Bài hát và Suy niệm (08.03.2020 – Chúa Nhật II Mùa Chay năm A)

CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY 2017

NL: CON NAY TRỞ VỀ

ĐC: HÃY HÂN HOAN

DL: CÒN GÌ DÂNG NGÀI 

HL: TÌNH YÊU THÁNH GIÁ

KL: CON TÌM VỀ VỚI MẸ

CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY 2020

NL: CON NAY TRỞ VỀ

ĐC: HÃY HÂN HOAN

DL: DÂNG CHÚA

HL: TÌNH YÊU THÁNH GIÁ

KL: NGUỒN CẬY TRÔNG

Lời Chúa: Mt 17,1-9

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu

1 Khi ấy, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. 2 Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. 3 Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. 4 Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” 5 Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !” 6 Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. 7 Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo : “Trỗi dậy đi, đừng sợ !” 8 Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi.

9 Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng : “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.”

 

MỤC LỤC 

1. Biến hình

2. Những sự việc bình thường

3. Núi Tabor hôm nay – ĐGM Cosma Hoàng Văn Đạt

4. Đỉnh cao hôm nay – Đỉnh cao ngày mai

5. Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

6. Thiên Chúa vẫn còn hiển dung

7. Hãy biết mình – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

8. Con đường thập giá con đường vinh quang

9. Lên núi cao – Lm Giuse Lê Minh Thông

10. Đức Giêsu – Con đường cứu độ duy nhất

11. Ý nghĩa đời sống ta là gì? – Achille Degeest.

***

1. Biến hình 

Chúa Giêsu vừa loan báo cho các môn đệ biết Ngài sẽ lên Giêrusalem. Và tại đây, Ngài sẽ bị giết chết. Cái tin đột ngột này chắc hẳn đã làm cho các ông lo lắng sợ hãi. Chính vì thế Ngài cảm thấy cần phải nâng đỡ tinh thần các ông bằng cách cho họ được nhìn thấy vinh quang của Ngài. Bởi đó, tám ngày sau, Ngài đã đưa ba môn đệ thân tín nhất lên núi cao và biến hình trước mặt các ông. Mặt Ngài chiếu sáng như mặt trời và áo Ngài trở nên trắng như ánh sáng. Lại có Maisen, Elia hiện ra đàm đạo với Ngài.

Đây là một cuộc hiển linh, tương tự như cuộc hiển linh trên núi Sinai. Ở đó, Thiên Chúa đã tỏ vinh quang Ngài cho Maisen và Elia. Hai vị, vào những thời điểm khác nhau, đã được thấy và nghe Chúa, hôm nay cũng hiện diện bên cạnh Chúa. Các ông ngã sấp xuống và rất sợ hãi. Rồi từ đám mây có tiếng phán. Tiếng ấy chúng ta đã từng được nghe bên bờ sông Giođan khi Chúa chịu phép rửa: Đây là Con Ta yêu dấu đẹp lòng Ta mọi đàng. Các ông ngây ngất vì chưa bao giờ được chứng kiến một cảnh tượng như thế. Phêrô lên tiếng nói, nhưng không hiểu là mình đã nói những gì.

Sở dĩ Giáo Hội đặt bài Phúc Âm về sự biến hình vào mùa Chay là để chúng ta thêm tin tưởng vào Chúa, cũng như để chúng ta có những giây phút nghỉ ngơi trước khi xuống núi, trở về với cuộc sống bình thản trên các nẻo đường phẳng lặng hay phủ đầy sóng gió dẫn tới đỉnh Canvê. Chúng ta cần được Chúa đến gần và đụng tới, như đã đến gần và đụng tới các tông đồ, để chúng ta thức tỉnh, để chúng ta biết thánh hoá những đau khổ trên đường đời.

Con đường thương khó của Chúa khởi đầu khi Người biến hình và xuống núi. Rồi đây, Người cũng sẽ biến hình, không còn hình tượng người ta nữa, để dạy cho chúng ta biết phải đi qua con đường thập giá mới đến vinh quang khải hoàn và sống lại.

Mục sư Cullman, là một nhà thần học Tin Lành, đã nói về cuộc khủhoảng sau Công đồng Vatican II như sau: Cuộc khủng hoảng hiện nay không phải chỉ xảy ra trong Giáo Hội Công giáo. Chính Giáo Hội Tin Lành chúng tôi cũng không thoát khỏi. Một trong những lý do đó là Kitô hữu đã không chấp nhận sự điên dại của thập giá như thánh Phaolô đã dạy. Họ muốn đua đòi khôn ngoan theo kiểu thế gian. Họ tránh né hy sinh, chạy trốn khó nghèo. Họ tìm lời khen, họ muốn được tự do theo ý riêng của họ. Họ muốn bước theo Chúa khi Ngài biến hình trên đỉnh Tabôrê, nhưng dừng lại bên ngoài vườn Cây Dầu, và nhất định không chịu trèo lên đỉnh Canvê. [Mục Lục]

2. Những sự việc bình thường 

“Này là con Ta yêu dấu, hãy nghe lời Ngài.”

Vào lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa, Ngài đã được giới thiệu như là Người Con chí ái và là Đấng cứu độ của nhân loại. Tại nơi chịu phép rửa, Chúa Giêsu đã lãnh lấy chức vụ người Tôi Tớ đau khổ, nhưng lại được Thánh Thần hướng dẫn. Còn trong cuộc biến hình hôm nay, Ngài đã được giới thiệu trong tư cách một vị tiên tri mà mọi người phải vâng nghe.

Tiếng bởi trời đã tỏ cho các tông đồ và qua các tông đồ, cho mỗi người chúng ta nhận biết về Đức Kitô. Thế nhưng sau những giây phút bàng hoàng và sợ hãi, các tông đồ chỉ còn thấy Chúa Giêsu trở về với vóc dáng cua một con người bình thường, quang cảnh huy hoàng với Môsê và Elia đã biến mất. Đấng mà các ông vừa mới được chiêm ngưỡng sự vinh quang, Đấng mà các ông vừa mới được kêu gọi vâng phục chính là Chúa Giêsu nhưng trong điều kiện làm người của Ngài.

Chúng ta rất dễ bị lôi cuốn, hấp dẫn bởi những cái ngoạn mục, những cái vượt ra ngoài ranh giới thông thường. Trong Tin Mừng chúng ta thấy ông Phêrô, sau khi được thấy mặt Thầy chiếu sáng như mặt trời và áo Thầy trở nên trắng như ánh sáng, rồi Thầy lại còn đàm đạo cùng Môsê và Elia, đã vội vàng đề nghị: Chúng con được ở đây thì tốt lắm, nếu Thầy muốn, chúng con xin làm ba lều, một thầy Thầy, một cho Môsê và một cho Elia.

Nhưng hiện tại vẫn phải là con đường xuống núi, tiếp tục tiến về Giêrusalem, đối diện với cái chết. Hiện tại chưa phải là lúc dừng lại trong vinh quang. Cuộc sống vẫn phải là cuộc hành trình của niềm tin, của sự gắn bó với Chúa Giêsu, dù rằng Ngài đang tiến đến thập giá. Vinh quang chỉ có thể đến ngang qua đau khổ.

Với sự kiện Chúa biến hình trên núi, các tông đồ như được thêm sức mạnh để cùng đi với Ngài trong đoạn đường còn lại. Nhiều người trong chúng ta rất dễ dàng đón nhận những lời nói của ông thánh này bà thánh nọ phán dạy qua những lần hiện ra ở chỗ này, chỗ khác, như những lời nói đáng tin cậy nhất với những việc lạ lùng kèm theo. Thế nhưng trong chương trình của Chúa, Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta, Ngài đã giảng dạy bằng những hình ảnh hết sức bình thường và quen thuộc, chẳng hạn hình ảnh chim trời, cây vả, mẻ lưới, tiệc cưới… Chính Ngài cũng đã sống những điều ngài giảng dạy một cách thật bình thường, cho dù Ngài đủ khả năng lôi cuốn dân chúng bằng những việc lạ lùng. Chẳng hạn như sau khi làm phép lạ cho bánh hoá nhiều, thì dân chúng muốn tôn Ngài lên làm vua, nhưng Ngài đã dứt khoát từ khước.

Ngày hôm nay, Chúa vẫn tiếp tục nói với chúng ta qua những sự việc thật bình thường của cuộc sống, điều quan trọng là chúng ta có biết lắng nghe và vâng phục thánh ý Ngài hay không? [Mục Lục]

3. Núi Tabor hôm nay – ĐGM Cosma Hoàng Văn Đạt

Chúa Giêsu dẫn các môn đệ đi Giêrusalem. Trên đường, Chúa lên một ngọn núi để cầu nguyện. Có lẽ đó là núi Tabor ở Galilê. Có ba môn đệ thân tín theo Chúa. Chúa đã hiển dung trước mặt các ông.

Trước núi Tabor, Chúa Giêsu đã từng lên hai ngọn núi khác. Trước hết là Chúa giảng Hiến Chương Nước Trời trên núi quen gọi là núi Bát Phúc. Sau khi cho hoá bánh ra nhiều nuôi dân, họ muốn tôn Chúa làm vua, Chúa đã lên núi cầu nguyện một mình. Sau núi Tabor, Chúa cũng lên hai ngọn núi khác: núi Sọ là nơi Chúa chịu chết trên thập giá và núi Ôliu là nơi Chúa từ biệt các môn đệ mà lên trời. Có thể nói núi Tabor đã được chuẩn bị bằng hai ngọn núi trước và chuẩn bị cho hai ngọn núi sau. Hiển Dung là cao điểm của cuộc đời rao giảng và là khởi điểm của cuộc Vượt Qua.

Người xưa tin rằng Thiên Chúa ở trên trời; núi cao, nên gần trời; vì thế người ta lên núi sẽ dễ gặp Chúa hơn. Tổ phụ Abraham lên núi hiến tế Isaac. Ông Môsê lên núi nhận bia giao ước. Ngôn sứ Êlia lên núi gặp Thiên Chúa. Thực tế là lên núi dễ gặp Chúa hơn thật:

– Thanh vắng, yên tĩnh, xa gia đình, bạn bè, phố chợ;

– Trên cao, thấy rõ công trình của Thiên Chúa trong thiên nhiên hùng vĩ hơn: mặt trời, bầu trời, trăng sao, núi sông, bình minh, hoàng hôn…

– Trên cao, thấy công trình của con người nhỏ bé hơn, vì thế dễ từ bỏ hơn.

Lên núi là điều không dễ, nhưng đem lại cho chúng ta những niềm vui mà chỉ những ai lên núi mới cảm nghiệm được. Hôm nay Chúa Giêsu vẫn mời gọi chúng ta lên núi để chiêm ngắm Chúa hiển dung: ngay bên cạnh chúng ta, Chúa vẫn đang yêu thương người đau khổ, tha thứ cho kẻ tội lỗi, hy sinh cho người mình yêu. Đồng thời Chúa cũng mời gọi chúng ta trở nên núi Tabor mới để Chúa hiển dung. Thánh Phaolô kêu gọi các tín hữu mặc lấy Đức Kitô, trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Trong cuộc Vượt Qua, khuôn mặt thể lý của Chúa không còn hình dạng con người, nhưng khuôn mặt của Thiên Chúa tình yêu lại chói sáng trước mắt mọi người trong mọi thời đại.

Một thường dân Nhật Bản được Nhật Hoàng mời vào hoàng cung dùng cơm chung vì đã lấy máu mình vẽ chân dung Nhật Hoàng. Chúa Giêsu lấy máu mình để vẽ chân dung Thiên Chúa và được hưởng vinh quang Phục Sinh. Xin Chúa giúp chúng ta dùng cuộc sống của mình để vẽ chân dung Chúa trong thế giới hôm nay. [Mục Lục]

4. Đỉnh cao hôm nay – Đỉnh cao ngày mai

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật)

Bên kia những thực tại hữu hình

Bản văn của thánh Mát-thêu trình bày một kinh nghiệm thần bí vượt trên những thực tại hữu hình, qua những con người và biểu tượng. Bản văn là một mặc khải về một mầu nhiệm: căn tính của Đức Giêsu.

Nơi chốn: “một nơi riêng”, “một ngọn núi cao”. Đây không phải là một địa điểm cụ thể về địa dư. Có thể lấy làm tiếc vì một truyền thống muôn thời đã muốn xác định về một nơi rõ ràng, bởi vì việc Tin Mừng không nói rõ nơi chốn có thể có nghĩa là mặc khải này sẽ xảy ra ở mọi nơi.

Đàng khác, “ngọn núi cao” luôn luôn là một nơi đặc biệt; tại đó đất dường như nối liền với trời, và cũng tại đó, con người vừa cảm nghiệm được sự bé nhỏ của mình, đổng thời vừa muốn vươn mình tới những chiều kích bao la của vũ trụ.

Thời gian: đã được xác định rõ là 6 ngày sau khi Đức Giêsu báo trước cho các Tông Đổ về cuộc Khổ Nạn. Tuy nhiên, cuộc Hiển Dung còn có ý nghĩa lớn lao hơn: nối kết giữa quá khứ (Môsê + Êlia) và tương lai (Đức Kitô phục sinh). Đây là một thời gian vượt-thời-gian.

Các nhân vật: thái độ của các môn đệ (theo Đức Giêsu, muốn ở lại, sự kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất) cho thấy một sự đảo lộn, một ý thức do một nhận biết không thể diễn tả nổi về thực tại nơi Đức Kitô. Con đường này trở thành con đường của các môn đệ sau khi Đức Kitô phục sinh, đổng thời cũng là con đường của tất cả mọi Kitô hữu.

Một bức tranh để chiêm ngắm

Việc Đức Giêsu biến đổi hình dạng không phải chỉ là một trình thuật để nghe, nhưng còn là một bức tranh để chiêm ngắm, tựa như hình ảnh ngắn ngủi về một thế giới thần thiêng và bí nhiệm, rất gần gũi mà cũng rất xa xăm. Trên dung nhan của con người đang bị bóng tối tử thần đe dọa, đã bừng lên ánh sáng chói lòa của ngày Phục Sinh.

Biến cố Hiển Dung xảy ra sau khi Đức Giêsu báo trước cuộc Khổ Nạn của Người cũng như việc dự phần của các môn đệ: biến cố này nhằm củng cố lòng tin của ba vị tông đổ sẽ có mặt vào những giờ phút cuối cùng của Đức Giêsu tại vườn cây Dầu (Mc 14,33). Thật ra, đây không phải là lần đầu tiên ba vị này được “đi riêng” với Đức Giêsu; ba vị đã từng được chứng kiến việc Đức Giêsu làm cho con gái ông trưởng hội đường sống lại (Mc 5,37).

Tuy vậy, sự kiện này còn có ý nghĩa quan trọng hơn với mỗi vị. Trước hết, với Phêrô, người sẽ được trao quyền lãnh đạo Giáo Hội: từ đây, ông sẽ phải học ý nghĩa đau khổ theo Thiên Chúa và thay thế tư tưởng nhân loại bằng tư tưởng thần linh. Thứ đến, với Gia-cô-bê, vị tử đạo tiên khởi: ông sẽ hân hoan đỗ máu để làm chứng vì ông đã tận mắt nhìn thấy vinh quang Thiên Chúa. Cuối cùng, với Gio-an, người môn đệ được Đức Giêsu yêu dấu: ông sẽ phải học biết rằng, đau khổ là bằng chứng của tình yêu.

Như vậy, ba vị cột trụ trong sinh hoạt của Giáo Hội thời đầu, nhờ kinh nghiệm sâu xa về vinh quang Thiên Chúa, sẽ làm chứng một cách sống động về Đức Giêsu, Đấng đã đi qua con đường đau khổ để bày tỏ lòng yêu mến và đem lại ơn cứu độ.

Thình lình, các ông đã được chứng kiến Đức Giêsu biến đổi hình dạng. Tác giả đã dùng thuật ngữ khải huyền để mô tả vinh quang Thiên Chúa xuất hiện trên dung nhan Đức Giêsu. Điều đáng nói ở đây là ánh sáng vinh quang mà các môn đệ nhìn thấy nơi Đức Kitô, không phải là điều gì đến từ bên ngoài, nhưng là sự biểu lộ bình thường của vẻ đẹp vẫn gắn liền với “Đấng từ trời xuống”. Do đó, điều gây ngạc nhiên không phải là ánh sáng rạng ngời đó đã bao phủ Đức Giêsu trong chốc lát, nhưng là sự che giấu ánh sáng đó trong những lúc khác. Như vậy, Đức Giêsu đã che giấu vinh quang của Người, và giờ đây, trong một khoảng thời gian ngắn, Người rời bỏ nhân tính để con người có thể chiêm ngắm vinh quang của Người; và nhờ đó, họ nhận ra căn tính đích thực của Đức Giêsu: Con Thiên Chúa.

Đang khi Đức Giêsu bày tỏ Thiên tính của Người, thì Môsê, vị anh hùng của Lề Luật, và Êlia, thủ lãnh các ngôn sứ, đã đến đàm đạo với Người. Sự hiện diện của hai chứng nhân thời Cựu Ước cho thấy tính siêu việt của thời đại cuối cùng, đổng thời loan báo Vị Ngôn Sứ thiên hạ vẫn mong chờ, nay đã xuất hiện.

Ngoài ra, nội dung cuộc đàm đạo giữa Đức Giêsu với Môsê và Êlia không phải là những điều Người đã giảng dạy, nhưng là cuộc Khổ Nạn của Người. Đó chính là nhiệm vụ của Người, Đấng hoàn tất Lề Luật và lời loan báo của các Ngôn sứ. Việc loan báo đã kết thúc, và Đấng phải đến đã đến để thực hiện công cuộc cứu độ.

Cuối cùng, sự hiện diện của Chúa Cha qua đám mây và tiếng nói là một xác nhận rõ ràng và dứt khoát về sứ mệnh của Đức Giêsu.

Ở đây, cũng như trong biến cố phép Rửa, vẫn là sự giới thiệu sâu sắc về Đấng phải đến để thực hiện lời hứa của Thiên Chúa dành cho dân Người. Lời giới thiệu này cho thấy mối hiệp thông sâu xa và bất khả phân ly giữa Chúa Cha và Chúa Con. Tuy thế, lời giới thiệu trong biến cố Hiển Dung còn thêm lệnh truyền “hãy vâng nghe lời Người”. Hãy nghe lời Đức Kitô, hãy đón nhận tất cả những gì Người sẽ thực hiện, cả vinh quang và đau khổ, cả sức mạnh lẫn yếu đuối, cả sự chết lẫn sự phục sinh. Đó là ơn cứu độ.

Hãy rời ngọn núi, tiếp tục con đường

Một tuần lễ trước khi xảy ra biến cố này, Phêrô đã thử tìm một con đường dẫn đến vinh quang mà không có Thập giá. Giờ đây, ông nghĩ rằng việc Hiển Dung có thể là con đường tắt để thực hiện ơn cứu độ. Ông hiểu đôi chút về điều đang xảy ra, có một cái gì đó rất lớn lao, và một lần nữa, ông cố gắng thuyết phục Đức Giêsu đừng đi Giêrusalem, bằng cách xin dựng lều ở trên núi này. Với Đức Giêsu, vinh quang hôm nay chỉ là chốc lát, chỉ là khởi đầu, chỉ là lời báo trước cho vinh quang vĩnh cửu sau cuộc Khổ Nạn. Còn với Phêrô, đây là vinh quang của ơn cứu độ, và ông phải dấn mình vào: ông tưởng rằng không cần có thập giá vẫn có vinh quang. Mãi đến sau này, sau biến cố Phục Sinh, ông mới hiểu rõ và thuật lại toàn bộ sự kiện (xem 2 Pr 1,16-20).

Bởi vậy, trước khi đạt đến vinh quang đích thực, Đức Giêsu phải rời ngọn núi để tiếp tục con đường lên Giêrusalem. Ngài còn phải đến vườn cây Dầu, còn phải lên đồi Gôn-gô-tha. Mặc dù bóng tối của đổi Gôn-gô-tha có che khuất khuôn mặt vinh quang, như là chẳng còn nhìn thấy gì, chẳng còn chi hi vọng; nhưng điều đó chỉ xảy ra trong giây lát, trong một thời gian ngắn. Ánh sáng đã một lần bừng lên thì không phải là điều ảo tưởng, điều đã xảy ra trên núi không phải là giấc mơ. Biến cố Phục Sinh sẽ cho thấy rằng sự sống có thể nảy sinh từ sự chết.

Biến cố Hiển Dung của Đức Giêsu thực là một kinh nghiệm cho tất cả những ai muốn cùng được tham dự vào vinh quang của Người: Chính kinh nghiệm này là chìa khóa, là sức mạnh giúp chúng ta dám chấp nhận những hi sinh, những từ bỏ để càng lúc càng gắn bó hơn với Đức Kitô. Biến cố này thực là một cuộc xuất hành tiến về Đất Hứa, xuyên qua những thử thách. Ai không chấp nhận xuất hành, không cùng đi với Đức Giêsu trên con đường lên Giêrusalem, người ấy sẽ không được tham dự vào vinh quang vĩnh cửu. Mỗi người sẽ có thể có một kinh nghiệm nào đó về Đức Giêsu, nhưng đó chưa phải là tất cả. Đỉnh cao này còn chờ một đỉnh cao nữa. [Mục Lục]

5. Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

MẮT ĐỨC TIN, MẮT CỦA TRÁI TIM

Có nhiều điều ta nhìn mà không thấy. Ví dụ: tình yêu, tình bạn, tình mẫu tử. Ta chỉ thấy những dấu hiệu của tình yêu như: sự âu yếm, quà tặng, sự quên mình. Còn chính tình yêu thì ta không thấy. Điều chính yếu thì vô hình. Ta chỉ thấy được bằng trái tim.

Có nhiều điều ta chỉ thấy bề mặt mà không thấy bề sâu. Ví dụ như con người. Khi nhìn một người, ta chỉ thấy diện mạo, hình dáng bên ngoài. Ít khi ta thấy được tâm tư tình cảm của người khác, kể cả những người thân yêu sống kề cận bên ta. Linh hồn người ta không ai thấy bao giờ. Vì linh hồn thiêng liêng. Ta chỉ thấy được bằng đức tin.

Chúa Giêsu xuống thế làm người đã trở nên giống như một người phàm. Người che giấu thần tính vinh quang sáng láng trong một thân xác nghèo hèn, bình thường. Không ai nhận ra thần tính của Người. Ngay cả các môn đệ luôn luôn kề cận bên Người.

Hôm nay, khi Chúa tỏ mình ra các ông chới với ngỡ ngàng. Lòng các ông tràn ngập niềm vui khi nhìn thấy vinh quang của Chúa Giêsu. Thần tính vinh quang phát lộ rực sáng. Và nhân tính được tôn vinh. “Diện mạo Chúa Giêsu chói lọi như mặt trời và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng”.

Thần tính Chúa Giêsu biểu lộ chứng thực Người là Thiên Chúa ẩn mình. Thì ra manh áo đơn sơ của bác thợ mộc che giấu cả một nguồn ánh sáng chói lọi. Tấm thân dân dã nghèo hèn lại là chiếc bình chứa đựng Ngôi Hai Thiên Chúa cao sang.

Ánh sáng thần tính rọi vào nhân tính đem lại cho ta bao niềm hi vọng. Vì nhân tính của Chúa Giêsu gánh lấy cả nhân loại trên mình, nên ánh sáng thần linh cũng soi rọi cả vào chúng ta, vào thế giới tăm tối của tội lỗi, yếu hèn, vào thân xác rã rời mệt mỏi của ta.

Ánh sáng ấy cho tôi hiểu rằng, Thiên Chúa đang ẩn tàng trong vạn vật. Người ở nơi thâm sâu nhất của hữu thể tôi như thánh Augustinô đã cảm nghiệm: “Người ởi bên trong, còn tôi ở bên ngoài”.

Người ẩn tàng trong mọi quan hệ, trong mọi niềm vui, trong mọi tình bạn, trong mọi tình yêu. Bởi vì hạnh phúc là gì nếu không phải đi tìm cái cốt lõi, là nguồn mạch của hạnh phúc, là chính Thiên Chúa hằng sống.

Ánh sáng ấy ngầm nói với tôi rằng: Vinh quang Thiên Chúa như hạt giống đang vùi chôn trong lòng tất cả mọi anh em sống quanh tôi. Vinh quang ấy đang bị che khuất đàng sau những mái tranh thô sơ, những thân thể gầy guộc, những ánh mắt mệt mỏi lờ đờ.

Nhận thức ấy thôi thúc tôi trở về tìm Chúa trong đáy lòng mình. Càng bóc đi lớp vỏ tội lỗi, dung nhan Thiên Chúa càng hiện rõ. Càng chìm sâu vào nội tâm thinh lặng, tôi càng tới gần Chúa.

Nhận thức ấy giúp tôi kính trọng anh em vì anh em là những cung thánh đền thờ nơi Thiên Chúa ngự trị, là những vườn ươm hạt mầm thần linh, là những bình sành chứa đựng kho tàng cao quý.

Như thế, sống Mùa Chay là thực hiện một hành trình nọi tâm: trở về đáy lòng mình để gặp được Chúa.

Ăn chay là đến với anh em bằng thái độ kính trọng, là bảo vệ hạt mầm thần linh đang đâm chồi nảy lộc trong các tâm hồn.

Chương trình hành động trong Mùa Chay là tiếp tay đem ánh sáng thần linh của Chúa Kitô soi chiếu vào những mảnh đời tăm tối, những thân phận hẩm hiu. Sao cho dung nhan nhân loại chói ngời ánh sáng nhân phẩm, ánh sáng văn hoá, ánh sáng lương tâm và ánh sáng thần linh.

Như thế ta đang công tác vào việc biến hình thế giới. Như thế ta đang bước theo chân Chúa Kitô, đưa nhân loại vào hành trình phục sinh.

Lạy Chúa Kitô, xin ban cho con đức tin mạnh mẽ để con nhìn thấy Chúa trong anh em. Xin ban cho con trái tim bén nhạy để con nhìn thấy những thực tại vô hình. Amen. [Mục Lục]

6. Thiên Chúa vẫn còn hiển dung 

(Trích từ ‘Cùng Đọc Tin Mừng’ – Lm. Ignatiô Trần Ngà)

Nếu bạn là một người từ hành tinh khác vừa mới đáp xuống địa cầu lần đầu tiên, ắt bạn sẽ thấy trái đất nầy quá đỗi nhiệm mầu: ngay cả mỗi chiếc lá, mỗi chiếc vỏ sò, mỗi cánh bướm, mỗi bông hoa… đều có một sắc thái riêng, một vẻ đẹp riêng thật quyến rủ, thật nhiệm mầu và bạn cảm thấy tâm hồn ngây ngất vì vẻ đẹp lạ lùng của chúng.

Thế nhưng trong thực tế, không mấy ai có thể cảm nhận được vẻ đẹp nhiệm mầu của những tạo vật như thế. Tại sao?

Vì mỗi lần nhìn vào những sự vật chung quanh, chúng ta không nhìn chúng bằng cặp mắt đầy ngạc nhiên của trẻ thơ, bằng ánh mắt của người mới thấy sự vật lần đầu; chúng ta không nhìn chúng y như chúng là, nhưng chúng ta để cho những hình ảnh ta có về chúng (vốn có sẵn trong tâm trí ta) phóng hiện ra bên ngoài và bao phủ lên những vật đó.

Thế là vạn vật chung quanh ta trở thành cũ rích và nhàm chán, vẻ đẹp tinh khôi nhiệm mầu của chúng đã bị hình ảnh ta có về chúng phóng rọi ra che phủ nên không còn hiển dung ra được nữa. Một trong những nổ lực của thiền nhân là thanh tẩy cái nhìn mang tính chủ quan của mình về ngoại giới để có thể cảm nhận được vạn vật đúng với bản chất của nó. Lúc đó, sự kỳ diệu của thế giới sẽ hiện nguyên hình.

Trong cuốn sách The Golden String, văn sĩ người Anh Bede Griffiths mô tả lại một khám phá diệu kỳ của ông khi còn là một cậu học sinh.

Một buổi chiều hè, Bede Griffiths ung dung thư thái dạo chơi ở bìa rừng. Trong lúc thơ thẩn một mình bỗng dưng cậu nhận ra tiếng hót líu lo của đàn chim trên tàng cây mới tuyệt vời làm sao! Cậu rất ngạc nhiên vì từ hồi nào đến giờ chưa bao giờ được nghe chúng hót hay đến thế.

Đang lúc tiếp tục bước tới, cậu gặp thấy những đoá hoa của những bụi táo gai như đang mỉm cười niềm nở chào đón cậu trông dễ thương lạ lùng và đang toả hương trong gió. Bede cũng rất ngạc nhiên vì từ trước tới nay cậu đã từng thấy những bông hoa như thế nở rộ cả trăm lần mà không hề nhận ra vẻ đẹp tinh khôi và hương thơm dịu dàng của chúng.

Sau cùng cậu tìm đến một nơi yên tĩnh, đứng tựa vào thân cây, lặng ngắm vầng kim ô đang dần dần chìm xuống sau rặng núi lam cuối chân trời. Bỗng chốc cậu cảm thấy trời đất vô cùng huyền diệu và bất giác cậu nghiêng mình quì gối xuống biểu lộ một niềm cảm xúc rất thánh thiêng: cậu vừa trải nghiệm được sự hiện diện rất nhiệm mầu của Thiên Chúa trong tạo vật của Ngài.

* * *

Theo Tin Mừng Matthêu được trích đọc hôm nay, chiều hôm ấy trên núi cao, ba môn đệ Phêrô, Gioan và Giacôbê cũng có những trải nghiệm tuyệt vời về Chúa Giêsu. Cũng vẫn là Chúa Giêsu bằng xương bằng thịt mà các ông vẫn thường gặp gỡ tiếp xúc hằng ngày, nhưng lần nầy, các ông lại nhìn thấy Ngài dưới một dung mạo mới: thật sáng ngời, thật hấp dẫn và đầy uy nghi, lại có cả Môi-sê và tiên tri Êlia hiện ra đàm đạo với Ngài.

Lòng đầy hoan lạc, các ông không muốn cho giây phút mầu nhiệm đó trôi đi. Các ông muốn níu kéo khoảnh khắc thần tiên ấy lại nên Phêrô thay mặt anh em thưa với Chúa Giêsu: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia.”

* * *

Hôm nay, Thiên Chúa vẫn hiển dung dưới thiên hình vạn trạng nhưng vì đôi mắt chúng ta bị che phủ nên không nhận ra Ngài.

* Vinh quang của Thiên Chúa vẫn được hiển dung (được tỏ bày) trong các tạo vật của Ngài, qua bầu trời lung linh ánh sao đêm hay những áng mây rực rỡ ban ngày, qua những cánh đồng, những khe suối và rừng cây, qua tiếng chim ca, qua bông hoa đang nở, qua mọi tạo vật chung quanh…

Vua Đavít cảm nhận được vinh quang ấy rạng ngời lên trong vũ trụ nên đã thốt lên:

“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa.

Không trung loan báo việc tay Người làm” (Tv 19, 2)

* Tình yêu của Thiên Chúa được hiển dung (được tỏ bày) rõ nét nơi tình thương chan chứa của người cha ngày đêm lao nhọc vì con, qua sự hi sinh miệt mài của người mẹ, vắt kiệt sức mình để chăm lo cho đàn con khôn lớn…

* Mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa cũng được hiển dung nơi các gia đình đấm ấm thuận hoà, chan chứa yêu thương hiệp nhất.

* Và đặc biệt, Thiên Chúa vẫn hiển dung rạng ngời nơi những anh chị em cùng sống với ta, nhưng tiếc thay, chúng ta không cảm nhận được, nên bỏ lơ, nên thờ ơ và không còn muốn dựng lều chung sống với những hiện thân của Chúa chung quanh chúng ta.

Thông thường, chúng ta nhìn đời, nhìn người qua cặp kính màu đen nên chúng ta chỉ thấy được khía cạnh u tối của người đời. Xin Chúa thanh tẩy nhãn quan chúng ta để có thể nhận ra mọi người là hiện thân của Thiên Chúa, là chi thể của Chúa Giêsu.

Ba môn đệ nhận ra Thiên Chúa hiển dung nơi thân phận người phàm của Đức Giêsu thì chúng ta cũng xin Chúa cho chúng ta được nhận ra Chúa hiển dung nơi những anh chị em đang sống chung quanh, nhờ đó, chúng ta sẽ cảm nhận được hạnh phúc chan hoà vì được sống cùng, sống bên nhau và có thể nói như thánh Phêrô xưa: chúng con được ở chung với nhau nơi đây thì thật là hạnh phúc. (Mt 17,4) [Mục Lục]

7. Hãy biết mình – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền 

Cái quý nhất của con người là được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa. Cái hạnh phúc lớn nhất của con người là gìn giữ nét đẹp cao qúy đó nơi phẩm giá làm người của mình. Và điều cần thiết nhất để có một cuộc sống tốt với mọi người là nhận ra tha nhân cũng chính là hình ảnh của Thiên Chúa.

Thế nhưng, nhiều người đã phủ nhận điều cao qúy nơi phẩm giá làm người của mình. Họ không tin rằng có Thiên Chúa. Họ chối từ sự sống thần linh mà Thiên Chúa đã ban cho con người. Từ đó người ta cũng không lo gìn giữ cái đẹp của phẩm giá làm người của mình. Họ chỉ thấy con người là một loài vật có ăn có uống. Thế giới của họ là một thế giới mạnh thắng, yếu thua, và “cá lớn nuốt cá bé”. Họ không nhận ra sự liên đới giữa người với người đều là hình ảnh Thiên Chúa, cần phải tôn trọng và sống tốt với nhau. Con người đã tự khước từ phẩm giá cao qúy là hình ảnh Thiên Chúa nên cũng dễ dàng từ khước nhau và đầy đoạ lẫn nhau. Thế giới vẫn đầy những bất công và hận thù. Con người vẫn vì những tham sân si mà làm hại lẫn nhau.

Có một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: Ngày xưa thỏ và sư tử sống gần nhau, nhưng sư tử rất kiêu ngạo, vẫn cho mình là to khoẻ nên xem thường loài thỏ. Sư tử thường mắng thỏ và doạ nạt thỏ suốt ngày. Thỏ tức mình không chịu nổi mới nghĩ ra cách báo thù.

Một lần kia nó nói với sư tử rằng:

– Thưa ông anh, em vừa gặp một thằng to lớn và trông giống anh lắm. Nó bảo em rằng: “Trên đời này nó chưa sợ ai, và cũng chưa ai dám đối mặt với nó”. Thằng cha này không coi ai ra gì cả!

Sư tử tức giận và bảo rằng:

– “Thế mày có nhắc đến tên tao không?”

Thỏ trả lời:

– Sao lại không? Em vừa nhắc đến tên anh thì nó lồng lộng lên và bảo rằng anh chỉ đáng đàn em nó thôi.

Sư tử càng tức điên người lên và hỏi:

– Nó ở đâu? dẫn tao đến ngay.

Thỏ liền dẫn sư tử ra sau núi, và chỉ một cái giếng ở đàng xa và bảo: Đấy, nó ở trong đó đấy!

Sư tử đi lại gần giếng vẻ mặt căm tức nhìn xuống đáy giếng. Quả thực, nó trông thấy ngay một tên, với cặp mắt giận dữ đang trừng trừng nhìn nó. Sư tử rống lên một tiếng, tên kia cũng rống lên một tiếng. Sư tử xù lông cổ lên tên kia cũng xù lông cổ lên. Sư tử nhe nanh múa vuốt đe doạ, tên kia cũng hăm dọa lại. Sư tử căm tức đến tột độ dồn hết sức mình nhảy phốc xuống giếng để cho thằng khốn nạn kia một trận. Thế là, con sư tử ngạo mạn tự huỷ diệt đời mình dưới giếng sâu…

Thất bại của sư tử là không nhận ra mình nên đã lao vào cắn xé chính hình ảnh của mình. Sư tử chỉ muốn nhất. Sư tử chỉ muốn làm bá chủ nên sẵn sàng loại trừ tất cả các đối thủ có nguy cơ nguy hại đến vị trí số 1 của mình.

Nếu con người của mọi thời đại biết nhìn nhận mình là hình ảnh của Thiên Chúa và mọi người là anh em với nhau, sẽ có những cách hành xử tốt với nhau hơn. Nếu con người nhận ra hình ảnh Chúa nơi tha nhân, chắc chắn sẽ không đối xử tàn bạo với nhau. Nhưng tiếc thay, nhiều người chỉ muốn làm chúa sơn lâm nên lao đầu vào cắn xé đồng loại, hành hạ đồng loại của mình và sẵn sàng làm đủ trò để loại trừ đồng loại. Chồng đánh đập vợ. Cha mẹ đánh đập con cái. Anh em đầy đoạ nhau. Hàng xóm láng giềng đáng lẽ “tối lửa tắt đèn có nhau”, nhưng lại “bới lông tìm vết” và làm hại lẫn nhau.

Hôm nay, lễ Chúa hiển dung nghĩa là Chúa tỏ hiện đúng dung nhan thật của Ngài. Một dung nhan thánh thiện rạng ngời mà bấy lâu nay nhân tính đã che phủ thiên tính của Ngài. Một dung nhan tinh tuyền của một vì Thiên Chúa là Thánh, ngàn trùng chí thánh đến nỗi cả ba môn đệ đều ngây ngất vì được chiêm ngắm dung nhan thật của Thầy Giêsu. Ba môn đệ đã cúi mình kính phục trước dung nhan thật của Chúa Giêsu. Đó chính là sứ điệp mà mùa chay đang mời gọi chúng ta: hãy tỏ hiện dung nhan thật của chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa ra lời nói và việc làm của mình. Hãy thể hiện sự thánh thiện của hình ảnh Thiên Chúa nơi chính mình để anh em được chiêm ngưỡng. Hãy biểu lộ lối sống “nhân chi sơ tính bản thiện” của phẩm giá làm ngừơi để anh em được hạnh phúc khi sống với chúng ta.

Mùa chay là mùa mời gọi chúng ta hãy tìm lại hình ảnh ban đầu của tạo dựng. Hãy gạn đục khơi trong để hình ảnh của Chúa luôn tỏ hiện ra nơi bản thân của chúng ta. Hãy tìm lại hình ảnh tinh tuyền ban đầu của mình, một hình ảnh chưa bị lòng ham muốn danh lợi thú làm hoen ố, mới thấy phẩm giá cao đẹp của con người thật cao qúy hơn muôn loài. Có ý thức được sự cao qúy nơi phẩm giá làm người mới biết trân trọng và gìn giữ cho mình và cho anh em. Phẩm giá con người cao qúy hơn mọi danh lợi thú trần gian, thế nên đừng bao giờ vì một chút bổng lộc trần gian, một chút vui sướng mau qua mà đánh mất phẩm giá của mình và làm tổn thương đến phẩm giá của tha nhân.

Xin Chúa giúp chúng ta can đảm tẩy rửa những bợn nhơ tội lỗi làm hoen ố lương tri, và xin Chúa thêm ơn trợ giúp để chúng ta luôn gìn giữ nét đẹp nơi phẩm giá làm người của mình và của tha nhân. Amen. [Mục Lục]

8. Con đường thập giá con đường vinh quang 

Tuần trước chúng ta đã cùng với Chúa Giêsu lên núi để chịu ma quỷ cám dỗ. Đáng tiếc cho ma quỷ là nó không làm gì được Chúa Giêsu. Chỉ vì Người một mực chọn và làm theo lời dạy của Chúa Cha. Chúa Nhật hôm nay chúng ta tiếp tục cùng ba môn đệ theo Chúa Giêsu lên núi. Nếu như tuần trước chúng ta thấy Chúa Giêsu có vẻ yếu đuối bao nhiêu thì hôm nay Người trở nên mạnh mẽ oai quyền bấy nhiêu. Chúa Giêsu đã trở về tình trạng vinh quang của Người: “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17, 2b).

Với vinh quang này, ba môn đệ cảm thấy rất thích nên Phêrô đã không ngần ngại thưa: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay!” (Mt 17, 4b). Liền sau đó là tiếng Chúa Cha từ đám mây phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (Mt 17, 5b). Chúa Cha rất hài lòng về Chúa Giêsu. Vì Người đã vui lòng đón nhận con đường mà Chúa Cha đã vạch sẵn cho. Con đường ấy chính là con đường thập giá. Cũng chính con đường thập giá ấy mới là con đường vinh quang đích thật. Và rồi Chúa Cha cũng muốn mời gọi ba môn đệ và tất cả chúng ta hãy đi theo con đường Thập giá cùng với của Thầy mình.

Chúa Giêsu cũng là Thiên Chúa thật nên vinh quang mà chúng ta chiêm ngưỡng là điều bình thường. Điều đáng nói là vì thương và vì muốn đem lại ơn cứu độ cho con người chúng ta, nên Chúa Giêsu đã đón nhận con đường thập giá ấy. Chúng ta thấy không bao giờ Chúa Giêsu kêu gọi người ta làm gì mà chính Người đã không làm trước. Chẳng hạn khi Người kêu gọi hãy tha thứ thì chính Người cũng đã tha thứ cho những kẻ đã bắt bớ, đã sỉ nhục mình: “Lạy Cha xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”. (Lc 23, 34. Cho nên, nếu Chúa Giêsu đã đi con đường thập giá thì những ai muốn theo Người không thể đi đường khác được. “Ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ chính mình vác thập giá mình mà theo Thầy” (Mt 16, 24 ).

Vậy đâu là con đường thập giá. Đó là con đường từ bỏ những ý riêng của mình mà sống theo thánh ý Chúa Cha. Bài đọc 1 cho thấy ông Abram được Thiên Chúa mời gọi: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” ( St 12, 1b). Thật là một lời mời gọi hết sức vô lý theo cái nhìn của chúng ta. Tuy nhiên, ông đã vâng lời Chúa để ra đi mà không một lời phàn nàn. Nhờ đó mà ông đã trở thành Tổ phụ của nhiều dân tộc.

Hằng ngày trong cuộc sống chắc chắn có rất nhiều điều trái ý nhưng nếu biết đó là thánh ý Chúa Cha, chúng ta hãy tin tưởng mà bước đi. Bước đi như thế là chúng ta đang đi theo Chúa Giêsu – vị Thầy Chí Thánh của chúng ta. Bước theo con đường thập giá cũng chính là con đường vinh quang. [Mục Lục]

9. Lên núi cao – Lm Giuse Lê Minh Thông 

LÊN NÚI CAO ĐỂ THẤY CÁI KHÔNG THỂ MÔ TẢ, ĐỂ NGHE LỜI PHÁT RA TỪ ĐÁM MÂY.

Dẫn nhập

Bài Tin Mừng “Biến đổi hình dạng ở trên núi” (Mt 16,1-9) nằm giữa hai lần Đức Giêsu báo trước Thương Khó – Phục Sinh: Lần thứ nhất ở Mt 16,21-23 và thứ hai ở Mt 17,22-23. Chúng ta vẫn quen gọi: “Ba lần Đức Giêsu báo trước cuộc Thương Khó”, nhưng trong cả ba lần Đức Giêsu đều nói tới biến cố Phục Sinh bằng một câu ngắn ngủi: “Ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy” (Mt 16,21; 17,23; 20,19).

Có lẽ nói ngắn quá nên các môn đệ trong bản văn cũng như cộng đoàn Mátthêu cuối thế kỷ I và cả độc giả ngày nay không để ý, hay xem nhẹ ba lần báo trước sự Phục Sinh. Vì thế, trình thuật Đức Giêsu được biến đổi hình dạng (Mt 17,1-9) nhằm làm lộ ra vinh quang tiềm ẩn nơi Đức Giêsu và nhất là mặc khải cho các môn đệ và cho độc giả biết Đức Giêsu là ai và chúng ta phải làm gì.

Trình thuật Đức Giêsu được biến đổi hình dạng và tiếng phát ra từ đám mây vẽ lên một bức tranh tuyệt đẹp có một không hai trong sách Tin Mừng với những hình ảnh và ngôn từ rất đặc biệt. Có thể tìm hiểu đoạn Tin Mừng Mt 17,1-9 qua ba mục:

1) Tách rời khỏi thế giới thường ngày, thế giới khả giác.

2) Chiêm ngưỡng thế giới của Thiên Chúa bằng mắt.

3) Lắng nghe mặc khải của Thiên Chúa bằng tai.

1) Tách rời khỏi thế giới thường ngày, thế giới khả giác.

Trình thuật bắt đầu bằng sự tách biệt với đời thường về thời gian, về không gian và về con người: “Sáu ngày sau, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao” (Mt 17,1).

a) Yếu tố thời gian là “sáu ngày sau”, đánh dấu sự phân cách với những gì đã xảy ra trước đó một tuần. Người kể chuyện không nói gì về sáu ngày này, như thể sáu ngày im lặng không kể gì cả để làm cho biến cố xảy ra trên núi cao trở thành một trong những đỉnh cao của sách Tin Mừng.

b) Trình thuật nói đến tách biệt về nơi chốn. Ba môn đệ được tách riêng ra một nơi và được đưa lên một ngọn núi cao. Đó là núi nào? Bản văn không nói rõ. Độc giả không nên tìm cách đặt tên, vì bản văn nói đến một nơi tượng trưng, núi cao là nơi Thiên Chúa bày tỏ và gặp gỡ con người. Bản văn cố tình không cho biết núi nào để đưa độc giả ra khỏi những gì là bình thường. Cần ra khỏi khỏi thế giới thường ngày, thế giới khả giác để có thể hiểu được một biến cố vượt ra ngoài thời gian và không gian bình thường. Nơi chốn không rõ, thời gian cũng bị vượt khỏi giới hạn, cụ thể trong trình thuật là những nhân vật sống cách nhau hàng thế kỷ như Môsê, Êlia và Đức Giêsu lại có thể đàm đạo với nhau.

(Trình thuật không nói rõ nơi nào, nhưng truyền thống Hội Thánh cần một nơi để ghi nhớ biến cố này. Núi Ta-bo ở Ga-li-lê đã được chọn, đây là một ngọn núi riêng biệt, chung quanh không có đồi núi, nên có thể thấy từ xa. Hiện nay có một ngôi thánh đường trên đỉnh núi và khách hành hương đến để sống và suy niệm về biến cố này).

c) Tách biệt về con người, vì chỉ có ba môn đệ được chọn: “Phêrô, Giacôbê và Gioan”. Đây là Nhóm thu nhỏ của Nhóm Mười Hai, đại diện cho tất cả các môn đệ khác. Sự tách biệt này là dấu hiệu văn chương báo trước một biến cố quan trọng, nhưng chưa phải là lúc phổ biến rộng rãi cho mọi người. Tuy nhiên, những gì ba môn đệ này đã thấy và đã nghe là để rao giảng cho mọi người qua mọi thời đại được biết. Thực vậy, nhờ trình thuật, chính độc giả cũng được tách riêng ra, được thấy và được nghe những gì ba môn đệ ngày xưa đã nghe, đã thấy.

Sau khi được tách biệt khỏi thời gian và không gian bình thường, những gì xảy ra trên núi thuộc về một thế giới khác. Đó là thế giới của Thiên Chúa, thế giới không còn khoảng cách thời gian và không gian, thế giới mà ngôn ngữ không thể diễn tả được. Trong khoảng khắc thần linh đó, mặc khải của Thiên Chúa được tỏ bày qua thị giác (để thấy) và qua thính giác (để nghe).

2) Chiêm ngưỡng thế giới của Thiên Chúa bằng mắt

Trước hết, Đức Giêsu không tự mình biến đổi hình dạng mà “Người được biến đổi hình dạng” (metamorphôthê). Động từ Hy Lạp metamorphôthê ở dạng thụ động và tác nhân được hiểu là Thiên Chúa (passif divin). Chính Thiên Chúa làm cho Đức Giêsu được biến đổi hình dạng.

Sự biến đổi này không chỉ là biến đổi khuôn mặt. Tiếng Pháp quen dùng động từ transfigurer có nghĩa là thay đổi (trans) khuôn mặt (figure). Từ figure có nghĩa đầu tiên là mặt. Trong khi động từ Hy Lạp metamorphoô, tiếng Pháp chuyển âm: métamorphoser, có nghĩa là biến đổi, biến hoá (méta) toàn thân, từ trong bản chất (morphoser). Tiếng Việt có thể dùng cụm từ “biến đổi hình dạng”.

Đức Giêsu được biến đổi hình dạng trước mặt ba môn đệ. Nghĩa là ba môn đệ được chứng kiến sự kiện nhưng họ đã thấy gì? Người thuật chuyện kể: “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng.” Nếu dung nhan Đức Giêsu chói lọi như mặt trời thì làm sao các môn đệ có thể nhìn mà không bị mù mắt. Nếu y phục của Đức Giêsu trở nên trắng tinh như ánh sáng thì làm sao các môn đệ có thể thấy được, vì không ai thấy được ánh sáng mà chỉ có thể thấy sự phản chiếu của ánh sáng nơi sự vật mà thôi.

Thực ra, đây là cách diễn tả những thực tại thần linh bằng thứ ngôn ngữ thị kiến của sách Khải Huyền. Ba môn đệ đang đối diện với thế giới của Thiên Chúa, đối diện với những thực tại thuộc về Thiên Chúa, đối diện với vinh quang của Thiên Chúa, nên ngôn ngữ loài người hoàn toàn bất lực. Ngôn ngữ loài người không mô tả được, chỉ vì điều xảy ra không có trong kinh nghiệm cuộc sống thường ngày của con người.

Bằng ngôn ngữ, sách Khải Huyền chỉ có thể mô tả những thị kiến về thế giới thần linh bằng các từ: “như”, “giống như”, “tựa như”… còn điều trông thấy thì không thể mô tả được. Chẳng hạn Gioan mô tả thị kiến ở Kh 4,2-3: “Lập tức tôi xuất thần. Kìa một cái ngai đặt ở trên trời và có một Đấng ngự trên ngai. Đấng ngự đó trông giống như ngọc thạch và xích não. Chung quanh ngai có cầu vồng trông giống như bích ngọc”. Kh 4,6 viết: “Trước ngai có cái gì như biển trong vắt tựa pha lê.” “Trông giống như…”, “như…” còn thực sự thế nào thì không mô tả được.

Có thể nói, trên núi cao, giữa trời và đất, ba môn đệ được thấy “thị kiến” về Đức Giêsu trong thế giới của Thiên Chúa, chỉ có thể mô tả bằng so sánh “như”: “Chói lọi như mặt trời”, “trắng tinh như ánh sáng”, nghĩa là dung nhan của Đức Giêsu không phải là mặt trời, và y phục của Người cũng chẳng phải là ánh sáng, chỉ là “như”, “giống như” mà thôi.

Trong thế giới thần linh ấy, các nhân vật sống cách nhau hàng thế kỷ có thể ngồi lại đàm đạo với nhau. Theo Kinh Thánh, Môsê dẫn dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập vào thế kỷ XIII TCN, Êlia là ngôn sứ dưới thời vua A-kháp, thế kỷ VIII TCN và Đức Giêsu thế kỷ I SCN.

Nội dung đàm đạo không được kể ra, nhưng điều chắc chắn là có trao đổi giữa các nhân vật. Trong thế giới trên cao, điều nhấn mạnh là tương quan giữa người sống và người đã khuất, là nối kết giữa các thế hệ với nhau, như thể khoảng cách thời gian không còn nữa. Ba môn đệ là chứng nhân cuộc đàm đạo nhưng nội dung lại vượt ra ngoài sự nắm bắt của người phàm.

Lời Phêrô nói với Đức Giêsu: “Thưa Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia” (17,4). Lời đề nghị này vừa cho thấy các môn đệ muốn kéo dài thị kiến vì biến cố quá hay, quá tốt, quá đẹp, vừa có nét hài hước vì Phêrô đề nghị làm ba lều cho Đức Giêsu, Môsê và Êlia như thể những nhân vật đã khuất như Môsê và Êlia không thuộc về thế giới này lại cần lều để ở, còn ba môn đệ là người phàm lại không cần lều.

3) Lắng nghe mặc khải của Thiên Chúa bằng tai

Mặc khải bằng thị kiến kết thúc với sự lên tiếng của con người, cụ thể là Phêrô, và chuyển sang hình thức mặc khải thứ hai: “Tiếng nói từ đám mây”: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người.” (17,5).

Từ kinh nghiệm thị kiến, thấy bằng mắt, chuyển sang mặc khải bằng lời qua tiếng phát ra. Các môn đệ chỉ có thể lãnh hội được nội dung bằng cách “nghe”. Tiếng phát ra từ đám mây không phải là tiếng con người, tiếng này có nguồn gốc từ trời và bí ẩn. Lối hành văn phù hợp với bối cảnh của biến cố trình bày mặc khải của Thiên Chúa.

Cách thứ nhất, mặc khải bằng thị kiến là vén bức màn lên (mạc khải) để soi sáng những gì còn ẩn dấu (mặc khải). Cách thứ hai là mặc khải bằng lời, hàm ẩn sự lắng nghe để hiểu, ở đây lắng nghe theo nghĩa đón nhận, cho dù chưa hiểu trọn vẹn ý nghĩa của lời mặc khải. Trong trình thuật biến hình, có cả hai cách mặc khải, nhằm giúp ba môn đệ và độc giả hiểu được Đức Giêsu là ai.

Lời phát ra từ đám mây (17,5), nhắc lại tiếng phát ra từ trời sau khi Đức Giêsu chịu phép rửa ở đầu sách Tin Mừng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,17). Mt 17,5 có thêm hai yếu tố mới: (1) “Hãy vâng nghe lời Người”, dịch sát: “Hãy nghe Người (akouete autou)”, (2) Tiếng phát ra từ đám mây nói trực tiếp với ba môn đệ và qua đó nói với độc giả qua mọi thời đại về căn tính của Đức Giêsu và tương quan của Người với Thiên Chúa Cha. Lời nói từ đám mây gồm một lời giới thiệu: “Đây là Con yêu dấu của Ta” và một mệnh lệnh: “Các người hãy nghe Người.”

Khi gọi ai là Con (huios) thì người ấy là Cha, như thế lời phát ra muốn các môn đệ và độc giả biết Đức Giêsu có tương quan “Cha – Con” với Thiên Chúa, Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa. Mệnh lệnh nói với ba môn đệ và cho độc giả: “Hãy nghe Người” là một khẳng định quan trọng nói lên sự thay đổi lớn trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người, như thể Chúa Cha tự xoá mình trước Đức Giêsu là Con yêu dấu của Người.

Thực vậy, trước khi Đức Giêsu xuất hiện, Thiên Chúa phán với dân và dân nghe lời Người. Khi Đức Giêsu xuất hiện, Chúa Cha dặn các môn đệ: Hãy nghe lời Đức Giêsu. Như thế, tương quan “Thiên Chúa / dân” trong Cựu Ước trở thành tương quan “Đức Giêsu / môn đệ” trong Tân Ước, và đây là ý muốn của Chúa Cha.

Nghe lời Đức Giêsu là nghe tất cả những gì Người nói và dạy. Đặc biệt đón nhận lời loan báo Thương Khó và Phục Sinh đã được loan báo trước đó và Người sẽ báo trước thêm hai lần nữa để nhấn mạnh biến cố nền tảng và nghịch lý này. Như thế, biến cố trên núi cao không phải là một biến cố tách rời khỏi các trình thuật khác. Ngược lại, lời mời gọi “nghe lời Đức Giêsu”, nối kết biến cố trên núi cao với toàn bộ giáo huấn của Đức Giêsu trong sách Tin Mừng.

Đối diện với thế giới của Thiên Chúa và vinh quang của Người, các môn đệ đã “kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất” (17,5). Chính Đức Giêsu đã đưa các ông trở lại đời thường bằng cách chạm vào các ông và nói: “Chỗi dậy đi, đừng sợ”, các ông ngước mắt lên và mọi chuyện lại trở về thực tế. Nhưng biến cố ấy, những gì đã thấy, những lời đã nghe, sẽ không bao giờ rời khỏi các ông.

Kết luận

Giữa hai lần báo trước biến cố Thương Khó và Phục Sinh, Đức Giêsu đưa ba môn đệ ra khỏi đời thường để bước vào thế giới của Thiên Chúa. Ở đó những điều xảy ra nhằm mặc khải căn tính của Đức Giêsu. Biến cố trên núi cao báo trước sự Phục Sinh của Đức Giêsu vì Người có nguồn gốc thần linh, Người có Cha là Thiên Chúa, Người là Con và được Chúa Cha yêu thương. Chính Chúa Cha ra lệnh cho các môn đệ lắng nghe giáo huấn của Đức Giêsu.

Trình thuật Đức Giêsu được biến đổi hình dạng trên núi cao và lời phát ra từ đám mây là những tia sáng mạnh mẽ như ánh sáng mặt trời, có khả năng soi sáng cho cuộc đời của độc giả mọi nơi mọi thời đang bước đi trong đêm tối, đang sống trong khó khăn thử thách của cuộc sống, đang nghi ngờ về căn tính của Đức Giêsu và chưa biết rõ Người là ai. Có thể nói, biến cố trên núi cao là hình ảnh của biến cố Phục Sinh, trước khi biến cố Thương Khó xảy ra. Đây là niềm hy vọng lớn lao cho ba môn đệ và cho độc giả.

Đọc xong trình thuật, liệu độc giả, là tất cả chúng ta, có thực sự sống biến cố xảy ra trên núi như ba môn đệ hay không?

Liệu độc giả có cùng với các môn đệ tách ra khỏi đời thường để ngây ngất trước vẻ đẹp của thế giới trên cao hay không?

Liệu độc giả mọi nơi mọi thời có nghe được tiếng phát từ trời để biết Đức Giêsu là ai (là Con Thiên Chúa) và biết phải làm gì (Nghe Đức Giêsu) hay không?

Ước gì mặc khải ngắn ngủi trong bản văn bằng thị kiến để thấy, và bằng lời để nghe có khả năng gây ấn tượng lâu dài và trở thành một lời mời gọi tin và vững tin vào Đức Giêsu trong hoàn cảnh khó khăn, thử thách.

Mong sao mệnh lệnh “Hãy nghe Người” là lời thúc đẩy chúng ta đến với Tin Mừng, đọc Tin Mừng để nhận ra lời của Đức Giêsu là Lời sự sống, Lời đem lại ý nghĩa cho cuộc đời này. [Mục Lục]

10. Đức Giêsu – Con đường cứu độ duy nhất 

(Suy niệm của Lm. Bùi Quang Tuấn)

“Ngước mắt lên, các ông thấy chẳng còn ai, trừ ai một mình Chúa Giêsu” (Mt 17:8).

Trong cuốn sách tựa đề “Gương Hiếu Thảo”, tác giả Phan Như Huyên có thuật lại gương chí hiếu của Công Chúa An Thường như sau: An Thường là con gái thứ tư của vua Minh Mạng. Nàng rất thông minh và thảo hiếu. Năm lên 9 tuổi, mẹ của công chúa bị bịnh. Lúc đó vào dịp lễ Vạn Thọ, các hoàng tử công chúa đều được triệu vào cung để chúc tuổi vua cha. Nhà vua cho các hoàng tử được ăn thịt dê. An Thường chỉ ngậm thịt trong miệng chứ không nuốt. Vua thấy lạ mới hỏi nguyên do, cô trả lời: “Con nghe nói thịt dê bổ lắm, nên con ngậm về cho mẹ đang bị bịnh ăn cho mau khỏe”. Nghe vậy, vua cảm động quá, mới truyền đem khay lấy thêm thịt để An Thường đưa về cho Mẹ. Đến khi Vua Minh Mạng chết, nàng để tang ba năm, sống bên lăng cha cho trọn đạo hiếu.

Khi đề cập đến đạo hiếu trong văn hoá Việt Nam, Đức TGM Stephanô Nguyễn Như Thể của TGP Huế tại Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu, đã phát biểu: Người Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo. Cả ba tôn giáo đó đều cho lòng hiếu thảo là nhân đức căn bản của gia đình và xã hội. Việc sốt sắng tôn kính và phục vụ cha mẹ khi còn sống cũng như lúc qua đời là một bổn phận ưu tiên. Luân lý và văn minh đều tùy thuộc vào bổn phận này.

Có lẽ trong những quốc gia mà đạo hiếu bám rễ sâu vào lòng người như Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ…, nơi mà “tứ đại đồng đường”, ba bốn đời vẫn ở chung nhau dưới một mái nhà, thì việc rao giảng hay đón nhận Kitô giáo sẽ không phải là một chuyện dễ dàng. Tại sao thế?

Lý do là vì nhiều người cảm thấy băn khoăn muốn phải kháng khi nghe Đức Giêsu nói: “Ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình thì không thể làm môn đệ của Ta” (Lc 14:26).

Vấn đề được đặt ra là: “Trên thế gian này có gì cao đẹp cho bằng tình cảm cha mẹ con cái, vợ chồng, anh em, và có gì quí giá cho bằng sự sống, ấy thế mà Đức Giêsu nào đó lại bảo người ta phải hy sinh từ bỏ để có thế gắn bó với Ngài. Thử hỏi Đức Giêsu là ai mà đòi hỏi người ta một việc làm quá đáng như vậy? Phải chăng Đức Giêsu đang dạy con người sống bất hiếu?”

Điều cần xác minh trước hết, ấy là Chúa Giêsu không hề dạy người ta bất hiếu hay bất nghĩa. Ngài đã từng nhắc đi nhắc lại điều răn thứ 4 là giới răn dạy người ta thảo kính với mẹ cha. Khi một chàng thanh niên đến hỏi Chúa Giêsu làm thế nào để được hạnh phúc đời đời, câu trả lời của Ngài đã có phần: “ngươi phải thảo kính cha mẹ”. Ngay khi trên thập giá, trước lúc tắt hơi, Ngài vẫn quan tâm đến Mẹ Maria và lo liệu để Gioan đón Mẹ về nhà chăm nom. Thế nên không thể nào nói Chúa Giêsu bất hiếu hay dạy người ta sống bất hiếu được.

Vậy thì làm sao để lý giải được câu nói trên đây của Chúa Giêsu?

Thật ra có gì khó hiểu đâu nếu như có những con người đã vì một đất nước trần thế, một đất nước nay còn mai mất, nay vào tay chế độ này mai vào tay chế độ khác, mà họ còn dám dấn thân và hy sinh cha mẹ anh em cùng sự sống, thì với một đất nước vĩnh hằng, một đất nước được thống trị bởi Đức Giêsu, vua tình yêu và chân lý, thì có gì là khó hiểu khi có những con người dám liều bỏ hết tất cả để đi theo vị vua đó và xây dựng đất nước đó.

Mấy ai lại không biết một Thomas More dám bỏ vua Henry VIII, chấp nhận xa vợ con, và cuối cùng là mất mạng sống để bênh vực cho chân lý trung tín yêu thương, một vợ một chồng, mà Vua Giêsu đã truyền dạy.

Mấy ai lại không biết một Giêrađô Majella trốn nhà ra đi sau khi ghi vội cho mẹ mấy lời: “Mẹ ở nhà con đi làm thánh”. Hay một Charles Cornay đã can đảm bước qua mình song thân, lên đường đi rao truyền chân lý Nước Trời cho Việt Nam, chấp nhận biết bao khốn khó nghèo khổ, và rồi cuối cùng chấp nhận cái chết lăng trì vì con người có tên Giêsu.

Nhưng không phải là ai cũng hiểu rõ được bản chất thực sự của Đức Giêsu để dám bước theo Ngài cách can đảm và quyết liệt. Lắm khi người ta lại cho Ngài chỉ giống như một hiền triết, hay một vĩ nhân, hoặc một nhà sáng lập tôn giáo nào đó. Nhưng một hiền triết, một vĩ nhân, hay một người sáng lập tôn giáo như Đức Khổng, hay Đức Lão, hoặc Đức Phật, thì cũng chỉ là những con người nói về yêu thương và dạy về chân lý, khuyên bảo chúng sinh làm lành lánh dữ, chứ các ngài không là yêu thương, hay là chân lý. Nhưng Đức Giêsu thì trái lại, Ngài là yêu thương, là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống. Quan trọng là chỗ đó! (ĐC Fulton J. Sheen).

Thế thì, một khi nhận thức và xác tín Đức Giêsu chính là chân lý soi sáng đường đi cho con người, là tình yêu đưa đến một sự sống phong phú tràn đầy, thì việc bước theo Ngài, làm môn đệ của Ngài sẽ là bước đi tất yếu cho những ai muốn sống sự thật, muốn sống yêu thương, và muốn trở nên con người toàn vẹn. Ngoài Đức Giêsu Kitô, sẽ không còn ai có thể lấp đầy khát vọng đó.

“Ngước mắt lên, các ông thấy chẳng còn ai, chỉ trừ một mình Chúa Giêsu”. Hai nhà đại tiên tri và lãnh đạo tôn giáo là Êlia và Môisen biến mất. “Chỉ còn một mình Chúa Giêsu”. Theo nhận định của một nhà chú giải: rồi đây “mọi chủ thuyết triết học, mọi ý thức hệ vang bóng một thời rồi cũng sẽ bị lãng quên”. Các tinh hoa của mọi nẻo đường cũng chỉ qui về một mối trong Đức Giêsu, Đấng là Đường duy nhất dẫn đến Chân Thiện Mỹ của muôn vật muôn loài.

Thật chí lý thay niềm xác tín của Giáo hội: “Không có ơn Cứu Độ ngoài Đức Giêsu”. [Mục Lục]

11. Ý nghĩa đời sống ta là gì? – Achille Degeest. 

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

Có thể nói rằng trong câu chuyện về việc Chúa Biến Hình, Chúa Cha mặc khải Chúa Con. Để suy niệm, chúng ta sẽ dừng lại một đôi khía cạnh đảo ngược, nghĩa là một ít đường nét trong khuôn mặt của Chúa Giêsu, Đấng mặc khải Chúa Cha. Làm như thế, ta sẽ trung thành với phần kết luận của câu chuyện, theo đó thì sự chú ý của ta được hướng về cá nhân Chúa Giêsu.

Việc Chúa Biến Hình là chứng tá của Chúa Cha về Chúa Giêsu. Cả đời Chúa Giêsu là một chứng tá về Chúa Cha. Người biết mình bởi đâu đến và đi về đâu, Người từ Chúa Cha mà đến và sẽ trở về với Chúa Cha. Đến lượt ta, trong Đức Kitô và nhờ Người, ta cũng biết nguồn gốc và cùng đích ta là đâu. Sau đây là một vài tỷ dụ về khuôn mặt ‘làm con’ của Đức Kitô.

1) Một chuyển động nội tâm đem lại ý nghĩa cho đời sống Đức Kitô và soi sáng nó. Người biết mình là kẻ được Chúa Cha thánh hiến và gởi vào thế gian để đem Tin Mừng Cứu Độ đến người nghèo khó, rao giảng sự giải thoát (khỏi tội lỗi) cho người tù đầy, và mở mắt cho kẻ đui mù (Lc 4,18). Là ‘phái viên’ của Chúa Cha, Người đặt sự thành tựu con người và đời sống mình trong lòng trung tín với ý Cha. Không phải là một sự trung tín an phận trước một chuyện chẳng đặng đừng, nhưng là một sự trung tín tích cực, tự phát, quyết liệt. Nó là dấu hiệu của Thánh Thần tình yêu hoạt động mãnh liệt trong Người.

Có lẽ đã có lần ta tự hỏi: đời tôi có ý nghĩa gì? Nếu ta sống trong thánh ý Chúa và nếu ta tận tình chu toàn thánh ý Chúa Cha, thì đời ta có một ý nghĩa và như Chúa Con, chúng ta cũng được biến hình cách thiêng liêng.

2) Chúa Giêsu muốn để cho Chúa Cha hiện rõ qua con người và đời sống mình. Ý chí đó đã quy định mọi hành vi, thái độ của Người. Người nói năng thế nào? Hoạt động ra sao? Người dám nói rằng lời Người nói không phải là của Người, nhưng của Đấng đã sai Người đến. Người quả quyết Người không hành động tự ý mình, nhưng chính Chúa Cha hành động qua Người. Nhìn Chúa Giêsu mà không đếm xỉa đến tương quan của Người với Chúa Cha, ta sẽ không hiểu nổi Người. Với người Kitô hữu cũng thế. Họ phải để cho Thiên Chúa ‘lộ dạng’ qua đời sống mình, bằng cách làm như Chúa Giêsu: nghĩa là thỉnh ý Chúa Cha về việc phải làm, phải nói. Thỉnh ý qua lời cầu nguyện, qua việc chạy tới Đức Giêsu là Đấng mặc khải Chúa Cha, trong niềm tin tưởng ở Chúa Thánh Thần và sự tuân phục đối với Hội Thánh. [Mục Lục]

 

***

TỔNG HỢP SUY NIỆM 2020

MỤC LỤC

 

1. Đấng đang biến hình giữa chúng ta  (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Được đi vào vinh quang của Thiên Chúa  (Jorathe Nắng Tím)

3. Tín thác giữa đau khổ (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

4. Vinh quang sẽ được bày tỏ (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

5. Tâm hồn đẹp  (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

6. Lời trong tâm hồn (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

7. Dấu ấn tình yêu  (Maria Nguyễn Huệ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

8. Chắc chắn  (Lm. Vũ Đình Tường)

9. Hiển dung thánh giá (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)

10. Căn tính người Kitô hữu (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)

11. Lên Núi Thánh  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

12. Khổ nạn và Phục sinh (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

13. Trở nên bạn thân và nên con Thiên Chúa  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

14. Biến hình  (Học viện Giáo hoàng Pi-ô X Đà Lạt)

15. Suy niệm chú giải Lời Chúa-Chúa Nhật 2 Mùa Chay_A (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

16. Cái trước rước cái sau (Trầm Thiên Thu)

17. Đừng sợ, hãy theo Thầy  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

18. 40 ngày “Sống Chậm”  (Lm. Giuse Nguyễn)

19. Xin cho được lên núi thánh (Lm. Trần Bình Trọng)

20. Biến hình. (Lm. Thái Nguyên)

***

ĐẤNG ĐANG BIẾN HÌNH GIỮA CHÚNG TA

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Chúa nhật trước, Chúa nhật thứ nhất Mùa Chay, Phụng vụ dẫn chúng ta vào sa mạc để chứng kiến Chúa Giêsu chịu cám dỗ. Chúa nhật hôm nay, chúng ta được mời gọi cùng lên núi để chiêm ngưỡng Chúa Giêsu biến hình. Hai sự kiện diễn tả hai khía cạnh cuộc đời Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể: trong sa mạc, Chúa thể hiện nhân tính của Người: yếu đuối, mỏng giòn, đói khát; trên núi cao, Chúa tỏ ra thiên tính của Người: cao cả, sáng láng, thánh thiện. Hai nhân vật quan trọng của Cựu ước cũng xuất hiện để đàm đạo với Chúa, kèm theo lời chứng của Chúa Cha: “Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy nghe lời Người”.

Khi tường thuật sự kiện Chúa biến hình trên núi, thánh Matthêu mở đầu bằng chi tiết “sáu ngày sau”. Vậy, sáu ngày trước đó là sự kiện gì? Đó là lời loan báo cuộc thương khó lần thứ nhất. Đối với các môn đệ, việc Đức Giêsu chịu thương khó là điều không thể chấp nhận được. Vì vậy, Phêrô đã can gián và thậm chí còn trách Người. Sự can gián của Phêrô bị Chúa quở trách là Satan (x. Mt 16 21- 23). Cùng với việc loan báo cuộc thương khó, Đức Giêsu cũng đưa ra những điều kiện cần phải có để trở nên môn đệ của Người, đó là vác thập giá theo Chúa. Như thế, việc Chúa Giêsu biến hình trên núi nhằm mục đích khai trí các môn đệ, để các ông hiểu hơn về thân phận và sứ mạng của Người. Qua sự kiện này, Chúa muốn khẳng định với các ông: dù Người có phải trải qua cuộc thương khó, nhưng Người sẽ chiến thắng sự chết và sẽ trỗi dậy. Ba môn đệ là Phêrô, Gioan và Giacôbê ngỡ ngàng trước việc Chúa Giêsu thay hình đổi dạng, vì lúc đó, các ông được thấy Chúa với một hình dạng hoàn toàn khác so với từ trước tới nay. Sự kiện này làm các ông bàng hoàng và sợ hãi.

Hai nhân vật của Cựu ước hiện ra và đàm đạo với Chúa Giêsu, đó là Môisen và Êlia. Môisen là người dẫn đưa Dân tuyển chọn ra khỏi Ai Cập. Ông cũng là người được Chúa trao bia Giao ước và được người Do Thái tôn kính như tác giả của sách Luật. Êlia là vị ngôn sứ đã luôn “đứng hầu cận trước nhan Chúa hằng sống (x. 1 V 17). Trên núi Carmel, ông đã giúp dân Do Thái từ bỏ việc tôn thờ ngẫu tượng để chỉ một lòng tin vào Thiên Chúa. Ông là biểu tượng cho những người được Thần Khí của Thiên Chúa hướng dẫn và là những người phát ngôn nhân danh Thần Khí. Giống như Chúa Giêsu, cả hai vị này đã ăn chay 40 đêm ngày (x. Xh 24,18; 1 V 19,8). Cả hai vị đều được diễm phúc nhìn thấy Thiên Chúa (x. Xh 33,18-23; 1 V 19,12-13). Qua sự kiện biến hình, Môisen và Êlia đàm đạo với Chúa Giêsu. Họ được chiêm ngắm Con Thiên Chúa, Đấng liên kết hai nhân vật này nơi nhân tính của Người, tức là Người vừa là người ban lề luật, vừa là ngôn sứ. Thánh Máthêu trình bày Chúa Giêsu như Môisen mới. Một số bản văn của Tân ước cũng trình bày Chúa Giêsu như Êlia mới. Người đã liên kết truyền thống lề luật và truyền thống ngôn sứ nơi chính bản thân Người. Bởi lẽ hai truyền thống “lề luật” và “ngôn sứ” là tóm lược toàn bộ Kinh Thánh Cựu ước.

Cùng với chứng từ của Môisen và Êlia, còn có chứng từ khác quan trọng hơn nhiều, đó là lời phán từ trời: “Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy nghe lời Người”. Đức tin Kitô giáo khẳng định: đó là lời của Chúa Cha. Qua lời này, Chúa Cha nói lên tình thương mến của Ngài với Chúa Con, đồng thời nhắc bảo chúng ta: hãy nghe lời Người. Theo Thánh Gioan Thánh giá, Chúa Cha chỉ nói một lời và một lần nơi Chúa Con. Chúa Con là Lời của Chúa Cha. Nơi Chúa Con, có đầy đủ tất cả những gì Chúa Cha muốn ngỏ với nhân loại.  Vì thế, “hãy nghe lời Người” tức là đón nhận những gì Chúa Cha muốn mạc khải qua Chúa Con, nhờ đó, loài người được cứu thoát. “Hãy nghe lời Người”, đó cũng là đón nhận và thực hành giáo huấn của Đức Giêsu.

Phụng vụ hôm nay còn cho chúng ta nghe tường thuật về ơn gọi của Áp-ram, tổ phụ của dân Do Thái. Một lời gọi đơn sơ: “hãy đi đến đất Ta sẽ chỉ cho”. Áp-ram đã vâng lời, đã lên đường. Ông không tính toán, không vặn hỏi, nhưng hoàn toàn phó thác. Ông Áp-ram đã nghe lời Chúa và đã thực thi lời Ngài. Ông đã trở nên mẫu mực cho tất cả những kẻ tin ở mọi thời đại (Bài đọc I).

Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Qua mầu nhiệm Nhập thể, Người trở nên hoàn toàn giống chúng ta – ngoại trừ tội lỗi. Qua mầu nhiệm nhập thể, Người “biến hình” để trở nên giống như người trần thế. Trên núi cao, khi Chúa “biến hình” lại là lúc Chúa trở về tình trạng thiêng thánh nguyên thuỷ. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu đang “biến hình” giữa chúng ta. Quả vậy, chúng ta đâu có nhìn thấy Người bằng con mắt thể lý. Chúa hiện diện qua Lời Chúa, qua cộng đoàn cầu nguyện, qua người nghèo khổ và nhất là trong Bí tích Thánh Thể. Chúa đang biến hình trong đời sống của chúng ta. Mùa Chay là thời điểm giúp chúng ta nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện, để chúng ta gặp gỡ Người. Thánh Phaolô nhắc chúng ta hãy nhận ra Đức Giêsu là Con yêu dấu của Chúa Cha. Người là Đấng tiêu diệt thần chết và đang hiện diện giữa chúng ta (Bài đọc II).

Sau khi chứng kiến Chúa Giêsu biến hình, ba môn đệ xuống núi, có Chúa cùng đi. Các ông trở về với đời thường, với tâm trạng được biến đổi và với quan niệm mới mẻ về Đấng Thiên Sai. Sự kiện Chúa biến hình trên núi cũng nhắc chúng ta cần phải biến đổi đời sống, biến đổi hình ảnh của Chúa trong đời và biến đổi nhận định về tha nhân. Hãy nghe lại lời của Chúa Cha: “Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy nghe lời Người”. Lời đầu tiên Chúa Giêsu nói với các môn đệ liền tiếp sau đó là: “Chỗi dậy đi, đừng sợ!”. Hôm nay Chúa vẫn đang nói với chúng ta những điều ấy. Đừng sợ trước thân phận yếu hèn và tội lỗi, hãy trở về với Chúa vì Chúa bao dung nhân từ. Đừng sợ khi giúp đỡ anh chị em bất hạnh cô thế, cô thân, vì Chúa sẽ thưởng cho lòng quảng đại rộng rãi của chúng ta. Đừng sợ trước những bất ổn của cuộc ống do bạo lực, cạnh tranh và chia rẽ, vì Chúa hiện diện giữa cuộc đời. Người là Đấng đang biến hình giữa chúng ta.

 

ĐƯỢC ĐI VÀO VINH QUANG CỦA THIÊN CHÚA

Jorathe Nắng Tím

Được yêu thương, chiều chuộng hơn các tông đồ khác, “các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê” đã được Đức Giêsu cho theo mình, “đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17, 1-2).

Cuộc biến hình của Đức Giêsu đã xẩy ra sau khi Ngài “bắt đầu tỏ ra cho các môn đệ biết : Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21). Và tất nhiên, phản ứng chung của các môn đệ là buồn rầu, lo âu, thất vọng, ngoại trừ Phêrô đã kéo riêng Người ra và trách Người : “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy !” (Mt 16,22), nhưng tức khắc ông đã bị Đức Giêsu nặng lời khiển trách : “Satan, lui lại đàng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,23).

Thực vậy, dù đã gần tròn ba năm ở với Thầy, nhưng các tông đồ vẫn chưa hiểu hết đường lối của Thầy mình, nên các vị vẫn “bán tín bán nghi” sứ mệnh Cứu Thế của Đức Giêsu.

Sở dĩ các vị chưa thể hiểu hết, vì cho đến lúc này, các vị vẫn ở trong đời thường, nhìn Đức Giêsu với đôi mắt bình thường, chấp nhận đi theo Đức Giêsu như một môn sinh bình thường, và đánh giá Thầy mình cũng bình thường như các sư phụ khác trong đời thường.

Chính vì thế, Đức Giêsu đã biến hình, và cuộc biến hình của Ngài trước mặt ba tông đồ là một biến cố rất quan trọng thay đổi tư duy và củng cố chọn lựa đi theo Ngài của cả Nhóm Mười Hai :

  1. Biến cố Biến Hình đã được thực hiện ở ngoài đời sống bình thường :

Tin Mừng ghi lại rất rõ : “Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao” (Mt 17,1).

Đi riêng ra một chỗ nói lên một cách biệt, một không gian đặc biệt, một nơi chốn sinh hoạt không bình thường như những ngày thường, vì vị trí hiện diện đã “khác thường”.

Khi “đi riêng ra một chỗ”, Đức Giêsu tách ba môn đệ ra khỏi đời sống thường ngày, ở đó, các ông đã chỉ thấy ở Thầy mình những gì thuộc thế giới bình thường, mà không thể thấy những “phi thường” ở Thầy.

Điều này nói lên sự cần thiết của nhu cầu “đi riêng ra với Thiên Chúa”, bằng “đi ra khỏi” con người mình, nhà mình, “đi ra khỏi” danh phận, quyền lợi, ảnh hưởng của mình, để “trơ trọi, trần trụi” một mình với Thiên Chúa, bởi chúng ta chỉ thực sự tìm gặp được Thiên Chúa, được chạm vào Thân Thể Thiên Chúa, được thấy tận mắt Thiên Chúa, được diện đối diện với Thiên Chúa trong vinh quang của Ngài, nếu chúng ta chấp nhận “đi riêng ra một chỗ” với Ngài trong tình trạng không tìm kiếm gì, ngoài tìm kiếm Ngài ; không gánh gồng, đeo mang  gì, ngoài khát vọng được thấy Ngài ; không tham vọng, ước mơ gì, ngoài được ở với Ngài, như ba môn đệ đã theo Ngài, “đi riêng ra một chỗ” mà không cần biết mình đi đâu, không cần mang theo cơm nước, áo quần gì, mà chỉ biết được theo Ngài “đi riêng ra một chỗ”.

Đức Giêsu đưa các ông tới một ngọn núi cao (Mt 17,1). Núi cao trong truyền thống Kinh Thánh là nơi Thiên Chúa ngự đến (x. Tv 67,16 ; 1 V 19,8), nơi Thiên Chúa chọn để nói với con người, nơi con người nghe được tiếng Thiên Chúa, như Môsê (x.Xh 19,3 ; Đnl 32,49), nơi thờ phượng Thiên Chúa (x. Xh 3,12 ; Ed 20,40).

Trong Tân Ước, Đức Giêsu cũng thường lên núi để cầu nguyện (x. Mt 14,23), lên núi để giảng dậy (x. Mt 5,1), và những ngày sau hết, “ban ngày Đức Giêsu giảng dậy trong Đền Thờ ; nhưng đến tối, Người đi ra và qua đêm tại núi gọi là núi Ôliu” (Lc 21,37).

Đưa ba tông đồ cùng Ngài lên “một ngọn núi cao”, Đức Giêsu đã chọn cho các ông một không gian đặc biệt, một nơi chốn “thánh thiện” xa khỏi đời thường, một chỗ thinh lặng, thanh vắng, bởi Thiên Chúa chỉ nói với con người trong tĩnh lặng, và sâu lắng của tâm hồn, xa khỏi những huyên náo, ồn ào của dòng đời bon chen, vội vã, vì Thiên Chúa  của chúng ta là “Đấng hiện diện nơi kín đáo” (Mt 6,18), luôn căn dặn môn đệ Ngài “cầu nguyện nơi kín đáo” (x. Mt 6,6), làm phúc cách kín đáo (x. Mt 6,3), ăn chay càng phải kín đáo hơn (x. Mt 18).

  1. Biến cố Biến Hình tỏ cho các tông đồ vinh quang Thiên Chúa của Đức Giêsu:

Khi biến hình, Đức Giêsu đã cho ba tông đồ khám phá dung mạo vinh quang thuộc về Thiên Chúa của Ngài, mà bấy lâu các ông còn nghi ngờ. Dung mạo này hoàn toàn khác với dung mạo các ông thường gặp, khi Ngài ở với các ông, cùng các ông dong duổi trên khắp nẻo đường truyền giáo, nhất là không giống chút nào dung mạo mà các ông sẽ thấy trên đường Ngài vác Thánh Giá, và giang tay chết trên Núi Sọ.

Nhờ được thấy dung mạo vinh quang trên núi khi Đức Giêsu biến hình, mà các ông sẽ nhận ra Ngài sau khi Ngài sống lại từ cõi chết.

Vinh quang Thiên Chúa ấy còn được tỏ ra khi các ông nghe được tiếng phán ra từ đám mây : “Đây là Con yêu dấu của Ta. Các ngươi hãy vâng lời Người !” (Mt 17,5).

Sau cùng, sự có mặt của hai ông Môsê, và Êlia, là hai nhân vật rất quan trọng trong Cựu Ước “hiện ra đàm đạo” với Đức Giêsu đã là bảo chứng chắc chắn và hùng hồn về thiên tính của Thầy mình (x. Mt 17,3).

  1. Biến cố Biến Hình có mục đích củng cố niềm tin của các môn đệ Đức Giêsu :

Qua ba tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan, là ba vị có uy tín, Đức Giêsu đã dùng biến cố Biến Hình để củng cố niềm tin vào Ngài không chỉ của ba ông, mà của tất cả các tông đồ, môn đệ khác.

Ngài biết các ông sắp phải trải qua cơn sóng gió dữ dội làm chao đảo niềm tin vào Ngài của các ông, khi Ngài “phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết” (Mt 16,21). Cũng vì niềm tin sẽ bị lung lay, do thử thách nặng nề, và thách đố cam go khi thấy Thầy mình bị kết án tử hình, đóng đinh vào thập giá, mà các ông sẽ rất khó tin : ngày thứ ba Đức Giêsu sẽ sống lại, như Ngài đã nói trước với các ông (x. Mt 16,21).

Vì thế, Đức Giêsu đã cho ba người trong các ông thấy vinh quang của Ngài khi biến hình, để các ông tin tưởng, và nâng đỡ nhau tin vào mầu nhiệm Phục Sinh vinh quang sau khổ hình và tử nạn của Ngài

Tóm lại, với biến cố Biến Hình vinh quang trên núi cao, chúng ta được Đức Giêsu, “Thiên Chúa làm người” mời gọi theo Ngài “đi riêng ra một chỗ”, để được thấy Ngài trong vinh quang của Thiên Chúa chí thánh, toàn năng, được nghe chính tiếng Chúa Cha nói về Ngài, hầu đức tin của chúng ta đủ mạnh để lên đường làm  chứng về Ngài trước muôn dân.

Hành trình làm chứng ấy chắc chắn không dễ, nhưng hứa hẹn nhiều bất trắc, rủi ro, nguy hiểm, “vì tôi tớ không hơn chủ. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em” (Ga 15,20). Nhưng hành trình ấy tràn đầy hy vọng và tình yêu, vì được Chúa Cha bảo đảm qua tiếng Ngài phán từ đám mây : “Đây là Con yêu dấu của Ta… Hãy vâng lời Người !”, và chính Đức Giêsu, Đấng sai chúng ta lên đường làm chứng Tin Mừng đã âu yếm trấn an : Chỗi dậy đi, đừng sợ ! (Mt 17,7), như Ngài đã ân cần đến gần và động viên các tông đồ Phêrô, Giacôbê, Gioan khi các vị “ngã sấp mặt xuống đất”, vì kinh hoàng, sợ hãi (x. Mt 17,6), bởi Ngài đã hứa cho những ai theo Ngài “được đi vào vinh quang của Thiên Chúa”.

 

TÍN THÁC GIỮA ĐAU KHỔ

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Giữa đau khổ con người luôn trông đợi một tương lai tươi sáng hơn. Giữa những lời thông cáo về dịch cúm SARS – Cov – 2, con người mơ ước ngày nào đó sẽ không còn và cuộc sống sẽ trở lại bình thường, Các bệnh nhân nhiễm bệnh lại mơ ước ngày đau thương đi qua họ sẽ sống tích cực hơn,,, Khao khát của con người giữa đau khổ là vươn mình về phía trước, nơi sẽ sống dồi dào tích cực hơn. Mầu nhiệm biến hình trả lời cho những băn khoăn giữa đau khổ đó,

Lo âu về tương lai.

Các môn đệ sau sáu ngày từ khi nghe Chúa hỏi: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?. Câu trả lời của Phêrô xác tín: Ngài là Con Thiên Chúa. Nhưng Chúa Giêsu lại tỏ cho biết, Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, chịu nhiều đau khổ, bị giết chết, ngày thứ ba sống lại” (Xem Mt 16,  13 – 29).

Sáu ngày băn khoăn về số phận của mình, tương lai mù mịt, Chúa Giêsu là Chúa, là Thầy còn chịu như thế, các môn đệ sẽ ra sao? Ai cũng hy vọng “Qua cơn mưa trời lại sáng”. Nhưng cũng băn khoăn có qua được ngày tăm tối không? Chuẩn bị cho mình điều gì để qua nguy khốn. Tích trữ lương thực, nước uống, khẩu trang…

Lo ăn năn sám hối, chuẩn bị linh hồn về với Chúa. Nhưng, còn bao nhiêu thứ còn dang dở, tài sản, thừa kế, tài khoản, nợ nần… Những điều đó lại níu kéo, mong mình được sống, chứ không phải chết, không phải trải qua bệnh dịch Covid… Băn khoan và lo âu!

Biến hình – chân trời mới.

Đang lúc Phêrô, Gioan, Giacôbê, các ông vì mệt mỏi nằm mê mệt, mở mắt ra các ông thấy diện mạo Người trắng tinh như ánh sáng chói lòa. Trình thuật cho thấy rằng, ngày cứu thoát sách Khải huyền nói về những người được tắm trong Máu Chiên Con: “Sau đó, tôi còn mãi nhìn, thì này: một đoàn lũ đông đảo không biết cơ man nào mà kể, thuộc mọi nòi giống, dòng họ, dân tộc, tiếng nói, đứng trước ngai và trước Chiên Con, mình vận áo chùng trắng tinh, tay cầm tàu lá vạn tuế” (Kh 7, 9).

Trong gian truân, đau khổ của con người, Chúa Giêsu cũng đã từng trải qua hoặc đã thấy bao cảnh tang thương của con người, lòng thương xót của Người cũng đã từng rơi lệ, vẫn tỏ bày: “Thương những đoàn chiên không người chăn dắt” (Mc 6, 34). Cảm thương về những lo âu, khắc khoải của con người, Chúa cho thấy: Qua đau khổ tới vinh quang” và cái đau khổ này là những đau khổ của tự nguyện lễ dâng: “Và vì chúng, Con xin hiến thánh mình Con, ngõ hầu chúng được tác thánh cách chân thật” (Ga 17, 19)

Cắm ba lều

Cám dỗ dừng lại trong vinh quang mà không trải qua đau khổ lúc nào con người cũng mong như thế. Ý muốn của con người không như ý muốn của Thiên Chúa. Lời rao giảng về thập giá: “Vì chưng lời giảng thập giá, đối với những kẻ đang hư đi, là một sự điên rồ; còn đối với chúng ta, những người đang ở trên đường cứu thoát, lại là quyền năng của Thiên Chúa.” (1Cor 1, 18). Qua đau khổ, gian truân, những tai ương không thể tránh khỏi và ngay cả cái chết, con người thấy mình cần có Thiên Chúa, không chỉ nhờ vào sức của con người. Tại Hoa Kỳ, trước vấn đề dịch SARS – Cov – 2, Tổng thống Trump cũng như phó tổng thống Mike Pence là người trực tiếp lãnh đạo chiến dịch, đều cầu nguyện trước những cuộc họp, cùng với các bác sỹ hàng đầu cùng với các nhà chuyên môn dịch tễ.    Cầu nguyện bởi vì biết rằng, mọi cố gắng của mình cũng cần có Thiên Chúa trợ giúp để hoàn thành. Đó là một kinh nghiệm về Quyền Năng của Thiên Chúa trước những bất toàn của con người.

Từ bài học biến hình dạy cho con người biết: Qua những gian truân, đau khổ, bất lực, con người sẽ học biết tình yêu của Thiên Chúa, Đấng viên thành những nỗ lực của con người và hoàn tất những gì con người cộng tác với ân sủng của Thiên Chúa.

Xin cho mọi cố gắng của chúng con đều cần nhờ ơn Chúa giúp!

 

VINH QUANG SẼ ĐƯỢC BÀY TỎ

Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

Chúa Nhật vừa rồi, chúng ta đã chiêm ngắm Chúa Giêsu theo phương diện nhân loại qua những cơn cám dỗ của Chúa. Người đã kiên quyết chống trả và đã chiến thắng những đề nghị của ma quỷ.

Trong Chúa Nhật II Mùa Chay này, chúng ta chiêm ngắm Chúa Giêsu theo phương diện thần linh qua biến cố Chúa biến hình trên núi cao, trước sự chứng kiến của ba môn đệ thân tín của Người là Phêrô, Giacôbê và Gioan.

1- Vinh Quang Thiên Chúa nơi Đức Giêsu

Tại đây, thân xác của Chúa Giêsu được biến đổi, dung nhan Người chói lọi như mặt trời và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. Người đàm đạo với Môsê và Êlia. Biến cố biến hình là cuộc thần hiện của Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Con là nhân vật chính đang được biến hình, Chúa Thánh Thần hiện diện dưới “đám mây sáng ngời bao phủ các ông” và có tiếng của Chúa Cha từ đám mây phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người. Các người hãy nghe lời Người” (x. Mt 17,1-9).

Với trình thuật này, thánh Mátthêu trình bày biến cố biến hình là một cuộc thần hiện của vinh quang Thiên Chúa như đã xảy ra trên núi Sinai trong Cựu Ước với những dấu chỉ mạc khải thế giới Thiên Chúa như núi cao, sự biến hình, ánh sáng, đám mây bao phủ trên Người.

Trong Tin Mừng Nhất Lãm, trình thuật biến cố biến hình được đặt trước lời loan báo đầu tiên của Chúa Giêsu về cuộc khổ nạn, chết và phục sinh khi Người cùng với các môn đệ trên đường tiến về Giêrusalem. Khi nghe nói về việc Người phải chịu đau khổ và phải chết, các Tông Đồ rất ngạc nhiên và không thể nào chấp nhận lời loan báo này. Chính thánh Phêrô đã can Người không nên làm như thế. Bởi vì, hầu hết các Tông Đồ và người Do Thái đang trông chờ một Đấng Mêsia đến trong quyền năng và vinh quang để giải phóng họ khỏi cảnh thống trị và ách nô lệ của đế quốc La Mã. Đấng Mêsia không thể chịu đau khổ và chết được. Nhưng Chúa Giêsu không từ bỏ ý định của mình và Người tiếp tục mạc khải rằng Người phải chịu đau khổ và chết, sau ba ngày, Người sống lại. Người mở ra con đường mới là phải trải qua đau khổ để đến vinh quang.

Theo tiến trình này, biến cố biến hình của Chúa Giêsu là sự chuẩn bị cho các môn đệ đón nhận biến cố đau thương mà Chúa sắp phải trải qua. Qua biến cố này, Chúa Giêsu muốn củng cố niềm tin cho các môn đệ trước cuộc khổ nạn và cái chết của Người. Đồng thời, Người muốn tỏ cho họ thấy thần tính của Người ẩn dấu trong dung mạo con người, cũng như Người muốn tỏ cho họ thấy trước vinh quang và sự phục sinh mà Chúa Giêsu sẽ thực hiện như đã tiên báo.

Như thế, Chúa Giêsu là một con người giống với chúng ta mọi đàng, chỉ trừ tội lỗi: Người có mang trong mình những điều kiện con người như đói khát, mệt nhọc thể lý, bị cám dỗ; Người cũng phải lao động vất vả để kiếm sống; Người cũng có một thân xác hay chết như chúng ta. Tuy nhiên, Chúa Giêsu rất khác biệt với chúng ta, bởi vì Người là Con Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa, là Đấng Mêsia. Người cưu mang thần tính ẩn dấu trong mình. Thần tính đó hôm nay được biểu lộ và biến đổi con người nhân loại của Chúa Giêsu trở nên sáng láng và vinh hiển như mặt trời. Nơi đây Đức Giêsu để cho thần tính của Người tỏ lộ trong thân xác của Người.

Chiêm ngắm Chúa Giêsu biến hình, Mátthêu muốn độc giả của ngài và cả chúng ta nữa tin nhận Người là Thiên Chúa. Đức tin đích thực của người tín hữu không phải là một lời khẳng định chung chung về sự hiện hữu của Thiên Chúa, nhưng là lời tuyên xưng vững chắc rằng vinh quang và quyền năng Thiên Chúa hiện thân cụ thể nơi con người của Đức Giêsu Kitô. Vì thế, chúng ta hãy nghe Lời Người.

2- Chúng ta cũng sẽ được biến đổi như Người

Biến cố biến hình của Chúa Giêsu cũng là lời loan báo về định mệnh của mỗi người rằng: Thân xác yếu hèn và hay chết của chúng ta được tiền định tới sự biến hình nên giống với Chúa Giêsu ngay hôm nay và trong ngày cánh chung. Sự biến hình của Chúa Giêsu loan báo sự biến hình của chúng ta. Bởi lẽ, Thiên Chúa đã không bao giờ tạo dựng thân xác con người cho cái chết, hay cho sự hủy diệt, nhưng Người tiền định cho chúng ta được sống đời đời. Tội lỗi, sự dữ và cái chết không phải là tiếng nói cuối cùng trên con người. Bằng chứng hùng hồn là biến cố nhập thể của Con Thiên Chúa như là trung tâm điểm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã làm người để con người được làm Thiên Chúa,” thánh Irênê, giám mục thành Lyon (198) đã viết như thế.

Hơn nữa, việc Chúa Giêsu biến hình làm sáng tỏ những vấn nạn quan trọng nhất mà con người mọi thời thường đặt ra: Đâu là ý nghĩa của đời sống? Con người sẽ đi về đâu? Chính Chúa Giêsu mang lại cho chúng ta câu trả lời cho những vấn nạn đó qua sự phục sinh vinh hiển. Chúa Giêsu là người đầu tiên từ cõi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa cho những kẻ an giấc. Người là người mở đường cho con người đi vào sự sống mới, sự sống thần linh. Nhờ Thánh Thần, Người biến đổi thân xác chúng ta nên giống thân xác sáng láng của Người. Khi nói đến sự biến đổi này, thánh Phaolô viết: “Đó là điều tôi đợi chờ và hy vọng. Sẽ không có gì làm cho tôi phải hổ thẹn, trái lại tôi hoàn toàn vững tin. Bây giờ cũng như mọi lúc, Đức Kitô sẽ tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi, dù tôi sống hay tôi chết” (Pl 1,20).

Một cách cụ thể, bí tích Rửa Tội làm cho chúng ta nên giống với Chúa Kitô và đưa chúng ta tháp nhập với đời sống Đấng Phục Sinh! Theo ý nghĩa này, thánh Mátthêu đã chính xác dùng hai cách diễn tả tương tự để mạc khải về định mệnh của chúng ta: “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời” (Mt 17,2). “Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời” (Mt 13,43).

Sự biến hình của chúng ta được bắt đầu từ những chọn lựa và cố gắng trong đời sống của chúng ta dựa theo các giá trị Tin Mừng, khi chúng ta bước theo Người. Những chọn lựa và hành động đó có dấu ấn của sự vĩnh cửu. Như chúng ta đọc những lời này trong mỗi thánh lễ: “Cũng như giọt nước hòa chung với chén rượu, xin cho chúng con cũng được thông phần thần tính của Đấng đã chia sẻ kiếp người với chúng con.”

Bởi thế, mỗi ngày chúng ta được mời gọi lắng nghe và thực hành Lời Chúa để chúng ta cũng được biến đổi nên giống Người. Amen!

 

TÂM HỒN ĐẸP

Bông hồng nhỏ

Lần đầu gặp nàng, anh đã say mê khuôn mặt dễ mến và giọng nói dịu dàng ấy. Nàng rất ít khi trang điểm. Anh bảo rằng, anh thích ngắm nàng trong nét đẹp tự nhiên như vậy hơn. Ngày cưới, khi nàng xuất hiện trong bộ áo cưới với khuôn mặt được điểm trang lộng lẫy, anh đã không giấu nổi niềm xúc động. Được trang điểm, nàng trở nên rất xinh đẹp khiến anh quá bất ngờ.

Chúng ta vẫn có thể mang lại cho những người thân cận nhiều bất ngờ hơn thế, điều bất ngờ đến từ nét đẹp trong tâm hồn chúng ta.

Hôm nay, được chứng kiến dung mạo sáng ngời của Thầy Giêsu, ba tông đồ đã bất ngờ được ngập tràn trong niềm hạnh phúc. Quá quen thuộc với khuôn mặt dãi dầu mưa nắng của Thầy, các ông đã chẳng nhận ra vẻ đẹp rạng ngời thánh thiện của Thầy nếu không được Thầy mạc khải cho. Khi sống bên cạnh những người thân yêu, đã bao giờ chúng ta gặp được vẻ đẹp thánh thiện của họ không? Chúng ta biết rằng, nơi sâu thẳm tâm hồn của họ, Chúa Giêsu đang hiện diện và mời gọi chúng ta gặp gỡ Ngài. Khi được chiêm ngắm vinh quang của Thầy, ông Phêrô đã thốt lên trong niềm vui sướng: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều. Ngài một cái, ông Môsê một cái, và ông Êlia một cái” (Mt 17, 4). Khi được ở cùng Chúa Giêsu trong cầu nguyện, chúng ta có thầy rằng đó là niềm hạnh phúc lớn lao cho chúng ta, chúng ta có khao khát được ở mãi với Ngài không? Chúng ta sẽ ở cùng Chúa Giêsu luôn mãi bằng cách nào?

Hiệp thông cùng Giêsu chính là tương quan cá vị ta có với Ngài, một mối tình sẻ chia không chỉ trong những phút giây cầu nguyện thân tình, nhưng cả trong nhịp sống bình thường, hay trên những chặng đường thương khó ta được cùng bước với Ngài. Lúc hạnh phúc ngập tràn, trái tim ta rung động, thổn thức trước tình yêu thương bao la Ngài dành cho ta. Khi thử thách gian nan giăng lối, ta có biết tìm về bên Giêsu để tìm ra một lối đường bước đi? Khuôn mặt của ta có trở nên sáng hơn, trái tim ta có được rộng mở hơn và tâm hồn ta có đẹp hơn sau mỗi lần gặp Chúa không? Gặp gỡ Chúa rồi chắc chắn ta sẽ dễ dàng nhận ra khuôn mặt dễ mến của Chúa nơi những người anh chị em bên cạnh. Làm sao để nhận ra khuôn mặt của Chúa Giêsu nơi những người ta không quen biết hay những người ta không mấy thiện cảm? Nếu ta biết đón nhận khuôn mặt bầm dập của Chúa Giêsu trong cuộc Thương Khó, ta cũng sẽ đón nhận được những người có khuôn mặt khó nhìn trong cuộc sống hằng ngày. Vinh quang Thiên Chúa được tỏ lộ ngay trong dung mạo của Chúa Giêsu bị đóng đinh, khuôn mặt mà ai đi qua cũng phải che mặt.

Lạy Chúa Giêsu! Cảm tạ Chúa đã bày tỏ vinh quang rạng ngời của Chúa cho con. Xin Chúa không ngừng khơi dậy nơi tâm hồn con lòng khao khát được trở nên giống Chúa hơn. Để khi đến với anh chị em, con mang một nét mặt vui tươi, một tâm hồn thánh thiện, một trái tim đầy tình yêu, một con người đã được gặp Chúa, yêu Chúa và khao khát cho mọi người cũng được yêu mến Chúa hơn. Amen.

 

LỜI TRONG TÂM HỒN

Anna Cỏ May

“Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người” (Mt 17,5).

Chúa Giêsu đưa các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi riêng ra một nơi, tới một ngọn núi cao. Tại đây, các ông được chứng kiến dung nhan chói lọi như mặt trời của Thầy. Phêrô, một trong ba môn đệ đã thốt lên rằng: “Lạy Ngài, chúng con ở đây thật là hay! Nếu Ngài muốn, chúng con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia” (Mt 17,4). Khi ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông và có tiếng từ đám mây phán rằng: “Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (Mt 17,4). Tiếng phán mạnh mẽ dứt khoát và đầy tình yêu đã khiến cho các ông kinh hoàng ngã sấp mặt xuống đất. Tiếng phán từ trời không phải là một tiếng nói bâng quơ nhưng là một tiếng nói yêu thương của Chúa Cha. Chúa Cha đã nhìn thấy nỗi lòng khao khát muốn được sống trong vinh quang mà các tông đồ đã nhìn thấy. Ngoài ra, tiếng phán ấy là lời khẳng định cho các ông biết Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng đầy quyền năng. Nếu các ông muốn sống trong vinh quang đó thì hãy nghe lời Thầy của mình, Lời sẽ biến đổi các ông và các ông sẽ cùng hưởng vinh quang với Thầy.

Sau tiếng phán khiến các ông kinh hoàng, Chúa Giêsu lại gần chạm vào các ông và bảo: “Trỗi dậy đi, đừng sợ!” ( Mt 17,7). Người mời gọi các ông đừng nói với ai về thị kiến ấy cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy. Trong tâm tình của Mùa Chay và nỗi lo sợ của dịch bệnh hiện nay, Chúa Giêsu vẫn đang nói với mỗi người chúng ta: hãy trỗi dậy khỏi vũng lầy tội lỗi, sự hận thù, ghen ghét, ích kỉ và sự thơ ơ mà trở về với Thiên Chúa, Đấng từ bi nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương. Đừng sợ kẻ chỉ giết thân xác mà không giết được linh hồn (x. Mt 10,26). Mỗi người chúng ta hãy hãm mình, làm việc bố thí và cầu khẩn Thiên Chúa vì chỉ có Ngài là Đấng có quyền trên sự sống đích thực của chúng ta.

Lạy Chúa! Chúa giàu lòng thương xót, xin cho mỗi người chúng con mau trỗi dậy, trở về với Chúa. Nhờ đó, chúng con được ơn giải thoát khỏi tội lỗi và được sống trong vinh quang của Chúa. Amen.

 

DẤU ẤN TÌNH YÊU

Maria Nguyễn Huệ

Dấu ấn tình yêu là điều mang giá trị cao quý được khắc ghi trong mối tương quan mà chúng ta dành cho nhau. Hôm nay, Chúa Giêsu đã mặc khải một dấu ấn tình yêu, khi Ngài tỏ lộ cho các môn đệ thân tín chiêm ngắm vẻ đẹp vinh quang thiên tính của Ngài. Dấu ấn của Ngài cũng là động lực thúc đẩy các môn đệ và mỗi người chúng ta nỗ lực kiên trì trong việc hoàn thiện đời sống để nên giống Ngài.

Ai trong chúng ta lại không thích những khoảnh khắc diễn tả nét đẹp của người mình yêu quý. Chúa Giêsu đã cho các môn đệ thân tín được thấy những khoảnh khắc đó. “Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17,2). Một vẻ đẹp rạng ngời, huy hoàng trên muôn ngàn vẻ đẹp. Được chiêm ngắm vẻ đẹp của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải, ông Phêrô liền thân thưa với Chúa trong một niềm hạnh phúc trìu mến: “Lạy Ngài, chúng con ở đây thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng ba cái lều” (Mt 17,4). Ánh quang của Chúa Giêsu làm cho ông Phêrô không còn băn khoăn lo nghĩ về hành trình phía trước, hành trình cùng Thầy bước vào cuộc thương khó mà Thầy đã tiên báo trước. Ông chỉ muốn giữ lấy hạnh phúc hiện tại, một giây phút không gì có thể đánh đổi. Ông xin dựng lều để tiếp tục được tận hưởng khung cảnh huy hoàng của niềm hạnh phúc. Chắc hẳn chúng ta cũng có những dấu ấn tuyệt diệu bên người thân yêu, đó là những giây phút chúng ta ở bên nhau bằng niềm vui của sự thông cảm, đón nhận nhau. Chúng ta có nhau bằng niềm tin và hy vọng khi cùng nhau tiến bước trên hành trình. “Một túp lều tranh hai trái tim vàng”, nếu có tình yêu đích thực thì mọi khó khăn dường như cũng trở nên hạnh phúc. Tình yêu có thể tồn tại mãi không? Nếu tình yêu chỉ là những cảm xúc chóng qua thì túp lều lý tưởng mãi mãi nằm trong lý tưởng. Làm sao để tình yêu còn mãi?

Dấu ấn mà Chúa Giêsu tỏ lộ không chỉ mang niềm hạnh phúc chóng qua để thỏa mãn những khao khát, nhưng là một động lực thúc đẩy các môn đệ và mỗi người chúng ta không ngừng chiến đấu, để được nên giống Ngài trong vinh quang của Ngài. Đây là lệnh truyền của Chúa Cha: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người” (Mt 17,5). Nghe lời phán từ trời, các ông hoảng sợ và ngã sấp mặt xuống đất. Mệnh lệnh đó thức tỉnh các ông trong giây phút được cảm nếm niềm hạnh phúc. Chúa Giêsu không muốn giây phút huy hoàng mà các ông chiêm ngắm bị phai mờ. Ngài đã đến đánh thức và động viên các ông, như Ngài muốn nói với các ông mọi biến cố đều nên dấu chỉ tình yêu nếu biết lắng nghe lời Thiên Chúa. Ngài căn dặn các ông: “Đừng nói cho ai biết thị kiến ấy, đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy” (Mt 17, 9). Lời căn dặn của Chúa Giêsu chuẩn bị tâm tình cho các ông trong hành trình chịu thương khó của Người. Ngài cũng nhắn nhủ các ông tin tưởng vào niềm vui Phục Sinh. Dấu ấn của Chúa Giêsu tỏ lộ đã thực sự trở nên động lực cho các tông đồ trong hành trình theo Chúa. Các ông đã cảm nếm những kinh nghiệm riêng về những dấu ấn tình yêu. Ông Phêrô đã chối Chúa nhưng ông đã ăn năn, quyết chí chiến đấu cho tình yêu Chúa đến cùng. Ông Gioan đã luôn trung kiên với Chúa trên chặng đường thương khó. Ông Giacôbê đã trở thành vị tử đạo đầu tiên trong số các tông đồ. Còn chúng ta, đứng trước lời mời gọi của chính Đấng là Tình Yêu, chúng ta thấy mình như thế nào? Phải chăng chúng ta cũng hoảng sợ và chối từ như Phêrô? Nhìn vào sức sống nơi dấu ấn tình yêu mà các tông đồ đã minh chứng, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi: “Hãy vâng nghe lời Người” (Mt 17,5). Chúng ta hãy để chính Lời là Chúa Kitô tiếp nối công cuộc cứu độ của Người nơi cuộc đời chúng ta.

Lạy Chúa, mỗi biến cố trong đời sống chúng con là một dấu ấn tình yêu của Chúa. Xin ban ơn Thần Khí của Ngài đến soi sáng, để chúng con không chỉ dừng lại ở cảm xúc hay lý tưởng nhưng luôn biết quy hướng về thánh ý Ngài, để mỗi biến cố là dấu ấn tình yêu, là động lực cho chúng con không ngừng tiến bước đến cùng Chúa. Amen.

 

CHẮC CHẮN

Lm Vũđình Tường

Kinh nghiệm trên núi thánh các tông đồ có được là món quà đặc biệt Đức Kitô trao tặng ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan. Kinh nghiệm này xảy ra một lần trong đời. Trên núi thánh các ông một lần nữa được nghe tiếng Chúa Cha từ trời cao phán bảo ‘Đây là Con Ta hằng yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Ngài’. Lần đầu các ông được nghe khi Đức Kitô chịu phép rửa tại sông Giođan Mt 3,17 và lần thứ hai trên núi thánh Mt 17,5. Thiên Chúa tái xác nhận Đức Kitô là Con Thiên Chúa và qua Ngài chúng ta nhận biết Thiên Chúa Nhân Lành. Kinh nghiệm trên núi thánh giúp các tông đồ xác tín Đức Kitô là Con Thiên Chúa. Ngài là Con Thiên Chúa nên những ai ‘lắng nghe lời Ngài’ chính là lắng nghe lời Thiên Chúa. Lời kêu gọi ‘lắng nghe lời Ngài’ cho biết Đức Kitô là Đấng duy nhất có đủ thẩm quyền giảng giải về tình Chúa bao la, lòng Chúa xót thương. Những giải thích không hài hoà, ăn khớp với giải thích của Đức Kitô đều là giải thích sai lầm, không chính xác. Các tông đồ cũng tin chắc là những ai ‘lắng nghe lời Ngài’ sau khi hoàn tất cuộc lữ hành trần thế cũng sẽ được hưởng vinh quang như các ông được hưởng trên núi thánh, chiêm ngưỡng vinh quang của Thiên Chúa.

Môn đệ Đức Kitô còn biết thêm là con người không thể trực tiếp đón nhận vinh quang, ánh sáng diệu vợi của Thiên Chúa. Các ông kinh hoàng khi thấy Đức Kitô biến hình sáng ngập trời trên núi thánh, nhưng khi nhìn thấy ánh sáng và tiếng nói phát ra từ đám mây, các ông hoảng sợ, cúi gằm mặt xuống đất, lòng đầy sợ hãi, run rẩy, bởi ánh sáng đó sáng toả hào quang ngoài sức chịu đựng của con người trần thế. Các ông chỉ cảm thấy hoàn hồn khi Đức Kitô đến khuyến khích, an ủi: Đừng sợ. Để có thể chiêm ngưỡng được hào quang huy hoàng của Thiên Chúa con người trần thế: a/ cần ‘biến hình’ thay đổi, từ từ giúp mình trở nên giống Chúa hơn trước khi có thể cảm nhận được vẻ huy hoàng của Thiên Chúa. b/ dù hiện diện trên núi thánh cùng với Đức Kitô, Thiên Chúa vẫn làm chủ và các môn đệ chỉ có thể nghe những gì Thiên Chúa cho phép nghe. Có hiểu được hay không tuỳ thuộc vào hướng dẫn của Đức Kitô. Câu ‘lắng nghe lời Ngài’ còn mang í nghĩa nghe giải thích của Đức Kitô để hiểu biết về tình yêu và lòng bác ái của Thiên Chúa. Khi Đức Kitô rao giảng Ngài không dùng ngôn ngữ của thần thánh nhưng dùng ngôn ngữ của loài người nói chuyện với loài người để giúp loài người hiểu biết về Thiên Chúa.

Thứ ba, các môn đệ chắc chắn là sau khi hoàn tất cuộc lữ hành trần thế, thì có cuộc sống vĩnh cửu trong nước Chúa. Điều này thể hiện qua sự linh hoạt, sống động, vinh quang, sáng láng của các tổ phụ Môise và tiên tri Elijah. Cuộc sống trần gian thay đổi biến con người đó liên kết với thân thể mới, thân thể Phục Sinh của Đức Kitô. Thánh Phaolô trong thơ gởi tín hữu thành Corintô cho biết, để trở thành thân thể mới trong Đức Kitô Kitô hữu đó phải ‘lắng nghe lời Ngài’. Lắng nghe lời Đức Kitô khi còn tại thế, và khi qua đời Đức Kitô cho họ chia sẻ niềm vui sống lại, niềm vui Phục Sinh của Đức Kitô. Do đó sống đời sống mới toả sáng, đầy tràn vinh quang, hạnh phúc bất diệt. 1 Cor 15,51-53.

Bên cạnh những điều chắc chắn trên, còn có những điều không được chắc chắn lắm. Không chắc chắn lắm gây nên bởi thiếu hiểu biết về tình yêu, lòng mến Thiên Chúa. Trước hết, trên đường xuống núi, môn đệ không hiểu tại sao Đức Kitô dặn các ông đừng nói cho ai biết về việc Chúa biến hình và thứ hai các ông hỏi nhau sau khi Con Người sống lại từ cõi chết có nghĩa gì? Mt 17,9. Thứ đến, các môn đệ không hề nhắc đến cuộc đàm thoại giữa Đức Kitô và các tổ phụ. Ngoài một câu duy nhất Chúa Cha phán bảo, mọi sự đều không được tiết lộ.

Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng làm những việc kì diệu trước mắt thiên hạ, cho người mù xem thấy, kẻ chết sống lại, người què được đi, người mù mắt sáng, thế mà Ngài trở nên trung tâm của xỉ vả, mạ lị. Kẻ kết án nói Ngài khờ dại, lính tráng hành hình chế nhạo làm trò vui, đám đông đứng từ xa ngó và tên trộm bị đóng đinh bên cạnh cũng thánh thức Ngài xuống khỏi thập giá. Môn đệ Đức Kitô không hiểu tại sao phải trải qua đau khổ mới đến vinh quang. Đau khổ đi trước mở đường, làm bệ đứng cho vinh quang. Cả Đức Kitô lẫn môn đệ Ngài đều có kinh nghiệm hào quang toả sáng trên núi thánh và kinh nghiệm tối tăm do con người tạo ra. Hai cực đối đầu của cuộc sống đời người. Điều chắc chắn cuối cùng và quan trọng hơn cả là dù vinh quang hay đau khổ, lòng mến môn đệ dành cho Đức Kitô không hề giảm hay bị lay chuyển.

 

HIỂN DUNG THÁNH GIÁ

Lm JB Nguyễn Minh Hùng

“Sáu ngày sau, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông”. “Sáu ngày sau” tức là sáu ngày sau khi thánh Phêrô tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”. Thời gian này Chúa và các tông đồ đang về Giêrusalem. Tại Giêrusalem Người sẽ chịu tử nạn.

Cuộc tử nạn gần kề, Chúa muốn các môn đệ phải biết rõ:

1. Người là ai. Điều này được giải quyết phần nào qua lời đại diện của thánh Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.
2. Người giải phóng nhân loại qua cuộc thương khó, tử nạn, và phục sinh. Điều này các tông đồ chưa vững, do đó thánh Phêrô ngăn Chúa sau khi Chúa báo trước Người sẽ chịu nạn.

Như hầu hết người Dothái đương thời, các tông đồ tin Đấng Thiên Sai uy quyền sẽ chinh phục và thống trị nhân loại. Các ông không thể chấp nhận Đấng Thiên Sai phải chịu đau khổ và chết trên thánh giá.

Vì thế, Chúa Giêsu đưa ba tông đồ lên núi, chứng kiến cuộc hiển dung huy hoàng của Người để các ông:

– Xác tín mối liên hệ của Người với Thiên Chúa. Chúa Giêsu không làm gì mà không theo thánh ý Thiên Chúa. Hôm nay, chính Thiên Chúa đã xác nhận mối liên hệ này: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người”.
– Xác tín khổ nạn Chúa Giêsu sẽ chịu là con đường duy nhất đẹp lòng Thiên Chúa. Các ông sẽ tham dự vào khi “uống chén đắng” với Người.
– Xác tín, theo kế hoặch cứu độ của Thiên Chúa, Chúa Giêsu sẽ nên rực rỡ trong vinh quang phục sinh như những gì các ông đang chứng kiến.
– Được củng cố đức tin qua việc nhìn thấy vinh quang trước khi các ông chính thức “uống chén đắng” với Chúa Giêsu.

Nếu Chúa Giêsu đi qua thánh giá rồi mới vào vinh quang, các tông đồ, những người mà Chúa Giêsu yêu quý, cũng không đi ngoài con đường ấy.

Cũng vậy, ta cần tháp nhập vào thánh giá Chúa để tiến đến vinh quang. Thánh giá hôm nay là sự đồng hành với cuộc đời mà ta đang nếm trải.
Thánh giá cuộc đời mang nhiều màu sắc. Nó là những dằn xé, thử thách, bấp bênh, dao động, hoàng cảnh… mà ta phải đối mặt. Nó có thể là những đau khổ bên ngoài thân xác, hay nỗi đau thấu tận tâm hồn…

Thánh giá cuộc đời hiện lên ngay trên chính đôi tay sần sùi, chai sạn. Thánh giá hằn lên mái tóc nhuộm gió sương, quất vào đôi vai oằn nặng, đè lên đôi chân trong từng bước đi khó nhọc…

Thánh giá khắc trên những vầng trán suy tư, những dấu chân chim quần thâm phía sau đôi mắt đầy vẻ mỏi mệt, thao thức.

Thánh giá in dấu trên những khuôn mặt đăm chiêu, lo lắng đến phờ phạc, đến nhợt nhạt và tái tím…

Giữa nỗi thương đau khi dịch bệnh đang làm cả thế giới hoang mang, là đầu mối gây chết chóc cho nhiều ngàn sinh mạng, làm lung lay nền kinh tế toàn cầu và từng quốc gia…, thánh giá mà nhân loại phải chung vai là chính những âu lo, những sợ hãi chưa biết đến khi nào chấm dứt.
Cách riêng với Kitô hữu, thánh giá không chỉ là đau khổ như bao đau khổ trong đời. Thánh giá không chỉ bởi kiếp nhân sinh đầy bon chen, đầy nhọc nhằn mà mỗi kíp người phải gánh lấy.

Thánh giá còn là mọi hình thức bách hại, cấm cách, chà đạp niềm tin mà bao nhiêu kẻ có quyền, bao nhiêu hệ thống chánh trị gây ra…

Người ta khiếp sợ danh “Kitô hữu”, vì đó là Danh của Chúa chúng ta.

Người ta khiếp sợ vì Danh mà khi nghe đến, “cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ” (Phili 2, 10). Càng khiếp sợ, họ càng ra sức bóp nghẹt sự tự do diễn tả đức tin của chúng ta…

Trước những “thánh giá” chất chồng như thế, ai mà không khao khát cảm nếm sự hiển dung của Chúa. Bởi sự hiển dung củng cố đức tin của các tông đồ, thì cũng là sức mạnh cho lòng tin chúng ta.

Nhưng chúng ta sẽ không bao giờ còn chứng kiến cuộc hiển dung trên núi như các tông đồ. Hiển dung hôm nay trước mắt mỗi người còn quang trọng hơn, đó là hình ảnh CÂY THÁNH GIÁ CỦA CHÚA GIÊSU.

Chính Chúa Giêsu từng nói đến “HIỂN DUNG THÁNH GIÁ”: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu” (Ga 8, 28). Hoặc: “Ông Abraham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của Tôi” (Ga 8, 56). Hoặc: “Trước khi có Abraham, thì Tôi, Tôi Hằng Hữu!” (Ga 8, 58).

Cây Thánh Giá: lời khẳng định chung quyết về một Tình Yêu có một không hai trên cõi đời: THIÊN CHÚA HIẾN THÂN CHO CON NGƯỜI.
Bởi nơi Thánh Giá, không chỉ là Tình Yêu của Chúa Giêsu, nhưng là chính Tình Yêu của Thiên Chúa rực sáng.

Với tôi, biểu lộ Tình Yêu trên Thánh Giá của Chúa là cuộc hiển dung huy hoàng mà Chúa bày tỏ để củng cố sức mạnh lòng tin, khi tôi phải chấp nhận thánh giá của bản thân trong từng ngày sống. Thánh giá của đời tôi sẽ được đền bù, được đáp trả bằng chính Tình Yêu của Đấng đã chết vì tôi.

Nhờ Tình Yêu của chính Thiên Chúa, nơi Thánh Giá, tất cả Vinh Quang của Chúa Giêsu được bày tỏ một cách cụ thể nhất, trọn vẹn nhất, hơn cả vẻ đẹp trên núi Hiển Dung xưa.

Hãy nhìn lên Thánh Giá chiêm ngưỡng Vẻ Đẹp của Chúa Giêsu, để biết Người là Thiên Chúa quyền năng, chiến thắng tội lỗi, đánh bại tử thần.

Hãy nhìn Thánh Giá để thấy niềm tin của từng người được củng cố và thêm vững mạnh.

Hãy nhìn Thánh Giá để nhận ra tình thương của Thiên Chúa, tập hiển dung với Chúa Giêsu bằng cách sẵn lòng đón nhận đau khổ trong đời.

Vì Thánh Giá là cuộc HIỂN DUNG MỚI, nên chấp nhận và tháp nhập thánh giá đời mình vào Thánh Giá Chúa, tôi sẽ hiển dung với Người.

Hiển dung trong chính cuộc đời hôm nay: đó là đau khổ của tôi được thăng hoa để trở thành phương thế cứu độ tôi. Và hiển dung mai ngày: đó là tiến về cuộc Hiển Dung đời đời cùng với Đấng đã hiến mình vì tôi.

 

CĂN TÍNH NGƯỜI KITÔ HỮU

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Những ngày này chúng ta hồi hộp với đại dịch virus corona. Số người tử vong và mắc bệnh tăng lên từng giờ và lan ra nhiều nước. Đây là một thảm họa và chắc chắn một bầu không khí u ám đang phủ đầy những nước bị dịch bệnh. Nhưng chính trong thảm họa này mà khuôn mặt Chúa Giê-su lại được giới thiệu nhiều hơn nơi mảnh đất Trung Hoa qua lời kể của một tín hữu đã viết trên một trang blog như sau:

“Kể từ khi Vũ Hán bị cách ly, khẩu trang là thứ quý giá nhất ở đây. Tiền bạc là vô dụng bởi bạn thậm chí không thể mua được cái khẩu trang. Mọi người đang trong tình trạng tuyệt vọng, nhưng anh chị em chúng tôi vừa đi vừa hát, vừa tranh thủ chia sẻ Phúc Âm và phát khẩu trang miễn phí”. Đây là điều mà trước đây Giáo hội hầm trú đã không thể công khai niềm tin của mình, vậy mà bây giờ họ lại có thể đi khắp các thành phố để rao giảng phúc âm.

Nếu có một niềm vui lấp lánh trong lúc này, thì đó chính là Chúa Giê-su đang được biết đến ngày càng nhiều hơn ở Vũ Hán và Trung Quốc qua dịch bệnh này. Bất chấp nguy cơ bị bắt bớ và lây nhiễm, các tín hữu Chúa đang làm việc không mệt mỏi, giúp Phúc Âm tỏa sáng trong tình hình vô vọng nhất. Cái chết đã không thể ngăn chặn Phúc Âm được rao giảng. Ánh sáng đã được soi ra giữa nơi tối tăm”.

Vâng, giữa những nghịch cảnh của cuộc sống lại càng đòi hỏi người ky-tô hữu chúng ta làm chứng tá cho tình thương của Chúa giữa thế gian. Thiên Chúa là tình yêu và tình yêu thì vượt trên mọi sợ hãi, mọi toan tính để dấn thân phục vụ Tin mừng. Người ky-tô hữu trong lúc này cần phải vượt lên trên mọi toan tính ích kỷ để giới thiệu cho thế giới khuôn mặt đầy từ bi và yêu thương của Thiên Chúa qua đời sống phục vụ và yêu thương của người tín hữu.

Sứ điệp ngày lễ Chúa hiển dung như nhắc nhở chúng ta nhớ mình là họa ảnh của Thiên Chúa. Con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, thế nên con người phải giữ mãi vẻ đẹp tinh tuyền của phẩm giá con người. Nếu có những đam mê tật xấu làm chúng ta biến chất thì đây là dịp Chúa nhắc nhở chúng ta phải biến hình mỗi ngày trở về với căn tính của chúng ta là hình ảnh của Chúa? Là hình ảnh của Chúa chúng ta phải luôn sống tình liên đới và chia sẻ với tha nhân trong mọi vui buồn. Thiên Chúa là tình yêu nên người ky-tô hữu cũng phải tỏ bày tình yêu ấy ngay chính môi trường sống của mình.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nghiêm chỉnh tự đặt cho mình câu hỏi: Tôi có thực sự biến đổi cuộc đời mình nên giống Chúa chưa? Tôi có thực sự xứng đáng làm môn đệ của Chúa chưa? Nếu trong con người tôi còn những tham sân si thì tôi chưa thực sự xứng đáng mang danh người con cái Chúa. Nếu tôi chưa sống yêu thương như Chúa dạy thì tôi đã để tính ích kỷ làm lu mờ hình ảnh Chúa nơi tôi.

Ước gì mỗi người chúng ta hãy biết mình là hình ảnh của Thiên Chúa thật tốt đẹp biết bao, để biết trân trọng, gìn giữ nét đẹp đó trong cuộc sống của mình. Đồng thời cũng biết trân trọng vẻ đẹp ấy nơi tha nhân qua đời sống bác ái, vị tha. Xin Chúa giúp chúng ta biết biến đổi mình mỗi ngày trở nên giống Chúa hơn trong suy nghĩ và hành động hầu xứng đáng là con cái Thiên Chúa. Amen

 

LÊN NÚI THÁNH

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Giữa hai lần báo trước biến cố Thương Khó và Phục Sinh, Đức Giê-su đưa ba môn đệ ra khỏi đời thường để bước vào thế giới của Thiên Chúa. Ở đó, những điều xảy ra nhằm mặc khải căn tính của Đức Giê-su. Biến cố trên núi cao báo trước sự Phục Sinh của Đức Giê-su vì Người có nguồn gốc thần linh, Người có Cha là Thiên Chúa, Người là Con và được Chúa Cha yêu thương. Chính Chúa Cha ra lệnh cho các môn đệ lắng nghe giáo huấn của Đức Giê-su.

Trình thuật bắt đầu bằng sự tách biệt với đời thường về thời gian, về không gian và về con người: “Sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao” (Mt 17,1).

Về thời gian là “sáu ngày sau”, đánh dấu sự phân cách với những gì đã xảy ra trước đó một tuần. Về nơi chốn: ba môn đệ được tách riêng ra một nơi và được đưa lên một ngọn núi cao. Về con người: chỉ có ba môn đệ được chọn: “Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an”.

Sau khi được tách biệt khỏi thời gian và không gian bình thường, những gì xảy ra trên núi thuộc về một thế giới khác. Đó là thế giới của Thiên Chúa, thế giới không còn khoảng cách thời gian và không gian, thế giới mà ngôn ngữ không thể diễn tả được. Trong khoảng khắc thần linh đó, mặc khải của Thiên Chúa được tỏ bày qua thị giác (để thấy) và qua thính giác (để nghe).

Đức Giê-su được biến đổi hình dạng trước mặt ba môn đệ: “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng”. Nếu dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời thì làm sao các môn đệ có thể nhìn mà không bị mù mắt. Nếu y phục của Đức Giê-su trở nên trắng tinh như ánh sáng thì làm sao các môn đệ có thể thấy được, vì không ai thấy được ánh sáng mà chỉ có thể thấy sự phản chiếu của ánh sáng nơi sự vật mà thôi.

Thực ra, đây là cách diễn tả những thực tại thần linh bằng thứ ngôn ngữ thị kiến của sách Khải Huyền. Ba môn đệ đang đối diện với thế giới của Thiên Chúa, đối diện với những thực tại thuộc về Thiên Chúa, đối diện với vinh quang của Thiên Chúa, nên ngôn ngữ loài người hoàn toàn bất lực. Ngôn ngữ loài người không mô tả được, chỉ vì điều xảy ra không có trong kinh nghiệm cuộc sống thường ngày của con người. Bằng ngôn ngữ, sách Khải Huyền chỉ có thể mô tả những thị kiến về thế giới thần linh bằng các từ: “như”, “giống như”, “tựa như”… còn điều trông thấy thì không thể mô tả được. Chẳng hạn Gio-an mô tả thị kiến ở Kh 4,2-3: “Lập tức tôi xuất thần. Kìa một cái ngai đặt ở trên trời và có một Đấng ngự trên ngai. Đấng ngự đó trông giống như ngọc thạch và xích não. Chung quanh ngai có cầu vồng trông giống như bích ngọc”. Kh 4,6 viết: “Trước ngai có cái gì như biển trong vắt tựa pha lê”. “Trông giống như…”, “như…”, còn thực sự thế nào thì không mô tả được.

Có thể nói, trên núi cao, giữa trời và đất, ba môn đệ được thấy “thị kiến” về Đức Giê-su trong thế giới của Thiên Chúa, chỉ có thể mô tả bằng so sánh “như”: “Chói lọi như mặt trời”, “trắng tinh như ánh sáng”, nghĩa là dung nhan của Đức Giê-su không phải là mặt trời, và y phục của Người cũng chẳng phải là ánh sáng, chỉ là “như”, “giống như” mà thôi.

Trong thế giới thần linh ấy, các nhân vật sống cách nhau hàng thế kỷ có thể ngồi lại đàm đạo với nhau. Theo Kinh Thánh, Mô-sê dẫn dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập vào thế kỷ XIII TCN, Ê-li-a là ngôn sứ dưới thời vua A-kháp, thế kỷ VIII TCN và Đức Giê-su thế kỷ I SCN. Nội dung đàm đạo không được kể ra, nhưng điều chắc chắn là có trao đổi giữa các nhân vật. Trong thế giới trên cao, điều nhấn mạnh là tương quan giữa người sống và người đã khuất, là nối kết giữa các thế hệ với nhau, như thể khoảng cách thời gian không còn nữa. Ba môn đệ là chứng nhân cuộc đàm đạo nhưng nội dung lại vượt ra ngoài sự nắm bắt của người phàm.

Mặc khải bằng thị kiến kết thúc với sự lên tiếng của con người, cụ thể là Phê-rô, và chuyển sang hình thức mặc khải thứ hai: “Tiếng nói từ đám mây”: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người” (17,5). Từ kinh nghiệm thị kiến, thấy bằng mắt, chuyển sang mặc khải bằng lời qua tiếng phát ra. Các môn đệ chỉ có thể lãnh hội được nội dung bằng cách “nghe”. Tiếng phát ra từ đám mây không phải là tiếng con người, tiếng này có nguồn gốc từ trời và bí ẩn. Lối hành văn phù hợp với bối cảnh của biến cố trình bày mặc khải của Thiên Chúa.

Đối diện với thế giới của Thiên Chúa và vinh quang của Người, các môn đệ đã “kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất” (17,5). Chính Đức Giê-su đã đưa các ông trở lại đời thường bằng cách chạm vào các ông và nói: “Chỗi dậy đi, đừng sợ”, các ông ngước mắt lên và mọi chuyện lại trở về thực tế. Nhưng biến cố ấy, những gì đã thấy, những lời đã nghe, sẽ không bao giờ rời khỏi các ông. (x. Suy niệm CN 2 Mùa Chay A, Giu-se Lê Minh Thông, O.P.)

Ba môn đệ thân tín được Đức Giê-su dẫn lên núi Tabor. Ở đó cả ba nhìn thấy vinh quang của vương quốc Thiên Chúa chói sáng nơi Đức Giê-su. Trên núi, đám mây thánh thiện của Thiên Chúa bao phủ họ. Trên núi, trong cuộc đàm đạo của Đức Giê-su Hiển Dung với Lề luật và Tiên tri, họ hiểu rằng, giờ của ngày Lễ Lều đích thực đã đến. Trên núi, họ cảm nghiệm, Đức Giêsu chính là Tora sống động, là lời trọn vẹn của Thiên Chúa. Trên núi, họ thấy “quyền lực” của vương quốc đang đến trong Đức Ki-tô. Nhưng chính trong sự gặp gỡ đáng sợ với vinh quang của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu, họ phải học biết điều thánh Phao-lô nói trong lá thư thứ nhất gởi giáo đoàn Cô-rin-tô với các môn đệ thuộc mọi thời đại: “Chúng tôi rao giảng một Đức Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do thái hay Hy lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, Người là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1,23-24). Sức mạnh của vương quốc tương lai xuất hiện nơi Đức Giê-su Hiển Dung, Đấng nói với các chứng nhân Cựu ước về sự cần thiết của cuộc khổ nạn như con đường tiến đến vinh quang (x. Lc 24,26-27). Như thế, họ được tiền dự vào ngày quang lâm; nhờ đó dần dần họ được dẫn vào mầu nhiệm sâu thẳm của Đức Giê-su.(x.Đức Giêsu thành Nazareth, Lm Aug Nguyễn Văn Trinh biên dịch, trang 273).

Đức Giê-su đưa các môn đệ lên đỉnh núi Tabor chiêm ngắm vẻ đẹp của thế giới thần linh, sau đó Ngài đưa các môn đệ xuống núi chuẩn bị vác thập giá lên núi Sọ. Xuống núi để chu toàn nhiệm vụ trần gian. Đức Giê-su phải chịu khổ nạn, chịu chết rồi mới Phục Sinh mở lối vào thiên đàng. Hai đỉnh núi: núi Ta-bor và núi Sọ cách nhau không xa về địa lý nhưng lại là con đường vạn lý. Chỉ có con đường tình yêu mới nối liền hai núi mà thôi.Với Đức Giêsu, vinh quang núi Ta-bor chỉ là chốc lát, chỉ là khởi đầu, chỉ là lời báo trước cho mầu nhiệm núi Sọ nơi vinh quang vĩnh cửu sau cuộc Khổ Nạn. Còn với Phê-rô, đây là vinh quang của ơn cứu độ, và ông phải dấn mình vào: ông tưởng rằng không cần có thập giá vẫn có vinh quang. Mãi đến sau này, sau biến cố Phục Sinh, ông mới hiểu rõ và thuật lại toàn bộ sự kiện (x. 2 Pr 1,16-20).

Thánh Phê-rô cùng các Tông đồ còn phải vượt qua những yếu đuối, sa ngã, còn phải nỗ lực vượt qua mọi khó khăn thử thách, còn phải chịu đau khổ vì Thầy chí thánh, còn phải trải qua cái chết đớn đau rồi mới tới được Núi Thánh thiên quốc như lòng mong ước. Các ngài chỉ đi một con đường Thầy mình đã đi qua. Đó là con đường tình yêu.

Trong cuộc sống người tín hữu, lên núi chính là những giây phút dành cho việc cầu nguyện, tiếp xúc thân mật với Chúa. Đó là những buổi tham dự Thánh lễ, kinh nguyện, những giờ cầu nguyện riêng tư, những buổi Tĩnh Tâm. Cần phải dành những giây phút lên núi với Chúa : Núi của thánh lễ, núi của cầu nguyện, núi của sám hối, núi của những dịp tĩnh tâm. Đó là những giây phút lên núi để gặp gỡ Chúa, để lắng nghe, để chiêm niệm, để biến đổi bản thân mình.

Kỷ niệm ngọt ngào trong những giờ sống hạnh phúc bên Chúa sẽ là sức mạnh nâng đỡ ta trong những thách đố của đời sống. Núi Thánh sẽ trở thành quê hương yêu dấu để tâm hồn ta luôn hướng về, dù còn phải vượt qua rất nhiều trở ngại cách ngăn. Thiên Đàng thoáng thấy qua những giờ kết hiệp với Chúa sẽ là nguồn động viên giúp ta chu toàn mọi nghĩa vụ của con người. Như thế, khi đã xuống núi rồi, ta vẫn còn mong ước sẽ trở lên núi mỗi khi có dịp.

Chúng ta có sẵn sàng nhận lời mời của Chúa Giê-su để cùng với Người “lên núi” không? Mỗi lần Cầu Nguyện, Tĩnh Tâm, Linh Thao, Dâng Lễ, lắng nghe Lời Chúa, đón nhận các Bí Tích, là chúng ta được “lên núi” với Chúa. Nhiều lần “lên núi” như thế là để thực tập cho quen với một lần “lên Núi Thánh” là đỉnh cao cuối cùng trong Nước Trời.

 

KHỔ NẠN VÀ PHỤC SINH

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Trang Tin Mừng (Mt 17,1-9) Chúa Nhật II Mùa Chay năm A, đưa chúng ta lên núi cùng với các Tông Ðồ Phêrô, Giacôbê và Gioan chiêm ngắm Chúa Giêsu biến hình, một biến cố ngoại thường trước khi tiến sâu vào Mùa Chay Thánh, cao điểm là Tuần Thương Khó, cử hành Cuộc Khổ Nạn, cái chết và sự phục sinh vinh quang của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Phêrô, Giacôbê và Gioan thật diễm phúc, vì đã được Chúa Giêsu cho nếm trước vinh quang Phục sinh: điều thuộc về thiên giới nhưng xảy ra trên trần gian. Ba ông thấy Thầy dung mạo biến đổi khác thường, khuôn mặt Người sáng chói như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết (Mt 17,). Các ông đã quá quen với hình ảnh của Thầy trong dáng vẻ thường ngày của con một người trần thế, nay đứng trước sự huy hoàng chói lọi, bao trùm toàn bộ con người của Thầy, lại có thêm Môi-sen và Êlia xuất hiện bên cạnh đàm đạo với Thầy khiến các ông kinh ngạc. Sửng sốt quá, Phêrô thốt lên: “Lạy Chúa, chúng tôi được ở đây thì tốt lắm, nếu Chúa ưng, chúng tôi xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môi-sen và một cho Êlia” (Mt 17,4). Lúc ông còn đang nói thì một đám mây sáng bao phủ các ngài.

Một đám mây bao phủ các tông đồ gợi cho chúng ta nhớ lại đám mây bao phủ dân Israen trong thời kỳ Xuất hành (x. Xh 40,35), hay khi Đức Maria đón nhận tin truyền từ Sứ Thần cho Trinh Nữ: “Quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà” (Lc 1,35). Lúc Chúa Giêsu biến hình, từ trong đám mây bao phủ ấy có tiếng phán rằng: “Đây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”. Tiếng Chúa Cha từ trong đám mây xác nhận Chúa Giêsu là Con yêu dấu, và Ngài mời gọi chúng ta “Hãy vâng nghe lời Người”

Quả thật, Chúa Giêsu là Ngôi Lời nhập thể của Chúa Cha (x. Ga 1,14). Người luôn nói Lời của Thiên Chúa cho loài người (x. Ga 3,34). Chúa Cha muốn các môn đệ và qua các ông Lời Chúa Giêsu cần phải được mọi người đón nhận và vâng nghe. Nghe lời Chúa Cha tuyên phán, các môn đệ kinh hồn bạt vía, ngã sấp xuống. Bấy giờ Chúa Giêsu đến gần, động đến các ông và bảo: “Các con hãy đứng dậy, đừng sợ” (Mt 17).

Đừng sợ, các ông sợ gì và tại sao lại sợ? Thưa, các ông sợ đau khổ, sợ thập giá, nhất là sợ cái chết bi thương như Thầy đã loan báo: “Người phải đi Giêrusalem và chịu nhiều đau khổ do hàng niên trưởng và các thượng tế cùng ký lục, và bị giết đi, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16, 21). Lời loan báo trên chẳng những làm cho Phêrô và hai ông kia, mà thậm trí cả nhóm môn đệ bị khủng hoảng. Phêrô đã phủ nhận và can ngăn Thầy. Ông phủ nhận là điều dễ hiểu, bởi các môn đệ trông đợi một Ðức Messia quyền năng, mạnh mẽ, thống trị, thế mà nay Chúa Giêsu lại tự giới thiệu mình như một người đầy tớ khiêm hạ, hiền lành của Thiên Chúa, đầy tớ của con người, sẽ phải hy sinh mạng sống, bước qua khổ đau và cái chết. Đương nhiên là câu hỏi lớn nảy sinh trong đầu: Làm sao có thể theo Một Bậc Thầy và một Ðức Messia mà cuộc sống trần thế của Người kết thúc như thế được? Các môn đệ nghĩ như vậy. Việc Chúa biến hình là câu trả lời cho các ông.

Biến cố này giúp các môn đệ đương đầu trước cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Cả chúng ta ngày hôm nay nữa cũng hiểu rằng cuộc khổ nạn của Chúa Kitô là một mầu nhiệm, một hồng ân tình thương vô biên của Thiên Chúa, nhất là hiểu rõ hơn sự phục sinh của Người. Để hiểu các biến cố ấy, cần biết trước rằng Ðấng đang chịu đau khổ và được vinh quang không phải chỉ là một con người, nhưng là Con Thiên Chúa, Ðấng cứu độ chúng ta qua tình yêu trung thành cho đến chết. Qua đó Chúa Cha lập lại lời tuyên bố về Chúa Con, đã xảy ra bên bờ sông Giordan sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa và Chúa Cha nhắn nhủ chúng ta : “Các ngươi hãy nghe lời Người” (Mt 17,).

Bước tiếp vào Mùa Chay Thánh, biến cố Chúa biến hình loan báo trước Mầu Nhiệm Vượt Qua, mời gọi chúng ta mở rộng cặp mắt tâm hồn chiêm ngắm Mầu Nhiệm Ánh Sáng của Thiên Chúa trong lịch sử cứu rỗi.

Chúa biến hình vinh quang sáng láng để nêu gương cho chúng ta, giúp chúng ta biến đổi: từ con người tối tăm tội lỗi nên con người tươi sáng hoàn hảo; từ con người ích kỷ tham lam thành người sẵn sàng yêu thương hy sinh và phục vụ mọi người; từ con người kiêu căng tự đắc thành người khiêm nhu tin tưởng và phó thác vào Chúa.

Lạy Chúa, xin thương giúp chúng con hiểu được ý nghĩa của Thập Giá và xin ban ơn để chúng con biết sống Mầu Nhiệm Thập Giá Chúa trong cuộc đời chúng con, hầu mai ngày được sống lại với Chúa trong vinh quang với. Amen.

 

TRỞ NÊN BẠN THÂN VÀ NÊN CON THIÊN CHÚA

Lm.Giuse Đỗ Đức Trí

Ngày nay người sử dụng Facebook, Zalo đã quen với việc kết bạn, qua đó giúp cho mỗi người dễ dàng chia sẻ và đăng lên các tâm trạng của mình. Tuy nhiên, các bạn trên Facebook hay Zalo tuy nhiều, nhưng hầu hết là các bạn ảo, có những người mình không hề biết mặt và chắc chắn sẽ không bao giờ có bạn thân trên Facebook. Trong cuộc sống chúng ta rất cần có những người bạn thân để dễ dàng chia sẻ tâm sự, trao đổi những lúc vui buồn và kể cả được hướng dẫn khi chúng ta gặp bế tắc.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy trở nên bạn thân với Chúa và còn hơn thế nữa, trở nên những người con yêu quý của Thiên Chúa. Các bài đọc chúng ta vừa nghe giới thiệu hình ảnh của một người bạn và một người con của Thiên Chúa.

Abraham đã trở thành bạn thân với Thiên Chúa khi ông hoàn toàn tin nơi Thiên Chúa, sống với Thiên Chúa trong tình thân và sẵn sàng tuân theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa. Ông là một người giàu có, sống yên ổn cùng với dòng tộc tại thành Ur. Thiên Chúa đã ngỏ lời với ông: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi mà đi tới đất ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lừng lẫy, sẽ chúc phúc cho ngươi…nhờ ngươi mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.” Thánh Kinh ghi lại tâm trạng của ông: “Ông ra đi mà không biết mình đi đâu.” Điều đó có nghĩa là ông trao hoàn toàn tương lai, cuộc đời phía trước cho Chúa và để cho Chúa dẫn đi. Ông đã tin tưởng hoàn toàn không một chút hồ nghi do dự, đã lên đường không một chút tiếc nuối. Ông tin vào lời Thiên Chúa hứa sẽ cho ông trở thành cha của một dân tộc đông đúc, cho dù thực tế hai ông bà đã cao niên mà vẫn chưa có con. Ông đã tin Chúa sẽ cho ông một vùng đất làm gia nghiệp cho dù lúc này ông vẫn lang thang chưa biết đâu là điểm dừng. Chính vì có một lòng tin vững chắc đặt vào nơi Chúa, Thiên Chúa đã chúc phúc cho ông, cho dòng dõi con cháu ông sau này, và nhờ ông mọi dân tộc được chúc phúc. Abraham sống thân tình với Chúa khi vui cũng như lúc gặp khó khăn, ông tâm sự với Chúa và ngược lại Thiên Chúa cũng sẵn sàng tâm sự với ông khi Ngài muốn thực hiện kế hoạch của Ngài.

Hình ảnh thứ hai của Chúa Nhật hôm nay giới thiệu cho chúng ta là hình ảnh của một người con được Thiên Chúa yêu mến, đó là Đức Giêsu. Câu chuyện Tin Mừng hôm nay thường được gọi là câu chuyện Chúa Giêsu bày tỏ dung nhan của Người cho các môn đệ, nhưng đúng hơn hôm nay, Thiên Chúa Cha đã làm cho gương mặt của Chúa Giêsu trở nên rạng rỡ và giới thiệu cho mọi người biết Chúa Giêsu là gương mẫu sống thảo hiếu. Chúa Giêsu đưa ba môn đệ thân tín lên một ngọn núi cao, để cùng với Người, cầu nguyện, gặp gỡ Thiên Chúa. Theo thánh Marcô: “đang lúc Chúa Giêsu cầu nguyện, Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. Có ông Môsê và Elia hiện ra đàm đạo với Người.” Như vậy Tin Mừng muốn nói rằng chính lúc cầu nguyện và gặp gỡ Thiên Chúa, chúng ta sẽ được biến đổi, dung nhan sẽ trở nên sáng ngời.

“Có ông Môsê và ông Elia hiện ra đàm đạo với Người”. Môsê là một vị thủ lãnh đã dẫn dân Israel ra khỏi Ai Cập và trở thành người tổ chức, ghi chép lại lề luật của Chúa cho dân. Elia là đại diện cho các ngôn sứ, là một vị ngôn sứ lớn đã làm nhiều phép lạ. Ông đã từng đóng cửa trời khiến cho mưa không rơi xuống đất và cũng nhờ lời cầu nguyện của ông, Chúa cho mưa trở lại. Hai vị này hiện ra đàm đạo với Chúa Giêsu, điều đó cho thấy, Chúa Giêsu chính là điểm hội tụ của tất cả lề luật và các lời ngôn sứ trong Cựu Ước và là Đấng làm cho các lời tiên báo trong Cựu Ước trở nên hoàn tất.

Lúc đó ông Phêrô và các môn đệ được chiêm ngưỡng một chút vinh quang của Chúa Giêsu, các ông ngây ngất trong hạnh phúc và thưa với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con ở đây thật là hay! Nếu Ngài muốn, chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho Môsê và một cho Elia. Lúc ông còn đang nói thì có một đám mây sáng ngời bao phủ các ông và có tiếng từ đám mây phán rằng: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người, các ngươi hãy nghe lời Người.” Đây là lần thứ hai Thiên Chúa Cha công khai giới thiệu Chúa Giêsu cho nhân loại. Lần này, Thiên Chúa còn nói cho mọi người biết Ngài rất hài lòng về Chúa Giêsu. Thiên Chúa Cha hài lòng về Chúa Giêsu bởi vì Chúa Giêsu đã sống trọn tình con thảo với Chúa Cha, trọn tình yêu mến và vâng phục hoàn toàn.

Vì yêu mến và vâng phục, Chúa Giêsu đã chấp nhận từ bỏ địa vị vinh quang của một vị Thiên Chúa để đến thế gian, mang lấy thân phận con người và thực hiện kế hoạch cứu độ toàn nhân loại. Chúa Giêsu đã vâng lời Chúa Cha một cách trọn vẹn, cả cuộc sống của Ngài là tìm kiếm ý Chúa Cha và sẵn sàng vâng theo trong mọi sự. Ngài vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên thập giá. Sự vâng lời tuyệt đối như thế không phải là điều dễ dàng, đòi phải chấp nhận từ bỏ con người và những ý muốn cá nhân của mình, để hoàn toàn vâng phục theo ý Chúa Cha. Khi giới thiệu Chúa Giêsu là người con được yêu mến, Thiên Chúa Cha cũng muốn các môn đệ trở nên giống như Chúa Giêsu để cũng được trở nên những nghĩa tử được Chúa Cha yêu mến. Vì thế mà Chúa Cha đã căn dặn các môn đệ: “Các ngươi hãy vâng nghe lời Người.”

Chúa Cha muốn các môn đệ nghe lời Chúa Giêsu, là nghe điều gì? Thánh Mattheu kể tiếp: Liền sau đó Chúa Giêsu nâng các học trò chỗi dậy và động viên các ông: “Trỗi dậy đi, đừng sợ!… Đang khi từ trên núi đi xuống, Đức Giêsu căn dặn các ông rằng: Đừng nói cho ai biết về những gì đã thấy, cho đến khi con Người từ cõi chết sống lại.” Đây chính là điều các tông đồ thấy hoảng sợ không dám nghe và không dám tin. Đó là Chúa Giêsu nói về cái chết và sự phục sinh của Ngài. Các tông đồ không muốn nghe đến cái chết, bởi vì, đi theo Chúa Giêsu các ông đang nuôi biết bao ước mộng cho tương lai. Vì thế, việc Chúa Giêsu nói đến cái chết là điều xui xẻo các ông ông không muốn nghe. Các ông cũng không dám tin việc: “Con Người từ cõi chết trỗi dậy.” Vì việc này chưa từng xảy ra bao giờ. Mặc dù đã nhiều lần chứng kiến việc Thầy của các ông làm cho người chết sống lại, nhưng lúc này để tin vào lời tiên báo Ngài sẽ trỗi dây từi cõi chết, quả là điều khó tin. Vì thấu hiểu được nỗi khó khăn này của các môn đệ, Chúa Giêsu cho các ông được thấy trước một chút vinh quang của Ngài qua việc biến hình, để khi cuộc tử nạn và phục sinh xảy ra sau này, các ông dễ dàng chấp nhận hơn.

Thưa quý OBACE, mùa chay chính là mùa Chúa và Giáo Hội muốn chúng ta làm mới lại tương quan của mình với Thiên Chúa, dám chấp nhận một cuộc lột xác, thay đổi cuộc sống để có thể trở nên những bạn thân và trở nên con thảo của Thiên Chúa. Chúng ta sẽ trở nên bạn thân với Chúa bằng cách thường xuyên đến gặp gỡ Chúa qua việc dâng lễ và qua những giờ phút cầu nguyện, gặp gỡ riêng tư với Chúa. Bạn thân trong cuộc sống là người bạn chúng ta dễ dàng chia sẻ, tâm sự và xin ý kiến tư vấn. Cũng vậy, trở nên bạn thân với Chúa, chúng ta đừng ngại gặp gỡ Chúa, trải lòng và tâm sự với Chúa về hoàn cảnh, những khó khăn và vui buồn của mình. Thiên Chúa là người bạn rất kiên nhẫn để lắng nghe, Ngài sẽ cho chúng ta những chỉ dẫn sáng suốt nhất, những phương án tốt nhất, để ta giải gỡ những khó khăn trong cuộc sống.

Cũng vậy, chúng ta được mời gọi trở nên những người con, không phải là những người con bình thường, mà là những người con thảo hiếu. Người con thảo hiếu là người biết mình được Thiên Chúa yêu cách đặc biệt, vì thế muốn làm tất cả mọi sự để vui lòng Thiên Chúa. Trở nên người con được yêu mến, có nghĩa là trở nên như trẻ thơ trong vòng tay cha mẹ, sống trong sự tin tưởng hoàn toàn nơi Thiên Chúa là Cha, Đấng yêu thương, quan phòng và hằng bảo vệ ta, Ngài không bao giờ đành lòng khi thấy chúng ta đau khổ. Vì thế đừng ngại chạy đến sà vào lòng Thiên Chúa, giãi bày và tâm sự, để cho Chúa an ủi, nâng đỡ, vỗ về và ban sức mạnh trợ giúp cho ta. Trở nên con thảo là trở nên giống Chúa Giêsu, luôn chọn thánh ý Thiên Chúa và luôn vâng lời Chúa trong mọi sự, dù có phải bước vào con đường chông gai thập giá, vẫn tin rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta.

Cuối đường hầm luôn là ánh sáng, sau hy sinh, đau khổ là con đường đến vinh quang, sau cái chết là cuộc phục sinh huy hoàng. Xin Chúa cho chúng ta can đảm bước theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá để cùng với Người chúng ta được chia sẻ vào vinh quang phục sinh với Người. Amen.

 

BIẾN HÌNH

Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

CÂU HỎI GỢI Ý

  1. Đâu là mối liên lạc giữa cuộc Biến hình và những điều xảy ra trước?
  2. Hãy tìm các chủ đề Kinh thánh Cựu ước tiềm ẩn trong đoạn văn này.
  3. Vị trí của Chúa Giêsu thế nào so với Môisen, Elia và Gio-an Tẩy giả? So sánh với cảnh Phép rửa (3, 13-17) để tìm ra những gì giống nhau cũng như những điểm mới trong đoạn văn này.
  4. Đâu là ý nghĩa của cảnh này? Nó có ý nghĩa Kitô học không?
  5. Đoạn văn lưu tâm đến ai, đến Chúa Giêsu hay Thiên Chúa?
  6. Hãy ghi nhận việc hiện tại hóa cảnh này nhằm chủ đích hộ giáo trong 2Pr 1, 16- 17

CHÚ GIẢI

  1. Chết và sống lại, nhục nhã và quang vinh, hai diện ấy của mầu nhiệm cứu rỗi, Chúa Giêsu chẳng hề tách biệt; các lời tiên báo của Người không phân rời hai biến cố sẽ xảy ra. Tuy nhiên, bao lâu chưa có Phục sinh và Hiện xuống, nghĩa là bao lâu Chúa Giêsu chưa sống cảnh ô nhục này và Thánh Thần chưa được trao ban, thì giáo huấn đó vẫn vô hiệu, và Chúa Giêsu lại không thể dẹp bỏ sự ô nhục được.

Nhưng Chúa Cha có thể hé mở câu trả lời và, trước khi biến cố Vượt qua xảy đến, Ngài đã cho ba môn đồ ưu ái được chiêm ngưỡng, trong một khoảnh khắc thoáng qua, chính vinh quang của Con Ngài. Kinh nghiệm đó đã không được loan báo cách bí nhiệm trong câu chuyển mạch giữa giáo huấn về việc phải đồng chịu khổ nạn với Chúa Giêsu và giai thoại Biến hình đó sao? “Quả thật, Ta bảo các ngươi: trong những kẻ có mặt đây, có người sẽ không nếm biết cái chết trước khi thấy Con Người đến trong nước của Người. Và sáu ngày sau …” (Mt 16, 28- 17, 1a). Đó là lời Chúa Giêsu hứa cho nếm trước phần thưởng được dành vào ngày sau hết, tiền nếm bằng việc chiêm bái trước vinh quang của Con Người. Và các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm đều thấy trong câu nói bí nhiệm ấy lời tiên báo trực tiếp về cuộc Biến hình; đa số các giáo phụ cũng nghĩ như vậy. Cho dù xét về nguồn góc, câu văn có thể nhắm đến cuộc Quang lâm nó cũng liên hệ với giai thoại này bằng một vài điểm móc nối có tính cách văn chương. Đặc biệt, chữ “một số người” có thể ám chỉ ba môn đồ được biệt đãi; việc Quang lâm của Con Người mà thiên hạ sẽ thấy đến trong Vương quốc, cũng đã được thực hiện cách tượng trưng trong “thị kiến” (17,9) trên núi; câu chuyển mạch thời gian “sáu ngày sau”, rất hiếm trong trình thuật về cuộc đời công khai, xem ra được chủ ý thêm vào để làm nổi bật mối liên hệ giữa lời loan báo và việc thực hiện.

Xét theo mạch văn, thì cuộc Biến hình có mục đích cho các môn đồ ưu ái thấy trước Vinh quang của ngày sau hết, vinh quang nay đang tập trung trong con người Giêsu đang sống thường ngày với họ. Thiên Chúa phán với các môn đồ đầy sợ hãi rằng họ có thể và phải nghe cùng vâng lời, tín thác cùng đi theo Chúa Giêsu trên đường đẫn tới Giêrusalem, tiến đến vinh quang bằng thập giá.

  1. Các chủ đề Kinh thánh xuất hiện trong đoạn văn này có một ý nghĩa rộng lớn đến nỗi phải gắn liền chúng với cao điểm của trình thuật, nghĩa là, theo ý kiến chung của các nhà chú giải, với lời phán từ trời. Lời thần tính này, từ trời phán ra, nhắc lại lời Chúa Cha phán lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa (3,17). Nhưng tiếng nói từ trời còn thêm vào lời công bố tử hệ thần linh của Chúa Giêsu một mệnh lệnh cho các môn đồ: “Hãy nghe Người”. Lời đó mặc khải ba khía cạnh của Chúa Giêsu: Con Thiên Chúa, Tôi tớ được Thiên Chúa sủng ái, Ngôn sứ tuyệt hảo.

Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Thành ngữ “Con yêu dấu” có nghĩa là “Con duy nhất”. Đối với các nhà biên soạn Tin Mừng, thành ngữ đó không những chỉ Đấng Messia, Đấng được tuyển chọn, mà còn chỉ Chúa Con tiền hữu; dầu không có nội dung chính xác theo như định nghĩa của các công đồng, tước hiệu Con Thiên Chúa, phát xuất từ Tv 2,7, vẫn có một ý nghĩa mới như việc cộng đoàn sứ đồ giải thích lại Tv này. Dù các môn đồ, trong cuộc Biến hình, hiểu lời đó thế nào chăng nữa, thì đối với các tác giả Tin Mừng, hình như chắc chắn Lời này công bố sự tiền hữu của Chúa Giêsu. Chính Thiên Chúa đáp lại lời Chúa Giêsu vừa loan báo về cuộc khổ nạn của mình. Trong phép rửa, khi Chúa Giêsu đến với Gioan Tẩy giả dưới dáng vẻ một tội nhân như một người Israel đương thời, thì Thiên Chúa đã công bố rằng Người đích thực là Con yêu dấu. Trong cuộc Biến hình, Thiên Chúa đã xác quyết với các môn đồ vừa nghe Chúa Giêsu tự gán cho mình số phận người Tôi tớ đau khổ, rằng Người quả thực là con riêng của Ngài.

Chúa Giêsu là Tôi tớ Thiên Chúa; Thiên Chúa hài lòng về người Con yêu dấu đó. Qua tiểu chú thứ hai này, Mt gợi lại cuộc thần hiển xảy ra lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa, và cho thấy Thiên Chúa muốn giới thiệu Chúa Giêsu như là người Tôi tớ mà Isaia đã loan báo: “Này đây Tôi tớ của Ta mà Ta nâng đỡ; Tuyển nhân của Ta mà Ta sủng mộ” (Is 42,1 ). Khi gọi Chúa Giêsu như là “người được tuyển chọn”, người được sủng ái tiếng nói từ trời đã áp triện thần linh trên thái độ của Đấng Messia “hiền lành và khiêm nhượng trong lòng” này (11, 29), là Đấng không nỡ bẻ cây sậy bị dập” (Is 42,2 – được Mt áp dụng  cho Chúa Giêsu trong 12, 18- 21), là Đấng người ta có thể đến học đòi bắt chước mà chẳng chút sợ hãi lo âu.

Chúa Giêsu là Ngôn sứ: Mệnh lệnh “Hãy nghe Người” đã làm nổi bật giai thoại so với trình thuật Phép rửa. Nó áp dụng vào Chúa Giêsu lời loan báo có tính cách sấm ngôn của Đnl được trích dẫn trong Cv 3, 22: “Từ giữa các anh em ngươi Chúa của ngươi sẽ cho chỗi dậy một ngôn sứ như ta; các ngươi sẽ nghe Người trong tất cả mọi điều Người phán” (Đnl 18,15). Trong diễn từ cho dân chúng tại Giêrusalem, Phêrô cho thấy khi phục sinh Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã bày tỏ Chúa Giêsu như một Môisen mới, như Vị Ngôn sứ thiên hạ đợi trông trong thời cánh chung (x.Cv 7, 37 ; Ga 6, 14 ; 7, 40). Sự đảm bảo thần linh này, Thiên Chúa đã ban cho Chúa Giêsu lúc Người biến hình để tỏ cho các môn đồ thấy rằng hôm nay quả thực Người là Vị ngôn sứ tuyệt hảo và phải nghe Người, “nếu không sẽ bị loại ra khỏi lòng dân tộc? (x.Cv 3,23; Lv 23,29), rằng ơn cứu độ cũng như sự sống vĩnh cửu đều tùy thuộc về Người, sự sống vĩnh cửu mà Người vừa hứa ban cho ai vác thập giá đi theo.

  1. Mỗi một dấu hiệu biểu trưng trong cuộc thần hiển – núi, vinh quang, các nhân vật Môisen và Elia, lều trại, đám mây – đều được sáng tỏ dưới ánh sáng văn mạch và lời nói từ trời. Mệnh lệnh phán từ trời đã chỉ Chúa Giêsu như là vị Môisen mới. Thế mà trong Cựu ước, ngọn núi Thiên Chúa thường dùng để mặc khải, ngọn núi mà Môisen đến nhận lãnh các bảng Lề luật (Xh 31, 18) và Elia có lần trèo lên (1V 19,8), là núi Sinai. Do đó ngọn núi nơi Thiên Chúa đến nói chuyện với Con của Ngài đang biến hình, là núi Sinai mới. Các yếu tố khác trong trình thuật thần hiển đều qui chiếu về lối giải thích đó đặc biệt là ánh vinh quang, các nhân vật Môisen và Elia, đám mây sáng rực; và cũng có lẽ cả chi tiết “sáu ngày” trước khi xảy ra cuộc Biến hình của Chúa Giêsu và lời công bố của tiếng nói từ trời? Môisen đã chẳng phải chờ đợi, trong 6 ngày, lời của Giavê đó sao (Xh 24, 15-16)?

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

“Chúa Giêsu đem theo mình Phêrô, Giacôbê và Gioan”: Khi lên núi Sinai, Môisen cũng đi với nhiều bạn hữu trong số đó có ba người được ghi đích danh ở một trong các bài trình thuật (Xh 24,9). Phêrô, Giacôbê và Gioan sẽ ở với Chúa Giêsu trong vườn Ghetsêmani (26.37); họ cũng sẽ bỡ ngỡ vì biến cố như ở đây. Đoạn cuối trình thuật (17, 9) và 2Pr 1, 16 giải thích cho biết sự hiện diện của các sứ đồ đó là cần vì sau Phục sinh, cần phải rao giảng, làm chướng cho Vinh quang của Chúa Giêsu trước mặt dân chúng. Thế mà “có miệng hai hay ba nhân chứng thì việc mới vững” (Đnl 19,15).

“Trên một núi cao”: Thành ngữ này không gặp ở chỗ nào khác trong Mt ngoài trình thuật Cám dỗ (4,8.). Nó nói lên tương quan Giữa cuộc biến hình và Cám dỗ. Quả thực, Chúa Giêsu vừa mới đẩy lui cuộc cám dỗ quỷ quái của Phêrô (16, 23). Để đáp lại lòng tùng phục của Người, Chúa Cha đã biến đổi Người cách vinh quang và như vậy tiên hứa cho Người quyền năng trên toàn thế giới (“Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Ta” 28, 18)”, quyền năng này Người đà từ chối nhận lãnh cách quá sớm từ tay Satan (4.8) và chỉ sẽ nhận lãnh sau ngày Phục sinh.

“Và người đã biến hình trước mặt họ”: Biến hình (hy ngữ: metamorphôthê: nghĩa tự nguyên: “thay đổi” hình dạng, vẻ mặt, có nghĩa là có một dung mạo khác với dung mạo thường ngày; cũng thế, Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đồ Emmau dưới một hình dạng khác”, hình dạng người lữ hành (Mc 16, 12). Việc Chúa Giêsu biến hình đã đáp ứng niềm hy vọng thấy trong văn chương Khải huyền Do thái. Vào thời sau hết, khuôn mặt của các người công chính sẽ biến đổi và trở nên sáng láng, rạng rỡ kiều diễm như mặt các thiên sứ, tràn ngập vinh quang (Khải huyền của Baruch 51, 3-10). Dựa trên một sự kiện của quá khứ – da mặt Môisen chiếu rọi vinh quang vì đã được trò chuyện với Giavê (Xh 24,39), niềm trông đợi cánh chung đó diễn tả sự vinh hiển tương lai của những kẻ được chọn như sau: các hiền nhân sẽ sáng chói như ánh quang vòm trời, và những kẻ đã giảng dạy sự công chính cho nhiều ngươi sẽ rạng rỡ như tinh sao muôn đời muôn kiếp” (Đn 12, 3). Hôm nay, trên núi này, qua con người Chúa Giêsu, dưới mắt các môn đồ được biệt đãi, niềm hy vọng đã trở thành thực tại. Nếu lời thiên quốc giới thiệt Con Thiên Chúa tiền hữu, thì sự kiện biến hình mặc khải con người Chúa Giêsu trong ánh vinh quang sau cùng và dứt khoát của Người.

“Mặt Người sáng láng như mặt trời, áo Người trắng phau như ánh sáng “: ánh sáng rực rỡ này biểu trong các thực tại thiên quốc (Đn 7,9; Mt 28,3; Cv 9,3) và cánh chung (Kh 1, 13- 14 ; 4, 4 ; 14, 4 ; 19, 11, 20, 11). Vinh quang mà Chúa Giêsu loan báo cho thời sau hết, khi con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Người với các thiên sứ ” (16, 27), vinh quang mà Giacôbê và Gioan mơ ước (20, 20-23), giờ đây xuất hiện trước mắt ba nhân chứng. Nó không phải là một phản ảnh đơn thuần của vinh quang Giavê (Môisen), nhưng là một ánh sáng chói lọi mặc khải hữu thể sâu xa của Chúa Giêsu: Người là chính Thiên Chúa. Sau này các sứ đồ sẽ minh xác điều đó: “Chúa Giêsu là sự tỏa chiếu vinh quang Thiên Chúa, là ấn tượng của bản tính Ngài” (Dt 1, 3); trên mặt Người là vinh quang Thiên Chúa (2 Cr 4, 6); Người là Chúa vinh quang” (1 Cr 2, 8). Ánh vinh quang thiên quốc này đã sáng rực lên trong đêm Sinh nhật, bao trùm các mục đồng (Lc 2, 9-10), hôm nay vinh quang đó phủ lấy con người này, và mặc khải trước thời gian trạng thái tương lai người đó sẽ đạt đến, khi được đưa vào vinh quang” (1Tm 3, 16), khi được Thiên Chúa phục sinh và ban cho vinh quang (1Pr 1, 21), khi Thiên Chúa tôn vinh Tôi tớ của Ngài (Cv 3, 13). Têphanô sẽ thấy Người trong vinh quang của Người như thế (Cv 7, 55) và Saolê, trên đường đi Đamas, sẽ bị đui mù vì ánh sáng của Người (Cv 9,3). Vinh quang này của Chúa Kitô sau cùng sẽ bừng sáng trên chính tín hữu (2Cr 3, 18). Và trong khi chờ đợi ngày được tôn vinh, người Kitô hữu, vốn đang sống trong đêm tối mà không thuộc về đêm tối (1Tx 5,5-6), đã thấy trong cuộc Biến hình một nguồn sáng rực rỡ.

“Và này có Môisen và Elia hiện ra cho họ”: Không có giả thuyết nào về ý nghĩa hai nhân vật thiên quốc này làm ta xác tín thỏa mãn. Người ta thường xem Môisen như là biểu tượng của Lề luật, cùng Elia như là người đại diện các ngôn sứ; nhưng thông phán từ trời (Hãy nghe người) cho thấy tiền ảnh của Vị Ngôn sứ tương lai là Môisen chứ không phải Elia: Vả lại dưới mắt Israel, Môisen chẳng những là nhà lập luật, mà còn là vị ngôn sứ nữa (Hs 12, 14) là vị ngôn sứ mà sau này trong Israel sẽ chẳng có vị nào tương đương” (Đnl 34, 10).  Thỉnh thoảng người ta cũng xem Môisen và Elia như là tiền ảnh của hai nhân chứng sách Khải huyền giới thiệu mà không nêu danh: Elia là kẻ có quyền đóng cửa trời và Môisen là người có quyền gõ vào mặt đất (Kh 11, 3. 6) ; một vài bản văn của các giáo sĩ Do thái: còn xem Elia như là hình ảnh của Đấng Messia đau khổ: trong cuộc chuyện trò ngay sau giai thoại biến hình, Elia được xem là hình ảnh của Gioan mà người ta đã ngược đãi (Mt 17, 12-13). Quả vậy, xét theo truyền thống (Mt 3, 23-24) mà Chúa Giêsu ám chỉ cho các môn đồ trong một 17, 10- 11 , có thể Elia là tiền hô của Đấng Messia, và điều này đã được thực hiện trong con người Gio-an Tẩy giả. Vậy sở dĩ Elia có mặt trên núi, đó là với tư cách tiền hô của Đấng Messia; có lẽ vì thế mà Mc đã ghi tên ông trước Môisen, dù sau đó ông ta ghi lại theo thứ tự ưu tiên của truyền thống (Mc 9, 5). Có một bản văn của các giáo sĩ Do thái ghi chép thế này: “Johannan ben Zacchai đã nói. Thiên Chúa phán cùng Môisen: khi Ta sẽ sai ngôn sứ Elia, cả hai ông phải cùng nhau đến ” (Dt rabba 3). Có lẽ toàn thể biểu tượng cựu truyền về hai nhân vật này đã liêm nhiễm quan niệm về Đấng Messia của các tác giả Tin Mừng: ngôn sứ Môisen đến chào Vị ngôn sứ đích thực; cùng đi với ông, còn có Elia, vị tiền hô của Messia. Dù sao, hai nhân vật này của Cựu ước, ngày xưa đã từng trèo lên núi Sinai, tiên báo qua việc họ lên núi Sinai mới này rằng: với Chúa Giêsu, thời gian đã hoàn tất.

“Tôi sẽ dựng ba lều”: Đối với truyền thống Do thái, nơi ở thiên quốc được biểu trưng bằng các nhà tạm đời đời” (Lc 16,9). Quả vậy, người ta biết rằng trong thời sau hết, Thiên Chúa sẽ ở giữa dân Ngài (Ed 37, 27 ; Hs 12, 10) trong lều của Vinh quang Ngài, rằng dân chúng sẽ cắm lều quanh Đấng Messia của họ (ít nhất theo Hênoc 71, 16 ; Ga 1, 14: Người đã dựng lều Người giữa chúng tôi, và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người”) và các dấu lạ của thời Xuất hành sẽ tái diễn. Phêrô tưởng thời sau hết đã tới và cho rằng đã đến lúc thiết lập thiên đàng ở trên trái đất, để cuộc hiện ra trong một ngày sẽ kéo dài mãi mãi. Khi đề nghị làm ba lều, ông muốn khai mào sự  “nghỉ ngơi” cánh chung vậy.

“Thì này một đám mây sáng ngời rợp bóng trên họ”: Đó là câu Thiên Chúa trả lời đề nghị của Phêrô. Lều có vai trò che chở, còn mây thì đến phủ bóng: lều được bàn tay loài người dệt nên, còn mây thì do trời; lều tìm ta trong bóng tối, còn mây lại chiếu sáng rạng ngời. Điểm tương phản mà văn mạch trực tiếp gợi lên ấy, đã được xác định và xác quyết qua hình ảnh đám mây của Kinh Thánh.

Trong truyền thống Thánh Kinh, mây dấu chỉ thần hiện đi theo các cuộc xuất hiện khác nhau của người thiên giới. Ở đây không phải là đám mây chỉ theo một nhân vật như Con Người của thời cánh chung (Đn 7, 13 ; Mt 24.30), song là đánh mây rợp bóng và bảo vệ đám mây một cách nào đó dựng lều cho chính Thiên Chúa: Thiên Chúa đã lấy mây để làm lều trại cho mình (Tv 18, 12). Tuy nhiên hình như biến cố này thực hiện một sấm ngôn trong truyền thống Do thái, liên hệ đến thời sau hết: Và bấy giờ Chúa sẽ tỏ bày các điều ấy ra, và vinh quang Chúa cũng như đám mây sẽ xuất hiện, như đã hiển hiện dưới thời Môisen và khi Salomon cầu xin cho đền thờ được huy hoàng tác thánh” (2Mcb 2,8). Cũng như ngày xưa Lều Hội họp (Trướng Tao phùng) đã được đám mây bao phủ và nhà tạm được tràn ngập vinh quang Giavê (Xh 40,34-35), như đền thờ của Salomon được Đám mây và Vinh quang bao phủ (1V 8,10-12), thì trong thời cánh chung cũng như vậy: Vinh quang đã rời bỏ Đền thờ (Ed 10, 3-4) sẽ trở lại cùng với Đám mây. Trên núi Biến hình, được chiếu sáng bởi vinh quang đang tỏ hiện nơi dung mạo Chúa Giêsu và nơi y phục Người, Mây đã ngự xuống làm dấu chỉ có Thiên Chúa hiện diện. Mây rợp bóng bao trùm các nhân vật cũng tương tự quyền năng của Đấng Tối cao” đã “phủ bóng” trên trinh nữ Maria trong ngày Truyền tin (Lc 1, 35): động từ episkiazô chỉ xuất hiện ở Tân ước trong hai trường hợp này để nói lên sự can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa.

Ý nghĩa biểu trưng của Mây còn có thể được xác định thêm. Nó không chỉ phủ bóng trên ba nhân vật, mà còn trên ba môn đồ nữa; chỉ Luca ghi nhận điểm ấy, nhưng văn mạch cũng nói lên điều đó trong Mt và Mc. Tiểu tiết này thật quan trọng: nó cho thấy rằng các môn đồ không chỉ làm khán giả, song còn nhập cuộc vào một biến cố dĩ nhiên là vượt tầm sức họ, nhưng cũng liên quan đến họ. Lời ngôn sứ vừa nhắc trên đây cho thấy Vinh quang và Mây xuất hiện trong hoàn cảnh nào: nơi cất dấu các đồ phụng tự “sẽ không được ai biết đến cho tôi khi” nào Thiên Chúa thâu họp dân lại và dủ lòng thương đoái ” (2Mcb 2, 7). Nếu nhớ lại văn mạch tổng quát của giai thoại biến hình chúng ta đang nghiên cứu, tức là việc thành lập cộng đoàn môn đồ để tiên báo và thể hiện Giáo Hội, ta sẽ dễ dàng chấp nhận rằng Thiên Chúa đã bắt đầu thâu họp dân Ngài. Khi nối kết hai nhóm – trời và đất – cho đến lúc đó hãy còn tách biệt, đám mây đã công nhận việc thâu họp các môn đồ quanh lời Chúa Giêsu, việc thâu họp mà Người đã bắt đầu thực hiện. Không phải Chúa Giêsu biến hình cho riêng Người, nhưng còn cho các môn đồ: họ sẽ nhờ đó khám phá ra nguồn gốc thần linh của lời giáo huấn mà họ phải vâng nghe; một khi đã được vào trong đám mây thiên quốc, họ sẽ biết rằng từ đây họ đang lập thành một cộng đoàn với Chúa Giêsu và cả với thiên quốc, bao lâu họ còn lắng nghe lời Người.

“Các môn đồ ngã sấp mặt xuống đất … Chúa Giêsu đụng đến họ”. Đối diện với Thiên Chúa đến viếng thăm, con người cảm thấy xâm nhập bởi một nỗi sợ hãi linh thánh. Không ai có thể nhìn thấy Thiên Chúa mà không chết (Xh 19, 21 ; 33, 20 ; Lc 16, 2 ; Ds 4, 20). Trong thị kiến đầu tiên, Isaia cảm thấy như muốn chết (Is 6, 5) vì đã tiếp xúc với Thiên Chúa. Ở đây, các môn đồ cũng cảm nghiệm cùng một nỗi sợ hãi như chết đó khi đứng trước vinh quang Chúa Giêsu. Vì thế Chúa Giê-su đã thực hiện một cuộc phục sinh tượng trưng. Người đụng đến họ, và cử  chỉ chữa bệnh đã từng phục sinh con gái ông Giairô (9, 25) giờ đây cũng “phục sinh” các môn đồ.

“Các con không được nói cho ai hay thị kiến ấy cho đến khi Con Người sống lại từ cõi chết”: Chắc hẳn Chúa Giêsu ban mệnh lệnh này để tránh mọi xáo động có tính cách chính trị thiên sai trong dân chúng; sau Phục sinh, mối quản ngại này không còn nữa, vì giữa cuộc Biến hình và Phục sinh, thập giá đã dẹp bỏ một lần thay cho tất cả các ước mơ về quyền lực thiên sai rồi.

KẾT LUẬN

Tất cả các yếu tố của đoạn miêu tả này đều cho thấy rằng niềm trông đợi của Israel đã được thực hiện, một cách bất ngờ nhưng chắc chắn. Môisen và Elia đến chuẩn bị dân chúng và biến họ thành một cộng đoàn thánh thiện. Nhờ đám mây, cụộc tập họp vĩ đại được thực hiện (2 Mcb 2, 7); khuôn mặt sáng láng của Con Người mà Đaniel tiên báo (Đn 7 và 10) giờ đây đang đứng trước mặt các môn đồ; còn họ thì tượng trưng cho cộng đoàn cánh chung. Tất cả những gì Israel hy vọng nay đang thành thực tại. Điểm mới mẻ, chính là nhân vật biến hình. Người không đến từ trời, nhưng trời xuống trên trái đất. Người không nói, nhưng là tiếng nói từ trời vang lên. Sau cùng và đặc biệt, Đấng mà giờ đây ta phải vâng nghe, không còn chỉ là Giavê (“Hãy nghe hỡi Israel”: Đnl 6,4 – khởi đầu của kinh nguyện được gọi là Shema), nhưng là Chúa Giêsu đang đứng đó. Người là Đấng mặc khải, là chính Chúa của dân.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

  1. Chúa Nhật I Mùa Chay đã dẫn chúng ta lên núi cám dỗ, là nơi mà Chúa Giêsu đã từ chối không chịu quỳ lạy dưới chân tên Cám dỗ để được nó ban cho một quyền lực mà chỉ mình Thiên Chúa mới có thể ban (Mt 4, 8- 10). Để đáp lại lòng trung thành sơ khởi này đối với Thiên Chúa, hôm nay có tiếng nói từ trời được phán ra trên núi Biến hình, trong Chúa nhật II Mùa Chay này. Khi công bố Chúa Giêsu là Con Tiền hữu, tiếng nói từ trời làm cho ta tin vào giáo huấn mới về số phận mà Thiên Chúa đã đặt định cho Tôi tớ Ngài: không phải là đường uy quyền trần thế, mà là đường vinh quang thiên quốc đi qua nhục nhã khiêm hạ. Rồi quyền tối thượng trên trời dưới đất mà Chúa Giêsu đã lãnh nhận từ Thiên Chúa, Người đã ủy thác lại cho các môn đồ quậy tụ trên núi Thăng thiên (28, 18- 20). Cũng vậy, Giáo Hội sẽ có thể thực thi quyền đó nhân danh Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã hứa ở cùng Giáo Hội cho đến khi Người trở lại vinh quang, nếu Giáo Hội, theo gương Thầy chí thánh, không nghe lời Satan, mà bỏ con đường đưa đến vinh quang ngang qua thập giá.
  2. Việc biến hình của chúng ta hệ tại ở việc chúng ta trở nên giống Chúa Kitô bằng sự tiến bộ không những trong đường thiêng liêng (2 Cr 3, 18) và, sau cuộc vượt qua cái chết với Chúa Giêsu (Pl 3,10- 11) bàng việc tôn vinh toàn hữu thể chúng ta, kể cả thân xác (Pl 3, 21). Việc Phục sinh của Chúa Kitô kéo theo việc phục sinh và biến hình toàn diện chúng ta như vậy đó.
  3. Cũng như các sứ đồ trong cuộc sống âm thầm thường nhật, chúng ta phải biết gặp “một mình Chúa Giêsu” (c.8), Chúa Giêsu của mọi ngày, Chúa Giêsu nền tảng của cuộc sống nội tâm và tông đồ của chúng ta (Pl 1, 21), nhất là khi chúng ta mất hết mọi tình bằng hữu hoặc mọi nương tựa nơi người đời.
  4. Đừng sợ hãi khi phải cùng với người và trong đám mây (c.5). Vì đây là một “đám mây sáng ngời” sẽ rợp bóng trên chúng ta. Đây là một sự hiện diện kín đáo trong đời sống cầu nguyện hay trong dời sống đức tin tinh ròng.
  5. Chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng Chúa Kitô trong vinh quang của Người trên trời, sẽ thấy Người trong vẻ đẹp kiều diễm sáng láng (Kh 1 ,13- 18), và sẽ được ở cùng với Người muôn đời (1Tx 4, 17). Trong khi chờ đợi ngày khải hoàn vinh phúc đó, ta hãy sống trong đức tin là tuân phục: ta hãy vâng nghe Người.
  6. Việc Chúa biến hình trong phép Thánh Thể không nhằm tỏ hiển vinh quang người ra bên ngoài, nhưng nhằm che dấu vinh quang đó dưới các hình sắc bí tích. Tuy nhiên, nếu trung thành lắng nghe tiếng của Con yêu dấu, Đấng đã giáo huấn chúng ta về mầu nhiệm đó chúng ta sẽ nhận ra sự hiện diện của Người tiềm ẩn trong hình bánh hình rượu, và chúng ta sẽ kêu lên: “Lạy Chúa, được ở đây thì tốt lắm”. Và rồi chúng ta sẽ có can đảm phục vụ người trong cuộc sống bình thường mọi ngày đời ta.

 

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY_A

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Trong cả chu trình ba năm phụng vụ, Chúa Nhật II Mùa Chay đều tường thuật biến cố Biến Hình. Biến cố này nhắc người Ki-tô hữu nhớ rằng trong thời gian Mùa Chay họ không chỉ được dự phần vào mầu nhiệm Thương Khó và Tử Nạn, nhưng cũng vào mầu nhiệm Phục Sinh vinh quang của Đức Giê-su.

St 12: 1-4a

Bài Đọc I, trích từ sách Sáng Thế, thuật lại ơn gọi của tổ phụ Áp-ra-ham. Vâng theo tiếng gọi mầu nhiệm, ông Áp-ra-ham rời bỏ quê hương và gia tộc của mình để đi đến một vùng đất xa lạ. Ông gắn bó với một Thiên Chúa duy nhất, Đấng ông đã đón nhận Lời Hứa tuyệt vời của Ngài, như thư gởi tín hữu Do thái viết: “Vì thế, do một con người duy nhất, một người kể như chết rồi mà đã sinh ra một dòng dõi nhiều như sao trời cát biển, không tài nào đếm được” (Dt 11: 12).

2Tm 1: 8b-10

Viết cho ông Ti-mô-thê, người môn đệ thân yêu của mình đang trải qua thời gian thử thách, thánh Phao-lô nhắc nhớ hiệu quả tâm linh của đau khổ, vì chỉ có đau khổ mới đảm bảo cho công cuộc loan báo Tin Mừng được sinh hoa kết quả và dẫn chúng ta đến cuộc sống bất tử.

Mt 17: 1-9

Tin Mừng trình thuật cuộc Biến Hình theo thánh Mát-thêu. Biến cố nầy được đặt vào trong bối cảnh Đức Giê-su loan báo lần đầu tiên về cuộc Thương Khó, Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài (Mt 16: 21-23). Lời loan báo nầy đã khiến cho các môn đệ bàng hoàng. Vì thế, như một cách thức giải tỏa sự kỳ chướng của thập giá, Đức Giê-su đã đem ba môn đệ lên núi cao, ở đó Ngài cho các ông thoáng thấy trước vinh quang Phục Sinh của Ngài, qua đó Ngài đảm bảo với các ông rằng Thương Khó và Tử Nạn là con đường cứu độ mà Ngài phải đi qua, nhưng đây không là một ngõ cụt mà khai mào cho cuộc Phục Sinh vinh quang.

BÀI ĐỌC I (St 12 : 1-4a)

Sách Sáng Thế được chia thành hai phần: phần thứ nhất (1: 1-11: 26) trình thuật nguồn gốc nhân loại và phần thứ hai (11: 27-50: 26) trình thuật nguồn gốc dân Ít-ra-en qua các Tổ Phụ của họ. Bài Đọc I, trích từ đoạn đầu của phần thứ hai sách Sáng Thế, bao gồm ơn gọi, lời hứa và lời chúc phúc.

  1. Ơn gọi (St 12: 1)

Lời mở đầu của Bài Đọc 1: “Khi ấy, Chúa phán với ông Áp-ra-ham: ‘Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, đến đất Ta sẽ chỉ cho ngươi’” (12 : 1), quy chiếu đến những sự kiện trước đó (11 : 27-32). Quê quán của ông Te-ra, cha của ông Áp-ra-ham, là thành Ua, một thành phố lớn ở Hạ Lưỡng Hà Địa. Thành Ua là một trong những chiếc nôi của nền văn minh Su-me rực rỡ. Một ngày kia, ông Te-ra quyết định rời bỏ thành Ua cùng với gia tộc của mình “để đi tới đất Ca-na-an” (St 11: 31). Nhưng ông Te-ra cùng gia tộc của mình định cư lập nghiệp ở Kha-ran phía bắc miền Lưỡng Hà Địa và ở đó ông qua đời (11 : 32).

A- Cuộc hành trình đức tin

Phải chăng khi rời bỏ Kha-ran để đi tới đất Ca-na-an, ông Áp-ra-ham, người con trưởng của ông Te-ra, muốn tiếp tục thực hiện ước nguyện của cha mình? hay vâng theo một sự thôi thúc nội tâm? Thật khó xác định rõ ràng. Dù thế nào, truyền thống luôn luôn gìn giữ ký ức sống động về cuộc hành trình tâm linh của ông Áp-ra-ham. Đó là một đề tài gây kinh ngạc vì nhiều lẽ.

Trước hết, vị tổ phụ gắn bó mật thiết với một Thiên Chúa độc nhất khi loại bỏ các vị thần linh khác của tôn giáo cha ông. Đây là một kinh nghiệm mầu nhiệm đặc biệt, biến cố trọng đại, khởi điểm của ơn tuyển chọn Ít-ra-en. Thứ nữa, khi gọi ông Áp-ra-ham ra đi, Thiên Chúa đòi hỏi ông thực hiện một hành vi đức tin: cắt đứt mọi mối dây liên hệ với quê hương, bà con thân thuộc và nhà cha của mình để đi đến một miền đất chưa được xác định:“đến đất mà Ta sẽ chỉ cho người” (12 : 1). Hơn nữa, vào lúc đó, Thiên Chúa chưa hứa với ông: “đến đất mà Ta sẽ ban cho ngươi” hay “đến đất mà hậu duệ người sẽ sở hữu”. Ông Áp-ra-ham chấp nhận vâng lời bằng hành vi tin tưởng và phó thác: “Ông A-bra-ham ra đi, như Đức Chúa đã phán với ông” (12 : 4).

B- Kinh nghiệm sống động về Thiên Chúa

Chính trong khi sống trong kiếp lang bạt từ Kha-ran đến Ai-cập, đoạn đến Khép-rôn mà tổ phụ Áp-bra-ham đã chia sẻ thân phận của biết bao người vào thời đó, vì những biến động lịch sử họ phải tha phương lang bạt khắp nơi. Tuy nhiên, chính cũng trong kiếp sống lang bạt đó mà ông Áp-ra-ham càng ngày càng hiểu biết Thiên Chúa của ông hơn, gắn bó với Thiên Chúa mật thiết hơn, Đấng hiện diện với ông trong cảnh đời vô định và cũng phán với ông qua những bất tất lịch sử. Dù ông Áp-ra-ham không thấy ngay tức khắc tất cả những thành quả của lời hứa, nhưng ông đặt để tương lai của mình vào trong niềm tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa của ông.

Đây là khuôn mẫu các bài tường thuật về ơn gọi trong Cựu Ước. Khi nào Thiên Chúa gọi những lãnh tụ, sứ giả, ngôn sứ … , Ngài đòi hỏi họ một sự thoát ly, tiến về phía trước mà không nhớ tiếc quá khứ hay lưu luyến tình thân. Đức Giê-su cũng sẽ có một thái độ từ bỏ cách dứt khoát như thế và Ngài cũng đòi hỏi các môn đệ của Ngài cũng phải có một hành vi tin tưởng và phó thác như vậy, Ngài cũng đòi hỏi những người mà Ngài chữa lành về phương diện thể xác hay luân lý như vậy: “Hãy đi và đừng phạm tội nữa”, hay “Hãy đi, đức tin của con đã cứu con”, hoặc “hãy chỗi dậy và đi !”.

  1. Lời hứa (St 12: 2)

Lời đầu tiên Thiên Chúa hứa với ông Áp-ra-ham: “Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn… Ta sẽ cho tên tuổi ngươi sẽ lẫy lừng…” (12 : 2), lời hứa này sẽ còn được nhắc đi nhắc lại nhiều lần xuyên suốt “truyện dài nhiều tập” của tổ phụ Áp-ra-ham (St 11 : 27-25 : 11).

Tuy nhiên, những gì Thiên Chúa hứa ban luôn luôn mâu thuẫn với thực trạng trước mắt. Thiên Chúa loan báo cho cụ già bảy mươi lăm tuổi không con nầy, lãnh tụ của một bộ tộc du mục nhỏ bé nầy, một tương lai huy hoàng rực rỡ hoàn toàn không tương xứng với những gì mà ông hiện có trong tầm tay: một kẻ không có gì bảo đảm cho tương lai (vợ ông, bà Xa-rai hiếm hoi, không con: St 11 : 30) được mời gọi lên đường đến một nơi chưa được xác định. Tuy nhiên, truyền thống Ít-ra-en luôn luôn xem tổ phụ Áp-ra-ham là cha của lời hứa. Chính vì lời hứa nầy mà ông sống. Quả thật, chính từ lời hứa này, ông sinh ra một dân mà Chúa đặc tuyển làm dân riêng của Ngài, một dân mà Thiên Chúa ưu ái cách đặc biệt.

  1. Lời chúc phúc (12 : 3)

Lời chúc phúc của Thiên Chúa là dấu chỉ hữu hình cho thấy tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa, nhưng cũng diễn tả tính hữu hiệu và nhắc nhớ ý muốn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa :

“Ta sẽ chúc lành cho những ai chúc lành cho người;

ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa.

Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (12 : 3).

Lời chúc phúc không bị giới hạn vào con người Áp-ra-ham, nhưng mở ra những viễn cảnh còn rộng lớn hơn. Theo mạch văn của sách Sáng Thế, ông Áp-ra-ham được định vị trong hàng hậu duệ của ông Sêm, vì thế phân biệt với hậu duệ của ông Kham và ông Gia-phết. Tuy nhiên, lời chúc phúc mà ông Áp-ra-ham cưu mang và qua trung gian của ông, sẽ trải rộng đến hết mọi gia tộc trên mặt đất. Nếu Thiên Chúa đã tuyển chọn một người, một dân tộc, trong cái khung lịch sử để truyền đạt giao ước, lời hứa và lời chúc phúc, thì muôn dân tộc trên mặt đất, ngay từ nguyên khởi của lịch sử cứu độ, đã là những người thụ hưởng những ân phúc nầy rồi. Vì thế, lời chúc phúc nầy vốn hàm chứa chiều kích phổ quát của Ki-tô giáo rồi.

  1. Viễn cảnh thần học

Tác giả Gia-vít đã suy niệm sâu xa về địa vị ưu đẳng của con người và sự thất bại do tội lỗi gây ra (St 2: 4-19). Cũng chính tác giả đã nhắc nhớ huynh đệ tương tàn giữa hai anh em Ca-in và A-ben, lụt Hồng Thủy, tháp Ba-ben, nghĩa là nhân loại càng lúc càng lún sâu trong vũng lầy của sự ác và là đối tượng của những trừng phạt và những lời chúc dữ của Thiên Chúa.

A- Tổ phụ Áp-ra-ham là phản đề của nguyên tổ A-đam

Vào lúc ông Áp-ra-ham vâng lệnh Thiên Chúa mà ra đi, có điều gì đó thay đổi trong lịch sử của nhân loại. Không gì ngoài những lời chúc phúc: “Ta sẽ chúc phúc cho ngươi… Ngươi sẽ là một mối phúc lành…”. Trong tất cả kỳ tích của vị tổ phụ này, tác giả nêu bật ông Áp-ra-ham như một phản đề của nguyên tổ A-đam. Nguyên tổ A-đam đã nghi ngờ và đã bất tuân, trái lại tổ phụ Áp-bra-ham là con người của niềm tin và tuân phục. Chính từ nguyên tổ A-đam mà sự ác xâm nhập vào nhân loại và kéo theo lời chúc dữ của Thiên Chúa. Khởi đi từ tổ phụ Áp-ra-ham, nhân loại được mời gọi sống niềm hy vọng. Chắc chắn, qua vị tổ phụ này, Thiên Chúa chọn cho mình một dân tộc, nhưng sự chọn lựa nầy, thay vì giới hạn ý định của Ngài, trái lại loan báo chiều kích hoàn vũ của ơn cứu độ: “Nhờ ngươi, mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc lành”.

B- Tổ phụ Áp-ra-ham là cha của những người tin

Tổ phụ Áp-ra-ham sống trên đất Ca-na-an như người du mục của Thiên Chúa và ông sẽ không ngừng là người du mục nầy, trong khi tìm kiếm một nơi thờ phượng: Xi-khem, Bê-then… Từ cuộc sống du mục của vị tổ phụ nầy, tác giả thư gởi tín hữu Do thái đã rút ra tầm mức tâm linh : “Nhờ đức tin, ông A-bra-ham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu. Nhờ đức tin, ông đã tới cư ngụ tại Đất Hứa như một nơi đất khách… vì ông trông đợi một thành có nền móng do chính Thiên Chúa vẽ mẫu và xây dựng… Vì thế, do một người duy nhất, một người kể như chết rồi mà đã sinh ra một dòng dõi nhiều như sao trời cát biển, không tài nào đếm được” (Dt 11: 8-12).

BÀI ĐỌC II (2 Tm 1 : 8-10)

Thư thứ hai gởi ông Ti-mô-thê là bút tích cuối cùng của thánh Phao-lô. Lúc đó, thánh nhân đang bị giam cầm rất nghiêm ngặt ở Rô-ma: thánh nhân “phải mang cả xiềng xích như một tên gian phi” (2Tm 2 : 9). Thánh nhân biết rất rõ số phận đang chờ đợi ngài : “Còn tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính” (2Tm 4 : 6-8).

  1. Ông Ti-mô-thê

Ông Ti-mô-thê là người đồng sự thâm niên và rất trung thành của thánh Phao-lô. Thánh nhân đã nhận ông vào chuyến hành trình truyền giáo thứ hai của ngài khi ngài đến Lýt-ra, miền Tiểu Á vào năm 46 hay 47 (Cv 16 : 1-3).

Cha ông là người Hy lạp, còn mẹ ông là người Do thái đã theo Ki-tô giáo, ông Ti-mô-thê đã được mẹ ông là bà Êu-ni-kê và bà ngoại ông là bà cụ Lô-ít dạy Kinh Thánh lúc còn thơ ấu, vì thế ông đã có lòng tôn kính Kinh Thánh và có một vốn kiến thức sâu xa về Kinh Thánh, như thánh Phao-lô đã nhận định về lòng tin của ông: “Tôi hồi tưởng lại niềm tin không giả hình của anh, lòng tin đã có nơi cụ Lô-ít, bà ngoại anh, nơi bà Êu-ni-kê, mẹ anh, cũng như chính nơi anh, tôi xác tín như vậy” (1Tm 1 : 5).

Thánh Phao-lô và ông Ti-mô-thê đã cộng tác với nhau vô cùng mật thiết đến mức sáu bức thư của thánh Phao-lô đều có ông Ti-mô-thê là người đồng gởi, trong đó có thể ông đã biên soạn vài đoạn. Thánh Phao-lô giao phó cho ông Ti-mô-thê trông coi cộng đoàn Ê-phê-xô để đảm bảo công việc loan báo Tin Mừng vẫn được tiếp tục, vì ông là người đáng tin cậy. Thánh Phao-lô cũng đã bổ nhiệm ông Ti-tô ở Crète như vậy. Vì thế, các thư gởi cho ông Ti-mô-thê và ông Ti-tô được gợi “Các Thư Mục Vụ”, vì trong những thư này, thánh Phao-lô đưa ra những huấn thị của mình cho những người kế nghiệp ngài.

  1. Lý do của bức thư 

Vào lúc đó, cộng đoàn Ê-phê-xô gặp phải những khó khăn do những biện luận (thánh Phao-lô kể ra sau đó) dễ nẩy sinh lạc giáo. Khi phải đối mặt với những trào lưu tư tưởng, người tông đồ phải giữ vững một thái độ duy nhất là “loan báo Tin Mừng”. Trong đoạn trích dẫn ngắn này, thánh nhân lập lại hai lần diễn ngữ này. Thánh nhân khẩn khoản nhắc cho ông Ti-mô-thê nhớ rằng lời rao giảng của ông, dù thế nào đi nữa, đừng để bị ảnh hưởng bởi những học thuyết thịnh hành vào lúc đó. Tin Mừng không thể nào bị xuyên tạc bóp méo được.

  1. Tính hiệu quả của sự đau khổ

Để lời khích lệ mình có tác dụng, thánh nhân trước tiên nhắc nhở tính hiệu quả của sự đau khổ. Ông Ti-mô-thê chịu đau khổ. Thánh Phao-lô cũng chịu đau khổ trong xiềng xích. Thánh Phao-lô nói với người môn đệ thân yêu của mình : “Anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng” (1: 8). Nhờ đau khổ, lời rao giảng Tin Mừng được sinh hoa kết trái. Lời mời gọi nầy nhắc nhớ đến lời dạy của thánh nhân trong thư gởi tín hữu Cô-lô-xê : “Những gian nan thử thách Đức Giê-su còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1 : 24).

  1. Ơn gọi tông đồ

Tiếp đó, thánh nhân nhắc nhở ông Ti-mô-thê về sự cao cả của ơn gọi tông đồ, thuần túy ân sủng của Thiên Chúa, không có liên hệ gì với “công kia việc nọ chúng ta đã làm”. Những lời nầy âm vang Bài Đọc I về ơn gọi của tổ phụ Áp-ra-ham. Chúng ta đừng ngạc nhiên khi khám phá ở đây một đạo lý về ơn cứu độ bởi đức tin, chứ không bởi công trạng. Chúng ta đang ở trong cùng một dòng tư tưởng. Chúng ta cảm nhận rằng đây là niềm xác tin mà thánh nhân đã sống: chính thánh nhân, xưa kia là một Biệt Phái tuân giữ nghiêm nhặt Lề Luật và là người nhiệt thành bách hại Ki-tô giáo, đã được Thiên Chúa chọn làm Tông Đồ của Ngài không do công trạng của mình, nhưng do “kế hoạch và ân sủng của Chúa”.

  1. Sự chiến thắng của Đức Ki-tô Phục Sinh 

Sau cùng, thánh nhân khuyên ông Ti-mô-thê hãy vững tin vào những lời hứa ban “phúc trường sinh bất tử”, bao hàm cuộc khải hoàn phục sinh của Đức Ki-tô. Đó chính là sứ điệp mà ông phải loan báo. Kế hoạch này Thiên Chúa đã dự định từ muôn thuở được biểu lộ qua mầu nhiệm Nhập Thể và Phục Sinh của Đức Giê-su.

Trong những thư khác của thánh Phao-lô, chúng ta gặp thấy những diễn ngữ tương tự; chắc chắn trong đoạn trích nầy, nhờ mạch văn, những diễn ngữ nầy có mức độ chính xác hơn. Vì ở giữa những đe dọa lạc thuyết giữa lòng cộng đoàn Ê-phê-xô, có những quan niệm sai lạc về mầu nhiệm Phục Sinh. Thánh Phao-lô ra sức gìn giữ cho đến hơi thở cuối cùng làm thế nào sứ điệp Tin Mừng được thuần khiết.

Thư này không được gởi cho cộng đoàn như phần lớn các thư khác của thánh Phao-lô, nhưng cho một cá nhân đảm nhận một chức vụ đặc thù. Rõ ràng phải lưu ý đến điều nầy trong bản văn. Tuy nhiên, đoạn trích dẫn nầy mang lấy một tầm mức phổ quát hơn, vì lẽ nó có thể tách biệt ra khỏi mạch văn và có thể được hiểu như được gởi cho mọi người Ki-tô hữu. Mỗi người Ki-tô hữu là chứng nhân cho Đức Ki-tô và vì thế phải để cho mình bị chất vấn bởi lời căn dặn khẩn thiết của thánh Phao-lô trong đoạn thư nầy, như Karl Gatzweiler nhận định: “Không bản văn nào thích hợp cho việc nuôi dưỡng sứ mạng loan báo Tin Mừng của chúng ta hơn bản văn nầy. Nó quy chiếu chúng ta đến điều cốt yếu. Phải rao giảng Đức Giê-su Ki-tô, Đấng tỏ mình ra là vị Thiên Chúa cứu độ. Phải loan báo Tin Mừng về sự Phục Sinh của Ngài, Đấng chiến thắng sự chết và mở lối vào cuộc sống thần linh. Ngoài ra, bản văn nầy nhắc nhở cho mọi người Ki-tô hữu ơn gọi làm chứng nhân của họ, họ phải thực thi vai trò chứng nhân của mình không chút ngần ngại, với lòng can đảm và lạc quan, bất chấp những khó khăn. Vì Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (“Parole sur le chemin”, tr. 52).

TIN MỪNG (Mt 17 : 1-9)

Bài trình thuật về biến cố Biến Hình là một trong những bài trình thuật Tin Mừng chất nặng mầu nhiệm nhất, nhưng cũng là một trong những bài trình thuật phong phú nhất về giáo huấn. Cả ba tác giả Tin Mừng Nhất lãm đều tường thuật biến cố nầy và đều đặt vào trong bối cảnh vài ngày sau lời tuyên xưng đức tin của thánh Phê-rô và lời công bố đầu tiên về cuộc Thương Khó, Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giê-su. Trước đó, Đức Giê-su đã hỏi các môn đệ Ngài : “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?”. Thánh Phê-rô đáp : “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16: 15-16). Nghĩ rằng thời điểm đã đến để mặc khải Ngài là Đấng Mê-si-a như thế nào, Đức Giê-su loan báo cuộc Thương Khó, Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài. Thánh Phê-rô không thể nào dung hòa được một viễn cảnh như thế với lời khẳng định mà ông vừa mới tuyên xưng, vì thế ông đã ngăn cản Ngài. Biến cố Biến Hình mang đến một câu trả lời.

  1. Thời điểm, nhân vật và nơi chốn

Bài trình thuật bắt đầu với thời điểm: “Sáu ngày sau”, diễn ngữ thời gian này, xét về phương diện văn chương, đóng vai trò chuyển tiếp vừa để giới thiệu bài trình thuật tiếp theo sau, nhưng đồng thời cũng để nối kết với bài trình thuật đi trước. Thời điểm “Sáu ngày sau” nghĩa là sáu ngày sau khi thánh Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là “Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16: 16).

Bài trình thuật đi trước kết thúc với một lời nói bí nhiệm của Đức Giê-su: “Thầy bảo thật anh em: trong số người có mặt ở đây, có những kẻ sẽ không phải nếm sự chết trước khi thấy Con Người đến hiển trị” (Mt 16: 28), trong khi bài trình thuật Biến Hình bắt đầu với việc kể ra ba nhân vật được diễm phúc chứng kiến cuộc Biến Hình này: “Đức Giê-su đem ông Phê-rô, cùng hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an đi riêng với mình lên một ngọn núi cao”. Vì thế, đa số các Giáo Phụ và các nhà chú giải nhận thấy rằng câu nói bí nhiệm nầy loan báo trực tiếp đến biến cố Biến Hình, đặc biệt kiểu nói: “trong số người có mặt ở đây”, có thể nhắm đến ba môn đệ được tuyển chọn làm chứng nhân cho biến cố Biến Hình nầy. Ngoài ra, thời điểm “Sáu ngày sau” và nơi chốn “một ngọn núi cao” xem ra quy chiếu đến Xh 24: 16: “Vinh quang Đức Chúa ngự trên núi Xi-nai và mây bao phủ núi sáu ngày. Đến ngày thứ bảy, từ giữa đám mây, Người gọi ông Mô-sê”. Chính ở trên núi cao nơi tách biệt nầy mà Đức Giê-su, Mô-sê mới, Đấng giải phóng dân Ngài, dẫn ba môn đệ được tuyển chọn, những người mà sau nầy cũng sẽ được chứng kiến lời cầu nguyện tha thiết của Đức Giê-su trong vườn Cây Dầu (Mt 26: 37).

Trong khi thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu đều xác định biến cố Biến Hình xảy ra “sáu ngày sau” lời tuyên xưng đức tin của thánh Phê-rô (Mc 9: 2; Mt 17: 1), thì thánh Lu-ca lại xác định “khoảng tám ngày sau” (Lc 9: 28), tức là ngày thứ nhất sau ngày sa-bát, ngày các truyền thống Tin Mừng tưởng niệm ngày Phục Sinh của Đức Giê-su. Tuy các Tin Mừng Nhất Lãm đưa ra thời điểm có khác nhau, nhưng cả ba đều có chung quan điểm thần học như lời nhận định của cha Guillemette: “Xét theo văn mạch, thì cuộc biến hình có mục đích cho các môn đệ ưu ái thấy trước Vinh quang của ngày sau hết, vinh quang nay đang tập trung trong con người của Đức Giê-su đang sống thường ngày với họ. Thiên Chúa phán với các môn đệ đầy sợ hãi rằng họ phải vâng lời đi theo Đức Giê-su trên đường dẫn tới Giê-su-sa-lem, tiến đến vinh quang qua thập giá” (“L’Evangile de Matthew”, 195).

Tại sao Đức Giê-su phải nhọc công leo lên ngọn núi cao, đến nơi đồi núi hoang vắng nầy ? Thánh Lu-ca vén mở cho chúng ta câu trả lời: “Người lên núi để cầu nguyện”. (Lc 9 : 29). Theo truyền thống Cựu ước, “núi” là nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa và là nơi Thiên Chúa bày tỏ mình ra. Vì thế, sự kiện núi không được nêu tên không phải là không có chủ ý, bởi vì “ngọn núi cao” không thuộc trật tự địa lý nhưng tâm linh. Trong vài giây phút nữa, ngọn núi nầy sẽ mang dáng dấp của núi Xi-nai, nơi các môn đệ chứng kiến cuộc biến hình vinh hiển của Đức Giê-su và cuộc Thần Hiển.

  1. Đức Giê-su bày tỏ vinh quang của Ngài

Thánh Mát-thêu mô tả cuộc biến đổi hình dạng của Đức Giê-su thành một con người rạng ngời vinh hiển: “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng”, còn thánh Lu-ca thì mô tả sự biến đổi hình dạng nầy trong mối tương quan tăng dần của lời cầu nguyện mà Chúa Giê-su thân thưa với Cha của Ngài: “Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bổng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa” (Lc 9: 29). Biến cố Biến Hình nầy mặc khải rằng con người xác thịt của Ngài được liên kết với chính Hữu Thể Thiên Chúa, có nghĩa, kể từ đây, cái chết không có quyền gì trên thân xác của Ngài; theo một cách nào đó, biến cố Biến Hình là tham dự trước cuộc Phục Sinh vinh quang của Ngài.

  1. Sự hiện diện của ông Mô-sê và ông Ê-li-a

Chính trên một ngọn núi Xi-nai (còn gọi là Khô-rếp), ông Mô-sê và ông Ê-li-a đã lần lượt gặp gỡ Thiên Chúa. Cũng trên ngọn núi Biến Hình nầy, “ba môn đệ thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người”. Sự hiện diện của hai nhân vật này là một bảo chứng tuyệt vời cho tước vị Mê-si-a của Đức Giê-su, bởi vì cả hai ông được xem như báo trước Đấng Mê-si-a: ông Mô-sê đã báo trước rằng một vị ngôn sứ vĩ đại sẽ đến, lời của Đấng ấy sẽ là lời của chính Thiên Chúa (Đnl 18 : 18); còn ông Ê-li-a, theo truyền thống, phải trở lại để chuẩn bị cho Đấng Mê-si-a ngự đến.

Hơn nữa, hai nhân vật nầy hiện diện bên cạnh Đức Giê-su vinh hiển, không chỉ như biểu tượng của Lề Luật và Ngôn Sứ, nhưng cũng như những người trung gian tuyệt mức của Giao-Ước. Như vậy, họ đại diện khởi đầu và chung cuộc của Lịch Sử Cứu Độ được hoàn thành nơi Đức Giê-su. Vì thế, biến cố Biến Hình nhấn mạnh mối liên hệ giữa Cựu Ước và Tân Ước.

Bài trình thuật của thánh Lu-ca nói với chúng ta rằng hai ông Mô-sê và ông Ê-li-a đàm đạo với Đức Giê-su về “cuộc xuất hành Ngài sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem” (Lc 9 : 31). Thuật ngữ “xuất hành” nhắc nhớ đến cuộc hành trình gian khổ nhất của dân Ít-ra-en: ra khỏi đất Ai-cập và lang thang trong hoang địa. Cuộc hành trình ấy đòi hỏi dân Thiên Chúa hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng dẫn họ đến miền Đất Hứa. Với một niềm tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, Đức Giê-su cũng dấn thân vào một cuộc hành trình gian khổ nhất, một cuộc hành trình đến thập giá, nhưng cũng là cuộc hành trình đến vinh quang. Biến cố Biến Hình đem lại một sự nâng đỡ tâm lý và tinh thần quan trọng nhất mà Đức Giê-su đã nhận được trong suốt sứ vụ của Ngài. Trong kiếp sống phàm nhân trên con đường tiến về cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Ngài, Chúa Giê-su được Chúa Cha an ủi cách đặc biệt bằng biến Cố Biến Hình. Qua biến cố Biến Hình, Đức Giê-su được đảm bảo rằng con đường đau khổ mà Ngài sắp trải qua, sẽ dẫn Ngài đến vinh quang, vinh quang mà Ngài đã sở hữu trước khi Nhập Thể, vinh quang nầy Ngài lấy lại trong một khoảng khắc thoáng qua của cuộc Biến Hình.

  1. Ba nhân chứng 

Chỉ có ba môn đệ: Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an, được diễm phúc chứng biến cuộc Biến Hình. Trước đây, chính ba môn đệ nầy được Đức Giê-su cho phép chứng kiến việc Ngài phục sinh con gái ông Gia-ia (Mc 5 : 37), và sau này cũng chính ba môn đệ nầy được Đức Giê-su dẫn theo với Ngài vào trong vườn Cây Dầu ở đó họ sẽ chứng kiến cơn hấp hối của Ngài (Mt 26 : 37). Trước đây, trong việc Phục Sinh con gái của ông Gia-ia, ba môn đệ nầy chứng kiến quyền năng của Ngài trên sự chết (Mc 5 : 37), còn nay trong cuộc Biến Hình vinh hiển nầy, họ nghe Chúa Cha chứng nhận: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 17 : 5), để rồi sau nầy trong cuộc Khổ Nạn của Ngài, họ có đủ nghị lực chịu đựng và tin tưởng khi thấy Thầy mình phải chịu nhục mạ, khổ hình.

Việc thánh Phê-rô có mặt trong biến cố Biến Hình rất quan trọng, bởi vì ông gặp thấy ở đây sự cũng cố cho lời tuyên xưng trực giác của ông ở Xê-da-rê : “Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16 : 16). Mặt khác, ông chứng kiến một Đức Giê-su vinh hiển thay thế cho hình ảnh về một Đấng Ki-tô chịu đau khổ mà theo quan điểm của ông, ông không thể nào chấp nhận được. Sau này, vị lãnh tụ của các Tông Đồ sẽ đảm nhận một công việc khó khăn là rao giảng một Đức Ki-tô bị đóng đinh giữa hai tên gian phi, còn lúc nầy thánh nhân chiêm ngưỡng Đức Giê-su vinh hiển ở giữa hai nhân vật nổi tiếng nhất của lịch sử Ít-ra-en. Vì thế, cuộc Biến Hình là phản đề của đồi Sọ. Như vậy, niềm tin, trên đó tất cả niềm tin của Giáo Hội dựa vào, được đặt nền móng ở nơi biến cố Biến Hình này.

Thánh Gio-an, người môn đệ trung thành, sẽ đi cho đến cùng và sẽ chiêm ngắm một thân xác bầm dập rách nát không còn hình tượng người của Đấng bị đóng đinh trên khổ giá, chính ông sẽ viết trong Tựa Ngôn Tin Mừng của mình :

“Chúng tôi đã thấy vinh quang của Người,

vinh quang mà Chúa Cha đã ban cho Người,

là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1: 14).

Ẩn hiện sau Tựa Ngôn này là bức tranh về biến cố Biến Hình. Còn thánh Gia-cô-bê là vị Tông Đồ đầu tiên chết vì niềm tin của mình.

  1. Phản ứng của Phê-rô

Trong chương nầy, như trong những chương trước đây, thánh Mát-thêu nêu bật nhân vật Phê-rô. Trước đây, chỉ mình thánh Phê-rô tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su ở Xê-da-rê, và chỉ một mình thánh nhân bày tỏ nổi bất bình khi Thầy mình loan báo cuộc Thương Khó, Tử Nạn và Phục Sinh.

Trong câu chuyện Biến Hình nầy, thánh nhân cũng là người duy nhất phản ứng. Vốn bản tính nhiệt thành, bộc trực, nghĩ sao thì nói vậy, thánh Phê-rô muốn dừng thời gian và hoạt cảnh nầy lại khi đề nghị dựng ba lều: một cho Đức Giê-su, một cho ông Mô-sê và một cho ông Ê-li-a. Khi phát biểu như vậy, thánh nhân không nghĩ gì đến mình và các bạn đồng môn của mình. Tuy nhiên, có thể thánh nhân liên tưởng đến lễ Lều, lễ tưởng niệm dân Ít-ra-en đã dựng lều trong hoang địa trước khi vào Đất Hứa: biểu tượng niềm mong đợi thời Thiên Sai.

Theo truyền thống Do thái, vào thời sau hết Thiên Chúa sẽ ngự giữa dân Ngài (Ed 37 :27 ; Hs 12 : 10) trong lều vinh quang của Ngài, còn dân chúng sẽ dựng lều quanh Đấng Ki-tô của họ (Ga 1 : 14) và các dấu lạ thời Xuất Hành sẽ tái diễn. Vì thế, qua phản ứng nầy, có thể trong tiềm thức, thánh Phê-rô chứng nhận rằng mình luôn luôn tin vào sự đăng quang vinh hiển của Đấng Ki-tô. Khi đề nghị dựng ba lều, ông nghĩ rằng thời sau hết đã đến và cho rằng đã đến lúc thiết lập thiên đàng ở trên mặt đất ngỏ hầu cuộc Thần Hiển trong một ngày sẽ kéo dài mãi mãi.

  1. Cuộc Thần Hiển

“Ông Phê-rô còn đang nói, chợt có một đám mây sáng ngời bay đến phủ bóng trên các ông”. Trong Cựu Ước, đám mây sáng ngời vừa bày tỏ nhưng đồng thời phủ che sự hiện diện hữu hình nhưng siêu việt của Thiên Chúa trước mắt phàm nhân (Xh 40 : 34-35 ; 1V 8 : 10-12 ; Ed 10 : 3-4 ; Tv 18 : 12). Một giọng nói vang lên như vào ngày Đức Giê-su chịu phép rửa bởi Gio-an Tẩy giả, tuy nhiên ở đây không còn là “các tầng trời mở ra và Thần Khí ngự xuống trên Người”, nhưng “dung mạo Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” với lời công bố tước vị “Con Thiên Chúa” của Đức Giê-su. Lời công bố này không chỉ nhấn mạnh đặc tuyển, nhưng cũng nhắm đến tầm quan trọng của sứ điệp : “Các ngươi hãy vâng nghe lời Người”. Huấn lệnh nầy xem ra nhắc nhớ lời hứa của Đức Chúa với dân Ngài qua ông Mô-sê: từ giữa họ, Ngài sẽ cho xuất hiện một vị ngôn sứ như Mô-sê, Ngài sẽ đặt lời Ngài trên môi miệng của Đấng ấy, vì thế “Các ngươi hãy nghe vị ấy” (Đnl 18 : 15). Như vậy, Đức Giê-su là Ngôi Lời Thiên Chúa.

Phải lưu ý rằng đám mây bao phủ ba vị Tông Đồ, như vậy hiệp nhất họ với Đức Giê-su, liên kết họ làm một với mầu nhiệm của Ngài, trong mặc khải kín nhiệm mà họ không được hé lộ ra cho bất cứ ai trước khi Ngài sống lại (17 : 9). Nói cho cùng, chỉ trong ánh sáng Phục Sinh của Đức Giê-su, các ông mới có thể hiểu được những gì các ông đã chứng kiến trong cuộc Biến Hình này. Khi đám mây biến mất, các Tông Đồ không còn thấy ai ngoài chỉ một mình Đức Giê-su. Từ đây, Đức Giê-su hiện thân cho Lề Luật và Các Ngôn Sứ.

  1. “Chỗi dậy đi”

Trước đây, các ông đã nghe lệnh truyền nầy vào lúc Ngài phục sinh con gái của ông Gia-ia, lúc này Đức Giê-su cũng lập lại lệnh truyền này với các ông: “Chỗi dậy đi !”, đó cũng là lời căn dặn được ngỏ với các ông: “Đừng nói cho ai hay điều anh em vừa thấy, cho đến khi Con Người chỗi dậy từ cõi chết”. Vào lúc nầy, các ông không thể nào nắm bắt được ý nghĩa của lời căn dặn nầy. Sau nầy, các ông sẽ nhớ lại và hiểu tại sao Đức Giê-su đã cho họ chứng kiến cuộc phục sinh con gái của ông Gia-ia và cuộc Biến Hình của Ngài. Họ sẽ công bố mối liên hệ giữa biến cố Phục Sinh và biến cố Biến Hình. Thánh Gioan, một trong ba nhân chứng này, sẽ diễn tả rõ ràng: “Hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa ; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1Ga 3 : 2). Thánh Phao-lô cũng viết : “Đức Giê-su sẽ biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta để nên đồng hình đồng dạng với thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3 : 21).

 

CÁI TRƯỚC RƯỚC CÁI SAU

Trầm Thiên Thu

Con Chúa Biến Hình Trên Núi Thánh

Tín Nhân Thay Đổi Giữa Gian Trần

Trong cơn đại dịch Corona hiện nay – năm Con Chuột Chù 2020, con virus bé nhỏ đã khiến người ta hoảng loạn chỉ vì mất niềm tin hoặc không muốn tin vào Thiên Chúa. Chỉ tìm hạnh phúc đời này (thỏa mãn “cái tôi” để được sung sướng thể xác) nên người ta hoàn toàn thất vọng. Nếu nhận ra “khoảng trống” trong tinh thần như vậy mà nhận ra Thiên Chúa quyền linh thì thật là hạnh phúc. Nếu không nhận ra Ngài thì thật bất hạnh. Đã và đang có những người tìm mọi cách trục lợi để sướng cái thân mình, bất chấp đau khổ của người khác. Chắc chắn những kẻ tà tâm như vậy không thể nào có hạnh phúc đích thực – dù chỉ là tạm thời. Nỗi đau tinh thần mới thực sự đáng sợ.

Cuộc sống luôn có những hệ lụy tất yếu – có loại có thể lý giải, có loại không thể lý giải theo lý trí phàm nhân. Người Việt vẫn thường nói: “Đầu xuôi, đuôi lọt.” Tất nhiên chỉ thường xuyên chứ không luôn luôn như vậy. Theo kiểu “trước thế nào sau cũng tương tự” thì kết quả có thể tốt và lành, hoặc hậu quả có thể xấu và dở.

Giả sử cuộc đời này không là “bể khổ trần ai” thì chắc chắn sẽ nhàm chán, và rồi con người càng dễ hư thân – sướng quá hóa rồ! Nhờ đau khổ mà người ta mới biết quý hạnh phúc mà cố gắng vươn lên. Ấy vậy mà vẫn thấy có những con người bất chấp, xả láng, ngang ngược, không sợ gì, dám làm những chuyện tày trời chỉ vì “cái tôi” quá lớn với thói ích kỷ và kiêu ngạo.

Được làm người ở trên đời, dù giàu hay nghèo, sang hay hèn, cao hay thấp, lớn hay nhỏ, nam hay nữ,… chắc chắn ai cũng mưu cầu hạnh phúc – một quyền cơ bản của con người và mơ ước chính đáng. Thật vậy, hạnh phúc là niềm mơ ước cháy bỏng suốt đời của bất kỳ ai. Tuy nhiên, hạnh phúc đa dạng với nhiều mức độ. Hạnh phúc ở gần chứ không xa, nhưng hạnh phúc cũng dễ khiến người ta ảo tưởng nếu đòi hỏi thái quá. Cũng như tình yêu, chẳng ai có thể định nghĩa chính xác thế nào là hạnh phúc. Tất cả chỉ là tương đối – tương đối tuyệt đối và tuyệt đối tương đối.

Thế gian là cõi tạm, thế nên chẳng có gì vĩnh cửu, ngay cả những gì chúng ta có cũng không là của mình. Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc cao cấp của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó, nhưng vẫn không vĩnh viễn. Hạnh phúc mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí, là cảm giác thoải mái khi đạt được một giá trị, một mục đích, một kết quả… nhưng điểm khác nhau nằm ở tính hữu hình hay vô hình của giá trị, mục đích, kết quả đạt được về nhiều lĩnh vực: tình yêu, thành công, nổi tiếng, giàu có, thỏa mãn,… Hạnh phúc và sung sướng có nghĩa gần giống nhau, hạnh phúc hiểu theo nghĩa tinh thần, trừu tượng; sung sướng hiểu theo nghĩa vật chất, cụ thể.

Tất nhiên ai cũng phải đi tìm, nếu muốn tận hưởng hạnh phúc. Đi tìm hạnh phúc không phải là sẽ “nhặt” được nó như nhặt được một vật thể, cũng không thể ngồi chờ sung rụng, mà phải chủ động “tạo” ra nó. Nghĩa là chấp nhận với những gì mình có hiện tại thì sẽ có hạnh phúc. Thế nhưng không hề dễ thực hiện được động thái “chấp nhận” như vậy. Biết đủ thì vẫn đủ, đòi hỏi thì chẳng bao giờ đủ!

Sống vì người khác là một cách sống hạnh phúc. Chúa Giêsu gọi là phục vụ – từ bỏ chính mình, dám quên mình, can đảm dấn thân. Người ta có câu nói đơn giản mà chí lý mang tính nhân bản: “Người đi trước rước người đi sau.” Hạnh phúc đơn giản chỉ thế thôi.

  1. PHÍA TRƯỚC

Người ta có kinh nghiệm hay: “Nói trước bước không qua.” Và người ta cũng duy tâm thế này: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.” Chắc chắn vậy thôi. Nói mộc mạc bình dân là “mình tính không bằng trời tính.” Có đau khổ mới biết thế nào là hạnh phúc, có bị tù đày rồi mới biết tự do rất giá trị. Người kiên trì chịu gian nan vất vả mới nên người, thành nhân tài. Chính đau khổ là “chất xúc tác” cho những tác phẩm giá trị. Càng dày kinh nghiệm thì tác giả càng có được những tác phẩm hay. Những người giỏi đều là những người đã từng vật lộn với cuộc sống khó khăn vô cùng. Giàu có và sung sướng không tạo vĩ nhân: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả – Anh hùng hào kiệt có hơn ai?” (chí sĩ Phan Bội Châu). Khổ luyện là mẫu số chung. Không khốn khổ khó khôn khéo.

Ngày xưa, ông Áp-ram được lệnh của Đức Chúa: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.” (St 12:1-3) Một lời hứa tuyệt vời!

Thế nhưng không phải là điều dễ dàng, mà phải giằng co. Thật vậy, đang an cư lạc nghiệp, đùng một cái phải ra đi, nếu đức tin không mạnh mẽ thì liệu có dám ra đi? Ba lần dời nhà bằng một lần cháy nhà. Chắc chắn là rất khó ra đi, vì giằng co dữ dội và cần phải can đảm mà dứt khoát ngay. Cũng vẫn khó ra đi dù biết rõ nơi đến như thế nào – phải ra đi vì đất quy hoạch, bị giải tỏa, có nguy cơ bão lũ hoặc động đất,… huống chi ra đi mà không biết nơi đó ra sao, tương lai thế nào. Vậy mà “ông Áp-ram ra đi như Đức Chúa đã phán với ông.” (St 12:4a) Không chỉ có vậy, khi rời Kha-ran, “ông Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi” (St 12:4b) chứ đâu còn trẻ trung gì nữa. Quả thật, đức tin của ông lớn quá! Cũng vì thế, ông được đổi tên Áp-ram thành Áp-ra-ham, nghĩa là “người cha vĩ đại của muôn dân tộc.” (Hc 44:19) Đức tin vô cùng quan trọng trong cuộc sống, đặc biệt là đời sống tâm linh. Có đức tin vững vàng, người ta rất thanh thản, không bị giằng co, và chắc chắn Thiên Chúa “chẳng để chính nhân phải nghiêng ngửa bao giờ.” (Tv 55:23)

Có lệnh thì làm ngay, ông Áp-ram làm theo hướng dẫn của Thiên Chúa: “Đem theo vợ là bà Xa-rai, cháu là ông Lót, và mọi tài sản họ đã gầy dựng được, cùng với gia nhân họ đã có tại Kha-ran. Họ ra đi về phía đất Ca-na-an và đã tới đất đó.” (St 12:5) Ông Áp-ram ra đi với niềm tín thác vào Thiên Chúa quan phòng, đồng thời ông còn vâng lời tuyệt đối. Kinh Thánh xác định: “Vâng lời trọng hơn của lễ.” (1 Sm 15:22; Tv 50:8-9; Tv 51:18) Vì vâng lời vô điều kiện, ông an tâm và vui vẻ – tức là ông thực sự hạnh phúc. Niềm hạnh phúc của người biết tín thác vào Thiên Chúa thì miên man và lâng lâng khó tả, không gì có thể “ngăn cản” sự sung sướng của con người đó.

Kinh Thánh cho thấy rằng Thiên Chúa đã hứa gì thì luôn chắc chắn: “Lời đã hứa, Ngài giữ vẹn toàn, bởi vì Ngài vẫn luôn công chính.” (Nkm 9:8) Cuộc sống cũng chứng tỏ điều đó qua kinh nghiệm sống của chúng ta. Thiên Chúa luôn giữ đúng lời, vì đó là luật, Ngài làm ra luật nên Ngài tôn trọng luật, như Chúa Giêsu nói: “Trời đất qua đi còn dễ hơn là một cái phết của Lề Luật rụng mất.” (Lc 16:17) Thánh Vịnh gia cũng xác nhận: “Vì lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất.” (Tv 33:4-5) Thiên Chúa tốt lành vĩnh hằng, bất biến.

Vốn dĩ là tình yêu và giàu lòng thương xót, Thiên Chúa luôn quan tâm thụ tạo mà Ngài đã tác tạo nên giống hình ảnh Ngài: “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương, hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn. Tâm hồn chúng tôi đợi trông Chúa, bởi Người luôn che chở phù trì.” (Tv 33:18-20) Với niềm thành tín, Thánh Vịnh gia xác định và bộc bạch: “Vâng, có Người, chúng tôi mừng rỡ, vì hằng tin tưởng ở Thánh Danh.” (Tv 33:21) Thật vậy, nếu không có Ngài thì mọi loài đều biến thành hư vô ngay lập tức. Kinh Thánh cho biết: “Kẻ tế thần khác ngoài Đức Chúa, sẽ bị Đức Chúa loại trừ.” (Xh 22:19)

Chính Thiên Chúa cũng đã cảnh báo thẳng thắn: “Những kẻ coi trọng Ta thì Ta coi trọng, còn những kẻ khinh dể Ta thì bị khinh thường.” (1 Sm 2:30) Chắc chắn mọi kiêu nhân đều bị Thiên Chúa hạ bệ. (Hc 1:30; Hc 10:14; Is 23:9; Đn 4:34; Lc 1:52) Thật vậy, gieo gì thì gặt nấy, “Gieo gió thì phải gặt bão.” (Hs 8:7) Bởi vì “Thiên Chúa không để cho người ta nhạo báng đâu!” (Gl 6:7) Đây là vài trường hợp cụ thể:

[1] Chàng ca sĩ John Lennon trong ban nhạc The Beatles (Anh) đã trả lời báo chí trong một cuộc phỏng vấn: “Đạo của Chúa Giêsu đã đến ngày cuối cùng, nó sẽ biến mất. Tôi chẳng cần bàn cãi về vấn đề này mà chắc chắn như vậy! Chúa Giêsu thì tốt, nhưng những lời dạy của Ngài quá đơn giản. Giờ chúng tôi nổi tiếng hơn Ngài nhiều.” Và rồi năm 1980, anh ta bị bắn chết bằng 6 phát súng của một fan cuồng.

[2] Tổng thống Tancredo Neves (Brazil) nói: “Nếu có 500 phiếu ủng hộ tôi thì dù Thiên Chúa có muốn xóa bỏ chức tổng thống của tôi cũng không thể!” Vâng, Ngài không bỏ chi hết, và ông đã đắc cử tổng thống. Thế nhưng ông bị bệnh và chết trước khi đăng quang năm 1985.

[3] Kỹ sư Thomas Andrew, người Mỹ, đã thiết kế con tàu Titanic, hiên ngang nói với phóng viên: “Nó an toàn đến nỗi Thiên Chúa cũng không thể nhấn chìm nó được!” Tuy nhiên, Titanic đã va vào tảng băng và chìm xuống đáy Đại Tây Dương vào giữa đêm khuya, trung tuần tháng 4-1912.

[4] Năm 2005, tại Campinas ở Brazil, một nhóm bạn trẻ say xỉn đi đón một cô gái. Người mẹ cầm tay cô dắt ra tận nơi vì lo lắng khi thấy họ say xỉn mà lái xe, bà nói: “Cầu xin Chúa đi với con và gìn giữ con.” Cô gái nói: “Nếu Chúa muốn đi cùng thì phải ngồi trong cốp xe chứ trong này chật rồi!” Vài tiếng sau, truyền hình đưa tin về một vụ tai nạn nghiêm trọng, chiếc xe bị biến dạng hoàn toàn, trong đó có nhóm bạn trẻ kia.

Thiên Chúa nhân lành, Ngài không tạo sự ác, chỉ tại con người kiêu ngạo nên tự rước họa vào thân mà thôi. Dù biết Thiên Chúa tận tình như vậy, chúng ta vẫn không được ỷ lại, mà phải liên lỉ cầu nguyện: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài.” (Tv 33:22) Tương tự câu trong Kinh Lạy Cha: “Xin Cha tha nợ chúng con NHƯ chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Quan trọng ở chữ NHƯ – nghĩa là chúng ta trông cậy ở mức nào thì được nhận lòng thương xót như vậy, chúng ta tha thứ cho người khác thế nào thì được nhận ơn tha thứ như thế. Đó là công bình, là công lý, và cũng là chân lý. Không thể CHO ít mà đòi NHẬN nhiều. Thiên Chúa không bao giờ “bù lỗ” kiểu ích kỷ đó!

Mặc dù Thánh Phaolô căn dặn riêng với Ti-mô-thê, nhưng cũng là nói với mỗi chúng ta hôm nay: “Anh đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng hổ thẹn vì tôi, người tù của Chúa; nhưng dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng.” (2 Tm 1:8) Tất cả mọi người đều phải nỗ lực, không ngoại bất kỳ trừ ai.

Mà tại sao chúng ta phải nỗ lực làm chứng như vậy? Lý do tất yếu: “Người đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Người. Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Kitô Giêsu, nhưng giờ đây mới được biểu lộ, vì Đấng cứu độ chúng ta là Đức Kitô Giêsu đã xuất hiện. Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử.” (2 Tm 1:10) Rất rõ ràng, rất cụ thể.

Nếu chúng ta có thể thực hiện được như vậy thì chắc chắn sẽ được tận hưởng niềm hạnh phúc trong Đức Kitô, được trường sinh và vĩnh cư trong Vương Quốc Hằng Sống mà Ngài đi dọn sẵn cho chúng ta. Đó mới thực sự là niềm hạnh phúc vĩnh viễn. Chúa Giêsu đi trước và sẽ rước chúng ta đi sau.

  1. PHÍA SAU

Ngày xưa, ông Giô-suê đã nói với dân: “Nếu anh em lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần ngoại, Người sẽ quay lại chống anh em, giáng họa xuống anh em và tiêu diệt anh em, dù TRƯỚC ĐÂY Người đã giáng phúc cho anh em.” (Gs 24:19) Nhưng đối với dân thành Ni-ni-vê, trước đó tội lỗi và bất hạnh mà sau đó được hạnh phúc nhờ biết sám hối. Thiên Chúa thấy việc họ làm, thấy họ bỏ đường gian ác mà trở lại, Ngài hối tiếc về tai hoạ Ngài đã tuyên bố sẽ giáng trên họ, Ngài đã không giáng xuống nữa. (x. Gn 3:1-10) Rõ ràng việc sám hối có thể đảo ngược tình thế và thay đổi số phận con người. Tùy ý, “ai thích cái gì sẽ được cái đó.” (Hc 15:17)

Hạnh phúc luôn mỉm cười với những ai kiên trì và dũng cảm đi xuyên qua gian khó. Ai khổ luyện thì sẽ thành tài. Vất vả trồng cây thì sẽ có ngày hưởng trái ngọt. Đó là quy luật chung muôn thuở, như người Việt cũng nói: “Có công mài sắt, có ngày nên kim.” Đó là điều tất nhiên và hoàn toàn hợp lý!

Triết gia và thần học gia Albert Schweitzer (1875-1965, Pháp) có cách nhận xét rất cụ thể nhưng chí lý: “Cuộc sống trở nên khó khăn hơn khi chúng ta sống vì người khác, nhưng nó cũng trở nên đẹp đẽ và hạnh phúc hơn.” Ông không bi quan mà rất lạc quan, biết rõ điều trước để được điều sau.

Cái gì phải đến rồi cũng sẽ đến. Tránh trời không khỏi nắng, chẳng thoát mưa. Sáu ngày sau khi tiên báo về cuộc thương khó, Đức Giêsu đem theo các môn sinh thân tín là Phêrô với hai anh em Giacôbê và Gioan. Ngài đưa các ông tới một ngọn núi cao, rồi Ngài biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Khi đó, dung nhan Ngài chói lọi như mặt trời, và y phục Ngài trở nên trắng tinh như ánh sáng. Các ông chưa hết ngỡ ngàng thì bỗng các ông thấy ông Môsê và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Ngài. Sự kiện này gây ngạc nhiên nhưng vô cùng thú vị.

Trong khi quá hưng phấn, ông Phêrô thưa ngay với Sư Phụ mà không cần so đo tính toán: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia.” (Mt 17:4) Muốn dựng lều cho cả ba vị chứ không hề nhắc tới lều cho ba anh em. Sao cũng được, ở “khách sạn ngàn sao” chẳng thành vấn đề, miễn sao được tận hưởng niềm hạnh phúc tuyệt vời mà thôi. Đó là lúc các ông được nếm thử hạnh phúc Nước Trời, nhờ đó mà cố gắng chịu gian nan. Khổ trước phước sau.

Rất lạ lùng, từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Sướng quá chừng luôn! Khi ông Phêrô chưa dứt lời thì bất ngờ có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (Mt 17:5) Trước đó, sau khi Thánh Gioan Tẩy giả làm Phép Rửa cho Chúa Giêsu tại sông Giođan, Chúa Cha cũng xác nhận tương tự về Đức Kitô Giêsu: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” (Mt 3:17) Không có gì để nghi ngờ về mặc khải này. Đích thực là thiên khải rồi.

Nhưng lần mặc khải này khác hẳn, bởi vì các ông vừa nghe tiếng nói đó thì kinh hoàng và ngã sấp mặt xuống đất. Lạ lùng lắm, hết hồn luôn! Nhưng may là ba anh em vẫn bình an vô sự, mặc dù té lăn cù trên đá sỏi lởm chởm. Thấy thế, Chúa Giêsu đến chạm vào các ông và bảo: “Chỗi dậy đi, đừng sợ!” (Mt 17:7) Các ông ngước mắt lên, không còn thấy ai ngoài Sư Phụ. Kỳ lạ thật đấy, chả hiểu ất giáp gì ráo trọi. Nhưng vẫn thích, mọi thứ rất tuyệt vời!

Trong lúc trên đường đi từ trên núi xuống, Chúa Giêsu căn dặn các ông “đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.” (Mt 17:9) Không thấy Kinh Thánh cho biết các ông có nói gì hay không, có lẽ các ông chỉ biết im lặng vì chưa hiểu hết ý Thầy, mà các ông cũng không dám hỏi Thầy điều gì. Tất cả đều rất lạ lùng, không như suy nghĩ của loài người.

Lạy Thánh Phụ chí ái, xin tha thứ cho chúng con về những ước mơ đã không hợp Thánh Ý Ngài, xin hướng dẫn tư tưởng của chúng con, xin ban thêm các ơn cần thiết để chúng con đủ sức vượt qua mọi trở ngại suốt chặng đường lữ hành trần gian. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

 

ĐỪNG SỢ, HÃY THEO THẦY

Lm. Jos. DĐH.

Quan sát, chiêm ngắm, mới chỉ là khởi điểm cho mục đích tốt đẹp ở phía trước, dù đó là ước muốn biết sống yêu mến, thao thức được trở nên giống thần tượng của mình. Cha ông chúng ta có câu: tốt gỗ hơn tốt nước sơn ; giới trẻ lại thực tế vô cùng: bạn trăm năm của tôi phải được cả người cả nết, được cả tâm cả tính. Mỗi người đều có thể tự biện minh cho lối sống riêng của mình, già trẻ lớn bé, tất cả đều có khả năng để hiểu điều tốt nên làm điều xấu nên tránh, nhưng quyết định chọn lựa con đường đến hạnh phúc là rất tự do. Kitô giáo chúng ta hiểu và nhớ rất tốt lời giáo huấn của Đức Giêsu: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”. Đến với Thầy, theo Thầy, chính là dịp thuận tiện để hiểu tại sao phải qua đau khổ mới tới vinh quang.

Khái niệm về người tốt việc tốt, sống theo lý tưởng của người mình yêu mến, cảm nhận đó, phát hiện đó, 12 tông đồ, các tiền nhân, và chúng ta, tất cả đều tâm phục khẩu phục về giáo huấn và hành động đức tin nơi Đức Giêsu. Ba học trò thân tín được gọi chọn theo Thầy lên núi, so với 9 môn đệ ở nhà, với cái nhìn tự nhiên người ta đã thấy khác, dù các ông ở trong nhóm 12, có ước muốn theo Thầy. Nếu suy xét một chút chúng ta thấy giới trẻ hôm nay nói rất chí lý: đừng tự hào vì nghèo mà học giỏi, nhưng hãy tự hỏi biết bao người học giỏi mà sao vẫn nghèo. Ba môn đệ năm xưa ở núi cao được mắt thấy “Chúa hiển dung mạo”, được tai nghe: “đây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người”. Ấy vậy mà 3 môn đệ đó có dám tự hào các ông tài giỏi đức độ gì hơn số 9 ông kia đâu !

Theo Thầy lên núi cao, đó là diễm phúc, là hồng ân, theo Thầy sống ơn gọi làm linh mục, tu sĩ, đó là vinh dự theo “cái nhìn” của người đời. Theo Thầy Giêsu lên núi, được mắt thấy tai nghe những “dấu lạ” về bình an hạnh phúc, hẳn những ai muốn trở nên “Con chí ái” đều phải xuống núi và sống sứ vụ riêng của mình cách tốt nhất. Với cái nhìn ở đời: một người làm quan, cả họ được nhờ, giầu tiền lắm của là được trọng vọng, tài giỏi đức độ là nhờ phúc lộc tổ tiên phù hộ, gia đình có con cháu đi tu, đó là muôn phần vinh dự. Theo Đức Giêsu, dù 9 học trò không đi cùng Thầy lên núi cao, các ông vẫn phải thể hiện niềm tin, đi con đường Chúa đi: qua đau khổ thập giá mới tới phục sinh vinh hiển, qua khổ đau mới tới hạnh phúc thật.

Đừng sợ, hãy theo Thầy, nếu chỉ lập lại thì không khó. Đừng sợ, sau cơn mưa trời lại sáng, lời khuyên ấy có giải toả được những căng thẳng cho anh chị em đang gặp tai hoạ, khổ đau, mất mát người thân không ? Đừng sợ, hãy theo Thầy xuống núi, Thầy đi trước, trò theo sau ; hãy vững tin như Thầy đã từng nói: “ai xin sẽ được, ai tìm sẽ gặp, ai gõ sẽ mở cho”. Kinh nghiệm của thế gian: ăn đi trước, lội nước theo sau, sự khôn ngoan và tính hài hoà, luôn mang đến sự bình an và tự tin trước mọi gian nan vất vả của ơn gọi riêng mà ta đang có. Dù bất toàn giới hạn, người ta cũng đủ hiểu: giầu sang phú quý, văn võ song toàn, con người cũng không né tránh khỏi đau khổ, dù khoẻ mạnh, trí lớn, tinh thần cao đến đâu, không ai thoả mãn được hai từ hạnh phúc khi sống ở cõi đời này.

Thầy Giêsu mang theo ba học trò đại diện lên núi cao, hẳn Ngài không cần thăm dò hoặc đặt để sự hên xui xem 3 môn đệ đó có xứng đáng đến đâu ! Khi quan sát cuộc biến hình đổi dạng, nhất định các ông ít nhiều đã thấm nhuần bài học theo Thầy đi hết hành trình làm môn đệ là như thế nào. Người ta có kể câu truyện ngụ ngôn: người thợ và cây bút chì như sau. Có một ông thợ trước khi làm ra sản phẩm bút chì của mình, ông căn dăn cây bút chì như sau: để trở thành cây bút có ích, ngươi phải chịu đau đớn khi bị gọt giũa. Chỉ khi được con người cầm trong tay ngươi mới trở nên có ích, thậm chí còn trở nên vĩ đại. Đừng lo lắng những lỗi lầm ngươi mắc phải hoặc sai sót vụng về của người đang sử dụng ngươi. Hãy ghi nhớ và đừng quên bài học để trở thành người tốt nhất trong khả năng của mỗi chúng ta đang có. (st trên net).

Đừng sợ, hãy theo Thầy, hãy chia sẻ sứ mạng với Thầy Giêsu, bao giờ cũng là một mầu nhiệm vĩ đại đối với loài người giới hạn bất toàn. Ơn gọi làm người tốt, con đường dẫn tới thành công, hay sứ mạng người kitô hữu dẫn đến hạnh phúc khi được gọt giũa trở thành “con chí ái” của Đức Kitô, đều là sự thật, khi mỗi người đi theo Đức Giêsu vượt qua đau khổ để đến vinh quang. Xin tình yêu của Đấng Kitô ở lại với chúng con, giúp mỗi người chúng con có được ơn bình an, can đảm theo Chúa cách trọn vẹn trong tin tưởng, tín thác. Amen.

 

40 NGÀY “SỐNG CHẬM”

Lm. Giuse Nguyễn

Đúng 00 giờ ngày 04.03.2020, Tỉnh Vĩnh Phúc chính thức công bố quyết định tháo dỡ toàn bộ 12 chốt cách ly phòng chống dịch  Covid 19 trên địa bàn xã Sơn Lôi sau 3 tuần phong tỏa để chống dịch. Đây là thông tin khiến nhiều người vui mừng, nhất là người dân xã Sơn Lôi vì họ sẽ được tự do đi lại, thoải mái tiếp xúc, an tâm sinh hoạt… khi xã mình không còn là “ổ dịch” nguy hiểm nữa. Để có được niềm vui này, người dân phải trải qua hơn 20 ngày “sống chậm”.

Phóng viên báo VN Express ghi nhận: 20 ngày cách ly trở thành quãng thời gian để nhiều người Sơn Lôi ngồi lại bên nhau hàn huyên chuyện cũ, chăm chút cho gia đình.” 20 ngày cách ly đó họ có thời gian để sửa lại gian bếp, tráng lại khoảng sân, ngủ đủ 8 giờ, tổ chức sinh nhật cho mẹ, quay quần hát hò, văn nghệ, thể thao… những việc mà trước đây họ chưa từng làm vì không có thời gian.

Vì thế 20 ngày cách ly trở thành 20 ngày “sống chậm” của người dân Sơn Lôi. 40 ngày Chay thánh cũng trở thành thời gian “sống chậm” của các Kitô hữu.

“Sống chậm không phải là lãng phí thời gian nhưng là sống một cách kỹ lưỡng hơn để cảm nhận được những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Những điều tốt đẹp ấy đôi khi là tiếng hót của một chú chim được tự do tung cánh trên bầu trời xanh thẳm, là vẻ lấp lánh của một giọt sương mai đọng trên cánh hoa đang hé nở hay vẻ đẹp của một tia nắng hồng lúc bình minh rồi tím dần khi hoàng hôn đến…” (Phêrô Nguyễn Văn Ba). Sống chậm để nhìn thấy những điều mà đôi khi trong cuộc sống ta không thấy vì quá vội vàng.

Trang Tin Mừng hôm nay kể lại biến cố Chúa biến hình. Chỉ những môn đệ thân tín, chỉ những ai “đi riêng ra một chỗ, tới ngọn núi cao” (Mt 17, 1b) mới có thể nhìn thấy vinh quang của Chúa. Để có thể “đi riêng ra một chỗ, tới ngọn núi cao”, đòi hỏi những môn đệ đó phải “sống chậm”, từ bỏ những vội vã của cuộc sống hằng ngày, những kéo lôi của đam mê dục vọng, những hấp tấp của kết án, lăng mạ… để sống riêng với Thầy Giêsu.

40 ngày Chay Thánh là thời gian để ta “sống chậm”, cùng lên núi với Đức Giêsu. Trong thời gian này, với lòng đạo đức chân thành, Kitô hữu dễ làm những việc đạo đức hơn. Cụ thể có những Giáo xứ, những cộng đoàn tổ chức nhiều hơn các việc đạo đức như đàng thánh giá, lần chuỗi lòng thương xót, chuỗi Mân côi…; người ta dễ chay tịnh hơn, giảm bớt lại những dịp vui chơi, giải trí, ăn uống cũng đạm bạc hơn; dễ hy sinh hãm mình để làm việc chung… người ta nghĩ đến người nghèo nhiều hơn, rủ nhau thăm viếng bệnh nhân, giúp đỡ người cùng khổ, chia sẻ  với người bất hạnh…

Rõ ràng trong mùa Chay Thánh, con người sẽ biết nhìn về Thiên Chúa để cầu nguyện nhiều hơn, nhận ra giá trị và tình yêu của Ngài. Đặc biệt mùa Chay năm nay diễn ra trong đại dịch Covid-19, những lời cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa sẽ rất tha thiết và chân thành, vì : “Xin Ngài nhớ dẫu mong manh phận, đoàn con đây cũng vẫn là con”.

Mùa Chay cũng giúp người ta hướng về tha nhân để biết yêu thương nhiều hơn, sẵn sàng tha thứ bỏ qua những lỗi lầm, vấp váp của nhau, vì nghĩ rằng: “đời là phù du, ta sống hôm nay đâu biết về ngày mai sau. Hãy dành cho nhau bao nhiêu tình yêu đang có”, vì cuối cùng ai cũng trở về với cát bụi thôi.

Khi sống chậm người ta sẽ nhìn thấy nhiều điều đẹp hơn, và đó là “vinh quang” mà Đức Giêsu muốn mặc khải trong bài Tin Mừng hôm nay.

Xin Chúa cho chúng con nhìn thấy nhiều vẻ đẹp hơn trong Mùa Chay thánh này.

 

XIN CHO ĐƯỢC LÊN NÚI THÁNH

Lm Trần Bình Trọng

Ðứng trước viễn tượng cuộc khổ hình thập giá, Ðức Giêsu đem ba tông đồ thân tín là Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi để biểu lộ cho các ông thấy cảnh vinh quang của nước Chúa.

Mặc dầu đã theo Thầy xấp xỉ được hơn một năm, nghe lời Thầy giảng dạy, chứng kiến những phép lạ Thầy làm, các tông đồ vẫn còn mang quan niệm sai lầm về Ðấng Cứu thế và sứ mạng của Người. Các ông vẫn nuôi hi vọng Ðấng Cứu thế sẽ thiết lập một vương quốc trần gian, giầu có và hùng mạnh, khả dĩ có thể đánh đuổi quân ngoại bang là người La mã đang cai trị họ thời bấy giờ.

Ba tông đồ được đưa lên núi mang những đặc tính và sắc thái khác nhau. Ông Phêrô, mặc dầu nóng tính, lại ăn nói bộp chộp, nhưng với khả năng lãnh đạo có thể qui tụ các bạn đồng chí hướng. Ông Giacôbê có lòng tin quả quyết. Còn ông Gioan biểu lộ lòng yêu mến nhiệt thành.

Tuy nhiên ba vị tông đồ trên đây cũng sẽ chứng kiến cảnh khổ nạn của Thầy mình trong vườn cây dầu Ghếtsêmani. Sợ rằng cảnh khổ nạn và thập giá sẻ để lại một kinh nghiệm đau thương cho các tông đồ, Chúa đem ba ông lên núi biến hình, cho thấy dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng như ánh sáng (Mt 17:2). Việc Ðức Giêsu biến hình có mục đích để giúp củng cố đức tin và đức cậy của các tông đồ trước viễn tượng của ngày Thứ sáu Chịu nạn.

Phản ứng của các tông đồ về việc Chúa biến hình đáng cho ta lưu ý đặc biệt. Thoạt tiên, các ông tỏ ra say mê và chìm đắm trong cảnh vinh quang của nước Chúa, muốn kéo dài thị kiến của thiên cảnh tuyệt vời, nên mới thỉnh nguyện: Thưa Thầy, chúng con mà được ở đây thì tuyệt vời (Mt 17:4). Các ông cũng thấy sự hiện diện của ông Môsê và  ông Êlia trong cảnh biến hình. Rồi các ông nghe tiếng phán từ đám mây: Ðây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người (Mt 17:5).

Trong Cựu ước, đám mây thường là biểu hiệu của việc Chúa hiện ra. Ðiều nên lưu ý ở đây là tiếng phán từ đám mây khi Chúa biến hình cũng chính là tiếng phán từ trời khi Người chịu Phép rửa (Mt 3:17). Như vậy tiếng phán từ đám mây chỉ cho bộ ba tông đồ thấy rằng Thầy mình chính là người Con làm đẹp lòng Thiên Chúa trong việc thi hành thánh ý Chúa Cha. Vậy còn sự hiện diện của Môsê và Êlia trong cảnh biến hình thì sao? Theo truyền thống Do thái, Môsê được coi là tác giả thu thập và qui tụ của bộ sách Ngũ Thư và Êlia, vị ngôn sứ vĩ đại của Cựu ước. Do đó sự có mặt của hai vị này nhằm giúp các tông đồ nhận thức rằng đạo Kitô giáo mà Thầy mình sẽ thiết lập, không tách rời khỏi những gì đã được mạc khải trong Thánh kinh Cựu ước.

Vậy ba thực tại của cảnh biến hình: dung mạo vinh quang của Ðức Kitô, sự hiện diện của Môsê và Êlia và tiếng phán từ đám mây có ngụ ý giúp các tông đồ nhận ra cuộc khổ hình và thập giá của Thầy mình sau này, không phải chỉ là một thất bại, nhưng là một biến đổi, và như thế sẽ giúp các ông giữ vững đức tin theo Thày. Tuy vậy cũng có một lần ông Phêrô đã tỏ ra hèn nhát, khước từ mọi liên hệ với Thầy mình. Ông vừa tuốt gươm chém đứt tai tên đầy tớ của thầy cả thượng phẩm hầu bảo vệ Thầy mình. Thế mà trong sân và cổng dinh thượng tế, ông sợ hãi chối Thầy mình ba lần.

Khi vừa nghe tiếng gà gáy, sực nhớ lại lời Thầy mình tiên báo, ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết (Mt 26:75). Những giọt nước mắt của ông tuôn trào dường như ông đang tự trách mình: Lạy Thầy, sao con có thể trở mặt, phản phúc Thầy như vậy, khi chính con là người đã xin làm ba lều ở lại trên núi để chiêm ngưỡng cảnh vinh quang của nước Thầy? Phúc thay cho ông Phêrô! Dòng nước mắt thống hối của ông đã được Chúa đoái thương tha thứ.

Người tín hữu đang bước vào tuần lễ thứ hai mùa chay. Mùa chay là thời giờ cho người tín hữu luyện linh chưởng để đi theo Chúa lên núi tâm linh hầu được Chúa cho biến hình trong phạm vi nhỏ bé nào đó. Ðể có thể đứng vững khi gặp gian nan thử thách, người tín hữu cần có được những cảm nghiệm về những giờ phút giao cảm giữa Thiên Chúa và tâm hồn. Các tông đồ cảm thấy say mê và chìm đắm trong cảnh vinh quang của nước Chúa, thì ít ra, người tín hữu cũng cần xin Chúa đánh động tâm hồn, hay xin được điều mà sách tu đức thần bí gọi là hiện tượng xuất thần hay bay bổng.

Dự một buổi tĩnh tâm sốt sắng; chứng kiến những gương nhân đức thánh thiện; nghe đọc những tư tưởng cao đẹp, khiến ta nhiệt tâm trước tiếng gọi nên thánh. Sau khi nghe một bài giảng hùng hồn sốt sắng, khiến lòng rạo rực, lửa yêu mến Chúa bừng cháy trong tâm hồn, thôi thúc ta loại bỏ những chướng ngại vật trong tâm hồn để làm lại cuộc đời. Những khi cảm thấy tâm hồn an vui thanh thoát sau khi đã làm những việc thiện hảo, ta muốn hiến thân phụng sự và phục vụ. Trước những gương hi sinh, bác ái, ta ao ước muốn dấn thân theo Thầy chí thánh để làm việc tông đồ, giúp đỡ người nghèo đói, tàn tật và đau khổ. Khi gặp sóng to bão lớn ngoài biển cả, nguy hiểm đến tính mạng, không còn gì để bám víu, ta kêu cầu đến Chúa: Nếu Chúa để con sống, cập bờ ghé bến, con sẽ trung thành phụng sự Chúa suốt đời con, v.v.

Lời cầu nguyện xin cho được chiêm ngưỡng cản vinh quang của nước Chúa:

Lạy Chúa Giêsu, Ðấng con tin thờ.

Chúa đã đưa ba tông đồ thân tín lên núi biến hình

cho các ông thấy cảnh vinh quang của nước Chúa.

Nếu thấy con cần,

thì xin Chúa cũng ban cho con dấu chỉ nào đó

về sự hiện diện của Chúa

để con vững tâm bước theo Chúa. Amen.

 

BIẾN HÌNH.

Lm. Thái Nguyên

Biến hình không phải trở thành cái gì khác mình, không phải như Tôn Ngộ Không với các trò biến hoá trẻ con. Biến hình là trở lại với cái tôi sâu thẳm của mình, với con người thật sự của mình là con yêu dấu của Thiên Chúa.

Suy niệm

“Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng”.

Việc Chúa Giêsu biến hình hay hiển dung, cho ta nhận ra nguồn gốc siêu phàm, và bản tính siêu việt của Con Thiên Chúa làm người. Biến cố này đã làm thay đổi cái nhìn của các môn đệ về con người và cuộc đời, để các ông không chỉ nhìn ở bề mặt mà biết nhìn vào bề sâu.

Vinh quang của Con Thiên Chúa làm người vốn bị che khuất, nay được Chúa Cha hé mở cho các môn đệ thân tín, để củng cố niềm tin của họ trước biến cố tử nạn sắp tới của Thầy mình.

Biến hình không phải trở thành cái gì khác mình, không phải như Tôn Ngộ Không với các trò biến hoá trẻ con. Biến hình là trở lại với cái tôi sâu thẳm của mình, với con người thật sự của mình là con yêu dấu của Thiên Chúa.

Lịch sử Giáo hội ghi nhận nhiều cuộc biến hình hay biến đổi: từ say rượu đến say Chúa; từ gái giang hồ thành thánh nhân; từ trai tứ chiếng trở nên đấng lập Dòng; từ kẻ khô khan đến người sốt mến; từ người tham lam, hà khắc, trở thành kẻ rộng lượng và khoan nhân…

Chẳng ai gặp được Chúa thực sự mà lại không biến hình hay biến đổi. Gần đèn thì sáng. Tiếp xúc thân mật với Chúa sẽ làm thay đổi tâm hồn ta: tình yêu Chúa xua tan sự thờ ơ nguội lạnh và đốt nóng trái tim ta; cảm nhận sự dịu dàng của Chúa làm ta giảm bớt tính cứng cỏi, hà khắc; khám phá ra sự khiêm hạ của Chúa giúp ta quyết trừ thói kiêu căng; thấy Chúa bao dung khiến ta mở rộng lòng đón nhận tha nhân; kề bên Chúa, ta được thanh luyện khỏi những nhỏ nhen ích kỷ…

Qua biến cố Biến hình, Chúa Cha long trọng giới thiệu Chúa Giêsu là con yêu dấu, và kêu gọi ta hãy “nghe lời Người”. Chúng ta thường nghe theo thiên hạ hoặc nghe theo những ham muốn của mình. Chỉ khi nào chúng ta biết lắng nghe Lời Chúa, để cho cho Lời Chúa hướng dẫn trong mọi sự, chúng ta mới được biến đổi và phản chiếu ánh quang của Chúa khi đi vào mọi hoạt động của đời thường.

Đời sống Kitô hữu là một cuộc lên núi và xuống núi với Chúa Giêsu mỗi ngày. Lên núi chính là những giây phút tiếp xúc thân mật với Chúa trong cầu nguyện, tịnh tâm, thánh lễ. Xuống núi với Chúa nghĩa là đi vào đời thường để hiến thân phục vụ gia đình, tha nhân, cách riêng là những người nghèo hèn khốn khổ.

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu! Chúa đã làm người,
và mang khuôn mặt như mọi người,
khuôn mặt dãi dầu mưa nắng vì sứ vụ,
khuôn mặt chan chứa một tình yêu.

Qua biến cố biến hình,
Chúa hé mở một chút vinh quang rực rỡ,
cho thấy Ngài là Con yêu dấu của Chúa Cha,
Đấng cao vời và bao la hơn các tầng trời.

Biến hình là sự bừng sáng thật huy hoàng,
báo trước vinh quang của Chúa phục sinh,
sau khi phải trải qua nhục hình và tử nạn,
đem lại sự bình an và cứu độ cho con người.

Tuổi trẻ chúng con cũng thích được chói sáng,
nên hay tô vẽ cho mình ánh hào quang,
bằng những hành động và kiểu cách vênh vang,
cũng có khi theo những lối sống nghênh ngang,
hoặc theo thời, theo “mốt”, theo thời trang,
tưởng mình cũng ở cấp độ trở thành Fan hâm mộ.

Chúng con quên rằng,
sự chói sáng đích thực là trở nên giống Chúa,
Đấng hiền lành và khiêm nhượng trong lòng,
Đấng chân thật và thánh thiện vô song,
Đấng mới làm cho bản thân con chói sáng,
bằng một đức tin và tình mến rỡ ràng.

Xin cho con trở lại với cái tôi sâu thẳm,
dám sống với con người thật của mình,
là trở nên con yêu dấu của Thiên Chúa,
đừng bao giờ chạy theo những hơn thua,
theo thói tranh đua trống rỗng của người đời,
nhưng luôn biết lắng nghe Lời Chúa,
để luôn canh tân và đổi mới chính mình.

Chỉ như vậy con mới có một ngày rực rỡ,
vì sẽ được gặp gỡ Chúa muôn đời,
trong ánh sáng siêu vời và rạng ngời vô tận,
với tình yêu ngập tràn và hạnh phúc vô biên.
Amen.

(Trích sách: Lời nguyện của người trẻ, số 47)

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *