Bài hát và Suy niệm (07.07.2019 – Chúa Nhật XIV Thường Niên năm C)

Lời Chúa: Is 66, 10-14c; Gl 6,14-18; Lc 10, 1-12

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca

1 Khi ấy, Chúa Giê-su chỉ định bảy mươi hai môn đệ khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. 2 Người bảo các ông :
“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. 3 Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. 4 Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. 5 Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói : “Bình an cho nhà này !” 6 Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy ; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. 7 Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. 8 Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. 9 Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ : “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.”

1. Thiên Chúa cần đến những con người.

2. Hãy đi giảng dạy

3. Bình an đích thực.

4. Người rao giảng

5. Người môn đệ

6. Truyền giáo bằng đời sống

7. Được sai đi loan báo Tin Mừng

1. Thiên Chúa cần đến những con người

(Trích dẫn từ ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’ – Achille Degeest)

Tuần tự theo sát bài đọc, chúng ta nhấn thêm vào mấy khía cạnh bản văn. Sứ mạng truyền giáo là khẩn thiết, vì lúa chín cần có những thợ gặt. Phải xin Chủ mùa sai thợ gặt đến. Sự truyền bá sứ điệp Phúc Âm giữa nhân loại gặp phải sức chống đối thù nghịch. Sứ giả Phúc Âm phải dốc toàn sức vào công việc tông đồ, không để bị vướng mắc bởi những quyền lợi vật chất và những quy ước xã giao (lời chào hỏi nói đến trong bài Phúc Âm ám chỉ nghi thức đông phương rườm rà làm mất thời giờ). Sứ điệp mang đến cho thế giới tin mừng bình an vì Nước Trời gần tới. Phúc thật cho nhà nào tiếp đón tông đồ của Phúc Âm. Vô phúc cho nhà nào từ chối sứ điệp vì trí óc và tâm hồn nhiễm khuynh hướng xấu.

Bài đọc gợi ý một số câu hỏi.

1) Chúa sai họ, từng toán hai người một, đi trước Người đến mọi thành thị nơi chốn Người định đến. Tại sao Chúa muốn cần đến những sứ giả? Tại sao Thiên Chúa không tỏ mình ra cho người ta? Dễ lắm, nếu được thế nhiều sự việc sẽ trở nên giản dị. Việc thiết lập Giáo Hội sẽ chẳng còn cần thiết, mỗi lương tâm sẽ đặt trước một sự lựa chọn rõ rệt và có trách nhiệm. Sở dĩ Thiên Chúa mặc lấy tính nhân loại trong con người Đức Giêsu và nói với con người qua Giáo Hội, vì Thiên Chúa tôn trọng quyền tự do của con người. Đức Giêsu Người-Chúa đã trở nên Thiên Chúa mà không xâm phạm bất cứ quyền tự do nào Người gặp thấy. Giáo Hội, một định chế vừa nhân bản vừa thần linh, phải có thần tính mà không xâm phạm bất cứ quyền tự do nhân loại nào trong thế giới mà Giáo Hội có sứ mạng cứu rỗi. Chúa muốn cần có những sứ giả bên cạnh nhân loại, bởi vì điều Giáo Hội đòi hỏi ở người ta là tự do đón nhận đức tin.

Sứ giả đức tin phải ý thức sáng suốt về vai trò mình. Đối với bản thân cũng như đối với người khác, phải tránh ràng buộc Phúc Âm vào những quyền lợi thế tục. Sứ giả đức tin không tìm kiếm trong Phúc Âm những quyền lợi thế tục, không rao giảng Phúc Âm như một giá trị hay một hệ thống văn minh. Điều ấy là phụ, tự nó sẽ đến. Những gì là thế tục, tài chính, kinh tế, đều không phải là công việc của người tông đồ.

2) Hãy chữa lành những bệnh nhân. Đã có một thời gian ngắn các tông đồ làm những việc chữa lành bệnh nhân như là những dấu chỉ, những điều lạ, để hậu thuẫn cho công việc rao giảng. Tuy nhiên sự chữa lành Phúc Âm đề nghị với mọi người ở một tầm cao khác. Sự rao giảng Phúc Âm phải gây ra trong người ta một ý thức có hai mặt: ý thức mình đau ốm, nghĩa là có tội – và ý thức mình được cứu rỗi nhờ niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. Từ quan điểm kép, Phúc Âm làm phát sinh mâu thuẫn bởi lẽ con người khó mà nhìn nhận rằng mình tội lỗi – và ơn cứu độ Phúc Âm đề nghị là sự chữa lành bằng thập giá, phương thức ấy khiến con người vấp phạm. Hạnh phúc thay kẻ nào đón nhận Phúc Âm.

2. Hãy đi giảng dạy 

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

“Hãy đi giảng dạy!”. Đó là câu châm ngôn của Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình mà Giáo Hội Việt Nam nói chung và Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã cử hành đại tang lễ. Ngay từ ngày thụ phong giám mục, Đức Tổng Giám Mục đã chọn cho mình câu châm ngôn “Hãy đi giảng dạy” cũng là mệnh lệnh truyền giáo của chính Chúa Giêsu. Đức Tổng Giám mục là một Giám mục truyền giáo. Quả thật, 40 năm kể từ ngày thụ phong Giám mục cho đến lúc từ trầ, Ngài đã thể hiện câu châm ngôn sống: “Hãy đi giảng dạy”. 40 năm, con đường thật dài và khúc khuỷu. Khúc khuỷu vì những biến động của thời đợi, khúc khuỷu vì những đổi thay của thể chế xã hội, chính trị và kinh tế. Và khúc khuỷu của lòng người vốn khó thăm dò. Nhưng dẫu khó khăn và khúc khuỷu đến đâu, Ngài vẫn Đi. Đi trong suy tư và cầu nguyện. Đi bằng thái độ hiền hòa, khiêm tốn và kiên nhẫn. Đi trong tin tưởng và phó thác. Và Đi để Giảng dạy. Vì xác tín rằng, ẩn bên trong những khúc khuỷu của thời đại và lòng người, vẫn là khát vọng được sống, sống mãnh liệt và phong phú. Và cũng xác tín rằng chỉ có Đức Kitô mới là Đấng đáp trả và đong đầy khát võng sống mãnh liệt ấy, nên Ngài không ngừng nỗ lực giới thiệu Đức Kitô cho mọi người.

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng là một Giáo hoàng truyền giáo. Ngài đã ra khỏi giáo triều ở Rôma nhiều nhất để đi đến với muôn dân trên khắp năm châu. Đến đâu Ngài cũng luôn rao giảng Tin Mừng Đức Kitô cho mọi người. Những chuyến công du mục vụ ấy đã cho Ngài thấy rằng: Mệnh lệnh “Hãy đi rao giảng Tin Mừng” của Chúa Giêsu chưa được các Kitô hữu thi hành. Đối với Đức Thánh Cha, vấn đề cấp bách là: phải đem Tin Mừng đến cho những vùng đất mênh mông chưa biết Chúa. Phải tái Phúc Âm hóa những vùng đất xa xưa đã một lòng tôn thờ Chúa nhưng nay đã lơ là, bỏ Chúa. Phải đem Tin Mừng thấm nhập các sinh hoạt xã hội loài người.

“Lúa chín đầy đồng, thợ gặt quá ít”. Một nhận định vừa hân hoan vừa báo động. Đối với chúng ta hôm nay là một lời báo động, vì nếu lúc chín vàng đồng mà gặt không kịp, lúa sẽ rụng hết. Một thực tế bi đát vì tình trạng thiếu thợ gặt so với cánh đồng lúa chín vàng bát ngát. Mười hai Tông đồ được sai đi, rồi lại thêm 72 môn đệ nữa, cũng chưa đáp ứng đủ yêu cầu. Các Giám mục, các linh mục, rồi các tu sĩ nam nữ cũng còn quá ít, cần phải có sự tiếp tay của các giáo dân nữa.

Vào tháng 10 năm 1987, Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới đã khai mạc tại Rôma. 232 Giám mục từ khắp năm châu kéo về Rôma để cùng nhau nghiên cứu vấn đề “ơn gọi và sứ mạng của người giáo dân trong Giáo Hội và trong thế giới ngày nay”. Vì là vấn đề liên quan đến giáo dân, nên bên cạnh các Giám mục, người ta còn thấy có 53 giáo dân: 27 nam và 26 nữ. Nếu chúng ta đối chiếu 12 Tông đồ với các Giám mục thì sự hiện diện của 27 ông và 26 bà trong Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới ở Rôma là một sự kiện mới mẻ, như trong Tin Mừng hôm nay: “Chúa Giêsu chọn thêm 72 môn đệ nữa”. Từ Thượng Hội Đồng nầy, một tông huấn mang tựa đề: “Ngừoi Kitô hữu giáo dân” đã được công bố. Trong đó, Đức Thánh Cha nói: “Giáo dân, vì là thành phần của Giáo Hội, nên mang ơn gọi và sứ mạng loan báo Tin Mừng. Các bí tích khai tâm kitô giáo và các ân huệ của Chúa Thánh Thần đã trang bị khả năng và thúc giục họ thi hành sứ vụ của mình” (số 33). Đức Thánh Cha còn nói: “Chắc chắn rằbg: mệnh lệnh của Chúa Giêsu ‘Hãy đi loan báo Tin Mừng’ vẫn mang giá trị trường tồn và đặt ra một cách cấp bách. Tuy nhiên, tình trạng hiện nay trong thế giới, đang đòi hỏi tuyệt đối phải thực thi mệnh lệnh của Chúa một cách khẩn trương và quảng đại hơn. Một người môn đệ đích thực của Chúa Kitô không có quyền từ chối lời đáp trả của riêng mình: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Cho hay, cái mới mẻ trong việc thực thi cuộc loan báo Tin Mừng là tất cả toàn dân Chúa, không phân biệt nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, mạnh yếu. Tất cả đều được sung vào việc tông đồ truyền giáo.

Trước tình trạng khẩn trương ngày nay, chúng ta đâu có quyền trông đợi những vị truyền giáo ở các nước ngoài đến giảng đạo cho chúng ta như ngày xưa đã đến giảng đạo cho ông bà chúng ta. Giờ đây, chính những linh mục đã được chọn giữa chúng ta cũng chưa bù đắp được gì cho số người đông đúc và đa dạng ngày nay. Vì thế, Đức Thánh Cha hô hào: “Giá dân ngày nay phải dấn thân vào công tác truyền giáo của Giáo Hội”. Thượng Hội Đồng Giám Mục đã định nghĩa vị thế độc đáo của người giáo dân giữa lòng Giáo Hội và giữa thế giới bằng hai mệnh đề như sau: “Giáo dân là ‘ người của Giáo Hội’ trong lòng thế giới”. “giáo dân là ‘người của thế giới’ trong lòng Giáo Hội”. Là người của Giáo Hội, người giáo dân phải đem Giáo Hội và Chúa Giêsu vào trong thế giới. Và là người của thế giới, giáo dân phải đem thế giới đến cùng Giáo Hội và Chúa Kitô.

Tông huấn “người Kitô hữu Giáo Dân” vẫn nhắc lại sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân của Công Đồng Vatican II để kêu gọi giáo dân ý thức nhiệm vụ làm tông đồ trong môi trường của mình. Chính người tín-hữu-thương-gia, tín-hữu-công-nhân phải đem Chúa đến và làm gương sáng cho anh em mình nơi đồng ruộng, ngoài thị trường, trong cơ quan xí nghiệp của mình. Hãy coi nơi mình đang ở, chỗ mình đang làm việc là những nơi Chúa sai mình đến “như chiên ở giữa đàn sói”, không phải để bị sói vồ chụp cắn xé, nhưng để biến sói thành chiên; không phải lấy sức mạnh đọ lại với sức mạnh, không phải dùng mưu mô đối lại với mưu mô, nhưng khí giới của chúng ta là khí cụ bình an và hiên hòa, theo gương cuộc sống của Đức Cố Tổng Giám Mục của chúng ta. Bởi vì Chúa không cho những người được sai đi mang theo gì cả, không được dự trữ tiền của hoặc võ trang tối thiểu để đối phó với mọi tình huốc trắc trở. Chúa muốn chúng ta phải đến với những người anh em mình một cách đơn sơ chân thành, không băn khoăn bối rối, không rào trước đón sau. Hơn nữa, còn phải loan báo Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh tật, nghĩa là phải lo cho anh em phần hồn, phần xác. Đi đến với người mạnh cũng như kẻ yếu; quan tâm đến tinh thần và cả đến đời sống vật chất nữa. Như vậy tức là để ý đến con người toàn diện và tất cả mọi người. Các người chung quanh chúng ta, bà con hàng xóm láng giềng, các bạn đồng nghiệp của chúng ta trong cơ quan, xí nghiệp nhất định sẽ tin vào Chúa Kitô, nếu chúng ta loan báo Chúa Kitô với tinh thần dịu hiền, vô vụ lợi, hoàn toàn phục vụ, phó thác vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Mọi người sẽ tin vào chứng ta của chúng ta khi thấy chúng ta sống yêu thương nhau, cộng tác với nhau cách chân tình, không ganh tị và định kiến, biết tôn trong chân lý và công bình, sẵn sàng phục vụ lợi ích chung của đồng bào và đất nước. Nhờ sự hiện diện và hoạt động tích cực giữa đời như vậy, anh chị em sẽ làm sáng danh Chúa và góp phần hữu hiệu vào việc xây dựng Nước Trời. Sống như thế, anh chị em mới có lý do chính đáng để hân hoan vui mừng, vì như Chúa đã bảo đảm: “Anh chị em hãy vui mừng vì tên tuổi anh chị em sẽ được ghi đậm nét ở trên trời”.

3. Bình an đích thực 
Vào năm 1980, có một tuần báo nọ tại Hoa Kỳ đã đăng tải một sự cố sau đây: Một người vừa mua hàng trong siêu thị xong, trở lại xe mình thì ngạc nhiên nhìn thấy một tờ giấy để lại nằm ngay trên chỗ ngồi của người lái, trên đó có những dòng chữ viết vội như sau:

Thưa ông bà, tôi có ý định đánh cắp chiếc xe này, nhưng khi nhìn thấy lời chào chúc của ông bà gắn nơi tay lái: “Bình an của Chúa ở cùng bạn”, thì tôi bỗng dừng lại và suy nghĩ. Ý nghĩ xuất hiện trong đầu óc tôi là nếu tôi đánh cắp chiếc xe này thì chắc chắn ông bà mất xe và không có sự bình an, tôi đây cũng sẽ không có sự bình an. Đây là lần đầu tiên tôi bước vào nghề ăn cắp xe.

Xin chúc ông bà và cho cả tôi nữa sự bình an của Chúa. Chúc ông bà lái xe an toàn và lần sau xin nhớ khóa cửa xe.

Ký tên: Người sắp trở thành kẻ trộm xe.

Câu chuyện nhỏ này làm chúng ta chú ý đến một trong những lời dạy của Chúa Giêsu cho các môn đệ khi sai họ ra đi truyền giáo đến trước những nơi mà Chúa sẽ đi qua để chuẩn bị cho Chúa đến: “Vào nhà nào chúng con hãy chúc: Bình an cho tất cả mọi người trong nhà này”.

Chỉ một khẩu hiệu dán nơi tay lái chiếc xe: “Cầu chúc bình an” mà bỗng tác động biến đổi ý định xấu của một người không làm việc xấu xa nữa, thì thử hỏi nếu những đồ đệ của Chúa, chính chúng ta đây, nếu chúng ta thực sự trở thành những dấu chỉ sự bình an của Chúa cho anh chị em, và không phải chỉ là dấu chỉ mà thôi mà còn là tác nhân sống động mang sự bình an của Chúa đến cho anh chị em xung quanh mà ta thường gặp hằng ngày; nếu chúng ta thực hiện được điều này thì thử hỏi ta có thể đóng góp phần tích cực của mình cho sự bình an của anh chị em nơi môi trường chúng ta sinh sống biết là chừng nào.

Lời Chúa dạy cho các đồ đệ chúc “bình an cho nhà này” là tiếng vang trước cho lời chúc bình an của Chúa Giêsu Phục sinh trước khi sai các tông đồ ra đi làm chứng cho Tin Mừng của Chúa: “Bình an cho chúng con”. Chắc chắn khi nghe những lời chúc của Đấng Phục sinh: “Bình an cho chúng con”, các tông đồ nhớ lại lời dạy trước lúc Phục sinh của Chúa, khi Chúa sai các ngài đi thực tập trước công việc truyền giáo mà các ngài sẽ chu toàn sau biến cố Phục sinh: “Vào nhà nào, chúng con hãy cầu chúc: bình an cho nhà này. Bình an cho chúng con”.

Chúa Phục sinh ban sự bình an thật cho các tông đồ, để các ông ra đi và đến phiên các ông, các ông cũng sẽ cầu chúc như Chúa đã chúc: “Bình an cho nhà này”. Các ông nói như Chúa đã nói, làm các công việc và những việc lạ như Chúa đã làm, hay đúng hơn theo như lời Chúa nói là hơn cả những gì Chúa đã làm nữa: “Bình an cho chúng con. Bình an cho nhà này”.

Ước gì mỗi người chúng ta được thật sự lãnh nhận ơn bình an của Chúa, ơn bình an mà Chúa đã phải chết trên thập giá để thực hiện cho chúng ta, cho tất cả mọi người. Ước gì mỗi người chúng ta trước hết lãnh nhận ơn bình an đó của Chúa và để cho ơn bình an, ơn cứu rỗi thánh hóa, biến đổi chúng ta để rồi chúng ta có thể nói và làm như Chúa đã nói và làm “Bình an cho nhà này. Bình an cho chúng con”.

Người truyền giáo phải là kẻ nói những lời bình an, thực hiện những sự bình an, trao ban sự bình an của Chúa cho anh chị em. Chúng ta cần kiểm điểm lại lời nói và việc làm của mình xem có phải là lời nói và việc làm như Chúa hay không? Đó là “Bình an cho anh chị em. Bình an cho nhà này”.

Chúng ta hãy đến lãnh nhận ơn bình an của Chúa: “Thầy ban cho chúng con bình an của Thầy”, để rồi chúng ta cũng có thể trao sự bình an đó cho anh chị em xung quanh.

Lạy Chúa, xin đừng chấp tội lỗi chúng con, nhưng xin thương ban bình an cho chúng con, cho Hội Thánh Chúa. Xin biến đổi mỗi người chúng con trở thành những chứng nhân của sự bình an, trở thành khí cụ bình an của Chúa để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem niềm vui đến chốn u sầu. Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa, bình an cho anh chị em, bình an cho chúng con, bình an cho nhà này. Amen. 

4. Người rao giảng 

Chỉ có mình thánh Luca ghi lại việc sai phái bảy mươi hai môn đệ đi trước sửa soạn cho Chúa Giêsu đến. Điều này phù hợp với việc Chúa kéo dài cuộc hành trình trên đường về Giêrusalem. Công tác của họ chỉ trong một thời gian hạn định, nhưng trong lời huấn thị đưa ra cho họ, Chúa Giêsu đã đưa ra những nguyên tắc căn bản áp dụng cho mọi thời. Trước hết Ngài tỏ cho biết lý do của sự lựa chọn họ: lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Trước khi thế gian nhận được sứ điệp họ mang tới, họ và những người kế vị họ phải tha thiết cầu nguyện với Chúa mùa gặt sai thợ đến. Đó là một lời cầu nguyện mà mọi kẻ phụng sự Chúa Kitô phải dâng lên tự đáy lòng mình. Lòng yêu mến của chúng ta đối với Chúa sẽ khiến chúng ta cố gắng hoàn thành công tác mau chóng hơn, và muốn được vậy cần phải có đông công nhân hơn.

Đối với người Do Thái, số bảy mươi hai là số biểu tượng. Đó là số các trưởng lão đã được lựa chọn để giúp đỡ lãnh tụ Môsê, với phận sự điều khiển, hướng dẫn dân chúng trong sa mạc. Đó là số thành viên của Hội đồng quốc gia. Nếu số bảy mươi hai chỉ đoàn thể nào trong hai đoàn thể đó thì họ cũng là phụ tá cho Chúa Giêsu. Số đó cũng được coi như số các nước trên thế giới lúc bấy giờ. Luca là người có tầm mắt quốc tế, có lẽ ông đang nghĩ đến một ngày mà mọi nước trên thế giới sẽ nhận biết và yêu mến Chúa Giêsu, như ông đang yêu mến Ngài vậy.

Đoạn Kinh Thánh cho ta biết mấy điều hết sức quan trọng về người truyền đạo cũng như thính giả.

1) Người rao giảng khi ra đi phải sẵn sàng chấp nhận sự hiểm nguy “như chiên giữa bầy muông sói”, nhưng họ cũng đừng để cho lòng bối rối vấn vương vào những sự thế tục. Sứ giả cần lên đường cách nhẹ nhàng.

2) Người rao giảng cần phải chú tâm vào bổn phận của mình, đừng phí thời giờ vào những nghi lễ lạt lẽo vô vị, nhưng phải ra đi như những con người được thúc giục bởi một động lực cao cả; “Người ấy không được chào ai dọc đường”; điều này nhắc lại lời tiên tri Êlisa bảo tên đầy tớ Giêkhađi đi giúp cho bà ân nhân đất Sunêm khi đứa con đã chết: “Hãy thắt lưng, cầm gậy của ta mà đi! Gặp ai thì đừng có chào, ai chào thì đừng đáp lại” (2V4,29). Đó không phải là dạy làm điều bất lịch sự nhưng là người của Thiên Chúa không nên quay ngang hoặc trì trệ vì những điều nhỏ nhặt đang khi những việc lớn chờ đợi kêu gọi mình.

3) Người rao giảng không nên làm việc để kiếm tư lợi. Người ấy nên ăn những món người ta dọn cho mình, không nên đi từ nhà này qua nhà khác cố ý tìm nơi dễ chịu hơn, đầy đủ tiện nghi hơn. Chẳng bao lâu sau khi Hội Thánh được thiết lập đã có những hạng người ăn bám. Cuốn “Giáo lý của mười hai tông đồ” được viết khoảng năm 100 là cuốn sách về trật tự Hội Thánh đầu tiên. Trong thời đó có những tiên tri đi lang thang từ thành này sang thành khác. Sách đã quy định rằng, nếu vị tiên tri nào muốn ở lại nơi nào lâu hơn ba ngày mà không có việc làm thì kẻ ấy là tiên tri giả, và nếu tiên tri nào xưng mình ở trong Thánh Linh mà xin tiền hay xin thức ăn thì kẻ ấy là tiên tri giả. Người thợ đáng lãnh tiền công, nhưng đầy tớ của Đấng chịu đóng đinh không thể là một kẻ say mê lạc thú.

Ngay từ khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, người Kitô hữu đã được Chúa Cứu Thế kêu mời thi hành sứ mệnh: “Hội Thánh nhân danh Thiên Chúa hết sức kêu mời tất cả các giáo dân, hưởng ứng sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, hãy mau mắn, đại độ và sẵn sàng đáp lại tiếng gọi của Chúa Kitô, Đấng giờ đây đang thiết tha mời gọi họ. Ước gì giới trẻ hiểu rằng lời mời gọi của Người được đặc biệt gởi tới họ và ước gì họ vui mừng quảng đại đón nhận. Quả thật chính Chúa Giêsu một lần nữa nhờ Thánh Công Đồng này, mời gọi tất cả các giáo dân hãy kết hợp với Người ngày một mật thiết hơn và nhận thức được những gì của Người cũng là của chính mình (Ph 2,5). Họ hãy tham gia vào sứ mạng cứu rỗi của chính Người và một lần nữa Ngài sai họ đi tới các thành và những nơi Người sẽ đến. Như thế giáo dân hãy chứng tỏ mình là cộng tác viên của Chúa Giêsu cộng tác vào cùng một công việc tông đồ của Giáo Hội bằng nhiều hình thức và phương tiện khác nhau. Những cộng tác viên phải luôn thích nghi với những đòi hỏi mới của thời đại và không ngừng ra sức phục vụ Chúa bởi biết rằng khó nhọc của mình không phải là uổng phí trong Người” (TĐ33).

Đức Kitô muốn thông ban cho các môn đệ lòng can đảm trong việc tông đồ nên khi Ngài nói “Ta sai các con” điều mà thánh Gioan Kim Khẩu chú giải: “Điều này đủ cho các ngươi được can đảm, điều này làm cho các ngươi được tin tưởng”. Các sứ giả được can đảm vì ý thức rằng mình được Thiên Chúa sai đi, như sau này Phêrô giải thích rõ ràng cho Thượng Hội Đồng ông hành động như thế nhân danh Đức Giêsu Nagiarét, “vì dưới gầm trời này không có danh nào khác khiến người ta được cứu rỗi”. Rồi thánh Grêgôriô Cả thêm vào để giải thích huấn thị của Chúa: Đừng mang bao bị giày dép, đừng chào hỏi ai dọc đường, Người rao giảng phải đặt niềm tin vào Chúa tới độ dầu không trang bị cho mình những nhu cầu để sống, vẫn xác tín rằng sẽ không thiếu. Thật thế, nếu Ngài bận tâm cho những sự thế tục, Ngài sẽ không thể ban phát chung quanh Ngài những sự trên trời. Truyền giáo đòi hỏi một sự hiến thân bao gồm sự từ bỏ, thế nên thánh Phêrô là người đầu tiên thực hành lời dạy của Chúa và đã nói với người hành khất ở Cửa Đẹp đền thờ: “Vàng bạc thì tôi không có”. Thánh Ambrôsiô thêm vào “không phải để phô trương sự nghèo khó, nhưng đúng hơn để vâng phục lệnh Chúa, dường như Ngài muốn bảo anh: Thấy tôi là một môn đệ của Đức Kitô mà anh lại xin tiền à? Chúng ta có thể cho anh ta cái gì còn có giá trị hơn vàng bạc nữa; quyền năng hành động nhân danh Chúa. Tôi không có cái mà Chúa Kitô không cho tôi, nhưng tôi có cái mà Ngài cho tôi: nhân danh Chúa Giêsu thành Nagiarét anh hãy dậy mà đi”. Do đó, việc truyền giáo đòi hỏi phải siêu thoát của cải vật chất, cũng như phải luôn luôn mau lẹ sẵn sàng vì công việc cấp bách.

“Đừng chào hỏi ai dọc đường”. Thánh Ambrôsiô tự hỏi “Sao lại thế? Chúa lại bỏ qua một việc xã giao thường tình? Nhưng phải để ý Chúa không bảo đừng chào ai nhưng bảo đừng chào ai dọc đường, không thừa đâu!

Khi tiên tri Êlia sai tên đầy tớ đi cứu giúp đứa con bà góa bằng cách để cây gậy của vị tiên tri trên đứa bé đã chết, ông cũng ra lệnh đừng chào hỏi ai dọc đường: Ông có ý bảo phải mau mau cứu bé sống lại, đừng để chậm trễ vì những người cùng đi đường với mình. Như thế không phải bỏ qua hết phép lịch sự xã giao, nhưng hạn chế những gì ngăn trở để việc phục vụ được mau lẹ. Khi Thiên Chúa đã bảo, điều gì thế tục phải tạm thời để qua một bên, chào hỏi nhau là tốt, nhưng tốt hơn là thi hành cho mau điều Chúa dạy vì chậm trễ có thể trở nên vô ích.

Về phần thính giả, lời Chúa hôm nay dạy rằng nghe lời Thiên Chúa là một trách nhiệm lớn. Người ta sẽ chịu phán xét theo những gì mình đã may mắn biết được. Chúng ta không chấp trách trẻ con điều mà chúng ta kết án người lớn, chúng ta tha thứ cho người man ri những thái độ, hành động mà nếu xảy ra nơi người văn minh thì bị trừng phạt. Trách nhiệm là mặt trái của đặc ân. Chối bỏ lời mời của Thiên Chúa là một tai họa. Ở một phương diện thì mỗi lời hứa của Chúa có thể thành lời buộc tội cho người nào nghe đến. Nếu người ấy tiếp nhận các lời hứa đó thì quả thật đó là sự vinh hiển nhất, nhưng nếu người ấy xén bỏ đi, thì một ngày kia, lời ấy sẽ là chứng cớ nghịch lại cùng người ấy vậy.

Bảy mươi hai môn đệ trở về với vẻ mặt sáng rỡ vì những chiến thắng đã dành được trong danh Chúa. Ngài nói với các ông một câu khó hiểu: “Ta thấy satan bị tấn công và nước Thiên Chúa xuất hiện”. Nó có thể có nghĩa là Chúa Giêsu biết rằng nhát đòn tử thương đã giáng xuống satan và các quyền lực của nó, tuy rằng chiến thắng cuối cùng có thể còn trì hoãn lâu.

Nhưng câu đó cũng có thể là lời cảnh báo cho tính kiêu căng. Vì do kiêu ngạo satan chống nghịch Thiên Chúa, nên đã bị ném ra khỏi trời. Có thể Chúa Giêsu ngụ ý cùng bảy mươi hai môn đệ rằng: “Các ngươi đã thu hoạch được nhiều thắng lợi, hãy giữ mình kẻo sinh kiêu ngạo”. Chúa Giêsu luôn cảnh báo các tôi tớ Ngài về tội kiêu ngạo và quá tự tín. Quả thực họ được Chúa ban cho mọi quyền phép, nhưng vinh hiển lớn nhất của họ là được ghi tên vào sổ trên trời. Có một điều mãi mãi là sự thật, ấy là vinh hiển lớn nhất của con người không phải là những gì mình đã làm được, mà là những gì Chúa đã làm cho mình. Có người cho rằng việc khám phá ra thuốc mê đã giúp con người giảm bớt đau đớn nhiều hơn bất cứ khám phá nào khác trong y khoa. Một hôm có người hỏi James Simpson: “Ông cho điều gì là khám phá lớn nhất của ông?” và mong đợi câu trả lời rằng: “Thuốc mê”, vì chính ông là người đã khám phá ra môn thần dược này. Nhưng Simpson đã trả lời: “Khám phá lớn nhất của tôi là Chúa Giêsu, Chúa Cứu Chuộc của tôi”. Tính kiêu ngạo đã cản đường lên thiên đàng, nhưng đức khiêm nhường là giấy thông hành để được gặp Chúa.

Chúa sửa sai thái độ của các môn đệ khi chỉ cho các ông lý do thật để vui mừng, đó là niềm hy vọng đạt nước thiên đàng chứ không phải trong quyền năng làm phép lạ, khi Người trao sứ mạng này cho các ông. Trong dịp khác, Chúa cũng cho một bài học tương tự (Mt 7,22-23). Trước mắt Chúa, thi hành ý Ngài quan trọng hơn là làm phép lạ.

5. Người môn đệ 

Nếu bây giờ tôi đặt câu hỏi: có khi nào chúng ta đã nghĩ tới bổn phận truyền giáo, bổn phận làm việc tông đồ hay chưa?

Chắc hẳn có người sẽ trả lời: Việc tông đồ, việc truyền giáo là bổn phận của các linh mục và tu sĩ, còn chúng tôi lăn lóc giữa đời, bận rộn với trăm công nghìn việc, còn thời giờ đâu đề nghĩ tới chuyện ấy.

Dĩ nhiên, sứ mạng chính yếu của các linh mục và tu sĩ là hoạt động tông đồ, dẫn đưa mọi người trở về cùng Chúa. Tuy nhiên, là người giáo dân, chúng ta cũng có bổn phận phải góp phần vào công cuộc trọng đại ấy.

Thực vậy, tin mừng hôm nay cho thấy ngoài mười hai tông đồ, Chúa Giêsu còn chọn thêm bảy mươi hai môn đệ và sai họ đi từng hai người một, đến những nơi chính Ngài sẽ tới. Ngài bảo các ông: Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít.

Dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù sống bằng bất cứ nghề nghiệp nào, chúng ta vẫn có thể và phải góp phần vào công cuộc truyền giáo. Chúng ta có thể và phải là người tông đồ ngay chính giữa lòng cuộc đời của mình. Vậy chúng ta thực hiện lý tưởng ấy như thế nào? Tôi xin thưa hãy truyền giáo bằng chính cuộc sống đạo đức và yêu thương của mình, bởi vì nhờ đó, chúng ta sẽ trở nên một tin mừng sống động, một phản ảnh trung thực của Đức Kitô.

Trước hết bằng một cuộc sống đạo đức.

Tục ngữ Việt Nam đã bảo: cái nết đánh chết cái đẹp. Vẻ đoan trang thùy mị của chúng ta sẽ là một mối duyên ngầm, chinh phục được cảm tình của người khác. Lời nói như gió lung lay, việc làm như tay lôi kéo. Chính gương sáng mới là một bài giảng hùng hồn có sức lôi cuốn và hấp dẫn người khác. Đứng trước gương sáng của chúng ta, kẻ độc ác nhất cũng phải xúc động và đặt lại vấn đề. Có những người trở lại chỉ vì thấy một em nhỏ ngoan ngoãn, lễ độ và siêng năng tới nhà thờ tham dự thánh lễ. Có một thanh niên được mọi người yêu quí vì anh ta lịch sự, sẵn sàng giúp đỡ những người chung quanh bất cứ việc gì. Anh ta không phải chỉ tỏ ra mình là người công giáo, mà hơn nữa, anh ta còn sống niềm tin của mình. Nói cách khác, anh ta đã sống đạo và người ta có thể bảo: Hình ảnh Đức Kitô luôn phảng phất nơi anh ta..

Tiếp đến bẵng một cuộc sống ngập tràn tình bác ái yêu thương.

Thực vậy, bằng một đời sống đạo đức, chúng ta trở nên tông đồ của Chúa giữa lòng cuộc đời. Tuy nhiên, tinh thần đạo đức ấy phải được biểu lộ ra bên ngoài bằng những lời nói, những việc làm của chúng ta.

Trong cuộc sống, chúng ta có rất nhiều cơ hội để dẫn đưa những kẻ lầm đừng lạc lối trở về cùng Chúa, để cứu vớt những linh hồn đang chìm sâu trong tội lỗi. Bằng lời nói chia sẻ và cảm thông, chúng ta có thể làm cho người khác khỏi cô đơn chán nản. Bằng lời nói an ủi và khích lệ, chúng ta có thể làm cho người khác khỏi bi quan tuyệt vọng. Bằng lời nói chân thành và xây dựng, chúng ta có thể làm cho người khác thoát khỏi chốn bùn nhơ tội lỗi. Bằng lời nói khuyên răn nhủ bảo, chúng ta có thể làm tông đồ cho Chúa trong gia đìnhminh cũng như trong môi trường mình đang sống. Có nghĩa là ở khắp mọi nơi.

Tinh thần đạo đức còn phải được biểu lộ qua những cử chỉ, những việc làm của chúng ta. Mấy người bạn tụ họp và trao đổi những câu chuyện thiếu đứng đắn, nếu bấy giờ có được thái độ nghiêm túc, chúng ta sẽ làm cho họ phải dừng lại. Khi người khác bài bác tôn giáo, chúng ta không được phép yên lặng, vì yên lặng khi phải nói là một tội cũng nặng như nói khi phải yên lặng. Trái lại, chúng ta hãy lên tiếng bênh vực đức tin, dù có làm mất lòng bè bạn. Trong trường hợp này, chúng ta không sợ ai cả, mà chỉ sợ một mình Thiên Chúa, như lời thánh Cyprianô: Hãy sợ Thiên Chúa và rồi chúng ta sẽ chẳng còn phải sợ một ai cả.

Một cô y tá có thể truyền giáo bằng thái độ ân cần, bàng nụ cười cảm thông, bằng ánh mắt khích lệ, bằng cử chỉ sẵn sàng giúp đỡ những người đau yếu. Và như vậy, chúng ta có thể dùng những hành động bác ái yêu thương để cảm hóa người khác, vì bác ái yêu thương là dấu chỉ chắc chắn nhất giúp người khác nhận ra khuôn mặt Đức Kitô.

Nếu không phải là một trong số mười hai tông đồ, thì ít nữa chúng ta cũng phải là một trong số bảy mươi hai môn đệ. Sứ mạng truyền giáo không phải chỉ là sứ mạng dành riêng cho linh mục và tu sĩ, nhưng còn là bổn phận chung của mỗi người chúng ta. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ở bất kỳ địa vị nào, làm bất cứ nghề nghiệp nào, chúng ta cũng có thể và phải góp phần vào công cuộc truyền giáo, bằng một đời sống đạo đức và nhất là bằng những hành động bác ái yêu thương.

Ở Pêru có một loại cây rất ngộ nghĩnh, người ta bản xứ gọi nó là “cây làm mưa”. Lá nó hút hơi nước trong không khí, rồi nhỏ xuống như những giọt sương mai. Vì thế, chung quanh nó mặt đất lúc nào cũng ẩm ướt. Và trời càng nóng, thì nó càng nhỏ xuống nhiều nước.

Mỗi người chúng ta cũng phải trở nên như một cây làm mưa hữu ích cho những người chung quanh đang khô khan. Bằng đời sống đạo đức, chúng ta hút lấy ơn sủng của Chúa, để rồi bằng những hành động bác ái yêu thương, chúng ta gieo vãi ơn sủng ấy cho những người chung quanh.

Chúng ta sống đức tin, để rồi nhờ đó chúng ta làm cho đức tin sống lại trong tâm hồn người khác. Đồng thời, khi làm cho người khác sống đức tin, thì đức tin của chúng ta sẽ trờ nên mạnh mẽ hơn. Cũng vậy, muốn được hạnh phúc, thì chúng ta hãy cố gắng làm cho người khác được hạnh phúc. Niềm hạnh phúc chúng ta làm cho người khác sẽ trở lại với chúng ta và làm cho chúng ta được hạnh phúc hơn.

6. Truyền giáo bằng đời sống 

Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít.

Trong suốt cuộc sống công khai, Chúa Giêsu đã rảo khắp các nẻo đường xứ Palestien để rao giảng Tin Mừng. Đồng thời, Ngài cũng đã chọn lựa và sai phái các môn đệ ra đi, để tiếp tay với Ngài trong sứ mạng cao cả ấy.

Tuy nhiên những cố gắng ấy dường như không đáp ứng nổi với nhu cầu khẩn thiết, vì thế mà Chúa đã nói:

– Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ tới gặt lúa.

Trải qua dòng thời gian, lời xác quyết này vẫn còn là một sự thật, bởi vì ngày hôm nay con số những người tin nhận Chúa mới chiếm được 30%, và riêng những người Công giáo thì mới chỉ được có 17% dân số trên thế giới.

Đồng thời qua lời xác quyết ấy, Chúa cũng muốn kêu mời chúng ta hãy trở nên là những người thợ gặt của Chúa. Có nghĩa là, chúng ta cũng hãy góp phần vào việc truyền bá đức tin, làm cho Giáo hội được phát triển. Dĩ nhiên chúng ta có rất nhiều phương pháp để rao giảng Tin Mừng.

Chẳng hạn bằng việc ra đi như các tông đồ các vị thừa sai, bằng việc cầu nguyện như các vị tu sĩ trong dòng kín… Thế nhưng, hôm nay tôi muốn giới thiệu tới quí ông bà một phương pháp mà mỗi người chúng ta đều có bổn phận phải thực hiện, đó là truyền giáo bằng chính đời sống, bằng chính gương sáng của chúng ta.

Để hiểu được hậu quả tốt đẹp mà phương pháp này đem lại, tôi xin kể hai mẩu chuyện nho nhỏ.

Mẩu chuyện thứ nhất đó là có một người Tin Lành, nghe tiếng cha Vianney là một người đạo đức thánh thiện, bèn tìm đến xứ Ars để kiểm tra sự thật. Sau khi ra về, người ta hỏi ông đã thấy được những gì, thì ông trả lời:

– Tôi đã thấy Thiên Chúa trong một người.

Và sau đó thì ông đã trở lại với Giáo hội Công giáo.

Mẩu chuyện thứ hai đó là có một người khô khan nguội lạnh, tình cờ đi ngang qua nhà thờ, ông thấy một cô bé đang dẫn mấy em nhỏ vào nhà thờ. Ông đứng quan sát và rồi đã đi theo cô bé. Thấy nét mặt trang nghiêm và sốt sắng của cô bé khi cầu nguyện, ông đã thực sự xúc động, và rồi cuối cùng, ông cũng đã trở về cùng Chúa.

Với hai mẩu chuyện này chúng ta thấy được sức cảm hóa của gương sáng như thế nào. Tục ngữ Việt Nam cũng bảo:

– Lời nói như gió lung lay, việc làm như tay lôi kéo.

Hay như một câu danh ngôn cũng đã nói:

– Gương sáng chính là một bài giảng hùng hồn nhất, có sức lôi cuốn và thuyết phục người khác.

Đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương của chúng ta chính là một thứ ánh sáng cần thiết cho xã hội như lời Chúa đã phán:

– Các con là ánh sáng thế gian. Bởi vì nhờ các việc chúng ta làm mà người khác sẽ nhận ra sự hiện diện của Chúa, để rồi cũng sẽ tin nhận Ngài.

Giữa một thế giới đã xa lìa Thiên Chúa, đang chìm dần vào sa đọa và tội lỗi, thì chúng ta có bổn phận phải thắp lên một ngọn lửa, chứ đừng ngồi đó mà rủa xả bóng đêm.

Và ngọn lửa chúng ta thắp lên là gì? Tôi xin thưa đó chính là đời sống gương mẫu của mỗi người chúng ta.

 

7. Được sai đi loan báo Tin Mừng

“Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến” (Lc 10, 1-2).

Đức Giêsu chỉ định và sai đi các ông đi trước, vào “những nơi mà chính Người sẽ đến”. Chi tiết này chứng tỏ Người sẽ ở đó mà đồng hành với các ông dù đó là nơi nao. Con số bảy mươi hai diễn tả tầm rộng lớn của nhóm truyền giáo, tương ứng với danh sách bảy mươi hai dân tộc trên mặt đất (St 10,2-31). Không phải là tình cờ mà Người sai các ông cứ từng hai người một, bởi vì mọi lời nói phải căn cứ theo hai hoặc ba nhân chứng trong trường hợp có tranh chấp (Đnl 19,15). Người chỉ thị cho các ông: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép”. Đây là những thứ cản trở việc rao giảng Tin Mừng. Làm thợ thì đáng lĩnh công, lo lắng quá nhiều về phương tiện sinh sống sẽ ngăn cản các ông dành mọi cố gắng cho việc rao giảng Tin Mừng. Chúa coi nghèo khó và thanh thoát là nét chính yếu của người  tông đồ. “Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường”. Người chỉ muốn cho các ông biết tính khẩn cấp của việc rao giảng Tin Mừng, không đắn đo, trò chuyện dọc đường sẽ mất thời gian, khó hoàn thành sứ vụ quan trọng này. Người môn đệ cũng “đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia” để tìm lợi nhuận vật chất hay chỗ ăn ở sung sướng hơn, nhưng phải tín thác hoàn toàn vào sự quan phòng của Chúa.

Từ khi được lãnh Bí tích Rửa tội, mỗi tín hữu chúng ta cũng được Chúa Kitô mời gọi thi hành một sứ vụ. Chúa sai tôi đi vào ngay chỗ tôi đang đứng, trong hoàn cảnh địa vị mỗi người. Tôi làm mọi việc theo khả năng, chức vụ, bổn phận cùng với lòng nhiệt thành của mình. Có khi chỉ đơn giản như ngồi đó tĩnh lặng mà suy niệm, gõ vào máy tính rồi gửi email, post lên facebook…  là Tin Mừng được “thổi loa” khắp nơi, góp phần cho “Lời” được vang xa. Người tông đồ được sai đi, dọn đường mở lối cho Chúa, đem Chúa đến cho người mình gặp gỡ. Không thể cho ai điều mình không có, cho nên lòng tôi phải có Chúa đầy tràn, lúc đó tôi mới có thể từ từ đem Chúa cho người khác bằng lời, bằng hành động và chính cuộc sống của tôi.

Chúng con sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc rao giảng Tin Mừng, vì giá trị này đi ngược lại với những giá trị của thế gian. Nhưng với niềm phó thác, có Chúa cùng đi với con trên mọi nẻo đường, con sẽ gặt mùa vàng.

Lạy Chúa! xin cho con biết nhìn lại và ý thức hơn nhiệm vụ cao cả Chúa trao, mà đáp lời mời gọi của Chúa. Xin giúp con hăng hái nhiệt thành ra đi loan báo, đem Chúa đến cho mọi người, ở mọi nơi, trong mọi lúc bằng mọi phương tiện Chúa cho và bằng chính cuộc sống hằng ngày của con.

 Én Nhỏ