TRANG CHỦ / LỜI CHÚA / CHIA SẺ LỜI CHÚA / Bài hát và Suy niệm (15.09.2019 – Chúa Nhật XXIV Thường Niên năm C)

Bài hát và Suy niệm (15.09.2019 – Chúa Nhật XXIV Thường Niên năm C)

NL: CA NGỢI TÌNH CHÚA

ĐC: THÁNH VỊNH 50

Lạy Chúa chí tôn, xin dủ tình xót thương con, theo lượng từ ái của Ngài

DL: CỦA LỄ TRẦM HƯƠNG

HL: CHẠM LÒNG CON

KL: LỜI CHÚA

Lời Chúa: Xh 32,7-11.13-14; 1Tm 1,12-17; Lc 15,1-32

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca

1 Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng.2 Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.”3 Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này:4 “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?5 Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai.6 Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.7 Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.
8 “Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được?9 Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.10 Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.”
11 Rồi Đức Giê-su nói tiếp: “Một người kia có hai con trai.12 Người con thứ nói với cha rằng: “Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng. Và người cha đã chia của cải cho hai con.13 Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình.14 “Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu,15 nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo.16 Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho.17 Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói!18 Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha,19 chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.20 Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha.21 Bấy giờ người con nói rằng: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. ..22 Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu,23 rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!24 Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy. Và họ bắt đầu ăn mừng.25 “Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa,26 liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì.27 Người ấy trả lời: “Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì gặp lại cậu ấy mạnh khoẻ.28 Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ.29 Cậu trả lời cha: “Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè.30 Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!31 “Nhưng người cha nói với anh ta: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con.32 Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.”

 

 

Chúa Nhân Hậu Thương Xót Tội Nhân

Các người thu thuế và người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. Nhìn cái cảnh gai mắt này, những người Pharisêu và kinh sư khó chịu mà dè bỉu: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”. (Lc 15,2). Để làm sáng tỏ khung cảnh gây khúc mắc và đánh giá xấu của họ, Đức Giêsu mới kể luôn mấy dụ ngôn.

“Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất. Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó…” (Lc 25,4-6). Qua dụ ngôn “con chiên lạc” và “đồng bạc bị mất”, Đức Giêsu muốn mỗi người cần hoán cải trở về, biến đổi trở nên như trẻ nhỏ trong mối tương quan với Chúa. Tôi có phải là “chiên lạc” không? Đôi lúc tôi có thể ảo tưởng, không biết là mình đi lạc, lại cứ tưởng mình luôn đúng đường không cần hoán cải.

Tiếp theo là dụ ngôn nổi tiếng về một người cha với hai thằng con khác nhau của ông.

Đầu tiên là thằng con thứ “giời đánh thánh vật”, bất cần đời, xấu xa đê tiện hết chỗ nói. Sau khi bỏ nhà đi biệt xứ sống trác táng, tung phá hết sạch của cha cho, chẳng còn gì và lâm vào cảnh thân tàn ma dại, đói rách bẩn thỉu, cùng cực, nghèo nhất trong các người nghèo, thèm cả cám heo mà chẳng ai cho. Đến lúc này anh mới hồi tâm và quyết đứng dậy đi “về với cha” gọi là cho bớt khổ, chứ chẳng mong còn được gọi là “con”. Chao ôi! ai mà ngờ được cha anh đứng ngóng tự bao giờ, nhào đến mà hôn lấy hôn để, chẳng kể gì hôi hám bẩn thỉu, chẳng hỏi tội, tra xét tiền của đâu hết…? Cha còn huy động mang áo đẹp nhất, xỏ dép, đeo nhẫn (lại thành quý tử) và còn hô hán mở tiệc để ăn mừng nữa chứ! Tại sao có chuyện bao dung tha thứ đến ngược đời như vậy? Chỉ có tình yêu mới lạ lùng như thế, chỉ có tình yêu mới có thể lý giải được.

Nhiều khi chúng con dùng tự do Chúa ban mà đi hoang. Khi muốn trở về lại không hiểu biết tình Cha yêu thương con đến rồ dại như thế, nên chúng con ngại ngần sợ hãi vì những lỗi tội, những xấu xa dơ bẩn, bất xứng của chúng con. Xin cho chúng con nhận ra tình yêu vô bờ của Cha mà mạnh dạn tìm về bên lòng Cha. Xin cho chúng con hiểu rằng: tình yêu của Cha ngàn lần vượt lên che lấp tội con.

Thứ đến là người con cả, ngày ngày ở bên cha, tiếng là ngoan ngoãn, hiếu nghĩa với cha. Thấy cảnh người cha vẫn mở rộng vòng tay yêu thương mà đón thằng em ăn hại mò về, anh nổi giận, oán hận cha xử sự bất công: “Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha… Còn thằng con của cha đó…”(Lc 15,29-30). Nghe những lời khó nghe như vậy của con mình, cha anh không quát mắng, vẫn một mực năn nỉ, lấy lời dịu dàng ngọt ngào và dạy anh phải biết thương em: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.” (Lc 15,31-32). Chỉ có tình yêu mới làm người cha có thể đối xử tuyệt vời như vậy. Nghe đến đây không biết các bác Pharisêu và kinh sư đã rõ ra chưa nhỉ? Còn chúng con, nếu đang yên trí là mình tuân giữ đầy đủ, có lẽ cũng đang à ra mình cũng vậy thôi. Chúng con ở “trong nhà cha”, mà nhắm mắt chẳng nhận ra tình Cha yêu thương âu yếm mỗi ngày, thì lòng vẫn xa Cha vời vợi.

Chúa ơi! con sinh ra từ tình yêu Ngài, con lớn lên trong vòng tay Chúa. Xin giữ con để con thuộc về Chúa trong suốt đời con. Dù khi thất vọng, dù khi lỗi tội, xin giúp con khiêm cung trở về với tình yêu vô bờ của Cha.

Én Nhỏ

“Căn bệnh cứ tưởng”

1- Ghi nhớ:

 “Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy.” (Lc 15, 32)

 2- Suy niệm:

 Trong truyên Tam Quốc Chí có nói đến một nhân vật tên là Dương Tu, phục vụ dưới trướng của Tào Tháo. Là một người thông minh, có tài đọc được những suy nghĩ của chủ tướng, cứ như là “đi guốc” trong bụng Tào Tháo vậy. Dương Tu tưởng rằng mình sẽ được nể phục và trọng dụng khi nói ra cho Tào Tháo nghe những hiểu biết đó. Nhưng thật phũ phàng cho ông vì Tào Tháo là kẻ gian manh, rất khó chịu và bực tức khi lại có kẻ biết được những toan tính trong thâm tâm của mình, bởi vậy Tào Tháo đã tìm cách để diệt trừ Dương Tu.

Sống trên đời, có những người mắc phải “căn bệnh cứ tưởng”, chẳng hạn như người anh cả trong bài Tin Mừng hôm nay. Anh ta tưởng rằng vì mình luôn được ở bên người cha mà mình hết lòng hiếu thảo phục vụ, không hề làm trái ý cha điều gì, thế là tốt đẹp lắm rồi, không cần phải suy xét điều gì nữa. Nhưng đãng lẽ được ở bên cha, một người cha đầy tình yêu thương dành cho con cái, một người cha luôn thao thức trăn trở chờ đợi sẽ có ngày người con thứ trở về, người anh cả phải hiểu được tâm trạng và nỗi lòng của cha mình để cùng thông cảm và chia sẻ với cha và khi người em trở về, anh cũng phải hân hoan vui mừng như người cha của anh mới phải.

Đàng này, anh lại tỏ ra bực tức, nổi giận, không chịu vào nhà và thốt lên lời cay đắng chua sót: “Còn thằng con của cha đó…” . Chính vì có thái độ ích kỷ, vô cảm đã làm cho người anh không cảm nhận được sự trở về của người em là niềm vui, là hạnh phúc, là điều cần thiết nữa.

Chúng ta hãy tự biết mình, đừng để cho “căn bệnh cứ tưởng” hằn sâu vào tâm trí của mình, để rồi phải chuốc lấy những hậu quả không tốt cho chính bản thân mình cũng như còn ảnh hưởng tới những người có liên quan tới mình trong cuộc sống.

3- Cầu nguyện :

 Lạy Chúa, xin cho chúng con nếu đang được sống trong nhà cha như người anh cả, thì cũng có được tâm tình và cảm nghiệm sâu xa của người em khi đi bụi trở về, để chúng con biết ngước nhìn lên Thập giá Chúa Kitô mà nhận ra Thiên Chúa không phải là người cha nghiêm nghị bắt phải tuân phục, nhưng trên hết là người cha đầy lòng nhân ái thứ tha, giúp chúng con cũng biết thông cảm, chia sẻ và tha thứ cho nhau trong cuộc sống này. Amen.

 4- Sống Lời Chúa :

 Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, vì thế chúng ta cũng phải biết yêu thương nhau. Hãy cùng nhau nhẩm đi nhắc lại điệp ca này để ca tụng Thiên Chúa: “Hãy ca ngợi Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Ngài vẫn trọn tình thương.”

ĐA MINH TRẦN VĂN CHÍNH

***

 

 

Mục lục

1. Thương xót và niềm vui  (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Tình đẹp nhất  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

3. Lạm dụng Lòng Thương Xót (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

4. Thiên Chúa tìm kiếm con người (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

5. Tình thương không so sánh  (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

6. Chia sẻ niềm vui  (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

7. Hối cải.  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

8. Thà yêu lầm còn hơn bỏ sót (Lm. Giuse Nguyễn văn Nghĩa)

9. Màu tím buồn với người con thứ (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

10. Người Cha Nhân Hậu (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

11. Mất mát  (Lm. Vũ Đình Tường)

12. Tìm về  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng)

13. Xin chung vui với tôi (Lm. Giuse Nguyễn An Khang)

14. Mất – Tìm – Mừng (Lm. Vũ Xuân Hạnh)

15. Chiêm ngắm tình yêu Chúa Cha: Trái tim ta mở ra (Lm. Đaminh Hương Quất)

16. Niềm nở tiếp đón người tội lỗi (Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

17. Thiên Chúa đi tìm (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

18. Nghịch lý của tình yêu Thiên Chúa (Lm. Phêrô Lê Văn Chính)

19. Hãy chia vui với Chúa(PM. Cao Huy Hoàng)

20. Niềm vui khi tìm gặp lại (Lm. Nguyễn Ngọc Long)

21. Lạc lối  (Lm. Bùi Quang Tuấn)

22. Tôi đã tìm thấy con chiên lạc  (Lm. Cao Tấn Tĩnh)

23. Thiên Chúa thương xót và tha thứ (Lm. Đinh Lập Liễm)

24. Mầu nhiệm thánh thiện và tội lỗi (Lm. Thiện Duy)

25. Quyết tâm trở về (Lm. Giacôbê Phạm văn Phượng)

26. Niềm vui khi tìm được những gì đã mất (Lm. Trần Bình Trọng)

27. Hãy chia vui với tôi (G. Nguyễn Cao Luật)

28. Yêu thương, tha thứ là bản chất của Thiên Chúa (Jos.Vinc.Ngọc Biển)

29. Thương và xót  (Trầm Thiên Thu)

30. Niềm vui hoán cải (Lm. Phêrô Nguyễn văn Hương)

31. Làm con theo gương Chúa Giêsu (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)

32. Bài học về lòng xót thương(Lm. Anmai)

33. Tôi sẽ ca tụng lòng Chúa thương xót tới muôn đời (Lm. Đaminh Trần Đình Nhi)

34. Suy niệm chú giải Lời Chúa-Chúa Nhật 24 TN_C  (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

 


THƯƠNG XÓT VÀ NIỀM VUI

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Đề tài lòng thương xót của Thiên Chúa rất phong phú, dễ đánh động con tim và tâm tình đạo đức của người tín hữu. Vì thế mà từ khi Thánh Gioan Phaolô II khởi xướng và cổ võ hình thức cầu nguyện kính Lòng Chúa thương xót, trong Giáo Hội đã có biết bao người tham gia cầu nguyện và thực tế họ đã nhận được rất nhiều ơn lành.

Tuy vậy, trong quan niệm của nhiều người, cầu nguyện tôn vinh lòng lòng thương xót Chúa đi liền với xin ơn chữa lành, cho nên người ta đến cầu nguyện chỉ với mục đích được chữa khỏi bệnh tật, nhất là những bệnh nan y. Có người đã mất đức tin và bỏ cầu nguyện vì họ xin ơn chữa lành mà không được nhận lời. Thực ra, việc tôn kính lòng thương xót của Thiên Chúa không dùng lại ở những lời kinh, mà phải giúp cho con người thương xót tha nhân, tức là thực thi lòng thương xót trong cuộc sống hằng ngày. Nhận ra lòng thương xót của Chúa, mỗi chúng ta cũng phải có trái tim nhân hậu đối với đồng loại, để lòng thương xót như một dòng chảy yêu thương, đem an vui cho mọi người.

Thánh Luca đã tổng hợp ba dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa ở chương 15. Mỗi dụ ngôn mang một sắc thái khác nhau, nhưng cả ba đều mang nội dung nói về tình thương bao la của Chúa. Trong ba dụ ngôn này, dưới ngòi bút của tác giả, Thiên Chúa rộng rãi bao dung đến mức “phung phí” lòng thương xót. Quả vậy, một con chiên lạc so với 99 con còn lại, một đồng bạc bị mất so với 9 đồng bạc vẫn còn thật chẳng đáng là bao, nhưng Chúa vẫn để ý tới và tìm cho bằng được. Khác với lối suy nghĩ của chúng ta. Nhiều khi chúng ta sẵn sàng bỏ đi những điều nhỏ mọn, nhưng Chúa lại quan tâm đến từng chi tiết.

Việc tìm thấy một con chiên hoặc một đồng bạc, xem ra đơn giản, mà lại là niềm vui lớn lao của người sở hữu chúng. Đó không chỉ là niềm vui của cá nhân, nhưng là niềm vui của cả một tập thể. Đó không chỉ là niềm vui dưới đất, nhưng là niềm vui trên trời. Chúa Giêsu đã nói rõ, một người trở về không chỉ là niềm vui của con người, nhưng là niềm vui của Thiên Chúa và triều thần thánh trên trời. Niềm vui ấy thật lớn lao, làm cho người mục tử quên hết mọi mệt nhọc trong việc tìm kiếm. Cả ba trường hợp, người mục tử, người phụ nữ và người cha, đều mời hàng xóm láng giềng đến để chia vui. Người cha trong dụ ngôn còn thết đãi cả làng với thịt con bê mà ông đã chăm sóc vỗ béo. Ông tin chắc có ngày cậu con trai hoang đàng sẽ trở về. Vì vậy, ông chuẩn bị sẵn nhẫn, giày, quần áo và những gì cần thiết cho một bữa tiệc. Những đồ trang sức này thường được dùng cho một tiệc cưới. Ngày cậu con trai trở về, cũng là một tiệc cưới, là niềm vui không chỉ cho người cha mà cho cả xóm làng. Niềm vui được nhân lên khi được chia sẻ với người khác.

Tuy vậy, niềm vui ấy xem ra không được trọn vẹn, vì theo thói đời, vẫn luôn có những ghen tỵ thù ghét. Đó là tâm trạng của người anh cả. Anh nổi giận vì sự trở về của người em. Có thể anh sợ người em sẽ chiếm gia tài. Lòng thù hận và tư lợi ngăn cản không cho người khác phục thiện. Con đường trở về, vừa phải gạt bỏ những mặc cảm thành kiến, vừa phải đối diện với những thù hận của chính những người thân. Lộ trình phục thiện xem ra đơn giản mà cũng lắm gian truân. Có những người vì lỡ lầm mà sa vào cảnh tù tội, sau khi mãn hạn tù, trở về quê hương muốn sống như một người bình thường cũng không được yên, vì con mắt dò xét và thành kiến của những người xung quanh. Những ngôn từ của người anh cả trong Tin Mừng cho thấy anh đã nung nấu mối hận thù. Anh không còn coi em mình là huyết nhục, mà như người dưng, thậm chí như kẻ thù. Vì thế, việc người em trở về làm cho anh thấy khó chịu.

Thiên Chúa là Cha của người tốt cũng như của người xấu. Ngài xót thương và không giáng phạt dân Do Thái phản nghịch (Bài đọc I). Vòng tay của Ngài vừa giang rộng đón người con thứ, vừa choàng lên vai của người con cả để anh cảm nhận được lòng xót thương. Ngài không muốn loại trừ ai, bất kể người đó như thế nào. Nước mắt của người cha nhỏ xuống khi người con thứ ra đi. Dòng lệ ấy cũng tuôn chảy khi người con cả bất bao dung với em mình. Trước khi trở lại, Phaolô là người hăng say tìm giết các Kitô hữu. Cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu trên đường đi Damas đã biến đổi cuộc đời của ông Phaolô là chứng nhân của lòng Chúa thương xót (Bài đọc II). Ước chi mỗi chúng ta cũng hãy trở nên chứng nhân của lòng Chúa thương xót, để rồi, “nơi đâu có cộng đoàn tín hữu, là ở nơi đó có thành trì của lòng xót thương” (Đức Thánh Cha Phanxicô).

 

TÌNH ĐẸP NHẤT

Lm. Jos. DĐH.

Tình yêu đẹp và nóng bỏng, mọi người đều cho rằng đó là cặp đôi: trai tài gái sắc, đại loại như, Sơn Tinh lấy được Mỵ Nương, Mỵ Châu lấy được Trọng Thuỷ. Tính bền vững và hạnh phúc không phai mờ trong tình yêu, nhiều người vẫn quan niệm là tuỳ vào sự thuỷ chung giữa đôi bên. Tình yêu đẹp và giá trị là tình yêu chân thật, là tình yêu không tính toán hơn thiệt, mà chỉ muốn tốt cho người mình yêu, đặc tính cao đẹp ấy, người ngoài cuộc lại cho rằng đó là sự mù quáng của tình yêu. Tiền nhân của chúng ta thật dồi dào kinh nghiệm khi nói về tình yêu: trăng khuyết rồi trăng lại tròn ; đá có mòn, nhưng tình không mòn đâu. Dù tình đôi lứa, hay tình máu mủ ruột thịt, đều để lại một cảm xúc thiêng liêng vô cùng to lớn, sống động trong tâm tư mỗi người.

Thời nào cũng thế, lời dễ nghe nhất bao giờ cũng là những lời ngọt ngào yêu thương, nghĩa cử đánh động lòng người hơn cả vẫn là những việc làm âm thầm, không phô trương. Năm xưa, có đủ mọi thành phần: người tốt lành, kẻ tội lỗi, cùng các luật sĩ, biệt phái, họ tìm gặp Đức Giêsu để được nghe, được xem tận mắt, bậc hiền tài mà thiên hạ gọi là Ngôn sứ, là Con Thiên Chúa. Rất có thể người nghèo đi tìm của ăn, người bệnh tìm thầy thuốc, kẻ thất nghiệp lang thang kiếm việc làm, và chắc chắn người giầu, người đạo đức, đi tìm bình an, tìm tình yêu. Suy nghĩ đơn giản nhất về đám đông hôm đó, không biết có phải do “thiếu tình”, chưa đủ hạnh phúc, hoặc vì tài đức của Thầy Giêsu quả là song toàn trước mọi đối tượng lúc bấy giờ ?

Nếu như ở ngoài xã hội người ta nói tình chỉ đẹp khi còn dang dở, nghe hơi “uỷ mị”, và có nguy cơ nhầm lẫn không còn biết thế nào là tình chuẩn mực ! Trong khi Đức Giêsu lại khẳng định với toàn thể nhân loại: tình đẹp là tình đơn sơ chân thành đến mức dại khờ, không phải vì không biết tính toán, nhưng vì yêu, người mục tử dám bỏ 99 con chiên trên núi đi tìm con chiên lạc. Cũng không phải bà già “lẩm cẩm” hay nhàn dỗi quá, đến độ hao tốn nhiều công sức tìm kiếm cho đến khi thấy được đồng bạc bị mất, khi mà Đức Giêsu muốn diễn tả tính thuỷ chung giữa vạn vật mà Thiên Chúa tạo thành. Tiếp đến, Đức Giêsu dẫn mọi người đi sâu vào gia đình nhân loại, đưa mọi phần tử xã hội xích lại gần hơn với “tình cha” yêu thương con trưởng, con thứ, dù chúng bất xứng hư hỏng.

Tình đẹp nhất nơi người mục tử tìm chiên lạc, là gặp được chiên, thuyết phục được chiên bướng bỉnh, và đưa chúng về đoàn tụ trong đồng cỏ Nước trời. Tình đẹp nhất nơi người phụ nữ tìm đồng bạc bị rơi rớt, là sự cao quý mà bà ta hiểu tiền nhỏ hay tiền to vẫn là tiền, đừng nghĩ đến giá trị lớn bé. Tình đẹp nhất, đáng ghi tâm nhất, đó là người cha già đã thức tỉnh được hai đứa con, và hạnh phúc đến độ: “hãy vui mừng vì con ta đây đã mất nay tìm thấy, đã chết nay sống lại”. Tình đẹp nhất nơi hai bạn trẻ đang yêu, không gì khác hơn là mơ ước được ở bên nhau, giữ mãi được mùi hương yêu thương. Tình đẹp nhất mà Đức Giêsu muốn nói với: người thu thuế, các luật sĩ, biệt phái, và đám đông chúng ta, chính là mau mau nhận biết Thiên Chúa giầu lòng thương xót, qua đó hãy sám hối tội lỗi bất xứng của mình để được thứ tha, yêu thương.

Truyện kể rằng: có một vị thí chủ tìm gặp lão Phật gia, ông hỏi: thưa lão Phật gia trước khi đắc đạo ngài làm gì ? Oh, bần đạo đốn củi, gánh nước, nấu cơm. Vậy sau khi đắc đạo, ngài làm gì ? Cũng đốn củi, gánh nước, nấu cơm. Vậy có gì khác nhau đâu ? Có khác đó thưa thí chủ: lúc trước đốn củi, bần đạo lo nghĩ tới việc gánh nước, rồi lúc gánh nước lại mải mê nghĩ tới việc nấu cơm ; còn bây giờ đốn củi cứ đốn củi, gánh nước thì cứ gánh nước, và nấu cơm cứ lo nấu cơm. Chính tình yêu biến đổi tâm tính của bần đạo đó. Tình yêu của con người từ xa xưa tới nay vẫn là tình yêu có chủ đích: muốn được, muốn nhiều hơn, muốn thụ hưởng một mình, cũng do sự giới hạn, mà con cái quên cả thân phụ mẫu, nét đẹp phu thê bị tàn phài. Trong khi tình yêu của Thiên Chúa là muốn cho đi, muốn ban phát rộng rãi, không phân biệt, không kỳ thị…, con người lại thiếu nhạy bén, dửng dưng, bất cần !

Tình yêu đẹp nhất là gì ? Có phải là muốn gì được đó không ? Hay là khi ta được sức khoẻ vô biên, tài trí sung mãn ? Câu trả lời cũng gần giống như khi ta muốn quên đi một mối tình giả dối, thì lý tưởng nhất phải là thời gian và người mới. Có thời gian, ta sẽ thấm nhuần, sẽ hiểu tại sao tình yêu lại cao đẹp và trân trọng hơn cả vàng bạc châu báu ? Con người có mới thật, tâm tính ổn định thật, ta sẽ đủ cảm nhận con người phát xuất từ cội nguồn yêu thương. Nếu thời gian và người mới vẫn chưa làm ta quên đi được tình cũ, con người cũ, thì phải xét lại, chắc chắn là thời gian chưa đủ dài và người mới của ta chưa thật là mới, là tốt. Tình đẹp nhất và linh thiêng nhất, chính là lúc mọi người biết sám hối ăn năn, hầu nhận ra Thiên Chúa là Cha quyền năng và đầy tràn yêu thương. Amen.

 

LẠM DỤNG LÒNG THƯƠNG XÓT

Lm. Jos Tạ duy Tuyền

Chị Thảo, người đang nổi như cồn trên mạng xã hội khi khoe trên facebook mỗi năm chị đốt hết 20 tỉ của Bố, tức ông Nguyễn Mạnh Thắng – Bí thư Đảng ủy, chủ tịch HĐQT Sông Đà 7, đã 5 lần chị báo bố làm gỏi nhẹ nhàng 100 tỉ, ngọt như mía đường.

Tuy nhiên, ông Thắng không hề trách mắng mà chỉ nói: “Của con cả thôi. Lấy bao nhiêu thì lấy. Mở gì thì mở”. Cũng trên trang cá nhân, Thảo thường xuyên khoe cuộc sống xa hoa, tiêu tiền như nước, mới đây nhất còn sắm sửa xe Lexus đắt tiền. Mặc dù rất thích kinh doanh nhưng đa số Thảo đều thất bại. Dẫy vậy, ông Thắng vẫn không tiếc tiền đầu tư cho con chỉ vì “mong con gái trưởng thành hơn”.

Đúng đây là người con hoang. Nó chỉ biết xài và phung phí của cha nó. Nó biết cha nó thương nên càng tiêu xài phung phí. Nó cũng biết đây là đồng tiền tham nhũng rồi cũng “của thiên trả địa”, nên tha hồ hoang phí. Điều đáng buồn là người cha đã tham ô lại còn nuông chiều làm con hư. Nó đi lạc đường mà không dắt nó quay về. Đây là người mù dẫn mù thì cả hai sẽ có ngày xuống hố.

Lời Chúa hôm nay với ví dụ con chiên và đồng tiền đánh mất cũngtựa như cuộc đời của mỗi người chúng ta. Vì chạy theo danh vọng. Vì chạy theo những đam mê trần gian đã làm cho nhiều người lầm đường, lạc lối và đánh mất phẩm giá cao qúy của mình là hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa không bỏ rơi con người. Thiên Chúa dùng muôn nghìn cách để tìm lại chúng ta. Ngài sẽ làm tất cả để chuộc lại con người chúng ta. Đó cũng là cách mà Thiên Chúa đã thực hiện trong suốt dọc dài của lịch sử ơn cứu độ. Loài người luôn bất trung, bội tín, bội thề. Thiên Chúa thì luôn tín trung. Tình yêu của Ngài dành cho con người mãi mãi vẫn là một. Ngài không bao giờ thay đổi. Ngài có giận, giận trong giây lát nhưng yêu thương, yêu thương ngàn đời.

Tình yêu của Ngài hôm nay vẫn thế. Ngài vẫn đeo đuổi cuộc đời mỗi người chúng ta. Ngài sẽ đau khổ nếu chúng ta lạc xa tình Chúa. Ngài sẽ buồn nhiều nếu chỉ vì tiền tài và lạc thú mà chúng ta đánh mất phẩm giá làm người của mình. Phẩm giá con người lớn hơn những giá trị vật chất. Ngài không đang tâm đứng nhìn con người tự hạ thấp phẩm giá của mình để đổi lấy đồng tiền và lạc thú. Ngài càng không làm ngơ và bỏ mặc con người cho ma qủy lôi kéo vào hố diệt vong. Ngài sẽ làm muôn ngàn cách để đưa con người trở về nẻo chính đường ngay. Điều đó, Ngài đã thể hiện nơi cuộc đời của vua Đavít. Đavít là một con người được Chúa yêu thương nhưng lại vì đam mê lạc thú đã lỗi luật Chúa. Ông đã phạm tội ngoại tình với Batseva, là vợ của tướng Uria. Ông còn đang tâm đẩy Uria vào chỗ chết để chiếm lấy nàng Batseva. Thế nhưng, tình yêu Chúa còn lớn hơn tội của Đavít, Ngài đã  không giáng phạt theo như tội Đavít đã làm. Ngài đã cho Đavít cơ hội làm lại cuộc đời. Qua tiên tri Nathan, Thiên Chúa đã thức tỉnh Đavít nhận ra lỗi lầm mà ăn năn trở về. Đavít đã sám hối ăn năn. Đavít đã cảm nhận tình thương Chúa dành cho ông quá to lớn đến nỗi mà ông phải thốt lên: “Nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được”. Chúa đã không chấp tội Đavít mà “lòng nhân từ của Chúa còn theo đuổi Đavít suốt cuộc đời”.

Tiếc thay, loài người lại cứ lợi dụng lòng thương xót Chúa để bỏ ngoài tai lời giáo huấn của Chúa. Họ biết Chúa nhân từ nên vẫn nhân danh Chúa để tìm tư lợi cho bản thân. Họ coi Chúa như ngân hàng để bòn rút ân lộc của Chúa. Có lẽ Chúa cũng buồn vì thế gian luôn có các tiên tri của Chúa nhắc nhở họ sám hối, thế nhưng, đồng tiền làm họ lu mờ lý trí để rồi vẫn cố tình đi sai đường lối Chúa.

Ước gì mỗi người chúng ta cũng nhận ra lòng Chúa xót thương để ăn năn sám hối trở về với Chúa, và cũng biết sống tình yêu đó cho anh em.Xin đừng u mê bỏ ngoài tai lời giáo huấn của Hội Thánh là những sứ giả đích thực Chúa gởi đến dậy dỗ chúng ta.Amen

 

THIÊN CHÚA TÌM KIẾM CON NGƯỜI

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Không phải con người đã đi tìm kiếm Thiên Chúa trước mà chính Thiên Chúa đã cất bước đầu tiên tìm kiếm con người. Thi sĩ Khalil Gibran viết: “Khi yêu, bạn đừng nói Thiên Chúa ở trong trái tim tôi, nhưng đúng hơn phải nói: Tôi ở trong trái tim Thiên Chúa”. Điều này diễn tả đúng câu trả lời tại sao Chúa lại đi tìm con chiên lạc.

Con người đi hoang.

Có thể đi ngược lại câu truyên ban đầu trong sách Sáng Thế khi Thiên Chúa tạo dựng nên con người. Tuy con người được tạo dựng trong mọi điều đều tốt đẹp, nhưng Thiên Chúa vẫn để cho có một tự do chọn lựa, hoặc vâng theo hoặc bất tuân phục. Tự do như thế vừa là một giới hạn, vừa đặt ra một ước mơ vô hạn. Con người muốn mở rộng ra vô biên, nhưng lại thiếu thốn thẳm sâu trong cõi lòng, dễ bị ma quỷ đánh lừa và dụ dỗ vào bất tuân Thiên Chúa.

Con người đi hoang bắt đầu từ chỗ đi tìm chính mình là ai đó ở giữa thế giới này. Câu hỏi về ý nghĩa luôn khoét sâu vào từng ngày sống. Một câu rất xưa trong Phạn ngữ đã từ tâm con người thốt ra: “Hỡi Người tự biểu lộ chính Mình. Xin Người hãy biểu lộ trong con” (Thực nghiệm tâm linh, R. Tagore). Như xưa Môi sê được tuyển chọn để dẫn dân Israel ra khỏi Ai Cập, điều Môi sê xin cho được biết Danh Người là ai? (Xem Xh 3, 13 – 14). Khát khao tìm vế chân lý và những bước chân đi thường lạc lối.

Giữa chân lý và sai lầm, giữa ánh sáng và bóng tối. Ở lại như 99 con chiên hay như một con chiên đi lạc, con chiên nào quan trọng hơn? Đối với Chúa, con chiên lạc quan trong hơn vì: “Con Người đến để đi tìm những gì hư mất” (Lc 19, 10). Sự kiện con chiên lạc, là con chiên đau khổ, khắc khoải, tìm những gì vượt xa hơn mình, hoặc vì những dục vọng đen tối làm lạc lối hơn cả, cho đến khi nhận ra mình như người con quá hoang đàng. Người con trong dụ ngôn “người cha nhân hậu”, từ sâu thẳm kêu lên: “Cha hỡi, trong lạc lối, tội lỗi, con đã xúc phạm đến cha!, con đã đứng về phe hữu hạn chống lại cha là Đấng vô hạn!”. Gục ngã trong sâu thẳm của tâm hồn của một con người cần được cứu vớt.

Nỗi nhọc nhằn của tình yêu cũng là niềm vui.

Tình yêu là khỏi chính mình để đi tìm người mình yêu. Như Gabriel Marcel viết: “yêu ai là muốn người ấy sống luôn mãi”. Thánh Gioan định nghĩa “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4, 16). Thiên Chúa chấp nhận đau khổ và mầu nhiệm đau khổ của Người là biểu lộ tình yêu vô hạn. Thiên Chúa đi tìm kiếm bởi vì người con đã mất, đi gặp gỡ vì người con lẩn trốn, chết thay vì người con đã chết.

Tìm kiếm con người để Thiên Chúa nói chuyện tâm tình như Hô sê diễn tả: “Này Ta sẽ quyến rũ dân Ta, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình. Ở đó, nó sẽ đáp lại như buổi thanh xuân” (Hs 2, 16 – 17b). Đối thoại trong tình yêu để thổ lộ tâm tư, Thiên Chúa mở lòng mình ra trước để con người gặp gỡ lòng khoan dung, gặp gỡ trong lời sám hối muộn màng: “Cha ơi, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha!” (Lc 15, 21)

Niềm vui của tình yêu khi vác chiên trở về như là ngày đón người mình yêu thương bệnh nặng trở về từ cõi chết, mạnh khoẻ. Niềm vui của người con trở về để thưa với cha: Xin cha hãy quét sạch trong con những mê lầm, lạc lối. Xin hãy cho con tràn đầy sự thiện, như là mặc áo mới cho con, như là thết đãi con bằng bữa tiệc lành thánh của cha.

Niềm vui chính là tình yêu, gặp gỡ được tình yêu như thể: “Hồn tôi hân hoan vui sướng hát khen Danh Ngài” (Magnificat). Đó là ngày trở về để sống lại ân tình của người con.

 

TÌNH THƯƠNG KHÔNG SO SÁNH

Bông hồng nhỏ

Cuộc sống vẫn thường có những so sánh hơn thua: so sánh học lực, so sánh bằng cấp, so sánh giàu nghèo… Những so sánh như thế có thể mang lại cho người ta niềm vui, sự tự hào nhưng cũng có khi là sự tự ti, thất vọng. Ở trong tình yêu Chúa, hạnh phúc của mỗi người luôn tròn đầy.

Tình thương của Thiên Chúa bao la và rộng trải đến muôn loài. Tình thương ấy vượt xa với tình thương của con người vẫn thường dành cho nhau. Nếu như con người chỉ yêu thích và đón tiếp những người được xem là công chính hơn và dễ xua đuổi những người bị coi là tội lỗi thì Thiên Chúa lại tiếp đón và chữa lành cho họ. Thầy Giêsu đã đón tiếp các người thu thuế và các người tội lỗi, Thầy giảng dạy họ, nhưng thấy vậy, các người Phairisêu và các kinh sư lại xầm xì phản đối. Thầy Giêsu đã kể cho họ các dụ ngôn nói về tình thương của Thiên Chúa.

Cũng như người chăn chiên tốt lành đi tìm kiếm con chiên lạc và mừng rỡ khi tìm thấy con chiên thế nào thì trên trời cũng sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn (x. Lc 15, 4-7). Hay niềm vui của người phụ nữ tìm thấy đồng tiền bị đánh mất và bà đã mời bạn bè chia sẻ niềm vui ấy thế nào thì giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối (x. Lc 15, 8-10). Nếu ta chỉ dừng lại ở việc so sánh xem ai là người công chính đáng được hưởng hạnh phúc mà quên đi lòng thương xót đối với anh chị em mình thì ta sẽ chẳng bao giờ có được niềm vui đích thật. Bởi đang khi so sánh người này với người khác hay so sánh người khác với chính mình, ta dễ mang thái độ kiêu ngạo hay ghen tức, nóng giận. Sự bình an đích thật chỉ đến khi ta biết đón nhận người khác dù cho họ thế nào. Chính khi mở lòng đón nhận người khác cũng là lúc ta được thấy rõ hơn về chính mình. Đón nhận người khác với một tấm lòng chân thành và độ lượng sẽ giúp ta sống tự hạ, vì nhận thấy bản thân mình cũng là một người tội lỗi cần phải sám hối.

Trong dụ ngôn người cha nhân hậu, người anh cả đã tự đặt mình trong sự so sánh với người em, anh đã tức giận và không chịu vào nhà khi biết cha đã giết bê béo mở tiệc đón em mình (x. Lc 14, 11-32). Nếu ta cũng cay đắng trước niềm hạnh phúc của người anh chị em và tự trói mình trong sự so sánh hạn hẹp, làm sao ta nhận thấy tình thương mình đang được hưởng? Rõ ràng, người cha đã ra năn nỉ anh vào nhà và âu yếm nói với anh: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả  những gì của cha đều là của con” (x. Lc 15, 31). Có bao giờ vì ghen tức và nóng giận mà ta đánh mất cảm thức thuộc về, không còn lắng nghe và cảm nhận được lời yêu thương mà Thiên Chúa dành cho mình?

Lạy Chúa Giêsu! Đứng trước tình thương bao la của Chúa, con thấy mình thật bất xứng. Con tha thiết cầu xin Chúa ban cho con có một trái tim quảng đại như Chúa, để mặc lấy tâm tình biết thương xót thứ tha. Xin giúp con vượt ra khỏi sự so sánh hạnh hẹp để có thể chia vui sẻ buồn với người anh chị em và nhận thấy, trước mặt Chúa, chúng con đều được yêu thương. Amen.

 

 

CHIA SẺ NIỀM VUI

Anna Cỏ May

Những người Pharisêu và các kinh sư xầm xì với nhau về việc Chúa Giêsu đón tiếp người tội lỗi và ăn uống với họ. Đối với những người Pharisêu và các kinh sư, những người thu thuế và người tội lỗi là tầng lớp bị xa lánh, khinh chê và bỏ đi. Thế nhưng, Chúa Giêsu -một người được dân chúng tôn trọng- lại đón tiếp những người như vậy. Trước thái độ của họ, Chúa Giêsu đã kể cho họ hai dụ ngôn nói về người chủ đi tìm cái đã mất và một dụ ngôn nói về niềm vui của người cha khi người con trở về. Sau khi đã tìm thấy, người chủ và người cha hết sức vui mừng mời bạn bè hàng xóm lại cùng chung vui (x. Lc15,1-32). Phần chúng ta, chúng ta có hân hoan mời gọi mọi người đến chung vui khi tìm thấy những gì đã mất không? Khi thấy người anh em lầm lạc trở về, chúng ta có vui mừng chào đón hay chúng ta mang tâm trạng của người con cả là tức giận, trách móc với cha cùng khinh chê người em mình?

Thật sự, chúng ta khó đón nhận một người tội lỗi trở về. Chúng ta dễ có sự phân biệt hay kỳ thị về họ qua cách nhìn, lời nói hay hành động. Từ những thái độ ấy, tạo cho họ cảm giác bị xa lánh, và bị bỏ rơi, không được đón nhận. Họ dễ trở lại con đường lẫm lỡ mà họ biết hậu quả là thế nào. Còn trên trời, các triều thần Thiên Chúa, ai nấy vui mừng khi một người tội lỗi ăn năn sám hối và được tha, cùng mở tiệc ăn mừng và khôi phục lại địa vị làm con (x.Lc 15, 7.10). Đó là tình thương tuyệt vời và lạ lùng của Thiên Chúa. Ngày nay, Chúa Giêsu vẫn đang mời gọi mỗi người chúng ta hãy vui mừng vì người anh em được tha, được trở về. Vì tất cả mọi người là con Thiên Chúa là anh em của nhau trong gia đình đức tin. Mỗi người chúng ta điều có lỗi lầm, không ai hoàn hảo. Chúng ta được hoàn hảo khi hiệp nhất yêu thương và đón nhận nhau trong tình yêu của Chúa Giêsu. Vì Chúa Giêsu là tình yêu (x. 1Ga 4,16).

Hỡi tội nhân! Đừng vì ánh mắt hay một lời nói, cử chỉ của người khác mà nản lòng, nhưng hãy vượt lên chính mình và tin tưởng vào Đấng mà mình đã tin. Vì Ngài vẫn, đã và đang khôi phục vị trí là con Thiên Chúa cho ai trở về như người cha trong dụ ngôn. Đừng ngần ngại và chần chừ nữa, chúng ta hãy đón nhận nhau để giúp nhau sống hạnh phúc, hạnh phúc trên Nước Trời. Vì tất cả lề luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Gl 5,14). Amen.

 

HỐI CẢI.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Cùng ngồi ăn uống đồng bàn,
Với người tội lỗi, dối gian ở đời.
Nhóm người biệt phái được mời,
Muộn phiền lẩm bẩm, đôi lời trách than.
Dụ ngôn Chúa dậy đừng van,
Một con chiên lạc, miên man trong rừng.
Chủ chiên tìm được vui mừng,
Trên vai vác nó, tưng bừng hát ca.
Quét nhà tìm bạc văng ra,
Tới khi tìm thấy, cả nhà chung vui.
Một người tội lỗi chôn vùi,
Tìm đường hối cải, ngậm ngùi ăn năn.
Thứ tha xóa hết tội căn,
Thiên thần đón tiếp, ghi danh Nước Trời.
Đứa con phung phá một thời,
Ăn chơi xa xỉ, một đời bê tha.
Cô đơn đói khát nhớ nhà,
Trở về sám hối, thứ tha tội đời.
Cha già rộng lượng cao vời,
Yêu thương con cái, rạng ngời tình cha.

Sự hối cải trở về luôn là mẫu gương đẹp. Trở về mang niềm vui đến cho nhiều người. Trở lại là dứt bỏ con đường cũ và bỏ lại sau lưng quá khứ lỗi lầm. Câu truyện người con phung phá trở về là câu truyện rất dễ thương. Hình ảnh người cha nhân hiền chạy ra ôm con làm ai cũng cảm động. Cha sẵn sàng tha thứ lỗi lầm, không phải bảy lần mà tha tất cả. Lời lẽ sám hối của người con: Lạy cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa. Như thế là đủ, con không cần nói thêm, cha đã hiểu và đã thứ tha cho con.

Người cha đối xử cách rất nhân từ và yêu thương đối với người em trở về. Trong khi người anh lớn lại hơi khó chịu vì sự so sánh và ghen tương. Anh cả ở nhà chu toàn bổn phận và không hề trái lệnh cha. Anh giống như những người Biệt phái giữ trọn lề luật, nhưng thiếu sự yêu thương tha thứ. Lề luật và bổn phận làm anh ra khô cằn, tính toán, rồi sinh ra khó chịu và ghen tức với em mình.

Mỗi người chúng ta chia xẻ tâm sự với người anh cả. Chúng ta vẫn tự hào, chúng ta chu toàn mọi bổn phận người con Chúa như thường tham dự thánh lễ Chúa Nhật, lãnh nhận các Bí tích hằng năm, giữ các giới răn và giữ đạo cả đời. Chúng ta đã thực hành tất cả các giới luật, nhưng lại thiếu đi cốt cõi là sự yêu thương tha thứ. Đôi khi chúng ta so đo và ghen tị với những ân huệ của người khác. Người cha yêu thương cả hai anh em, mặc dầu thái độ không đẹp của con cả. Người cha đã ra năn nỉ người con cả và xin anh vào nhà. Cha sợ con bị mất lòng.

Chúa đến để kêu gọi người tội lỗi, chứ không phải người công chính. Chúng ta là những người tội lỗi. Chúng ta cần trở về với tình yêu của Chúa. Truyện kể: Một bà mẹ có đứa con trai đi theo bạn bè xấu và bỏ bê việc thờ lễ. Bà mẹ lo lắng nhiều cho con. Bà tìm mọi cách để cảm hóa cậu nhưng vô hiệu. Vào một Chúa Nhật, thay vì dục con đi lễ, bà nhờ con chuyển gói quà cho một gia đình ở phố bên cạnh. Bà hứa sẽ không rầy rà con nữa. Để khỏi phải nghe mẹ giảng dạy, cậu nhận lời mẹ. Cậu đến nhà theo địa chỉ và bước vào nhà, cậu bỡ ngỡ nhìn một bà già đau ốm còn da bọc xương, cùng với ba cháu nhỏ rách rưới đang khóc lóc vì đói. Cậu vội đưa quà và bước ra. Bà cụ thều thào nói: Cậu ơi, cậu chưa thể đi ngay được. Cậu là ơn Chúa quan phòng và là tình thương của Chúa gởi đến gia đình tôi. Xin Chúa trả ơn cho cậu. Người thanh niên bị cảm xúc mạnh. Ngày hôm sau, không ai nhắc, cậu đã trở lại với gói quà giúp đỡ do chính tiền của mình. Sau đó, anh đã thay đổi cuộc đời. Lòng nhân hậu của hai bà mẹ đã cảm hóa anh.

Lạy Chúa, Chúa luôn giang rộng cánh tay đón chờ chúng con trở về. Về với lòng nhân hậu của Chúa, chúng con sẽ tìm thấy nguồn an vui đích thực.

 

THÀ YÊU LẦM CÒN HƠN BỎ SÓT

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Các bài đọc của Chúa Nhật Thứ 24 Mùa Thường Niên, Năm C, cách riêng bài Tin Mừng có vẻ khá quen thuộc với Kitô hữu, nhất là với những người chuyên chăm tham dự Thánh Lễ và xem trọng phần Phụng Vụ Lời Chúa. Thánh Kinh trình bày về tình yêu của Thiên Chúa thật phong phú và đa dạng. Tuy nhiên cũng có thể khẳng định rằng những dòng tin mừng theo thánh sử Luca ở chương XV mà Giáo Hội cho trích đọc một phần trong Thánh Lễ Chúa Nhật này quả là một mạc khải gây “chưng hửng” cho không chỉ nhiều người biệt phái năm xưa mà còn cho cả chúng ta hôm nay, dĩ nhiên là nếu chúng ta biết “suy đi nghĩ lại” như Mẹ Maria và biết đặt mình vào chính ngữ cảnh khiến Chúa Giêsu phán dạy những Lời ấy.

Ngữ cảnh: Giêsu thành Nagiarét, một vị tôn sư đầy quyền năng trong lời giảng dạy cũng như trong hành động (x.Mt 7,29; Mc 6,2), một người được dân chúng mến mộ tôn xưng vào hàng ngôn sứ (x.Mt 16,13-15)…, Người không chỉ chuyên chăm chữa lành bệnh tật cho dân chúng và xua trừ ma quỷ ra khỏi những người chúng ám, Người còn giảng dạy các chân lý về Nước Trời và mời gọi người ta hoán cải ăn năn. Thế mà Người lại thường xuyên lui tới và cùng ngồi ăn uống với những hại dân hại nước là “bọn thu thuế” và “phường bán thân nuôi miệng”. Bá nhân bá tánh, mười người trăm ý, chuyện miệng tiếng người đời thì làm sao lường cho xuễ. Cũng thế, việc một số người biệt phái và luật sĩ lảm bẩm, xầm xì và bình phẩm chuyện Chúa Giêsu thường xuyên lui tới và cùng ngồi ăn uống với người thu thuế và phường “tội lỗi” thì cũng không là vô cớ. Ngài Giêsu đã không từng giảng dạy rằng chớ có làm cho người ta vấp phạm đấy ư. Ngài còn mạnh miệng cho rằng nếu ai làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn thì thà cột cối đá vào cổ người ấy mà liệng xuống biển còn hơn. Tuy nhiên chúng ta đừng quên cớ vấp phạm ở đây là cái nguyên nhân xấu. Còn những dữ kiện gây thắc mắc, gây tranh luận, gợi thao thức là việc khác hoàn toàn. Chính Chúa Giêsu đã từng ví Người là viên đá vấp cho nhiều người, đúng như lời tiên tri Simêon loan báo dịp cha mẹ Người đem Người lên Giêruslem để làm lễ tiến dâng theo Lề Luật (x.Lc 2,33-35).

Nguyên cớ gây thao thức: Tình yêu đón nhận mọi sự hạn chế, mọi sự bất toàn. Khi nghe đọc bài tin mừng về dụ ngôn người con hoang đàng hay đã được sửa lại là dụ ngôn người cha nhân hậu hoặc đã từng được đề nghị là dụ ngôn người con ganh tị. Đã từng một thời Kitô hữu được gợi ý là tập trung vào hình ảnh người con phung phá hoang đàng để nhận biết thân phận tội lỗi của mình để rồi sám hối, ăn năn. Cũng đã từng có lúc người ta tập trung vào hình ảnh người con cả của câu chuyện để mời gọi Kitô hữu cảnh giác với sự ganh tương đố kỵ như trường hợp một số người biệt phái ngày xưa, hoặc biết phản tỉnh với lối sống “người thì bên trong mà lòng thì bên ngoài”. Vì lắm khi chúng ta tuy mang danh con cái Chúa, nhưng chỉ là “hữu danh vô thực”. Thời gian gần đây ngưởi ta tập trung vào tình yêu bao la của người cha nhân hậu và có thể nói rằng đây chính là trọng tâm của lời mạc khải qua câu chuyện dụ ngôn mà Chúa Giêsu kể hôm ấy.

Nói đến sự bao la của tình yêu Thiên Chúa, một số đấng bậc có vẻ như ngại ngần vì cho rằng sẽ làm cớ cho đoàn tín hữu sống ỉ lại. Và rồi số vị ấy thích đề cao sự công thằng của Thiên Chúa hơn. Một số vị khác thì phân vân như đứng giữa ngã ba đường khi vừa nói đến lòng thương xót của Thiên Chúa vừa nói đến sự công thẳng của Người. Thiên Chúa là Đấng tốt lành vô cùng và cũng là Đấng công bình vô cùng. Khởi đầu triều đại giáo hoàng của mình Đức Bênêđictô XVI qua Thông Điệp Thiên Chúa là Tình Yêu đã nhấn mạnh hiện thực này: Thiên Chúa bày tỏ tình yêu của Người cho nhân loại chúng ta một cách như chống lại sự công minh của Người (x.số 10).

Người cha trong câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể đã rộng tay chia gia tài cho các con. Ông chia gia tài cho đứa con mở miệng kêu xin và chia cho cả đứa con không xin. Ông ta quả là liều lĩnh và bất chấp các tình huống có thể xảy ra. Ông chẳng thể lường đứa con thứ kêu xin sẽ sử dụng gia tài ra sao. Ông cũng chẳng biết đứa con còn lại không xin vì không dám xin hay vì không muốn xin. Không lưỡng lự, ông đã chia cho cả hai.

Chắc chắn người cha nhân hậu biết rõ tình cảnh bi đát đến độ thua cả loài heo của đứa con đi hoang, vì chính người con cả đã khẳng định sự thật này (x.Lc30). Thế mà ông cứ ngày ngày ngóng trông đứa con “bất hiếu và hỏng hư” quay gót trở về. Lòng của ông vẫn ắp đầy niềm hy vọng sẽ có ngày thấy con mình “đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”. Và kìa, nó đây rồi, nó đã trở về. Nó về vì thương cha già này hay là chỉ xót cái bụng rỗng của nó? Không sao cả, tình yêu không cần đặt điều kiện. Đứa con lớn đang ở trong nhà mà lòng như kẻ ăn người ở, ông cũng đón nhận hết tình. Không sao cả, rồi sẽ đến lúc nó hiểu rằng mọi sự của ông là dành cho nó, đã thuộc về nó, vì mọi sự của cha đều là của con (x.Lc 15,31).

Đã yêu thì không ngồi chờ người mình yêu hoàn thiện rồi mới đón nhận. Đón nhận người mình yêu cả trong sự hạn chế lẫn bất toàn của người mình yêu thì mới là tình yêu đích thực vô cầu, vô vị lợi, nghĩa là chỉ vì người mình yêu. Thánh tông đồ dân ngoại khẳng định chân lý này khi nói rằng Chúa Kitô đã chết vì chúng ta, ban ơn tha thứ cho chúng ta, đưa chúng ta về làm con cái Thiên Chúa ngay khi chúng ta còn là kẻ phản nghịch, nghĩa là ngay khi chúng ta đang còn trong cảnh tình tội lỗi.

Xin đừng sợ bị lợi dụng, chẳng thà yêu lầm còn hơn bỏ sót. Xin đừng ngồi chờ tha nhân hoàn thiện rồi chúng ta sẽ yêu thương. Chính tình yêu của chúng ta, một tình yêu vô điều kiện mới là động lực giúp tha nhân nên hoàn thiện. Đồng thời cũng chính tình yêu ấy sẽ giúp chúng ta hoàn thiện vì chúng ta đang ngày càng nên giống Cha, Đấng hoàn thiện ở trên trời, Đấng cho mưa rơi đều trên người lành lẫn kẻ bất lương, cho mặt trời mọc lên soi người công chính lẫn tội nhân (x.Mt 5,48).

 

MÀU TÍM BUỒN VỚI NGƯỜI CON THỨ

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Ðọc bài Tin Mừng hôm nay, tôi thấy man mác một màu tím buồn với người con thứ.

Người con thứ đòi Cha chia gia tài rồi bỏ đi vô tình, rời khỏi ngôi nhà, nơi nó sinh ra, được nuôi dưỡng và lớn lên. Trong phong tục dân Do thái thì gia tài chỉ được chia sau khi cha chết; vì thế mới có chuyện một người đến xin Chúa Giêsu bảo người anh chia phần gia tài (x. Lc 12,13). Đòi lấy phần gia tài lúc cha còn sống tức là anh ta coi như cha đã chết. Thật buồn cho đứa con ngỗ nghịch! Trẩy đi miền xa, người thanh niên có một nỗi khát khao là ra khỏi luỹ tre làng, muốn nhìn xem thế giới mới lạ bên ngoài, thích miền xa hơn là ở quê nhà.

Người con thứ bỏ nhà ra đi với tiền bạc, không phải để làm ăn xây dựng tương lai, nhưng để “sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình”. Khi trở về nó chẳng còn gì cả: tiền bạc, sức khoẻ, phẩm giá, lòng tự trọng, sự hối hận! mọi thứ đã bị nó tiêu xài hoang phí. Nó đã mất hết, may mà còn lại một điều duy nhất là “đứa con nhỏ của cha nó”.

Ở đời, người ta thường vinh quy bái tổ khi công thành danh toại, còn người con thứ khi trở về thì thân tàn ma dại, hai bàn tay trắng.

Ðộng lực nào đã khiến nó trở về ? Thánh Luca viết rõ: “Hồi tâm lại, nó nói: biết bao người làm công cho Cha tôi có dư thừa bánh ăn, còn tôi thì phải chết đói ở đây! Thôi dậy, tôi sẽ về cùng Cha tôi“. Như vậy động lực nó trở về là đói, cái đói cào cấu trong dạ dày làm cho nó hồi tâm. Trước khi bị đói chắc chắn nó không bao giờ nhớ đến Cha, không bao giờ sám hối vì bỏ Cha ra đi, không thấy băn khoăn hồi tâm về mái ấm gia đình, nơi còn có Cha già chẳng biết đau yếu ra sao, không thấy tiếc nuối vì phá tan cả sự nghiệp của Cha. Khi bị cơn đói hành hạ, phải đi chăn heo, nó mới băn khoăn tìm đường về. Cái hồi tâm, cái băn khoăn của nó là làm sao để được ăn.Nó dự tính nói với Cha là nó trót phạm lỗi nghịch với trời, nó không còn đáng gọi là con, nó chỉ xin được đối xử như người làm công. Ðó là một cuộc trở về trọn vẹn hay sao? Ðó là cuộc lên đường được thúc đẩy bởi lòng sám hối hay sao? Sự thống hối của nó chỉ là vị kỷ nhằm khả năng có thể sống sót mà thôi.

Nếu người con thứ thành công xây dựng cơ nghiệp, có lẽ sẽ không hiểu được tình Cha. Vì nếm mùi thất bại chua chát của cuộc đời nên nó lên đường trở về. Nó không đủ can đảm đi làm người ăn xin,không đủ liều mạng để đi trộm cướp, không dám đánh đổi cả cuộc đời để gây tiếng xấu. Nó sống bằng nghề lương thiện là đi chăn heo, dù sao cũng sống bằng sức lao động của mình. Từ kinh nghiệm của vực thẳm này nó mới hiểu được mặt trái cuộc đời. Đó không là chốn nương thân cho kẻ nghèo khổ, không là chỗ hạnh phúc cho kẻ khố rách áo ôm, không là chỗ cho kẻ cô thân cô thế. Vì vậy chỉ còn một con đường duy nhất là trở về xin tha thứ và làm công cho Cha để có cơm ăn áo mặc.

Tất cả ý nghĩa của cuộc trở về được diễn tả cách cô đọng trong những lời “Cha ơi… con không đáng gọi là con Cha nữa“.

Giuđa đã phản bội Chúa Giêsu. Phêrô đã chối Chúa. Cả hai đều đánh mất tình con thảo. Giuđa không còn tiếp tục tin tưởng mình vẫn là con Chúa, không tin vào lòng tha thứ của Chúa nên đã đi thắt cổ tự vẫn.Còn Phêrô khi ở giữ sự tuyệt vọng đã muốn nối lại tình Cha con với những giòng nước mắt thống hối. Giuđa chọn cái chết. Phêrô chọn sự sống.

Ðọc câu chuyện, tôi thấy động lực của sự trở về nơi người con thứ là cái đói hành hạ. Sự trở về lý tưởng phải là sự trở về của lòng sám hối với tình yêu chân thành. Những khi ngồi Toà Giải Tội, tôi gặp những hối nhân sau 5 năm, 10 năm thậm chí đến 20 năm, 30 năm mới trở về cùng Chúa. Mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau. Những bầm dập của của cuộc đời, những gian truân vất vả, những thất bại chua chát đã cho họ rút kinh nghiệm là cần trở về với Chúa, nguồn mạch của bình an nội tâm, của niềm vui và hạnh phúc. Chính Chúa đã yêu thương, đã tác động và một khi nào đó như Chúa muốn họ trở về cùng Ngài. Như thế họ đã chọn lấy sự sống. Gặp gỡ những hối nhận đó tôi càng thấm thía hơn dụ ngôn “Ðứa Con Hoang Ðàng”.

Chúa Giêsu Ðã Trở Nên “Người Con Hoang Ðàng” Vì Chúng Ta

Anh Piere Marie người sáng lập Huynh Ðoàn Giêrusalem, một cộng đoàn các tu sĩ sống trong thành phố, đã suy niệm về Chúa Giêsu như người con hoang đàng theo Phúc Âm một cách thú vị. Xin trích dẫn tác phẩm “Người Cha Nhân Hậu” của Henri J. M. Nouwen, trong đó có một đoạn anh Pierre Marie đã viết:

“Ðức Giêsu được sinh ra không bởi dòng dõi, ước muốn hay ý chí của con người, nhưng bởi chính Thiên Chúa. Một ngày kia, Ngài đã để mọi sự dưới chân Người và ra đi với gia sản của Ngài, là tước hiệu làm Con Thiên Chúa của Ngài?

Với giá chuộc tất cả, Ngài đã ra đi tới miền xa… miền đất rất xa… nơi mà Ngài đã trở thành như con người và đã làm trống rỗng chính mình. Chính dân của Ngài cũng không nhận biết Ngài và cái giường đầu tiên của Ngài là một nệm rơm. Giống như một cây đâm rễ nơi đất khô cằn, Ngài trưởng thành trước chúng ta, đã bị khinh bỉ là hạng thấp nhất trong con người. Chẳng bao lâu Ngài đã nếm sự lưu đày, sự chống đối, sự cô độc… sau khi đã cho đi mọi thứ trong đời sống cách rộng rãi, của cải, bình an, ánh sáng, sự thật, chính đời sống của Ngài… mọi kho tàng hiểu biết, khôn ngoan và mầu nhiệm đã được giữ kín từ muôn đời.

Sau khi đã hạ mình xuống ở giữa những con cái hư mất của nhà Ítraen, Ngài đã phung phí thời giờ của Ngài với những người đau ốm tật nguyền, với những người tội lỗi, ngay cả với những gái điếm, Ngài cũng hứa cho họ vào Nước của Cha Ngài; sau khi đã bị đối xử như một tên tham ăn, như một bợm nhậu, như một người bạn của bọn thu thuế và tội lỗi, như một người Samaria, một người bị quỷ ám, một kẻ phạm thượng; sau khi đã hiến dâng tất cả mọi sự, ngay cả thân xác và máu Ngài; và khi linh hồn Ngài cảm thấy một nỗi buồn sâu xa, hấp hối, phiền sầu; sau khi đã đi tới đáy của sự tuyệt vọng, Ngài muốn mặc lấy nơi mình sự bị bỏ rơi bởi Cha, lìa xa ngưồn Nước Hằng Sống, Ngài đã kêu lên từ Thánh Giá nơi Ngài bị đóng đinh: “Ta khát”. Ngài đã yên nghỉ trong bụi đất và bóng đêm sự chết. Ba ngày sau Ngài Phục Sinh, chỗi dậy từ chiều sâu ngục tối nơi Ngài đã xuống, Ngài đã mang lấy tội lỗi của chúng ta, Ngài đã gánh hết những đau thương của chúng ta. Ðứng thẳng, Ngài kêu lên: “Phải, Ta lên Trời với Cha Ta cũng là Cha của con, là Thiên Chúa Ta cũng là Thiên Chúa các con”. Và Ngài đã trở lại Thiên Ðàng…

Trong sự thinh lặng chiêm ngắm tất cả con cái trong Người Con từ khi Người Con trở thành tất cả cho mọi người, Người Cha nói với các tôi tớ: “Nhanh lên, hãy mang áo đẹp nhất mặc cho cậu, hãy xỏ nhẫn vào tay cậu, giày vào chân cậu. Chúng ta hãy mở tiệc ăn mừng, vì con Ta đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy… Người Con Hoang Ðàng của Ta đã mang tất cả mọi ngươì trở về…”

Và tất cả bọn họ bắt đầu dự tiệc, mang trên mình chiếc áo trắng dài đã được giặt sạch trong máu của Con Chiên…”.

NGƯỜI CHA NHÂN HẬU

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Hình ảnh người Cha nhân hậu là khuôn mặt của một Thiên Chúa, khiêm nhường, yêu thương, giầu lòng thương xót. Đọc Tin mừng của Đức Giêsu, chúng ta khám phá ra gương mặt của một Thiên Chúa nhân từ, khiêm tốn, một Thiên Chúa quyền năng tuyệt đối nhưng lại luôn tôn trọng sự tự do của con người.

Nếu suy nghĩ về khía cạnh nhân loại, chúng ta không thể nào hiểu thấu : “ Tại sao Thiên Chúa quyền năng lại tỏ lòng nhân từ và tôn trọng tự do tuyệt đối của con người ?”. Người Do Thái xưa cứ tưởng rằng mình là dân được tuyển chọn, ơn cứu độ Thiên Chúa chỉ dành riêng cho họ…Họ đã lầm lớn, họ là dân được chọn nhưng họ lại từ chối ơn Chúa ban.Do đó, ơn cứu độ Thiên Chúa ban cho mọi người miễn là con người biết mở rộng lòng để đón nhận ơn cứu độ Chúa tặng ban. Thiên Chúa quyền năng vô cùng lớn lao vì Người là Thiên Chúa, nhưng Người vẫn chờ đợi mỗi người tự do đáp trả lại lời mời gọi đón nhận hay không đón nhận ơn cứu độ Chúa ban.

Hình ảnh của người Cha trong Tin Mừng đã chấp nhận chia gia tài cho người con thứ, mặc dầu người Cha biết rằng đứa con thứ sẽ phung phí và đi vào chỗ trụy lạc. Tuy nhiên lòng thương của người Cha dạt dào bao la rộng lớn đã làm cho người con hoang đàng nhận ra tình thương và sự tha thứ của người Cha.

Hình ảnh của người Cha trong đoạn Tin Mừng hôm nay là gương mặt yêu thương nhân từ, giầu lòng thương xót của Thiên Chúa khiêm tốn, nhân hậu. Loài người, con người chúng ta dù có tội lỗi yếu hèn, dù có phản nghịch, vô ơn bội nghĩa, Thiên Chúa vẫn chờ đợi.Thiên Chúa yêu thương hết lòng, yêu thương tha thiết, nên Ngài sẵn sàng tha thứ tội lỗi cho con người…Tình yêu của Ngài là tình yêu cứu độ. Sự tha thứ của Người trở nên dẫn chúng ta đến tình yêu dâng hiến trọn vẹn.

Thiên Chúa yêu thương tha thứ là Thiên Chúa đi ra để đón đứa con thứ trở về.Thiên Chúa cứu độ là Thiên Chúa đi ra để năn nỉ người con cả đi vô nhà để vui mừng với đứa em đi hoang trở về và nhân từ nói với người anh cả :” Tất cả những gì của Cha là của Con “. Thiên Chúa cứu độ, giầu lòng thương xót là một Thiên Chúa không sợ mất đi sự oai phong, lẫm liệt của một Thiên Chúa uy quyền để ra đón nhận người con đi hoang và người con cả đang ích kỷ, xeo nại vì người Cha đã quá yêu thương, nuông chiều người con.

Vâng, là Kitô hữu, chúng ta thuộc về Chúa. Chúng ta đừng sợ quay trở lại với Chúa mỗi khi chúng ta xa Chúa, mỗi khi chúng ta phản nghịch bội phản, vô ơn với Chúa. Bởi vì Thiên Chúa giầu lòng tha thứ, hết mực khoan nhân chờ đợi con người quay trở về với Ngài…Chúng ta hãy tuyệt đối tin tưởng vào Lòng Nhân Từ Thương Xót của Ngài.

Dụ ngôn hôm nay là hình ảnh sống động, một bức tranh tuyệt đẹp mà Thiên Chúa để lại cho con người. Hình ảnh này là hình ảnh của Một Thiên Chúa khiêm nhượng, nhân từ, luôn yêu thương thứ tha cho con người, đặc biệt cho các tội nhân biết ăn năn sám hối, quay trở về với Thiên Chúa.

Cho nên, là môn đệ của Chúa, chúng ta phải noi gương bắt chước lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Chúng ta cũng không được phép thất vọng về sự yếu hèn của ta và của những người chung quanh mà luôn tin tưởng vào lòng nhân từ yêu thương tha thứ của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn biết hoán cải để tin vào Chúa nhân từ và sửa đổi để nên giống Thiên Chúa nhân từ. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Hình ảnh người Cha nhân từ trong đoạn Tin Mừng của thánh Luca 15,1-32 là hình ảnh của ai ?
2.Người con thứ thế nào ?
3.Người con cả thế nào ?
4.Thái độ của chúng ta phải ra sao trước Lòng Nhân Từ của Thiên Chúa ?

 

 

MẤT MÁT

Lm. Vũ Đình Tường

Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm bị mất. Không phải chỉ con người bị mất mà ngay cả loài thú hoang cũng có kinh nghiệm bị mất. Nói một cách chung thì có hai loại mất cho con người đó là mất về mặt thể chất và mất về mặt tinh thần.

Về thể chất lại được chia làm hai loại. Mất những gì trong con người và mất những gì liên quan đến con người. Có những thứ mất trong ta thể hiện bản tính của ta. Thí dụ như mất tự chủ, hay nóng giận thể hiện bản tính con người. Mất trí nhớ, mắt kém, mất ăn, mất ngủ đều thể hiện trạng thái trong con người. Mất liên quan đến con người như vật kỉ niệm, quà tặng, giấy tùy thân, mất hướng đi, mất học. Tất cả đều ảnh hưởng đến cuộc sống.

Mất về mặt tinh thần được chia thành tinh thần và tâm linh. Mất về mặt tinh thần nguy hiểm hơn mất vật chất. Thí dụ như mất bạn hữu, mất nhận biết mình là ai. Mất tự tin, mất hy vọng vào cuộc sống, mất lòng tin vào anh em. Mất nguy hiểm nhất là mất đức tin bởi mất đức tin là mất tất cả, kéo theo cả sự sống trường sinh.

Mất ảnh hưởng đến cả cuộc đời là mất người thân và đây chính là kinh nghiệm của người cha trong Kinh Thánh nhắc đến. Nghe thoáng qua thì người ta thấy người cha này mất con. Khi suy nghĩ kĩ sẽ thấy người cha mất nhiều hơn là mất con. Truớc hết người cha không còn chọn lựa nào khác ngoại trừ chia nửa gia tài cho người con. Như thế ông ta mất rất nhiều của, nửa gia tài. Có của trong tay người con bỏ nhà ra đi như thế ông ta biết rõ con ông mất hướng đi tốt. Cách sống tốt lành ông dậy con, mong con thành người tốt, nhân đức bị con cho vào sọt rác. Ông là người thành công trên thương trường, có gia sản đồ sộ, có con ăn, đầy tớ, người làm nhưng ông thất bại trong gia đình, thất bại việc bày tỏ tình yêu cho con hiểu. Hai điều mất tiếp theo làm ông đau khổ hơn nhiều. Thứ nhất là việc người con bỏ nhà ra đi đánh mạnh vào cái tâm lí thất bại của người cha. Con bỏ nhà đi vì không chịu nổi cha. Ở đây không phán đoán đúng sai nhưng nói về cảm xúc người này cảm nhận về người kia. Người con cảm nhận cha anh không yêu anh. Tình cha con sứt mẻ không thể hàn gắn ngoài cách thoát li. Điều làm người cha đau khổ hơn nữa là vấn đề tâm linh của người con. Anh ta đi theo con đuờng ăn chơi, bê tha đời sống đức tin và ảnh hưởng đến sự sống trường sinh.

Người cha có quá nhiều kinh nghiệm đau thương, mất mát nhưng người cha không bao giờ mất hy vọng, không tuyệt vọng. Không biết điều gì khiến ông tin tưởng mãnh liệt ngày nào đó con ông sẽ trở về. Điều chắc chắn là tình yêu ông dành cho con lớn hơn lỗi lầm con mắc phạm- bỏ nhà ra đi, chê trách cha. Tình yêu ông dành cho con quan trọng hơn vật chất- nửa gia tài của ông. Niềm hy vọng của người cha luôn vững chắc và tin tưởng ngày nào đó con ông sẽ nhận ra sai lầm của mình và quay về. Người cha không chỉ hy vọng trong thầm lặng, hy vọng, ông chuẩn bị đón chờ ngày đó đến. Ông âm thầm cho vỗ béo bò chuẩn bị cho tiệc mừng con ông trở về. Bên cạnh đó ông còn sắm giầy cho cậu, mua áo mới cho cậu. Khi việc chuẩn bị tạm ổn, chiều chiều ông ngồi trước cổng nhìn về phía chân trời hy vọng trông thấy con thất thểu trở về. Niềm hy vọng của ông không tắt và ông được toại nguyện. Người con nhận ra mình sai lầm, nhận biết tình yêu của cha và anh đã từ giã bóng tối trở về ánh sáng tình thương. Người con trở về nhận lại tình yêu cha dành cho, ông ôm con trong lòng, tha thứ mọi lầm lỗi và mở tiệc mừng đón con.

Tình yêu và lòng xót thương Chúa dành cho ta khoan dung, đại lương hơn tất cả tội ta đã phạm. Xin ơn này để can đảm trở về.

 

TÌM VỀ

Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng

TÌM VỀ CHÍNH MÌNH

Khi con người sai lầm, con người phạm tội, con người “chạy trốn” chính mình! Khi ấy, con người không muốn nghe tiếng nói lương tâm, tiếng nói từ sâu thẳm lòng mình.

Nhiều kẻ lún sâu vào sai lầm, vào tội ác, nhưng vẫn sống an nhiên như người thánh thiện. Họ đã rời xa con người thật của họ. họ sống trong lớp vỏ bình an giả tạo. Với loại người này, họ không còn con đường về nẻo thiện lương. Họ đánh mất chính mình. Họ đánh mất nhân tính. Có những vụ án giết người, mà kẻ tội phạm kể lại tội ác mình làm khi đứng trước vành móng ngựa thật bình thản đến lạ lùng!

“Sai lầm là thường tình của con người”. Để “nhận ra mình sai lầm”, cần phải khiêm nhường.

Không khiêm nhường không thể thấy mình sai. Không thấy mình sai thì cứ cho mình đúng. Cứ cho mình đúng là kiêu ngạo. Mà kiêu ngạo thì đối nghịch lại khiêm nhường… cái vòng lẫn quẫn ấy cản trở con người bước vào con đường nội tâm. Không đi vào nội tâm, không thể tìm về chính mình được.

Đi vào nội tâm là lúc con người hồi tâm lại, và nhìn đoạn đường mình đã đi qua. Để xem mình đang đi về đâu. Có hồi tâm mới có hối hận. Không giọt nước mắt ăn năn sám hối nào rơi xuống mà con người không nhìn sâu vào tận đáy lòng mình. Đó chính là lúc tìm về chính mình thật sự.

TÌM VỀ GIA ĐÌNH

“Không ai là một hòn đảo”. Ngay cả những người đã “phủi bụi trần” để khép mình vào “bốn bức tường” tu viện, vẫn cần có tình người. Tìm về gia đình – hay đại gia đình – là mở rộng tấm lòng để sống có trách nhiệm với cha mẹ, anh em, người thân, tha nhân, đoàn thể, cộng đồng…

Trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay, đứa con hoang đàng đã tìm về không phải vì nhớ thương cha mẹ hay anh em trong nhà, mà vì cái bụng đói, vì cuộc sống quá gian nan, nhục nhã. Lý do tìm về chỉ nhắm tới lợi ích riêng mình, còn rất ích kỷ. Khi ra đi với lý do ích kỷ, tìm về cũng với lý do ích kỷ. Động lực sám hối chưa sâu xa. Chính vì lý do đó mà người anh trong câu chuyện đã không thể chấp nhận được. “Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay tìm về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!” (Lc 15,30)

Nhưng, cũng chính vì lý do non nớt, trẻ con đó, mà tình cha càng nổi bật, càng lớn lao. Bất kể là vì lý do gì, miễn là đứa con biết ăn năn sám hối, biết tìm về gia đình. Người cha không nói rằng đứa con trai lớn đã nghĩ sai, nhưng chỉ nói lên lý do đứa con lầm lỗi cần được thương xót. Nó đang cần tình thương. Và dù cho thế nào, nó vẫn là đứa con mà ông hết mực thương yêu. Và tình yêu đó không có sức mạnh nào lay chuyển. Và người cha muốn đứa con trai lớn mình phải hiểu và chấp nhận em mình với tấm lòng bao dung cao cả như vậy. “Yêu thương em mình như tình cha”. Điều này, chúng ta gặp thấy nơi giới luật yêu thương của Chúa Giêsu: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương chúng con”.

Và đó, chính là ý nghĩa của việc tìm về gia đình. Không có nơi nào con người nương tựa vững chắc như mái ấm gia đình. Trong sự bảo vệ, đùm bọc của tình cha nghĩa mẹ. Đó còn là hình ảnh của “gia đình Chúa Giêsu”, của “đại gia đình nhân loại”. Tình thương anh em phải được nâng cao lên, hơn tầm nhìn của người anh trong câu chuyện Tin Mừng này. Vì đó là Đại Gia Đình Thiên Chúa. “Một Đức Tin, một Phép Rửa, một Thiên Chúa là Cha”.

TÌM VỀ BÊN CHÚA

Trong cuộc đời, có những cuộc tìm về bị chối từ, nhưng với Thiên Chúa thì không, vòng tay của Ngài luôn rộng mở.

Điều Ngài muốn duy nhất, là con người biết ăn năn, sám hối. Sự sám hối có khi còn rất nông cạn, còn rất đời thường, còn rất vật chất, còn vì cái lợi trước mắt. Nhưng căn bản là nhận ra rằng Chúa chính là nơi con người nương tựa thật sự. Không tìm về nơi đâu khác, mà tìm về chính Thiên Chúa. Và tin tưởng rằng Chúa vẫn hằng yêu thương tha thứ.

Sự tìm về của Giuđa Ít-ca-ri-ốt là sự tìm về dang dở.

Giuđa biết “tìm về chính mình”. Anh ta đã “nhìn lại mình” và đau khổ. Anh có sám hối. Đó là một khởi đầu rất tốt. Giuđa thật can đảm. Sự tìm về với chính mình của Giuđa thật tuyệt vời. Nhưng thật đáng tiếc, những bước tiếp theo lại thất bại. Thật tội nghiệp cho Giuđa, anh đã không đến được với Chúa vì anh không hình dung được tình yêu Chúa bao la đến mức có thể tha thứ tội tày trời của anh!

Có người bảo rằng thật tiếc là kết thúc cuộc đời của Giuđa “không có hậu”. Nếu Giuđa tin vững vào Tình Yêu của Chúa, không ngã lòng trông cậy, phần kết luận sẽ khác! Thí dụ như Giuđa không tự tử, Giuđa khóc lóc hối hận một đời như thánh Phêrô. Rồi Giuđa sau này rao giảng về Chúa phục sinh, lời lẽ của Giuđa sẽ mạnh mẽ: “Tôi đã từng bán Chúa! Tôi đã chen vào đám đông và đứng chứng kiến người ta đóng đinh Chúa trên Thập Giá. Trong khoảnh khắc tình cờ từ trên Thập Giá Chúa đã nhìn thấy tôi. Đôi mắt Ngài nhân từ, đượm buồn nhưng rất âu yếm…”. Và cuối cùng, Giuđa đã bị treo cổ vì đã rao giảng về Giêsu đã chết và đã Phục Sinh, chứ không phải tự treo cổ vì tuyệt vọng! Kết thúc được như vậy cuộc đời Giuđa thật đẹp biết bao!

Có thể sự hối hận của Giuđa quá muộn màng. Cách sống của Giuđa quá biệt lập trong “gia đình các môn đệ”. Khi Giuđa biết “tìm về chính mình” và sám hối ăn năn, Giuđa lại cảm thấy lẻ loi, mang nặng mặc cảm tội lỗi với Chúa và với anh em. “Một trong các môn đệ của Chúa Giêsu là Giuđa Ít-ca-ri-ốt, kẻ sẽ nộp Người, liền nói: ‘Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đồng bạc mà cho người nghèo?’ Y nói thế, không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung” (Ga.12.4-6). Bước tiếp theo “tìm về gia đình”, hòa nhập vào “cộng đoàn môn đệ” là không thể được. Giuđa không thể nào chịu nổi sự lạc lỏng, cô đơn, có khi là “búa rìu” của “dư luận” ngay trong “gia đình môn đệ”, không còn con đường tìm về bên Chúa được nữa, Giuđa đã chọn con đường tự tử. Giuđa không đủ niềm tin để chỗi dậy.

Hãy thử tưởng tượng đứa con trai hoang đàng trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay đã “không dám” về gặp thẳng cha mình, mà về gặp anh mình để “thăm dò” xem cha mình có thể “nhận” mình không, thì người anh sẽ phản ứng ra sao? Dựa vào phần kết câu chuyện, chắc chúng ta cũng có thể suy ra những câu nói của người anh đối với em mình thế nào! Những câu nói có thể đại loại như: – “mầy còn vác mặt mày về đây hả?” – “Mày định về đây chia cái gì nữa đây?” – “ Mày làm tán gia bại sản chưa hài lòng chắc?” – “Ông già thất vọng về mày”… Và đứa con trai hoang đàng sẽ rút lui. Sự tìm về của nó thất bại. Nó sẽ lại bước vào dòng đời gió bụi. Nó sẽ chết ở xó kẹt nào đó, mang theo nỗi lòng đau khổ sám hối ăn năn mà không còn cơ hội nhận ra được người cha đang yêu thương chờ đợi nó.

Có rất nhiều vật cản trên “bước đường tìm về”. Có rất nhiều sương mù làm nhạt nhòa hình ảnh Thiên Chúa là Người Cha Nhân Hậu. Không phải chỉ ngày xưa, thời Pharisêu, Biệt Phái, mà trong cả thời nay, có khi ngay cả trong lòng Giáo Hội.

Chuyến tìm về của đứa con trai hoang đàng trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay thành công, vì anh đã can đảm đến với cha mình. Anh trực tiếp thấy được dung nhan hiền từ của cha mình ngoài sức tưởng tượng của anh. Không có cánh tay trừng phạt giáng xuống anh, chỉ có vòng tay êm ái ôm chằm lấy anh. Không có những lời hạch tội quát mắng, chỉ có những lời ra lệnh mở tiệc ăn mừng. Không có những lời lên án, chỉ có những lời bênh vực. Không có bờ môi đay nghiến, chỉ có những nụ hôn. Không có chỗ ở để nhận thêm một đầy tớ, chỉ có chỗ ở dành cho đứa con bao năm chờ đợi trở về. Anh trực tiếp cảm nghiệm được lòng yêu thương của cha anh trổi vượt hơn vạn lần anh suy đoán. Anh nhận được ân huệ của cha anh lớn lao vạn lần hơn những gì anh van xin.

Sự vui mừng của cha anh cho anh lòng tự trọng. Cho anh vững bước tiến lên để xứng đáng với tình cha. Cha anh tin tưởng anh làm lại cuộc đời mới. “Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.” (Lc.15,32).

Chỉ có Chúa Giêsu mới trả lời được vì sao “các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Người”, và vì sao Người lại “đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với họ”. Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. Những người Pharisêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” (Lc.15,1-32).

Chỉ có Chúa Giêsu mới diễn tả đúng mức thế nào là Thiên Chúa là Cha Nhân Từ. và thế nào là Tình Yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại khi vòng tay của Người dang rộng trên Thập Giá. “Ông Philípphê nói: ‘Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện’. Đức Giêsu trả lời: ‘Thấy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philíphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’?” (Ga.14,8-9).

Lạy Chúa, Xin đừng làm rạng rỡ chúng con, vâng, lạy Chúa, xin đừng! nhưng xin cho danh Ngài rạng rỡ, bởi vì Ngài thành tín yêu thương. (Tv.115,1). Amen.

 

XIN CHUNG VUI VỚI TÔI

Lm. Giuse Nguyễn An Khang

Hai dụ ngôn: con chiên lạc và đồng bạc bị mất giống nhau về hình thức, lời văn cũng như nội dung tư tưởng và giáo huấn, đến nỗi có thể gọi chúng là hai dụ ngôn sinh đôi. Thực vậy, hai dụ ngôn đó, Đức Giêsu lần lượt đưa ra một người đàn ông và một người đàn bà, một mục tử mất chiên và một nội trợ mất tiền. Có khác về con số nhưng cùng một giáo huấn:

Dụ ngôn chiên lạc

Một người chăn chiên có một trăm con, lạc mất một, người đó để chín mươi chín con nơi hoang vắng để đi tìm con lạc, việc đi tìm không phải dễ, giữa cảnh bao la rừng núi. Vả lại, một sánh với chín mươi chín có là gì. Thế mà với đôi chân trần đạp trên đá sỏ, ông đã chạy lang thang khắp nơi để tìm.

Tại sao? Vì yêu thương. Đối với tình yêu, số học không còn như cũ. Lúc đó có thể đặt dấu bằng ở giữa số một và số chín mươi chín (1=99). Như thế, bất cứ giá nào, ông cũng không để mất, dù một con. Một con được ông coi giá trị như chín mươi chín. Giống như đại tướng yêu binh lính, bất cứ giá nào cũng không để chết đi một người, dù là lính quèn. Một người lính được coi như cả một đoàn quân, chết một có thể chết cả đoàn.

Bởi thế, khi tìm thấy con chiên lạc, ông đã vui mừng chạy lại ôm lấy, vác trên đôi vai, cho dù con chiên có nặng, ông rất mệt, đã chạy nhiều giờ trên những ngọn đồi sỏi đá, dưới ánh nắng chói chang của mặt trời. Nhưng theo ông, một con chiên xa đàn, lang thang nhiều giờ, nó kiệt sức, cần ông vác. Khi về đến nhà, niềm vui như vỡ bờ, ông đã kêu bạn bè hàng xóm đến chia vui, niềm vui của ông tỏa rộng và lây sang người khác.

Đồng bạc bị đánh mất.

Đây là cảnh xảy ra bên trong nhà người dân xứ Palestin: Một căn phòng bằng đất nện, với vài chiếc chiếu, hay ít đồ đạc lỉnh kỉnh, ánh sáng không bao nhiêu và chỉ lọt qua cửa chính, giữa ban ngày cũng cần một ngọn đèn nhỏ để soi các góc xó. Một phụ nữ có mười đồng bạc, bị mất một, bà đã gia công tìm kiếm, soi đèn quét nhà, moi móc khắp nơi, tìm cho kỳ được, tìm được, lòng tràn ngập vui mừng, đồng tiền thế nào cũng được cất vào một nơi chắc chắn, bà cũng mời bạn bè hàng xóm đến chia vui.

Tại sao? Đối với bà một đồng trị giá bằng một ngày công, nhưng nó quá lớn. Mất đi một đồng, bà mất đi một ngày sống. Dụ ngôn con chiên lạc, một so với chín mươi chín là quá nhỏ. Ở đây một so với chín quá quan trọng. Vì thế người đàn bà này có lý vui mừng.

Giáo huấn của hai dụ ngôn

Qua hai dụ ngôn, Đức Giêsu dạy: Tội nhân muốn trở lại cần có sự hối cải, nhưng sự hối cải của họ không phải là điều kiện tiên quyết để được Thiên Chúa ân cần đón tiếp, như những người Pharisiêu và các Kinh sư chủ trương. Trái lại, sự hoán cải này trước tiên được Thiên Chúa thực hiện.

Các triết gia đã biến Thiên Chúa thành một hữu thể bất động, không thay đổi. Đức Giêsu cho chúng ta thấy một Thiên Chúa chuyển động, đang mở chiến dịch tìm kiếm cái Người đã mất. Đức Giêsu đặt trước mặt chúng ta: Người mục tử vùng đồi núi Galilê, chân trần trên đá sỏi đang chạy hết tốc độ, để tìm con chiên lạc; người đàn bà đang soi đèn quét tước tìm đồng bạc đã mất. Đức Giêsu bảo: Thiên Chúa là như thế. Không có người nào bị Thiên Chúa bỏ rơi, không có người nào bị mất hẳn, bởi vì có Đấng yêu thương không ngừng đi tìm người ấy. Thiên Chúa không chịu ngồi chờ kẻ tội lỗi trở về, Người ra đi tìm họ.

Đối với người chăn chiên, một con bằng chín mươi chín, với người đàn bà, một đồng bằng chín. Đối với Thiên Chúa, mỗi người đàn ông, mỗi người đàn bà, có một giá trị độc nhất vô giá. Một con chiên lạc mất đã chiếm hết ý nghĩ của người mục tử, một đồng bạc bị mất đã chiếm hết ý nghĩ của người đàn bà. Xem ra chỉ con chiên lạc, đồng bạc mất mới là đáng kể. Chúng ta có một Thiên Chúa như thế. Một Thiên Chúa tiếp tục nghĩ đến những ai đã bỏ rơi Ngài, một Thiên Chúa đau khổ vì một linh hồn hư mất, bởi mỗi người đều quý giá, đều chiếm chỗ quan trọng trong con tim Ngài.

Tuy giáo lý dạy, con người không thêm gì cho vinh quang và hạnh phúc nội tại của Thiên Chúa. Nhưng theo những dụ ngôn này, mỗi người chiếm địa vị thiết yếu trong tình yêu Ngài đến chừng nào. Nếu không có bệnh nhân, đâu có thầy thuốc. Nếu không có tội nhân, đâu có tình thương cứu độ. Nói thế, không có nghĩa đề cao tội lỗi. Đức Giêsu không bao giờ nói, tội lỗi không quan trọng. Trái lại, sự lên án của Người đối với tội lỗi thì mãnh liệt và không chút mơ hồ: “Nếu tay ngươi hoặc chân ngươi làm dịp tội cho ngươi, hãy chặt nó đi…” Như mọi ngôn sứ, Đức Giêsu đòi hỏi sự hoán cải và sám hối (Mc 1,15). Nếu các dụ ngôn này là một lời rao giảng về tình yêu Thiên Chúa, chúng cũng là một lời rao giảng về sự hoán cải cần thiết của kẻ tội lỗi.

Câu chuyện minh họa

Ngày 13-5-1981, giữa lúc hàng chục ngàn ngời chen chúc nhau tại quảng trường thánh Phêrô để đón đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, thì một tiếng nổ chát vang lên làm mọi ngời đứng tim. đức thánh cha đã ngã gục trên chiếc xe mui trần, máu vọt lên tung tóe. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một vị giáo hoàng bị mu sát. Ali Agaca, hung thủ tội ác, bị bắt ngay tại chỗ. Người thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ này bị giam tại nhà tù Rebiblia ở Rôma, cả thế giới kinh hoàng về tội ác tày trời này. Năm 1984, thế giới còn kinh ngạc hơn nữa. Đấng bị thảm sát đã đến nói chuyện với kẻ sát hại mình. Không ai biết hai bên nói gì. Nhưng người ta rất cảm động, thấy đức thánh cha bắt tay Ali Agaca, với nụ cười rất trìu mến. Phải chăng đây là hình ảnh sống động nhất về tình yêu Đức Giêsu niềm nở đón tiếp các tội nhân. Đức thánh cha, vị đại diện Đức Giêsu, bị bắn gục, vẫn tỏ lòng rất nhân từ đối với kẻ tội ác. Ali Agaca đã nhập vào đoàn hành hương của đoàn chiên lành đang vui mừng chào đón chủ chiên đến thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng tinh thần bằng lời hằng sống. Ali Agaca như con chiên ghẻ, như đứa con phung phá xô đến giết chủ chăn, giết cha mình. Nhưng người cha hiền, người mục tử nhân hậu đã sẵn sàng liều chết đến cứu đứa con hư, sẵn sàng tha thứ hòa giải và vui mừng ôm lấy đứa con trở về.

 

MẤT – TÌM – MỪNG

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Trong cuộc đời truyền giáo, Chúa Giêsu có nhiều dịp tiếp xúc nhiều hạn người, nhiều tầng lớp xã hội. Theo Tin Mừng, Chúa đặc biệt ưu ái người nghèo, nghèo vật chất và nhất là nghèo phẩm giá. Chúa lui tới, gặp gỡ, ăn uống với họ. Chúa bày tỏ tình yêu đối với họ là tình yêu thương xót, thông cảm, bao dung, tha thứ và đón nhận. Chúa đi ngược hẳn lối suy nghĩ của những người lãnh đạo trong đạo, ngoài đời của xã hội Dothái đương thời. Họ khinh miệt những người nghèo. Họ xa tránh và gọi những người nghèo ấy là “phường tội lỗi”.

Hôm nay, bằng ba dụ ngôn, Chúa dạy những “nhà lãnh đạo Dothái” bài học của lòng yêu thương thông cảm.

I. MẤT – TÌM – MỪNG

Bài Tin Mừng hôm nay, với ba dụ ngôn, để diễn tả nỗi lòng yêu thương cao cả của Thiên Chúa, có nhiều động từ được Chúa Giêsu lặp đi lặp lại, đó là những động từ: “mất” (6 lần), “tìm” (8 lần), “mừng” (8 lần).

Người ta bị mất, người ta đi tìm. Tìm thầy, người ta vui mừng.

Cái bị mất càng quý giá, càng phải tìm. Tìm thấy, nỗi vui mừng càng lớn.

Con người lưu lạc khỏi vòng tay Thiên Chúa, Thiên Chúa lạc mất con người. Cả dòng lịch sử cứu độ trải dài hàng thế kỷ là hành động của Thiên Chúa tình yêu đi tìm con người. Bởi thế, dòng lịch sử cứu độ đã ghi một dấu ấn tích cực, đó là dấu ấn của cả Hội Thánh Chúa và biết bao nhiêu anh chị em đã đáp lại sự tìm kiếm của Chúa.

Con người, đối với Thiên Chúa, đó là quà tặng quý giá dành cho chính bản thân Người. Bởi con người đáng quý, cho nên sự bội nghĩa vong ân của họ gây nên nỗi đau lớn nơi lòng Thiên Chúa. Một khi Thiên Chúa đã tìm thấy con người qua sự đáp trả của họ, đó là một niềm mừng vui không xiết. Chúa Giêsu diễn tả niềm vui này bằng nhiều hình ảnh:

– Người chủ chiên, sau khi tìm thấy con chiên tự ý bỏ đàn ra đi, đã “vui mừng vác chiên lên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: ‘Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc”.

– Người phụ nữ cất mọi công sức đi tìm đồng bạc bị lạc mất: “Đốt đèn, quét nhà, tìm kỹ lưỡng cho đến khi tìm thấy”. Khi tìm thấy, “bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: ‘Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm thấy đồng bạc tôi bị mất”.

– Nhất là người cha nhân hậu, sau bao năm mỏi mòn trông đợi đứa con phụ nghĩa bạc tình, ông vui mừng hết sức khi tìm thấy con ông trở về. Niềm vui của ông vỡ òa trong ngày chính ông được chạm đến cuộc đời đứa con hư hỏng: “Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu, hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giày vào chân cậu. Hãy bắt con be béo làm thịt để chúng ta ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”.

Ba động từ MẤT – TÌM – MỪNG xuyên suốt ba dụ ngôn, trở thành một tình ca hay, ca ngợi lòng yêu thương vừa kỳ diệu, trường kỳ, sâu thẳm trong hành động tìm kiếm con người của Thiên Chúa, vừa cho thấy: Tội lỗi đáng ghét, đáng loại trừ, nhưng người có tội, dù tội của họ nặng đến mức độ nào, vẫn đáng thương, đáng được tha thứ một khi họ biết ăn năn.

Một con chiên lạc, một đồng bạc bị mất, một đứa con hư hỏng. Thực ra đó là hình ảnh của loài người tội lỗi, là linh hồn con người cần được tình yêu tha thứ của Chúa đón nhận. Linh hồn còn quý giá hơn bội lần đối với con chiên, quý giá hơn đồng bạc, quý giá hơn đứa con hoang đàng. Bởi vậy, một khi tìm lại được linh hồn con người, thì không phải chỉ cả nhà vui, người chủ vui, hàng xóm vui, nhưng cả thiên đàng đều vui: “Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải”.

II. THÁI ĐỘ NÀO CHO CHÚNG TA?

Thứ nhất: Biết mình có tội.

Cả vô tình lẫn cố ý, nhiều lần ta trở thành “người anh cả” trong dụ ngôn thứ ba, đã không thể thông cảm, không thể đón nhận anh em mình đứng lên sau khi đã vấp ngã, lại còn ganh ghét, lên án, kết tội. Đó là thái độ của những biệt phái và luật sĩ mà bài Tin Mừng nhắc đến nói riêng, các nhà lãnh đạo trong đạo ngoài đời của xã hội Dothái nói chung. Chính thái độ loại trừ một cách độc ác này đã “bị” Chúa dạy liên tiếp bằng ba dụ ngôn đáng giá, để nhắc nhở họ về tình trạng tội lỗi của chính họ. Họ cũng cần được tha thứ, cũng cần được Thiên Chúa yêu thương đón nhận như mọi người. Họ phải khôn ngoan nhìn mình để khám phá con người thực của mình hơn là nhìn người anh em để đổ vạ, để lên án.

Hơn bao giờ hết, chính lúc này đây, lúc mà ta đang lắng nghe và suy niệm Lời Chúa, hãy biết rằng, Chúa dạy ta đừng xét đoán, đừng lên án anh em, bởi không phải anh em có tội, nhưng là chính bản thân ta có tội. Chúa đang dạy ta hãy cúi đầu nhìn nhận mình tội lỗi mà ăn năn tội và cầu xin ơn tha thứ như lời thú nhận của người con thứ trong dụ ngôn thứ ba: “Thưa Cha, con thật đắc tội với Cha”.

Thứ hai: Đừng đánh mất hy vọng.

Dù ta xấu thế nào, tội nặng đến đâu, ta vẫn không có quyền thất vọng. Hãy tin mãnh liệt rằng, trước khi ta trở về, Chúa đã đi tìm ta. Chẳng những Chúa không bỏ rơi người có tội, ngược lại Chúa chủ động đi tìm. Chúa tìm đến lúc tìm được mới thôi. Ngày nào ta còn xa Chúa, ngày ấy Chúa còn mòn mỏi trông ngóng, chờ đợi, đau khổ. Chúa tìm ta, Chúa cần ta, Chúa thương ta, Chúa nâng niu ta. Một khi đã tìm lại được ta, Chúa không chỉ đón nhận như đón nhận người con ân hận trở về. Nhưng lòng Chúa mở hội, lòng Chúa vui mừng khôn tả.

Ta không có quyền thất vọng trước tình yêu hãi hà của Chúa. Tại sao ta lại thất vọng trong khi Chúa đang tha thiết chờ đợi ta trở về cùng Chúa? Tại sao ta không xác tín rằng, với ơn Chúa, ta sẽ có đủ nghị lực đứng lên trở về với Chúa? Người con hoang đàng trong dụ ngôn thứ ba toàn làm điều xấu, chỉ duy nhất có một hành động đẹp mà thôi: Đứng lên trở về cùng cha. Dẫu chỉ một, nhưng hành động ấy quá đủ để anh lại được ngự giữa tình yêu của cha. Dù ta phạm tội đến mức độ nào đi nữa, thì cũng hãy dứt khoát thực hiện một hành động rất đẹp mà người con hoang đàng đã thực hiện: Ra đi, trở về cùng Cha và thưa với Cha rằng: Lạy Cha, con đã lỗi phạm đến Cha. Hãy nhớ một điều rất quan trọng: Thất vọng là động lực nguy hiểm lôi kéo ta càng ngày càng xa Chúa. Do đó, thất vọng càng nhấn chìm ta. Càng đẩy ta lún sâu vào vũng bùn dơ bẩn của tội lỗi. Thất vọng là giết chết cuộc đời mình, giết chết tương lai vĩnh cửu của mình, giết chết cơ hội trở về với tình yêu của Chúa.

Thứ ba: Tin vào khả năng mình sống thánh thiện.

Ai trong chúng ta cũng có khả năng làm việc thiện. Đó là thực tế. Ngay cả một người dù bậm trợn nhất, xấu xa nhất, thì nội tâm anh ta vẫn khao khát hướng về sự thiện.

Tin vào khả làm việc thiện, sẽ đưa ta tới một niềm tin quan trọng khác: Ta có thể đứng lên thay đổi đời sống và hoán cải lòng mình. Hình tượng người con hoang đàng quyết trở về với cha của anh là bằng chứng mà Chúa đã dùng để nhắc ta hãy tin vào khả năng mình nên thánh thiện. Lịch sử Hội Thánh đã ghi nhận nhiều tấm gương sống đúng như Lời Chúa dạy qua hình ảnh người con hoang đàng. Chẳng hạn: thánh Phêrô, thánh Âugustinô, Thánh Phanxicô Asisi, á thánh Charles de Foucauld… Tất cả những con người thánh ấy, đều đã có một thời gian sai phạm, nhưng đã tự tin đứng lên về cùng Chúa. Họ đã thành công. Họ đã nên thánh. Chính tình yêu của Chúa đã trao cho họ động lực hoán đổi đời mình. Cũng vậy, Chúa vẫn bao bọc đời ta bằng tình yêu triều mến của Chúa. Tin tưởng Chúa không bỏ ta, ta sẽ đủ nghị lực, đủ mạnh mẽ mà dứt khoát giả từ tội lỗi, trở về cùng Chúa.

 

CHIÊM NGẮM TÌNH YÊU CHÚA CHA: TRÁI TIM RA MỞ RA

Lm. Đaminh Hương Quất

Ngôi Lời Nhập Thể, đặc biệt trong sứ vụ công khai, Chúa Giêsu nổi bật dung mạo Thiên Chúa đầy yêu thương nhân từ. Tình yêu của Người quá kỳ lạ, quá lớn lao, thật khác thường.

Chúa Giêsu chính là Hiện thân của Thiên Chúa Vô hình, Thiên Chúa tình yêu (Cl 1,15). Trái tim Chúa Giêsu dành yêu thương hết mọi người, đặc biệt người nghèo khổ, bệnh tật,  bọn thu thuế, đĩ điếm… nói chung họ thuộc thành phần tội lỗi, thuộc đối tượng cảnh giác, bị tôn giáo gạt lề.  Do đó họ bị xã hội Do Thái ghét ra mặt, khinh khi ra mặt, tẩy chay ra mặt; tệ hơn còn ra luật vạ tuyệt thông: cấm tiếp xúc, ai tiếp xúc đều lây tội.

Một người Do Thái giáo đạo đức thời Chúa Giêsu không bao giờ nói chuyện, tiếp xúc chứ đừng nói chuyện ăn chung bàn với người mà họ cho là quân tội lỗi.

Khi còn tại thế, nhiều người Do Thái công nhận Chúa Giêsu là bậc thầy, là sư phụ không chỉ uyên thâm Lời Chúa, giảng dạy như Đấng có uy quyền mà còn là nhà đạo đức số một.

Chúa Giêsu nhà đạo đức số một, ấy thế mà!…

Người ta bắt đầu nghi ngờ về đạo đức của Chúa Giêsu, nhất là nhóm Biệt phái- luật sĩ là những bậc thầy đạo đức của người Do Thái, khi thấy Chúa Giêsu đối xử tử tế, nhân hậu với người tội lỗi như người bình thường, xem ra còn ưu ái hơn người bình thường. Khó chịu nhất cảnh Người trò chuyện thân tình, đồng bàn ăn với họ.

Tin Mừng hôm nay, thánh sử Luca  cho thấy phản ứng khó chịu, thái độ nghi ngờ đạo đức Chúa Giêsu của  nhóm Biệt phái luật sĩ. Họ xầm xì: nếu Thầy Giêsu đạo đức tại sao ngài  đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ăn uống với chúng?.

(Ở đây ta lại đụng phải thành kiến vững chắc, cố chấp của họ. Nhất định cho mình đúng, cái gì không như mình nghĩ là sai. Xét cho cùng đấy là thái độ kiêu ngạo. Chính trong thái độ không chịu sám hối- thay đổi lối nhìn ấy mà người Do Thái chưa nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Messia)

Để trả lời nghi vấn của họ, Chúa Giêsu kể ba dụ ngôn: con chiên lạc, đồng tiền mất và đứa con hoang đàng.

Tất cả những dụ ngôn này đều đề cao hình ảnh một Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Ngài xót xa khi một người lầm đường rơi vào tội lỗi, tha thiết tìm cứu người tội lỗi. Khi cứu được một người tội lỗi, Ngài rất vui mừng.

Mặt khác, Chúa Giêsu cho thấy rõ giá trị Tin Mừng của một người tội lỗi biết ăn năn sám hối trở về với Chúa.

Như người Mục tử tìm được chiên lạc, như người đàn bà tìm được đồng tiền mất, như người cha tìm được đứa con hoang- họ đã không vui một mình, niềm vui quá lớn không thể vui một mình, đòi hỏi cần phải có người chia sẻ, phải mở tiệc ăn mừng- Họ đã rủ người khác đến chia sẻ niềm vui:

Người Mục tử tìm được chiên lạc: “Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc…

Người Đàn bà tìm được đồng tiền: “Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất…

Người Cha khi thấy con trở về nhà: Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy. Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình”

Cha chúng ta trên trời của cũng thể, một người tội lỗi có nguy có mất ơn cứu độ sám hối trở về Nhà Cha không chỉ có mình Thiên Chúa vui mà cả triều thần thiên quốc mừng vui. “Các thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải…Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải.”

Tất cả là hình ảnh để diễn tả Tình yêu của Thiên Chúa, một Tình yêu quá tuyệt vời, mà bất cứ ai trong chúng ta một khi đã chạm đến Tình yêu ấy, một lần gặp gỡ có kinh nghiệm về Tình yêu ấy không thể thờ ơ, không thể không trở về với Cha.

Nói rõ hơn, Chúa không chỉ xót xa khi thấy những người con yêu dấu của Ngài phạm tội, mà còn tha thiết tìm cứu người tội lỗi. Khi cứu một con chiên lạc, một người tội lỗi Chúa không nản chí vì bất kỳ lý do nào, không mệt nhọc hoặc hiểm nguy. Ngài dùng mọi cách để đánh động, để báo động tình trạng tội lỗi của mình, Ngài luôn nói với ta qua tiếng lương tâm (bởi thế khi phạm tội, nhất là tội trọng lương tâm ta bất an), nếu ai đó lương tâm khô khan hơn, Ngài đánh động chúng ta mạnh hơn, chẳng hạn qua một biến cố tai nạn, qua biến cố đau thương nào đó….

Đặc biệt trong Giáo hội và qua Giáo hội Tông truyền, Thiên Chúa luôn đồng hành, hằng ngày nói với chúng ta qua Lời Chúa; gia tăng ân sủng qua các Bí tích để ta có thêm, có dư đủ sức mạnh chiến thắng những cám dỗ của ma quỷ- thế gian và xác thịt.

Đến hết cách mà chúng ta nhân danh tự do từ chối lòng Thương xót của Chúa thì Chúa cũng đành… bó tay. Bởi Ngài không thể và không bao giờ xâm phạm tự do mà Ngài đã đặc ban cho con người- thụ tạo được dựng nên giống Hình Ảnh Chúa. Đấy là lúc ta chạm ngưỡng tội phạm Chúa Thánh Thần, điều mà Chúa cảnh báo: “mọi tội, kể cả tội phạm thượng cũng sẽ được tha cho con người, chứ tội phạm đến Cha Thánh Thần sẽ chẳng được tha” (Mt 12,31). Tội phạm Thánh Thần là gạt bỏ ơn tha thứ của Thiên Chúa, cố tình chai lì sống tội lỗi, không chịu sám hối trở.

Nói cách khác, trực diện trước Tình yêu của Chúa Cha trong Chúa Con nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, trái tim của mỗi chúng ta không thể không mở ra, không thể không sinh ra hoa trái hiệp thông và bác ái.

Ở đây ta không nói về chiên lạc, đồng tiền mất, hay đứa con hoang trở về mà nói về Người Mục tử mất chiến- người đàn bà mất đồng tiền- người cha mất con.

Nghĩa là ta nói về Cha trên trời của chúng ta, chiêm ngắm về Tình yêu giàu lòng Thương xót của Cha chúng ta dành cho mỗi ta, cho cả nhân loại, đặc biệt dành cho những người tội lỗi biết sám hối trở về. Điều mà chúng ta đáng học- đáng noi theo hơn cả nơi các dụ ngôn này là Tình yêu thương của Người Cha của chúng ta.

Đấy là điều Chúa Giêsu muốn khi Ngài kêu mời: “Các con hãy ở nhân từ như Cha các con là Đấng nhân từ”;

Đấy là điều Chúa Giêsu muốn khi Người công khai đòi hỏi môn đệ học theo Ngài: “hãy học nơi Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường”.

Đấy là điều Chúa Giêsu dạy chúng ta khi khẩn nguyện: “Lạy Cha chúng con ở trên trời… Xin Cha tha tội chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”

Đấy là điều Chúa Giêsu muốn, trước khi ra đi chịu chết đã trăn trối giơi răn mới yêu thương làm nền tảng, thuộc bản chất cho Kitô giáo: “các con hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương các con”.

Nghĩa là con của Thiên Chúa được gọi là Tình yêu; mang danh Kitô hữu- có Chúa Giêsu hiện diện nơi mình chúng ta phải là những Sứ giả của Tình yêu Thiên Chúa; là hiện thân của Tin Mừng cứu độ là Chúa Giêsu.

Đánh mất Tình yêu, chúng ta đánh mất quyền làm con Chúa, không còn Kitô hữu đích thực nữa. Thực tế biến chất, mất chất ‘Kitô hữu’ mà vẫn mang danh Kitô hữu, nguy hiểm cho ta và cho xã hội. Sự hiện diện của ta chẳng khác gì cáo đội lốt chiên; chẳng khác gì, miệng nam mô mà bụng một bồ dao găm…

Năm Thánh Lòng Chúa Thương Xót đã bước vào trong những tháng cuối cùng. Vậy ta đã sống và Loan báo Lòng Chúa Thương xót chưa? Đôi khi đơn giản là nụ cười cảm thông, lời nói trân trọng dễ nghe, lời cầu nguyện cho những người mình….dễ ghét….

Bài Tin mừng hôm nay có thể coi là một trong những bài Tin Mừng làm nổi bật Lòng Thương Xót của Cha trời. Chiêm ngắm Lòng Xót Thương của Thiên Chúa là Cha, liệu trái tim ta có mở ra, có Thương xót như Cha không?

Là Sứ giả Tình yêu, vậy chúng ta phải yêu thế nào?

Thánh Phaolô về Tình yêu Kitô giáo: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc; không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù; không mùng khi thấy sự gian ác,nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả , tin tưởng tất cả; hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13, 4-7)

Lời thánh Phaolô trên, có thể nói  như bản ‘xét mình’ về Giới răn yêu thương.

Lạy Chúa xin cho chúng con luôn biết tin tưởng vào lòng nhân từ của Chúa, biết sam hối ăn năn, đổi mới cuộc sống để chúng con trở thành Sứ giả Tình yêu của Chúa giữa trần thế. Amen.

 

NIỀM NỞ TIẾP ĐÓN NGƯỜI TỘI LỖI

Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm

Ngày 13/05/1981 giữa lúc hàng chục ngàn người chen chúc nhau tại công trường Thánh Phêrô để đón Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, thì một tiếng nổ chát chúa vang lên làm mọi người đứng tim, Đức Thánh Cha đã ngã gục trên chiếc xe mui trần, máu vọt lên tung tóe. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại: một vị Giáo hoàng bị mưu sát. Ali Agca, hung thủ tội ác, bị bắt ngay tại chỗ. Người thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ này bị giam tại nhà tù Rebibbia ở Rôma, cả thế giới kinh hoàng về tội ác tầy trời này. Năm 1984, thế giới còn kinh ngạc hơn nữa: Đấng bị thảm sát đã đến nói chuyện với kẻ sát hại mình. Không ai biết hai bên nói gì. Nhưng người ta rất cảm động thấy Đức Thánh Cha bắt tay Ali Agca với nụ cười rất trìu mến.

Đây là hình ảnh sống động nhất về tình yêu Đức Giêsu niềm nở đón tiếp các tội nhân. Đức Thánh Cha, vị đại diện Đức Giêsu, bị bắn gục, vẫn tỏ lòng rất nhân từ đối với kẻ tội ác. Ali đã nhập vào đoàn hành hương của đoàn chiên hiền lành đang vui mừng chào đón chủ chiên đến thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng tinh thần đoàn chiên bằng lời hằng sống. Ali như con chiên ghẻ, như đứa con phung phá, xô đến giết chủ chiên, giết cha mình, nhưng người cha hiền, người mục tử nhân hậu đã sẵn sàng liều chết đến cứu đứa con hư, sẵn sàng tha thứ, hòa giải và vui mừng ôm lấy đứa con trở về.

Bài Tin Mừng nói lên tình yêu của Đức Giêsu đối với những người tội lỗi qua ba dụ ngôn: Chiên lạc, đồng tiền mất và đứa con đi hoang. Mỗi dụ ngôn diễn tả một sắc thái đậm tình sâu thẵm.

1- Dụ ngôn chiên lạc: Ông chủ có 100 con chiên, chỉ lạc một con giữa cảnh bao la rừng núi, biết đâu mà tìm, thế mà với đôi chân trần đạp trên sỏi đá, gai gốc, ông đã chạy lang thang khắp nơi để tìm con chiên lạc. Một con sánh với 99 con còn lại thì chỉ như số không, không đáng gì, đâu có làm ông nghèo đi chút nào! Việc làm của ông chứng tỏ hùng hồn rằng: Bất cứ giá nào, ông cũng không để mất, dù một con. Một con được ông cho giá trị như 99 con. Nó giống như Đại tướng bất cứ giá nào cũng không để chết đi một người lính quèn, một người lính được coi như cả một đoàn quân. Chết một tên lính gác, có thể chết cả đoàn quân.

Đức Giêsu như chủ chiên, mỗi người dù chẳng đáng gì, nhưng đều được Người thương yêu đặc biệt nhưng không. Người cứu độ từng người với bất cứ giá nào. Người thương một người tội lỗi như yêu tất cả các thánh. Người đánh giá mạng sống mỗi người hơn tất cả lời lãi thế gian. Vì thế, “cả triều thần thiên quốc, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối”. Đức Giêsu còn đặc biệt tôn trọng từng người tội lỗi: Người ăn uống với họ, tọa đàm với họ và còn vui mừng vác họ lên vai.

Thực ra, tình yêu Thiên Chúa đối với con người không thể so sánh với bất cứ dụ ngôn nào được. Chủ với chiên cũng chỉ là loại thụ tạo, còn Thiên Chúa với con người cách xa nhau vô cùng. Thiên Chúa là Đấng tạo hóa, con người là thụ tạo. Thiên Chúa thánh thiện cao sang vô cùng, con người tội lỗi và thấp hèn như bùn đất. Thế mà, Thiên Chúa đã bỏ trời vinh quang xuống thế chịu chết, cứu vớt con người. “Tình yêu của Thiên Chúa đối với tội nhân không ai hiểu thấu”.

2- Dụ ngôn “Người phụ nữ có mười đồng bạc, chẳng may đánh mất một đồng”. Chúng ta tiếp tục chiêm ngưỡng một khía cạnh khác của tình yêu Thiên Chúa đối với tội nhân. Ở dụ ngôn chiên lạc, con số 1 cực kỳ nhỏ mọn so với số 99 cực kỳ lớn lao. Còn ở đây 1 so với 10 khá quan trọng. Nếu gói gọn cuộc đời của bà vào 10 đồng: Mất 1 đồng là mất sống một ngày, chỉ còn sống chín ngày. Vậy mất một đồng là một thiệt hại lớn đến chừng nào! Thiên Chúa mất đi một linh hồn là Thiên Chúa mất đi một ngày sống, chỉ còn chín ngày nữa thôi. Dụ ngôn nói lên sự khẩn thiết của con người được sống trong tình yêu thương Thiên Chúa. Thiên Chúa coi con người thiết yếu cho sự hiện diện tình thương của Thiên Chúa, giáo lý dạy: Con người không thêm gì cho vinh quang và hạnh phúc nội tại của Thiên Chúa. Nhưng theo dụ ngôn này, mỗi người chiếm một địa vị thiết yếu trong tình yêu của Thiên Chúa đến chừng nào! Nếu không có bệnh nhân, thì đâu có thầy thuốc. Nếu không có tội nhân, thì đâu có tình thương cứu độ nữa. Một kẻ tội lỗi như Phaolô trở lại, quan trọng đến chừng nào cho Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã tâm sự với môn đệ Timôthêu rằng: “Trước kia, cha đã từng nói phạm thượng, ngược đãi và lăng nhục Người. Thế mà Đức Giêsu Kitô đã đến thế gian để cứu những người tội lỗi, mà người thứ nhất là cha. Sở dĩ cha được thương xót là vì Đức Giêsu Kitô muốn tỏ bày tất cả lòng khoan dung của Người, trước hết nơi cha, mà đặt cha làm gương cho những ai sẽ tin vào Người, để được sống muôn đời”. “Ôi tội Adam cần thiết thay để Thiên Chúa ban Đấng Cứu độ trần gian”

3- Dụ ngôn: Một người kia có hai con trai, nói lên tình yêu Thiên Chúa càng tuyệt diệu hơn nữa đối với người tội lỗi. Người cha có hai con trai: một đứa đi hoang, một đứa ở nhà chẳng coi cha ra gì, lại ghen ghét giận dữ cha và muốn đứa em chết đi. Thế là người cha kể như mất cả hai con. Ông sẽ bị rêu rao là kẻ bạc phước, neo đơn, cô độc, tuyệt tự. Ông không còn được ai gọi là cha nữa.

Nếu xếp cả nhân loại vào hai hạng đứa con đó, thì Thiên Chúa không còn ai để ca tụng Thiên Chúa là Cha nữa, vì “nơi cõi chết, ai nhớ đến Người; chốn âm ty, ai sẽ chúc tụng Người (Tv. 6,6). Hơn nữa, quỷ sẽ rêu rao xỉ nhục Người như Môsê đã nói với Chúa rằng: “Chúa đã đưa dân này ra khỏi Ai Cập … mà lại tiêu diệt chúng … thì Ai Cập sẽ rêu rao rằng: Chúa đã manh tâm đưa chúng ra đi để giết chúng nơi sơn cước và tận diệt chúng khỏi mặt đất” (Xh. 7, 12 Bài đọc II).

Không, không bao giờ, tình yêu của Thiên Chúa không cho phép xẩy ra như vậy, vì “Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống” (Lc. 20, 38). Thiên Chúa đã dựng nên và cứu độ con người để họ được sống vinh quang hạnh phúc muôn đời, để tình yêu Thiên Chúa được cả sáng.

Lạy Chúa, Chúa đã ban phúc cho chúng con nhưng không. Xin cho chúng con biết trao lại cho nhau nhưng không. Mạng sống của chúng con thiết yếu nhờ vào sự cứu độ của người khác, xin cho mọi người chúng con cứu độ nhau để chúng con được cứu độ và tôn vinh lòng thương xót của Chúa đến muôn đời.

 

THIÊN CHÚA ĐI TÌM

Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

Thưa anh chị em,

Tin mừng hôm nay là một trong những trang Tin mừng đẹp nhất. Đẹp vì tác giả Tin mừng trình bày cho chúng ta thấy được tấm lòng Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương. Đẹp vì ba dụ ngôn nói đến lòng thương xót của Thiên Chúa đi tìm con người, để tha thứ và chữa lành.

Đức Giêsu là hiện thân khuôn mặt vô hình của Thiên Chúa Cha Đấng giàu lòng thương xót, Ngài chủ động đến trần gian để đi tìm con người như lời Ngài nói: “Ta đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất” (Lc 19,10).

Ngài đi tìm một Giakêu thấp bé, để hoán cải ông và gia đình ông được ơn cứu độ.

Ngài đi tìm một Lêvi đang khi ông ngồi nơi bàn thu thuế, để đưa ông trở về viết sách Tin mừng.

Ngài đi tìm một Mađalêna tội lỗi, để rồi biến đổi bà sau này trở thành chứng nhân Tin mừng phục sinh.

Ngài đi tìm một Phaolô trên đường lầm lạc bắt đạo, biến đổi ông trở thành tông đồ dân ngoại.

Chúa là người mục tử nhân lành đi tìm con chiên lạc.

Là người phụ nữ quét nhà tìm đồng bạc đánh rơi.

Là người cha nhân hậu ngày ngày ra đầu ngõ trông tìm đứa con hư hỏng trở về.  Và cuộc đi tìm không mấy dễ dàng.

Để đi tìm con chiên lạc, người chăn chiên phải vượt núi băng rừng, bất kể ngày đêm, thời tiết nắng mưa, bất chấp nguy hiểm tìm cho bằng được.

Để tìm lại đồng bạc bị mất, người phụ nữ phải thắp đèn soi mọi ngỏ ngách trong nhà tìm cho bằng được.

Để mong người con hoang đàng trở về, người cha nhân hậu phải vượt lễ giáo gia phong, chấp nhận tính ghen bì của người con cả.

Cũng vậy, để đi tìm con người, Đức Giêsu phải từ bỏ trời cao đi xuống đất thấp; phải từ bỏ địa vị Thiên Chúa để đến với con người. Phải từ bỏ mạng sống để cho con người được sống.

Quả thật, Thiên Chúa không ngồi chờ chúng ta trở về để rồi mới tha thứ, nhưng Ngài tha thứ trước khi chúng ta xin lỗi Ngài. Ngài đi tìm trước khi chúng ta trở về với Ngài.

Mỗi người chúng ta cho dù bé nhỏ tầm thường đến đâu đi nữa, đều là đối tượng của lòng Chúa thương xót. Tại sao vậy? Thưa, vì chúng ta là hình ảnh của Chúa; là giá máu cứu chuộc của Chúa; là chi thể của Chúa và là đền thờ của Chúa Thánh Thần.

Một con chiên lạc có đáng gì đâu so với 99 con chiên còn lại.

Mất một đồng tiền có đáng kể gì so với 9 đồng.

Người con bỏ nhà đi hoang, phung phí hết tiền của, làm sao sánh được đứa con luôn ở nhà với Cha.

Tình thương Chúa cao hơn ngàn tội lỗi, như  lời Chúa nói qua miệng ngôn sứ Ezêkiel: “Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn sám hối và được sống” (Ez 18, 23).

Tình thương Thiên Chúa không dừng lại nơi đây, nhưng còn vượt xa hơn nữa. Là sau tìm kiếm để tha thứ, để chữa lành thì Ngài còn vui mừng biết bao.

Hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc. Hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc đã mất. Hãy mở tiệc ăn mừng, vì em con đã chết nay sống lại; đã mất nay lại tìm thấy. Cũng vậy, cả triều thần thánh vui mừng, vì một người tội lỗi hối cải hơn là 99 người công chính không cần hối cải.

Thực là mầu nhiệm tình thương ngàn đời ai hiểu thấu. Thiên Chúa không biết mệt mỏi tha thứ cho con người, trừ khi con người ngại ngùng không muốn đến kín múc lòng thương xót của Thiên Chúa mà thôi.

Anh chị em thân mến,

Cánh cửa tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa luôn rộng mở không bao giờ đóng. Vậy tất cả chúng ta hãy mau mắn trở về với Chúa. Trở về để được yêu thương; trở về để được tha thứ. Trở về để được chữa lành.

Không tội lỗi nào mà Ngài không tha thứ; không vết thương nào mà Ngài không chữa lành. Không nỗi buồn nào mà Ngài không an ủi. Bởi vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Amen.

 

NGHỊCH LÝ CỦA TÌNH YÊU THIÊN CHÚA

Lm. Phêrô Lê văn Chính

Có một nét đẹp đầy cảm động của Thiên Chúa mà con người cần học khám phá và trải nghiệm đó là lòng thương xót tha thứ. Đặc trưng của tình yêu là rất đòi hỏi, nhưng vẻ đẹp của tình yêu là lòng thương xót tha thứ. Thiên Chúa vừa rất đòi hỏi trong tình yêu, người cũng lại rất bao dung tha thứ. Khi con người tội lỗi muốn quay trở về với Thiên Chúa, người mở rộng vòng tay yêu thương bao dung chờ đón con người. Trong tương quan với Thiên Chúa, tình yêu về phía con người không hoàn toàn trơn tru bằng phẳng, vì con người yếu hèn, hay thay đổi, nên đã phản bội, bất xứng trong tình yêu. Tội là khuôn mặt của tính kiêu căng của con người với sự mẫu thuẫn trong chọn lựa làm con người thay vì chọn Thiên Chúa lại chọn lựa thụ tạo. Lịch sử của dân Israel đã cho thấy nhiều lần họ phản bội Thiên Chúa. Trong bài đọc sách Xuất hành đã cho thấy Thiên Chúa nổi giận vì Israel phản bội khi họ thờ bò vàng. Dân tộc Israel khi sống giữa các dân tộc khác trong vùng Canaan đã dễ dàng bị ảnh hưởng bởi tôn giáo của các dân tộc chung quanh. Lúc bấy giờ các dân tộc chung quanh Israel thực hành hình thức tôn giáo phồn thực với những lễ hội ăn uống và giao hoan cách công khai. Hình thức lễ hội này tôn thờ tình dục vì họ cho rằng đó là một chúc lành của trời đất dành cho con người để sinh sôi nảy nở và tồn tại, đồng thời cũng là vì họ chưa có một quan niệm rõ nét về sự thánh thiện của Thiên Chúa. Israel đã thờ con bò vàng và đi theo những hình thức tôn giáo này. Thiên Chúa đã nổi giận đối với dân người và có ý định tiêu diệt dân Israel, nhưng Môisen đã đứng ra can thiệp cho dân với lời cầu nguyện tha thiết và sau cùng được Chúa nhậm lời. Điều đáng ghi nhận là lời cầu nguyện của Môisen làm Thiên Chúa nguôi giận và không còn nghiêm khắc muốn tiêu diệt Israel nữa, và Thiên Chúa lại yêu thương chăm sóc cho dân. Thánh vịnh 50 là lời cầu nguyện chân thành của người tội lỗi, cho chúng ta trải nghiệm tâm tình của người tội lỗi được tràn ngập niềm vui hạnh phúc được tha thứ và trở về với Thiên Chúa : “Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa và chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con”.

Bài Tin mừng theo thánh Luca chương 15 cho chúng ta thấy tình yêu thương tha thứ lạ lùng của Thiên Chúa. Những người biệt phái là những người rất chú tâm thực hành lề luật, nhưng lại có một quan niệm rất là khe khắt với người tội lỗi. Họ cho rằng cần phải xa tránh người tội lỗi để bảo vệ sự thánh thiện của mình, bởi vì tiếp xúc với người tội lỗi sẽ bị lây nhiễm sự ô uế của họ. Khi thấy Chúa Giêsu tiếp xúc gần gũi với những người thu thuế họ phê bình người. Chúa Giêsu liền kể cho họ hai dụ ngôn người chăn chiên và người đàn bà lạc mất đồng bạc. Người chăn chiên có một trăm con chiên, lạc mất một con, đã bỏ lại 99 con chiên để đi tìm con chiên lạc cho đến khi tìm gặp, ông vui mừng vác chiên trên vai trở về nhà và mời bạn bè chia vui với mình. Người đàn bà nghèo có 10 đồng bạc, lỡ mất một đồng, đã thắp đèn tìm kỹ lưỡng cho đến khi tìm gặp lại đồng bạc, bà vui mừng và mời láng giềng chia vui với mình. Đây quả thực là những tình cảm rất chân thật của con người. Đối với người chăn chiên hay đối với người đàn bà, con chiên và đồng bạc rất là thân thiết với họ và họ đã bỏ công sức để tìm kiếm lại để bảo vệ nguyên vẹn đoàn chiên cũng như đồng bạc. Đối với Thiên Chúa, con người thuộc về Thiên Chúa, thực là thân thiết và quí giá đối với Thiên Chúa là Đấng hằng sống và chân thật, luôn có những tình cảm yêu thương chân thành và trung tín ngàn trùng.

Chúa Giêsu còn mở rộng chủ đề này bằng câu chuyện dụ ngôn về người Cha có hai người con. Nói cho đúng, tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người là tình phụ tử thâm sâu và không có điều gì có thể cản trở tình yêu tha thiết chờ đợi của tình phụ tử này. Người con thứ là hình ảnh của con người tội lỗi thiếu kinh nghiệm, dại dột phiêu lưu theo những đam mê cám dỗ ngọt ngào của trần thế. Anh nghĩ thế gian có nhiều tình bạn đẹp và khi dấn thân vào trần gian, anh sẽ tràn ngập hạnh phúc với biết bao nhiêu bạn bè tốt thay vì tù túng ở trong nhà cha. Nhưng sau những trải nghiệm vội vã thụ hưởng với bạn bè, anh đã lâm cảnh túng thiếu và bị bỏ rơi đến mức đi chăn heo với bao nhục nhã đói rách. Với nhiều suy nghĩ đắn đo, anh đã hồi tâm và cương quyết trở về nhà cha để xin lỗi cha già. Người con trưởng là một hình ảnh thứ hai nói lên những khía cạnh tương phản của tương quan con người với Thiên Chúa. Nếu như người con thứ là hình ảnh con người tội lỗi, ngông cuồng dại dột, thì người con trưởng lại là hình ảnh của người đạo đức mẫu mực. Anh luôn ở trong nhà cha, cần mẫn làm việc và không hề trái lệnh cha điều gì. Nhưng điều thiếu sót của anh là anh rất khác với cha. Anh không chia sẻ niềm vui của cha khi đón nhận người em thứ trở về. Anh trở nên khó chịu với cha vì lòng thương xót tha thứ của cha đối với người em phung phá trở về để rồi trở nên nóng nảy, tức giận và phê phán cha vội vàng. Cha anh phải giải thích cặn kẽ cho anh lý do cần phải vui mừng đón tiếp người em thứ trở về: “chúng ta phải ăn tiệc mừng vì em con đã chết nay đã sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”.

Chúa Giêsu đã vận dụng nhiều dụ ngôn để giải thích cho những người biệt phái hiểu được lòng thương xót tha thứ kỳ diệu của Thiên Chúa. Tội lỗi thực là nặng nề và xấu xa, nhưng lòng thương xót tha thứ chữa lành của Thiên Chúa còn lớn hơn gấp bội. Người chăn chiên dám bỏ 99 con chiên để đi tìm con chiên lạc, người đàn bà cẩn thận thắp đèn quét nhà để tìm đồng bạc mất, người cha già kiên nhẫn chờ đợi con trở về. Biết bao nhiêu hình ảnh thực là gần gủi để nói lên điều kỳ diệu của tình yêu thương xót tha thứ của Thiên Chúa. Có một động lực nội tâm kỳ diệu mà chúng ta không lý giải bằng những suy nghĩ hẹp hòi được. Động lực nội tâm này là tình yêu dạt dào vô bờ bến của Thiên Chúa đối với con người được diễn tả quả lời giải thích ngắn gọn của Cha: “chúng ta phải ăn tiệc mừng vì em con đã chết nay đã sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”. Quả thực, người cha có lý để chờ đợi và hy vọng vì sau những tháng ngày nông nổi yếu đuối, người con đã trở về hạnh phúc trong nhà cha, anh trở nên cương nghị và trách nhiệm hơn, anh đã trở nên hiểu biết nhiều hơn. Anh đã tìm được sự sống. Hoá ra, người anh lớn mới là kẻ lạc loài, xa lạ với tình yêu thương xót của Cha vì anh còn để mình đóng kín trong những suy nghĩ hẹp hòi nóng nảy giận hờn,  anh chưa thực sự trải nghiệm được niềm vui của sự sống của Thiên Chúa. Nghịch lý của tình yêu là như thế, vừa rất đòi hỏi nhưng cũng rất chân thành cho dù phải trải nghiệm những sóng gió vùi dập. Thánh Phaolô là người đã cảm nghiệm thực sự điều này trong đời mình và đã chia sẻ trong bức thư gửi cho Timôthêô: “Đức Giêsu Kitô đã đến trong thế gian này để cứu độ những người tội lỗi, trong số ấy, cha là người thứ nhất”. Cảm nghiệm này làm cho thánh nhân trở nên con người rất hiểu biết và trách nhiệm, chia sẻ niềm vui được tha thứ này cho mọi người để mọi người đón nhận được sự sống của Thiên Chúa nơi người con một là Đức Giêsu Kitô.

 

HÃY CHIA VUI VỚI CHÚA

PM. Cao Huy Hoàng

Khi nói đến “Con chiên lạc”, có thể bạn, tôi, chúng ta nghĩ ngay đến một số thành phần không mấy tốt đẹp, không mấy đàng hoàng trong Hội Thánh. Có người nghĩ ngay đến những người rối vợ, rối chồng công khai, hoặc nghĩ đến ả giang hồ ở cuối xóm, tên du thử du thực lang thang chè chén tối ngày ở đầu phố. Người khác lại nghĩ đến cụ già đôi ba vợ kia đã đến lúc sắp hết hơi rồi mà chưa chịu xưng tội rước lễ, hoặc nghĩ đến bao người nay ăn nên làm ra rồi, khá giả rồi, ở nhà thoải mái, bỗng trở nên cao ngạo, ươn lười, nguội lạnh với Nhà Thờ Nhà Thánh…

Nghĩ như thế là do bởi lòng kiêu ngạo xúi giục tự nhận mình là thánh thiện hơn bao nhiêu người khác và gắn cho mình con mắt, cõi lòng đầy thành kiến xấu xa về tha nhân.

Nghĩ như thế, thì thiết tưởng chính mình là… con chiên lạc trước tiên. Lạc mà không biết mình lạc. Còn lầm lạc hơn nữa, khi tỏ ra bất bình với một số người nhiệt thành trong Hội Thánh Chúa, mặc lấy tấm lòng nhân hậu của Chúa, luôn nghiêng về phía những người đau khổ, tội lỗi, thấp kém.

Nghĩ như thế thì có khác gì người Pharisêu đã từng suy nghĩ và lẩm bẩm về việc Chúa Giêsu làm trong Tin Mừng hôm nay: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”.

Cả hai dụ ngôn “Con chiên lạc” và “Đồng bạc bị đánh mất” được Chúa nói cho cả hai đối tượng: người Pharisêu và người thu thuế, kẻ tội lỗi.

Đối với người Pharisêu, hai dụ ngôn ấy là một lời cảnh tỉnh trực diện để họ phải nhận ra rằng chính họ mới là “con chiên lạc”, là “đồng bạc bị đánh mất”. Lạc vì họ đang sống kiêu căng, sống thiếu tình khoan dung, yêu thương; lạc vì họ không muốn hiểu đường lối của Chúa, vì không muốn mặc lấy tình thương của Chúa trong con tim mình… Bài học dành cho người Pharisêu là đừng lầm tưởng mình đạo đức, nếu không mặc lấy đức khiêm cung và lòng nhân hậu mà đối xử với tha nhân. Họ cần có cái nhìn mới mẻ hơn đối với người tội lỗi, cái nhìn của Thiên Chúa, cái nhìn của lòng thương xót xoáy vào sâu thẳm hơn, để cảm thông hơn vì bao nỗi bất hạnh, không phải cái nhìn nông cạn bề ngoài để rồi sinh ra ganh tỵ, xét đoán…

Còn đối với người tội lỗi, cả hai dụ ngôn là Lời rất vui mừng cho họ, vì:

– Lời mặc khải cho họ biết một Thiên Chúa vô cùng khiêm cung, và yêu thương. Lòng thương xót, khoan dung, nhân hậu của Ngài luôn luôn lớn hơn tội lỗi, thân phận của họ.

– Lời xóa tan nỗi ám ảnh bị khinh bỉ, phân biệt, có khi còn bị trừng phạt dã man cho đến chết vì luật xua đuổi khỏi cộng đồng, luật ném đá…

– Lời khơi dậy cho họ một niềm hy vọng, mở ra cho họ một con đường sống và nhất là tái lập cho họ một tương quan quí giá đối với Thiên Chúa, tái lập cho họ một nhân vị xứng đáng là con cái Thiên Chúa.

– Và cũng qua hai dụ ngôn, cả người Pharisêu và người tội lỗi có thể nhận ra một điều kỳ diệu là Thiên Chúa luôn đi bước trước đối với những tội nhân.

Đề cập đến bước trước, tôi nhớ câu chuyện về Đức Tin đơn sơ của cụ Biên ở phía sau nhà tôi. Cụ luôn là người khôi hài vui vẻ. Đến lúc gần chết cũng còn vui vẻ. Năm 1979, trong cơn hấp hối, khi nghe một anh Legio giữ kẻ liệt cầm sách mục lục đọc kinh cho cụ, đọc sai chỗ nào, cụ đập nhẹ bàn tay, bảo: “Đọc lại, đọc lại, đọc sai làm sao Chúa hiểu”. Đêm cuối cùng, cụ chỉ cho mọi người biết là cụ đang chết từ dưới chân lên đến giữa lưng rồi. Rồi cụ nói: “Còn nói được mấy câu nữa thôi, cho tôi nói với Chúa. Chúa đã lỡ bước xuống đời rồi, thì còn ngại ngần gì mà không bước tới đây đưa con về với Chúa. Chúa ơi, con tin”. Rạng sáng hôm ấy, cụ đã về với Chúa.

“Chúa đã lỡ bước xuống, thì còn ngại ngần gì mà không bước tới”. Câu nói đơn sơ mà cho thấy cả một xác tín. Hôm nay, nghe lại dụ ngôn “Con chiên lạc”, mới ngộ ra là không chỉ Chúa chẳng ngần ngại gì mà không bước tới, mà còn dám bước trước, và bước kiên trì nữa: “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất ?”

Vâng đó là một bước trước, và kiên trì: “Đi tìm cho kỳ được” Quả là kỳ diệu ! Nếu trước đây chưa ai dám tiếp xúc với những người thu thuế tội lỗi, vì sợ nhơ bẩn con người, thanh danh của mình, thì Chúa Giêsu đã bước một bước trước đến với họ.

Hai dụ ngôn hôm nay còn vén màn một chi tiết độc đáo của tình thương Thiên Chúa, đó chính Người đích thân đi tìm con chiên lạc, gọi đích danh, tha thứ vô điều kiện, âu yếm ẵm trong vòng tay, vui mừng vác chiên lên vai, mở tiệc tưng bừng. Thiên Chúa mời mọi người đến chia vui vì “trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn”.

Người ta mở tiệc ăn mừng những dịp cưới hỏi, tân gia, sinh nhật, thi đỗ, thoát nạn… Trong đời tôi, lại được tham dự một bữa tiệc lạ thường. Chuyện là thế này: Giáo Xứ tôi có một người tên là T. được rửa tội năm 1972 tại Thủ Đức khi anh lập gia đình với chị N. Anh kể với các anh chị Legio, anh đã giữ đạo sốt sắng hơn 7 năm. Đến năm 1979, anh sa đà đủ món ăn chơi trên trần gian này. Chị N. bỏ anh đi. Anh càng lún sâu vào con đường tội lỗi. Bỏ lễ, bỏ các Bí Tích. Năm 1996, anh em Legio thăm và khuyên bảo anh xưng tội, anh nói: “Nhiều quá, làm sao xưng cho hết ! Chúa không thể tha một lúc nhiều như vậy đâu !” Sau hơn 3 năm, cha sở và các anh chị Legio kiên trì cầu nguyện cho anh, năm 1999, anh quyết định đi xưng tội. Cha sở FX. Lê Quang Diễn đã yêu thương lắng nghe anh nói chuyện tòa ngoài với ngài hết một buổi sáng và thêm nửa buổi chiều. Chiều hôm đó, anh xưng tội. Ngày hôm sau, anh mở tiệc mừng. Có khoảng 3 bàn tiệc. Anh nói mấy câu trước khi vào tiệc: “Con cảm ơn cha, cảm ơn mọi người, xin CHIA VUI VỚI CON, và xin CHIA VUI VỚI CHÚA”. Từ đó, anh đổi mới hoàn toàn, thật sốt sắng với Chúa và dễ thương với mọi người. Anh đã qua đời năm 2008. Linh hồn Phaolô.

Mọi người bất ngờ về câu nói của anh: “xin CHIA VUI VỚI CON, và xin CHIA VUI VỚI CHÚA”. Thiết tưởng, anh không chỉ cảm nghiệm được niềm vui của mình là được trở về, mà với Đức Tin, anh còn dám cảm nghiệm được “niềm vui của Chúa’, của Chúa Chiên, người đã bỏ chín mươi chín con chiên tốt lành kia trong ràn, mà đi tìm anh, con chiên lạc.

Cảm nghiệm được niềm vui của Chúa phải là người đang sống thông hiệp mật thiết với Chúa lắm, như hai người tình đang kết hợp toàn tâm toàn ý với nhau, và dĩ nhiên, niềm vui không của riêng chỉ một người. Suy tư ấy có thể là suy tư cách rất con người, rất chủ quan thôi. Nhưng rõ ràng, thử hỏi ai trong chúng ta, những người vỗ ngực xưng tên mình là đạo đức, đã có bao giờ có được cái cảm nghiệm “chia vui với Chúa” cách trọn vẹn, nếu không đặt trọn niềm tin vào lòng thương xót của Chúa, nếu không mặc lấy tình thương xót ấy mà xót thương bao kẻ tội lỗi, khốn cùng.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con Đức Tin vào lòng thương xót của Chúa để biết mình là con chiên lạc được Chúa tìm về, và mặc lấy tình thương ấy mà cộng tác với Chúa, chia vui với Chúa khi có người anh em tìm được hạnh phúc được Chúa thứ tha. Amen.

 

NIỀM VUI KHI TÌM GẶP LẠI

Lm Nguyễn Ngọc Long

Niềm vui khi tìm gặp lại, thiết tưởng ai cũng đã sống trải qua trong đời. Cha mẹ gặp lại con cái sau lâu ngày đi làm hay đi học xa nhà. Vợ chồng gặp lai nhau, vì hoàn xa cách do chiến tranh gây ra, do tỵ nạn di cư mỗi người lạc một nơi. Bạn bè tìm thấy nhau sau thời gian cùng chung học mỗi người lưu lạc mỗi phương trời…

Còn nỗi vui mừng nào lớn lao hơn nữa, khi gia đình, bạn bè, đồng hương được xum hợp, đất nước được thống nhất không còn chia cắt hai miền Nam Bắc năm xưa ở bên quê nhà Việt Nam, năm 1989 khi bức tường Bá Linh sụp đổ không còn chia cắt hai miền đất nước Đông Tây nữa, khi người Đại Hàn ở miền Nam được sang tìm gặp lại thân nhân của mình ở miền Bắc nước Triều Tiên…

Đức Mẹ Maria và bà thánh Elisabét vui mừng hân hoan gặp lại nhau. Họ mừng rỡ chúc tụng nhau và cảm tạ Thiên Chúa (Lc 1:39-45)

Đức Mẹ Maria và Ông thánh Giuse lo lắng âu sầu đi tìm trẻ Giêsu đi lạc. Khi tìm gặp lại con mình, niềm vui mừng của Ông Bà biểu lộ qua sự ngạc nhiên, vì thấy con mình chững chạc ngồi nói chuyện với những người thông thái. Hai Ông Bà thở ra nhẹ nhàng và thốt lên lời biểu lộ niềm vui mừng âu yếm thương con: “Con ơi, sao con lại xử với Cha Mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2:41-48)

Khi tìm gặp lại người thân yêu hay đồ vật quí báu đã lâu ngày thất lạc, tưởng như đã mất, lúc đó niềm vui mừng hân hoan không chỉ dào dạt trong trái tim trí não, nhưng hiện lộ ra trên gương mặt, nơi khoé mắt.

Niềm vui mừng đó có thể biến thành giòng nước mắt sung sướng hạnh phúc vì quá cảm động không nói nên lời và chỉ còn biết giang tay đón nhận. Như người cha con nhân lành mừng mừng tủi tủi giang đôi tay ôm hôn cậu ấm trở về bình an. (Lc 15:11-32).

Niềm hạnh phúc đó biến đổi gương mặt thành sáng rực đỏ chói, không phải vì xấu hổ, nhưng là dấu hiệu của sung sướng hạnh phúc đang sôi sục dâng tràn trong tâm hồn.

Niềm hân hoan sung sướng có thể là tiếng cười dòn đã vang tiếng, là lời khoe báo tin mừng cho mọi người. Như người mục đồng tìm thấy lại con chiên, con trâu, con bò, con dê của mình đi lạc đàn. Như một bà lão sống cảnh đạm bạc nghèo khó chiu chắt tiết kiệm từng đồng xu cắc bạc, lo âu quét nhà soi đèn mò mẫm tìm thấy lại đồng bạc đã mất. Vì đồng bạc này có thể giúp bà mua được gạo, được thức ăn cho ngày sống (Lc 15:1-10).

Vui mừng sung sướng hạnh phúc vì của châu báu hay người mình quý mến thương yêu đã thất lạc xa vắng, nay lại tìm gặp thấy.

Đó cũng là nỗi vui mừng hân hoan của Thiên Chúa, Đấng sinh thành nuôi dưỡng đời con người, khi chúng ta từ bỏ điều xấu xa tội lỗi sống theo điều thiện, theo giới răn Tình Yêu như Chúa muốn: “Triều Thần Thiên Chúa, ai nấy vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối”. (Lc 15:10).

 

LẠC LỐI

Lm Bùi Quang Tuấn

Theo một bản thống kê được đăng trên tờ Tablet (12/1996): hàng năm tại Anh quốc có khoảng 250 ngàn người thuộc mọi lứa tuổi bị mất tích, vì đủ thứ lý do. Một cơ quan bác ái chuyên về tìm người thất lạc được thành lập năm 1992, hoạt động liên tục 24 giờ một ngày, 365 ngày một năm, và hiện nay vẫn đang phát triển không ngừng.

Riêng tại Hoa kỳ, mỗi năm, có khoảng 50 ngàn đứa bé được ghi nhận mất tích. Trong số đó, 5 ngàn em bị thiệt mạng trước khi được tìm thấy xác. Tại nhiều quốc gia, người ta không thể đưa ra con số chính xác về các vụ mất tích. Có nơi chính phủ chỉ thành lập các chương trình tìm kiếm xe mất cắp, các đồ vật bị đánh rơi, hay quà cáp thư từ bị giao sai chỗ, chứ không hề có chương trình tìm người thất lạc.

Nguyên nhân gây nên tình trạng mất tích hay thất lạc thì vô số, nhưng các chuyên gia xã hội tóm tắc vào ba điều căn bản sau đây: 1) bị bắt cóc bởi các cha mẹ không còn chung sống với nhau; 2) là nạn nhân của các tội ác bạo động trong xã hội; 3) bỏ nhà ra đi vì không tìm thấy hạnh phúc gia đình.

Dù khởi đi từ nguyên nhân nào, sự thất lạc cũng đều gây cho người ở lại một nỗi xót xa nuối tiếc. Của thất lạc càng quí thì niềm tiếc nuối càng da diết, càng thúc đẩy một cuộc kiếm tìm. Càng tha thiết gắn bó với của bị mất bao nhiêu càng làm cho nỗi vui mừng thêm chất ngất khi tìm gặp lại bấy nhiêu.

Nhớ nhung, xót xa, nuối tiếc, kiếm tìm, hân hoan, hạnh phúc… tất cả diễn tả tâm tình của một người Cha nhân từ đối với đứa con “bị lạc” nhưng nay lại “tìm thấy,” “bị chết” mà nay đã “phục sinh.” Nỗi niềm đó được trình bày trong ba dụ ngôn: “Con Chiên Lạc,” “Đồng Bạc Mất,” và “Người Con Hoang Đàng.”

Các dụ ngôn, với cấp độ đi lên, từ con vật đến đồng tiền rồi đến con người, và cấp số giảm xuống từ 100 đến 10 rồi còn 2, đã nói lên giá trị quí báu của từng con người trong đôi mắt yêu thương của Thiên Chúa. Đối với Ngài, ai cũng có một phẩm giá riêng biệt. Không phải vì con số 99 quá lớn mà chấp nhận bỏ đi số “1” nhỏ nhoi.

Với người giàu, một đồng nào có nghĩa lý gì, công đâu bỏ ra để bới tìm một đồng cho phí giờ, nhọc thân. Trên thế gian có biết bao nhiêu sinh linh, hà cớ chi phải lao đao vất vả vì một kẻ tội đồ. Chắc hẳn những người biệt phái nghĩ thế. Nhưng Chúa Giêsu nghĩ khác. Ngài ví mình như một người rất nghèo, thiếu thốn những tâm hồn sám hối, khao khát tìm lại những gì thất lạc để đưa về với nẻo chính đường ngay. Phải chăng vì “nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở”, hay vì lòng Cha quá quảng đại bao dung mà thêm một tâm hồn lầm lạc trở về, thì lòng Ngài lại mừng vui sung sướng: “Bà con hãy chia vui với tôi… Bà con hãy vui mừng cùng tôi… Chúng ta phải ăn khao mới được” (Lc 15:6,9,23).

Những “con chiên lạc đàn” được ví như những chiếc tàu không bánh lái hay mất hướng đi. Hành trình lầm đường này có thể xảy ra do sự u mê của chính nó, nhưng cũng có khi vì không được quan tâm chỉ dẫn đúng mức.

Có những con chiên xa đàn lạc lối, nhưng cũng có những con đang sống trong đàn mà chẳng phải là chiên. Có đứa con bỏ nhà xa cha, nhưng cũng có đứa con tuy sống gần cha mà lòng dường như đi hoang từ lâu. Nó coi cha không khác gì ông chủ hà khắc keo kiệt, chẳng hề bố thí cho một con dê để vui vầy với chúng bạn. Như vậy, có thứ lạc đàn thể lý và cũng có thứ lạc đàn tâm linh. Có những người không đi nhà thờ vì lòng họ xa Chúa, song cũng có những người không bỏ nhà thờ nhưng lòng cũng chẳng gần Chúa hơn được bao nhiêu. Có lẽ vì tâm trí họ đang đi lạc trong khu rừng có nhiều tieng ca của danh vọng, hương sắc của đồng tiền, hung khí của hận thù, giọng ríu rít đầy lôi cuốn của xác thịt.

Sai lạc nào cũng cần chỉnh đốn. U mê nào cũng cần ánh sáng chiếu soi. Nhưng có thứ ánh sáng nào ấm đẹp cho bằng yêu thương. Vì có yêu thương mới có tìm kiếm chiên, cõng lên vai, đem về nhà. Có yêu thương, người ta mới ngóng trông, đón nhận, dung thứ, ăn mừng. Nhờ yêu thương mà chiên lạc thành chiên ngoan và con đi hoang lại tìm được mái ấm gia đình.

Cách đây không lâu, Nhật báo Người Việt có đăng một bản tin: Vào một ngày tối trời tháng Ba năm 1999, đang lúc xem TV trong nhà, bà Huỳnh P. T. Vân tại Bà điểm Hóc môn chợt nghe tiếng chó sủa dữ dội. Bà vội mở cửa xem thì khám phá một em bé trai sơ sinh trần trụi, đang nằm dưới hàng dậu trước nhà. Đứa bé dường như mới chào đời, cuống rốn còn nguyên chưa ai cắt, mình mẩy dính đầy cát, kiến đang bắt đầu bu lại, và đôi chân tím bầm.

Hốt hoảng, bà vội bế đứa bé vào nhà và tìm cách đưa ngay đến bệnh xá trong huyện. Sau khi được y tá cắt cuống rốn cùng chữa trị đôi chân, bà Vân đưa đứa bé về nhà, đặt tên Trần Minh Phúc.

Nhiều người dân trong vùng muốn nhận em làm con nuôi, thậm chí có người xin tặng bà Vân ba lượng vàng để có được cháu bé. Thế nhưng bà Vân vẫn không tha thiết với lời đề nghị kia. Bà tâm sự: “Nhìn mặt cháu tự nhiên thấy thương như con đẻ của mình. Thức với nó mấy đêm, thương lắm rồi, không xa được.” Nhà tuy nghèo nhưng bà khẳng định sẽ giúp cháu sau này ăn học đàng hoàng.

Xót xa làm sao khi người mẹ ruột đành đoạn đánh mất con mình trong mớ bung xung của áp lực xã hội, danh dự gia đình, và nỗi yếu đuối cá nhân. Nhưng cảm động và đáng phục biết bao khi có những con người bất chấp tình cảnh túng nghèo, vượt thoát áp lực của một xã hội chuyên lấy đồng tiền và quyền lực làm thước đo mọi giá trị, để làm nỗi bật phẩm chất cao quí của yêu thương. Nhờ tình thương, sự sống đã được bảo tồn và nâng cao.

Lắm khi vì tiếng gọi ngọt ngào của hưởng thụ, phóng túng, đam mê, ích kỷ mà người ta đã bán đứng nhân phẩm và bước vào con đường lầm lạc, nhưng nhờ tình thương và lòng quảng đại từ ái mà bao tâm hồn tìm được mái ấm và bước chân hoang can đảm trở về.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết gieo yêu thương trên mọi lối đi của cuộc đời, để tha nhân có thể gặp được dấu mà bước vào, và lần tìm về với Chúa là cội nguồn của yêu thương tha thứ. Chúng con tin rằng: đi theo Chúa, hạnh phúc sẽ không hề tắt; ở bên Ngài, hoan lạc sẽ chẳng hề phai bao giờ.

 

TÔI ĐÃ TÌM THẤY CON CHIÊN LẠC

Lm. Cao Tấn Tĩnh

Suy nghiệm kỹ hai bài Phúc Âm, bài của Chúa Nhật XXIII Mùa Thường Niên Năm C tuần trước và bài của Chúa Nhật XXIV Mùa Thường Niên Năm C tuần này, chúng ta thấy ý nghĩa của hai bài Phúc Âm này rất ăn khớp với nhau. Nếu trong bài Phúc Âm tuần trước Chúa Giêsu khuyên dạy đối tượng muốn theo Người phải “từ bỏ chính bản thân mình”, thì trong bài Phúc Âm tuần này, Người lại diễn tả tâm tưởng của Người về đối tượng không chịu “bỏ mình” theo Người, tức lạc xa Người, là “Tôi đã tìm thấy con chiên thất lạc… tôi đã tìm thấy đồng bạc bị mất”. Đúng thế, theo lời Chúa Giêsu ở bài Phúc Âm tuần trước, con người có trách nhiệm phải chủ động bỏ mình đi và vác thập giá mới có thể theo Người, tức mới có thể đến cùng Cha, mới có thể hiệp thông với Thiên Chúa. Trái lại, trong bài Phúc Âm tuần này, dù con người không thể hay không chịu theo Chúa, không thể hay không chịu đến với Người, vì không chịu hay không thể bỏ mình và vác thập giá theo Người, mà chính Người đã phải chủ động và tích cực đi tìm họ cho đến khi gặp được họ, để có thể dẫn họ về với Cha, nghĩa là Người đã tự bỏ mình và vác thập giá theo đuổi họ, thay vị họ phải bỏ mình và vác thập giá mà theo Người. Chính vì thế, trong bài chia sẻ tuần trước, chúng ta đã cùng nhau cảm nghiệm là: “Thiên Chúa chẳng những đã ‘bỏ mình đi’, khi ban Con Một Ngài cho chúng ta, để có thể đến với chúng ta nơi Mầu Nhiệm Nhập Thể, Ngài còn phải ‘vác thập giá’, khi phó nạp Con Ngài vì chúng ta qua Mầu Nhiệm Vượt Qua, để có thể cứu độ chúng ta và ban Thánh Linh hiệp thông cho chúng ta”.

Ở đây, qua bài Phúc Âm hôm nay, Giáo Hội muốn chúng ta cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa hơn là nhấn mạnh đến phản ứng của tội nhân đối với Ngài. Sự kiện đề cao thái độ chủ động của Thiên Chúa khoan dung, hơn là phản ứng của tội nhân trong bài Phúc Âm hôm nay, được hiện tỏ qua hai bài đọc một và hai. Đó là lý do, Giáo Hội chỉ buộc đọc hai dụ ngôn, dụ ngôn thứ nhất về việc chủ chiên tìm thấy con chiên lạc duy nhất trong đàn 100 con, và dụ ngôn thứ hai về người đàn bà tìm thấy đồng bạc bị mất duy nhất trong 10 đồng. Ngoài ra, chúng ta cũng có thể đọc dụ ngôn thứ ba về người con hoang đàng, nhưng lại là đoạn Phúc Âm được Giáo Hội để trong ngoặc đơn, nghĩa là không buộc đọc. Tại sao? Theo tôi, tại vì hai lý do sau đây. Thứ nhất là vì dụ ngôn thứ ba liên quan đến thái độ chủ động thống hối của người con hoàng đàng hơn thái độ thứ tha của người cha, do đó mới có lý do thứ hai, lý do là vì dụ ngôn thứ ba này nói đến thái độ người cha chờ con về chứ không tự động đi tìm kiếm nó, như thái độ của người chủ chiên đi tìm chiên lạc hay như thái độ của người đàn bà tìm của mất ở hai dụ ngôn trước. Tuy nhiên, nếu chỉ để ý đến khía cạnh Thiên Chúa chấp nhận con người, dù con người tội lỗi đi nữa, thì dụ ngôn về người con hoang đàng cũng hợp với dụ ngôn chiên lạc và đồng bạc mất. Thật vậy, qua bài Phúc Âm của Chúa Nhật XXIV Năm C tuần này, chúng ta thấy được giá trị hết sức cao cả của bản thân mỗi một con người tạo vật chúng ta trước nhan Thiên Chúa hằng sống vô cùng toàn thiện. Việc Thiên Chúa yêu thương tìm kiếm con người nói chung và từng người nói riêng cho chúng ta thấy con người tạo vật chúng ta, chung cũng như riêng, thực sự là loài được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và tương tự như Ngài. Không phải hay sao, nếu Thiên Chúa Duy Nhất nhưng lại một Thiên Chúa Duy Nhất có Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần, thì con người cũng thế, cho dù đều là con người như nhau, song mỗi con người lại là một ngôi vị riêng biệt, một chủ thể biệt lập, chứ không phải chỉ là một khối đồng thể như nơi loài thú vật?

“Thiên Chúa là tình yêu”, như Vị Tông Đồ được Chúa Giêsu yêu định nghĩa trong Thư Thứ Nhất của mình ở đoạn 4 câu 8 và 16, đã chẳng những “yêu (chung) thế gian đến ban Con Một mình” (Jn 3:16), mà còn yêu riêng từng người đến trong thế gian nữa; và Ngài chẳng những yêu họ khi họ đã vào đời mà còn yêu họ ngay cả trước khi họ nhập thế nữa, khi họ còn trong lòng mẹ nữa, như chính Ngài đã phán cùng tiên tri Giêrêmia, vị đã ghi nhận sự thật cảm kích này ở đoạn 1 câu 5: “Trước khi Ta hình thành ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi, trước khi ngươi được sinh ra, Ta đã thánh hiến ngươi, Ta đã chỉ định ngươi làm tiên tri cho các dân nước”. Chưa hết, “Thiên Chúa là tình yêu” chẳng những yêu thương mỗi một người chúng ta chỉ vì chúng ta là tạo vật của Ngài, một tạo vật được Ngài dựng nên hoàn toàn tốt lành ngay từ ban đầu, nghĩa là khi chúng ta còn ngây thơ vô tội chưa biết đến tội lỗi là gì, mà còn yêu thương chúng ta cả khi chúng ta “là những tội nhân” nữa, như Vị Tông Đồ Dân Ngoại xác nhận trong Thư gửi Giáo Đoàn Rôma ở đoạn 5 câu 8. Đó là lý do, ngay sau khi sa ngã phạm tội, hai nguyên tổ của loài người chúng ta, lúc hai vị còn đang đổ lỗi cho nhau, không hề biết mở miệng xin Chúa thứ tha, thì chính Ngài đã tự động tuyên hứa cứu độ cho chính thành phần tạo vật phản nghịch Ngài rồi, như Sách Khởi Nguyên ghi lại ở đoạn 3 câu 15. Trường hợp “Thiên Chúa là tình yêu” yêu thương chúng ta khi chúng ta “là những tội nhân” còn được thể hiện tỏ tường qua việc Ngài tha không tận diệt dân Do Thái nữa, đám dân đã thực sự bỏ Ngài là Đấng họ đã tận mắt chứng kiến thấy Ngài ra tay uy quyền để cứu họ ra khỏi cảnh làm tôi Ai Cập, mà quay đầu đi tôn thờ con bò vàng đúc do họ tạo nên, như Sách Xuất Hành thuật lại trong bài đọc thứ nhất hôm nay. “Thiên Chúa là tình yêu” yêu thương chúng ta khi chúng ta “là những tội nhân” chẳng những được thể hiện qua việc thứ tha cho cả loài người ngay từ ban đầu, hay cho cả một dân tộc, như trường hợp Dân Do Thái trong bài đọc một hôm nay, mà còn cho từng con người chúng ta nữa, như trường hợp của chính Vị Tông Đồ Dân Ngoại, qua những gì ngài chia sẻ với Timôthêu trong bài đọc thứ hai hôm nay: “Chúa Giêsu Kitô đến thế gian để cứu các tội nhân. Trong số đó, cha là đệ nhất tội nhân”.

Ôi, như thế thì Thiên Chúa đã chẳng yêu thương chung loài người tạo vật vô cùng thấp hèn chúng ta và mỗi con người tội nhân vô cùng bất xứng của chúng ta cho đến cùng hay sao? Mức độ “cho đến cùng” nơi tình yêu Thiên Chúa tỏ ra qua Chúa Giêsu Kitô đây, như Thánh Ký Gioan viết trong Phúc Âm của mình ở đoạn 13 câu 1, theo tôi, không liên quan đến chủ thể yêu là Thiên Chúa, mà là đến đối tượng yêu là tội nhân chúng ta. Bởi vì, đối với “Thiên Chúa là tình yêu” thì một khi yêu là Ngài yêu bằng cả tấm lòng của Ngài, một tình yêu tuyệt đối thủy chung, yêu từ đầu đến cuối, “yêu đến cùng”, chứ không yêu dang dở, yêu từ từ, yêu có hạn, yêu bập bềnh lên xuống tùy theo đối tượng có đáng yêu chăng, hay đáng yêu bằng nào hoặc đáng yêu lúc nào v.v. Đó là lý do Thiên Chúa vẫn yêu loài người chúng ta cả khi chúng ta “là những tội nhân”. Và cũng chính vì Thiên Chúa đã yêu chúng ta “là những tội nhân” mà Người đã yêu “cho đến cùng”. “Cho đến cùng” ở đây không phải chỉ được hiểu “Thiên Chúa là tình yêu” tỏ lòng xót thương với chung loài người tội lỗi chúng ta, mà còn được hiểu là Ngài yêu thương cho đến tội nhân cuối cùng trong chúng ta, hay cho đến con người “đệ nhất tội nhân” trong chúng ta nữa. Đó là lý do Thánh Ký Gioan, sau khi cảm nhận “Người đã yêu thương thành phần thuộc về mình trên thế gian và muốn tỏ cho họ thấy Người yêu họ cho đến cùng”, liền nói ngay đến tông đồ Giuđa Ích-Ca: “Ma quỉ đã cám dỗ Giuđa trong việc phản nộp Người”, rối chính thánh nhân dùng câu “không phải mọi người đều sạch cả đâu”, câu Chúa Giêsu nói với tông đồ Phêrô, để ám chỉ về tông đồ Giuđa là: “vì Người biết kẻ phản nộp mình”. Như thế, Chúa Giêsu “đã yêu những kẻ thuộc về mình trên thế gian và Người cho họ thấy rằng Người yêu họ cho đến cùng” ở đây có nghĩa là Chúa Giêsu yêu cả Giuđa là kẻ Người biết trước là sẽ phản nộp Người, bằng việc Người cũng cúi mình xuống rửa chân cho cả Giuđa nữa vậy.

Nếu qua Lời Nhập Thể là Chúa Giêsu Kitô, “Thiên Chúa là tình yêu” đã yêu thương nhân loại tội nhân chúng ta “cho đến cùng”, tức là cho đến con người “đệ nhất tội nhân” trong chúng ta, hay cho đến con chiên lạc duy nhất trong đàn 100 con, cho đến đồng bạc duy nhất bị mất trong số 10 đồng bạc, thì quả thực, như Chúa Giêsu quả quyết với các môn đệ của Người trong Bữa Tiệc Ly, ở Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 14 câu 1 và 2, là: “Lòng các con đừng bối rối. Hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin tưởng nơi Thày. Trong nhà Cha thày có nhiều chỗ ở lắm”. Chúng ta hãy nhớ rằng, Chúa Giêsu phán lời này ngay sau khi Người báo trước cho Phêrô biết sự việc Phêrô sẽ chối bỏ Người. Như thế có nghĩa là, dù chúng ta là ai và có tội lỗi đến đâu đi nữa, Thiên Chúa vẫn yêu thương chúng ta, yêu thương từng người chúng ta, tức mỗi một người tội nhân chúng ta bao giờ cũng có chỗ của mình trong cung lòng yêu thương vô biên bất tận của Thiên Chúa. Miễn là, phải, miễn là tội nhân chúng ta biết hết lòng tin tưởng vào tình yêu vô cùng nhân hậu của Ngài, đừng bao giờ hồ nghi tình Ngài yêu thương chúng ta “cho đến cùng”. Như thế, “hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin tưởng nơi Thày” chính là lời Con Thiên Chúa mời gọi “người ta từ đông sang tây, từ bắc chí nam đến ngồi vào chỗ của mình trong bữa tiệc vương quốc Thiên Chúa” vậy. Thành phần từ đông tây nam bắc được Chúa Giêsu nhắc đến trong Phúc Âm Thánh Luca Chúa Nhật Thường Niên XXII Năm C cách đây 2 tuần này không phải là thành phần “khi được mời thì đến ngồi vào chỗ thấp nhất” hay sao? Điển hình là con người đã thành thực cảm nhận trong bài đọc thứ nhất hôm nay: “Chúa Giêsu Kitô đến thế gian để cứu các tội nhân. Trong số đó, cha là đệ nhất tội nhân”, hay con người thu thuế trong dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện ở Phúc Âm Thánh Luca đoạn 18 câu 13: “không dám ngẩng đầu lên trời. Chỉ biết đấm ngực mà thưa: ‘Ôi lạy Chúa, xin thương xót tôi là kẻ tội lỗi’”.

Vấn đề thực hành sống đạo: Bài Phúc Âm Chúa Nhật XXIV Mùa Thường Niên Năm C theo Phúc Âm Thánh Luca hôm nay cho chúng ta thấy Thiên Chúa thực sự yêu thương con người tạo vật chúng ta “cho đến cùng”. Ở chỗ, qua Con Một của mình, Ngài đã đến để tìm kiếm chung loài người chúng ta cũng như riêng từng người chúng ta trong khi chúng ta “là những tội nhân”. Vì mỗi một con người chúng ta là một ngôi vị, một chủ thể, chứ không phải là thú vật, là một khối đồng thể, (tức là loài có thể cloning hay có thể được tạo sinh theo phương pháp vô tính dục), do đó, Thiên Chúa không thể yêu thương thế gian mà lại không yêu thương từng người chúng ta, hay yêu thương riêng cá nhân hơn tập thể loài người, như Ngài có vẻ tỏ ra như thế trong bài đọc một hôm nay. Tuy nhiên, dù là một ngôi vị riêng biệt, chúng ta cũng là một con người thuộc về loài người, loài được Thiên Chúa yêu thương đến nỗi đã làm người như loài người chúng ta. Phải chăng vì thế mà chúng ta phải yêu thương nhau như Ngài đã yêu chúng ta, và phải tha thứ cho nhau như Ngài đã thứ tha cho chúng ta?

 

THIÊN CHÚA THƯƠNG XÓT VÀ THA THỨ

Lm Giuse Đinh lập Liễm

A. DẪN NHẬP. 

Chủ đề của ba bài đọc hôm nay là Thiên Chúa thương xót những người tội lỗi. Trong bài đọc 1, chúng ta thấy ngay sau khi dân Do thái ký Giao ước với Thiên Chúa đã quay ra phản bội, họ đã bỏ Chúa mà đi tìm một thần tượng khác làm hộ mạng, tức là thờ lạy con bê vàng. Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ định tiêu diệt dân này để lậïp một dân lớn hơn, trung thành hơn, nhưng nhờ lời cầu xin của ông Maisen, Thiên Chúa đã nguôi giận và tha tội cho dân. Thực ra, sứ điệp mà Thiên Chúa muốn gửi đến cho chúng ta qua bài đọc 1 này là Thiên Chúa rộng lòng thương xót sẵn lòng tha thứ cho những kẻ tội lỗi.

Lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa được thể hiện một cách cụ thể trong Đức Giêsu Kitô. Sự kiện Đức Giêsu đã đón tiếp và cùng ăn với những người tội lỗi làm cho những người biệt phái phẫn nộ. Họ là những người “biệt phái” tránh né mọi tiếp xúc với những người tội lỗi. Họ cho rằng những kẻ tội lỗi là những đồ bỏ đi. Phản ứng lại những lời chỉ trích của nhóm họ, Đức Giêsu đã chỉ ra cho họ một Thiên Chúa giầu lòng thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan dung, Ngài sẵn sàng tha thứ cho mọi lỗi lầm của con người, bằng cách đưa ra ba dụ ngôn : con chiên đi lạc, đồng tiền bị mất và đứa con hoang đàng. Cả ba dụ ngôn đều nhấn mạnh đến việc Thiên Chúa quan tâm đến một người hư mất và niềm vui của Ngài khi tìm lại được một người hư mất.

Theo gương Đức Giêsu, chúng ta phải thay đổi cách nhìn của chúng ta đối với người tội lỗi. Họ không phải là những hạng người bỏ đi như người biệt phái vẫn nghĩ thế; trái lại, họ là một con người, một con người cao qúi trước mặt Chúa không thể để hư mất. Nếu họ hư đi thì phải nỗ lực đi tìm kiếm như người chăn chiên bỏ 99 con mà đi tìm con chiên lạc, đem về cùng chung vui vì một người  tội lỗi đã trở lại.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA. 

+  Bài đọc 1 : Xh 32,7-11.13-14. 

Ngay sau khi Thiên Chúa ký Giao ước với dân Israel, họ đã vi phạm Giao ước. Vì ông Maisen ở lâu trên núi, nên dân đâm ra sợ hãi và tự tạo cho mình một thần tượng để hộ mạng. Đó là dân đã đúc con bê vàng và thờ lạy trước tượng đó. Sự bất tín này làm Thiên Chúa nổi giận và muốn tiêu diệt dân, đồng thời Ngài lại hứa với Maisen như xưa đã hứa với Abraham là sẽ làm cho ông nên tổ phụ của một dân tộc lớn. Nhưng ông Maisen đã khẩn khoản xin Chúa  tha tội cho dân, và cuối cùng Thiên Chúa nguôi giận không giữ ý định tiêu diệt Israel nữa.

Mặc dầu Thiên Chúa hứa tạo cho ông một dân tộc mới, ông đã không lìa bỏ dân tộc mình, vẫn liên đới gắn bó với dân như trước. Chính ông van xin Thiên Chúa tha thứ và được Ngài nhận lời vì Thiên Chúa kiên nhẫn và trung tín.

+  Bài đọc 2 : 1Tm 1,12-17. 

Trước khi nói cùng ông Timôthê yêu dấu, thánh Phaolô muốn nhắc lại cách Thiên Chúa đối xử với loài người. Nếu không có điều ấy, ơn gọi của chính ngài khó mà giải thích được : Thiên Chúa tha thứ.  Ngài tạ ơn Chúa vì lòng nhân từ  thương xót của Chúa.

Trước kia, ngài là người bắt đạo và ngạo ngược nhưng đã được Chúa xót thương. Sự trở lại của ngài là một thí dụ điển hình về ơn tha thứ Thiên Chúa dành cho mọi người.

+  Bài Tin mừng : Lc 15,1-32.

Thấy Đức Giêsu hay gần gũi với những người tội lỗi, nhóm biệt phái và luật sĩ tỏ ra rất khó chịu, lẩm bẩm với Ngài. Nhân dịp này Đức Giêsu đưa ra ba dụ ngôn nói lên lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa đối với tội nhân : con chiên bị lạc, đồng tiền bị mất và đứa con hoang đàng. Tất cả đều nói lên Thiên Chúa là người Cha nhân hậu.

Để ý nhận xét, đồng tiền là một vật nhỏ nhất mà cũng mất công tìm tòi kỹ lưỡng, điều này nói lên sự quan tâm rất mực của Thiên Chúa đối với tội nhân. Dụ ngôn đứa con hoang đàng trở về càng làm nổi bật lòng nhân hậu, thứ tha của Thiên Chúa, Ngài là người Cha không bao giờ bỏ rơi con cái bạc bẽo. Chi tiết này càng làm cho người tội lỗi vững tâm trở về cùng Chúa.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

I. THIÊN CHÚA KÊU GỌI NGƯỜI TỘI LỖI 

  1. Hòan cảnh đưa đến dụ ngôn

Đối với Đức Giêsu, người ta có hai thái  độ trái ngược nhau : đối với những người biệt phái và luật sĩ, họ cho mình là người công chính nên khinh thường và tẩy chay Ngài. Còn những người tội lỗi thì lại đến gần Ngài, nghe Ngài giảng và sửa đổi con người của mình. Người Do thái rất khó chịu khi thấy Đức Giêsu giao du với những người tội lỗi và lại còn đồng bàn với họ nữa. Người ta khó chịu với Đức Giêsu vì họ thấy Ngài cư xử ngược với quan niệm của họ.

Đạo sĩ Do thái đã xếp tất cả những ai không tuân giữ lưật pháp vào chung một hạng, họ gọi những người đó là “Dân của đất”. Có một hàng rào ngăn cách  dứt khoát giữa những đạo sĩ Do thái và người “Dân của đất”. Gả con gái cho một người dân của đất thì chẳng khác gì trói cô gái ấy nộp cho sư tử. Luật của đạo sĩ Do thái dạy rằng : Khi có một người là dân của đất, thì đừng trao tiền cho nó, đừng lấy chứng của nó, đừng nói điều bí mật cho nó, đừng đặït nó coi kẻ mồ côi, đừng để nó giữ của bố thí, đừng đi đường với nó”.

Có luật cấm đạo sĩ Do thái không được mời một người dân của đất đến dùng bữa, cũng không được nhận lời mời của ai trong hạng người đó. Luật cấm đạo sĩ Do thái không được giao dịch thông thường với họ, không được mua gì của họ hoặc bán gì cho họ. Các đạo sĩ Do thái quyết tâm tránh hẳn mọi liên hệ với đám dân của đất, tức là những người không giữ đủ các chi tiết tỉ mỉ trong luật pháp.

Trước thái độ kỳ thị ra mặt của các đạo sĩ Do thái đối với người bị coi là tội lỗi,  Đức Giêsu mới kể cho họ ba dụ ngôn để nói về lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa, Ngài muốn tìm kiếm và cứu vớt những gì đã lạc mất.

  1. Ba dụ ngôn của Đức Giêsu.

a) Dụ ngôn con chiên đi lạc.

Trước tiên ta cần lưu ý là hình ảnh người chăn chiên và bầy chiên là chủ đề cổ điển trong Cựu ước nói lên tương quan giữa Thiên Chúa và dân Ngài (St 48,15 : Lc 12.32). Dụ ngôn này cũng có trong Tin mừng Matthêu, nhưng trong lúc Matthêu áp dụng vào trách nhiệm những vị lãnh đạo Giáo hội, còn Luca nói lên việc Thiên Chúa tìm kiếm người tội lỗi.

Trong dụ ngôn này, người mục tử đã bỏ 99 con kia, dĩ nhiên là được canh giữ cẩn thận, để đi tìm con chiên lạc. Con chiên lạc này mất vì lý do nào đó không được nêu ra trong dụ ngôn. Nhưng có một đều chắc chắn là nó đang sống  những giây phút khốn cực, cần sự giúp đỡ của chủ chăn. Chủ chăn đã phải bỏ 99 con trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc. Một con sánh với 99 còn lại thì chỉ như số không, không đáng gì, đâu có làm cho ông nghèo đi chút nào. Việc làm của ông chứng tỏ hùng hồn rằng : bất cứ giá nào, ông cũng không để mất, dù một con. Một con đây cho giá trị như  99 con. Ý nghĩa này nói lên tầm mức quan trọng và tự do sự trở về của tội nhân : Quan trọng đến nỗi bất cứù giá nào, người tội lỗi đó cũng phải được trở về, điều đó chứng tỏ lòng thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân.

Còn một chi tiết làm cho chúng ta cảm động :”vác con chiên trên đôi vai”, vì khi con chiên đi lang thang nhiều giờ hay nhiều ngày xa đàn chiên, nó kiệt sức và nằm xuống. Thật ra phải vác nó lên thôi. Và một con chiên nặng đấy ! Nhất là khi người chăn chiên cũng đã chạy nhiều giờ trên những ngọn đồi đầy sỏi đá dưới ánh nắng mặt trời… Chính người chăn chiên cũng rất mệt nhọc ! Nhưng, Đức Giêsu nói hoàn toàn vui mừng, người đó quên đi sự mệt nhọc của mình, bế nó lên tay và vác nó.

Chính Thiên Chúa giới thiệu với chúng ta như thế ! Vả lại hình ảnh ấy không mới mẻ. Toàn thể Thánh Kinh đã thể hiện Thiên Chúa dưới những đường nét của “người chăn chiên” (Is 40,11-49, 10 …(Quesson).

b) Dụ ngôn đồng tiền bị mất. 

Đức Giêsu lại tiếp nối tư tưởng bằng một dụ ngôn khác. Đồng tiền nói ở đây là một đồng tiền nhỏ, dễ bị mất trong nhà dân quê xứ Palestina, và có khi phải mất rất nhiều thì giờ mới tìm lại được. Nhà của người Do thái thường tối om, vì chỉ có một cửa sổ tròn đường kính khỏang 45 phân. Nền nhà thì bằng đất nện được phủ bằng những tấm liếp sậy và cành cây khô. Tìm kiếm một đồng bạc trên một nền nhà như thế khác nào tìm một cây kim trong đống rác. Nhưng người đàn bà quét đi quét lại, tìm cho bằng được.

Một đồng bạc ở đây có giá trị tương đương với một ngày làm công (Mt 20,2). Ở đây muốn nói lên sự mất mát dù chỉ có một đồng cũng là điều quan trọng khiến cho chủ cũng phải tốn công tìm kiếm.  Điều này cũng muốn ám chỉ lòng thương yêu của Thiên Chúa không muốn để ai bị hư đi, nhưng muốn cứu vớt mọi người.

Ngoài lý do vì nhu cầu cần tìm đồng tiền bị mất, lại còn có một lý do khác thơ mộng hơn. Tại Palestina, dấu hiệu của người đàn bà có chồng là một chiếc vành trên đầu làm bằng 10 đồng tiền nhỏ bằng bạc xâu lại với nhau bằng một sợ dây bạc. Trong nhiều năm, một cô gái làm lụng và để dành cho đủ 10 đồng tiền nhỏ đó. Bởi vì cái chuỗi trên đầu của nàng cũng đáng giá gần bằng chiếc nhẫn cưới. Khi nàng đã sắm được nó thì trở nên của riêng nàng, đặc biệt đến nỗi người khác không thể đoạt lấy của nàng món nữ trang đó để trừ nợ. Có thể người đàn bà trong dụ ngôn  đánh mất một đồng bạc thuộc loại đó, và bà ta đã tìm kiếm nó như bất cứ người nào khác cũng làm như thế khi đánh mất cái nhẫn cưới vậy.

Vì thế, chúng ta dễ hiểu nỗi vui mừng của người đàn bà khi tìm lại được đồng bạc bị mất. Đức Giêsu cho biết : cũng thế, Thiên Chúa và các thiên sứ  vui mừng khi một người ăn năn trở về, như khi một gia đình vui mừng tìm lại được đồng bạc quyết định cái no hay cái đói của họ, hay cũng giống người đàn bà đánh mất một tài sản có giá trị hơn tiền bạc rồi lại tìm lại được.

c) Dụ ngôn đứa con hoang đàng. 

Niềm vui lạ lùng này được sáng tỏ hơn trong dụ ngôân đứa con hoang đàng. Ông chủ chỉ có hai người con trai, tưởng rằng được sống bình yên trong tuổi già với hai con. Nhưng người con thứ tính phóng khoáng, thích tụ tập, muốn xin cha chia gia tài cho anh.

Theo luật Do thái, người cha không được chia gia tài tùy ý mình thích, đứa con cả đương nhiên được hưởng 2/3, đứa con thứ được 1/3 gia tài (x. Đnl 21,17). Không phải là một việc lạ khi một người cha phân chia gia tài ngay khi còn sống nếu ông muốn được nghỉ ngơi khỏi bận tâm buôn bán làm ăn.  Nhưng có một sự trơ tráo nơi đứa con thứ khi chính nó đề xuất việc chia gia tài. Khi nó nói với cha nó :”Cha hãy cho tôi ngay bây giờ phần gia tài  mà trước sau gì tôi cũng lãnh được sau khi cha chết, và hãy để tôi ra khỏi nhà này”. Người cha không tranh luận gì, ông hiểu rằng nếu con ông cần một bài học thì nó sẽ có một bài học đắt giá, và ông đã chia gia tài cho nó. Tức khắc đứa con lấy phần dành cho nó và bỏ nhà ra đi.

Tuy nhiên, việc xin chia gia tài này có hợp lý không, thì không rõ, chỉ biết rằng sau này chính người con thứ đã hối hận vì hành động trên.

Đi xa nhà một thời gian, nó đã nhanh chóng xài hết tiền và kết thúc bằng việc chăn heo, một công việc đáng nguyền rủa của người Do thái… Trong cảnh khốn cùng, nó hồi tâm suy nghĩ lại và quyết định ra đi về với cha nó mà chỉ xin được coi như kột đứa đầy tớ thôi, chứ không dám nhận là con nữa. Nó trở về, cha nó chạy ra ôm chằm lấy mà hôn. Cha nó không để nó kịp mở miệng xin làm đầy tớ, ông đã lên tiếng trước.  Ông đã phục hồi địa vị làm con cho nó bằng những cử chỉ đầy ý nghĩa :

. Xỏ giầy vào chân cậu : . Xỏ giầy vào chân chứng tỏ ông đã tha thứ hoàn toàn cho cậu. Vào thời Kinh Thánh thuở xưa, mang giầy là dấu chỉ của một người tự do, còn đám nô lệ thì đi chân trần. Xỏ giầy vào đôi chân trần của cậu  con tức là xóa đi dấu hiệu thằng con ấy từng là nô lệ của một người nào đó, và đồng thời trả lại cho cậu ta  dấu chỉ cậu là đứa con trai trong gia đình.

Trao nhẫn cho cậu.  Gắn nhẫn vào ngón tay cậu chứng tỏ ông bố phục hồi trọn vẹn cho cậu tình trạng trước khi cậu bỏ nhà ra đi. Đeo nó vào đồng nghĩa với được quyền hành xử như một thành viên trong gia đình.

Và như thế, khi choàng tay ôm, xỏ giầy, đeo nhẫn cho đứa con trai, người bố đã cho thấy ông hoàn toàn nồng nhiệt tiếp đón cậu ta, tha thứ hoàn toàn và phục hồi cho cậu ta trọn vẹn tình trạng trước khi cậu bỏ nhà ra đi.

             Truyện : Vải trắng trên cây táo.

Richard Pindell có viết một chuyện ngắn nhan đề “Đứa con trai của một người nào đó” (somebody’s  son). Câu chuyện mở đầu với một cậu bé tên là David bỏ nhà ra đi sống bụi đời. Vì khó quá, không chịu nổi, cậu bèn viết một lá thư gửi về nhà cho mẹ bày tỏ niềm hy vọng được ông bố cổ hủ tha thứ cho cậu và chấp nhận cậu làm con trở lại.  Lá thư như sau :”Mẹ kính mến, trong một vài ngày nữa con sẽ đi ngang qua nhà. Nếu bố bằng lòng nhận con trở lại, thì mẹ yêu cầu bố cột một miếng vải trắng lên cây táo hồng ở miếng đất cạnh nhà chúng ta.

Vài ngày sau, David lên xe lửa đi về. Trong lúc tầu hỏa lao nhanh đến nhà thì hai hình ảnh  cứ chớp lòe liên tục hiện ra trong trí cậu ta. Khi thì trên cây có cột một miếng vải trắng, khi thì trên cây chẳng có một miếng vải trắng nào. Xe lửa càng tiến gần nhà, trái tim David càng đập nhanh hơn. Không bao lâu nữa cây táo sẽ hiện ra nơi khúc quẹo, nhưng David không dám tự mình nhìn tới vì sợ nhỡ không có miếng vải trắng cột ở đó. Thế là cậu quay sang người đàn ông bên cạnh ấp úng nói :”Thưa ông, ông có thể làm ơn giúp cháu một việc không? Vào khúc quẹo bên tay mặt, ông sẽ thấy một cái cây. Ông làm ơn cho cháu biết trên cành cây có cột một miếng vải trắng không nhé”.

Khi chiếc xe lửa rầm rầm lướt qua cây táo, David nhìn chăm chăm về phía trước. Đoạn run run  giọng cậu hỏi người đàn ông :”Thưa ông, có một miếng vải trắng treo ở một cây nào đó không”? Ông ta sửng sốt trả lời :”Ồ, này cậu bé, cành cây nào ta cũng thấy  có cột một miếng vải trắng cả”(Mark Link).

II. THIÊN CHÚA THƯƠNG XÓT VÀ THA THỨ. 

  1. Tấm lòng của người Cha.

Người cha trong dụ ngôn phải là một ông chủ giầu sang, đầy quyền lực và oai nghi đúng với đặc điểm của một phú ông miền Đông phương. Đứng trước sự ngông cuồng của người con thứ, người cha đã chia gia tài cho các con không phải vì ông nhu nhược mà vì ông tôn trọng quyền tự do của con. Ngày người con thứ ra đi cũng chính là ngày ông bắt đầu ngóng chờ với niềm tin sẽ có ngày con ông trở về. Quả đúng như vậy. Mặc dù tuổi già sức yếu, người cha vẫn nhìn ra người con từ rất xa. Có thể nói chính ông đã phá tan dáng vẻ oai nghi đường bệ của một phú ông Đông phương để hồ  hởi chạy ra với người con tựa như trẻ thơ mong mẹ về.

Nỗi mừng vui cũng như hàng loạt mệnh lệnh dồn dập của người cha làm cho chúng ta có cảm nghĩ hẳn ông đang chuẩn bị tiếp đón một nhân vật quan trọng. Mà không quan trọng sao được khi ý nghĩa của những mệnh lệnh trên hàm chứa một tình yêu vô bờ bến ông dành cho người con “phá gia” trở về mà không một ngôn từ nào có thể diễn tả hết được.

Chiếc áo mới nhất mà ông mặc cho người con hẳn phải là chiếc áo dành cho ngày Đại lễ. Bởi chỉ có ngày Đại lễ, dịp lễ hội, người ta mới mặc áo mới, mới có dịp để chưng diện mà thôi. Chưa dừng lại ở đó. Chúng ta biết rằng đối với người Do thái, chiếc nhẫn không chỉ là kỷ vật, là món đồ trang sức, không chỉ là biểàu trưng của tình yêu mà nó còn là cái ấn đóng dấu nhằm xác nhận tư cách của một người con và đồng thời cũng xác nhận tư cách của một người được thừa hưởng quyền kế thừa tài sản. Như thế, bằng việc xỏ nhẫn và xỏ dép vào tay chân của người con, người cha trong Tin mừng đã xác nhập mối tương quan cha-con, đồng thời cũng xác nhập quyền thừa kế và trả lại quyền tự do cho nó – điều mà người con thứ không bao giờ nghĩ tới. Chưa hết, người cha còn ra lệnh giết bê đã vỗ béo để ăn mừng cho sự trở về này. Như thế đã rõ, bê chỉ vỗ béo để chờ dịp Đại lễ. Ngày người con trở về và người cha đã hạ bê béo để ăn mừng chẳng phải là dịp Đại lễ mà từ lâu ông hằng ôm ấp mong chờ để có được ngày hôm nay sao ?

          Truyện : Thiền sư Sengai.

Có rất nhiều đệ tử đang tu luyện thiền học dưới sự hướng dẫn của thiền sư Sengai. Trong số đó có một đệ tử thường hay thức dậy ban đêm, lẻn trốn một mình trèo tường ra phố rong chơi dạo mát cho thỏa thích. Và một đêm kia, thiền sư Sengai đi kiểm tra phòng ngủ các đệ tử, thấy vắng mặt một người và cũng khám phá ra chiếc ghế đẩu mà anh ta thường dùng để leo qua tường ra ngoài. Sau khi suy nghĩ, thiền sư Sengai liền dời chiếc ghế đi chỗ khác và đứng thay vào chỗ đó. Một lát sau, anh chàng ham rong chơi trở về không biết rằng  thầy mình là chiếc ghế, cứ thản nhiên đặt chân vào đầu thầy mình để nhảy xuống đất. Đúng lúc đó mới khám ra sự thể động trời của mình, anh ta hoảng hốt sợ đến ngất xỉu. Nhưng thiền sư Sengai nhỏ nhẹ bảo anh :”Sáng sớm trời lạnh lắm, con hãy cẩn thận kẻ bị cảm đấy”. Và từ đó, người đệ tử hoang đàng ấy không bao giờ dám ra ngoài chơi ban đêm nữa.

  1. Tình thương tha thứ của Thiên Chúa

Thiên Chúa được Đức Giêsu mạc khải là một người Cha. Cha nào mà chẳng thương yêu con bằng một tình thương tự nhiên, vô điều kiện, nghĩa là bất chấp con cái tốt xấu, hay dở, có lợi hay gây hại cho mình, bất chấp cả việc  chúng đối xử với mình tệ bạc đến đâu. Tình thương đích thực luôn luôn tự động biểu lộ thành hành động. Bản chất của tình thương là như thế, nếu không như thế thì không phải là tình thương đích thực. Tình thương không biểu lộ bằng hành động chỉ là tình thương ngoài môi miệng (x. Gc 2,16.26). Và hai cách biểu lộ rõ rệt nhất của tình thương là sự tha thứ vô điều kiện và sẵn sàng chấp nhận sự đau khổ hoặc chết cho người mình yêu thương. Tình yêu của Thiên Chúa đối với con người đã được biểu lộ qua hai cách ấy nơi con người Đức Kitô :”Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là người tội lỗi. Đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta”. 

Trở lại dụ ngôn đứa con hoang đàng, ta hỏi động lực nào đã làm cho đứa con quay trở về nhà mình ? Chắc chắn không phải vì thương cha mình, mà vì sự khốn khổ nó đang phải chịu do sự ngu xuẩn và bất hiếu của nó. Tóm lại, nó về là vì nó thương bản thân nó hơn là thương cha. Chắc chắn khi thấy nó trở về với “thân tàn ma dại”, cha nó biết nó về với động lực gì. Nhưng đối với ông, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là nó đã trở về, vì nó tưởng như “đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy”. Động lực khiến người cha tha thứ và vui mừng đón nhận nó trở về hoàn toàn vì yêu thương con, vì muốn cho nó hạnh phúc, bất chấp quá khứ lầm lỗi của nó. Đó cũng chính là tâm tình của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi. Chỉ cần người tội lỗi quay trở về với Chúa  trong sự hối hậân về đời sống quá khứ của mình.

            Truyện : Tình mẹ tha thứ.

Ở Batna, có một gia đình nằêm vào địa điểm hẻo lánh, gồm bà mẹ với các con, mà thằng con lớn phản bội vô số kể, tên là Sidi Melkassen, ưa a tùng với côn đồ du đãng, bị mẹ khiển trách hằng ngày. Mất tự do, thằng đó bực tức, nhất định hai mẹ con không đội trời chung. Liền bắt mẹ đem giam cầm vào một nhà cô tịch tăm tối. Lấy sợi xiềng xích lớn mà xiềng hai chân mẹ nó lại, đoạn đục vách tường gắn móc khóa lại và giữ chìa khóa trong túi. Đành lòng đóng cửa lại trước những tiếng kêu la, khóc lóc, van nài của mẹ.

Trên ba năm trời tồi túng, nóng nực, lạnh lẽo. Không mền, không chiếu, bữa đói bữa no, người mẹ than khóc đã khô nước mắt, kêu không ai nghe, buồn không một lời an ủi.

Chiều nọ, một nàng dâu thảo giật được chìa khóa và mở cửa, tháo xiềng giải thoát cho người mẹ vô phúc. Bà đi ra giữa thanh thiên bạch nhật, không còn hình tượng người nữa, ai nấy đều thương hại. Việc này thấu đến tai nhà chức trách, thằng con bất hiếu bị bắt và kêu án sáu tháng tù ở. Ai nấy đều vỗ tay ca tụng công lý. Chỉ có bà mẹ quên tội của con, cất tiếng lên vừa than khóc vừa xin tòa đừng tống giam con mình tội nghiệp.

Ôi, tình mẹ bao la !

  1. Có sự nghịch lý trong ba dụ ngôn chăng ?

Bài Tin mừng hôm nay gồm tới 3 dụ ngôn. Dụ ngôn đầu xem ra không hợp lý : ai lại bỏ 99 con chiên để đi tìm một con chiên lạc ? Dụ ngôn thứ hai cũng chẳng có tính thuyết phục bao nhiêu : một đồng xu có đáng là bao so với công sức mà người đàn bà kia bỏ ra để tìm lại nó ? Nhưng rồi tất cả đều trở nên hợp lý khi ta đọc dụ ngôn thứ ba : Ý của Chúa Giêsu không nhằm tới con chiên, cũng không nói tới tiền bạc mà nói tới con người. Trước mặt Thiên Chúa, mỗi một con người đều có giá trị vô cùng, bởi vì mỗi một con người, dù là tội lỗi, cũng đều là con của Ngài.

Tuy nhiên có mấy ai chia sẻ tâm ý của Chúa ? Những người biệt phái và luật sĩ thấy Chúa Giêsu bỏ công lui tới với những người tội lỗi thì họ cho là mất công vô ích nên xầm xì phản đối. Đối với họ, việc làm của Chúa Giêsu là không đáng, bởi vì những kẻ tội lỗi là hạng đáng vất đi. Nhưng đối với Chúa Giêsu, đó là những con người, những giá trị. Một đồng xu qúi giá thế nào đối với người đàn bà nghèo khổ, một người con quí giá thế nào đối với tấm lòng người cha, thì một người tội lỗi cũng đáng giá thế ấy đối với tấm lòng của Thiên Chúa.

Thế còn việc bỏ 99 con chiên trong đàn để đi tìm con chiên lạc thì sao ? Vì con chiên ấy cần được săn sóc hơn 99 con kia : nó cô đơn, nó bơ vơ, nó đói khát hơn, nó bị nguy hiểm nhiều hơn. Vì thế nên người mục tử nhân lành không thể ở yên mà chờ nó tìm được đường về, mà phải đích thân ra đi tìm nó. Đức Giêsu đã làm như người mục tử ấy : Ngài không chờ đợi kẻ tội lỗi đến với mình, nhưng được bước trước đến với họ. Ngài kết thân với họ trong tình trạng của họ còn đang là tội nhân, còn đang lầm lạc. Chính đó là cách đối xử khác những người biệt phái và luật sĩ, và chính đó là lý do khiến họ xầm xì phản đối. Nhưng chính cái đối xứ này đã hoán cải được một người biệt phái nổi tiếng là thánh Phaolô (Trích Carôlô, Sợi chỉ đỏ A, tr 710-711).

III. CHÚNG TA CŨNG PHẢI CƯ XỬ NHƯ VẬY.

  1. Phải thay đổi cách cư xử.

Giáo hội là Mẹ của chúng ta đã từng có cách cư xử như Đức Giêsu, tạo điều kiện để lôi kéo những con chiên lạc đàn trở về với Chúa. Chẳng hạn , Augustinô, một thanh niên đã từng sống trụy lạc, ăn chơi, và có những đứa con rơi rớt không kém gì đứa con hoang đàng trong Tin mừng. Thế mà khi trở về với Giáo hội, Giáo hội đã mở rộng vòng tay  đón nhận. Sự đón nhận trở nên hoàn toàn khi Giáo hội chấp nhận chàng vào tu viện, và khi thấy chàng xứng đáng, đã phong chức Giám mục cho chàng. Nhờ sự tha thứ quảnng đại ấy của Giáo hội, Augustinô đã trở nên một vị thánh.

Chúng ta cũng phải bắt chước Giáo hội mà phải thay đổi cách nhận định và thái độ cư xử đối với tội nhân. Nghĩa là đừng quá quan trọng hóa nết xấu, lỗi lầm của anh em, đừng nuôi lòng thích thú khi thấy anh em sa ngã, lỡ lầm, đừng giả đò thương hại khi đưa lỗi lầm của anh em ra bàn tán và đừng bao giờ tỏ vẻ khinh khi, ruồng bỏ anh em bằng lời ăn tiếng nói, bằng cử chỉ ánh mắt, nhưng hãy bắt chước Chúa biết thông cảm với nỗi khổ tâm của anh em, biết thao thức lo lắng giúp anh em sửa mình, biết tôn trọng, bênh vực anh em, biết cầu nguyện cho anh em.

  1. Ý thức mình cũng là tội nhân được tha thứ

Có những con chiên xa đàn lạc lối, nhưng cũng có những con đang sống trong đàn mà chẳng phải là chiên. Có đứa con bỏ nhà xa cha, nhưng cũng có đứa con tuy sống gần cha mà lòng dường như đi hoang từ lâu. Nó coi cha không khác gì ông chủ hà khắc keo kiệt, chẳng hề bố thí cho một con bê để vui vầy với chúng bạn. Như vậy, có thứ lạc đàn thể lý và cũng có thứ lạc đàn tâm linh. Có những người không đi nhà thờ vì lòng họ xa Chúa, song cũng có những người không bỏ nhà thờ nhưng lòng họ chẳng gần Chúa hơn được bao nhiêu. Có lẽ vì tâm trí họ đang đi lạc trong khu rừng có nhiều tiếng ca của danh vọng, hương sắc của đồng tiền, hung khí của hận thù, giọng ríu tít đầy lôi cuốn của xác thịt.

Vậy chúng ta có phải là con chiên đích thực không hay chỉ là hữu danh vô thực ? Chắc chắên không ai trong chúng ta dám xưng mình là người công chính như luật sĩ và biệt phái, chúng ta vẫn xưng mình là kẻ có tộâi, và nếu đã biết mình có tội thì phải có lối cư xử với người khác bằng tình thương yêu.

Nếu Thiên Chúa tỏ lòng nhân hậu và tha thứ cho chúng ta, thì Ngài muốn chúng ta cũng hãy tha thứ cho nhau như người cha nhân hậu xin ông anh cả tha thứ cho đứa em lỗi lầm.

Người ta chỉ có thể dễ dàng tha thứ cho kẻ khác khi ý thức thân phận mỏng dòn yếu đuối của mình. Có nhận ra mình hay lầm lỗi, con người mới dễ cảm thông tha thứ cho những lỗi lầm của anh em. Đừng bắt người có tội phải bị trừng phạt mới hả dạ. Đừng đòi hỏi cho được sự công bằng mới thôi, vì Martin Luther King có viết :”Nếu cứ áp dụng luật “mắt đền mắt” thì mọi người trở nên mù lòa”.

 

MẦU NHIỆM THÁNH THIỆN VÀ TỘI LỖI

Lm. Thiện Duy

Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết trong Tự Sắc Cửa Đức Tin số 13 như sau: “Một điều quan trọng trong Năm Đức Tin này là điểm lại lịch sử đức tin của chúng ta, được ghi dấu bằng mầu nhiệm lạ lùng về sự đan xen giữa thánh thiện và tội lỗi”.

Phụng vụ lời Chúa hôm nay là dịp để mỗi người chúng ta điểm lại lịch sử lạ lùng về mầu nhiệm thánh thiện và tội lỗi của nhân loại cũng như của từng người chúng ta.

I. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

  1. Bài Đọc I: Xh 32, 7-11.13-14

Thiên Chúa đã yêu thương, chọn một dân bơ vơ, vất vưởng, rày đây mai đó làm dân riêng của mình: “Ta sẽ nhận các ngươi làm dân riêng của Ta, và đối với các ngươi, Ta sẽ là Thiên Chúa” (Xh 6, 7). Ngài đã sử dụng “cánh tay quyền lực của Ngài” để “quyến rũ” dân, không phải vì Ngài cần được người ta tôn thờ, nhưng bởi vì: “Thiên Chúa nhớ lại giao ước của Ngài với các tổ phụ Apraham, Isaac và Giacop” (Xh2, 24). Sau khi dùng Môsê đưa dân vượt qua biển Đỏ, thoát khỏi ách nô lệ của người Ai Cập, Thiên Chúa đã gặp gỡ riêng tư với ông để có những kế hoạch dành cho dân tộc Israel: “Người gọi ông Môsê lên đỉnh núi và ông đi lên” (Xh20, 20b).

Thế nhưng sự việc xảy ra là: “Dân thấy ông Môsê lâu quá không xuống núi, bèn tụ họp bên ông Aaron và nói với ông: “Xin ông đứng lên, làm cho chúng tôi một vị thần để dẫn đầu chúng tôi, vì chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho cái ông Môsê này, là người đã đưa chúng tôi lên từ đất Ai Cập” (Xh 32, 1).

Thiên Chúa nhìn thấy cảnh tượng đó nên đã “méc” ông Môsê: “Hãy đi xuống, vì dân ngươi đã hư hỏng rồi. Chúng đã vội đi ra ngoài con đường Ta truyền cho chúng đi. Chúng đã đúc một con bê rồi sụp xuống lạy nó, tế nó và bảo: đây là thần của chúng ta” (x. Xh 32, 7-9). Chúng ta phải đặt mình trong hoàn cảnh của Thiên Chúa, để thấy được sự nỗi giận của Thiên Chúa là hoàn toàn đúng.

Một người mới cưới vợ, cô vợ này xấu xí lắm, nhưng anh chồng vẫn thương lạ thương lùng. Một thời gian sau, anh chồng có công việc phải đi vắng, cô vợ này ở nhà rước một người thanh niên khác về và bảo: đây là chồng tôi. Cô vợ này ôm ấp, tình tứ với người thanh niên “mà cô gọi là chồng” ngay trước mặt người chồng cũ của mình, thì thử hỏi người chồng đó có chịu nỗi không? Trời đất ơi, chắc tức, giận, và có cả sự kinh tởm không thể tưởng tượng được!

Thiên Chúa đã đòi tiêu diệt dân này, và sẽ thay thế bằng nhà của ông Môsê. Nhưng chúng ta để ý thái độ của ông Môsê, quả thật là một con người tuyệt vời. Nếu là chúng ta, hổng chừng chúng ta sẽ nói: “Được đó, Chúa giết sạch hết đi, chừa lại nhà của con thôi, con sẽ làm cho Chúa được vinh quang, rạng rỡ…”. Đằng này: “Ông lại cố làm cho nét mặt Đức Chúa dịu lại”. Chắc có lẽ ông cũng dùng những lời nói chơi, những lời xoa dịu cho Chúa mát bụng: “Thôi Chúa ơi, có gì đâu mà giận dữ vậy, Chúa phải vất vả lắm mới đưa được dân này ra khỏi đất Ai Cập. Với lại tụi nó mới quá mà. Bây giờ giả dụ tụi nó có làm gì sai, thì thây kệ tụi nó, Chúa chỉ cần nhớ đến mấy người lớn, ông Apraham, Isaac, Giacop, bạn thân của Ngài không hà, nể họ mà tha cho dân lần này đi nghe Chúa!”. Nhờ vậy mà: “Đức Chúa đã thương, không giáng phạt dân Người như Người đã đe”.

Qua câu chuyện này, chúng ta thấy được 3 điều:

Thứ nhất, không phải dân chúng bỏ Chúa, không tin Chúa nên sụp lạy con bò vàng, mà bởi vì họ muốn một vị Thiên Chúa có hình ảnh cụ thể, một vị Thiên Chúa như họ muốn. Hay nói cách khác, họ muốn một Thiên Chúa vừa với tầm nhìn của họ.

Thứ hai, hình ảnh ông Môsê, một khi đã nhận nhiệm vụ lãnh đạo dân, ông coi dân như chính bản thân mình, gắn bó với dân, không màng chi đến những lợi lộc cá nhân, coi tội lỗi của dân chính là tội lỗi của mình.

Điểm thứ ba quan trọng hơn, đó là tình yêu của Thiên Chúa dành cho những ai Ngài đã tuyển chọn. Sẽ có những lúc họ làm cho Thiên Chúa nỗi giận, nhưng giận thì giận mà thương thì vẫn thương. Ngài sửa dạy họ để mỗi ngày họ nên tốt hơn. Đó là mầu nhiệm tội lỗi và thánh thiện nơi con người và từng người chúng ta.

  1. Đáp ca: Tv.50

Đây là thánh vịnh nổi tiếng về lòng ăn năn sám hối. Nó là tâm tình của vua Đavit sau khi được Thiên Chúa cho biết những tội lỗi tày trời của ông. Ông đã phạm tội ngoại tình, hơn thế nữa, để ngoại tình ông đã bày mưu giết người, mà người đó lại là một vị tướng giỏi của ông. Ông không che giấu, không biện minh, mà chỉ biết nói: “Nguyện xót thương con theo lòng nhân hậu của Chúa, nguyện xóa tội con theo lượng cả đức từ bi Người”. Mầu nhiệm thánh thiện và tội lỗi được đan xen nơi con người vua Đavit.

  1. Bài Đọc II: 1Tm 1, 12-17

Thánh Phaolô trong thư gửi cho ông Timôthêô đã nói rất rõ ràng: “Đức Giêsu Kitô đã đến thê gian để cứu những người tội lỗi”, ông cũng không ngần ngại xác nhận: “Mà kẻ đầu tiên là tôi’’ (1Tm1, 15). Ông không giấu diếm về quá khứ của mình: “Trước kia tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược” (1Tm1, 13). Tuy nhiên: “Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người” (1Tm1, 14). Có ai ngờ một người bắt đạo lại trở thành một người giảng đạo cách nhiệt thành. Đó là mầu nhiệm thánh thiện và tội lỗi nơi cuộc đời Phaolô, vị tông đồ dân ngoại.

  1. Tin mừng: Lc 15, 1-32

3 dụ ngôn trong đoạn Tin mừng hôm nay làm nổi bật khuôn mặt thật của Thiên Chúa: Thiên Chúa chúng ta là Đấng giàu lòng thương xót.

Chúng ta nhớ bối cảnh của bài Tin Mừng hôm nay là Chúa Giêsu đang trên đường lên Giêrusalem, đổ máu mình ra để chuộc tội cho muôn người. Tuy nhiên, những người biệt phái và Pharisêu thì lại bực bội, khó chịu khi thấy Chúa Giêsu “đón tiếp phường tội lỗi”. Hơn thế nữa còn “đồng bàn với quân thu thuế và phường tội lỗi”, nghĩa là tỏ ra mình thuộc về phe của những người đó.

Để trả lời cho bức xúc của những người được cho là đạo đức, thánh thiện, Chúa Giêsu đã kể một loạt 3 dụ ngôn về lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

Cả 3 dụ ngôn đều làm nổi bật sáng kiến của Thiên Chúa. Chính Ngài đi bước trước để tìm kiếm những thứ đã hư mất, những gì là lạc loài và những con người tội lỗi. Một mục tử băng rừng vượt suối để đi tìm con chiên lạc. Một bà góa đốt đèn, quét nhà để tìm đồng tiền đánh mất. Một người cha chiều chiều ra ngõ ngóng đứa con trở về, và khi thấy nó về thì chạy lại ôm chầm lấy nó.

Tác giả Cousin đã nhận xét về 3 dụ ngôn này như sau: “Tình yêu ấy của Thiên Chúa dành cho tất cả những ai chẳng được yêu và cũng chẳng đáng yêu, gián tiếp lên án sự cứng cỏi và khắc nghiệt mà những con người “đàng hoàng” hơn kia đã đối xử với họ”.

Lòng Thương Xót của Thiên Chúa làm cho cuộc đời của chúng ta trở thành một mầu nhiệm. Mầu nhiệm không phải là sự thánh thiện, càng không thể là tội lỗi; mà mầu nhiệm ở chỗ “đan xen giữa thánh thiện và tội lỗi”.

II. MẦU NHIỆM ĐAN XEN GIỮA THÁNH THIỆN VÀ TỘI LỖI

Đâu là sự đan xen giữa thánh thiện và tội lỗi, khiến nó trở thành một mầu nhiệm? Thưa đó chính là lòng hoán cải phát xuất từ một tình yêu chân thành.

  1. Hoán cải là nhìn lại mình:

Nơi mỗi con người, ranh giới giữa sự thánh thiện và tội lỗi chính là sự trở về. Chính con tim sẽ đẩy lùi tội lỗi và hướng đến thánh thiện. Hay nói cách khác nhờ tình yêu mà chúng ta sẽ quyết tâm từ bỏ những gì bất xứng để hướng đến những gì là xứng hợp. Các nhà tu đức nói: “Không có thánh nhân nào mà không có quá khứ, cũng như không có tội nhân nào mà không có tương lai”. Với thân phận mỏng dòn của một con người, chắc chắn chúng ta sẽ bị ma quỷ cám dỗ để đi nghịch lại đường lối của Thiên Chúa. Nhưng cảm nghiệm tình yêu của Thiên Chúa sẽ giúp chúng ta biết vươn lên, vượt thoát khỏi những cạm bẫy của ma quỷ.

Tình trạng bi thảm của con người là không nhận ra được lỗi lầm của mình. Vì vậy mà đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Tội lỗi lớn nhất của con người là cho rằng mình không có tội”. Luôn luôn nghĩ rằng mình công chính, thánh thiện. Luôn luôn cho rằng mình không làm gì sai.

Người ta kể quỷ đến trách Chúa: “Tại sao con người làm biết bao nhiêu tội mà Chúa cũng tha thứ hết, còn tôi chỉ phạm một tội thôi mà Chúa không tha?” Chúa hỏi nó: “Thế có bao giờ ngươi xin Ta tha thứ cho ngươi chưa?” Nghe đến đó, quỷ ngoảnh mặt bỏ đi.

Ngạn ngữ Đức có câu: “Sa ngã vào tội chính là con người, nhưng ở lại trong tội chính là quỷ sứ”.

Chúng ta hãy thường xuyên nhìn lại những suy nghĩ, lời nói và việc làm của mình; nhìn lại những dự tính, những chương trình của chúng ta; nhất là nhìn lại đời sống đức tin của mỗi cá nhân để kịp thời chỉnh đốn những sai lỗi và sai xót.

  1. Hoán cải là rộng lượng với người khác.

Thiên Chúa biết được quá khứ tội lỗi của chúng ta, nhưng Ngài cũng biết cả tương lai của chúng ta nữa. Như người cha biết chắc sẽ có ngày con trai mình trở về nên chiều chiều ra ngõ ngóng trông. Trong việc chờ mong của người cha đã có ý định tha thứ. Tuy nhiên người con cả trong nhà lại không muốn cha mình tha thứ cho đứa em. Thái độ đó hoàn toàn đi ngược lại với lòng nhân từ của Thiên Chúa.

Chúng ta muốn Thiên Chúa, muốn người khác tha thứ cho mình, mà mình lại không muốn tha thứ cho người khác. Vì vậy hoán cải là chúng ta biết rộng lượng tha thứ cho người khác. Khi chúng ta tha thứ cho người khác là chúng ta đang mở đường để Thiên Chúa tha thứ cho mình: “Xin Cha tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Đừng bao giờ đặt dấu chấm hết cho một người, dù cho người đó có cố chấp, có đang trong tình trạng tội lỗi. Đó là con đường của Đức Giêsu Kitô. Ngài đồng bàn với tội nhân, tự xem mình thuộc về phe của họ.

Nói tóm lại, phụng vụ lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy được mầu nhiệm thánh thiện và tội lỗi luôn đan xen trong cuộc đời chúng ta. Dù chúng ta có tội lỗi, và tội tày trời: “không đáng là con cha nữa”, thì tình yêu của Thiên Chúa cũng tha thứ, mở ngõ, chờ đợi để được ôm ấp chúng ta vào lòng, miễn là chúng ta biết hoán cải để quay trở về. Đồng thời cũng phải biết rộng rãi tha thứ cho những lỗi lầm của người khác.

 

QUYẾT TÂM TRỞ VỀ

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng

Một hôm, Sa-tan ra lệnh cho một người kia phải thi hành một trong ba điều nó yêu cầu, nếu không nó sẽ đoạt linh hồn người đó. Ba điều đó: một là giết cha, hai là hành hạ người em, ba là uống rượu. Người đó ngẫm nghĩ: giết cha, đánh đập em là điều trái với đạo lý, anh không thể nào làm được, còn uống rượu thì dễ quá ai mà làm không được. Sau khi cân nhắc mọi hơn thiệt, anh đi mua rượu về uống. Lúc đầu anh còn tự chủ được, nhưng về sau, không còn làm chủ được mình nữa, anh đã say túy lúy, và kết quả đã diễn ra đúng như Sa-tan mong đợi, anh đã giết cha và hành hạ người em.

Câu chuyện trên có lẽ không chỉ là chuyện ngụ ngôn mà là thực tế xảy ra từng ngày trước mắt chúng ta. Tội ác nằm trong máu của con người, rơi vào một hoàn cảnh nào đó, ai cũng có thể là một tên sát nhân. Thế nhưng câu chuyện trên không phải chỉ nêu lên mặt trái của con người, nó còn nói lên nét cao quý trong lòng con người nữa. Người thanh niên trong câu chuyện, chúng ta thấy anh đã không lao vào tội ác như một phản ứng bình thường, đạo lý và lẽ phải đã đến với anh trước tiên. Điều đó cho chúng ta thấy: từ thâm cung của lòng mình, con người luôn hướng về điều thiện. Con thú cắn xé rồi lăn ra ngủ yên, nhưng con người thì không như thế, có kẻ sát nhân nào mà không cảm thấy bị cắn rứt trong lương tâm, có hành động xấu nào mà không dày vò lòng dạ con người. Con người sinh ra vốn hướng về điều thiện: “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Không có một tâm hồn nào hư đốn hoàn toàn, không có một con người nào xấu xa tuyệt đối, đâu đó trong tâm hồn mỗi người luôn vang vọng lời mời gọi của thiện hảo.

Vì thế, con người dù lầm lỗi thế nào chưa quan trọng, điều quan trọng hơn là có biết cải thiện sửa đổi hay không, và trong việc cải thiện đời sống hay ăn năn trở lại, có ít là ba giai đoạn: Thứ nhất là nhận biết hay nhìn nhận tình trạng sai lỗi của mình. Không nhìn nhận mình là tội nhân thì làm sao có thể nghĩ đến việc trở lại. Thứ hai là quyết định trở lại, quyết tâm sửa đổi như người con hoang đàng: “Thôi, tôi sẽ lên đường trở về cùng cha tôi”. Chúng ta dễ dùng dằng, lần lữa từ tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác là chuyện quá thường, là cơn cám dỗ quen thuộc của ma quỷ để ngăn cản việc cải thiện đời sống. Thứ ba là thi hành điều quyết định trở về như người con hoang đàng: “Anh đã chỗi dậy mà về nhà cha anh”. Đó là bước quyết liệt đòi nhiều can đảm và hy sinh để dứt bỏ mọi quyến rũ của đối phương. Người Âu châu thường nói: “Bước khó khăn nhất là bước qua ngưỡng cửa”, tức là bước quyết định. Vì khó, nên cần ơn trợ giúp của Chúa. Thay đổi tóc trên đầu đen thành trắng hay trắng thành đen còn làm được huống nữa là thay đổi tâm hồn từ tội lỗi trở nên thánh thiện, chỉ cần tỏ thiện chí tối thiểu là lập tức có đủ ơn trợ giúp để cải thiện đời sống.

Mỗi người khi dấn thân đổi mới cuộc đời, từ bỏ tật xấu, tập nhân đức và lớn lên trong các nhân đức đòi hỏi ba yếu tố: Thứ nhất là sự kiên quyết, thứ hai là ơn trợ giúp của Thiên Chúa, thứ ba là sự giúp đỡ của những người chung quanh.

Không ai có thể tự mình chừa bỏ tật xấu, tự mình luyện tập nhân đức, sự quyết tâm là điều cần thiết, nhưng cũng còn cần đến sự trợ giúp của ơn Chúa và sự giúp đỡ của những người chung quanh.

Ơn Chúa chắc chắn luôn luôn được ban cho mỗi người, vì Thiên Chúa nhân từ, hằng muốn mọi người ăn năn trở về với Ngài: “Ta không kết án con”. Ngài là Đấng vui mừng mạc khải cho chúng ta biết: toàn thể thiên đàng hân hoan vì một người tội lỗi ăn năn trở lại hơn 99 người công chính không cần trở lại. Còn lại hai yếu tố: sự nhất quyết của cá nhân và sự giúp đỡ của những người chung quanh. Mỗi người có quyết tâm cải thiện đời sống hay không, và có được những người chung quanh thông cảm, nâng đỡ để giúp nhau sửa đổi đời sống hay không? Rồi đến lượt chúng ta, mỗi người có trở thành một người giúp đỡ kẻ khác, để khuyến khích họ trở về với Chúa không? Hay chúng ta lại nghiêm khắc xét đoán, lên án, khinh thường và loại bỏ người anh em đang thành tâm chiến đấu với tật xấu của họ để đổi mới cuộc đời. Cùng chia sẻ thân phận tội lỗi, chúng ta dễ dàng thông cảm, tha thứ và giúp đỡ nhau để cùng nhau đổi mới đời sống.

Xin Chúa thương gọi chúng ta trở về với Ngài, đổi mới cuộc đời cho tốt đẹp hơn, và giúp chúng ta trở thành một người bạn thay vì là một quan tòa, một người bạn đầy thông cảm, nâng đỡ anh chị em chung quanh, để chúng ta biết giúp đỡ nhau và nương tựa nhau sửa đổi đời sống mỗi ngày tốt đẹp hơn.

 

NIỀM VUI KHI TÌM ĐƯỢC NHỮNG GÌ ĐÃ MẤT

Lm Trần Bình Trọng

Trong đời sống hàng ngày, ta có thể đã có kinh nghiệm khi tìm lại được những gì đã mất, nhất là những vật qúi giá và cần thiết. Ai mà không vui thích khi tìm lại được cặp kiếng đeo mắt. Ai mà không thích thú khi tìm lại được chùm chìa khoá. Ai mà không hí hửng khi tìm lại được ví tiền có chứa đựng những giấy tờ cần thiết. Ai mà không vui mừng khi tìm lại được cái nhẫn cưới. Tìm lại được tình yêu hôn nhân đã chết trong con tim mà nay được đổi mới lại, đã khiến cho những cặp vỡ chồng vui mừng cảm động khóc ra nước mắt.

Cái tâm trạng vui mừng của những người khi tìm lại được những vật đã mất cũng là cái tâm trạng của người chăn chiên trong Phúc âm hôm nay khi tìm thấy con chiên lạc, hay của người đàn bà chỉ có mười đồng bạc mà mất một đồng, nay lại tìm thấy, hay của người cha có hai đứa con mà một đứa đi lưu lạc, nay lại trở về. Vậy tìm thấy được vật đã mất, lưu lạc rồi trở về, phạm tội rồi được tha thứ, xa cách rồi làm hoà, bằng cách này hay bằng cách khác là đề tài chung của ba bài đọc Thánh kinh hôm nay.

Bài trích sách Xuất hành ghi lại câu chuyện con bò vàng. Khi người Do thái trong hoang địa không còn kiên nhẫn đủ về sự vắng mặt lâu dài của Môsê trên núi Sinai, thì họ kêu trách Chúa đã đem con đi bỏ chợ. Vì thế họ xin Aaron để đúc con bò vàng cho họ tôn thờ thần tượng vô tri vô giác thay vì tôn thờ một Thiên Chúa. Vì tội bất trung của dân chúng, Thiên Chúa nổi giận định huỷ diệt họ. Nhưng Môsê van xin Thiên Chúa tha thứ và Chúa đã nguôi giận tha phạt dân chúng. Lòng thương xót của Chúa còn được tỏ hiện qua việc trở lại của Thánh Phaolô.

Trong thư gửi cho Timôthêô, Phaolô viết: Đức Kitô Giêsu, đã đến trong thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi (1Tm 1:15). Cả ba ngụ ngôn trong Phúc âm hôm nay nói lên lòng nhân từ hay thương xót của Chúa. Nếu người chăn chiên bày tỏ nỗi vui mừng với người lân cận, và người đàn bà mời chị em đến chia vui vì đã tìm thấy đồng bạc, nếu người cha biểu lộ nỗi vui mừng khi thấy đứa con hoang lạc trở về, thì trên trời cũng có sự vui mừng khi có người tội lỗi ăn năn trở lại.

Thính giả nghe bài Phúc âm từ chính miệng Chúa giảng là những người Biệt phá và Luật sĩ. Họ phàn nàn là Chúa thường lui tới, ăn nhậu với phường tội lỗi và thâu thuế. Họ không muốn thấy Chúa lai vẵng tới xóm nhà lá. Vì thế khi thấy Chúa làm quen với những thành phần bị coi là căn bã của xã hội, họ lấy làm vấp phạm. Chúa trả lời cho họ là: Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất (Lc 19:10).

Hôm nay mỗi người cần tự hỏi, có khi nào ta đã đi lưu lạc, lìa bỏ đàn chiên của Chúa? Ta đi lạc khỏi đàn chiên khi ta sa phạm tội, bất trung với lời giao ước khi chịu phép Rửa tội. Ta trở thành những chiên lạc khi ta không sống theo đường lối phúc âm, không tuân giữ giới răn Chúa. Thiết tưởng ít ai muốn chối bỏ đức tin vào Chúa. Tuy nhiên ta có thể quên Chúa khi ta tạm gác bỏ việc thờ phượng qua một bên, hoặc khi ta nhốt Chúa vào góc xó nhà của tâm hồn. Điều quan trọng là khi ta sa ngã phạm tội, ta có can đảm tìm đường trở về nhà Cha, hay ta vẫn chần chừ trong bóng tối của đam mê, của tham vọng hão huyền hay của nghi ngờ thất vọng?

 

HÃY CHIA VUI VỚI TÔI

G. Nguyễn Cao Luật

Có lẽ có người cho rằng các dụ ngôn được kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay hơi có tính cách cường điệu. Có mục tử nào dám bỏ lại chín mươi chín con chiên trên cánh đổng rổi đi tìm con chiên bị lạc mất? Có ai lại bỏ công tìm cho kỳ được đổng bạc trong khi mình còn chín đổng nữa? Hay có người cha nào sẵn sàng đợi chờ, tha thứ cho đứa con đã đòi chia gia tài và bỏ nhà ra đi?

Quả vậy, theo quan điểm của con người, ít có khi nào xảy ra những điều như thế. Nhưng đối với Thiên Chúa, chẳng có gì là cường điệu. Những câu chuyện này cho thấy thế nào là tình yêu, là lòng thương xót của Thiên Chúa.

Tình thương không giới hạn

Con người được Thiên Chúa tạo dựng do lòng yêu thương. Thế nhưng, con người đã từ khước tình yêu ấy qua việc ăn trái cấm. Và Thiên Chúa đã không bỏ mặc con người dưới quyền thống trị của tội lỗi, của sự chết. Nếu Thiên Chúa có trừng phạt con người thì cũng là việc xứng đáng. Nhưng Thiên Chúa không xử sự như thế. Một tình yêu đích thực không thể bằng lòng với việc trợ giúp cách chung chung, để rổi khi bị từ khước thì bỏ rơi không còn đoái hoài gì tới. Nếu Thiên Chúa hành động như thế thì khó có người được cứu, và Đức Giê-su đã không được sai đến trần gian.

Đàng khác, Thiên Chúa cũng chẳng tính toán những hổng ân Người đã ban. Thiên Chúa không đưa cho con người một bản tỗng kết những gì Người đã ban cho họ: ân sủng của Người tuôn chảy không ngừng, tình yêu thương chẳng bao giờ vơi cạn. Nếu có kể ra những hổng ân, điều đó chỉ có mục đích nhắc nhở con người hãy sống xứng đáng với hổng ân đã lãnh nhận để rổi tiếp tục nhận được những ân huệ khác. Cả khi con người đi lang thang phiêu lãng, Thiên Chúa vẫn đuỗi theo. Không có chỗ nào con người ở một mình cả. Chẳng bao giờ con người có thể tự nhủ Thiên Chúa bỏ rơi mình rổi. Một người thợ săn kiên nhẫn, rình chờ con mổi, một người câu cá âm thầm chờ đợi. Thiên Chúa như thế đó.

Thật vậy, chính lòng yêu thương đã thúc đẩy Thiên Chúa tìm kiếm con người. Thiên Chúa đã tạo dựng con người, không phải như một đổ vật, nhưng là để họ tham dự vào sự sống của Người, để sống trong tình yêu thương. Nếu Thiên Chúa chỉ coi con người là một đổ vật, thì khi bị lạc mất, Người có thể tiếc nuối, những rổi thôi, Người có thể lại có cái khác, hay hơn, tốt đẹp hơn, và nhiều hơn nữa. Ở đây, các dụ ngôn cho thấy tính cách lớn rộng của tình yêu: quan tâm đến tất cả, nhưng không bỏ rơi bất cứ ai, dù người đó có thế nào chăng nữa. Vì tình yêu, Thiên Chúa không bao giờ cảm thấy mệt mỏi, chán nản, chỉ cần là Người tìm lại được người tội lỗi, chỉ cần là họ cảm nhận được tình thương của Thiên Chúa. Vì thế, trong tình thương của Thiên Chúa, không có ai là người bị bỏ quên. Mỗi người đều được Thiên Chúa quan tâm săn sóc, mỗi người đều ở trong trái tim của Thiên Chúa, không có ai bị đẩy ra ngoài, không có ai nhận được ít tình thương…

Hãy chia vui với tôi

Trong cả ba dụ ngôn, Đức Giê-su đều kết thúc bằng những lời nói đến niềm vui. Người chăn chiên tìm được chiên lạc thì vác chiên lên vai, và mời bạn hữu láng giềng đến chia vui; người đàn bà tìm thấy đổng bạc đã mất cũng vậy; và người cha có đưa con đi hoang trở về thì mở tiệc lớn ăn mừng.

Lý do của việc ăn mừng này đã rõ ràng. Nhưng sau đó, Đức Giê-su muốn cho thấy niềm vui của Thiên Chúa khi người tội lỗi hối cải. Ở dụ ngôn thứ nhất, “trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải”; ở dụ ngôn thứ hai, “các thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải”; và ở dụ ngôn thứ ba, “phải ăn mừng, vì em con đây đã chết, mà nay lại sống; đã thất lạc, mà nay lại tìm thấy”.

Tội nhân hối cải, không những được tha thứ, nhưng còn được chờ đợi, được đón tiếp. Niềm vui của Thiên Chúa thật lớn lao khi người tội lỗi biết từ bỏ con đường xấu xa, để trở về sống trong tình thương của Thiên Chúa.

Có thể nói, Thiên Chúa không có niềm vui nào khác ngoài việc con người sống thân mật với Người. Dù cho có thế nào chăng nữa, Người vẫn chờ đợi họ, vẫn mở rộng vòng tay đón tiếp. Đây thực là một lời an ủi và nhắc nhở cho con người. Là một lời an ủi, vì con người biết rằng Thiên Chúa vẫn yêu thương họ và mong họ trở về với Người. Thiên Chúa vẫn đi tìm họ, dù họ cố tình tránh né. Thiên Chúa vẫn thi ân giáng phúc, dù họ từ khước không nhận. Là một lời nhắc nhở, vì nếu như tội lỗi đã làm Thiên Chúa phiền lòng, thì Người sẽ còn phiền lòng hơn biết mấy khi con người từ chối tình thương Người dành cho họ, mong họ trở về sống trong tình thương.

Hơn nữa, ở đây còn có lời mời gọi chia sẻ niềm vui với Thiên Chúa vì người tội lỗi đã trở về. Kẻ từ chối chia vui với Thiên Chúa cũng chính là kẻ phải trở về, phải sám hối. Kẻ từ chối chia vui với Thiên Chúa cũng chính là người không nhận ra tình thương đích thực, và như thế là họ đã từ khước tình thương của Thiên Chúa.

* * *

Ở giai đoạn đầu của lịch sử cứu độ, sau khi con người phạm tội, Thiên Chúa đã lên tiếng hỏi, đang khi họ chạy trốn: “Ngươi đang ở đâu?” Ngày nay, Thiên Chúa đã mở tiệc để thết đãi họ. Nhờ sự tuân phục của Đức Giê-su Ki-tô, nhân loại đã được cứu thoát, đã được chữa lành khỏi mọi thương tích, đã được tha thứ.

Đó là niềm vui của Thiên Chúa, hãy chia vui với Người.

* * *

Phải tin vào Thiên Chúa

vì Người đã tin tưởng chúng ta.

Người đã làm cho chúng ta tin vào Người,

khi trao cho chúng ta Người Con duy nhất.

Phải tin vào Thiên Chúa

vì Người đã tín nhiệm chúng ta

đã làm cho chúng ta tin vào Người.

Chẳng lẽ sự tín nhiệm của Thiên Chúa

dành cho chúng ta

lại không được đặt đúng chỗ?

Thiên Chúa đã làm bừng lên nơi chúng ta niềm hy vọng

Người đã khởi đầu.

Người mong rằng kẻ tội lỗi

sẽ làm một chút gì đó

cho ơn cứu độ của mình.

Một chút! chỉ cần một chút thôi!

phỏng theo Charles Péguy

 

YÊU THƯƠNG, THA THỨ LÀ BẢN CHẤT CỦA THIÊN CHÚA

Jos.Vinc. Ngọc Biển

Trong cuộc sống, chúng ta vẫn thường nghe đâu đó những lời bàn tán: “tại sao Thiên Chúa không phạt nhãn tiền những kẻ tội lỗi, kiêu căng, tự phụ và làm những chuyện gian ác! Thiên Chúa phải chăng dung túng cho những kẻ bất lương, để họ tha hồ lộng hành và ‘tác oai tác quái…?’” Khi có những suy nghĩ như vậy, chúng ta quên mất một điều căn bản về Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa làm những chuyện ngược lại với bản chất của Ngài, thì Ngài không còn là mình nữa, bởi vì “Thiên Chúa là Tình Yêu”.

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay trình bày cách tiệm tiến cho chúng ta thấy rất rõ về lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa qua các bài đọc.

  1. Ý Nghĩa Lời Chúa

Khởi đi từ bài đọc I: sách Xuất hành trình thuật cho chúng ta biết, sau khi rời khỏi Aicập, dân Do Thái là một toán người ô hợp, nên Thiên Chúa đã thiết lập Giao Ước với họ để củng cố trật tự cho dân. Chiếu theo những điều khoản trong quy định của luật Giao Ước, Thiên Chúa chọn dân Israel làm dân riêng của mình và dân chúng thì tôn thờ Thiên Chúa, trung thành với điều luật đã được ký kết. Tuy nhiên, không lâu sau khi ký kết Giao Ước, dân đã bội thề với Chúa, đã đúc và thờ bò vàng là một thứ ngẫu tượng thay thế Thiên Chúa. Tệ hơn và xúc phạm đến Thiên Chúa cách nặng nề là họ đã coi bò vàng như là Đấng đã giải thoát họ ra khỏi ách nô lệ bên Aicập. Thiên Chúa nổi nóng và muốn diệt trừ, nhưng qua Môsê, ông đã xin Chúa tha thứ cho dân, Ngài đã đồng ý và sẵn sàng tha, không còn có ý định tiêu diệt dân nữa.

Sang bài đọc II: thánh Phaolô nhắc lại cho ông Timôthê về lòng thương xót mà Thiên Chúa đã ban cho ông. Nếu Chúa không tha thứ, thì ông không thể được phần phúc biết và rao giảng về Đức Kitô Giêsu, bởi chưng trước kia ông là một người phỉ báng danh Chúa như chính ông đã bộc lộ: “Người đã kể cha là người trung tín, khi đặt cha thi hành chức vụ: dù trước kia cha là kẻ nói phạm thượng, bắt đạo và kiêu căng, nhưng cha đã được Thiên Chúa thương xót, vì cha vô tình làm những sự ấy trong lúc cha chưa tin”.

Đỉnh cao là bài Tin Mừng: bài Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu thường xuyên tiếp xúc với những người thu thuế và những người tội lỗi, vì họ rất thích nghe Ngài giảng. Thấy được điều đó, những người Pharisiêu và những người Biệt Phái liền xầm xì với nhau, đồng thời bàn tán về hành động của Đức Giêsu đang làm. Thấy vậy, Ngài mới kể cho họ nghe một loạt dụ ngôn, nhằm giúp cho họ nhận ra bản chất của Thiên Chúa.

Bắt đầu từ dụ ngôn “chiên lạc”: qua dụ ngôn này, Thiên Chúa được ví như người mục tử, sẵn sàng bỏ 99 con còn lại để đi tìm 1 con thất lạc. Con chiên lạc này mất vì lý do nào ta không biết, chỉ biết là nó đã tách ra khỏi đàn và biến mất khi chiều về. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể hiểu được rằng: nó đang trong hoàn cảnh cùng cực, lấm lem và đối diện với sự nguy hiểm vì không nhận được sự chăm sóc của chủ nó cũng như không có sự bảo vệ tập thể. Thấy được nỗi sợ hãi, bơ vơ… của chiên bị lạc và với bản chất của người chủ chiên tốt lành, ông đã lên đường đi tìm. Nếu xét về góc độ toán học thì ông chủ này quả là vô lý khi chấp nhận bỏ lại 99 con để chỉ đi tìm 1 con bị lạc. Vô lý vì 1 so với 99 thì 1 không có ảnh hưởng đến kinh tế là mấy. Mất 1 ông cũng không nghèo đi chút nào cả. Tuy nhiên, với ông thì sự giàu nghèo thua thiệt về số lượng không quan trọng, điều quan trọng chính là mỗi một con chiên đều có giá trị trước mặt ông, vì thế ông không thể để mất nó được. Một hành động hết sức gợi cảm, đó là ông chủ tìm được rồi thì vác nó lên vai. Hành động vác trên vai thể hiện sự trân trọng, yêu mến và nâng niu. Chấp nhận tha thứ tất cả và thể hiện tình thương trọn vẹn cho nó. Thiên Chúa là thế đó.

Tiếp theo là dụ ngôn “đồng bạc bị mất”: 1 đồng bạc ở đây chỉ có giá trị bằng một ngày công thời bấy giờ. Mất một đồng tức là bị mất một phần rất nhỏ về giá trị vật chất. Nhưng lạ kỳ thay, khi mất một đồng như vậy, người đàn bà đã làm mọi cách để tìm cho bằng được đồng bạc đã mất. Nào là thắp đèn, quét nhà, moi móc, và khi tìm được rồi thì vui mừng mời hàng xóm láng giềng đến chung vui. Hành vi này của người đàn bà trong dụ ngôn lại trở nên khó khăn hơn rất nhiều, bởi vì nhà của người Do Thái thời đó rất thiếu ánh sáng, trật trội. Còn nền nhà thì làm bằng đất và được phủ lên bằng những tấm liếp được đan bằng sậy và cành cây đã khô. Tìm một đồng bạc như vậy chẳng khác gì “mò kim đáy biển…”. Tuy nhiên, bà vẫn cố tìm, khi tìm được, bà sẵn sàng mời mọi người đến chung vui. Tìm được một đồng, mà lại mời hàng xóm đến chung vui thì quả là một người không biết tính toán. Nhưng không, bà nghĩ đồng bạc tìm thấy là cái gì đó gắn liền với bà, nên tìm được rồi thì niềm vui nhân lên gấp nhiều lần chi phí phải trả để mời bạn bè. Thiên Chúa là thế đó.

Cuối cùng là dụ ngôn “người con hoang đàng”: với người Do Thái thì việc xin cha mẹ chia gia tài cho mình lúc còn sống chính là một điều bất kính, chẳng khác gì mong cho cha mẹ chết sớm. Dụ ngôn cho thấy, ông chủ có hai người con, và lẽ dĩ nhiên hai người con của ông chính là điểm tựa lúc về già. Ấy vậy mà người con thứ đã ngạo ngược xin cha chia gia tài cho mình. Vì tình thương, và tôn trọng sự tự do, người cha không nghĩ gì cho mình, nên đã sẵn sàng chia gia tài theo ý con của mình xin. Có được tiền bạc trong tay, người con thứ ra đi, ăn chơi, đàn điếm và phung phí hết tiền bạc, kết cục bằng việc phải đi làm mướn bằng nghề chăn nuôi heo. Đây là công việc mà người Do Thái cho là ghê tởm và đáng bị nguyền rủa, bởi vì loài heo là loài ô uế và hình ảnh của Ma Quỷ. Sống trong tình trạng cơ cực như vậy, nó mới hồi tâm và quyết định trở về với cha mình. Khi nó trở về, người cha không hề oán trách tại sao mày ra nông nỗi này, hay tiền có còn hay hết, hoặc mày muốn đi thì cho đi luôn, đừng quay trở lại nữa. Không! Người cha đã trông mong nó trở về từ lâu, ngày nó ra đi cũng là ngày người cha sống trong hy vọng được gặp lại nó. Quả thật, khi nó quay về, ông vui mừng khôn siết, không cần suy nghĩ gì cả, và việc đầu tiên ông làm là ôm hôn nó. Sau đó là phục hồi nhân phẩm cho đứa con tội nghiệp của mình. Nào là: xỏ giầy vào chân cậu, đây là dấu chỉ của người được tự do, không còn là nô lệ cho ông chủ nào đó mà con ông đã từng bị bắt phải chăn heo. Trao nhẫn vào tay cho cậu, hành vi này thể hiện sự phục hồi hoàn toàn nhân phẩm cho đứa con một thời dại dột. Và, cuối cùng, ông đã mở tiệc ăn mừng vì việc con ông trở về. Sự trở về của người con thứ được ví như “đã mất mà nay tìm thấy, đã chết mà nay sống lại”. Thiên Chúa là thế đó.

  1. Sứ Điệp Lời Chúa

Như vậy, qua các bài đọc hôm nay, phụng vụ Lời Chúa làm toát lên bản chất của Thiên Chúa, một vị Thiên Chúa luôn yêu thương con người; Ngài là Đấng luôn luôn tha thứ, cảm thông và sẵn sàng chết cho người mình yêu. Thật vậy, bình thường, không một ai lại bất thường đến độ bỏ 99 con chiên để đánh đổi 1 con; mất một đồng bạc lại tốn công hại sức để đi tìm và tìm được rồi lại mở tiệc khao xóm giềng chỉ vì tìm được một đồng. Nhưng những điều xem ra nghịch lý đó được trở nên hợp lý khi chúng ta bước sang dụ ngôn thứ ba nói về người cha nhân hậu. Thật vậy, Thiên Chúa luôn luôn tha thứ và sẵn sàng chấp nhận tất cả, miễn là con người có sự trở về và tỏ lòng sám hối. Với Chúa, hình ảnh 1 con chiên và đồng bạc là một cái gì đó quý giá trước mặt Ngài, bởi vì mỗi người đều là một hữu thể duy nhất trước mặt Chúa, nên cần được Chúa yêu thương. Tấm lòng của Thiên Chúa là tấm lòng của một người cha nhân từ, tha thứ. Người Cha này không thể ngủ yên khi con của mình đang thiếu thốn tình thương, đang sống trong tình trạng nguy hiểm. Một người chủ chiên không thể nào “bình chân như vại” khi biết trước được vận mệnh của con chiên đi lạc. Một người phụ nữ không thể nào chấp nhận mất đi cái mà mình luôn coi trọng vì nó gắn liền với cuộc sống của bà. Thiên Chúa là như thế đó. Ngài đã yêu là yêu đến cùng. Thật vậy, tận cùng của tình yêu là yêu không giới hạn.

  1. Sống Lời Chúa Trong Cuộc Sống Hôm Nay

Chúng ta thật hạnh phúc vì có một vị Thiên Chúa giàu lòng xót thương, một vị Thiên Chúa luôn đồng hành, tha thứ và xóa bỏ hết những tội lỗi cho chúng ta cho dù tội của chúng ta có nặng tới đâu: “dù tội con có đỏ như son, Ta cũng làm cho trở nên trắng như tuyết. Có thẫm tựa vải điều, Ta cũng làm nên trắng như bông”. Vì thế, noi gương Chúa, chúng ta cần phải có thái độ tha thứ và nhận định đúng về người anh chị em của chúng ta. Không ai là xấu hết, cũng như không ai là tốt hết. Đã là con người, ai cũng có những sự bất toàn của mình. Thái độ của chúng ta đôi khi cũng giống như những người Biệt Phái và Kinh Sư khi xưa là tìm cách bắt bẻ anh chị em mình để “bới lông tìm vết” và vạch trần những tội lỗi của anh chị em. Đôi khi lại còn thích thú khi thấy người khác sa ngã, vì đây là cơ hội để mình lên mặt dạy đời, hay có những khi tỏ vẻ nhân từ để sửa lỗi cho anh chị em mà lại vô tình đẩy anh chị em chúng ta vào chỗ chết.

Thật vậy, Lời Chúa ngày hôm nay dạy cho chúng ta phải có lòng nhân từ đích thực như Thiên Chúa, phải vui mừng vì thấy người anh chị em chúng ta sám hối trở về, đừng bao giờ vội kết luận người khác là “đồ bỏ”. Muốn làm được điều đó, thiết nghĩ mỗi chúng ta cũng cần nhận ra mình là kẻ tội lỗi và đã được Chúa yêu thương. Biết bao lần nếu Chúa không cho chúng ta có cơ hội để làm lại thì ta đã mất ơn nghĩa với Chúa từ lâu rồi. Trong kinh Vực Sâu có viết: “Nếu Chúa chấp tội thì nào ai rỗi được”.

Thật vậy, trước mặt Chúa, chúng ta phải thành thật mà thú nhận rằng: đôi khi chúng ta không phải là đứa con đi hoang, ra khỏi nhà để sống một cuộc sống trụy lạc như người con thứ, song nhiều lúc, chúng ta lại đi hoang trong cõi lòng. Môi miệng thì đọc kinh, hằng ngày vẫn đi lễ, nhưng hành động và thái độ yêu thương lại quá xa vời hay hời hợt với tinh thần của Chúa. Có những người nói là con chiên ngoan đạo, nhưng không thể hướng một ánh mắt thân thiện, một nụ cười cởi mở, một cái bắt tay chân tình với những người mà ta không ưa. Như vậy, chúng ta chính là những người đang đi hoang, lạc đàn về tâm linh như người con cả. Ở trong nhà cha mà bấy lâu anh ta cứ tưởng mình như người làm công cho cha mà thôi, và tệ hơn nữa là có những hành xử thiếu tình gia đình với em của mình.

Như vậy, nếu Thiên Chúa đã tỏ lòng nhân hậu với chúng ta, mặc dù chúng ta đáng tội chết, thì đến lượt chúng ta, chúng ta cũng phải yêu thương và sẵn lòng tha thứ cho những người xúc phạm đến ta. Kinh nghiệm cho thấy, chúng ta không thể tha thứ được cho người khác là vì chúng ta luôn nghĩ mình tốt lành hơn họ. Nhưng trong thực tế, đôi khi tội của ta còn nặng hơn gấp bội lỗi của anh chị ta, chỉ có điều tội của ta thì không ai biết nên ta dễ dàng vênh vang và tự phụ, nhưng Chúa biết cả. Bao lâu chúng ta nghĩ mình cũng là người yếu đuối và đã được Thiên Chúa yêu thương thì chúng ta cũng cần tha thứ cho nhau như Chúa đã tha thứ cho chúng ta.

Lạy Chúa là Cha giàu lòng thương xót. Xin tha thứ cho những thiếu xót của chúng con; đồng thời xin ban cho mỗi chúng con cũng có một trái tim, ánh mắt nhân từ như Chúa, để chúng con sẵn sàng tha thứ cho người khác khi họ xúc phạm và có lỗi với chúng con. Amen.

 

THƯƠNG VÀ XÓT

Trầm Thiên Thu

CHẠNH LÒNG NHƯ CHÚA LUÔN TRẮC ẨN

THƯƠNG XÓT GIỐNG NGÀI MÃI NHÂN TỪ

Kinh Thánh nhiều lần xác định: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” (1 Sb 16:34 và 41; 2 Sb 5:13; 2 Sb 7:3 và 6; 2 Sb 20:21; Er 3:11; 1 Mcb 4:24; Tv 100:5; Tv 106:1; Tv 107:1; Tv 118:1-4, 29; Tv 136:1-26). Tình thương thật kỳ diệu và lớn lao! Nếu không có tình thương thì cuộc sống vô nghĩa, sống mà như chết. Trong cuộc sống đời thường, người ta còn biết coi trọng chữ Tình, huống chi trong đời sống tâm linh, đời sống tôn giáo – các tín nhân Kitô giáo (nói chung) và các tín nhân Công giáo (nói riêng), bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu.” (1 Ga 4:8 và 16)

Đối với tình yêu đôi lứa, có vẻ nhiêu khê theo cảm nhận  của NS Lê Dinh: “Chữ tình rắc rối lắm ai ơi, chữ tình khúc mắc quá đi thôi, chữ tình là số kiếp thương đau con người. Chữ tình là vô vàn nước mắt, chữ tình là đêm dài thức trắng, cuối cùng vòng tay rã rời là buồn nhiều hơn vui.” (Chữ Tình) Thật là khốn khổ! Còn NS Trần Thiện Thanh lại thấy tình yêu thế này: “Tình là tình nhiều khi không mà có, tình là tình nhiều lúc có như không…” (Tình Có Như Không) Trái tim phàm nhân “lôi thôi” lắm, thế nên tình yêu có lúc kỳ lạ, có lúc kỳ cục, hiếm khi kỳ diệu.

Có lẽ một trong những mối tình “kỳ ảo” nhất là T.T.KH. bí ẩn, gần trăm năm qua vẫn không ai biết bà là ai. Chỉ với 4 bài thơ, đặc biệt là bài “Hai Sắc Hoa Ti-gôn”, bà đã khiến bao con tim rung động thời ấy vì chuyện tình đau thương của bà. Cái đau và cái buồn không ai thích, nhưng nó lại quyến rũ và khiến người ta nhớ mãi. Phải chăng đó là điều kỳ diệu của tình yêu?

Thế nhưng, dù có thế nào thì đó cũng vẫn là dạng tình yêu bình thường, cấp thấp, bởi vì vẫn ẩn chứa phần ích kỷ. Trong tình yêu bình thường, gọi là CHO nhiều hơn NHẬN, nhưng thực chất vẫn vì mình hơn vì người mình yêu. Sự vị kỷ được che đậy khéo léo, vốn dĩ là tình-yêu-vị-kỷ. Nhưng tình yêu theo phong cách của Đức Kitô thì hoàn toàn khác, đó là tình-yêu-vị-tha, vì yêu cả kẻ thù – nên không cần đề cập vấn đề “yêu người yêu mình”. Chính Đức Kitô đã minh chứng dạng tình-yêu-vị-tha này. Nói chung, tình yêu loại nào cũng có cái “rắc rối” đặc thù, không hề đơn giản!

Là con người có trái tim biết rung động nên liên quan cả Tình và Tội – vì có Tội nên luôn cần Tình, mà ai cũng có Tội, do đó mà ai cũng cần Tình. Mối liên kết tuyệt vời, vừa mặc nhiên vừa minh nhiên. Càng tuyệt vời hơn đối với tình yêu của Thiên Chúa: “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương.” (Gr 31:3) Có Tình nên thấy Thương, càng Thương càng thấy Xót.

TỘI TẠI TÔI

Tất cả chỉ tại tôi: Lỗi tại tôi mọi đàng. Chắc chắn chẳng tại ai khác. Thiên Chúa đã truyền cho ông Môsê: “Hãy đi xuống, vì dân ngươi đã HƯ HỎNG rồi, dân mà ngươi đã đưa lên từ đất Ai-cập. Chúng đã vội ĐI RA NGOÀI con đường Ta truyền cho chúng đi. Chúng đã đúc một con bê, rồi sụp xuống lạy nó, tế nó và nói: ‘Hỡi Ít-ra-en, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập.’” (Xh 32:7-8) Dân Ít-ra-en “hư hỏng”, tức là phạm tội, chính là hình ảnh của chính mỗi chúng ta. Bò vàng ngày nay không phải là con bò thật hoặc bằng vàng, mà là những mánh lới tinh vi đủ kiểu – và đa dạng mê tín dị đoan khác, người ta tôn thờ và bị lệ thuộc mà lại tưởng là không. Loại “bò vàng” này còn nguy hiểm hơn nhiều.

Sẽ là quá hủ lậu nếu chúng ta ngày nay còn đúc bò vàng để thờ. Không, chúng ta “văn minh” lắm rồi, chúng ta “khôn khéo” hơn xưa nên “đúc” nhiều loại ngẫu tượng tinh xảo lắm, khó mà biết được thật – giả. Nghĩa là cách phạm tội của chúng ta cũng tinh vi hơn, với rất nhiều loại ngẫu tượng mà chúng ta lại cho đó không là tội lỗi – dạng tê liệt cảm thức tội lỗi. Tuy nhiên, ngay cả khi chúng ta sùng kính các tượng thánh cũng có thể là tôn sùng ngẫu tượng, nếu chúng ta cuồng tín hoặc lệch lạc niềm tin. Kính mến Chúa ở đâu cũng được, sao lại cứ chạy đua theo số đông, chỉ vì ông kia hay bà nọ? Thật nguy hiểm biết bao với “phong cách tin” như vậy!

Thời nào cũng có kiểu riêng của thời đó. Ảo tưởng và mê muội nên khoái “bỏ mồi bắt bóng”, lấy cái giả mà bỏ cái thật, theo cái phụ mà quên cái chính. Ngày xưa, chính Thiên Chúa đã nói với ông Môsê: “Ta đã thấy dân này rồi, đó là một dân CỨNG ĐẦU CỨNG CỔ. Bây giờ cứ để mặc Ta, cứ để cơn thịnh nộ của Ta bừng lên phạt chúng, và Ta sẽ tiêu diệt chúng. Nhưng Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn.” (Xh 32:9-10) Con người ngày nay cũng chẳng hơn gì, vẫn rất cứng đầu cứng cổ, rất bướng bỉnh, rất ương ngạnh, cứ tái đi phạm lại biết bao lần trong hành trình cuộc sống, càng sống lâu càng phạm tội nhiều. Thực tế ấy không thể chối cãi. Thế nên đừng vội cho rằng trường thọ là tốt, nếu không sám hối thì còn khốn hơn người đoản thọ hoặc yểu mệnh!

Thiên Chúa đã nổi giận khi thấy dân Ít-ra-en có những cái cổ xơ cứng, lòng chai dạ đá. Thấy Chúa như vậy, ông Môsê cố làm cho nét mặt Thiên Chúa của ông dịu lại. Ông chân thành thân thưa: “Lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại bừng bừng nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra khỏi đất Ai-cập?” (Xh 32:11) Và rồi ông khôn ngoan viện dẫn để cậy nhờ công nghiệp của các Tổ phụ: “Xin Ngài nhớ đến các tôi tớ Ngài là Ápraham, Isaác và Ítraen; Ngài đã lấy chính danh Ngài mà thề với các vị ấy rằng: Ta sẽ làm cho dòng dõi các ngươi đông đúc như sao trên trời, và sẽ ban cho dòng dõi các ngươi tất cả miền đất ấy, là miền đất Ta đã hứa; chúng sẽ được thừa hưởng miền đất ấy đến muôn đời.” (Xh 32:13) Thánh nữ Margaret Maria Alacoque (1647-1690) đã lý luận: “Một linh hồn công chính có thể xin được ơn tha thứ cho cả ngàn tội nhân.”

Đúng vậy. Kinh Thánh cũng đã xác định: “Đức Chúa đã thương, không giáng phạt dân Người như Người đã đe.” (Xh 32:14) Ôi, lòng thương xót của Chúa thật kỳ diệu! Lời cầu nguyện không chỉ hiệu quả đối với chính người cầu nguyện, mà còn hiệu lực đối với người được người khác nguyện giúp cầu thay.

Thật là tuyệt vời, bởi vì nhờ “thủ trưởng” Môsê mà dân lại được Thiên Chúa xót thương để có thể được tiếp tục sống. Tương tự, nhờ Đức Mẹ Maria, nhờ Đức Thánh Giuse và nhờ chư thần chư thánh mà chúng ta lại được Thiên Chúa xót thương để có thể được sống tiếp tục cho đến giây phút này. Quả thật, Hồng Ân Thiên Chúa bao la, chúng ta phải tự nhận thức mà cảm tạ Ngài mãi mãi, bởi vì có những điều rất ư bình thường và giản dị nhưng lại là thứ cụ thể vô cùng quan trọng: Không Khí.

Chắc hẳn đã có kinh nghiệm về tình trạng phạm tội nhưng biết sám hối, mà Thánh Vịnh gia van xin Thiên Chúa: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.” (Tv 51:3-4) Rất rõ ràng, nếu không có lòng thương xót của Chúa thì chúng ta tiêu tùng hết. Nhưng Thiên Chúa không nỡ lòng!

Không có gì không bởi Thiên Chúa ban cho. Tất cả là hồng ân. Và ngay cả lòng sám hối của chúng ta cũng là hồng ân Chúa ban: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài.” (Tv 51:12-13) Thật vậy, sống nhờ thần khí, và chỉ có thần khí làm cho sống. (x. Ed 37:14; Ga 6:63)

Thiên Chúa hứa: “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt.” (Ed 36:26) Thật là diễm phúc vì Thiên Chúa đã biến trái-tim-đá của chúng ta thành trái-tim-thịt mềm mại để chúng ta có thể kịp ăn năn sám hối sau mỗi lần lỡ bước sa chân. Ân tình thương xót của Ngài quá lớn. Vì thế, chúng ta phải biết thi hành bổn phận chúc tụng và trách nhiệm tạ ơn đối với Ngài: “Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.” (Tv 51:17) Và thiết tha tâm nguyện: “Ca ngợi Danh Thánh Chúa, từ rạng đông tới lúc chiều tà!” (Tv 113:3)

Mọi sự là của Chúa – hữu hình và vô hình, Ngài có tất cả, Ngài không cần gì, ngay cả lời chúc tụng của chúng ta cũng không thêm chút gì cho Ngài, nhưng lại có thể sinh ơn cứu độ cho chúng ta. Thật kỳ lạ! Điều Ngài muốn ở chúng ta cũng là điều khác lạ: “Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm, con có thượng tiến lễ toàn thiêu, Ngài cũng không chấp nhận. Lạy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát, một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê.” (Tv 51:18-19) Chúng ta tồi tệ thế mà Chúa vẫn yêu quý. Hạnh phúc cho chúng ta biết bao! Thú nhận tội lỗi là động thái khiêm nhường, mà càng khiêm nhường thì càng được Thiên Chúa xót thương. Rất lô-gích. Ngược lại, Ngài không chỉ ghét mà còn triệt hạ kẻ kiêu căng, ngạo mạn. (x. 1 Sm 2:7b; Tv 147:6; Lc 1:52)

Thánh Phaolô đã cảm nhận sâu sắc ân tình của Thiên Chúa và công nhận: “Tôi tạ ơn Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta, Đấng đã ban sức mạnh cho tôi, vì Người đã tín nhiệm mà gọi tôi đến phục vụ Người. Trước kia, tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng tôi đã được Người thương xót, vì tôi đã hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin.” (1 Tm 1:12-13) Dám nói ra cái xấu của mình là khiêm nhường, đã thực sự sám hối.

Và không thể không nói ra, Thánh Phaolô trần tình thêm: “Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta, đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người. Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi. Sở dĩ tôi được thương xót, là vì Đức Giêsu Kitô muốn tỏ bày tất cả lòng đại lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho những ai sẽ tin vào Người, để được sống muôn đời.” (1 Tm 1:14-16) Quả thật, đó là những lời tự thú, là xưng tội, nhờ vậy mà được Chúa tha thứ và xót thương. Chúng ta cũng phải vậy, không còn cách khác.

Cũng đã từng được thương xót và tha thứ, mỗi chúng ta cũng phải noi gương Thánh Phaolô cất lời tuyên xưng và tôn vinh: “Kính dâng Vua muôn thuở là Thiên Chúa bất diệt, vô hình và duy nhất, kính dâng Người danh dự và vinh quang đến muôn thuở muôn đời. Amen.” (1 Tm 1:17) Thế thì thật tuyệt!

XÓT VÌ THƯƠNG

Vô tri bất mộ. Vì mến mà yêu, vì yêu mà thương, vì thương mà xót. Trình thuật Lc 15:2-32 là bản “hợp xướng thương xót” gồm ba đoạn: Con Chiên Lạc, Đồng Bạc Mất, và Đứa Con Hoang Đàng.

Từ khi nghe nói về Đức Giêsu, các người thu thuế và tội lỗi đều lui tới với Ngài để nghe Ngài giảng thuyết. Thấy thế, nhóm biệt phái và kinh sư xầm xì với nhau, cho rằng Chúa Giêsu là “dân chơi” nên mới giao du và ăn uống với phường tội lỗi. Ác khẩu quá, độc miệng quá, đúng là bản chất khó dời! Tuy nhiên, đừng vội trách họ mà tự mãn, bởi vì chúng ta cũng chưa chắc tốt bụng hơn lũ ác nhân đó đâu. Đôi khi miệng nói lời hay mà đầy vị cay!

Lòng Thương Xót của Thiên Chúa vô tận và khôn tả. Cả ba dụ ngôn Chúa Giêsu kể đều đầy ắp ân tình thương xót khiến chúng ta phải kinh ngạc.

Thật vậy, ai đời có một trăm con chiên, nhưng chỉ mất một con, thế mà dám để chín mươi chín con ở đó rồi đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất. Tìm được rồi thì mừng rỡ vác lên vai, sau đó làm tiệc mời người ta đến cùng chia vui. Theo kiểu nói khôi hài của ĐHY F.X. Nguyễn Văn Thuận, dụ ngôn này cho thấy Chúa Giêsu “không biết tính toán”. Nhưng cũng phải chân nhận rằng chính nhờ Chúa “không biết làm toán” mà chúng ta mới được cứu và được sinh tồn.

Còn nữa, có được mười đồng nhưng chẳng may mất một đồng, phụ nữ này thắp đèn, quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được. Tìm được rồi thì vui vẻ mời những người thân quen đến cùng ăn mừng. Cũng theo kiểu nói khôi hài của ĐHY F.X. Nguyễn Văn Thuận, dụ ngôn này cho thấy Chúa Giêsu “không biết làm kinh tế”. Nhưng rồi cũng phải chân nhận rằng nhờ Chúa “không biết làm kinh tế” mà chúng ta mới được bảo toàn mạng sống.

Còn dụ ngôn “Đứa Con Hoang Đàng” (nói tích cực hơn là dụ ngôn “Người Cha Nhân Hậu”). Đây là câu chuyện “nổi tiếng” nhất về Lòng Chúa Thương Xót, chắc hẳn Kitô hữu nào cũng biết – và thuộc lòng. Dụ ngôn này cũng là dụ ngôn “độc quyền” trong Phúc Âm theo Thánh Luca.

Quả thật, Chúa Giêsu làm toàn những “chuyện ngược đời”, thật là “khó hiểu”, kỳ lạ hóa kỳ diệu chứ không kỳ cục hoặc kỳ quặc. Một đứa con coi cha mình không ra gì, ngang ngược đòi chia gia tài rồi đi ăn chơi xả láng, trác táng. Đến khi cùng đường, thân tàn ma dại rồi mới nhớ tới cha mình. Nếu là người cha trần gian chắc rằng ông sẽ từ nó ngay. Thế nhưng cũng phải chân nhận rằng nhờ Chúa “ngược đời” như vậy mà chúng ta vẫn được tha thứ bất cứ lúc nào. Lòng Chúa Thương Xót thật là mầu nhiệm!

Thường thì chúng ta chỉ soi mói và xỉa xói thằng em, vì nó đi hoang công khai. Nhưng chính thằng anh cũng đâu hơn gì, có khi còn tệ hơn thằng em, vì thằng anh đi hoang ngay trong gia đình, không chỉ tức giận với em mà còn dám so đo với người cha. Tội thằng anh chẳng nhỏ, cũng chẳng ít, thế mà người cha vẫn điềm tĩnh.

Chúng ta không thể hiểu thấu Tình Yêu Thiên Chúa nên cũng không thể diễn tả rạch ròi. Nhưng đối với Ngài, Một vẫn to hơn và nhiều hơn Một Trăm. Hãy can đảm đứng dậy, tự động viên và tin tưởng: “Mạnh bạo lên, can đảm lên!” (Đnl 31:6-7, 23; Gs 1:6 và 9; Gs 10:25) Cách tốt là mỗi chúng ta phải nỗ lực sống yêu thương, đoàn kết, bảo vệ công lý và kiến tạo hòa bình, làm nhân chứng của Thiên Chúa giữa đời thường. Phàm nhân rất yếu đuối, nhưng quan trọng là không bao giờ thất vọng về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đã thẳng thắn chỉ trích các người biệt phái và kinh sư: “Khốn cho các người! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế” (Mt 23:27). Ước gì không ai trong chúng ta phải nghe lời nguyền rủa nặng nề như vậy!

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, tạ ơn Ngài luôn tha thứ và từ bi. Xin biến đổi chúng con nên khí cụ yêu thương và bình an của Ngài qua việc chu toàn bổn phận hằng ngày vì yêu mến Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

 

NIỀM VUI HOÁN CẢI

Phêrô Nguyễn Văn Hương

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay giới thiệu với chúng ta chương 15 của Tin Mừng Luca, được coi là chương của lòng thương xót. Trong đó, bài Tin Mừng là sưu tập ba dụ ngôn mà Chúa dùng để trả lời cho sự phàn nàn của những người Biệt Phái và Luật Sĩ đã phê phán hành vi của Người, khi họ nói rằng: “Con người này đón tiếp những người tội lỗi và ngồi ăn với họ” (Lc 15,2).

Với ba câu chuyện này, Chúa Giêsu muốn mạc khải cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa Cha là người đầu tiên đã có thái độ đón tiếp và thương xót đối với các tội nhân. Thiên Chúa hành xử như thế trong thái độ của Người.

1. Thiên Chúa đến tìm kiếm

Trong dụ ngôn thứ nhất, Thiên Chúa được trình bày như là một người chăn chiên có một trăm con chiên mà bị mất một con, ông đã để 99 con chiên kia ngoài đồng, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị lạc mất.

Trong dụ ngôn thứ hai, Thiên Chúa được ví như một người phụ nữ có mười quan tiền, mà chẳng may đánh mất một đồng, bà thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc cho kỳ được.

Trong dụ ngôn thứ ba, Thiên Chúa được hình dung như một người cha luôn trông chờ đứa con hoang đàng, ông vui mừng đón tiếp khi nó trở về. Hình ảnh người cha mạc khải trái tim thương xót của Thiên Chúa, được bày tỏ qua dung mạo của Chúa Giêsu.

Cả ba dụ ngôn đều có một điểm chung là diễn tả niềm vui mừng khi tìm được những gì đã mất. Cả ba dụ ngôn không nói đến nỗi buồn, mà chỉ nhấn mạnh đến niềm vui và lúc phải vui mừng. Người chăn chiên gọi các bạn hữu, những người hàng xóm và nói: “Hãy chung vui với tôi vì tôi đã tìm thấy con chiên bị lạc mất” (câu 6).

Người phụ nữ gọi bạn bè và những người hàng xóm lại và nói: “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất” (câu 9).

Và người cha nói với đứa con cả rằng: “Giờ đây chúng ta phải liên loan và vui mừng, bởi vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy” (câu 32).

Trong hai dụ ngôn đầu, điểm nhấn là niềm vui quá lớn lao không thể diễn tả được nên phải chia sẻ với “bạn bè và hàng xóm.” Trong dụ ngôn thứ ba, điểm nhấn là niềm vui trào dâng từ trái tim của người cha nhân hậu và cần phải chia sẻ cho mọi người trong gia đình. Thiên Chúa vui mừng khi có một ai đó hoán cải trở về với Người.

2. Thiên Chúa kiên nhẫn đợi chờ

Với ba dụ ngôn này, Chúa Giêsu giới thiệu cho chúng ta khuôn mặt đích thật của Thiên Chúa, một Thiên Chúa với vòng tay luôn mở rộng, một vị Thiên Chúa đến với những người tội lỗi bằng sự dịu hiền và cảm thông. Đây là dụ ngôn đánh động mỗi người chúng ta nhất bởi vì nó diễn tả tình yêu vô biên của Thiên Chúa – là tình yêu của người cha, người đã chạy ra ôm lấy cổ người con và hôn lấy hôn để vì nó mất nay lại tìm thấy. Đây là điều đánh động chúng ta nhất không phải là câu chuyện đáng buồn của một người trẻ bị gặp cảnh khốn cùng, nhưng đúng hơn là những lời đầy kiên quyết này: “Tôi sẽ đứng lên và trở về với Cha tôi” (c. 18).

Con đường trở về nhà Cha là con đường hy vọng cho đời sống mới. Thiên Chúa chờ đợi chúng ta trở về theo hành trình này. Người kiên nhẫn đợi chờ, chủ động ra đón, rồi ôm lấy chúng ta và Người tha thứ cho chúng ta. Đây là vị Thiên Chúa của Kitô giáo. Người là người Cha nhân hậu của chúng ta. Người xóa bỏ mọi lỗi lầm quá khứ và tái sinh chúng ta trong tình yêu và ân sủng của Người. Thiên Chúa quên quá khứ tội lỗi của chúng ta. Người cứu chữa và đón chúng ta vào nhà Người.

3. Thiên Chúa vui mừng

Chính Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay nói rằng: “Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15,7).

Chúng ta hãy đặt ra câu hỏi: Có bao giờ anh chị em nghĩ đến cả thiên đàng vui mừng như thế nào mỗi lần chúng ta đi xưng tội? Có bao giờ anh chị em nghĩ đến điều đó không? Điều đó thật đẹp đẽ!

Ngoài ra, chúng ta hãy chạy đến với Đức Maria, vì Mẹ là nơi ẩn náu của các tội nhân, để xin Mẹ thắp sáng lên trong lòng chúng ta niềm tin của người con hoang đàng: “Tôi sẽ đứng lên và trở về với cha tôi và tôi sẽ thưa với cha, “thưa Cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha” (c. 18).

Tất cả những suy niệm trên mang lại cho chúng ta một niềm hy vọng lớn lao để hoán cải bởi vì lòng thương xót Chúa lớn hơn tội lỗi chúng ta và mọi sự đều có thể với ơn Chúa! Chúng ta hãy bắt đầu lại sau khi đã sa ngã. Amen!

 

LÀM CON THEO GƯƠNG CHÚA GIÊSU

Lm JB Nguyễn Minh Hùng

Đoạn Kinh Thánh hay dụ ngôn về Người cha nhân hậu là đoạn Kinh Thánh hay dụ ngôn mượn hình ảnh người cha để nói đến tấm lòng của Thiên Chúa.

Dụ ngôn gây nhiều cảm động vì cảm nhận tình yêu sâu đậm mà Thiên Chúa dành cho người tội lỗi biết ăn năn, một tình yêu lớn hơn mọi thác ghềnh, vượt trên mọi tội lỗi. Đó là tình yêu mà đất không thể sánh, trời không thể ví. Một tình yêu mà dù núi cao, dù biển rộng không có gì có thể đo lường.

Dụ ngôn mô tả cuộc đời lầm lỗi của đứa con trai vừa phản bội và xúc phạm nặng tình cha, vừa giẫm nát cuộc đời mình, vừa gây đổ vỡ mọi tương quan cùng Thiên Chúa cũng như loài người, vừa gây nên bao nhiêu đớn hèn đối nghịch hẳn với tình yêu của người cha già cao cả, mạnh mẽ đến nỗi dường như chỉ có yêu mà không hề có bất cứ tính toán, đong đo nào.

Chúa Giêsu kể: Anh là đứa con trai thứ trong hai đứa con mà người cha hết lòng yêu mến. Anh ra đi bụi đời sau khi đòi cha chia gia tài cho anh.

Vừa khi nhận phần gia tài, người con thứ đã thể hiện ngay bộ mặt xấu xa của mình: Chẳng những anh không biết ơn cha, không có một lời cảm tạ cha, mà anh còn cho thấy, anh xem gia đình mình như một thứ nhà tù cho bước chân “yêu đời” của anh, là thứ đập nước ngăn cản sức sống đang lên của anh.

Cuối cùng anh quyết định lựa chọn con đường riêng mà không thèm bàn hỏi gì với người cha già chỉ biết có yêu thương và chiều chuộng con.

Điều lạ ở đây là, người cha ngay lập tức đồng ý phân chia gia tài, dù biết rõ tính tình của đứa con. Người cha như phần nào thông cảm “cho đứa con không thể răn bảo được.”

Dụ ngôn cho thấy, dù bất cứ chuyện gì xảy ra, thì người cha vẫn tôn trọng tự do của con ông. Lòng thương tràn bờ của ông không nỡ để con thoát ly khỏi nhà mình, thoát ly khỏi vòng tay của mình với hai bàn tay trắng.

Còn đứa con, một khi quyết tâm ra đi, nó đã dại dột giày xéo dưới chân quyền làm con và từ chối quyền làm cha của cha nó.

Nhưng “cáo chết 3 năm quay đầu về núi”, hay “Lá rụng về cội”, “nước đổ về nguồn”. Đứa con ông mù quáng trong dục vọng, từ địa vị một đứa con gia giáo trở thành đứa chăn heo ở miền ngoại bang.

Tình trạng sa sút của anh quá sâu, sâu đến nỗi anh phải ăn đồ ăn của heo để cầm hơi sự sống. Sự sống của người con thứ, giờ đây được đặt ngang hàng với bầy heo, có khi kém giá hơn, vì heo còn có ăn, còn anh thì “muốn ăn đồ heo ăn, mà chẳng ai cho…”.

Chỉ khi rơi vào cảnh túng khổ tuyệt đối mới làm cho người con tội lỗi suy nghĩ lại. Nghĩa là dù anh có trở về, thì lý do đầu tiên vẫn không hề là nhớ về tình yêu của cha, hình ảnh tội nghiệp của cha đang ngày đêm mong chờ.

Anh chỉ trở về với cha vì bản thân mình, vì cái bụng đói cồn cào của mình, vì sự ích kỷ của bản thân: Anh nghĩ, trong nhà cha hàng ngày của ăn dư dật, ngay cả đầy tớ mà còn được hưởng thụ, còn anh thì đang chết đói, đang khổ sở tứ bề…

Những bước chân nặng nề, với tấm lòng rối bời tội lỗi và mặc cảm… người con phản bội quỳ sụp dưới chân cha mình: “Lạy cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha…”. Đó là lần xưng tội công khai, đó là sự ăn năn muộn màng.

Dù chỉ là sự thú tội, lòng ăn năn của một tâm hồn ích kỷ, người con thứ vẫn nhận được tình yêu bao dung, tình yêu bền vững trước sau như một của cha mình…

Người con trở về, dù là khoác lớp áo nào để trở về đi nữa, thì cuộc trở về ấy vẫn làm cho cả trời và đất vui mừng, gia đình vui mừng, họ hàng tuôn đến chia vui.

Đó là hình bóng đời người chúng ta. Một khi xa Thiên Chúa, con người ngày càng vong thân, mất mọi giá trị làm người, làm con Chúa và làm anh em giữa muôn người.

Một khi nhận ra lầm lỗi, sự yếu đuối, sức bạc nhược của mình mà trở về với Chúa bằng việc trung thành, hiếu thảo và chuyện trò cùng Chúa trong sự siêng năng cầu nguyện, chúng ta sẽ lấy lại nghị lực, tăng cao giá trị làm người và làm con Chúa của mình.

Mỗi người cần rút ra bài học từ Lời Chúa hôm nay mà sống sao, để từng ngày mỗi sát gần sự thánh thiện như Chúa muốn. Hãy là hình ảnh của Người Con mang tên Giêsu với Cha, chớ đừng là hình ảnh của những người con hư hỏng trong dụ ngôn.

 

BÀI HỌC VỀ LÒNG XÓT THƯƠNG

Lm. Anmai

Có người nói rằng, xếp quyển Thánh Kinh lại, chỉ để lại trang Luca chương 15 mà hôm nay chúng ta được nghe. Chương 15 của Luca là một trong những chương sách đẹp nhất của toàn bộ Thánh Kinh Tân Ước.

Cả chương sách bừng lên niềm vui chan chứa, niềm vui của tình yêu mà những ai sống trong quỹ đạo của ích kỷ không cảm nếm được. Bối cảnh là những người thu thuế và tội lỗi đến với Chúa Giêsu để nghe Người giảng, làm cho người Pharisêu và các kinh sư khó chịu. Bối cảnh đó làm nổi bật lòng thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân và là lời cảnh giác cho những kẻ tự hào mình là người công chính.

Trang Tin Mừng Tin Mừng Lc 15,1-3.11-32 đã từng được gọi là dụ ngôn đứa con hoang đàng. Với sự quyến định trở về của mình, người con này được đề cao hơn cả cuộc đời hoang đàng của anh ta. Ngày nay, người ta lại chuyển hướng và nhìn vào hình ảnh từ bi đại hải của người cha. Nhìn như thế để như là trách khứ tấm lòng không bao dung, không nhân hậu và miệt thị của người anh cả.

Dẫu sao đi nữa, dụ ngôn ngôn trên đây có ý nghĩa rất phong phú liên quan đến cách sống và cách xử sự của cả ba nhân vật: Người cha và hai người con. Dường như nhân vật nổi bật của dụ ngôn là người anh cả. Bởi vì trong câu chuyện, những nhân vật đang nghe Đức Giêsu kể dụ ngôn có cách sống và cách xử sự giống như người con cả.

Nét độc đáo nổi bật trong chân dung của Luca về Chúa Giêsu đó là lòng thương xót. Trong sách Tin Mừng thứ ba, Chúa Giêsu thường xuyên quan tâm đến người nghèo, các tội nhân, những người bị gạt ra bên lề xã hội. Không phải các đạo sĩ nhưng chính những người chăn chiên mới là người đến máng cỏ đầu tiên (2,8-18); Chúa đón tiếp người phụ nữ tội lỗi nhưng có lòng thống hối (7,36-50); Chúa nói những điều tốt lành về người Samaria (10,30-37); Chúa đến thăm người thu thuế (19,1-10); Chúa kể những dụ ngôn tuyệt vời về lòng thương xót (chương 15). Các phụ nữ cũng chiếm vị trí đặc biệt trong Tin Mừng Luca. Vào thời đó, phụ nữ chỉ là công dân hạng hai và bị coi thường, nhưng Chúa Giêsu lại trân trọng họ (10,38-42), đón nhận sự giúp đỡ của họ (8,1-3), và cho thấy đức tin kiên cường của các bà trong những giai đoạn thử thách nhất (23,49; 24,1; Cv 1,14).

Tin Mừng Luca chương 15 được gọi là các dụ ngôn về lòng thương xót, chương này gồm một lời mở đầu và ba dụ ngôn. Lời mở đầu có tầm quan trọng đặc biệt, vì đó là chìa khoá để hiểu Đức Giêsu nói dụ ngôn trong bối cảnh nào, có ẩn ý gì và nói cho ai. Người thuật chuyện cho biết bối cảnh và lý do Đức Giêsu kể các dụ ngôn ở Lc 15,1-3: “1Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. 2Những người Pharisêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: ‘Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.’ 3Đức Giêsu mới kể cho họ dụ ngôn này:…”

Lc 15,1-3 cho biết nhiều chi tiết liên quan đến lý do Đức Giêsu kể các dụ ngôn. Trước hết là những người thu thuế và những người tội lỗi đến với Đức Giêsu để nghe Người giảng. Tiếp đến là lời xầm xì của những người Pharisêu và các kinh sư: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” Lời xầm xì này cho biết thêm hai yếu tố mới. Không chỉ là việc những người thu thuế và tội lỗi đến với Đức Giêsu và nghe Người giảng, mà chính Đức Giêsu tiếp đón họ và ăn uống với họ. Nghĩa là sự đón nhận đến từ hai phía. Về phía Đức Giêsu, Người tiếp đón và ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi. Về phía họ, họ đến với Đức Giêsu để nghe Người giảng.

Dụ ngôn “Tìm chiên lạc” (câu 4-7) mô tả Thiên Chúa như người mục tử bỏ 99 con chiên lại để đi tìm chiên lạc, và niềm vui tràn bờ khi Ngài tìm lại được con chiên lạc, đến nỗi vác nó lên vai đem về, và mời mọi người đến chung vui vì đã tìm lại được con chiên bị mất. Trong mắt của Chúa, mỗi một con người, bất kể yếu đuối và tội lỗi đến đâu, đều là một nhân vị độc đáo và không thể thay thế. Vì thế, Ngài chăm sóc từng con chiên và đau đáu đi tìm khi nó lạc bầy. Chính vì thế, không ai có quyền thất vọng về tình thương của Chúa vì tình thương ấy dứt khoát lớn hơn tội lỗi của chúng ta. Điều duy nhất cần thiết là sám hối ăn năn, nghĩa là thay đổi cách nhìn, cách nghĩ và cách sống của mình.

Trong chùm dụ ngôn về lòng thương xót, dụ ngôn “Người con hoang đàng” vẫn là dụ ngôn nổi tiếng nhất, cả về văn chương lẫn nội dung (15,11-32). Không phải vô lý mà có tác giả đã đề nghị đặt tên cho dụ ngôn này là “Người cha phung phí” thay vì “Đứa con hoang đàng”. Bởi lẽ trọng tâm của dụ ngôn không phải là sự phung phí của cải vật chất của đứa con thứ, mà chính là lòng thương xót của người cha dành cho cả hai đứa con, lòng thương xót vô bờ đến độ không thể hiểu nổi… cho nên được gọi là ‘phung phí’ tình yêu.

Con đầu lòng được hưởng gấp đôi phần gia sản theo luật lệ của người Do thái (Đnl 21,17). Và bởi thế, người con út trong dụ ngôn được chia một phần ba sản nghiệp. Việc phân chia tài sản phải đợi đến khi người cha qua đời theo lẽ thường của sự đời. Nếu như việc chia gia tài tiến hành trước thời gian thì có những khoản về hình phạt đi theo đó. Tuy nhiên điều quan trọng của luật ở khía cạnh tinh thần chứ không nằm ở khía cạnh lề luật. Người con út đã đoạn tuyệt với gia đình, không thương tiếc cha mình, anh mình sau khi có tài sản trong tay. Bất chấp tất cả, anh ta đòi hỏi chia gia tài rồi bỏ nhà đi,. Với quyết định như thế, anh ta đem mọi sự theo mình và không có hi vọng gì sẽ trở lại. Dĩ nhiên đây là sự mất mát lớn đối với gia đình, cách riêng với người cha.

Phải chăn heo, đó là kết cục bi tham cho cuộc sống phóng đãng và phung phí dẫn người con út. Chăn heo, với người Do thái, gợi lên ý tưởng ô uế, “lạc đạo” và như thế, người con út đã đánh mất tư cách là thành viên trong gia đình cũng như trong Dân Chúa. Trong dụ ngôn, người con út thậm chí còn tệ hơn cả heo, vì “ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng nhưng chẳng ai cho”.

Người con út hồi tâm khi đối diện với nỗi cơ cực đến tột cùng. Được trở về nhà trong tư cách kẻ làm thuê, đó là ước muốn của anh ta. Để cuộc trở về được thành công theo ước muốn, anh chuẩn bị kỹ lưỡng những gì phải thưa thốt với cha mình, và lường trước sẽ bị mọi người tiếp nhận bằng cái nhìn soi mói và nghi ngờ. Chuyện đặc biệt là dù thế nào đi chăng nữa nhưng cha anh vẫn thương anh. Ông vẫn ngày đêm trông ngóng, và khi thấy con ở đàng xa, “ông chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để” (câu 20) đến độ người con không kịp nói hết bài diễn văn đã soạn sẵn! Cuộc đoàn tụ này rất giống với cuộc đoàn tụ của Esau và Giacóp (St 33,4). Giacóp nhớ đến tội ác mình đã phạm chống lại anh, nhưng giống như người cha trong dụ ngôn này, Esau chỉ nghĩ đến hoà giải. Người cha ra lệnh cho gia nhân chăm sóc mọi sự cho đứa con của mình, nào là áo, nào là nhẫn, nào là bê béo… tất cả diễn tả sự nhìn nhận đây là đứa con của chủ nhà chứ không phải tôi tớ. Không có chuyện hỏi tội, không có chuyện tra khảo, cũng không có chuyện bàn bạc xem thằng con hư hỏng này có xứng đáng được tha tội không… chỉ có điều quan trọng duy nhất là: “con ta đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (câu 24).

Câu chuyện đẹp tưởng chừng đã hạ màn với cảnh đẹp tuyệt vời như thế, không ngờ lại thêm cảnh khác xen vào. Người con cả đã nổi đóa lên. Anh đã cố gắng, đã tự nhủ rằng anh đã cố gắng sống công chính đến thế: “Đã bao năm con hầu hạ cha và chẳng khi nào trái lệnh” (câu 29), thế mà “chưa bao giờ cha cho lấy một con dê con để ăn mừng với chúng bạn”. Và nhân danh sự công chính đó, anh khước từ việc chia sẻ niềm vui với gia đình khi “thằng con của cha” (chứ không phải đứa em của tôi) trở về. Lại một lần nữa, tình yêu và lòng thương xót của người cha bừng sáng và xua tan mọi hận thù ghen ghét. Ông đã bước ra đón đứa con hoang đàng thì ông cũng bước ra đón người con cả, vì ông mong muốn cả hai đứa con đều được hạnh phúc. Anh con cả chỉ nhìn thấy gia tài và nỗ lực làm việc của bản thân anh. Người cha không từ chối điều đó, nhưng những điều đó đều không quan trọng bằng điều này là: một đứa con và một người anh em đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy. Vì thế, mọi chuyện khác đều phải dẹp sang một bên để “chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ” (câu 32). Lại một lần nữa, tâm trí ta nhớ đến câu chuyện Giacóp. Giống như Esau, đến giai đoạn cuối đời, Giacóp khám phá ý nghĩa và tầm quan trọng của đoàn tụ, nên khi nghe tin Giuse vẫn còn sống, ông quên hết những tội ác mà chính những anh em trong nhà đã gây ra cho Giuse, và chỉ nhớ một điều: “Thế là đủ. Giuse con ta vẫn còn sống” (St 45,28).

Thiên Chúa, là Cha giàu lòng thương xót, Ngài mãi mãi xót thương chúng ta. Chúng ta, có quay về với Chúa như người em và chúng ta có bao dung cho em chúng ta khi em chúng ta lầm lỗi hay không, vẫn là lời mời gọi lòng bao dung thương xót của mỗi người chúng ta.

 

TÔI SẼ CA TỤNG LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT TỚI MUÔN ĐỜI

Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Xh 32:7-11, 13-14;  1 Tm 1:12-17;  Lc 15:1-32)

Mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người là đề tài lặp đi lặp lại trong Kinh Thánh.  Phụng vụ Lời Chúa hôm nay không chỉ đề cập đến liên hệ giữa Ít-ra-en với Thiên Chúa, mà còn trình bày sự liên hệ giữa Chúa với từng cá nhân chúng ta.  Mỗi lần Ít-ra-en bỏ Thiên Chúa để đi theo các thần ngoại và Thiên Chúa toan từ bỏ họ thì Người đều “nghĩ lại” mà nguôi cơn giận và tha thứ cho họ.  Vậy bao nhiêu lần tha thứ ấy nói lên điều gì về Thiên Chúa nếu không phải là lòng thương xót của Người?  Cũng vậy, trong mối tương quan giữa Chúa và cá nhân chúng ta, ta cũng có thể nghiệm thấy điều ấy khi bước ra khỏi tòa giải tội và tâm hồn được bình an đích thực.  Điều này cũng gặp thấy trong cảm nghiệm “trở lại” của thánh Phao-lô.  Tuy nhiên đặc biệt nhất chính là lời giảng của Chúa Giê-su về lòng thương xót khi Người dùng dụ ngôn để mô tả lòng nhân hậu vô bờ của Thiên Chúa.

Vậy trước hết bài trích sách Xuất Hành nói gì với chúng ta về lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa?  Sau khi dẫn con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập, ông Mô-sê luôn phải đương đầu với thái độ bất trung của họ đối với Thiên Chúa.  Ông được Thiên Chúa gọi lên núi để Người ban cho ông Lề Luật khắc trên hai tấm bia đá.  Trong khi ông vắng mặt khá lâu, dân chúng sinh tật, hùa theo thói dân ngoại nên cùng nhau quyên góp nữ trang để đúc một con bê bằng vàng.  Họ gọi vật vô tri ấy là “Thiên Chúa” của họ và phụng thờ nó.  Chúa bảo ông Mô-sê:  “Ta đã thấy dân này rồi, đó là một dân cứng đầu cứng cổ. Bây giờ cứ để mặc Ta, cứ để cơn thịnh nộ của Ta bừng lên phạt chúng, và Ta sẽ tiêu diệt chúng”.  Thế là ông Mô-sê lại một phen van nài Chúa đừng hủy diệt dân Người.  Ông còn khéo léo nhắc nhở Chúa về những lời Người đã hứa với các tổ phụ dân Ít-ra-en, để Người giữ lời hứa, nguôi cơn giận và khỏi phải “mất sĩ diện” của Người trước các dân tộc khác!  Lời chuyển cầu Mô-sê dâng lên Thiên Chúa đã đụng tới trái tim nhân hậu của Người, nên Người đã tha thứ, bỏ quyết định hủy diệt Ít-ra-en và tiếp tục giúp họ trở về Đất Hứa.  Ôn lại bài học về lòng nhân hậu tha thứ của Thiên Chúa, tác giả Thánh Vịnh đã nhiều lần kêu lên:  “Con sẽ ca tụng lòng Chúa thương xót đến muôn đời!”

Nhưng cốt lõi của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nằm trong bài Tin Mừng rất quen thuộc và cảm động, đó là ba dụ ngôn Chúa Giê-su kể để nói lên lòng nhân hậu của Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ tội lỗi chúng ta nếu ta quay về với Người và nỗi vui mừng của Thiên Chúa vì Người nối lại được mối tương quan với chúng ta.  Dụ ngôn con chiên lạc và đồng bạc đánh mất vừa diễn tả niềm vui của người chủ chúng, vừa nói lên giá trị tình cảm người chủ dành cho chúng.  Như vậy hai dụ ngôn này dường như muốn nhấn mạnh rằng sở dĩ con chiên lạc và đồng bạc đánh mất đều có giá trị là vì tình cảm chủ dành cho chúng.  Xét theo giá trị bình thường, một con chiên lạc không thể sánh với chín mươi chín con còn lại, cũng thế, đồng bạc đánh mất không thể bằng chín đồng tiền còn lại.  Cho nên người chủ khổ công đi tìm kiếm cho được những cái đã mất là vì người ấy dành cho chúng một tình cảm đặc biệt mà thôi!

Hai dụ ngôn nhỏ ở trên được Chúa kể để chuẩn bị cho dụ ngôn lớn, dụ ngôn người cha nhân hậu.  Nếu con chiên lạc và đồng tiền đánh mất còn đáng để chủ của chúng đi tìm, thì chúng ta là con cái Chúa lại chẳng đáng cho Người đi tìm và đưa chúng ta trở về sao?  Dựa trên cách sắp đặt thứ tự ba dụ ngôn này, chúng ta càng dễ cảm nhận được Chúa Giê-su muốn đề cao lòng nhân hậu của người cha, tức tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, cao cả ngần nào!  Câu chuyện thứ ba đã quá quen thuộc với chúng ta, nhưng không vì thế mà chúng ta rơi vào cái bẫy “biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”  Vậy hôm nay chúng ta sẽ tìm được điều gì mới trong dụ ngôn này?  Trước kia người ta thường đặt đầu đề cho câu chuyện là “dụ ngôn đứa con hoang đàng”.  Nhưng bây giờ thì ai cũng thích cái đầu đề “dụ ngôn người cha nhân hậu” hơn!  Như vậy là chúng ta hiểu được ý của Chúa Giê-su rồi!  Quả thực Người thích rao giảng về Thiên Chúa như người cha nhân hậu, nào là trong kinh Lạy Cha, nào là trong bài giảng trên núi khai triển ý niệm về Thiên Chúa quan phòng… Không những qua lời giảng, mà ngay trong đời sống hằng ngày, Chúa Giê-su đã đối xử với dân chúng bằng lối sống nhân hậu.  Người tiếp nhận các người thu thuế và những kẻ tội lỗi đến với Người.  Người để ý hơn đến những người bị xã hội loại bỏ hoặc khinh dể.  Người bỏ ngoài tai những lời phê bình Người “đi lại với quân tội lỗi và phường thu thuế”.  Các dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay cũng là để nhằm biện hộ cho lối sống nhân hậu của Người (Lc 15:1-3).

Sống sứ điệp Lời Chúa

Ta có thể rút bài học của sứ điệp Lời Chúa hôm nay qua câu chuyện thánh Phao-lô.  Đây không còn là câu chuyện dụ ngôn, nhưng là chuyện đời ngài.  Ngài thích ôn lại chuyện cũ, nhất là việc ngài trở lại với Chúa Giê-su.  Ngài không xấu hổ khi kể lại cho môn đệ Ti-mô-thê nghe dĩ vãng xấu xa, vì đây là cơ hội rao giảng lòng Chúa từ bi nhận hậu đối với cá nhân ngài.  Chúa đã quên hẳn dĩ vãng của Phao-lô rồi, cho nên Phao-lô mạnh dạn “quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước” (Pl 3:13)!

 

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 24 TN_C

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Chúa Nhật XXIV Thường Niên Năm C mời gọi suy niệm về tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa, Người sẵn sàng tha thứ cho những kẻ tội lỗi biết sám hối

“Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội,

nào có ai đứng vững được chăng?

Nhưng Chúa vẫn rộng tha thứ

để chúng con biết kính sợ Ngài” (Tv 130: 3-4).

Xh 32: 7-11, 13-14

Nhờ lời chuyển cầu tha thiết của ông Mô-sê, Thiên Chúa đã nguôi giận và tha thứ tội lỗi của dân.

1Tm 1: 12-17

Thánh Phao-lô viện dẫn cuộc hoán cải của chính mình để làm chứng “tất cả lòng đại lượng” của Đức Ki-tô, Đấng “đã chết, hơn nữa, đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta” (Rm 8: 34).

Lc 15: 1-10

Chúa Giê-su trả lời cho lời phàn nàn của người Biệt Phái tại sao Ngài giao du với những người tội lỗi qua hai dụ ngôn ngắn: “Con chiên bị lạc đàn” và “Đồng bạc bị đánh mất”. Qua hai dụ ngôn này, Đức Giê-su hiện thân tấm lòng đầy xót thương của Thiên Chúa.

BÀI ĐỌC I (Xh 32: 7-11, 13-14)

Trong khi ông Mô-sê còn lưu lại trên núi, dân chúng bắt ép ông A-ha-ron đúc cho họ một vị thần linh mà họ có thể thấy và chạm được – loại thần linh mà các dân tộc chung quanh đang phụng thờ. Bản văn nhấn mạnh sự kiện con bê được đúc bằng bạc vàng do bàn tay con người, chỉ là một sản phẩm của các nghệ nhân, có tai mà không nghe, có miệng mà không nói, có mắt mà không thấy  (x. Tv 105: 19-20; 115: 5tt). Bản văn cũng nói đến “lễ hội” (32: 5) có thể hàm ý đến những nghi lễ cúng tế thần linh bắt chước những gì dân Do thái thấy ở nơi các dân tộc chung quanh.

  1. Cơn thịnh nộ của Thiên Chúa(32: 7-10)

Thiên Chúa báo tin dữ cho ông Mô-sê và ngỏ ý muốn tiêu diệt dân phản nghịch, dân mà Ngài không còn gọi là “dân Ta” một cách thân tình nữa, nhưng là “dân ngươi” (32: 7) một cách xa lạ. Tội này quá nghiêm trọng, đáng bị trừng phạt bằng họa diệt vong. Nhưng vì công lao khổ nhọc của ông Mô-sê, Thiên Chúa hứa với ông Ngài sẽ làm nên một dân tộc khác, lớn hơn dân Do thái, xuất từ ông để dân ấy thừa hưởng lời hứa (32: 10).

  1. Lời chuyển cầu của ông Mô-sê (32: 13-14)

Ông Mô-sê tuy rất buồn giận dân, nhưng lòng thương của ông dành cho dân khiến ông không muốn dân bị hủy diệt. Ông chuyển cầu cho dân. Ông gợi lên hai lý do để xin Chúa tha thứ. Lý do thứ nhất, tiêu diệt dân có thể khiến cho người ta hiểu lầm lòng tốt của Thiên Chúa: người Ai-cập có thể lấy cớ đó mà rêu rao rằng “chính vì ác tâm mà Thiên Chúa đã đưa chúng ra, để giết chúng trong miền núi và tiêu diệt chúng khỏi mặt đất” (32: 12). Lý do thứ hai, tiêu diệt dân thì đi ngược lại với những lời Thiên Chúa đã hứa với các tổ phụ: “Ngài đã lấy chính danh Ngài mà thề với các vị ấy rằng: Ta sẽ làm cho dòng dõi các ngươi đông đúc như sao trên trời, và sẽ ban cho dòng dõi các ngươi tất cả miền đất ấy, là miền đất Ta đã hứa, chúng sẽ thừa hưởng miền đất ấy đến muôn đời” (32: 33; x. St 22: 16-18).

Có lẽ hai lý do này không đủ làm nguôi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa cho bằng chính hành vi chuyển cầu của ông cho dân. Ông là một phàm nhân mà còn không muốn dân phải chết dù tội của dân đáng phải chịu như thế, Thiên Chúa lại không mở rộng lòng mà tha thứ cho dân sao? Vai trò chuyển cầu của ông Mô-sê cho toàn dân được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bộ Ngũ Thư: tại Ai-cập (Xh 5: 22-23; 8: 4; 9: 28; 10: 17), nhất là nơi hoang địa (Xh 32: 11-14, 30-32; Ds 11: 2; 14: 13-19; 16: 22; 21: 7; Đnl 9: 25-29), còn được nhắc lại ở Gr 15: 1; Tv 99: 6; 106: 23; Hc 45: 3, và báo trước vai trò chuyển cầu của Đức Giê-su sau này.

BÀI ĐỌC II (1Tm 1: 12-17)

Lời phát biểu chủ chốt trong đoạn trích này là “Đức Ki-tô đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi” (1: 15).  Trong tâm tình tri ân, thánh Phao-lô nhắc lại cho ông Ti-mô-thê, người môn đệ thân tín của mình, cuộc hoán cải của thánh nhân (x. Gl 1: 13-16; 1Cr 15:9; Ep 3: 8) và trình bày nó như mẫu gương cho những người khác. Nếu Thiên Chúa đã ban cho thánh nhân tràn đầy ân sủng, Thiên Chúa cũng ban tràn đầy ân sủng cho bất kỳ ai. Không ai tự coi mình là không thể sống sự sống của Đức Ki-tô.

Chúng ta không thể kỳ vọng lòng thương xót của Thiên Chúa tác động trong chúng ta, nếu chúng ta vẫn cứ cố chấp trong tội khi mà chúng ta biết đó là tội (x. Rm 2: 4). Thánh Phao-lô “đã hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin” (1: 13). Chúng ta nhớ lại lời cầu nguyện của Đức Giê-su: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23: 34). Nhưng ngay cả khi không biết việc mình làm, thánh Phao-lô cũng ý thức rằng: “Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta, đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người” (1: 14). Chính đó là đức tin và đức mến mà hiện nay Đức Ki-tô đổ tràn đầy trên thánh nhân (x. Gl 2: 16; Rm 5: 15-20), vì “tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2: 20).

Ân sủng Thiên Chúa ban đã là mẫu gương khuyến khích mọi người, và hiện nay chính là sứ vụ của thánh Phao-lô (1: 12; x. 2Cr 3: 5-6; 4: 1; 5: 18; 6: 3; Rm 11: 13; Cl 1: 7, 23), quyền năng của sứ vụ đến từ Thiên Chúa chứ không từ thánh Phao-lô (1: 12; x. 2Cr 12: 9; Pl 4: 13), đó là kể cho mọi người biết điều này, ngõ hầu họ cũng trải nghiệm cùng ân sủng tràn đầy như vậy.

Cuộc hoán cải của thánh Phao-lô làm chứng cho “tất cả lòng đại lượng” của Đức Ki-tô, Ngài sẽ không bao giờ ngừng theo đuổi chúng ta. Đấng yêu thương chúng ta là Đấng “đã chết, hơn nữa, đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta” (Rm 8: 34). Thánh Phao-lô hy vọng rằng thánh nhân sẽ là mẫu gương để không ai còn phải thất vọng. Chúng ta không thể giả vờ như thử không nhận ra tội lỗi tác hại như thế nào, để rồi vẫn cứ ở lỳ trong tội. Nhưng dù chúng ta đã làm bất kỳ điều gì, quá khứ của chúng ta đã như thế nào, Ngài vẫn một mực yêu thương chúng ta. Ngài đã hiến thân mình cho chúng ta và sẽ không bao giờ ngừng kêu mời chúng ta sám hối và tin tưởng vào lòng thương xót của Ngài (1: 16; x. Rm 9: 33; 10: 11), nhờ đó chúng ta được vui hưởng cuộc sống đời đời với Ngài. Tư tưởng này khiến thánh Phao-lô cất lên lời ca ngợi Thiên Chúa bất diệt (Rm 1: 23), vô hình (Cl 1: 15) và duy nhất (Ep 4: 6).

Trong cuộc sống của mình, thánh Phao-lô luôn bày tỏ tình yêu kỳ diệu của Đức Ki-tô (1: 16), được lập đi lập lại như một điệp khúc trong thư gửi tín hữu Ê-phê-xô: “ngợi khen vinh quang của Người” (Ep 1: 6, 12, 14). Đó là kế hoạch của Thiên Chúa đối với toàn thể nhân loại (Ep 1: 3-14). Đó là sứ điệp trọng tâm mà thánh Phao-lô muốn ông Ti-mô-thê bảo đảm thường hằng giảng dạy cho các cộng đoàn Ki-tô hữu khắp miền Ê-phê-xô.

TIN MỪNG (Lc 15: 1-10)

Trong chương 15 này, thánh Lu-ca kể lại ba trong số những dụ ngôn trong đó Chúa Giê-su mô tả niềm vui của Thiên Chúa khi thấy những người tội lỗi hối cải. Tin Mừng dạy rằng không ai bị loại ra ngoài ơn tha thứ của Thiên Chúa, vì thế những tội nhân có thể trở thành những người con yêu dấu của Thiên Chúa nếu họ ăn năn hối cải. Thiên Chúa ước mong những tội nhân hối cải đến mức mỗi một dụ ngôn này đều kết thúc với một điệp khúc kể về niềm vui lớn lao trên trời khi thấy một tội nhân hối hận ăn năn.

  1. Những phàn nàn của người Biệt Phái (15: 1-3)

Đây không là lần đầu tiên những người thu thuế và những người tội lỗi năng lui tới với Đức Giê-su (15: 1; x. Mt 9: 10). Họ bị hấp dẫn bởi chính lời rao giảng của Đức Giê-su và tấm lòng rộng mở của Người đối với họ. Trái lại, những người Biệt Phái và các kinh sư vấp phạm vì thấy Chúa Giê-su giao du và bầu bạn với những người tội lỗi, những người mà chẳng những họ không chỉ khinh bỉ mà còn cấm không được giao thiệp để khỏi bị ô uế.

  1. Câu trả lời của Đức Giê-su (15: 4-10)

Trước đây, Đức Giê-su đã gặp phải phản ứng bất bình như thế và đã trả lời ngắn gọn và đanh thép: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5: 31-32). Ở đây, Đức Giê-su phát biểu ý kiến của mình theo cách khác, gợi hình và cụ thể, qua ba dụ ngôn, hai dụ ngôn ngắn: “Con chiên bị lạc đàn” (15: 4-7), “Đồng bạc bị đánh mất” (15: 8-10) và một dụ ngôn dài: “Người Cha nhân hậu” (15: 11-32). Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay chỉ trích dẫn hai dụ ngôn ngắn: “Con chiên bị lạc đàn” (15: 4-7) và “Đồng bạc bị đánh mất” (15: 8-10).

Hai dụ ngôn ngắn này được gọi là “cặp dụ ngôn sinh đôi” vì có cùng một cấu trúc song song với nhau. Cả hai dụ ngôn đều bắt đầu với một câu hỏi giả thiết, một lời đáp trả khẳng định. Một cái gì đó “bị mất” (lập lại đến năm lần) mà người ta “đã tìm lại được” (sáu lần). Sau khi đã tìm lại được, người ta chia sẻ niềm vui với người chung quanh. Như vậy, cặp dụ ngôn sinh đôi này không quan tâm đến tới cách thức đã xảy ra sự mất mát; ngay cả việc tìm thấy cái đã mất cũng thuộc về quá khứ. Việc tìm kiếm ít được nhấn mạnh hơn là lời mời gọi cùng chia sẻ niềm vui cả ở dưới thế lẫn ở trên trời. Như thế, việc Chúa Giê-su thường giao du với các kẻ bị loại trừ được biện minh bởi hành động của Thiên Chúa. Và hai dụ ngôn này như muốn nêu lên cho các người Biệt Phái, các kinh sư và cả độc giả một câu hỏi: Các bạn có thể chung vui với Đức Giê-su khi thấy “những người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Ngài giảng” không?

  1. Dụ ngôn: “Con chiên lạc bị lạc đàn”(15: 4-7)

Công việc của người chăn chiên tại xứ Pa-lét-tin là một công việc khó nhọc và nguy hiểm. Đồng cỏ thì hiếm. Cánh đồng cao nguyên ở giữa xứ chỉ rộng chừng vài dặm thôi, còn địa thế phần nhiều là những khe trũng dốc đứng và cảnh sa mạc hoang vu, chiên dể đi lạc. Những người chăn chiên có tài theo dấu vết cách đặc biệt, có thể theo dõi dấu chân của một con chiên đi lạc hằng dặm qua núi đồi.

Tác giả của sách suy niệm “Hosanna” đã quảng diễn niềm vui của người chăn chiên khi gặp được con chiên bị lạc như sau: “Vui với tôi bạn nhé, tôi lại tìm thấy được tình yêu. Đôi mắt tôi không còn nhìn anh em với những thành kiến hẹp hòi. Lời nói tôi thôi làm bạn đau đớn. Tai tôi biết lắng nghe bạn trân trọng, cảm thông. Bàn tay tôi trong tay bạn, ấm nóng yêu thương nhiệt thành. Và tôi đến với bạn với cả tấm lòng của kẻ nhận ra mình được Thiên Chúa yêu thương. Người đặt tình yêu của mình trong hình ảnh bạn và trong đôi mắt tôi. Tạ ơn Chúa đã cho con hạnh phúc của người tìm lại được tình yêu bị lãng quên. Xin Cha cho con luôn biết gìn giữ, trân trọng tình yêu của Người”.

Phải chăng lời phát biểu của Đức Giê-su: “Hơn là chính mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” là một lời mỉa mai nhằm ngụ ý nhắn gửi đến các người Pha-ri-sêu và kinh sư, vì họ phải biết rằng không ai tự cho mình là công chính trước mặt Thiên Chúa mà tẩy chay và kết án người khác (x. Rm 3: 10tt), vì thế chính họ cũng cần hoán cải? Hay phải chăng đây là một cách nhấn mạnh tận mức, như trong chính dụ ngôn ở câu 4, giá trị khôn sánh của từng cá nhân đối với Thiên Chúa khi họ quay về với Ngài? Điều này không có nghĩa rằng Chúa Giê-su không đánh giá cao sự kiên trung bền vững của những người công chính. Người đơn giản nhấn mạnh niềm vui của Thiên Chúa và các thánh về sự hoán cải của người tội lỗi. Đây rõ ràng là lời kêu gọi ăn năn sám hối, đừng bao giờ nghi ngờ Thiên Chúa sẵn lòng tha thứ.

Công Đồng Vatican II áp dụng dụ ngôn này vào phương cách các linh mục tiến hành công việc mục vụ của mình: “Linh mục hãy nhớ rằng mình phải tỏ cho các tín hữu và lương dân, cho người công giáo và ngoài công giáo thấy gương mặt tử tế và mục vụ của một thừa tác viên thật sự, phải minh chứng cho mọi người thấy chân lý và sự sống. Như mục tử tốt lành, linh mục còn phải đi tìm (x. Lc 15: 4-7) những người đã lãnh nhận phép rửa trong Giáo Hội Công Giáo nhưng đã xao lãng không lãnh nhận các Bí tích hay nhất là đã mất đức tin” (Vatican II, Lumen gentium, 28). Tuy nhiên, mỗi một tín hữu cũng phải có chung một mối bận lòng này – được diễn tả một cách huynh đệ – đối với anh chị em của mình, đối với mọi người trên con đường tiến bước đến sự thánh thiện và ơn cứu độ.

  1. Dụ ngôn: “Đồng bạc bị đánh mất”(15: 8-10)

Một người đàn bà chong đèn quét nhà moi móc tìm cho bằng được một đồng bị đánh mất rõ ràng là hình ảnh của một bà mẹ quê tần tảo chắt chiu từng đồng xu mà chúng ta thường gặp thấy ở bất kỳ đất nước nào. W. Baclay cung cấp cho chúng ta một lý do khác, một khía cạnh văn hóa thi vị như sau. Tại Pa-lét-tin, dấu hiệu của một người phụ nữ có chồng là một chiếc vành trên đầu làm bằng mười đồng tiền nhỏ bằng bạc xâu lại với nhau bằng một sợi dây bạc. Trong nhiều năm, một cô gái làm lụng để dành cho đủ mười đồng tiền nhỏ đó, bởi vì xâu chuỗi tiền trên đầu của nàng cũng đánh giá ngang bằng chiếc nhẫn cưới. Khi nàng đã sắm được nó, thì nó là của riêng nàng, đặc biệt đến nỗi người khác không thể đoạt được của nàng, và nếu có đánh mất một đồng tiền nhỏ thì phải tìm kiếm nó như bất cứ người nào khác cũng làm thế khi đánh mất chiếc nhẫn cưới (Trích từ “Tin Mừng theo Thánh Lu-ca”, 191).

Tác giả “Hạt Giống Nẩy Mầm” đã suy niệm hai dụ ngôn ngắn này cách sâu xa như sau: “Thật cảm động thái độ ân cần của người chăn chiên đối với con chiên bị lạc: chỉ vì một con chiên nhỏ trong bầy một trăm con mà đành bỏ mọi việc để chỉ làm một việc là đi tìm nó, tìm thấy rồi thì vác nó trên vai, mời bạn bè và hàng xóm đến chung vui. Thái độ của người đàn bà mất tiền cũng thế: chỉ một đồng quan mà tìm rất cực khổ và kỹ lưỡng: thắp đèn quét nhà, moi móc, và cũng mời bạn bè hàng xóm chung vui khi tìm thấy. Nhưng cảm động hơn nữa là cảnh trên thiên đàng: ‘Giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng, vì một người tội lỗi ăn năn sám hối’. Chúng ta hãy im lặng. Không cần suy nghĩ, chỉ chiêm ngưỡng, cảm xúc và cảm tạ tình thương vô biên của Chúa đối với tội nhân”.