ngay từ giữa gia đình.

Phải đối xử làm sao, chiến đấu ra sao với những thử thách gian truân nơi đường trường dương thế này? Lúc ấy “không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.” Chính Thầy Giêsu đã đi bước trước và thực hiện trong các vị Tử Đạo. Mọi khó khăn đau khổ sẽ được trả lại bằng vinh quang. Nhưng với điều kiện phải trung thành trong mọi hoàn cảnh khó khăn, cho đến giây phút cuối cuộc đời: “kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.”

Lạy Chúa! Chúa sai con đi vào giữa cuộc đời đầy khó khăn thử thách và đủ thứ cám dỗ gọi mời. Xin ban cho con sự khôn ngoan cần thiết, để con nói năng, hành động theo Thần Khí Chúa. Được đồng hình đồng dạng, nên một trong Chúa, con được trở nên thụ tạo mới. Nếu được như vậy, con luôn vững tâm, can đảm khi đối diện với những khó khăn. Bởi vì “không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.” Có thể con sẽ lãnh phần thua thiệt trong cuộc sống, nhưng nhờ “bền chí đến cùng” con sẽ được hưởng hạnh phúc Chúa hứa ban. Amen.

Én Nhỏ

***

MỤC LỤC 

 

Năm 2018

2. Tử đạo thời công nghệ 4.0 (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

3. Chứng nhân  (Jorathe Nắng Tím)

4. Cuộc bách hại đạo hôm nay (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

5. Chọn Đấng Chịu Đóng Đinh (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

6. Hy sinh mạng sống đến cùng vì đức tin (Lm. Phêrô Lê Văn Chính)

7. Tin theo Giêsu (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

8. Ngày ấy  (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

9. Thuộc về Thiên Chúa (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

10. Suy niệm chú giải Lời Chúa (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

Năm 2015

1. Chứng nhân tình yêu  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

2. Con người thích thỏa hiệp  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

3. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

4. Những đấng bậc anh hùng  (Lm Giuse Phạm Thanh Liêm)

5. Sức mạnh niềm tin tôn giáo  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

6. Bị bách hại vì sống công chính  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

7. Làm chứng cho Tình yêu  (Văn Hào, SDB)

8. Sống là chết (Lm.Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

9. Ai liều mất sự sống mình vì Tôi (Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc)

10. Chết vì yêu (Huệ Minh)

11. Tử đạo giữa đời thường (Dã Quỳ)

12. Dũng cảm làm chứng cho Chúa hôm nay (Lm. Đan Vinh)


 

TỬ ĐẠO THỜI CÔNG NGHỆ 4.0

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

ĐứcThánh Cha Phanxico đã từng nói: “Một Giáo hội không có các vị tử đạo là một Giáo hội không có Chúa Giêsu”. Đức Thánh Cha cũngmời gọi cầu nguyện “cho các vị tử đạo của chúng ta đang đau khổ rất nhiều,” “cho các Giáo hội không được tự do để diễn tả chính mình”: “họ chính là niềm hy vọng của chúng ta.” Ngài nhắc lại lời của giáophụ Tertullienxưa đã viết: “Máu của các vị tử đạo, là hạt giống của các Kitô hữu.” Thếnên, Đức thánh Cha cám ơn Chúa đã hiện diện với sức mạnh của Chúa Thánh Thần nơi các anh chị em đang chịubách hại bằng nhiều cách.

Quả thực, ngày nay vẫn còn đó những cuộc bách hại bằng khủng bố đánh bom nhà thờ, và sát hại các linh mục tu sĩ, vẫn còn đó những cuộc cấm đoán biểu lộ niềm tin như giáo hội hầm trú Trung Quốc,haytại các nước đang phát triển mà Đức Thánh Cha đãnói: “Tôi không thể quên chứng tá của Linh mục và nữ tu ở nhà thờ chánh tòa Tirana: năm này qua năm khác ở trong tù, bị lao động khổ sai, hạ nhục,”, đối với họ nhân quyền không tồn tại.

Ngày hôm nay còn có một hình thức bách hại mới mà Giáo hội Việt Nam cũng đang phải đối diện. Đó chính là sự bách hại bởi truyền thông xã hội. Chúng ta cũng thấy nhiều linh mục, Giám mục đã trở thành “các vị tử đạo” bởi truyền thông xã hội khi các ngài mạnh dạn lên tiếng nói cho sự thật và bảo vệ công lý.Cónhững linh mục giúp cho dân mình khởi kiện sự tàn phá môi trường của Fomasa liền bị quy chụp bởi nhiều tội danh chẳng liên quan đến việc đòi lại công lý. Có những giám mục chỉ nói lên tiếng nói của sự thật liền bị truyền thông cắt xén, bóp méo và tìm cách loại trừ. Có những Giám mục bảo vệ công lý thì bị quy chụp  là xem thường pháp luật, bị các thế lực thù địch xúi giục, bao che tội phạm… mà trong nhiều hệ thống báo chí, đài phát thanh và truyền hình đãtừng đăng tải. . .

Cónhững linh mục còn bị những truyền thông giấu mặt mà người ta hay nói là đội quân DLV luôn chửi bẩn, nói bậy khi các linh mục này dám lên tiếng nói kêu gọi tôn trọng sự sống và phẩm giá con người. Đội quân DLV đa số là thành phần thất học, chỉ cần tiền nên không biết lý lẽ, phải trái . . . và sẵn sàng lao vào người ngay chính rủa xả và dừơng như họ luôn coi các lãnh đạo tôn giáo  như kẻ thù và là mục tiêu của thách thức chế diễu, lăng mạ . . .

Thời nào cũng có những cuộc bách hại, nhưng Giáo hội lại càng cần những chứng nhân trong những cuộc bách hại như thế. Vì càng bị bách hại người tín hữu càng được tôi luyện mình nên tốt hơn, và là dịp thuận lợi để làm chứng cho niềm tin của mình.

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà người ta sống ảo nhiều hơn sống thực. Thế giới ảo phải chăng chính  là môi trường cần thiết để chứng tá tin mừng được ghi dấu nơi ấy?  Thế giới ảo phải chăng là lời mời gọi cuộc cách mạng tin mừng hãy dùng chính thế giới ảo ấy lan truyền tin mừng của Chúa đến cho mọi người? Đây cũng là một thế giới công bằng và cộng đồng mạng là những người thực thi công lý. Bởi vì rất nhiều những án oan, nhưng bất công đã được cộng đồng mạng đồng tâm chia sẻ và đòi lại công bằng đã thành công.

Tại sao người Công giáo chúng ta còn ngần ngại tuyên xưng niềm tin bằng việc loan tải những sứ điệp đầy yêu thương của Chúa đến cho mọi người? Tại sao chúng ta không tận dụng truyền thông để đẩy lùi sự dữ ra khỏi xã hội loài người? Phải chăng còn rất ít người dám tuyên xưng niềm tin? Phải chăng chúng ta đã cố tình bịt mắt, bịt tai, bịt miệng để tìm an toàn cho bản thân?

Cha ông chúng ta dám đổ máu đào để bảo vệ đức tin và làm chứng cho tin mừng trong điều kiện đầy khó khăn và gian khổ. Máu của các ngài đã đổ ra để bảo vệ và truyền lại đức tin cho con cháu là chúng ta. Chắc chắn các thánh TĐVN cũng mong muốn con cháu mình phải tiếp tục bảo vệ đức tin trong thế giới hiện đại. Nhất là trong truyền thông giáo hội đang bị xuyên tạc và khủng bố, nên rất cần người tín hữu công khai bảo vệ niềm tin của mình. Như cuối năm 2017 người ta dựng nên một Đạo thánh Đức Chúa Trời với một phong trào rầm rộ cả nước Việt Nam, rõ ràng đây là một âm mưu nhằm xuyên tạc tín lý giáo hội Công giáo, và khủng bố niềm tin nơi giáo dân. Rồi người ta lăng mạ các linh mục tu sĩ trong hình dạng ma quái ghê sợ trong ngày halloween, người ta cho biểu diễn game showvới hình nữ tu ăn mặc hở hang . . .  Thế giới truyền thông cũng tiềm ẩn rất nhiều sự dữ nên cần người tín hữu phải mạnh dạn lên tiếng bênh vực công lý và đẩy lùi sự dữ cho dầu có chịu nhiều lăng nhục hay bách hại. . .

Chắc chắn khi chúng ta dám làm chứng cho sự thật, dầu ở môi trường nào cũng là đối kháng lại với thế gian nên sẽ gặp những chống đối, quy chụp, bách hại, . . . Chúng ta hãy mạnh dạn tuyên xưng niềm tin của mình vì “phần thưởng chúng ta rất lớn trên quê trời, vì Chúa Giê-su đã từng nói :phàm ai tuyên “xưng Thầy trước mặt thiên hạ, thì Con Người cũng sẽ tuyên nhận người ấy trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa”(Lc 12,8)

Nguyện xin các thánh TĐVN giúp sức để chúng ta can đảm tiếp nối các tiền nhân dám làm chứng cho tin mừng, cho công lý và sự thật giữa thế giới văn mình nhưng thiếu tình yêu hôm nay. Amen

CHỨNG NHÂN

Jorathe Nắng Tím  

Theo nguyên ngữ Hy Lạp, Tử Đạo  có nghiã là Người Làm Chứng. Làm chứng một điều gì, làm chứng về một người nào là thuyết phục người nghe tin điều mình nói về sự việc ấy, về con người ấy là thật, là đúng. Và để thuyết phục người nghe, người làm chứng có khi phải lấy chính mạng sống mình để minh chứng, và bảo đảm điều mình nói. Các thánh Tử Đạo là những người làm chứng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật, vì yêu con người đã xuống thế làm người thật, đã chết để cứu độ nhân loại, và đã sống lại để mọi người được sống. Các ngài còn làm chứng  Giáo Hội Đức Giêsu  lập ra là Đạo thật, Đạo yêu thương, con đường đưa toàn thể nhân loại  về yêu thương.

Cũng chính vì làm chứng  Thiên Chúa và công trình cứu độ của Ngài, mà các chứng nhân của Thiên Chúa gặp nhiều chống đối giữa anh em mình, bởi thế gian không đón nhận « Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và soi chiếu mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận » (Ga 1,9-11).

Thế gian không nhận Đức Giêsu là  Ngôi Lời của Thiên Chúa,  chỉ vì thế gian « không nhận biết và chẳng chịu đón nhận ».  Lý do thật đơn giản và vô tình !

Vì thế gian không nhận biết, mà chứng nhân phải làm chứng để thế gian nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa Cứu Độ duy nhất; vì thế gian chẳng chịu đón nhận, mà chứng nhân phải thuyết phục bằng chứng cớ đời sống,  với chứng từ có giá trị để thế gian đón nhân Đức Giêsu là Đấng đã chuộc lại quyền làm con Thiên Chúa và  ban sự sống đời đời cho mọi người bằng sự chết và phục sinh của Ngài.

Được sai đến với các dân tộc, ở mọi thời để  làm chứng Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất, Thiên Chúa làm người, đã chết như con người và sống lại với quyền năng Thiên Chúa, các chứng nhân nhận một sứ vụ thánh thiêng, nhưng không thiếu cam go, thử thách, đe dọa giữa lòng thế giới muôn hình vạn trạng. Đức Giêsu đã không giấu diếm các môn đệ sự thật nguy hiểm về thế gian, nơi các vị sẽ phải đến làm chứng về Ngài :

«  Thầy sai anh em vào thế gian, như chiên đi giữa bầy sói” (Mt 10,16). “ Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Ga 15, 18-19).

Không những chứng nhân bị thế gian ghét, vì  thuộc về Thiên Chúa, nhưng còn bị thế gian bách hại:

« Người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. Đó là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy “ (Lc 21,12-13).

Tệ hơn thế nữa, các vị còn bị chính người nhà, bạn hữu, thân thuộc của mình truy lùng, ghét bỏ, ruồng rẫy : « Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con, và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét » (Lc 21,16-17).

Qủa thật, con đường trước mặt của chứng nhận là con đường đầy chông gai, cạm bẫy và hứa hẹn tù đầy, đổ máu, mất mạng. Con đường chứng nhân phải đi làm chứng không đẹp như mơ, không huy hoàng, hoành tráng, không thênh thang như đường về làng ngày « vinh quy bái tổ ».

Những đe dọa, hiểm nguy do lòng « ganh ghét vô cớ » của thế gian thì vô số kể (Ga 15,25). Vô cớ nghiã là chẳng có lý do gì, chẳng có nguyên nhân nào hợp lý . Vô cớ đến độ :  « Thế gian ghét Thầy, thì cũng ghét Cha Thầy » (Ga 15, 23), và tất nhiên « ghét cả anh em » (Ga 15,18), mặc dù thế gian đã thấy những việc tốt lành Thầy đã làm cho họ (x. Ga 15,24).

Trước bao nhiêu gian truân, thử thách giăng mắc, đe dọa,  làm  sao các chứng nhân đã  có thể mạnh dạn lên đường và kiên cường làm chứng ?

Thánh Phaolô, Tông Đồ dân ngoại đã thay mặt các chứng nhân trả lời: « Vì Tình Yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi » (2Cr 5,14), và sở dĩ chúng tôi đứng vững là  « do quyền năng phi thường của Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi », nên « chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp ; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng ; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi ; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt », bởi «  chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi » (2Cr 4,7-10).

Thực vậy, các chứng nhân của Đức Giêsu từ giáo đoàn đầu tiên Giêrusalem đến tận cùng thời gian được tình yêu Đức Kitô thúc bách đã lên đường làm chứng Tin Mừng với những căn dặn của Đức Giêsu như hành trang không thể thiếu giữa thế gian luôn thù ghét.

  1. Thầy để lại Bình An cho anh em, Thầy ban cho anh em Bình An của Thầy, Bình An mà thế gian không ban được. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi (Ga 14,27).

     a. Bình An là dấu chỉ Thiên Chúa ở với người được sai đi:

« Anh em biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em » (Ga 14,20).

Chính Đức Giêsu đã bộc lộ ý muốn ở với người được sai đi  trong lời cầu  xin với Chúa Cha : Lậy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con « (Ga 17,24).

     b. Bình An là sức mạnh của Chúa Thánh Thần liên lỉ hoạt động nơi người làm chứng:

« Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và trong anh em “ (Ga 14,16-17).

Có Chúa Thánh Thần, chứng nhân sẽ không  sợ hãi, hay lo nghĩ phải bào chữa, biện bạch thế nào trước mặt quan quân và những kẻ chống đối, nhưng Thánh Thần sẽ chỉ bảo phải nói gì, « khiến tất cả địch thù không tài nào chống chọi hay cãi lại được » (Mc 21,15).

     c. Bình An là bảo chứng quyền năng Thiên Chúa nơi người được sai đi làm chứng:

« Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó cón làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con (Ga 14,12-13).

Như thế, người làm chứng Đức Giêsu tiên vàn phải nhận  từ Đức Giêsu, Đấng sai họ, Bình An của Ngài. Không có Bình An của Đức Giêsu, không  chứng nhân nào có thể làm chứng chính xác, đầy đủ về Đức Giêsu ; không mang Bình An của Đấng đã chết và Sống Lại, người làm chứng sẽ không thể  làm chứng bằng « loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại », là sứ điệp Tin Mừng mà người được sai đi phải làm chứng.

Bình An của Đức Giêsu, vì thế, sẽ không thể thiếu trong tâm hồn chứng nhân, bởi chỉ với Bình An của Đức Giêsu sống lại, chứng nhân mới có thể kiên cường đi đến cùng hành trình làm chứng của mình  giữa phong ba bão táp của thế gian.

  1. « Thầy truyền cho anh em điều răn của Thầy: « Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em » (Ga 15,12) :

Nếu Bình An của Đức Giêsu là bửu bối không thể thiếu trên đường làm chứng, thì giới răn « Anh em hãy yêu thương nhau » là chià khóa để lời chứng của chứng nhân có giá trị và thuyết phục.

Đức Giêsu hơn ai hết biết rõ nguy cơ và sức công phá kinh khủng của hận thù, ghen ghét, bạo lực. Cũng chính vì muốn tiêu diệt hận thù, bẻ tan ghen ghét, đẩy lui bạo lực trong thế giới, mà Ngài đã đến để ban Bình An, Yêu Thương, nên  sẽ không có lý do những người thuộc về Ngài lại không yêu thương nhau ; không có thể những chứng nhân làm chứng Thiên Chúa là Tình Yêu, Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ hiến mạng sống vì yêu nhân loại đến cùng lại xa lạ với tình huynh đệ ; và sẽ hoàn toàn vô ích, nếu không nói là nguy hiểm, nếu người làm chứngTin Mừng là Lòng Thương Xót lại bôi nhọ, vu khống, hiềm khích, đấu đá, ăn thua đủ với nhau.

Không chỉ Đức Giêsu hay những người thuộc về Giáo Hội, mà tất cả mọi người, bất kể họ là ai, đều « dị ứng », kinh ngạc, sợ hãi trước cảnh môn đệ cùng sư phụ ẩu đả, lên án, cắn xé nhau. Thực vậy, sẽ không còn chứng nhân, nếu không có đức ái ; không còn lời chứng, nếu ganh ghét, hận thù thống trị ; không còn người được sai đi, nếu đường đi không còn là đường lên núi Bát Phúc, nhưng sẽ chỉ còn lại những « người chứng nói dối », « lời chứng mâu thuẫn, phi lý, không thuyết phục », và danh xưng « người làm chứng  qủa cảm, hào hùng » bắt buộc phải đổi lại thành « người phản chứng lố bịch, dị hợm ».

« Yêu thương nhau » không còn là đồ phụ tùng,  chuyện nhỏ, phụ thuộc, nhưng là chính yếu, dấu chỉ duy nhất của môn đệ Đức Giêsu,  của người được sai đi làm chứng, nên không yêu thương nhau,  căn cước tính của người làm chứng tự động biến mất trước mặt Thiên Chúa, và dưới mắt con người, bởi cả Thiên Chúa và con người đều không thể chấp nhận người chứng của Tình Yêu lại không biết yêu thương.

Mừng kính các thánh Tử Đạo cha ông , chúng con không chỉ cảm phục các Đấng đã can đảm chấp nhận chịu đánh đòn, bá đao, voi dầy , chém đầu, thiêu sống, chết rũ tù, nhưng trên hết, chúng con ngưỡng mộ lòng yêu mến nơi các Đấng. Các Đấng đã yêu mến Thiên Chúa và được Tình Yêu Đức Kitô thúc bách, khi Bình An lên đường làm chứng, Bình An đổ máu làm chứng, Bình An dâng hiến mạng sống làm chứng. Với Bình An của Đức Giêsu phục sinh, các Đấng đã không than thở, trách móc, hận thù  vua quan, dân tộc, đồng bào đã làm khổ, bách hại, giết chết mình, nhưng luôn Bình An tha thứ, Bình An hoà giải, Bình An  cầu xin ơn phúc cho quê hương, dân tộc, vì các Đấng  luôn ở trong Thiên Chúa là Tình Yêu tuyệt đối và nguồn Bình An viên mãn. Bên cạnh đó là đời sống bác ái, huynh đệ, phục vụ của các Đấng  đã đánh động, cảm hóa anh em đồng bào, để Danh Đức Giêsu ngày càng được vinh hiển trên quê hương, và trong lòng người dân Việt.

Mừng kính các thánh Tử Đạo cha ông cũng là dịp chúng con ý thức ơn gọi và sứ vụ làm chứng  của mình, để luôn biết rằng hành trình làm chứng « Đức Giêsu chịu đóng đinh » luôn là đường Thánh Giá, và bất kể ở thời nào, người làm chứng vẫn được mời gọi vác Thánh Giá và chết với Đức Giêsu cho anh em mình.

Tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con các Thánh Tử Đạo là cha ông anh dũng  trong huyết thống và Đức Tin.  Cúi xin các Thánh ban cho chúng con biết đón nhận Bình An của Đức Giêsu và sống điều răn « Yêu Thương nhau » trên hành trình Làm Chứng, như các thánh Cha Ông Tử Đạo  đã  làm chứng bằng chính  đời sống  và mạng sống  mình.

 

.

CUỘC BÁCH HẠI ĐẠO HÔM NAY

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Việc bách hại đạo không phải chỉ là việc của ngày xưa nhưng thời nào thì những người con Chúa cũng bị thôi thúc, bị lôi kéo, bị ép buộc bỏ đạo.

Hôm xưa, các thánh tử đạo tại Việt Nam đã bị vua quan bắt bớ, xiềng xích, tống giam vào tù ngục… buộc phải bỏ đạo. Dầu vậy, các ngài vẫn kiên trung, anh dũng chấp nhận tù đày, chết chóc chứ không bỏ đạo, không bỏ Chúa.

Chúng ta hôm nay cũng bị những quyền lực mạnh mẽ thúc đẩy từ bên trong, xô đẩy chúng ta chối bỏ Đạo yêu thương.

Trước hết, cần nhớ rằng Đạo Chúa là Đạo yêu thương.

Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì yêu thương là cốt lõi của Đạo Chúa.

Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì yêu thương là điều luật quan trọng nhất, là quy luật trung tâm của mọi lề luật, như Thánh Phao-lô dạy: “Ai yêu thương là chu toàn mọi điều luật dạy” (Rô-ma 13,9-10).

Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì mục tiêu hàng đầu của Đạo Chúa là xây dựng thế giới này trở thành thế giới yêu thương, huynh đệ, mọi người yêu thương đùm bọc nhau như anh chị em một nhà.

Và hơn hết, Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì chỉ có ai có lòng yêu thương mới là con cái Chúa, là môn đệ Chúa; Ai không yêu thương thì tự loại trừ mình ra khỏi hàng ngũ những người môn đệ Chúa, như lời Chúa Giê-su dạy: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, đó là anh em yêu thương nhau” (Gioan 13,35).

Như chúng ta vừa đề cập trên đây, hiện nay có nhiều quyền lực hết sức mãnh liệt lôi cuốn, xô đẩy chúng ta từ bỏ Đạo yêu thương. Vậy đó là những quyền lực nào?

Đó là những sức mạnh nằm ngay trong lòng ta, thống trị tâm hồn và cuộc sống của ta, hằng thôi thúc ta bỏ Đạo yêu thương: Chủ yếu là lòng tham, lòng giận ghét, hạn thù, ích kỷ, vô cảm vô tâm…

  1. Lòng tham: Lòng tham đang thống trị tâm hồn rất nhiều người. Lòng tham xui khiến người ta làm nhiều điều gian ác, bất công, làm thiệt hại cho bao người để thu lợi về cho mình.

Một trường hợp cụ thể đang xảy ra và rất nóng bỏng, đó là việc nhiều người sản xuất các loại thực phẩm độc hại, những loại thực phẩm bẩn, có nhiều độc tố tiềm ẩn, gây hại cho đồng bào mình, cho dân tộc mình… gây ra bệnh hoạn cho vô số người, để cho người ta chết dần chết mòn vì bệnh tật, nhất là bệnh ung thư… miễn sao mình thu lợi thật nhiều cho bản thân là được, còn ai chết mặc ai.

Ai giết người bằng những cách thế như vậy là trắng trợn từ bỏ Đạo yêu thương.

  1. Lòng giận ghét, oán thù: Lòng giận ghét sôi sục trong lòng ta, xui khiến ta chửi mắng, đánh đập, gây ra nhiều buồn khổ, đau thương cho người khác…

Khi ta để cho lòng giận ghét oán thù xui khiến mình xúc phạm người khác, chà đạp danh dự, nhân phẩm của người khác… là ta chối bỏ Đạo yêu thương.

  1. Lòng ích kỷ: Ích kỷ có cội rễ sâu xa trong lòng người. Nó thống trị người ta, xui khiến người ta chỉ nghĩ đến mình, đến gia đình con cái mình thôi; ai đói mặc ai, ai rét mặc ai, ai đau bệnh khốn khổ mặc ai…

Khi ta không thương xót, không cứu giúp người hoạn nạn, đau khổ… là ta đã từ bỏ điều cốt lõi của Đạo yêu thương…

Ngoài ra, còn rất nhiều quyền lực khác, tuy vô hình, nhưng có sức mạnh lớn lao, đã hoặc đang xâm chiếm tâm hồn ta, làm chủ cuộc sống ta, luôn tìm cách lôi kéo, xô đẩy ta ra khỏi Đạo yêu thương của Chúa.

Đây là những cơn bách hại lâu dài và sẽ còn tiếp tục kéo dài suốt cả cuộc đời, nếu ta không chiến đấu chống lại chúng, chúng ta phải thua trận và trở thành người bỏ Đạo lúc nào không hay biết.

Hậu quả tai hại mà người bỏ Đạo yêu thương phải gánh lấy, là đến ngày phán xét, người ấy sẽ bị Chúa Giê-su lên án: “Hỡi quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó”… vì ngươi không có lòng yêu thương (Mt 25, 34. 41).

Lạy các thánh tử đạo Việt Nam,

Các ngài thà chết chứ không thà dẫm đạp lên Thập tự giá và không chối bỏ đạo Chúa, thì xin cầu bầu cho chúng con hôm nay, can đảm chấp nhận thua thiệt và đau khổ chứ không vì tham lam, ghen ghét, oán thù, ích kỷ… mà chà đạp lên tình người, lên danh dự, nhân phẩm của người khác, vì làm như thế là chúng con đã chối bỏ Đạo yêu thương và phải mang lấy án phạt đời đời.

 

.

CHỌN ĐẤNG CHỊU ĐÓNG ĐINH

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Năm 1837, vua Minh Mạng triệu tổng đốc Nam Định Trịnh Quang Khanh về kinh và trao cho 40 cây Thánh Giá, rồi ra lệnh phải áp dụng gắt gao chiếu chỉ cấm đạo. Từ đó, tổng đốc Khanh trở thành “Hùm xám Nam định”.

40 cây Thánh Giá trở thành dụng cụ để thử thách niềm tin của người tín hữu. Người có đạo khi bị bắt, buộc phải “quá khoá” phải bước qua Thánh Giá. Nếu bước qua sẽ được sống, được trả lại tất cả những gì đã mất, và còn được tặng thêm phú qúi vinh hoa. Không bước qua phải bị tù đày, gông cùm đòn vọt và mất cả mạng sống.

Thánh Giá chính là cột mốc để phân định giữa sống và chết, giữa Thiên Chúa và thế gian. Khi đối diện với Đấng Chịu Đóng Đinh, người tín hữu luôn phải thực hiện một sự chọn lựa có tính quyết định.Chỉ cần một bước chân thôi là mọi sự thay đổi. Đã có người bước qua, và cũng có người không.

Có người bị khiêng qua thánh giá nhưng đã co chân lên, như thánh Antôn Nguyễn Đích. Có người bước qua, nhưng sau lại hối hận. Đó là trường hợp của ba vị thánh quân nhân: Âutinh Huy, Nicôla Thể và Đaminh Đạt. Cũng có những vị được quan quân khuyến dụ hãy giả vờ bước qua thập giá để cho quan có cớ mà tha, còn sau đó về nhà thì muốn sao tuỳ ý; nhưng các thánh tử đạo vẫn không chấp nhận một thoả hiệp như thế. Các ngài vẫn khẳng khái nói không. Không bước qua thập giá, không bỏ đạo, không chối Chúa.

Đứng trước thập giá là đứng trước một lựa chọn. Tôi chọn Chúa hay tôi chọn tôi? Không có giải pháp dung hoà hay lấp lửng.Giây phút đứng trước thập giá là giây phút quan trọng.Quyết định không bước qua thập giá là kết tinh của những đêm dài cầu nguyện, của việc chiến thắng những mời mọc khéo léo, của việc thắng vượt những sợ hãi, giằng co nội tâm, của những Vườn Dầu trong ngục thất…

Các Thánh Tử Đạo có chung một chọn lựa dứt khoát : theo Đức Kitô hay theo vua quan? Theo Đức Kitô là vác thập giá, sống trong gông cùm và chết trong đau thương. Theo vua quan là thừa hưởng vinh hoa phú quý nơi trần gian. Các Ngài có chung một quyết định tối hậu là theo Đức Kitô. Giây phút quyết định ấy chỉ có các Ngài với Thiên Chúa, chỉ có linh hồn với cõi phúc vô biên. Giây phút ấy không bị ảnh hưởng bởi gia đình, tổ quốc, nhân sinh. Người chết trong máu tử đạo đã coi nhẹ nghĩa phu thê, đã xem thường đường phụ tử. Họ khao khát một tình yêu vô biên mỹ lệ như giải ngân hà sao sa vời vợi, như vầng nhật nguyệt huy hoàng khôn tả. Các Ngài đã hoan hỉ chấp nhận chết để được sống một cuộc đời mà không mỹ từ nào diễn tả nổi, không bút hoạ nào vẽ thành và không hùng biện nào tuyên dương cho trọn. Người chết trong gông cùm mòn mỏi đã đặt tổ quốc đàng sau những giá trị vĩnh cửu. Ước vọng của họ không phải là được người đời tưởng niệm, được hậu thế tôn phong. Họ chết là vì đức tin thúc đẩy. Họ chỉ muốn thực hiện điều đã từng nghe biết : “Ai tuyên xưng danh Ta trước mặt trần gian, Ta sẽ tuyên danh nó trước mặt Cha Ta trên trời” (Mt 10,32). (x.Thiên Hùng Sử trang 4).

Trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn 100 ngàn Đấng Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách. Trong đó, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân. Đó là chưa kể con số rất đông các tín hữu bị chết mất tích trong các đợt bắt Đạo vì lưu đày, vì phải trốn tránh vào những nơi hẻo lánh.Đó là chưa kể rất nhiều tín hữu phải chết do cuộc Phân Sáp 400 ngàn người Công Giáo dưới triều Vua Tự Đức.Đó còn là chưa kể con số hơn mười mấy vạn người Công Giáo bị chết khi có Phong trào Văn Thân nổi lên tàn sát người Công Giáo…Như thế, con số Tử Đạo phải tính lên đến 300 ngàn người trong vòng 300 năm. Nếu tính theo tỷ lệ, 100 năm thì có 100 ngàn Vị Tử Đạo. Và theo tỷ lệ này, cứ một năm, có một ngàn Vị Tử Đạo; và đổ đồng, cứ một ngày, có hơn hai Vị Tử Đạo!

Thánh Giá luôn là điểm hẹn tình yêu,là nơi gặp gỡ của những người sống cho tình yêu và chết cho tình yêu. Nếu thập giá là biểu tượng của đau khổ thì Đấng Chịu Đóng Đinh đã chiến thắng đau khổ. Chúa Kitô đã tạo ra sự khác biệt hoàn toàn giữa thập giá và kẻ bị đóng đinh. Khi nhận lấy thập giá, Chúa Kitô đã dùng tình yêu biến đau khổ thành niềm vui. Tình yêu làm cho thập giá trở thành Thánh Giá.

Thánh Giá biểu tượng cho cuộc chiến đấu của Chúa Giêsu và cũng là biểu tượng cho tình yêu mạnh hơn sự chết và cho sự Thiện sẽ giành chiến thắng cuối cùng trên sự Ác.Thánh Giá là cánh cổng dẫn vào sự sống, thất bại chuyển thành chiến thắng, sự sống bị tước đoạt trở thành sự sống viên mãn. Ai đánh mất mạng sống mình sẽ tìm gặp lại sự sống. Ai can đảm chết cho Chúa Kitô sẽ được sống muôn đời. Thánh Giá là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa, bởi lẽ “Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người” (1Cr 1, 24 -25).Thánh Giá đã trở thành dấu chỉ của tình yêu hy vọng và sự sống. Thánh Phaolô có một ước muốn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6,14).

Đức Cha Lambert de la Motte sáng lập Dòng Mến Thánh Giá. Đây là Hội Dòng chọn Đức Kitô chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất của tình yêu của lòng trí. Không chọn cái gì nhẹ nhàng mà lại chọn Đấng chịu đóng đinh trên Thánh Giá. Chọn con đường theo Chúa là đi vào con đường hẹp. Một chọn lựa khôn ngoan vì đã chọn chính Đấng Cứu Độ. Thánh Giá là đỉnh cao ơn cứu độ.

Thánh Giá đã in sâu và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô. Ngay cả sau khi Chúa sống lại vinh quang, các vết thương khổ nạn thập giá vẫn hiển hiện vẫn không bị xóa nhòa. Thánh Giá Chúa Kitô xuyên qua thời gian và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta. Sự hiện diện ấy làm thay đổi tất cả.

Chúa Giêsu ở giữa nhân loại trong Bí tích Thánh Thể. Để trở nên nguồn sống tâm linh trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đã đi qua Tử nạn và Thập giá.

Thánh Thể là Mình Chúa hy sinh bị nộp, bị giết vì chúng ta: “Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em”. Chén Máu của Chúa là Máu giao ước đổ ra, Máu của Đấng Cứu thế bị giết chết trên thập giá. Bởi đó Thánh Thể và Thánh Giá là hai mầu nhiệm của một tình yêu tự hiến của Chúa Kitô. Không có Thánh Giá, Thánh Thể không có ý nghĩa. Không có Thánh Thể, Thánh Giá chỉ là thất bại.Từ Thánh Giá đến Thánh Thể là hành trình của con đường tình yêu tự hiến. Thánh lễ là cử hành hy tế cứu độ của Chúa Giêsu từ mầu nhiệm Thánh Giá đến tình yêu Thánh Thể.

Các Thánh Tử Đạo Việt Nam nhờ sức mạnh của Thánh Thể nên đã chọn Thánh Giá cách tuyệt đối và quyết liệt, dám liều mất cả mạng sống cho sự lựa chọn của mình. Các ngài thật khôn ngoan. Là con cháu của các Ngài, xin cho chúng con luôn khôn ngoan trong những chọn lựa của đời sống hàng ngày. Amen.

HY SINH MẠNG SỐNG ĐẾN CÙNG VÌ ĐỨC TIN

Lm. Phêrô Lê văn Chính

Vào ngày 19 thánh 6 năm 1988 tại Rôma, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã long trọng tôn phong 117 vị thánh anh hùng tử đạo tại Việt Nam. Trong số các ngàI có 96 vị người Việt nam và 21 vị thừa sai Nước ngoài. Thực là một biến cố trọng đại và đầy niềm vui, vì đây là lần đầu tiên Giáo hội tôn phong một số rất đông các thánh tử đạo, và nêu lên cho toàn thể Giáo hội những con người đã không ngần ngại hy sinh mạng sống mình để làm chứng cho Thiên Chúa và Đức Giêsu, làm chứng cho Đức tin mà các ngài đã lãnh nhận với một lòng trung kiên bất khuất. Con số 117 vị tử đạo chỉ là con số nhỏ của hơn 100 000 vị tử đạo tại Việt nam trong gần 300 năm dưới thời những vua quan Triều Nguyễn từ các thế kỷ 17, 18, và 19. Thực không có bút mực nào tả xiết những đau khổ và cực hình các ngài đã chịu vì danh Chúa. Trong số các vị tử đạo, chúng ta phải kể đến những giám mục, linh mục, tu sĩ nước ngoài và cả các vị Việt nam, ngoài ra còn phải kể đến số đông những người giáo dân thuộc đủ mọi thành phần, từ những người như trùm họ, chánh trương cho đến những giáo dân, những người trong hàng ngủ quan triều đình hay binh lính.

Những tâm tình của các thánh tử đạo là những tâm tình cao cả, của những con người có trái tim hòa nhập với trái tim của Con Thiên Chúa làm người, đó là những con người biết coi thường mạng sống, coi thường những danh lợi trần gian, và khi đối diện với cái chết, các ngài không ngần ngại chọn lựa dứt khóat thuộc về Thiên Chúa hơn là chút vinh quang trần thế. Thầy giảng Anrê Phú Yên 19 tuổi, đã chịu tử đạo rất sớm vào năm 1644, với sự chứng kiến của cha Đắc Lộ. Cái chết của thầy Anrê là một cái chết can đảm, thầy bị lính dùng đòng đâm ba nhát thấu ngực, nhưng vẫn chưa chết. Sau đó lính dùng mã tấu chém vào cổ đến hai nhát, đầu mới lìa khỏi cổ. Cha Đắc Lộ, dòng tên đã gói chiếc đầu của thầy giữ lại cẩn thận, và liệm xác thầy để gửi về Macau cất giữ như một báu vật của vị thánh tử đạo. Phần 117 vị thánh tử đạo, bắt đầu là hai vị tử đạo đầu tiên vào năm 1745 tại Thăng Long miền Bắc, đó là hai cha thừa sai dòng Đaminh là các cha Phanxicô Tế và Matthêu Dậu. Vị tử đạo cuối cùng là thánh Phêrô Đa, một giáo dân làm nghề thợ mộc, chịu tử đạo ở Qua Linh. miền Bắc năm 1862. Vào năm 1862, cuộc bách hại bùng lên ở miền Nam, hai nơi bị bách hại dữ dội là Biên Hòa và Bà Rịa với số người bị thiêu sống lên tới 846 vị.

Các vị tử đạo cảm nếm niềm vui chịu chết vì danh Chúa, nên trong thời gian bị gông cùm tù tội, các ngài đã biết chuẩn bị tinh thần sẵn sàng để đối diện với cái  chết. Thời gian tù tội khắc khổ không làm các ngài sợ hãi hay khiếp nhược, nhưng càng làm cho tinh thần các ngài mãnh mẽ hơn. Thánh Anrê Dũng Lạc bình thản chờ đợi để đến ngày được phúc tử đạo, ngài vui vẻ thốt lên những lời đầy hạnh phúc: “Đông qua tiết lại thời xuân tới. Khổ tạm mai sau hưởng phúc an. Làm kẻ anh hùng chi quản khó. Nguyện xin cùng gặp chốn thanh nhàn”. Trong số các vị tử đạo có những người làm quan lớn trong triều đình như thánh Micae Hồ đình Hy, hơn ba mươi năm phục vụ dưới ba triều vua, nhưng ngài đã không vì chút danh lợi trần gian mà chối bỏ đức tin, quyết một lòng trung thành với Thiên Chúa cho dù phải chịu chết. Trước những lời mềm mỏng và chiêu dụ của nhà vua, ngài vẫn một lòng khẳng khái cương trực, từ bỏ mọi vinh hoa phú quí bổng lộc của triều đình vì muốn trung thành và nên giống Chúa Kitô: “Tâu bệ hạ, đã 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước. Nay hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Đức Kitô.”

Có những vị rất trẻ tuổi như chủng sinh Tôma Thiện, tuy trẻ tuổi nhưng đã bắt đầu cảm nếm niềm vui của phúc tử đạo, và đã có những chọn lựa rất can đảm và sáng suốt. Quan lớn, vì thấy thầy còn quá trẻ và khôi ngô tuấn tú, nên đã đưa ra những lời dụ dỗ và hứa hẹn nhiều phần thưởng thế gian, nhưng Tôma Thiện vẫn cương quyết một lòng, không chút sờn lòng trước những cám dỗ đường mật, thầy thẳng thắn trả lời với quan: “Đạo dạy tôi thờ Thiên Chúa là đạo thật, tôi sẵn sàng chịu chết chứ không bỏ đạo… Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng đến quyền chức trần thế”. Có những vị linh mục truyền giáo cũng rất trẻ tuổi, vừa mới được bề trên sai đến và đặt chân đến nước Việt nam xa lạ thì bị bắt như cha thánh Theôphan Vena. Khi bị bắt và xét xử, quan chỉ xin ngài bước qua thập giá thì được tha bổng. Nhưng bước qua thập giá dù là một hành vi rất nhẹ nhàng để được bảo vệ mạng sống thì ngài đã cương quyết từ chối tất cả mọi mưu mô khôn khéo của vua quan. Thánh Thêôphan Vena đã cương quyết trả lời: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”. Có những trường hợp lương tâm tế nhị và nan giải khi vua quan kết tội các ngài là theo Tây và phản bội lại tổ quốc, nhưng các ngài đã chân thành giải thích biện phân cách mạch lạc cho mọi người biết các ngài không hề phản bội tổ quốc, cũng như không hề phản bội lại vua gì cả mà các ngài luôn nhìn thấy sự thẳng thắn trong lòng tin trung kiên của mình. Các ngài vẫn một lòng trung thành với tổ quốc khi các ngài yêu mến phụng sự Thiên Chúa là Cha cao cả trên trời. Không hề bao giờ có thể vì trung thành với trung phụ là vua trần thế mà phản bội lại với Thượng phụ là Cha trên trời: “Tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như trung phụ, và kính song thân như hạ phụ. Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng không thể vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được”. Ngay cả có những vị là lính của triều đình như thánh Trần văn Trung, ngài phân biệt rất rõ bổn phận vâng phục triều đình trong những điều đúng đắn như chiến đấu chống quân thù và bổn phận vâng phục tuyệt đối với Thiên Chúa mà ngài hằng yêu mến : “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ”.

Mừng lễ các thánh tử đạo tại Việt Nam chúng ta tự hào là con cháu các vị tử đạo. Chúng ta vui vì các bậc tổ tiên của mình đã sống thực là xứng đáng và đã kéo nhiều ơn lành của Thiên Chúa cho các con cháu. Thiên Chúa chúc phúc cho các con cháu là chúng ta vì biết bao công đức của tổ tiên ông bà chúng ta là các vị thánh tử đạo trung kiên bất khuất. Ngay cả dù không chết ở pháp trường, các ngài cũng đã sống một đời sống xứng đáng theo những mối phúc của Tin mừng. Ngày nay chúng ta không phải đối diện với cái chết tử đạo, nhưng  là con cháu các vị tử đạo, chúng ta muốn tiếp bước và được mời gọi tiếp bước các bậc tổ tiên ông bà của chúng ta trong đời sống chọn lựa trung tín với Thiên Chúa của mình. Việc tử đạo của chúng ta ngày nay là đời sống theo Tin mừng mà Chúa Giêsu đã công bố. Đây cũng là việc tử đạo vì được kết hợp nên giống với Chúa Giêsu trong những hy sinh bé nhỏ của đời sống hằng ngày.

 

.

TIN THEO GIÊSU

Lm. Jos. DĐH.

Cuộc sống cho ta thấy một sự thật: nước mắt ai cũng mặn, máu ai cũng đỏ ; muốn chia sẻ tình yêu thương cho gia đình, người thân, còn thấy khó, mở cửa lòng mình ra với anh chị em xa lạ, bao giờ chẳng là điều phức tạp hơn ? Dù người ta mạnh miệng xó bếp hay nhút nhát nơi công đường, chưa ai xếp đối tượng như thế là anh hùng. Dù đi gần hay đi xa, ai cũng phải cất bước mới tới đích, muốn gặt may mắn, nhất định phải gieo duyên lành. Tính bất ngờ khó hiểu, hàng ngày vẫn đang cho ta thấy sự phong phú đáng nể: có những thứ tình cảm được gọi là tình yêu, có những thứ nước được gọi là rượu mạnh. Hoàn cảnh xã hội xưa kia và hôm nay tuy khác nhau, nhưng mỗi người đều được tự do chọn lựa bước trên con đường dẫn tới hạnh phúc.

Sống nghề “ruộng nương”, mọi người đều hiểu quy luật: “hạt lúa gieo vào lòng đất phải thối đi mới sinh bông hạt”. Tất cả những ai là kitô hữu, đều được mời gọi sống niềm tin Đức Giêsu là Thầy, là Chúa, là Đấng cứu độ trần gian. Tiền nhân chúng ta trải qua cuộc bách hại đức tin dài hơn ba thế kỷ, các ngài dâng mạng sống mình, kết hiệp với tình yêu Giêsu như hạt giống thối đi, chết đi, luôn thao thức được trổ sinh hương hoa cho thế hệ con cháu. Đồng ý rằng, đường đời thênh thang, lối ngang lối rẽ không phải là ít, nhưng đường đưa tới sự sống thật, hạnh phúc thật, nhất định phải ở trong tình yêu Giêsu, ở nơi Ngài mới có nở hoa kết trái.

Nước mắt chảy xuôi, hay máu chảy về tim, đó là quy luật muôn đời, còn tình yêu lại không có quy tắc ngược xuôi, cha ông chúng ta đã làm sống động truyền thống tin yêu nơi Đức Giêsu, tưới máu đào trên khắp quê hương. Tin theo Giêsu không chỉ có vì dấu thánh giá, đọc kinh nhiều lần trong ngày, cũng không phải là đi hàng ngang hàng dọc cho thiên hạ thấy hình thập giá, hoặc liều mình liều mạng hầu được gọi là gan dạ lì đòn. Tin theo Đức Giêsu là tin giáo huấn của Ngài là sự thật, và bằng tình yêu, tự do, mỗi người ý thức sống ơn gọi của mình: “ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu thì kẻ phụng sự Ta cũng ở đó”. Theo Đức Giêsu vì yêu, vì tin, là khi chúng ta cảm nhận được sức mạnh Thiên Chúa đang ở trong con người giới hạn của mình, và sống đức tin chính là chúng ta sẽ được biến đổi nên giống Chúa.

Với lối diễn tả về tình yêu đôi lứa rất chân thật: chẳng tham nhà ngói ba toà, tham vì một nỗi mẹ cha anh hiềnChẳng tham nhà ngói xinh xinh, tham vì một nỗi anh xinh miệng cười. Các đấng bậc muốn nói đến sự khôn ngoan cần thiết nơi con người hệ tại ở tâm tính, ở nét đẹp sâu thẳm trong cõi lòng. Bằng một phong cách sống tin yêu, tiền nhân chúng ta theo Đức Giêsu không phải hướng tới bổng lộc, hay được vinh quang ở đời này, nhưng là được sống mãi trong yêu thương, hạnh phúc trước ơn gọi nên giống Chúa vẹn toàn. Tin theo Đức Giêsu để xác tín hơn: dù máu chảy đầu rơi, cũng không làm ta sờn lòng nản chí, dù tài cao trí rộng hơn người, ta cũng vui vẻ khiêm tốn sống hài hoà với mọi người.

Sống niềm tin kitô giáo hôm nay không còn giới hạn bởi “ngăn sông cấm chợ”, ấy vậy mà nỗi ưu tư giáo dục con cái của bậc làm cha mẹ không phải là đã bình tâm. Xã hội không ban tặng danh hiệu anh hùng liệt sĩ cho tất cả những ai tài giỏi đức độ, bao lâu chưa xác minh được tính chất cao đẹp mà họ đã dũng cảm hy sinh. Giáo hội không “phong thánh” cho tất cả những ai hàng ngày có mặt ở nhà thờ, để lại nhiều tài sản vật chất tiền của, nếu chưa thấy được tính chuẩn mực mà con đường tin theo Chúa của họ là gì ! “Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, ai ghét mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó trong cuộc sống đời đời”. Sống chết vì yêu, khác với sống chết vì buồn chán thất vọng, sống chết vì đức tin kitô giáo, khác với sống chết vì phạm pháp mà xã hội xử tử.

Đường đời dài rộng, cơ hội gặt hái hạnh phúc, ai cũng giống nhau, có hay không, được hay mất, tuỳ tự do mỗi người đã sống và đang sống như thế nào ? Những người khoẻ mạnh, sống thọ, chưa chắc là do họ thông thái, hay lắm mưu nhiều kế. Người nghèo khổ, không có tiếng nói trong xã hội, chết yểu, cũng chẳng phải do họ ngu ngốc hay lạc hướng lạc đường. Điều quan trọng là mỗi chúng ta có thấy tình yêu, bình an, khi đi tới điểm đích của sống chết hay không ? Cha ông chúng ta cũng không phải là mình đồng da sắt, các ngài chết vì già bệnh, chết vì tai nạn nghề nghiệp, chết vì tình yêu Đức Kitô, cũng là một nhắc nhớ mỗi người đã tin theo Đức Giêsu như thế nào ? May mắn khi chúng ta có cha mẹ tài đức, các ngài sẽ dạy cho con cháu biết thưa chuyện với Chúa, biết nói về Chúa cho anh chị em. Hạnh phúc biết bao khi tin theo Đức Giêsu, chúng ta sẽ rõ hơn Ngài là Vị Thầy chuẩn mực, biết minh hoạ, truyền cảm hứng cho ta sống thánh ý của Chúa và sống trọn vẹn ơn gọi làm môn đệ Đức Giêsu. Amen.

NGÀY ẤY

Anna Cỏ May

Thời gian cứ thấm thoát trôi đi. Cuộc sống của mỗi người cũng dần thay đổi theo thời gian. Ngày xưa, những đám ruộng được cày bởi những con trâu, con bò. Ngày nay, thay vì những con trâu, con bò là những chiếc máy cày chạy nhanh, giúp mọi người đỡ vất vả hơn. Thời trước, trẻ em đâu biết điện thoại, laptop là gì? Ngày nay, trẻ em có thể qua chiếc điên thoại thông minh biết được cả thế giới. Cuộc sống con người được nâng cao và mọi thứ có thể đạt được trong tầm tay. Thế nhưng, thời đại lỹ thuật số là thời đại có giới hạn, không có cái gì là bền vững. Tất cả đều hư vô. Chỉ duy nhất một điều không bao giờ thay đổi là lời yêu thương của Chúa Giê-su.

Những ai sống lời yêu thương của Chúa thì đến ngày sau hết sẽ được thoát khỏi việc xét xử (x.Gc 2,13). Ngày sau hết không ai biết trước được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay Con Người cũng không biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi (x.Mc 13,32). Vậy, dấu hiệu nào để nhận ra ngày ấy?

Trong Tin Mừng Mác cô, Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ về ngày quang lâm của Ngài rằng: “Trong những ngày ấy, sau cơn gian nan lớn lao, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng. Các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển” (Mc 13,24-25). Ngày ấy, tất cả mọi thứ trên trái đất không hiện hữu nữa. Ngày ấy, Thiên Chúa sẽ xuất hiện đầy quyền năng, vinh quang ngự trong đám mây mà đến xét xử kẻ lành người dữ (x.Mc 13,26). Lúc ấy, những lời Thiên Chúa nói tới là sự yêu thương và bác ái của con người với nhau mà thôi. Thế ai sẽ là người tốt lành, là người sẽ hưởng hạnh phúc trên Nước Trời? Thật không ai biết rõ ai đáng được hạnh phúc trên Nước Trời ngoại trừ chính Thiên Chúa và bản thân mỗi người. Cuộc sống trần gian là thời gian, là cơ hội cho mỗi người mua lấy hạnh phúc Nước Trời. Trong các vị Tử Đạo, có những người mang thân phận là thị vệ, là Giáo dân, là quân lính,…nhưng vẫn trung thành với Chúa trong tất cả mọi nghịch cảnh, dù là gông cùm, bá đao, xử giảo,… các vị đã từ giã gia đình và động viên những người thân hãy vững tin vào Chúa luôn. Đi tới đâu, ở đâu, lúc nào, các vị đều đem niềm tin đến cho mọi người. Nhất là những giây phút đứng trước bản án, các vị vẫn luôn xác tín niềm tin vào Chúa. Thánh Phaolô Tống Viết Bường là thị vệ đã nói với quan lớn rằng: “Quan lớn có lòng thương thì tôi đội ơn quan lớn nhưng xin quan lớn để tôi được giữ trọn chữ trung với Đức Chúa Trời là Thiên Chúa tôi thờ”.

Ngày nay, tuy không có cuộc bách đạo hiên ngang, nhưng có những cuộc chiến âm thầm làm cho niềm tin của mọi người nơi Thiên Chúa bị lung lay. Mọi người dễ rời vào niềm tin ở sức mình hơn mà thiếu niềm tin vào Thiên Chúa quyền năng. Từ đó, mọi người bị lôi cuốn vào cuộc sống tinh thần thế gian. Cuộc sống theo tinh thần thế gian là cuộc sống vị kỷ, hưởng thụ, mặc kệ người khác, không còn biết ai ngoài chính mình,… Ngoài ra, mỗi người dễ có suy nghĩ rằng tự do là một cuộc sống không có bó buộc dưới một quyền bính của ai. Và từ đó khiến cho mọi người sống cuộc sống dễ dãi, chìm ngập trong bóng tối mà không biết lối thoát ra để rồi phải chịu xét xử trước mặt Thiên Chúa trong ngày Chúa quang lâm. Còn Thiên Chúa, Ngài đâu có đòi hỏi mỗi người điều gì khác ngoài việc kính sợ Đức Chúa, đi theo đường lối của Ngài, yêu mến và phụng thờ Thiên Chúa hết lòng hết dạ (x.Đnl 10,12) và yêu người thân cận như chính mình.

Lạy Chúa, như lời Ngài đã nói: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu”. Xin cho mỗi người chúng con biết phân định cuộc sống đích thực bền vững khi và chỉ khi thực hiện điều Chúa dạy. Xin cho chúng con luôn chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng để khi Chúa đến hân hoan bước theo Chúa về hưởng phúc cùng với các Thánh trên Nước Trời. Amen.

THUỘC VỀ THIÊN CHÚA

Bông hồng nhỏ

Cuộc sống con người cần những tương quan. Ai cũng thuộc về một nơi nào đó, và ở đấy họ tìm thấy vị trí của mình, tìm thấy hạnh phúc cho cuộc đời. Niềm hạnh phúc nhất của con người là khi họ biết mình được thuộc trọn về Thiên Chúa và được Thiên Chúa yêu thương.

Thầy Giê-su đã nói về cuộc tuyển chọn đặc biệt trong ngày Con Người quang lâm. Khi những điềm lạ xảy ra: “Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển, bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (x.Mc 13,24-26). Ai sẽ được Người tuyển chọn? Thầy Giê-su đã từng tuyển chọn các môn đệ, đặc biệt là Thầy tuyển chọn các Tông đồ không theo tiêu chuẩn của người đời nhưng vì lòng thương xót của Thiên Chúa, để các ông trở thành những trợ tá đắc lực, trở thành những chứng nhân của Chúa Phục Sinh. Nhưng trong ngày Con Người quang lâm, Thiên Chúa sẽ tuyển chọn những ai đã can đảm sống và làm chứng cho Chúa. Thiên Chúa mời gọi con người cộng tác vào chương trình cứu độ của Ngài. Thiên Chúa vẫn cho mưa xuống trên cả người công chính lẫn người bất chính và Ngài kiên nhẫn chờ đợi họ đón nhận lòng thương xót của Ngài. Đón nhận tình thương vô bờ bến của Thiên Chúa cũng đồng nghĩa với việc ta sẵn sàng yêu thương người thân cận (x.Lc 10,29-37). Nếu ta thật sự yêu Chúa, gắn bó với Chúa và đặt trọn niềm hy vọng nơi Chúa thì chính Chúa sẽ dẫn đưa ta vào chung hưởng hạnh phúc với Chúa ở đời sau, mà ngay ở đời này ta đã có sự an bình trong tâm hồn. Như đứa con thơ chạy đến bên cha hiền và níu chặt lấy tay cha, cha sẽ dắt nó đi và khi nó mệt mỏi, cha sẽ bế nó trên tay hay cõng nó trên lưng, Thiên Chúa cũng yêu ta rất cụ thể như thế. Bởi vì đứa con biết nó là con yêu của cha và nó thuộc về cha. Ở bên cha, đứa con chẳng phải sợ gì. Thiên Chúa còn hơn thế nữa. Ngài đã cứu chuộc ta bằng chính giá máu châu báu của Con yêu dấu và chẳng muốn một ai phải hư mất (x.Ga 17,120. Ta được sinh ra là để thuộc về Thiên Chúa, được ở trong Thiên Chúa, được nên một như lời cầu nguyện của Thầy Giê-su: “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (x.Ga 17,20-21). Như vậy, ta không chỉ được cứu độ một mình nhưng cùng với anh chị em mình. Nghĩa là ơn gọi nên thánh vừa dành riêng cho mỗi người và mỗi người lại giúp nhau nên thánh bằng lời cầu nguyện và gương sáng.

Lạy Chúa! Cảm tạ Chúa đã cho con biết con được Chúa yêu. Chúa lại ban cho con những tấm gương sáng ngời là các Thánh Tử Đạo, đặc biệt là các Thánh Tử Đạo Việt Nam để nhờ lời chuyển cầu và gương sáng của các ngài, con vững lòng trông cậy Chúa. Xin cho con nhớ rằng “mọi sự sẽ qua đi nhưng Thiên Chúa còn mãi” như lời Thánh Têrêsa Avila đã nhắn nhủ. Chính Chúa cũng hằng dạy dỗ con, nuôi dưỡng con luôn. Xin cho Đức tin của con nên hành động cụ thể để cho Danh Chúa được cả sáng. Amen.

 

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA

Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Kn 3: 1-9

“Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Các thánh tử đạo là những người công chính đã được Thiên Chúa tôi luyện như vàng trong lò lửa và “thấy họ xứng đáng với Ngài”. Họ là những người làm chứng cho lòng tin ở Chúa. Lòng tin ấy sẽ “rực sáng như tia lửa bén nhanh giữa rừng sậy”.

1Cr 1: 17-25

Giáo Hội Việt Nam hôm nay hân hoan mừng Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Trong hàng ngũ các ngài, ngoài các vị là giám mục, linh mục, đa số là giáo dân. Các ngài không phải là những bậc khôn ngoan thông thái, nhưng các ngài là những chứng nhân cho “Đức Ki-tô bị đóng đinh vào Thập Giá”. Vì thế, Thiên Chúa đã chọn các ngài, những người mà thế gian coi như điên rồ, được hưởng phúc trên Nước Trời.

Mt 10: 17-22

Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã lần lượt bị điệu đến quan quyền để làm chứng cho đức tin. Đa số các ngài là những dân quê hiền lành chất phát, nhưng ơn Chúa đã giúp các ngài đối diện với vua quan, đã dạy các ngài phải nói gì, và cuối cùng các ngài đã bền vững trong lòng tin vào Chúa, nên gương sáng cho cháu con hôm nay. Quả thật, như lời của thánh Âu-gút-tin: “Trên mảnh đất đã gieo nhiều hạt giống đẫm máu, mảnh đất đó càng phát sinh nhiều vị tử đạo, và rồi hạt giống đó sẽ kết thành mùa lúa vàng của Giáo Hội. Các thánh tử đạo chết đi càng là chứng nhân cho Chúa Ki-tô hơn là lúc còn bình sinh. Ngày nay các ngài vẫn còn đang nói, vẫn còn đang giảng thuyết. Miệng lưỡi tuy im bặt, nhưng bao nhiêu sự việc còn vang dội sâu xa”.

BÀI ĐỌC I (Kn 3: 1-9)

Những khẳng định của sách Khôn Ngoan đánh dấu một khúc quanh quan trọng về cuộc sống mai sau của con người. Chúng kết thúc thời gian dài các nhà tư tưởng Do thái do dự về số phận của những người công chính ở bên kia nấm mồ. Vấn đề thưởng phạt thường được nêu lên suốt nhiều thế kỷ mà không có giải pháp thỏa đáng nào.

  1. Quan niệm Cựu Ước về sự sống lại

Trong lịch sử dài này, tư tưởng chiếm ưu thế đó là “nhân quả”: “ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặp bảo” ngay trong cuộc đời tại thế. Người công chính vui hưởng những hoa quả công đức của mình như phúc, lộc, thọ, trong khi bọn ác nhân không sớm thì muộn sẽ phải đón nhận những tai ương hoạn nạn: lưới trời lồng lộng, không ai có thể thoát được. Quan niệm về thưởng phạt ngay từ cõi đờinàyphát xuất từ một niềm tin quá bi quan và yếm thế về cuộc sống mai hậu. Tất cả mọi người, dù thiện hay ác, khi từ giã cõi đời này đều cùng chung một số phận, bị giam cầm trong cõi Âm Ty, ở đó không còn gì ngoài bóng tối âm u.

Nhưng kinh nghiệm thường ngày: “những đều trong thấy mà đau đớn lòng”, cực lực phản bác viễn cảnh thưởng phạt ngay từ cuộc đời trần thế này. Sách Gióp (khoảng thế kỷ thứ 6-5 Tcn) xao xuyến nêu lên vấn đề “họa vô đơn chí” giáng xuống trên người công chính. Quả thật, các ngôn sứ đã tuyên xưng rằng số phận của người công chính khác với bọn ác nhân ở bên kia nấm mồ. Các thánh vịnh gia công bố rằng người công chính sẽ được hưởng hạnh phúc vinh hiển trước Nhan Thiên Chúa muôn đời (Tv 16, 17, 49, 73).

Tiếp đó, niềm tin vào kẻ chết sống lại vào ngày chung thẩm xuất hiện. Vào thời vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê bách hại dân Do thái thật khủng khiếp, những người tử đạo chết trong khi tuyên xưng niềm tin của mình vào một cuộc sống mai hậu (2Mcb 7: 1-38).

Tác giả sách Khôn Ngoan còn đi xa hơn nữa. Ông thấy niềm tin của người Hy lạp vào sự bất tử của linh hồn như một sự củng cố cho niềm hy vọng vào sự sống lại mai hậu của dân Do thái, dù vẫn còn tiềm tàng hay rụt rè. Nhưng ông cũng nhận ra rằng tư tường Hy lạp này không hoàn toàn tương xứng với tư tưởng Kinh Thánh. Quả thật, người Hy lạp đề cao linh hồn đến mức xem thường thân xác được ví như một thứ hình hài tạm bợ, đáng khinh bĩ, mãi mãi sẽ bị vứt bỏ sau khi chết.

  1. Quan niệm sai lầm về con người

Trong đoạn văn trước đó (ch. 2), tác giả sách Khôn Ngoan đã phản bác quan niệm duy vật sai lầm về con người: sinh ra là một sự ngẫu nhiên, sống chỉ là cho qua ngày đoạn tháng. Khi hơi thở biến mất, cuộc sống tan biến như mây khói; tư tưởng như ngọn lửa bên trong vụt tắt, thân xác chỉ còn tro bụi. Theo quan niệm duy vật này, không có chỗ nào được dành cho Đấng Tạo Hóa và Quan Phòng của Ngài.

Sách Khôn Ngoan được viết vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên ở A-lê-xan-ri-a cho những đồng bào của mình, họ đang bị những sức hấp dẫn của nền văn minh ngoại giáo chung quanh cám dỗ. Số lượng người bội giáo (tác giả gọi “quân vô đạo”) đáng lo ngại. Theo tác giả, uy thế của triết học và các tôn giáo khác, dù hệ thống học thuyết có mê hoặc lòng người đến đâu đi nữa, cũng không thể nào biết được sự hiện hữu của một Thiên Chúa ngôi vị, Đấng có một kế hoạch riêng biệt cho con người và là một Thiên Chúa tình yêu. Đối lập với quan niệm vô tri và duy vật nầy, tác giả mô tả quan niệm đích thật về con người mà Thiên Chúa đã mặc khải.

  1. Quan niệm đích thật về con người

Ở trung tâm tiến trình lập luận của mình, tác giả đã đặt Mặc Khải thiết yếu nhất liên quan đến con người: “Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người” (2: 23) như chúng ta đọc thấy trong sách Sáng Thế: “Thiên Chúa làm ra con người theo hình ảnh Ngài, giống như Ngài” (St 1: 26). Vì thế, Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất tử. Từ đó, tác giả khai triển những viễn cảnh vinh quang đang chờ đợi những người đức hạnh vẹn toàn, sống một đời thánh thiện: “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa; họ đang hưởng an bình”.

Tất cả những khai triển này mang đậm nét Kinh Thánh, đặc biệt được gợi hứng từ các chương đầu tiên của sách Sáng Thế, không liên hệ gì đến triết học nhị nguyên của Platon. Lập luận chủ yếu của tác giả căn cứ trên Mặc Khải. “Linh hồn” mà tác giả nói đến ở đây không là linh hồn bất tử ở trong một thân xác hủy hoại theo Nhị Nguyên triết thuyết Hy lạp, nhưng là nephesh, “sinh khí của Thiên Chúa” (St 2: 7).

Từ nay, vấn đề sự chết và đau khổ được soi sáng. Cái chết không còn là án phạt nữa nhưng là ngưỡng cửa bước vào cõi trường sinh bất tử. Đau khổ là một sự thử thách như “lửa thử vàng, gian nan thử đức” nhằm tôi luyện cuộc đời của các tôi trung của Thiên Chúa thành “của lễ toàn thiêu” .

  1. Vinh quang chung cục

“Khi đến giờ được Thiên Chúa viếng thăm, họ sẽ rực sáng như tia lửa bén nhanh khắp rừng sậy”. “Thiên Chúa viếng thăm” là diễn ngữ kinh thánh, tức là một sự can thiệp chứa chan ân tình của Thiên Chúa như trong những lời trăn trối sau cùng của tổ phụ Giu-se cho các anh em mình: “Thế nào Thiên Chúa cũng viếng thăm anh em” (St 50: 24), nghĩa là Ngài sẽ ban cho anh em muôn vàn ân phúc của Ngài. Tác giả sách Khôn Ngoan nhắm đến việc Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra vào thời cánh chung. Những người công chính sẽ rực sáng vinh quang, Thiên Chúa sẽ đặt họ “xét xử muôn dân và thống trị muôn nước”, nghĩa là đức hạnh của người công chính sẽ chiến thắng ác tâm quỷ quyệt của quân vô đạo. Chính trong chiều hướng này mà thánh Phao-lô viết cho các tín hữu Cô-rin-tô: “Nào anh em chẳng biết rằng dân thánh sẽ xét xử thế gian sao?” (1Cr 6: 2) và sách Khải Huyền viết:“Ai thắng và giữ cho đến cùng các việc Ta truyền, Ta sẽ ban cho người ấy quyền cai trị các dân” (Kh 2: 26). Đức Giê-su sẽ sử dụng diễn ngữ tương tự để xác định vị thế các môn đệ Ngài trong Nước Trời: “Khi Con Người ngự trên ngai vinh hiển của Ngài, các anh cũng vậy, những người đã theo Thầy, ngự trên mười hai ngai tòa để xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en”.

  1. Thiên Chúa là tình yêu, ân phúc và từ tâm

Niềm hy vọng lớn laonàyđược đặt để vào tình yêu, ân phúc và từ tâm của Thiên Chúa. Chính ở nơi tình yêu, ân phúc và từ tâmnàymà những người công chính sống. “Những ai trông cậy vào Chúa sẽ am tường sự thật, và những ai trung thành thì được Chúa yêu thương và cho ở gần Người, vì Người ban ân huệ, và thương xót những ai được Người tuyển chọn”. Lời kết thúc của Bài Đọc Inàyđược viết trước các sách Tin Mừng một thế kỷ, loan báo sứ điệp rất gần với sứ điệp Tin Mừng. Có một tiến trình liên tục từ Mặc Khải Cựu Ước đến Mặc Khải Tân Ước.

BÀI ĐỌC II (1Cr 1: 17-25)

Bài Đọc II, trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô vào Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, được cấu trúc rất chặc chẽ. Tuy nhiên, cần phải đặt nó vào trong văn mạch để hiểu rõ hơn tư tưởng của thánh nhân.

Xin nhắc lại ngắn gọn: cộng đoàn tín hữu Cô-rin-tô chia rẽ nhau về các vị rao giảng của họ, tạo nên các bè phái ở giữa họ. Cực lực chống lại việc chia năm xẻ bảy nầy, thánh Phao-lô lớn tiếng chỉ trích cách hành xửnàykhông phù hợp với tinh thần Tin Mừng.

  1. Sự khôn ngoan của thế gian (1: 17-21)

Đáp lại những kẻ tự phụ mình “thông thái”, thánh nhân nhắc nhở rằng ngài đã rao giảng cho họ không phải bằng lời lẽ khôn khéo, nhưng sự điên rồ của thập giá trái với đòi hỏi điềm thiêng dấu lạ của người Do thái và tìm kiếm lẽ khôn ngoan của người Hy lạp.

Dân Do thái chờ đợi một Đấng Mê-si-a thực hiện những điềm thiêng dấu lạ, một Đấng Mê-si-a quyền năng và chiến thắng. Dân Hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, tức là một cuộc sống quân bình, mực thước và điều độ, không có nó không một xã hội nào có thể bền vững được. Đó là điều mà tất cả mọi hệ thống triết học đều đề cao.

Hai quan niệm, Do thái và Hy lạp, rất khác biệt nhau, nhưng không có quan niệm nào phù hợp với hình ảnh Thập Giá được.

Trong hoạt động truyền giáo của mình, thánh Phao-lô đã gặp phải hai chướng ngại này. Biết bao người Do thái đã không thể chấp nhận Đấng Mê-si-a chịu khổ nhục trên thập giá. Ở An-ti-ô-ki-a, ở Thê-xa-lô-ni-ca và những nơi khác, thánh Phao-lô đã bị những người Do tháinàybách hại.

Còn đối với dân Hy lạp và sự khôn ngoan của họ, thánh Phao-lô đã chạm trán với họ ở A-thê-na. Thánh nhân cố gắng thuyết phục họ nhưng vô ích. Họ mong chờ những bài diễn từ lời hay ý đẹp, trong khi thánh nhân rao giảng một con người thập toàn bị đóng đinh trên thập giá. Quả thật, bản văn cho thấy rằng việc rao giảng Thập Giá khó lòng mà thuyết phục con người. Đối với người Hy lạp, ưu phẩm hàng đầu của một vị thần chính là Mỹ, vì thế Đấng chịu đóng đinh không ra hình tượng con người không thể nào sánh ví với hình ảnh của một vị thần linh.

  1. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa (1: 22-25)

Nhưng Thập Giá không là một bài diễn từ lời hay ý đẹp, nhưng là một sự kiện, một sự kiện lạ thường, ở đó ẩn dấu sự khôn ngoan của Thiên Chúa, hoàn toàn khác với những kỳ vọng của con người.

Trong thư thứ nhất gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, một trong những bài học lớn lao đó là: “dạy mầu nhiệm đau khổ như một yếu tố cốt yếu của Tin Mừng”. Chung chung, thần học của thánh Phao-lô không bao giờ tách rời biến cố Tử Nạn ra khỏi mầu nhiệm Phục Sinh. Tuy nhiên, đây là trường hợp ngoại lệ và có chủ đích. Đối mặt với sự tự mãn của con người, thánh nhân nhấn mạnh hình ảnh độc nhất về “Đức Ki-tô chịu đóng đinh”.

TIN MỪNG (Mt 10: 17-22)

Mặc dù đoạn Tin Mừng dành cho ngày đại lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam được trích từ Mt 10: 17-22, nhưng để hiểu sâu xa đoạn Tin Mừng này chúng ta sẽ đặt nó vào trong toàn bộ phân đoạn của nó, nghĩa là từ 10: 17-25. Đây là phân đoạn thứ hai về những huấn thị bách hại (10: 17-25) được phân biệt rõ nét với phân đoạn thứ nhất về những huấn thị truyền giáo (10: 1-16).

Phân đoạn thứ nhất nêu bật chủ đề uy quyền hay quyền năng phi thường mà Đức Giê-su ban cho những ai mà Ngài sai đi loan báo Nước Trời. Trong phân đoạn nầy, không có bất kỳ ám chỉ chính xác nào về đau khổ. Thật ra, đoạn văn 10: 13b-16 ám chỉ đến việc người đời có thể không tiếp đón các môn đệ (10: 13b-15) và cảnh báo rồi những hiểm nguy đang rình rập chờ đón họ: “Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói” (10: 16). Tuy nhiên, những đối kháng này vẫn mơ hồ và một bầu khí chiến thắng xem ra phải ngự trị trên hoạt động truyền giáo.

Khởi đi từ 10: 17, những huấn thị được đặt trên một dấu nhấn hoàn toàn khác: những cuộc bách hại sắp đến. Các môn đệ không chỉ bị thù ghét, nhưng những thử thách sắp tới của họ được mô tả một cách chính xác đến nỗi chúng ta có thể định vị môi trường của chúng nữa. Chúng ta có thể phân chia phân đoạn thứ hainàythành: cuộc bách hại ngoài xã hội (10: 17-20), cuộc bách hại trong gia đình (10: 21-22), thái độ cần phải có trong hoàn cảnh bách hại (10: 23) và phần kết luận (10: 24-25) cho toàn bộ phân đoạn thứ hai này (10: 17-25).

  1. Cuộc bách hại ngoài xã hội (10: 17-21):

Phần mở đầu của câu 17: “Hãy coi chừng người đời” lập lại chủ đề về sự cẩn trọng của câu 16 nhưng với những thuật ngữ hoàn toàn khác. Động từ “coi chừng” mặc lấy hai nét nghĩa: hoặc bác bỏ, từ chối điều gì đó (như 7: 15; 16: 6) hay đề phòng cảnh giác trong hoàn cảnh khó khăn nào đó (như 6: 1). Văn mạch nhấn mạnh đến nét nghĩa thứ hai: Đức Giê-su không khuyên các môn đệ của Ngài nên trốn chạy khỏi “người đời” nhưng trong những gặp gỡ của họ với người đời, nên giữ mình khỏi mọi ảo tưởng. Họ đừng quên rằng Thầy của họ đã bị những người đời này tìm cách khai trừ, loại bỏ. Phần tiếp theo của câu 17 cho thấy rằng “người đời” này không ai khác là người Do thái: “Họ sẽ nộp anh em cho các hội đường và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ”.

Tuy nhiên, câu 18 cho thấy bối cảnh của cuộc bách hại có thể vừa ở trong xứ Pa-lét-tin nhưng cũng vừa ở bên ngoài xứ Pa-lét-tin. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, các Ki tô hữu đừng quên rằng những cách hành xử đầy bạo lực này có một ‎ ý nghĩa, đó là dịp là cơ hội “làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết” về Đức Ki-tô và Nước Thiên Chúa. Lời chứng này nêu bật tính chất vừa công chúng vừa chính trị nữa. Các vua chúa và dân chúng có dịp nghe nói về Đức Giê-su và Nước Trời.

Câu 19-20 là lời hứa của Đức Giê-su cho các môn đệ trong hoàn cảnh bị bách hại. Chính vì làm chứng cho Thầy mình mà họ không cần lo nghĩ phải nói gì, vì trong giờ đó Thiên Chúa sẽ ban cho họ Thần Khí để giúp họ như Thiên Chúa đã phán với ông Mô-sê: “Chính Ta sẽ ngự nơi miệng ngươi, và Ta sẽ chỉ cho ngươi phải nói gì” (Xh 4: 12).

Câu 20: “Thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em”, mới nhìn thoáng qua, khiến nghĩ đến một sự gợi hứng máy móc loại bỏ tất cả sự dự phần của chứng nhân. Nhưng không phải như thế; trái lại hai cụm từ “anh em” và “trong anh em” nhấn mạnh rằng ân huệ này được ban cho các chứng nhân không như những khí cụ thụ động nhưng còn ở trong họ và bởi họ nữa.

  1. Cuộc bách hại ngay trong gia đình (10: 21-22)

Song đối với 10: 17-20 ở trên, các câu 10: 21-22 bao gồm một lời cảnh báo về cuộc bách hại và một lời hứa. Câu 21 cảnh báo rằng ngay cả những người thân thuộc trong gia đình cũng sẽ tố cáo họ vì họ dám chấp nhận cái chết để tin vào Đức Giê-su. Còn câu 22 đề cập đến việc họ sẽ bị mọi người thù ghét vì Ngài nhưng hứa rằng những ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu độ.

  1. Thái độ phải có trong hoàn cảnh bách hại (23)

Câu 23 diễn tả thái độ phải có trong hoàn cảnh bị bách hại. Người Ki tô hữu không phải đưa thân mình ra cho những kẻ bách hại mình, nhưng “khi người ta bách hại anh em trong thành nầy, thì hãy trốn chạy sang thành khác”, bởi vì nếu thành này xua đuổi họ đi thì có thành khác để loan báo Tin Mừng. Như vậy, sứ mạng loan báo Tin Mừng vẫn phải là bổn phận cho đến cùng.

  1. Phần kết luận (10: 24-25)

Hai câu 24-25 là phần kết luận của phân đoạn này. Các môn đệ của Đức Giê-su không mong đợi một vận mệnh nào khác ngoài vận mệnh của Thầy mình, Đấng bị khinh bỉ, bị ruồng bỏ, bị khai trừ và cuối cùng bị án tử trên thập giá. Thầy và trò, chủ và tớ được đặt vào trong cùng một số phận: “Trò được như Thầy, tớ được như chủ”. Tuy nhiên, diễn ngữ này không giới thiệu một sự so sánh nhưng là căn tính về vận mệnh trần thế giữa Thầy và trò. Nếu cả hai đều chia sẽ cùng một vận mệnh: đau khổ, bị bách hại và bị án tử, điều đó không muốn nói rằng Thầy khai mở cho môn đệ của mình sống lại cuộc mạo hiểm mà chính Thầy đã kinh qua. Cả hai giống nhau trong những diễn biến bên ngoài nhưng lại khác nhau trong ý nghĩa và tầm mức. Đau khổ của Đức Giê-su là đau khổ của Đấng ở nơi Ngài Nước Thiên Chúa đã đến gần (10: 7) trong khi đau khổ của người môn đệ là đau khổ của một chứng nhân về Nước Thiên Chúa này (10: 18).

CHỨNG NHÂN TÌNH YÊU

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Thánh lễ hôm nay đỏ một mầu máu. Máu của hơn 100 ngàn anh hùng tử đạo. Máu của 117 vị đã được tôn phong lên hàng hiển thánh. Máu ngập tràn chảy suốt hơn 3 thế kỷ truyền giáo tại Việt Nam.

Có điều máu lênh láng nhưng không tanh tưởi bởi không phải là thứ máu oan khốc nơi chiến trường tuôn chảy trong hờn căm oán ghét. Máu đẹp như những cánh hoa vì phát xuất từ tình yêu cao quí. Máu dường như toả hương thơm bởi khơi nguồn từ những trái tim chan chứa yêu thương. Máu không gây ghê tởm nhưng gợi lòng kính trọng. Máu không tạo oán thù nhưng vực dậy yêu thương. Đó là những dòng máu làm chứng cho tình yêu.

Tình yêu Thiên Chúa.

Các thánh Tử Đạo Việt Nam có lòng tin mạnh mẽ. Lòng tin của các ngài không biểu lộ trong những hành vi cuồng tín, nhưng diễn tả trong thái độ chan chứa yêu thương. Đã nhận biết Chúa, các ngài yêu mến Chúa tha thiết. Đã cảm nhận được tình yêu của Chúa các ngài mong muốn được đáp đền tình yêu đó.

Tình yêu của các ngài là tình yêu hy sinh. Nên các ngài đã từ bỏ tất cả: cuộc sống yên ổn, danh vọng tiền tài, kể cả mạng sống vì Chúa. Thánh Hồ đình Hy sẵn sàng chịu mất chức trong triều đình. Thánh Tôma Thiện vui lòng dâng hiến tuổi xuân xanh với những lời hứa hẹn chức quyền của vua quan. Thánh nữ Anê Lê thị Thành mạnh dạn từ bỏ gia đình êm ấm với những người con ngoan ngoãn dễ thương. Tất cả vì tình yêu Chúa.

Tình yêu của các ngài là tình yêu chung thuỷ. Các ngài yêu mến Chúa khi bình an, các ngài càng yêu mến Chúa trong những gian nan thử thách. Các ngài đã thực hiện lời thánh Phao-lô: Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giêsu, Chúa chúng ta (Rm 8,35-39).

Tình yêu của các ngài là tình yêu cao quí. Đáp lại tình yêu của Đức Giêsu Kitô đã hiến thân vì các ngài, các ngài cũng hiến dâng mạng sống để minh chứng tình yêu với Chúa. Đúng như lời Chúa nói: Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13).

Tình yêu cuộc sống.

Các ngài là những người yêu mến cuộc sống. Không phải một cuộc sống tầm thường nhưng là cuộc sống với tất cả những chiều kích cao đẹp của nó. Cuộc sống với những giá trị thiêng liêng như lý tưởng, như tình yêu, lòng trung tín. Một cuộc sống không nô lệ cho vật chất. Một cuộc sống trung thực không giả dối. Một cuộc sống không bị đóng khung trong thế giới hữu hạn mau tàn nhưng mở ra đến vĩnh cửu. Một cuộc sống không hạ con người xuống nhưng nâng con người lên ngang với các thần thánh. Thật sự yêu mến cuộc sống nên các ngài sẵn sàng hy sinh tính mạng để làm chứng, để bảo vệ và xây dựng.

Tình yêu nhân loại.

Cái chết của các ngài minh chứng một tình yêu vô biên đối với nhân loại. Các ngài không chỉ yêu mến Chúa mà còn yêu mến gia đình. Hãy nhìn cảnh thánh Lê văn Phụng hoặc thánh nữ Lê thị Thành an ủi con cháu trước khi ra pháp trường. Tình yêu thương của các ngài lan cả tới lính gác, cai tù và lý hình. Thánh Lê văn Phụng chữa bệnh cho người cai tù của mình. Tất cả các thánh vui vẻ ra đi chịu chết. Không có ai tỏ lòng oán hận. Và nhất là không có vị nào thù ghét các lý hình.

Tình yêu của các ngài phát xuất từ tình yêu Chúa nên rộng rãi toả lan tới mọi người, mọi nơi các ngài sinh sống. Tình yêu ấy là tình yêu nguyên tuyền nên không biết đến sự thù ghét, nên sẵn sàng tha thứ cho kẻ làm hại mình. Tình yêu ấy như bông hoa vẫn toả hương trong tay kẻ vò nát nó. Tình yêu ấy giống như loài gỗ quí vẫn phả hương thơm cả đến chiếc rìu bổ vào nó (Fulton Sheen).

Động lực hướng dẫn cuộc đời các ngài là tình yêu. Cái chết của các ngài làm chứng cho tình yêu. Đó chính là điều mà ta có thể bắt chước các ngài. Trong hoàn cảnh hiện nay, ta không có hy vọng được phúc tử đạo, nhưng ta vẫn có thể noi gương các thánh Việt Nam làm chứng cho đạo Chúa. Nếu ta không được chết cho tình yêu, ta vẫn có thể sống cho tình yêu. Có lẽ ngày nay Chúa cũng không mong ta chết vì đạo mà mong ta hãy sống vì đạo.

Lạy các thánh Tử Đạo Việt Nam, xin chúc lành cho quê hương và Giáo Hội Việt Nam. Amen.

 

.

CON NGƯỜI THÍCH THỎA HIỆP

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Cuộc sống con người luôn đầy rẫy sự thỏa hiệp. Thỏa hiệp trong giao tế, trong chính trị, trong làm ăn. Thỏa hiệp đòi hỏi sự nhượng bộ, sự nhân nhượng, nhường bước. Sự thỏa hiệp đòi hỏi phải từ bỏ một phần quan điểm của mình để nhượng bộ cho đối phương. Cách riêng, trong đời sống luân lý thì không có sự thỏa hiệp. Con người không bao giờ được thỏa hiệp với sự dữ, nghĩa là không bao giờ thỏa hiệp với Satan và bộ hạ của nó. Thỏa hiệp với ma quỷ là con người tự làm cho mình ra nô lệ tội lội.

Adam – Eva đã tự tìm đến cái chết khi thỏa hiệp với ma quỷ. Thỏa hiệp luôn là thất bại trong cay đắng. Thỏa hiệp là tự tìm đến cái chết thay vì được sống trong tự do. Biết bao người đã thỏa hiệp để bắt tay làm ăn bất chính, để làm ngơ trước sự xấu hoành hành. Họ có tiền, có quyền nhưng không bao giờ có niềm vui tâm hồn bình an.

Tuy nhiên, cuộc đời vẫn còn đó những con người từ chối thỏa hiệp. Họ là những con người thà nghèo đói để được bình an tâm hồn hơn là kiếm tiền bằng việc phi nhân thất đức mà lòng chẳng chút bình an. Họ chấp nhận vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời vua chúa trần gian, cho dù phải tù đầy, gian truân khốn khó. Họ chấp nhận đánh mất mùa xuân hạn hẹp trần gian để đổi lấy mùa xuân bất diệt thiên đàng.

Hôm nay chúng ta mừng kính 117 thánh tử đạo Việt Nam, là con số tượng trưng cho hơn 130 ngàn vị tiền nhân đã chết trong các đợt cấm đạo tại Việt Nam. Họ đã chết không phải vì chống lại triều đình. Họ đã chết không phải vì lỗi công bình bác ái với tha nhân. Họ đã chết vì không chịu thoả hiệp với thế gian. Giữa sự sống và sự chết chỉ cách nhau một lằn ranh. Lằn ranh đó chính là cây thập giá. Bước qua thì được thoát khỏi cực hình trần gian. Bước qua thì được trở về với vợ con, với xóm làng. Đôi khi còn được hưởng chức tước vua ban. Nhưng các thánh tử đạo Việt Nam đã không vì thế mà chối Chúa, bỏ đạo. Không vì ham sống sợ chết mà chà đạp lên thập giá. Các ngài cam lòng chịu đòn roi, chịu án tử hình như cơ hội để lãnh phúc triều thiên vinh quang. Như trường hợp ông đội Bường đã thẳng thắn trả lời với quan quân: “Bên đạo chúng tôi ai chết trẻ là đi đường tắt, ai chết già là đi đường trường. Song đàng nào cũng tới quê thật là nước thiên đàng vậy”. Thế nên, thánh nhân đã khuyên nhủ các đồng đạo rằng: “Chúng ta hãy vui lòng chịu mọi sự khốn khó để giữ nghĩa cùng Chúa cho đến khi nào thánh ý Chúa định thể khác. Nếu quan có hành hạ thì hãy can đảm chịu đựng. Hễ xác chết rồi thì hồn chúng ta bay thẳng về trời, không sợ gì roi đòn. Chịu sự khó như vậy là vác thánh giá theo Chúa Giêsu. Nếu có đau đớn quá thì hãy xin Ðức Mẹ phù trợ cho được bền lòng đến cùng”.

Là con cháu các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta luôn tự hào vì có các vị tiền nhân đã dám chết để minh chứng niềm tin. Đây là gương sáng mà các ngài để lại cho hậu thế. Hãy sống trung thành với Chúa, với Giáo hội. Hãy can đảm từ chối mọi thỏa hiệp bất chính. Nhưng xem ra cuộc đời vẫn còn đó những con người vì chút bổng lộc trần gian đã bỏ đạo, đã chống đối đạo. Vẫn còn đó những con người vì miếng cơm manh áo đã chẳng giữ đạo hay chỉ giữ một cách hời hợt. Họ giữ đạo hình thức đôi khi có cũng như không. Vẫn còn đó những con người vì tiền mà bán mình, bán con để kiếm đồng tiền bất chính. Họ thà rằng lỗi luật Chúa còn hơn là bỏ lỡ cơ hội lấy tiền, lấy bạc. Vẫn còn đó những con người bỏ Chúa chứ không bỏ tiền, bỏ Chúa chứ không bỏ tình, bỏ Giáo Hội chứ không bỏ danh vọng trần gian.

Lạy các thánh TDVN là cha ông của chúng con, xưa các ngài đã dùng máu đào để bảo vệ đức tin xin gìn giữ chúng con luôn trung kiên theo Chúa, dám khước từ danh lợi thú trần gian để nên chứng nhân cho Nước Trời trong cuộc sống hôm nay.

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí 

Ngày xưa, khi nhắc đến các Thánh tử đạo, nhất là các vị tử đạo Việt nam, chúng ta thường hình dung đến những cực hình ghê sợ mà người ta nghĩ ra để hành hạ các ngài. Các cực hình dã man ấy không những không làm lung lạc đức tin của các ngài, mà còn khiến các ngài càng mạnh mẽ hơn trong việc đón nhận và tuyên xưng đức tin. Ngày nay, những cái chết vì đức tin như vậy vẫn còn diễn ra dưới nhiều hình thức tử đạo mới. Hằng năm trên thế giới vẫn có hàng ngàn người đang phải chịu khốn khổ, bị kỳ thị vì đức tin của mình. Nhiều người đã phải bỏ quê hương để đi tìm một chỗ nương thân an toàn, ví dụ như tại Irăc và Sirya trong năm vừa qua. Nhà nước IS đã tuyên bố bất cứ ai kêu tên Giêsu mà người khác nghe được thì bị xử bắn. Vì thế, trong năm qua, có đến hàng trăm Kitô hữu đã bị giết tại Sirya chỉ vì họ nhận mình là Kitô hữu. Cũng giống như thế, tại quốc gia Bắc Hàn, các Kitô hữu phải sống một cuộc sống hết sức khó khăn, bị o ép và khủng bố, có thể bị tù đày, bị giết chết bất cứ lúc nào. Tại quốc gia này, cuốn Kinh Thánh trở thành cuốn sách bị cấm. Ai đọc hoặc giữ cuốn Kinh Thánh trong người, có thể bị tử hình.
Tại Việt Nam, kể từ những ngày đầu tiên khi Tin Mừng được gieo vãi trên quê hương đất nước cho đến nay, người Kitô hữu dường như liên tục bị bách hại về niềm tin của mình. Tổ tiên của chúng ta, các vị tử đạo Việt Nam, đã đón nhận đức tin trong hoàn cảnh hết sức khó khăn như thế. Các ngài đã phải chọn lựa và quyết định cho mình một niềm tin, một nếp sống khác với những người đồng hương lúc đó. Trong khi những người khác hoàn toàn sống theo tâm tình tôn giáo dân gian, sống một cuộc sống thoải mái dễ dãi, thì tổ tiên chúng ta đã chấp nhận đi vào con đường của Tin Mừng. Các ngài đi theo con đường hẹp, chấp nhận tuân theo giới răn lề luật của Thiên Chúa, từ chối các thần linh của dân ngoại. Các ngài mặc dù có chọn lựa riêng cho mình, sống giới răn riêng của Tin Mừng, nhưng các Ngài không sống tách biệt khỏi các người đồng hương, trái lại, các ngài đã sống đến cùng giới răn yêu thương, bác ái đối với những người khác. Có những thời kỳ chính quyền đã coi các tín hữu như công dân hạng hai, họ khắc trên mặt người Công giáo chữ “tả đạo” để dễ dàng phân biệt đối xử. Cha ông của chúng ta vẫn không hề thù oán, không phản kháng, không báo thù, các ngài vẫn tận tình sống tình yêu thương chan hoà với hết mọi người, khiến những người dân ngoại đã gọi họ là “những người theo đạo yêu nhau”.
Các vị tử đạo đã sống đúng như lời sách Khôn Ngoan đã nói : Linh hồn những người công chính ở trong tay Thiên Chúa, không một cực hình nào có thể động tới được các ngài…Trước mắt người đời, chúng tưởng như các ngài đã chết, nhưng thực ra các ngài vẫn đang sống… Người đời nghĩ rằng các ngài bị trừng phạt, nhưng các ngài vẫn chứa chan hy vọng. Ba trăm năm đầu tiên là quãng thời gian hết sức khó khăn đối với các tín hữu, thế nhưng, dường như những cơn đàn áp càng khốc liệt, thì Tin Mừng lại càng được loan truyền và con số những người tin theo Chúa lại càng gia tăng. Các ngài bị hành hạ nhưng các ngài vẫn hy vọng vào phần thưởng Nước Trời mà Thiên Chúa đã hứa.
Bước sang thế kỷ 20 – 21, tình hình bắt bớ, giết hại những tín hữu có phần lắng xuống, nhưng không phải đã được tự do hoàn toàn. Người Kitô hữu Việt Nam lại trải qua một hình thức tử đạo khác. Họ vẫn phải cố gắng sống và thể hiện niềm tin của mình trong một môi trường xã hội mới. Nhiều nơi, các tín hữu vẫn bị o ép giới hạn cách này cách khác. Nhiều người đã bị tù tội chỉ vì mang danh là người Kitô hữu, vì nhiệt tâm phục vụ. Nhiều tín hữu đã chết trong tù hoặc nơi rừng sâu nước độc, chỉ vì muốn sống đến cùng đòi hỏi của Tin Mừng. Bên cạnh những người mạnh dạn tuyên xưng đức tin và hết mình bảo vệ quyền được sống và thể hiện đức tin của mình, thì cũng có những người đã chấp nhận thỏa hiệp với cơn bách hại của quyền lợi và danh vọng. Trong số đó, không thiếu những người vì quyền lợi, địa vị xã hội, sẵn sàng che giấu đức tin của mình, không dám nhận mình là người có đạo. Những người này còn muốn thể hiện ra bên ngoài như thể là mình chưa từng biết Chúa Giêsu. Họ công khai từ chối Chúa Giêsu và Tin Mừng, từ chối nếp sống của người tín hữu ; họ xấu hổ vì Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài.
Bước vào thời kỳ văn minh hiện đại hôm nay, ở một số nơi, các tín hữu Kitô vẫn đang bị bách hại bởi các nhóm khủng bố, các nhà cầm quyền; còn người Kitô hữu Việt Nam lại phải đương đầu với cơn bách hại khác. Cuộc bách hại này có lẽ không đến từ những áp lực bên ngoài, nhưng là một cuộc chiến liên tục bên trong mỗi người để chọn cho mình một cách sống. Ngày xưa, cha ông chúng ta đã chấp nhận cái chết đổ máu để giữ đạo; ngày nay, chúng ta cũng đang phải từng ngày rỉ máu vì chọn lựa sống đạo. Chúng ta chọn để sống theo Đức Kitô, có nghĩa là chọn sống giống như Ngài, sống nghèo khó và quảng đại phục vụ, sống yêu thương và tha thứ.
Ngày nay, trong khi con người đề cao tự do một cách thái quá thì người Kitô hữu lại chấp nhận khép mình vào trong khuôn thước của Tin Mừng. Chúng ta được mời gọi sống sự tự do của con cái Chúa, tức là thoát khỏi sự ràng buộc của vật chất, dục vọng để vươn lên sống đúng với tư cách là con Thiên Chúa, những người đã được cứu chuộc. Xã hội ngày nay tìm mọi cách để thoả mãn mọi nhu cầu của con người, thì người tín hữu lại chấp nhận một cuộc sống tiết chế, làm chủ bản thân, bắt mình phải quy hướng về Thiên Chúa và thần phục Ngài.
Giàu có, sung túc đang là mục tiêu của nhiều người, nó cũng biến con người trở nên tàn ác với nhau để giành được mục tiêu đó. Người Kitô hữu không thể đứng bên ngoài dòng chảy này. Tuy nhiên, chúng ta được mời gọi không thể để mình sống và đối xử với nhau theo bản năng của con thú, nhưng đối xử bằng tình bác ái và tình yêu thương. Con người khi đã đạt được sự giàu có thì dễ dẫn đến cuộc sống phô trương hưởng thụ, còn người tín hữu được mời gọi sống siêu thoát, tức là sống tinh thần nghèo khó khiêm nhường, phó thác cuộc đời, công viêc, tài sản cho Chúa và sử dụng của cải theo ý Chúa. Cuộc sống khi giàu có dễ biến căn nhà của chúng ta trở thành kín cổng cao tường, làm cho con người trở nên to bụng nhưng tay chân ngắn lại, trở nên khép kín và lạnh lùng đối với nhau. Người Kitô hữu được mời gọi mở rộng cửa nhà và mở rộng đôi tay để có thể bước đến với anh em, để chia sẻ và phục vụ họ.
Cuộc tử đạo của chúng ta hôm nay là liên tục sống tình yêu thương và tha thứ. Có lẽ vì vậy mà Giáo hội đang hoàn thiện hồ sơ để tôn phong Tôi Tớ Chúa, Đức Hồng Y Fancis Nguyễn Văn Thuận, lên bậc Chân phước Tử đạo cho dù Ngài không trực tiếp chết vì đạo. Giáo hội đã nhìn thấy gương sống yêu thương và tha thứ của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận như cuộc tử đạo liên tục. Trong thánh lễ an táng ngài, Đức Thánh Giáo Hoàng JP II và cả giáo triều lúc đó đã mặc phẩm phục màu đỏ thay cho màu tím truyền thống. Trong quan tài của Đức Hồng Y, người ta đã đặt vào đó một tấm bia bằng đồng ghi tóm tắt lịch sử cuộc đời của ngài. Việc làm này cho thấy sự kính trọng mà giáo triều đã dành cho ngài như truyền thống Giáo hội vẫn làm cho các vị tử đạo.
Đức hồng Y Fancis đã tử đạo bằng đời sống yêu thương và tha thứ cho những kẻ bách hại ngài. Sau hàng chục năm tù tội bất công, bị biệt giam như một con chó, vậy mà không bao giờ ngài kêu than oán trách. Trái lại, ngài luôn cầu nguyện cho những kẻ giam giữ mình. Trong các tác phẩm để lại, cũng như các cuộc nói chuyện, ngài kể về những năm tháng tù đầy như là những năm tháng ngài được tĩnh tâm, được sống thân mật với Chúa và làm việc mục vụ bằng lời cầu nguyện. Ngài tuyệt đối không dùng một lời lẽ cay cú hay thù oán, nhưng thay vào đó là một tâm hồn bình an, thanh thản đón nhận ý Chúa.
Chúng ta đang sống trong thời hiện đại, chúng ta cũng sẽ phải trải qua những cuộc tử đạo hiện đại và trở thành những vị tử đạo hiện đại. Chúng ta sẽ không chết vì gươm giáo hoặc đạn bắn, nhưng chúng ta sẽ phải chấp nhận chết, chấp nhận thiệt thòi vì Tin Mừng, vì sống đến cùng của lời mời gọi của Chúa : Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá hàng ngày mà theo Ta… Ai liều mạng sống mình vì tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Chúng ta cũng sẽ phải hết mình để chu toàn vuông tròn giới răn lề luật của Chúa và Hội Thánh, không thoả hiệp cũng không giảm thiểu.
Chúng ta sẽ phải tử đạo bằng đổ mồ hôi và nước mắt trong gia đình để bảo vệ sự vĩnh viễn của hôn nhân và để xây dựng một gia đình Công Giáo đúng nghĩa. Trước sự tấn công của các trào lưu xã hội trên các gia đình, chúng ta sẽ phải là những chiến sĩ chấp nhận hy sinh, không ngại thương tích để bảo vệ hạnh phúc và phẩm giá cao quý của đời sống hôn nhân và gia đình. Trước sức ép của cuộc sống vật chất, chúng ta vừa phải lao vào cuộc sống để tìm kiếm cơm ăn áo mặc cho con cái, nhưng cũng phải chấp nhận rướm máu vì giữ giới luật công bằng, yêu thương và bác ái.
Các bạn trẻ cũng phải tử đạo liên tục để sống đúng với ơn gọi là một người trẻ Công Giáo trong xã hội biến chuyển này. Chúng ta sẽ phải đổ máu để bảo vệ sự tinh tuyền của linh hồn và thân xác khỏi cơn bão của hưởng thụ ích kỷ, phim ảnh sách báo và lối sống buông theo dục vọng. Chúng ta vẫn phải sống, phải bước đi với mọi người trong xã hội, nhưng vẫn phải chiến đấu để khỏi đánh mất mình và mục đích cuộc đời trong dòng chảy của xã hội hôm nay.
Như thế, cuộc tử đạo ngày nay xem ra không kém phần khốc liệt như cuộc tử đạo ngày xưa của các vị tiền nhân. Xin Chúa qua sự bầu cử của Đức Maria và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, giúp chúng ta là con cháu của các ngài, biết sống khí tiết anh hùng của các Tiền Nhân, dám sống cho tới cùng lý tưởng của Tin Mừng trong thời đại hôm nay. Amen.

 

NHỮNG ĐẤNG BẬC ANH HÙNG

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Không kể 117 vị tử đạo tại Việt Nam được phong thánh năm 1988 và Anrê Phú Yên được phong chân phước năm 1999, còn hơn một trăm ngàn vị đã anh dũng dâng hiến đời mình, chấp nhận cái chết để làm chứng lòng trung thành và gắn bó với Đức Yêsu, Đấng yêu thương con người dầu phải chết.

Họ là ai?

Họ là những người cha người mẹ, họ là những người con, họ là những người chồng người vợ, họ là thanh niên thanh nữ, là tráng niên, là bô lão, là chủng sinh, là binh sĩ, là quan là dân, là dì phước là linh mục. Họ là những bậc tiền bối của dân con Việt Nam hiện nay. Họ là những người “dường như” không sợ chết. Họ chấp nhận gông cùm tra tấn, chấp nhận đòn vọt, đói khát, nắng mưa, bệnh tật, và sẵn sàng chấp nhận cái chết.

Họ là ai? Phải chăng họ là những người điên nên không sợ chết? Phải chăng họ là những người không còn biết trách nhiệm làm chồng làm cha làm con làm mẹ làm vợ làm dâu? Phải chăng họ không biết trách nhiệm với vợ dại con thơ? Phải chăng họ không còn ý thức bổn phận làm con phải sống để báo hiếu cha mẹ già yếu cần nương nhờ nơi họ? Phải chăng họ không còn rung động trước tình cảm bao người thân dành cho họ, mà “ngoan cố” không chịu bỏ đạo để phải chết?

Không! Họ là những người cha người chồng người vợ, vô cùng thương con thương vợ thương chồng. Họ là những người con rất có hiếu và rất ao ước được sống để phụng dưỡng báo hiếu cha già mẹ yếu. Họ là những người thông minh có thể làm quan, là những “anh hùng” sẵn sàng hiến mạng cho quê hương tổ quốc. Họ là những người bình thường chứ không phải là những người điên, họ rất nặng “tình người” chứ không phải là những người “vô cảm”. Họ chết vì người ta muốn giết họ, chứ không phải tự họ muốn chết; tuy vậy họ sẵn sàng đón nhận cái chết chứ không thể chối bỏ Thiên Chúa.

Tại sao họ kiên cường và anh dũng như vậy?

Họ là những người rất bình thường, nhưng Thiên Chúa đã làm những điều kỳ diệu nơi những con người yếu đuối mỏng manh.

Ai không sợ chết? Ai không sợ đòn vọt, tù đầy, gông cùm xiềng xích? Nhưng những bậc tử đạo “dường như” không sợ, vì có một giá trị nào đó cao hơn, một cái gì đó quý hơn mà cho dù tình yêu gia đình, cha mẹ, vợ con, và ngay cả mạng sống cũng không đánh đổi được. Với họ, Thiên Chúa là nhất, Thiên Chúa trên tất cả, trên tình yêu gia đình, trên tương quan ruột thịt, và trên cả mạng sống mình.

Qua các bậc anh hùng tử đạo, người ta đọc thấy không phải “con người” anh hùng, nhưng chính “Thiên Chúa” đang thực hiện những điều kỳ diệu nơi những con người đơn sơ mong manh chất phác, làm họ như những “bức tường bằng sắt, như những bức vách bằng đồng” và kiên vững không gì khuất phục được. Người ta có thể hủy diệt mạng sống các ngài, có thể giết các ngài, có thể nghiền nát xương thịt các ngài, nhưng không thể bắt các ngài làm theo ý họ. Thiên Chúa vô hình đang hiện diện qua thực tại hữu hình. Thiên Chúa hiện diện đó, rất rõ, dù người ta không nhìn thấy Ngài bằng mắt trần.

Sống cho đúng là con cháu của những bậc anh hùng

Chúng ta là con dân đất Việt, là con cháu của các đấng bậc anh hùng. Phải sống sao để “con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”. Xin cho chúng ta có tình yêu đối với Thiên Chúa, đối với Đức Yêsu, và sẵn sàng hy sinh tất cả vì Thiên Chúa.

Ngày nay người ta không còn nhiều dịp để “tử đạo” như ngày xưa, nhưng ngày nay người ta vẫn còn phải chọn giữa Thiên Chúa và tiền bạc danh vọng chức quyền; người ta vẫn phải chọn ưu tiên tương quan với Chúa trên những tương quan khác v.v..Ngày xưa phải đổ máu để sống đúng, để làm chứng; ngày nay không còn dịp đổ máu thể lý, nhưng để sống đúng như những người con của Thiên Chúa, người ta vẫn phải đổ máu “vô hình”, vẫn phải hy sinh, phải chết “chính con người của mình” thì mới có thể sống trọn vẹn cho Thiên Chúa được.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

(Nên hát “Đây bài ca ngàn trùng” trước khi chia sẻ)

  1. “Ngày nay tử đạo không đổ máu”, bạn hiểu sao về câu này?
  2. Với bạn, đâu là khó khăn nhất của đời sống kitô-hữu (đòi bạn phải hy sinh)?
  3. Bạn biết gì về các thánh hoặc chân phước tử đạo Việt Nam? (Kể tiểu sử một vị, hoặc điểm nào đó mà bạn thán phục của một trong các vị mà bạn biết).

 

SỨC MẠNH NIỀM TIN TÔN GIÁO

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Nói đến sức mạnh, chúng ta tự nhiên sẽ nghĩ đến những chàng trai võ sĩ thân hình lực lưỡng, cân đối rắn chắc,với những bắp thịt vạm vỡ, với những quả đấm thôi sơn ngàn cân.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng nghĩ đến những trận cuồng phong, những cơn lũ lụt phá đổ cây cối nhà cửa làng mạc, đê điều, đường sá, cầu cống.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng thường nghĩ tới những đám cháy lớn thiêu rụi cả một khu rừng, thiêu huỷ các tầng lầu.Nói đến sức mạnh, chúng ta nghĩ đến những trận động đất san bằng nhiều thành phố, giết hại hàng triệu người trong vài giây đồng hồ.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng liên tưởng đến những cuộc chiến tranh đã giết hại bao sinh mạng, tàn phá bình địa nhiều thành phố làng mạc nhà cửa dinh thự đền đài.

Nhưng còn có một sức mạnh vạn năng khác, mãnh liệt hơn cả, quyết thắng tất cả mà lại luôn luôn ở trong tầm tay con người. Đó chính là sức mạnh niềm tin tôn giáo (Lm Nguyễn Quý Thiện).

Niềm tin tôn giáo không bao giờ bị bóp nghẹt do bất cứ quyền lực nào. Không có quyền lực nào có thể xoá bỏ được niềm tin tôn giáo. Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh xác tín đó.

  1. Sức mạnh đức tin vượt thắng những thách đố.

Trong chuyến hành hương Rôma, tôi có dịp đi viếng những hang toại đạo. Đi trong hang như là tìm về cội nguồn đức tin. Nơi đây biểu lộ sức mạnh đức tin của bao thế hệ tiền nhân. Giáo hội giữ vững niềm tin trên nền tảng tử đạo của biết bao con người nằm dưới hang này trong 300 năm đầu bị bách hại. Hang toại đạo là hệ thống đường hầm đào sâu dưới lòng đất tại các khu nghĩa trang ngoại thành Rôma. Những hang hầm dài nhiều cây số. Không phải chỉ một tầng mà đến 3, 4 tầng sâu dưới lòng đất. Không khí trong hang rất lạnh lẽo. Mùi tử khí vẫn còn thoang thoảng đâu đây. Đi trong hầm mộ lạnh lùng, hoang vắng, lối ngõ ngoằn ngoèo, tôi cảm nghiệm được ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Sự chết luôn luôn đe dọa rình rập cướp lấy mạng sống con người. Bước đi trong lòng tin và lòng cảm phục nên người hành hương lại cảm nhận sự ấm áp, thân tình gần gũi với các thế hệ tiền bối. Gia sản của Giáo Hội là đây.Tại nơi này, các tín hữu sơ khai đã ẩn trốn những cơn bách hại liên tiếp trong ba thế kỷ. Sức mạnh đức tin thật là kỳ diệu.

Suốt ba trăm năm bắt Đạo, trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn trăm ngàn Vị Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách. Trong số này, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân.

Trải qua 300 năm, với 53 sắc dụ cấm đạo dữ dội, Giáo Hội Việt Nam đã chịu bách hại và đã biểu lộ hào hùng sức mạnh đức tin qua dọc dài lịch sử.

Các Thánh Tử Đạo đã chịu đủ mọi cực hình: bị xiềng xích, lao tù, bị tra tấn, bị bỏ đói, bị chém đầu, bị thắt cổ, bị bá đao, phanh thây, bị kìm kẹp, bị voi dày, bị thiêu sống, bị buộc đá thả trôi sông, bị tống cổ ra khỏi nhà cửa, làng mạc, sống vất vưởng trong rừng sâu nước độc. Các ngài đã bị chết đói, chết khát, chết bịnh và bị dã thú ăn thịt…Với sức mạnh đức tin, các ngài đã chiến thắng mọi thứ cực hình dã man. Cho dù là gông cùm, xiềng xích, nhốt trong cũi, đánh đòn, bỏ đói, voi giầy, trói ném xuống sông, đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng, chặt đầu, thắt cổ,  thiêu sống, phân thây ra từng mảnh…các ngài chấp nhận tất cả nhờ đức tin mạnh mẽ. Trong 117 Thánh Tử Đạo được tuyên phong, có 79 vị bị trảm quyết (bị chặt đầu); 18 vị bị xử giảo (bị thắt cổ); 8 vị chết rũ tù; 6 bị thiêu sinh; 4 bị lăng trì (phân thây ra từng mảnh); 1 bị tử thương và 1 bị bá đao.

Người ta nghĩ ra mọi thứ hình phạt tàn ác để buộc các tín hữu chối bỏ đức tin.

-Thật kinh hoàng sởn tóc gáy khi nghe kể về cái chết của Cha Cố Du theo kiểu bị xử bá đao: “Ngày 30.11.1835, họ chọn Thợ Đức làm pháp trường để xử ngài.Sáng sớm hôm đó, họ điệu ngài đến nơi hành hình. Bên một lò than đang cháy đỏ rực có 5 tên lính cầm 5 chiếc kìm sắt đã được nung đỏ.Nghe lệnh, cùng một lúc cả 5 tên kẹp kìm nung đỏ vào mình ngài kéo ra những miếng thịt khét lẹt.Họ vu cho ngài móc mắt trẻ con khi rửa tội. Làm điều ám muội khi cử hành lễ cưới và cho ăn thịt người khi rước lễ. Sau đó họ tiếp tục gây thêm những thương tích nữa cho đến khi ngài bất tỉnh thì họ mới hành quyết. Họ cột chân tay ngài vào cây cột. Hai bên lính cầm kìm chờ sẵn. Cha Du ngửa mặt lên trời cầu nguyện dâng mạng sống mình cho Chúa. Sau hồi trống báo hiệu, hai tên lính cầm kìm kẹp vào ngực ngài kéo ra 2 miếng thịt nơi vú liệng xuống đất, một tên lính khác cầm dao xẻo thịt phía sau hông, rồi đến bắp đùi thì chúng lấy kìm kéo ra rồi lấy dao xẻo đứt từng miếng… làm cha rất đau đớn. Không được bao lâu thì ngài ngất đi, đầu rũ xuống và ngài về chầu Chúa lúc 17g ngày 30.11.1835. Cha Du chết rồi bọn lính còn chặt đầu ngài cho vào một chiếc thùng đầy vôi, cởi trói lật xác úp xuống rồi phân thây ra từng khúc bỏ tất cả vào thùng vôi. Đầu ngài họ đem treo 3 ngày ở giữa chợ rồi xay nát, bỏ chung với thùng vôi đựng xác ngài đoạn quăng cả xuống biển cho mất tích”.

-Thánh Giám mục Xuyên, chân tay bị trói vào bốn cọc. Năm lý hình cầm 5 cái rìu, sẵn sàng nghe lệnh quan án sát. Vừa nghe lệnh, hai lý hình chặt hai chân, hai lý hình chặt hai tay, đến lượt lý hình thứ năm chặt đầu. Rồi họ mổ bụng ngài cắt lấy ruột gan.

-Cha Điểm và Cha Khoa bị trói chân tay vào cột, lý hình tròng dây vào cổ. Nghe hiệu lệnh, lý hình cầm hai đầu dây xiết mạnh cho đến khi hai vị nghẹt thở và lịm dần.

Dù chịu mọi cực hình tàn bạo, bị hành hạ tra tấn khủng bố, các ngài vẫn không chối bỏ đức tin. Vua chúa, quan quyền, binh lính phải sững sờ kinh ngạc và kính phục lòng tin sắt son của các ngài.

Thánh Hồ Đình Hy làm quan lớn trong triều đình. Quan Án Phạm Trọng Khảm. Nhờ sức mạnh đức tin, các ngài chấp nhận mất chức quyền, mất danh vọng thế gian và sẵn sàng hiến dâng mạng sống.

Thánh Lê Thị Thành, thân phận phụ nữ yếu ớt, gánh nặng gia đình, nhờ sức mạnh đức tin nên ngài đã sẵn sàng chịu mọi cực hình để minh chứng tình yêu đối với Đức Giêsu Kitô.

Thánh Tôma Thiện, Phaolô Bột, đầu xanh tuổi trẻ, tương lai còn dài, nhiều hứa hẹn. Các ngài đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho Chúa nhờ sức mạnh đức tin.

Các Thánh Tử Đạo vui lòng đón chịu mọi cực hình đau đớn, chấp nhận mọi thua thiệt, vui lòng mất hết địa vị bổng bộc và hiên ngang tiến ra pháp trường đón nhận cái chết như một mối phúc, minh chứng lòng trung thành của mình đối với Đức Kitô. Cái chết của các ngài làm sáng lên sức mạnh đức tin.

  1. Những thách đố Đức Tin thời nay.

Làm sao chúng ta có thể sống đức tin mạnh mẽ như các Thánh Tử Đạo. Ngày nay đâu còn cảnh cấm đạo, bắt đạo, giết người có đạo như thời xưa.

Nhưng ngày nay có rất nhiều thách đố đức tin với tín hữu Việt Nam.

–       Vô thần duy vật

Thách đố trước hết đối với Đức Tin chính là môi trường mà chúng ta đang sống và “hít thở”, đó là một xã hội vô thần duy vật. Đây một xã hội tự bản chất chối bỏ Thiên Chúa, đề cao vật chất và quyền lực. Sự chối bỏ Thiên Chúa sẽ là nguyên nhân đưa tới sự sa đọa của con người và xã hội. Khi một xã hội vắng bóng Thiên Chúa, người ta sẽ tạo ra những “thiên chúa khác” nơi một con người hoặc nơi vật chất như người Do Thái trong Cựu Ước đã đúc ‘bò vàng” để thờ như thờ Thiên Chúa. Xã hội chạy theo sức hấp dẫn của đồng tiền. Của cải và quyền lực lên ngôi. Thang giá trị đạo đức bị đảo lộn. Người ta tìm mọi cách kiếm tiền để có quyền. Khi có chức quyền thì càng kiếm được nhiều tiền. Đồng tiền đang trở thành một quyền lực chi phối toàn bộ đời sống con người. Ai cũng muốn có nhiều tiền. Để có nhiều tiền, nhiều người đã không từ chối một phương cách nào: lường gạt, lừa đảo, làm hàng gỉa, buôn bán ma túy, tham nhũng, hối lộ… Tiền bạc qủa là một cơn cám dỗ đang làm chao đảo thế giới, tàn phá những gía trị, biến chất con người. Trong xã hội đó, nhiều người Công Giáo cũng bị cuốn hút vào ma lực của đồng tiền, nên dễ đánh mất Niềm Tin, xa rời Giáo Hội.

–         Gian dối và lừa lọc lên ngôi

Thách đố thứ hai của Đức Tin, đó là xã hội Việt Nam đang báo động bởi đầy dẫy những bất công, lạm quyền và giả dối lan tràn. Đạo đức suy thoái, lương tâm và nhân phẩm bị xúc phạm. Mấy câu thơ sau đây có thể tóm tắt thực trạng xã hội:

Nhân phẩm ngày nay giảm giá rồi,

Chỉ còn thực phẩm tăng giá thôi,

Lương tâm bán rẻ hơn lương thực,

Chân lý chân giò một giá thôi.”

Sống trong môi trường như thế, nhiều người lập luận: người ta gian dối mà mình trung thực là mình thua thiệt! Có những người Công Giáo cũng hành xử như người không tin, cũng lừa lọc, gian lận đủ cách để làm sao mình có lợi.

–         Sự đề cao hưởng thụ cá nhân

Chúng ta đang phải đối diện với một nền văn hóa bị thống trị bởi lối sống hưởng thụ ích kỷ. Trong đó, con người chạy theo lối sống hưởng thụ cá nhân, biến người khác thành một món hàng để chiếm đoạt và mua bán. Tương quan yêu thương và nhân bản bị xếp sau tương quan trao đổi và lợi ích kinh tế. Xã hội này đã sinh ra những đứa con “quái thai” trong cách sống: bằng mọi cách để kiếm tiền và hì hục hưởng thụ! Khi sống theo lối sống này, con người trở nên ích kỷ, quy ngã, hời hợt, và ít quan tâm đến người khác, thiếu khả năng liên vị, không biết tôn trọng và yêu thương người khác. Quan sát cách hành xử của người Việt Nam ở nơi công cộng và nhất là khi tham gia giao thông, sẽ thấy người ta tranh giành nhau, chụp giật và manh mún theo kiểu mạnh ai người ấy thắng, cá lớn nuốt cá bé. Cách sống nói lên não trạng và tâm tính con người. Đó là một tình trạng đáng buồn cho xã hội Việt Nam hôm nay!

– Chủ trương duy tương đối

Còn có một thách đố lớn hơn đối với Đức Tin mà Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI luôn cảnh báo, đó là chủ trương duy tương đối. Chủ trương này khiến cho con người hôm nay không còn muốn chấp nhận các chân lý tuyệt đối nữa, không quy chiếu và sống theo một chuẩn mực luân lý hay giá trị đạo đức khách quan nào nữa. Tất cả là tương đối và mỗi người có thể thay đổi các chân lý và sống theo những chọn lựa và chuẩn mực cá nhân. Đây là sai lầm căn bản dẫn đến những sai lầm khác của con người hôm nay. (x. Những thách đố đối với Đức Tin trong xã hội hôm naylamhong.org).

Những lối sống và não trạng trên đã và đang len lỏi vào các ngõ xóm, các xứ đạo của chúng ta.

  1. Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô

Mỗi ngày sống là thời gian và cơ hội quý báu giúp mọi Kitô hữu “tái khám phá hành trình Đức Tin để luôn làm nổi bật niềm vui và lòng hăng say mới của việc gặp gỡ Đức Kitô” đồng thời, “khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát vọng tuyên xưng Đức Tin trong sự toàn vẹn và với niềm xác tín được đổi mới, trong niềm tín thác và hy vọng” (Tự sắc Porta Fidei, số 2 và 9).

Đức Giáo Hoàng Biển Đức dạy : Cần phải tăng cường việc cử hành Đức Tin. Cử hành đức tin là tuyên xưng, sống và làm chứng cho Đức Tin. Tuyên xưng Đức Tin như Kinh Tin Kính dạy và như Hội Thánh công bố. Tuyên xưng Đức Tin trong mọi hoàn cảnh sống khi an vui, hạnh phúc và thành công, cũng như khi đau khổ, bệnh tật, thất bại hay khủng hoảng. Cử hành Đức Tin bằng việc nhiệt thành dấn thân thực hiện công cuộc truyền giáo với cách thức mới mẻ và hiệu năng hơn. Cử hành Đức Tin bằng sự chuyên cần cử hành và lãnh nhận các bí tích. Cử hành các bí tích là cử hành mầu nhiệm các đức tin, nhất là bí tích Thánh Thể và Hòa Giải.

Đức Tin là hồng ân vô giá mà Thiên Chúa đã ban tặng. Đức Tin là “cửa” mở ra, đưa chúng ta đi vào đời sống kết hiệp thân tình với Thiên Chúa và bước vào Hội Thánh của Người. Nhờ sức mạnh đức tin tôn giáo, các Thánh Tử Đạo khi bị bắt, bị kết án nên đã không chối đạo, không bước qua Thánh giá. Các Ngài đã bị hành hạ, bị kết án tử hình bằng nhiều hình thức hung bạo dã man nhưng các Ngài không bị khuất phục, không nhường bước, không thỏa hiệp để được sống thảnh thơi.Tiền bạc không làm cho các Ngài mù tối. Khổ đau không làm cho các Ngài chùn bước. Nhục hình không làm cho các Ngài ngã qụi. Thậm chí ngay cả cái chết cũng không uốn cong được lòng trung tín của các Ngài. Và chính dòng máu của các Ngài đổ ra như những hạt giống gieo vào lòng đất đã trổ sinh một Giáo hội Việt Nam phong phú như hôm nay.

Đức Tin bừng lên mãnh liệt trong mầu nhiệm tự huỷ và hiến dâng. Mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam là dịp để học hỏi nơi cuộc đời chứng nhân của các Ngài. Chúng ta được tiếp thêm sức mạnh Đức Tin để sống đạo giữa biết bao thách đố của thời đại hôm nay. “Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô, xây dựng trên nền tảng Đức Kitô và được củng cố trong đức tin” (Cl 2, 7), chúng ta sẽ được tràn đầy sức mạnh Đức Tin.

 

BỊ BÁCH HẠI VÌ SỐNG CÔNG CHÍNH

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Bài Tin Mừng được chọn để đọc trong ngày lễ kính Các Thánh Tử Đạo được trích từ bài giảng trên núi chương 05 Phúc Âm Mát-thêu, mà chúng ta vẫn quen gọi là ‘Tám Mối Phúc’; mối phúc cuối cùng trong danh sách đó là: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ’. Trong sách Tin Mừng Lu-ca chương 06, dù chỉ đề cập tới có 04 mối phúc, nhưng mối phúc sau chót cũng vẫn nói tới cùng một điều này là: “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa. Ngày đó anh em hãy vui mừng nhảy múa vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” (Lc 6:22) Phải chăng đó là lý do tại sao các Ki-tô hữu từ thời xa xưa đã dành cho các vị anh hùng tử đạo một sự mừng kính đặc biệt trân trọng; họ gán cho các ngài danh hiệu cao quý là Chứng Nhân Tin Mừng (Martyrs). Ngày nay trong tư cách con cháu của các Anh Hùng Tử Đạo, chúng ta muốn thực sự tìm hiểu các vị tử đạo nói chung, và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam nói riêng, đã là các chứng nhân Tin Mừng như thế nào? Ta cần biết: khi tiến ra pháp trường để bị trảm quyết các ngài đã thật sự trung kiên bảo vệ điều gì; và ở điểm nào các ngài thực sự liên quan tới người Công Giáo Việt Nam chúng ta đang sống trong xã hội hôm nay?

Trong tiếng Việt, chữ ‘đạo’ thường được chúng ta sử dụng để nói tới một đạo giáo, một tôn giáo, như Đạo Phật, Đạo Hồi, Đạo Lão, Đạo Ông Bà, Đạo Thiên Chúa… Thế nhưng theo nguyên ngữ hán-nôm, ‘đạo’ là con đường, là lẽ sống, là học thuyết… dẫn tới mục đích tối hậu của cuộc sống, chẳng hạn đạo Khổng, đạo hiếu, đạo làm người. Đức Giê-su đã tự giới thiệu mình “là đường, là sự thật và là sự sống”; nếu nói theo từ vựng hán nôm Người sẽ phải tuyên bố: Người chính là ‘đạo, chân, sinh’. Vậy thì, trong cả phúc âm Mát-thêu lẫn Lu-ca, khi đề cập tới mối phúc chót này, Đức Giê-su chắc chắn không hề có ý muốn tuyên bố ‘phúc thay’ những ai dám chết cho một đạo giáo hay tôn giáo, nhất là hiểu dưới khía cạnh cơ cấu tổ chức của tôn giáo đó. Điều mà Đức Giê-su muốn biểu dương là: tất cả mọi hình thức ‘bị bách hại’, ‘bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa…’ đều là ‘phúc’ vì một yếu tố duy nhất, đó là ‘vì sống công chính’, hay rõ hơn: ‘vì Con Người’.

Tới đây tôi gợi nhớ lại tư tưởng bài suy niệm về đoạn Tin Mừng Lc 18:9-14 của Chúa Nhật XXX thường niên năm C: ‘Đối với Đức Giê-su, ai mới là công chính?’ Nếu đã có một nền công chính của Cựu Ước tóm gọn trong luật Mô-sê để bẩy anh em nhà Ma-ca-bê, vị bô lão Ê-lê-a-da, và Gio-an Tiền Hô vì trung thành với nó, đã buộc phải gánh lấy cái chết…; ‘các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế’, thì riêng với Ki-tô hữu sẽ có một thứ công chính mới được chính Đức Giê-su công bố. Nói đúng ra: chính Người là hiện thân của nền công chính đó, sự công chính của Thiên Chúa từ nhân, công chính của tình yêu tha thứ và cứu độ. Ai đón nhận và sống Tin Mừng này, tức là ‘Vì Con Người’ như Người khảng định, để rồi ‘bị bách hại’ hay chịu thua thiệt dưới bất cứ hình thức nào, đều là những người được Đức Giê-su biểu dương; những ai bị giết chết vì nền công chính mới này thì phải được chính Đức Ki-tô và toàn Nhiệm Thể Người tuyên phong ‘chứng nhân’ (martyr). Chính vì thế mà Hội Thánh ngay từ buổi sơ khai và qua mọi thời đại, đã có thói quen phong thánh cho các vị anh hùng ‘tử vì đạo’; qua việc đó Giáo Hội muốn tuyên bố rằng: các anh chị em tín hữu này là chứng nhân cho Tin Mừng tình yêu vì đã dám chấp nhận thua thiệt lớn hơn hết là mất cả mạng sống mình. Với việc phong thánh như thế Giáo Hội đồng thời cũng muốn khảng định bất cứ thua thiệt nào các Ki-tô hữu phải hứng chịu trong cuộc sống thường ngày vì ‘sống công chính mới’ đều có giá trị vô song và đáng biểu dương.

Suy nghĩ như thế tôi mới thấy rằng: có một liên hệ mật thiết giữa các chứng nhân ‘tử vì đạo’ với mỗi Ki-tô hữu chúng ta. Các ngài không phải là những trường hợp biệt lệ để các tín hữu có ‘may mắn’ được sống trong thời đại an bình nhìn vào mà thán phục mà ca ngợi, mà mơ ước rằng: nếu chẳng may lâm vào cơn cấm cách, mình cũng sẽ trung thành như các ngài. Đức Giê-su đã chẳng gọi tất cả mọi Ki-tô hữu là ‘ánh sáng’, là ‘muối men’ của trần gian, là chứng nhân Tin Mừng là gì? Có thể Người hàm ý: chứng nhân tích cực rao giảng Tin Mừng thì ít, nhưng chứng nhân vì buộc phải chấp nhận các thua thiệt, khó khăn vì nền công chính Tin Mừng trong đời sống thường ngày thì nhiều. Vì thế thật là chí lý: các ‘Thánh Tử Đạo’ được coi như tấm gương, như cột sống của Ki-tô hữu qua mọi thời đại, thời buổi bị bắt bớ thử thách cũng như khi được sống an bình sung túc.

Là người Công Giáo Việt Nam, chúng ta luôn tự hào vì Giáo Hội Việt Nam đã có hàng trăm ngàn các chứng nhân Tin Mừng như thế, trong số đó 117 vị đã được toàn Nhiệm Thể Đức Ki-tô phong thánh. Vấn đề được đặt ra là: phải chăng các ngài đơn thuần chỉ tạo nên nơi chúng ta một niềm kiêu hãnh mang tính lịch sử, hay đã trở thành cột sống, thành cơ bắp thúc đẩy chúng ta sống công chính Tin Mừng cách cụ thể trong đời sống thường ngày? Thua thiệt vì Tin Mừng thì thời đại nào cũng có, kể cả trong các xã hội được coi là phồn vinh dễ dãi và tự do; thế thì các ‘Thánh Tử Đạo Việt Nam’ đóng góp được gì cho người Công Giáo Việt Nam chúng ta trong xã hội được cho là ‘dễ dãi thuận lợi’ hơn hôm nay? Phải chăng chỉ là một khích lệ trung kiên nào đó sẵn sàng chiến đấu chống lại mọi thế lực thù nghịch khi cần, hay để kiên trì ‘sống công chính’ khi ‘bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa…’ ngay trong đời sống xã hội thường ngày?

Ngày mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay sẽ không mấy ý nghĩa, nếu mỗi người không tìm ra được câu trả lời cho vấn nạn này!

Lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, các ngài đã chịu bách hại vì dám chấp nhận ‘sống công chính’ để phải chấp nhận những từ bỏ tới độ anh hùng. Nếu Hội Thánh đã tuyên phong cái chết anh hùng của các ngài thì đồng thời cũng tuyên phong vô vàn những tủi hổ, thiệt thòi của biết bao tín hữu anh hùng vô danh khác. Tất cả các điều này không nằm ngoài mục đích thôi thúc mỗi người Công Giáo Việt Nam chúng con sẵn sàng hơn trong việc, cùng với Đức Ki-tô thập giá tha thứ và yêu thương ngay giữa lòng xã hội hôm nay, chấp nhận mọi thử thách gian nan. Xin các ngài tiếp tục trở nên chứng nhân Tin Mừng cho chúng con về một tình yêu tha thứ tuyệt đối. A-men.

 

LÀM CHỨNG CHO TÌNH YÊU

Văn Hào

Một lãnh tụ vô thần đã tuyên bố: “ Chúng ta hãy triệt phá Giáo hội, nhưng đừng tạo ra những vị tử đạo”. Khi tuyên bố như thế, một cách mặc nhiên ông ta công nhận điều mà Thánh giáo phụ Tertulianô đã nói là đúng :“ Máu các Thánh tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu”. Hôm nay, chúng ta mừng kính các Thánh Tử đạo tại Việt Nam. Máu các Ngài đã đổ ra năm xưa, dệt nên những trang sử oai hùng giữa lòng dân tộc. Chúng ta kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ cái chết của các bậc tiền bối cha ông và mở lòng đón nhận sứ điệp về ơn gọi tử đạo mà các Ngài chuyển giao cho con cháu là chúng ta ngày hôm nay.

Lược sử Giáo hội Việt Nam qua dòng thời gian

Hạt giống đức tin đã được gieo vào mảnh đất quê hương Việt Nam từ hơn 500 năm trước. Trong suốt chiều dài lịch sử, Giáo hội Việt Nam đã trải qua hơn 100 năm sống trong bách hại. Sắc dụ cấm đạo đầu tiên được ban hành năm 1625, kéo dài đến hết thời Văn Thân năm 1886. Hàng vạn con người đã ngã xuống do sự thù ghét. Thế gian ghét đạo, ghét Đức Giêsu và ghét luôn những môn đệ của Ngài. Đây chính là điều mà Chúa Giêsu đã cảnh báo từ 2000 năm trước (Mt 5, 11; 10, 22 ). Trong số các anh hùng Tử đạo, đã có 118 vị được ghi tên trong sổ bộ các thánh, gồm 117 hiển thánh và một chân phước. Có 97 vị là người Việt Nam, 11 vị Tây Ban Nha, và 10 vị người Pháp. Họ thuộc đủ các giai tầng xã hội, gồm 8 Giám mục, 50 linh mục, 15 thầy giảng, 1 chủng sinh và 44 giáo dân. Trong số giáo dân, có cả những vị làm quan trong triều đình, có vị làm nghề thu thuế, làm binh lính, y sĩ hoặc chỉ là nông dân quèn. Dù là người Việt Nam hay ngoại quốc, các Thánh Tử đạo đều nói lên một chứng từ duy nhất, đó là các Ngài làm chứng về Đức Giêsu chịu hiến tế, như Thánh Phaolô đã khẳng quyết: “ Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh vào Thập giá”. Cái chết của các Ngài là bài giảng sống động nhất và thâm thúy nhất. Họ rao giảng không phải trên lý thuyết, nhưng bằng chứng tá cụ thể, những chứng tá sống động và rất sâu xa. Có 6 loại án được thực hiện để hành quyết các vị tử đạo: Bá đao (cắt thân thể thành trăm mảnh) có 1 vị; Lăng trì (chặt chân tay, mổ bụng và vất xuống sông) có 4 vị ; Thiêu sinh (đốt sống) có 6 vị; Xử giảo (xiết cổ bằng dây) có 2 vị ; Xử trảm (chém đầu) có 75 vị và chết rũ tù có 9 vị. Vị Tử đạo lớn tuổi nhất là linh mục Vũ Bá Loan 84 tuổi và trẻ nhất là chủng sinh Tôma Thiện 18 tuổi. Trong thời Trịnh Nguyễn từ năm 1745 đến năm 1774 có 4 vị. Thời vua Cảnh Thịnh (1788 – 1801 ) có 2 vị. Dưới thời Minh mạng (1820 – 1840) có 58 vị tử đạo. Trong thời Thiệu Trị từ năm 1841 đến 1847 có 3 vị và thời Tự Đức từ năm 1847 đến 1883 có 50 vị. Đó là phác lược tổng quát các mốc điểm thời gian và bối cảnh dẫn đến cái chết của các Thánh Tử đạo. Nhìn lại một cách thoáng chung lịch sử của Giáo hội Việt Nam, chúng ta tạ ơn Chúa vì gia sản đức tin mà cha ông đã để lại. Gia sản đó được đan dệt bằng máu và nước mắt, đúng như lời quả quyết của thánh Tertulianô: “ Máu các vị tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu.”(sanguis martyrorum semen christianorum est)

Ý nghĩa của việc tử đạo

Triết gia Jean Guitton, bạn thân của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ nhị có kể lại một giai thoại. Hồi còn rất nhỏ, ban đêm ông ngủ với mẹ. Nhà hàng xóm bên cạnh có người chết. Giữa đêm khuya vắng bỗng có tiếng khóc ai oán vang lên nghe thật não nuột. Đứa bé sợ, ôm chầm lấy mẹ và hỏi: “ Mẹ ơi, chết là gì hả mẹ?” Bà mẹ trẻ lúng túng không biết trả lời thằng bé thế nào. Bà ngồi bật dậy mở Kinh thánh ra đọc. Trong Tin mừng Gioan, bà đọc thấy đoạn sau: “ Trước lễ vượt qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13,1)”. Gấp sách lại, bà nói với đứa con: “Con ơi, chết là trở về với Chúa Cha và yêu thương đến cùng. Đây là hai chiều kích đặc thù nơi cái chết của Đức Giêsu, vị tử đạo đầu tiên, và cũng được lập lại nơi cái chết của các Thánh tử đạo tại Việt nam. Các Ngài đã chết để trở về nhà Cha và hoàn tất cuộc hành trình yêu thương của mình nơi trần thế. Họ ý thức Lời Chúa dạy: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Nếu được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn, nào có ích gì?” (Mc 8, 35-36)” . Thánh Phaolô Đạm nói trước tòa án Nam Định: “ Nếu tôi có hai linh hồn, tôi sẽ bán một cái cho ma quỷ để cho các ông vui lòng, nhưng tiếc quá tôi chỉ có một linh hồn, nên tôi không thể bỏ mất”.

Nhưng trên hết, hành vi Tử đạo luôn hàm ngậm ý nghĩa của việc làm chứng. Hạn từ Marturion theo nguyên ngữ Hi Lạp cũng mang chở ý nghĩa này. Các Ngài chết để làm chứng, nhưng không phải làm chứng cho một chế độ, một chủ nghĩa, nhưng làm chứng cho một con người. Con người đó chính là Đức Giêsu, một Thiên Chúa làm người đã can đảm đón nhận cái chết khủng khiếp giống một tên cướp, để khai mở cho chúng ta chân trời ơn cứu độ. Các Thánh Tử đạo đã dùng máu của mình để làm chứng cho Đấng mà các Ngài tin theo.

Sống ơn gọi tử đạo ngày hôm nay

Trong đại hội tu sĩ trẻ thế giới tổ chức tại Rôma đầu tháng Chín vừa qua. Ban tổ chức đã dành một tiếng đồng hồ để các tu sĩ đặt câu hỏi và Đức Thánh Cha trực tiếp trả lời. Có một anh em tu sĩ dòng DonBosco đến từ Syria đứng lên phát biểu và hỏi Ngài vài điều. Đức Thánh Cha sau khi trả lời đã hỏi ngược lại: “Con từ đâu đến đây ?”. Vị tu sĩ trẻ nói là Ngài đến từ Syria. Đức Thánh Cha mở to đôi mắt nhìn vị linh mục và nói với cử tọa: “Chúng con hãy cầu nguyện cho các vị tử đạo hiện nay tại Iraq và Syria”. Cả hội trường xúc động vì tình hình chiến sự đang xảy ra rất khốc liệt tại Trung Đông, khiến bao nhiêu Kitô hữu bị giết, nhiều gia đình ly tán, các nhà thờ bị đốt phá, cả trăm ngàn người dân vô tội phải trốn tránh hoặc đi tị nạn.

Như vậy, ngày hôm nay vẫn còn các vị tử đạo, những con người bị thù ghét vì lý tưởng và niềm tin của mình. Nhưng hiểu theo nghĩa rộng hơn, sống mầu nhiệm tử đạo không phải là chuyện viễn tưởng xa vời. Đó chính là bản chất ơn gọi gắn liền với căn tính Kitô hữu chúng ta. Chúa Giêsu đã nói “ Ai muốn theo tôi phải bỏ mình vác thập giá hằng ngày mà theo tôi”(Mc 8,34).

Hầu hết các quốc gia trên thế giới ngày nay đã bãi bỏ án tử hình, và cũng tôn trọng tự do tôn giáo, ít nhất là trên lý thuyết. Việc đàn áp tôn giáo với những màn tra tấn, tống ngục hay giết chết đang dần bị con người ngày hôm nay đào thải, vì nó đi ngược với khái niệm về nhân quyền mà xã hội luôn đề cao. Tuy nhiên lời mời gọi của Đức Giêsu đi vào mầu nhiệm tự hủy để sống ơn gọi tử đạo vẫn luôn mang tính thời sự cho tất cả mọi người thuộc mọi thời đại, vì nó là thuộc tính nơi cuộc sống của những học trò Đức Giêsu. Ơn gọi Kitô hữu luôn hàm ngậm cái chết. Cái chết trên Thập giá theo gương Đức Giêsu là đích điểm mà tất cả mọi người chúng ta phải vươn tới. Văn hào Goethe đã viết: “ Làm một việc hy sinh to lớn trong khoảnh khắc thì dễ, chỉ cần chút can đảm nhất thời, nhưng thể hiện những hy sinh nho nhỏ và liên tục trong suốt cuộc đời thì khó hơn nhiều”. Đó là cái chết tiệm tiến, từ từ trong cuộc sống đức tin để sao chép lại chính cái chết của Đức Giêsu. Mô thức ơn gọi tử đạo của tất cả chúng ta hôm nay là như thế. Chúng ta phải đi sâu vào cái chết không đổ máu, không xích xiềng hay tù ngục qua cuộc sống hằng ngày và một cuộc sống như vậy chính là để làm chứng cho tình yêu.

Kết luận

Để kết luận, xin trích mượn tư tưởng của thánh Charles de Faucauld. Ngài nói: “ Ở đời này chúng ta chỉ có thể ôm lấy Chúa Giêsu bằng cách ôm trọn Thập giá của Ngài. Ta không thể yêu mến Thập giá mà lại không có Chúa Giêsu bị đóng đinh nằm ở trên. Đồng thời chúng ta cũng không thể ôm lấy Chúa Giêsu mà lại vắng bóng Thập giá”. Hoa hồng là biểu tượng của tình yêu. Cánh hoa hồng càng rực rỡ càng có nhiều gai nhọn ẩn sâu bên dưới. Cũng vậy tình yêu đến thật nhiều xuyên qua đau khổ. Con đường đau khổ dẫn đến Thập giá, chính là con đường của ơn gọi tử đạo, con đường của tình yêu. Cũng như thánh Têrêsa hài đồng Giêsu đã viết: “Sống bằng tình yêu không phải là định cư mãi với Chúa Giêsu trên đỉnh núi Tabor giữa những vinh quang sáng chói, nhưng là còn phải trèo lên đỉnh Calvê để ôm nhận Thập giá như một kho tàng”. Sống ơn gọi tử đạo là như thế.

 

SỐNG LÀ CHẾT

Lm. Jos. DĐH

Tục ngữ có câu : chết vinh hơn sống nhục, nếu lập lại câu đó trên môi miệng, không khó đối với con người ở mọi lứa tuổi. Sống, chết, xưa nay ai mà chẳng coi đó là qui luật, còn chết anh hùng hay sống hèn nhát, thì tùy tự do chọn lựa của mỗi cá nhân. Đồng ý rằng chết già cũng gọi là chết, chết trẻ cũng gọi là chết, tuy không có kinh nghiệm nhưng ai chẳng sợ chết ! Thực ra, sống là chết, hiểu theo nghĩa đen hay nghĩa bóng, thì sống xa hoa hay sống nhiệm nhặt rồi cũng chết. Sống mỗi năm, mỗi tháng mỗi ngày, ai cũng phải già đi, phải tiến tới cái chết theo qui luật : sinh lão bệnh tử.

Con người tự nhiên, ai cũng ngại nói tới chết, có chăng nghĩ tới sự chết là dịp tốt để người ta sống nghiêm túc, sống để không phải hối tiếc khi nhắm mắt xuôi tay. Với người tin Đức Kitô, yêu mến Đức Kitô, nếu được phúc chết vì bảo vệ đức tin gọi là tử đạo, vinh dự đó quá lớn, nên khổ đau thập giá không hề nhẹ. Khi không đặt tình yêu nơi Thầy Giêsu, người ta sẽ cho rằng Ông Giêsu thật vớ vẩn, tại sao Ông lại nói : “ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai ghét mạng sống mình ở đời này, sẽ giữ được nó trong cuộc sống đời đời” ?

Làm sao chúng ta có thể tìm ra những người không sợ chết, không sợ đau khổ ? nếu không có niềm tin Kitô giáo, sẽ không có chuyện bảo vệ hay trân trọng truyền thống đức tin cho hậu thế. Và mãi mãi, chúng ta không thể hiểu, vì sao lại có những con người bất thường, dám từ chối bổng lộc, mạng sống, để nhận lấy cái chết vì tình yêu Đức Kitô. Sống đức tin Kitô giáo đâu phải tự tìm lấy cái chết như con “thiêu thân”. Cũng không phải là tìm cách ẩn náu để bảo toàn mạng sống, mà là theo Chúa Kitô, sẵn lòng trở nên mục nát như hạt lúa gieo vào lòng đất.

Nếu không có tin yêu, hay thiếu ơn Chúa, cha ông ta đã chối bỏ Đức Kitô, các ngài sẽ nói, chúng tôi đâu có dại khờ đến độ chấp nhận bản án chết, vừa đau khổ thân xác vừa uổng phí cuộc đời ? Có thể cảnh máu chảy đầu rơi vẫn đáng sợ đối với con người mọi thời đại, nhất là tội nhân. Tuy nhiên, người vô tội, người có tình yêu thương, người có Đức Kitô, hẳn sẽ không sợ, vì ở trong Đức Kitô mọi người là “bất tử”. Niềm tin và tình yêu đã ghi dấu Đức Kitô trong tâm hồn người Kitô hữu, sống chứng nhân Tin mừng và sống đức yêu thương chính là ơn gọi nên giống Chúa Kitô.

Khi đưa ra lý chứng về hạt lúa được gieo vào lòng đất, Chúa Giêsu đã cho chúng ta một qui luật về “được, mất”, về một sự tự do : yêu hoặc ghét, mà mỗi chúng ta đang chọn lựa. Thực tế, ai trong chúng ta cũng muốn mình thành công, hạnh phúc, nên ước mơ, lời nói, người ta đều giống nhau, duy có việc làm là khác nhau. Nếu người Kitô hữu chỉ tìm sống cho cái tôi ích kỷ của mình, hẳn người ấy đang mất đi tình hiệp thông của Đức Kitô, sẽ chết vì cô đơn, vì thiếu tình yêu thương.

Người Kitô hữu chúng ta dành tháng 11 hàng năm để hiệp thông cầu nguyện cho người đã khuất. Xã hội hôm nay dành chúa nhật tuần thứ ba của tháng 11 để cầu nguyện, tưởng nhớ đến những người chết vì tai nạn giao thông. Thật ra thì, dù tin hay không, người sống cũng vẫn nhớ tới người chết, và kẻ chết có biết hay không, người sống vẫn bày tỏ hoa nến nhang đèn như câu tục ngữ : sống khôn chết thiêng. Là con cháu của các thánh tử đạo, hẳn chúng ta có quyền tự hào về tính anh hùng của các ngài trước sự chết, có thể lịch sử giai đoạn đó khác với chúng ta hôm nay, nhưng sống niềm tin vẫn là ơn gọi căn bản của người Kitô hữu chúng ta.

Sống là chết, liệu có mâu thuẫn đối với chúng ta không ? Sống lười biếng, sống hưởng thụ có phải là đang tiến tới cái chết thật phí phạm không ? Người xưa nói rằng : anh hùng chỉ chết một lần, kẻ hèn nhát lại chết vô số lần. (Shakespeare). Cái chết anh hùng là cái chết khôn ngoan, vì niềm tin, vì tình yêu Đức Kitô, đúng hơn họ không chết mà là đang sống. Ngày hôm nay, người đời vẫn kính phục những vị anh hùng, dám hy sinh xương máu để bảo vệ đất nước quê hương. Và đến mọi thế hệ, không ai lại kính trọng người hèn nhát, người chỉ lo tìm hưởng thụ cho lợi ích cá nhân.

Khi mạng sống bị đe dọa, bằng bất cứ giá nào, người ta cũng tìm cách để khỏi chết và bảo toàn được mạng sống của mình. Người không có niềm tin cho rằng sống chết là do số mệnh; kẻ bi quan nói rằng, đằng nào cũng chết, vì thế hãy hưởng thụ, kiêng khem tử tế rồi cũng đem chôn. Kitô giáo chúng ta tin rằng : Thiên Chúa là chủ sự sống; Chúa Giêsu thì nói : “ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó”. Tin theo Chúa, dù không phải chết tử đạo như cha ông chúng ta, nhưng mỗi người đều được trở nên giống Đức Kitô, nghĩa là phải chết đi trong tính hư nết xấu của mình. Là con cháu, không phải chúng ta chỉ ăn quả nhớ kẻ trồng cây, hay uống nước nhớ nguồn, mà mỗi người phải ý thức di sản đức tin chúng ta đang có là do tiền nhân đã sống, đã chết vì yêu Chúa, yêu hậu thế chúng ta hôm nay. Nhớ đến các ngài, cũng là lời nhắc nhớ sống đức tin, và hiệp thông với các ngài tiếp tục sống đức yêu thương. Amen.

AI LIỀU MẤT SỰ SỐNG MÌNH VÌ TÔI

Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc

Cùng với toàn thể Giáo Hội, trong Thánh Lễ này, chúng ta mừng kính trọng thể Các Thánh Tử Đạo Việt Năm. Cụ thể, có tất cả 96 vị thánh tử đạo: 37 thánh tử đạo linh mục và 59 thánh tử đạo giáo dân, nam và nữ. Các vị đã được Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô phong thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Như chúng ta vừa nghe, đa số các thánh tử đạo là giáo dân nam và nữ. Vậy chúng ta hãy cầu xin cho Giáo Hội và nhất là cho tất cả các Ki-tô hữu, là chính chúng ta, có được niềm xác tín tuyệt đối nơi tình yêu muôn ngàn đời bền vững của Thiên Chúa dành cho chúng ta, bất chấp mọi sự, theo gương của các thánh tử đạo. Như lời thánh Phao-lô nói:

Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.

  1. “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”

Hôm nay, trong Thánh Lễ này, Đức Giê-su mời gọi một lần nữa với từng người trong chúng ta một cách đặc biệt. Một cách đặc biệt, đó là bởi vì, chúng ta là nòi giống, là con cháu, là hoa trái của máu các vị thánh Tử Đạo, mà chúng ta mừng kính hôm nay. Vì thế, chúng ta được mời gọi sống và làm chứng cho Tin Mừng đến mức độ anh hùng, theo gương của các Thánh Tử Đạo của chúng ta.
Tuy nhiên, tất cả chúng ta, sống ơn gọi gia đình hay ơn gọi tu trì, đều cảm thấy lời mời gọi này của Đức Giê-su thật khó hiểu: tại sao lại phải từ bỏ chính mình? Tại sao lại phải vác thập giá hằng ngày? Và không chỉ khó hiểu, nhưng còn khó sống nữa. Khó hiểu và khó sống, nhất là trong bối cảnh của thời đại chúng ta; bởi lẽ, thời này, người ta, và có khi là chính chúng ta nữa, ưa chuộng và tìm cách tôn vinh bản thân mình, hơn là từ bỏ chính mình, ưa chuộng và tìm cách hưởng thụ những lạc thú, hơn là vác thập giá của mình hằng ngày vì lòng mến Đức Ki-tô và để đi theo Đức Ki-tô.
Nhưng kinh nghiệm sống của các Thánh Tử Đạo, của các bậc cha anh, của cha mẹ chúng ta, và của chính chúng ta nữa, cho thấy rằng lời gọi này của Đức Giê-su chỉ có thể hiểu được và sống được trong tương quan giao ước mà thôi, giao ước của chúng ta với Chúa và giao ước của chúng ta với nhau. Giao Ước hiểu theo nhiều cấp độ khác nhau, đó là hôn phối, lời khấn, cam kết, tuyên hứa, hay đơn giản là bổn phận hay tình bạn. Trong khi đó, con người thời nay, lại không thích sống theo giao ước, nhưng chuộng sống theo cảm xúc, vui thì ở, còn buồn thì đi, thì đoạn tuyệt.
Thật vậy, để sống với nhau và sống cho nhau, trong gia đình hay trong cộng đoàn tu trì theo giao ước, chúng ta luôn phải ra khỏi mình để hướng về người khác, phải quên đi chính mình để lo cho người khác, phải mang vào mình những khó khăn và khổ đau, phải trung thành với nhau và với ơn gọi khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi thành công cũng như lúc thất bại, khi vui cũng như lúc buồn, khi thấy nhau dễ thương cũng như lúc thấy nhau khó thương.
Cách sống này có vẻ khắc khổ, sầu bi, đầy vất vả và đau khổ, nhưng nếu được sống bằng tình yêu, sự trung tín, lòng mến, tình thương, tình bạn, thì một cách sống như thế sẽ biến thành niềm vui và hạnh phúc sâu xa và bền vững. Như thánh Au-gus-ti-nô nói, trong tình yêu thì không có đau khổ; và nếu có đau khổ, thì đau khổ này đã được yêu rồi.

  1. “Còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”

Nhưng lời của Đức Giê-su còn đi xa hơn nữa: “Còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”. Chúa mời gọi chúng ta đi theo con đường của Chúa, và chúng ta có thể tự do ưng thuận hay không. Nhưng hậu quả rất là nghiêm trọng và không thể đảo ngược được, đó là mất đi sự sống hay cứu được sự sống mãi mãi. Sự sống của chúng ta, dù có cố giữ lấy hay cho đi, thì rốt cục cũng sẽ qua đi. Và Đức Giê-su mời gọi chúng ta lựa chọn con đường cho đi vì Chúa và theo gương của Chúa, để có thể nhận lại sự sống.

Cho đi sự sống để nhận lại sự sống, điều này vừa khó hiểu và vừa vừa khó sống. Tuy nhiên, đó lại là qui luật muôn đời của chính sự sống và ai trong chúng ta cũng biết và thậm chí có kinh nghiệm về qui luật này của sự sống.

– Đó là hạt lúa mì, vốn phải chịu chôn vùi và nát tan, để nẩy mầm, lớn lên và trổ sinh nhiều hạt khác.

– Đó là sự cho đi chính bản thân mình của cha mẹ, để sự sống được lưu truyền nơi những người con. Điều này đặc biệt đúng nơi những người mẹ: người mẹ phải cho đi chính máu thịt, chính sự sống của mình khi cưu mang sự sống mới, là đứa con; và nhất là khi có những người mẹ, phải hy sinh sự sống của mình để sinh con.

– Đó là đời dâng hiến, là sự hy sinh cuộc đời của các linh mục, tu sĩ nam nữ, để chính Thiên Chúa làm phát sinh ra hoa trái sự sống gấp trăm nơi nhiều người.

  1. Qui luật muôn đời của sự sống

Để cho sự sống được tiếp tục, được sinh sôi, để phục vụ cho sự sống, phải chia sẻ, trao ban, cho đi và hi sinh chính sự sống của mình. Đó chính là qui luật muôn đời của sự sống. Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa cũng không đi con đường lạ lùng nào khác ngoài con đường muôn đời của sự sống, nghĩa là con đường của hạt lúa mì: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều…, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại”; và Ngài vẫn trao ban sự sống của mình cho chúng ta hằng ngày trong Thánh Lễ, dù chúng ta có như thế nào.

Như thế, lời của Đức Giêsu không chỉ là một thách đố tận cùng, nhưng còn là Tin Mừng tận cùng; vì Ngài hứa với chúng ta rằng con đường của hạt lúa mì, qui luật muôn đời của sự sống, chính là con đường đạt tới sự sống mới, phong phú và viên mãn, con đường nhận lại sự sống từ chính Nguồn Sự Sống là Thiên Chúa hằng sống.

* * *

Và đó cũng là niềm xác tín của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, mà chúng ta mừng kính hôm này. “

Ai liều mất mạng sống mình vì tôi,
thì sẽ cứu được mạng sống ấy.
Đó hiển nhiên là lời hứa ban lại sự sống ở đời sau. Nhưng sức mạnh và niềm vui của Sự Sống mới mai sau, đã được chúng ta cảm nghiệm một cách vừa cụ thể vừa sâu xa ngay hôm nay rồi, và ngay trong hành vi cho đi vì lòng mến Đức Ki-tô.

 

CHẾT VÌ YÊU

Huệ Minh

“Lửa thử vàng, gian nan thử sức !” Ông bà ta vẫn thường nói như thế trong cuộc sống thực tại. Đó thực tại trong cuộc sống và đúng với thực tại của cuộc sống. Còn đó, bên cạnh thực tại của đời sống con người chính là đời sống, sức sống của niềm tin. Để chứng minh niềm tin của mình, có khi người ta không phải chỉ minh chứng bằng lời nhưng có khi còn phải trả bằng một cái giá rất đắc đó chính là máu của mình, là mạng sống của mình nữa.

Trang sách Maccabêô quyển thứ hai khá quen thuộc với người Kitô hữu chúng ta, nhất là khi chúng ta kính nhớ đến các anh hùng tử đạo. Câu chuyện trong sách thuật chuyện một người đáng kính, từ chối không ăn thịt heo cho dù phải chết. Ông được nhiều người quý mến nên đổi thịt heo thành thịt mà luật cho phép ăn, rồi đề nghị ông giả vờ ăn thịt heo để thoát chết. Êlêazarô từ chối mánh khóe để được sống này, vì khi làm như vậy gây gương xấu cho thế hệ tương lai. Thế hệ trẻ đâu biết đó không phải là thịt heo, nên tưởng rằng Êlêazarô tham sống sợ chết mà vi phạm luật Chúa.

Thái độ sống của Êlêazarô rất trong sáng, rất tự do ngay cả đối với cái chết. Ông cũng là người cho thấy tình yêu và trách nhiệm đối với thế hệ tương lai. Nơi con người mỏng dòn, Thiên Chúa đã và đang làm những điều tuyệt vời.

Và, ta thấy không chỉ mình Êlêazarô mà còn nhiều nữa những người đã minh chứng niềm tin và tình yêu của mình với Thiên Chúa.

Có lẽ, vị tử đạo anh hùng nhất trong lịch sử Kitô giáo có lẽ là Đức Giêsu. Đức Giêsu đã minh chứng tình yêu, niềm tin của mình với Cha bằng cái chết và cái chết nhục hình trên thập giá.

Máu của Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá đã nảy sinh thêm nhiều hạt giống tử đạo khác nữa. Người được phúc tử đạo tiên khởi sau cái chết của Chúa Giêsu đó chính là anh chàng Stêphanô. Trong việc đổ máu của người vô tội này, có sự góp công của chàng trai trẻ là Phaolô.

Ta lại đi tiếp và ta thấy sau khi ngộ ra được Đấng Cứu Độ trần gian, chính Phaolô đã quay trở lại và đã hy sinh cả cuộc đời mình để minh chứng cho tình yêu Giêsu.

Và dần dần, dòng máu tử đạo cứ lan tràn để rồi hạt mầm của đức tin đã nảy nở khắp thế gian.

Hạt giống đức tin cũng đã được đưa vào đất nước Việt Nam. Và rồi, sự dữ, sức mạnh của thế gian muốn bóp nghẹt hạt giống đức tin để rồi có nhiều cuộc bách hại về đức tin. Thế nhưng, ta lại thấy các bậc cha ông của chúng ta đã can đảm chấp nhận chết để minh chứng cho niềm tin và tình yêu vào Thiên  Chúa.

Cái chết của các ngài, làm rạng danh gia tộc, giúp cho những người con người chồng người vợ nhìn lên tấm gương của những bậc cha anh thân yêu mà phấn đấu sống cho nên người và nên người con ngoan của Chúa. Các thánh tử đạo là những người ảnh hưởng rất lớn trên thế hệ tương lai mà nhiều người không thấy rõ điều này, khi cho rằng các ngài chết thì đâu có dạy dỗ hoặc ảnh hưởng gì được trên ai. Nơi các anh hùng tử đạo, lời dạy không bằng ngôn từ nhưng bằng chính cuộc sống. Và chúng ta biết, lời bằng hành động hay cuộc sống thì có sức thuyết phục hơn lời nói nhiều.

Niềm tin vào Chúa, đặc biệt ta thấy mãnh liệt nơi cuộc đời của Thánh Phaolô. Tâm tình của Thánh Phaolô trong trang thư của Ngài gửi tín hữu Roma ta thấy quá tuyệt vời. Dòng thư ấy cho ta thấy xác tín của thánh Phaolô. Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, và không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức GiIêsu. Bằng cớ cho thấy Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, đó là Ngài đã ban chính Con Một Ngài cho chúng ta. Nếu Thiên Chúa ban chính Con Một Ngài cho chúng ta, thì Ngài còn tiếc gì với chúng ta nữa?

Không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Không phải vì chúng ta yêu Thiên Chúa đến độ không có gì tách chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa, nhưng vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Thiên Chúa giữ chúng ta trong tình yêu của Ngài. Nếu chính Thiên Chúa giữ, thì ai giựt chúng ta ra khỏi tay Thiên Chúa được? Nếu chỉ là bản thân con người ghì chặt Thiên Chúa, thì người mạnh hơn có thể giựt họ ra được, nhưng đây chính Thiên Chúa giữ. “Không ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Yêsu Kitô”. Không ai, cho dù đó là thiên thần hay quỷ dữ, bất cứ quyền lực nào cũng không thể làm điều này, vì Thiên Chúa là Đấng vô cùng mạnh.

Vì tin vào Thiên Chúa yêu thương tôi, nên tôi vững dạ an tâm, nên tôi ung dung thư thái bất chấp tất cả. “Nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, chính là Chúa”. “Đức Chúa là ánh sáng và Đấng cứu độ tôi, tôi còn sợ chi ai, tôi còn kinh khiếp chi ai”! Chính Thiên Chúa làm cho các thánh tử đạo trung thành với Ngài, cho dù “kiếm sắc, đầu rơi, gươm đao, xá gì”. Thiên Chúa là Đấng trung thành, Ngài sẽ hoàn tất những gì Ngài đã khởi sự nơi chúng ta.

Và, ta vẫn nghe đâu đó phảng phất trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nói trong tin mừng theo thánh Luca: “ai muốn theo Ta, phải bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”. Theo Đức gIêsu, là một thái độ sống liên lỉ chứ không chỉ là một hành vi riêng lẻ một lần cho tất cả. Để có thể có hành vi dám chết cho tình yêu, các anh hùng tử đạo đã luôn chết cho chính mình trong cuộc sống hằng ngày để sống cho Chúa trong từng hành vi sống của mình.

“Được lời lãi cả thế gian, mà phải mất mạng sống mình, thì ích gì?” Điều quan trọng là phải sống. Nhưng nếu chỉ sống một trăm năm, mà phải khổ nhục vĩnh viễn thì ích lợi gì? Sự khôn ngoan đi kèm với hành vi anh hùng nơi các thánh tử đạo. Các thánh tử đạo, là những người khôn ngoan, anh hùng và đức hạnh. Các ngài là những người dám sống và dám chết cho tình yêu. Các ngài chọn đời sống vĩnh cửu hơn đời sống chóng qua này.

Lời mời gọi tử đạo vẫn còn vang vọng trên cuộc đời, trong cuộc đời của chúng ta. Không còn đổ máu đào như xưa nhưng chúng ta đổ máu cho những hy sinh, cho những từ bỏ của chúng ta để minh chứng tình yêu, niềm tin của chúng ta vào Chúa.

Nói như Thánh Phaolô : “Không có gì tách tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa” xem ra rất dễ nhưng để sống tâm tình cũng như xác tín đó hoàn toàn không dễ. Ta lại chạy đến để xin Chúa thêm ơn cho ta để ngày mỗi ngày ta sống gần Chúa hơn, bám vào Chúa hơn, theo sát Chúa hơn để rồi tình yêu của ta và Chúa ngày mỗi ngày gắn kết hơn. Có như thế, ta mới mong được hưởng triều thiên tử đạo như các bậc tiền nhân của chúng ta.

 

TỬ ĐẠO GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Dã Quỳ

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà con người đề cao chủ nghĩa cá nhân, một thời đại mà người ta cạnh tranh nhau quyền cao chức trọng ở mọi lãnh vực, một xã hội mà quyền lợi cá nhân, hưởng thụ và  sở hữu được ưa chuộng. Hôm nay, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta “Từ bỏ chính mình, liều mất mạng sống…” để theo Chúa, điều này nghe ra thật phi lý và ngược đời! Thế nhưng, sẽ thật có lý và hợp với đời của một Kitô hữu vì đó là điều kiện tiên quyết để bước theo Chúa. Lời Chúa và mẫu gương của chính Chúa đã hy sinh mạng sống cho nhân loại, và của các Thánh Tử Đạo Việt Nam sẽ là một bảo đảm minh chứng cho chúng ta.

Đường Trần Gian – Đường Thập Giá.

Cuộc đời được ví như một hành trình. Hành trình  này chẳng thẳng ngay và không hề nhẹ nhàng êm ái. Lớn hay nhỏ đang sống trong trần gian, chúng ta đều cảm nhận trần gian đầy đau khổ và nước mắt, chẳng thế mà nhạc sĩ nào đó đã viết” Đường nhân gian đày ải chông gai, ai chưa qua chưa phải là người!” Giàu cũng khổ mà nghèo thì khốn khổ hơn! Tiền bạc, chức vị cũng không làm cho người ta hạnh phúc  và cũng không mua được bình an. Đau khổ như là một  thập giá gắn liền với đời người dù người đó có là môn đệ Chúa Kitô hay không.  Thập giá đến với mỗi người mỗi cách khác nhau. Thập giá ấy có thể là từ trong những bất toàn của bản thân, trong bệnh tật, trong khó khăn của cuộc sống. Thập giá cũng có thể là từ những nghịch cảnh  thông thường của cuộc đời…

Với người Kitô hữu, chúng ta sẽ gặp thập giá trong cuộc đời khi sống trung thành với giáo huấn của Chúa và Hội Thánh. Thập giá đến khi ta sống ngay thẳng trong buôn bán, thật thà và công bằng trong kinh doanh hay trong giao tiếp. Người ta có thể cho là ta điên rồ, ngược đời hay ngu xuẩn thậm chí bị loại trừ. Thập giá đến với ta trong những chọn lựa từ bỏ mình để yêu thương đón nhận tha nhân ngay cả khi họ vu oan, ghen ghét, làm hại ta…Và thập giá cũng sẽ được ta đón nhận khi ta biết cố gắng sống theo Lời Chúa dạy, biết sửa mình, ăn năn sám hối về những tính hư, nết xấu và tội lỗi của ta để xứng đáng là con cái Chúa.

Đường Thập Giá – Đường Tử Đạo.

Khi thập giá đến, chắc hẳn chẳng ai trong chúng ta sẵn sàng đón nhận hay dễ dàng để ôm lấy. Đã là thập giá, thường ta luôn cảm thấy nặng nề, khó vác. Đôi khi ta không dám nghĩ tới và muốn tránh bởi không ai thích đau khổ, thất bại, bị loại trừ, nghịch cảnh, thất vọng chán nản…Và hơn thế nữa, Satan cũng tìm đủ cách lôi chúng ta xa thập giá, vì nó không muốn ta đi vào con đường của Chúa.

Lời Chúa tha thiết mời gọi ta:” Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Từ bỏ chính mình, không đơn giản chút nào! Từ những cái rất nhỏ trong cuộc sống: người mắng ta một câu, ta muốn đáp lại hai, ba câu. Nhưng từ bỏ mình là bỏ qua, là chấp nhận lời nói không tốt đó và đáp lại bằng lời yêu thương, lời hòa giải. Khó lắm, nó đau ở trong lòng và như nuốt cục phèn vậy, nhưng nếu ta làm được, ta sẽ cảm nhận ngọt ngào trong tâm hồn. Từ bỏ mình trong những chọn lựa theo Tin Mừng, sống yêu thương, tha thứ sẽ như là những cuộc tử đạo âm ỉ từng ngày chứ không chỉ một lần. Trong cuộc sống với những bôn ba cho cơm áo gạo tiền, nhiều khi đặt ta trước những chọn lựa theo công bằng, bác ái đòi ta phải hy sinh mối lợi, mất miếng ăn để chu toàn luật Chúa. Ta sẽ đau lắm và dằn vặt nhưng  với ơn Chúa, ta chọn lựa tử đạo khi mất lợi danh và có khi mất cả mạng sống. Tôi nghĩ đến một người đàn ông Công Giáo, đã làm việc thật tốt trong một công ty sản xuất. Thế rồi, vì sống ngay thật, không theo những mánh khóe gian dối với đồng nghiệp nên anh đã lãnh nhận hậu quả là bị hại chết ngay trong chuyến công tác xa, sau bữa ăn cùng nhóm đồng nghiệp ấy. Ta có thể đi vào đường tử đạo khi sống trung thành với Chúa Kitô để bảo vệ sự sống, như một chị y tá nọ sau nhiều năm học tập, chị được chọn vào làm trong một bệnh viện lớn. Thế nhưng, ngay ngày thứ hai đi làm, người ta yêu cầu chị tham gia vào ca phá thai. Chị từ chối, lập tức người ta sa thải chị. Chị mất việc mà chị đã tốn nhiều công sức tiền của để có được. Chị đã vác  thập giá cùng với Chúa Kitô! Để chọn lựa vác thập giá hàng ngày, chọn lựa tử đạo suốt đời, ta không thể thực hiện với sức riêng nhưng phải cậy nhờ ơn Thánh và nếu ta tin tưởng cậy dựa vào Chúa, Ngài sẽ luôn giúp ta vì: ” Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách”(1Cr 1,4).

Đường Tử Đạo – Đường Tới Vinh Quang.

Ngày nay, trên quê hương chúng ta ít có những cuộc cấm hay bách hại đạo như xưa cha ông ta đã trải qua. Nhưng lại xuất hiện nhiều hơn những dịp thử thách về đức tin tinh vi mà nếu không tỉnh thức, ý thức và có một tâm hồn bén nhạy thì ta sẽ dễ đi vào việc chối đạo, phản đạo và bỏ Chúa qua chính cách sống, lời nói và việc làm của ta. Các Thánh Tử đạo Cha ông chúng ta đã kiên trung thực thi Lời Chúa dạy:” Ai liều mất mạng sống mình vì tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy”(Lc 9, 24). Các ngài yêu Chúa hơn yêu mạng sống mình như lời nói và máu đổ ra của Thánh Phaolo Khoan  “Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa và Chúa Cả Trời đất, con xin dâng mạng sống cho Ngài”. Có vị thánh đã từ bỏ chức quyền để giữ vững đức tin và linh hồn như thánh Hồ Đình Hy là quan lớn, thánh Phạm Trọng Tả là chánh tổng nhưng các Ngài chọn Chúa hơn là địa vị ở trần gian. Các ngài chọn gia nghiệp Nước Trời hơn là sản nghiệp trần thế nay còn mai mất“Ai khôn mới biết hiến mình cho chân lý để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời”(Thánh Phêrô Truật). Các ngài không dẫm lên Thập giá Chúa Kitô nhưng anh dũng bước đi trên đường Thập giá vì các ngài  xác tín chỉ qua Thập giá mới tới Vinh quang và cuối đường, chính Chúa Kitô đón các ngài vào hưởng vinh quang hạnh phúc với Người trong Nước Trời, như sách Khôn Ngoan nói:”Người đời nghĩ rằng họ bị trừng phạt, nhưng họ vẫn chan chứa niềm hy vọng được trường sinh bất tử. Và Đức Chúa sẽ là vua của họ đến muôn đời”(Kn 3,4.8)

Trải qua suốt ba thế kỷ bách hại, đã có cả trăm ngàn anh em Kitô hữu chết vì đạo. Gương chứng nhân Đức Tin và lòng hy sinh mạng sống vì Chúa Kit-tô và vì Tin Mừng của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam cha ông ta, sẽ là mẫu gương và niềm hãnh diện lôi cuốn chúng ta can trường sống chứng nhân giữa đời thường và dám chọn sống, chết vì đạo. Từ dòng máu anh hùng của cha ông, từ những khổ đau, những đắng cay của các ngài, ta có được hạt giống đức tin hôm nay. Vậy thập giá là một phần quan trọng của đời Kitô hữu và chính Chúa Giê-su đã không khước từ thập giá vì đường thập giá-đường tử đạo mới là đường dẫn tới vinh phúc: “…Người vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người…”(Pl 2,6-11). Lao nhọc, đau khổ, nghịch cảnh, hy sinh, chiến đấu và tử đạo…cần thiết để trở thành một phần của đời người môn đệ Chúa Kitô. Ước gì khi sống giữa đời, mỗi Kitô hữu chúng ta cũng tin tưởng thưa lên như thánh Phaolô “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy…Trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta”(Rm 8,35-37). Để rồi chúng ta dám sống vì Chúa, chọn lựa theo Chúa, trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh và can trường chết vì Chúa trong những dịp tử đạo giữa đời thường. Vì ” Ai liều mất mạng sống vì Ta và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.”(Mc 8,35).

Nguyện xin Thần Khí Chúa ban ơn khôn ngoan và sức mạnh giúp chúng con biết chọn lựa sống vì Chúa, vì Tin Mừng. Và xin dạy chúng con biết yêu thập giá là dấu chỉ của chiến thắng, của vâng phục, của tình yêu và của con đường dẫn đến ơn cứu độ. Amen.

 

DŨNG CẢM LÀM CHỨNG CHO CHÚA HÔM NAY

Lm. Đan Vinh

  1. LỜI CHÚA: Chúa phán: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10,32-33).
  2. CÂU CHUYỆN: CUỘC TỬ ĐẠO CỦA THÁNH ANRÊ TRẦN AN DŨNG LẠC

TRẦN AN DŨNG LẠC sinh năm 1795, gia đình ngoại giáo nghèo khó ở Bắc Ninh. Lớn lên, cậu theo cha mẹ đến xứ Kẻ Chợ sinh sống. Tại đây, cậu được một Thầy giảng nhận làm con nuôi và cho ăn học. Cậu được chịu phép rửa tội và nhận tên thánh là Anrê. Sau đó cậu đáp lại ơn gọi dâng mình cho Chúa và theo học tại chủng viện Vĩnh Trị. Thầy Anrê Dũng được thụ phong linh mục vào năm 1823 khi mới có 28 tuổi. Từ khi thụ phong linh mục, cha Anrê được sai đi giúp xứ. Ở đâu cha cũng nêu gương sáng đạo đức qua cuộc sống khổ hạnh. Ngoài những ngày ăn chay theo luật định, Cha còn tự nguyện giữ chay thêm suốt cả Mùa Chay và các ngày thứ Sáu thứ Bảy hàng tuần. Nhờ đời sống đơn sơ khiêm hạ và khắc khổ như vậy, nên cha đã gây được thiện cảm của những người chung quanh và thành công trên bước đường tông đồ: Qua cha, nhiều tội nhân đã được ơn giao hòa với Chúa và nhiều người lương đã tin theo Chúa và xin gia nhập đạo Công giáo.

Trong thời gian đạo Công giáo bị bách hại gắt gao thời vua Minh Mạng, cha Anrê Dũng đã phải trốn lánh nhiều nơi. Một lần kia ở Kẻ Roi, khi vừa dâng lễ xong thì bị quan quân vây bắt và được giáo dân chuộc về. Sau đó cha đã đổi tên Trần An Dũng thành Trần An Lạc. Lần thứ hai cha bị bắt ở xứ Kẻ Sông khi đang xưng tội với cha Phêrô Thi. Hai cha bị quan quân đòi tiền chuộc tới 200 quan tiền. Nhưng giáo dân chỉ quyên góp được một nửa số tiền nói trên, nên chỉ mình cha Lạc được thả. Rồi sau đó cha lại bị đám quân lính khác bắt mang về huyện giam chung với cha Phêrô Thi và cả hai được áp giải về Hà Nội.

Hôm sau, quan án cho điệu hai cha ra công đường tra xét và bắt phải bước qua Thánh Giá để bày tỏ ý định bỏ đạo. Nhưng thay vì làm theo lệnh quan, hai cha lại cùng quì xuống hôn kính Thánh Giá và nói: “Không bao giờ chúng tôi chối Chúa và bỏ đạo cả. Chúng tôi đã suốt đời hy sinh vất vả đem Chúa đến cho người khác, thì lẽ nào bây giờ lại hèn nhát chối bỏ Chúa!”. Trước sự bất tuân của hai cha, quan tức giận sai lính đem nhốt các ngài vào ngục thất và làm thành án gửi về Kinh. Suốt thời gian ở trong tù, hai cha luôn cầu nguyện và ăn chay hãm mình, xin Chúa cho được ơn bền đỗ đến cùng. Tuy giáo dân được phép thăm nuôi hằng ngày, nhưng hai cha yêu cầu họ đừng đem đồ ăn ngon đến, và nếu bữa nào có thịt cá thì các ngài lại cho các bạn tù hoặc lính canh.

Ngày 21 tháng 12 năm 1839, hai cha đã chính thức nghe án lệnh xử trảm của nhà vua. Rồi các ngài bị điệu ra pháp trường Cầu Giấy ở Hà Nội. Đến nơi, các ngài cầu nguyện ít phút, rồi cúi đầu cho lý hình dễ dàng thi hành phận sự. Đức Thánh Cha Lêô 13 đã tôn phong các ngài lên hàng Chân Phước tử đạo vào ngày 27 tháng 05 năm 1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã suy tôn hai ngài lên bậc hiển thánh.

  1. THẢO LUẬN:

1) Tại sao đạo Công giáo thường hay bị người đời thù ghét bách hại?

2) Tử đạo là sẵn sàng hy sinh chịu chết để làm chứng cho Chúa (x. Cv 1,8). Vậy các tín hữu chúng ta sẽ phải dũng cảm làm chứng cho Chúa thế nào trong xã hội Việt Nam hôm nay ?

  1. SUY NIỆM:

1) SỐ LIỆU CÁC ANH HÙNG TỬ ĐẠO VIỆT NAM: Ngay từ thời Giáo Hội Sơ Khai, các tín hữu đã phải chịu chung số phận với Thầy Giê-su là bị cấm cách, bắt bớ và giết hại. Thời nào và nơi nào đạo được truyền tới cũng đều có các vị anh hùng tử đạo. Tại Việt Nam, theo sử liệu, đạo Chúa đã được truyền giảng từ thế kỷ thứ 16. Và suốt thời gian gần 300 năm sau đó, luôn bị đàn áp bách hại với những cảnh đầu rơi máu chảy! Sau Hội Thánh Rô-ma thì có lẽ Hội Thánh Việt Nam đã dâng cho Chúa được nhiều thánh tử đạo hơn cả! Người ta ước tính có tới hằng trăm ngàn người Công giáo đã bị giết hại vì đức tin dưới các triều đại nhà Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và bị các phong trào Cần Vương Văn Thân đàn áp bách hại. Trong số đó, 117 vị đã được Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II tôn phong lên bậc hiển thánh và được mừng chung trong niên lịch toàn thể Hội Thánh. Trong số này có: 8 Giám mục, 50 Linh mục, 16 Thầy giảng, 1 Chủng sinh và 42 Giáo dân. Các ngài đã chịu nhiều cực hình như: 79 vị bị trảm quyết (chém đầu): 16 vị bị xử giảo (treo cổ); 8 vị bị chết rũ rù do đói khát bệnh tật khi bị giam trong ngục; 6 vị bị thiêu sinh (chết thiêu trong hỏa lò).

2) LÝ DO CÁC NGÀI BỊ VUA QUAN BÁCH HẠI:

Các thánh Tử Đạo bị vua quan và dân chúng thời đó thù ghét đàn áp giết hại không phải vì các ngài là những kẻ xấu làm điều gian ác, nhưng chỉ vì các ngài đã tin vào danh Đức Giê-su và đã dũng cảm tuyên xưng đức tin ấy, thể hiện qua thái độ bất khuất, không chịu bước qua thập giá theo lệnh vua quan, hầu ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã tiên báo: “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thóat” (Mt 10,22).

Đàng khác, vua quan và dân chúng thù ghét và ra tay bách hại các tín hữu là do hiểu lầm về giáo lý của đạo khi cho rằng theo đạo là vọng ngọai, là bất hiếu vì phải bỏ việc thờ cúng ông bà tổ tiên, đang khi thực ra không phải như vậy: điều răn thứ tư trong mười điều răn của đạo Chúa đã truyền dạy: con cái phải “thảo kính cha mẹ” và người tín hữu vừa phải chu tòan bổn phận thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất lại vừa phải tôn kính và tưởng nhớ cầu nguyện và tỏ lòng biết ơn ông bà cha mẹ khi các ngài còn sống cũng như khi đã qua đời.

Nhưng lý do chính yếu khiến vua quan và các phong trào Cần Vương Văn Thân thời đó thù ghét bách hại các tín hữu là do tự ái dân tộc và hiểu lầm về lòng yêu nước của các tín hữu: Họ sợ người theo đạo sẽ bị các thừa sai ngọai quốc xúi giục làm lọan, trong khi các vị thừa sai ngọai quốc đã dám bỏ quê hương và từ giã người thân đến vùng đất xa xôi và chấp nhận hy sinh ngay cả mạng sống là do đức tin và lòng mến Chúa thôi thúc. Các ngài chỉ muốn chu tòan sứ vụ loan báo Tin Mừng của Đức Giê-su: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28,19-20); “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8b). Và quả thật, lịch sử đã ghi nhận: các thánh Tử Đạo Việt Nam đã bị vua quan kết án chỉ vì đức tin mà thôi chứ không do tội phản lọan theo giặc làm loạn chống phá triều đình.

3) SỐNG CHỨNG NHÂN GIỮA ĐỜI THƯỜNG:

Bí quyết khiến các anh hùng Tử Đạo vượt qua gian nan thử thách là do các ngài biết “sống sự sống của Chúa Giê-su trong thân xác yếu hèn của mình”. Đức Giê-su đã hứa sẽ ban Thánh Thần giúp các môn đệ phải nói gì và nói thế nào khi bị điệu ra trước quan quyền (x Mt 10,19-20). Để được như vậy, các ngải đã phải mỗi ngày “chết đi cho bản thân”, và sống trong ơn nghĩa của Đức Giê-su.

Ngày nay có lẽ chúng ta không có cơ hội làm chứng cho Chúa như các thánh Tử Đạo cha ông, nhưng chúng ta vẫn có thể trở thành chứng nhân của Chúa ngay giữa cuộc sống đời thường hằng ngày trong gia đình và ngoài xã hội:

– Để có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đức tin khi cần, ngay từ bây giờ chúng ta đã phải quyết tâm sống đức công bình bác ái trong các giao tiếp với hàng xóm và làm ăn buôn bán nơi phố chợ.

– Để có thể dũng cảm làm chứng cho Chúa trước mặt người đời khi có dịp, ngay từ bây giờ chúng ta đã phải là những người chồng người vợ tốt lành, luôn chu tòan trách nhiệm lo cho gia đình, là những người con cháu có lòng hiếu thảo đối với các bậc tiền nhân ông bà;

– Để sau này có thể trở thành công dân của Nước Trời, thì ngay từ bây giờ chúng ta đã phải là những người công dân tốt, sẵn sàng chu tòan nghĩa vụ đối với quê hương và trở thành khí cụ bình an của Chúa bằng cách sống theo tinh thần của Kinh Hòa Bình… Nhờ đó chúng ta sẽ gây được thiện cảm đối với đồng bào lương dân cùng khu xóm với chúng ta.

  1. LỜI CẦU:

– Lạy Chúa, xưa Chúa đã dạy các môn đệ rằng: “Anh em sống giữa thế gian, nhưng không được theo thói thế gian”. Xin cho chúng con đừng bao giờ bỏ Chúa để chạy theo cám dỗ của thế gian, ma quỉ và chiều theo các đam mê xác thịt. Xin cho chúng con luôn ý thức rằng: “Con nhà tông không giống lông, cũng giống cánh”, để chúng con luôn xứng đáng là con cháu của các Anh Hùng Tử Đạo Việt Nam. Xin cho chúng con luôn chiếu ánh sáng tin yêu trước mặt người đời: Biết nở nụ cười khi tiếp xúc, sẵn sàng cởi mở đi bước trước để làm quen với những người mới gặp, mở miệng an ủi những ai đang gặp tai nạn rủi ro; biết khiêm hạ phục vụ tha nhân, đặc biệt phục vụ những người đau khổ bất hạnh đang cần được cảm thông trợ giúp.

– Hát chung Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người… “

X. HIỆP CÙNG MẸ MARIA.

Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *