Bài hát và suy niệm (25.11.2018 – LỄ CHÚA KI-TÔ VUA)

 

NL: ĐẾN TRƯỚC NHAN NGÀI

ĐC: CHÚA LÀ VUA

HALL: Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Chúc tụng nước Đa-vít Tổ phụ chúng ta đã đến.

DL: HIẾN LỄ TÌNH YÊU

HL: GIÊSU VUA MUÔN DÂN (ĐK -PK -ĐK- CODA)

KL: TÁN TỤNG HỒNG ÂN

 

Lời Chúa:  Dn 7,13-14; Kh 1,5-8; Ga 18,33b-37

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an

33b Khi ấy, quan Phi-la-tô nói với Đức Giê-su rằng : “Ông có phải là vua dân Do-thái không ?” 34 Đức Giê-su đáp : “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi ?” 35 Ông Phi-la-tô trả lời : “Tôi là người Do-thái sao ? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì ?” 36 Đức Giê-su trả lời : “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” 37 Ông Phi-la-tô liền hỏi : “Vậy ông là vua sao ?” Đức Giê-su đáp : “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.”

Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ

                  

Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu bị quan Philatô thẩm vấn trong dinh: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?” (Ga18,33). Người không phủ nhận, nhưng Người trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra nước tôi không thuộc chốn này”. (Ga 18,36).

Nước của Thiên Chúa là chủ đề đã được các ngôn sứ loan báo trong thời Cựu ước bằng nhiều hình ảnh sinh động. Khi Đức Giêsu đến, chủ đề nước Thiên Chúa còn được chính Người rao giảng, trở nên rõ ràng và sống động hơn qua các dụ ngôn. Người đã thiết lập nước của Thiên Chúa ngay trong trần gian. Ai tin, sám hối và đón nhận Người là được thuộc về vương quốc ấy. Nước Thiên Chúa không phải là một địa điểm rõ ràng về địa lý, nước ấy không đến như một điều có thể quan sát thấy. Bởi vậy chẳng ai có thể nói nước Thiên Chúa ở đây hay ở kia. Những ai sống trong chân lý, tình thương, hòa bình và ân sủng của Chúa, thì chính Thiên Chúa đang ở giữa họ và họ là những người thuộc vương quốc của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu Kitô là Vua thật, nhưng chẳng giống một vị vua ở trần gian chút nào, không quyền lực vinh sang, không quan quân lính tráng hầu hạ. Khi mới sinh ra Ngài đã được gọi là vua. Khi vừa mới ra đời, các nhà chiêm tinh đã tìm hỏi: “Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu?” (Mt 2,1). Thật lạ lùng, Ngài sinh ra nơi chuồng bò hèn hạ khó khăn. Khi Người đi rao giảng, có hai người mù chạy theo tuyên xưng: “Lạy Con Vua Đavít, xin thương xót chúng tôi!” (Mt 9,27). Đám đông ngút ngàn được ăn bánh no nê chỉ muốn tôn Người làm vua để được ăn bánh hằng ngày, họ sửng sốt bảo nhau: “Ông này chẳng phải là Con vua Đavít sao?” (Mt 12,23).

Khi Người vào thành thánh Giêrusalem, dân chúng trải áo, đón rước và tung hô: “Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời!” (Lc 19,38). Nhưng thật khác lạ, Vua Giêsu cuối cùng phải chịu đem ra nhục mạ, nhạo báng. Người là Vua đau khổ: Lính tráng lột áo Người, khoác cho Người áo choàng đỏ, kết vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, trao cho Người cây sậy rồi quỳ xuống nhạo rằng: “Vạn tuế Đức Vua dân Do Thái!” (Mt 27,29). Vua bị treo lên “ngai” thập giá với bản án xử tội: “Người này là Giêsu, vua dân Do Thái.” (Mt 27,37). Bị coi như một tử tội, nhưng Vua Giêsu đã chiến thắng, như trong bài đọc II đã khẳng định: “Đức Giêsu Kitô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian… Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người, kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời. Amen!” (Kh 1,5-6).

Lạy Chúa Giêsu Kitô là Vua, Vua Nước Trời, Vua Sự Thật, Vua Tình Yêu! Xin Chúa luôn ngự trị tâm hồn chúng con ở mọi nơi và trong mọi lúc. Xin cho cúng con luôn được sống hạnh phúc viên mãn trong vương quốc của Chúa. Amen.

Én Nhỏ

***

MỤC LỤC 

 

Năm 2018

 

1. Sống phút hiện tại  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

2. Sống yêu thương trong thế giới dối gian (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

3. Chúa Kitô Vua.  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

4. Chúa Kitô Vua  (Jorathe Nắng Tím)

5. Đức Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi)

6. Vua Vũ Trụ  (Lm. Trần Việt Hùng)

7. Nước của sự thật  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

8. Suy niệm Chúa Nhật 34 Thường niên_B  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

9. Vua khiêm nhường và phục vụ  (Lm. Phêrô Lê Văn Chính)

10. Đức Giêsu là vua ư? (Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn)

11. Đức Kitô làm vua đời tôi (Lm. Nguyễn Hữu Thy)

12. Vua Giêsu  (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

13. Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

14. Vạn tuế Đức Kitô! (Trầm Thiên Thu)

15. Giêsu, Đức Vua Tình Yêu  (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

16. Vương miện  (Lm. Vũ Đình Tường)

17. Chúa Giêsu Kitô, Vua tình yêu và sự thật  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

18. Vương quốc tình yêu (Lm. Giuse Nguyễn)

19. Tôn Chúa Giêsu làm vua của mình  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

20. Song hỉ lâm tâm  (Lm. Bosco Dương Trung Tín)

21. Chúa Giêsu Kitô – Vua tình yêu  (Lm. Simon Nguyễn Thanh Tú)

22. Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua_B (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang)

23. Chúa Kitô Vua Vũ Trụ – Vua Sự Thật  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

24. Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ – Vua Sự Thật (Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng)

25. Vua thật (Lm. Thái Sơn)

26. Suy niệm và chú giải Lời Chúa – Lễ Chúa Kit ô Vua (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

27. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi (Fx. Đỗ Công Minh)

28. Ông vua lạ đời  (Lm. JM. Lam Thy, ĐVD)

 

.Năm 2015

1. Chúa Kitô Vua Vũ Trụ (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

2. Làm vua là làm chứng (Gm. Giuse Vũ Duy Thống. Trích trong “Với Cả Tâm Tình”)

3. Vua sự thật  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

4. Chúa Giêsu là chân lý  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

5. Chúa Giêsu Kitô là Vua vũ trụ (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

6. Vua chân lý  (Trầm Thiên Thu)

7. Tôi là Vua (Văn Hào, SDB)

8. Chân lý  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

9. Vị Vua trên Thập giá  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

10. Chúa Nhật Lễ Chúa Kitô Vua_B  (Lm. Antôn, giáo xứ thánh Giuse, Tulsa)

11. Nói sự thật  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

12. Vua Tình Yêu (Huệ Minh)

13. Đức Giêsu Vua hoàn vũ (AM Trần Bình An)

14. Để nên thành viên trong vương quốc của Vua Giêsu  (Lm. Đan Vinh)

.SỐNG PHÚT HIỆN TẠI

Lm. Jos. DĐH.

 chí làm quan, có gan làm giầu, không chỉ là lời đẹp ý hay trên phạm vi lý thuyết, dù một số người vẫn chờ đợi vận may, thời cơ, thực ra sống phút hiện tại sẽ phản ánh tính đặc trưng của từng người. Kinh nghiệm ở đời rất thực tế: cuộc đời không có quá nhiều thời gian để chờ đợi ai, hãy dấn thân, hãy hành động, dù ta làm việc nhỏ bé nhất, riêng tư nhất vì gia đình của mình. Xã hội văn minh, người ta có ý thu hẹp khoảng cách giữa giầu nghèo, xua đuổi bất công, mở rộng vòng tay yêu thương đến mọi miền tổ quốc. Điều đó có hay không, sẽ tuỳ thuộc tự do, vì xã hội luôn quan niệm rằng: giầu, tài, ở rừng sâu vẫn có người thăm viếng, nghèo, dốt, ở giữa phố chợ mấy ai biết đến !

“Ông có phải là Vua dân Do-thái không ?” Thắc mắc, tò mò, hoặc vì muốn biết muốn hiểu, chắc không phải chỉ Philatô, nếu gặp Đức Giêsu, có lẽ chúng ta cũng đặt câu hỏi như thế. Philatô, ông có hiểu vua trần gian và Vua Giêsu hoàn toàn khác nhau không ? Chúng ta hôm nay hiểu Đức Giêsu là Vua Tình Yêu, nhưng sống ơn gọi làm chứng nhân, làm công dân của Vương Quốc Giêsu như thế nào, chính là tự do, là giây phút hiện tại mà mỗi người đang tự minh chứng. Các bạn trẻ hôm nay cho rằng: nếu thiếu mạo hiểm, ít ai có cơ hội toả sáng. Nếu thiếu tự tin, việc gặp gỡ Đức Giêsu cũng chẳng ý nghĩa gì, đám đông dân Do-thái, luật sĩ, biệt phái, Philatô, những đối tượng đó đã từng xem thấy, nghe được nhiều lời lý giải hay, cũng vô ích, dù lời người xưa vẫn nói: trăm nghe không bằng một thấy.

Giây phút ở bên Đức Giêsu của Philatô được xem như một thủ tục, dù các thánh sử cho biết “quan” từng khao khát gặp nhân vật đặc biệt Giêsu, cũng vì chưa đủ “trân quý” nên Philatô chỉ gặp được Đức Giêsu trong hình ảnh tiều tuỵ, một kẻ thua cuộc. Người ta bỏ lỡ cơ hội, người ta hối tiếc vì có lợi thế mà không biết sử dụng, không đạt tới thành công ! Thời gian không dừng lại chờ Philatô, lịch sử khép lại vì ông có mà không giữ, ông sẽ lại khởi đầu hành trình mới, do tình yêu không phải ai cũng may mắn tìm được, khác nào ông gặp được rồi lại hoang phí “duyên trời”. Bản án “Vua Dân Do-thái” từ môi miệng Philatô hôm đó, từ nhân loại tội lỗi xưa nay, không phải do Philatô ngu ngốc nhầm lẫn, hay do con người quá yếu đuối. Đúng hơn là vì Philatô, vì nhân loại chúng ta ơ hờ với “ơn ban”, lại quá tốt với thứ chẳng xứng đáng với mình.

Chừng nào bạn còn sống, hãy cẩn thận khi đánh giá người khác theo dáng vẻ bên ngoài. (La Fontaine). Đức Giêsu không lý lẽ dài dòng, Ngài cho Philatô, cho chúng ta hôm nay cơ hội: “ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi”. Philatô không phải là không đủ thời gian để hiểu Vương Quyền Giêsu là gì, ông cũng dư khả năng để chia sẻ cho anh chị em cùng thời về phút giây mà ông gặp Vua Giêsu. Sống ở đời, tài đức, bổng lộc, uy quyền, luôn được xem là thuận lợi, hơn nhau ở chỗ mỗi người biết sử dụng và thích ứng với hoàn cảnh của riêng mình thế nào. Nói Giêsu là Vua Tình Yêu không khó, tin Vua Giêsu sẵn sàng giang tay cho kẻ tội lỗi đóng đinh vào thập giá sẽ khó hơn, và hiểu Vua Giêsu chịu chết vì tội lỗi của mình, lại quan trọng hơn.

Người xưa nói rằng: thà làm kẻ ăn mày mà được sống, còn hơn là làm hoàng đế mà phải chết. Đúng là không ai đủ tài, đủ đức, đủ sáng suốt, vừa sống nỗi túng thiếu của kẻ nghèo khó, vừa sống quảng đại yêu thương như vị vua dịu hiền yêu nước thương dân. Chẳng ai có thể tìm gặp được con đường dẫn tới vinh quang thật, hạnh phúc thật, mà con đường ấy lại trải đầy hoa hồng. Không ai có thể sống phút giây hiện tại trong tư cách là “tên cướp”, rồi sau đó ảo tưởng thiên hạ đang phong tặng danh hiệu tổ quốc ghi công cho mình. Không ai chối bỏ tình yêu thương của Đấng đã chết và sống lại vì yêu, lại có quyền đòi hỏi phần thưởng ở đời này và đời sau.

Phút giây hiện tại của Philatô năm xưa là hoảng loạn bất an: “quan nói đúng, Tôi là Vua” ; dù Philatô lúc đó đối diện với Vua dân Do-thái rất tàn tạ, như vị tướng không quân. Ứng với kinh nghiệm của người xưa: cười có nguy cơ bị xem là vô duyên, khóc vẫn bị xem là yếu đuối, nhát sợ sẽ bị chê là “thỏ đế”, anh hùng rơm. Đối diện với đau khổ, với nguy cơ mất mạng, có ai lại không cần đến lời động viên, khích lệ. Đức Giêsu đã cho mỗi người thấy rõ bản chất của Kitô giáo là phải có Chúa, là đủ khôn ngoan để sống giây phút trong đời cách trọn vẹn. Đứng trước “bản án chết”, nhờ tình hiệp thông cầu nguyện, Đức Giêsu đã cho Philatô và cho chúng ta thấy rõ lập trường thế nào là Vua Yêu Thương: “Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là để làm chứng cho sự thật, ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng tôi”. Xin Đức Kitô Vua, tiếp tục ban tình yêu thương, ban ơn thật lòng sám hối tội lỗi, và biết tín thác cậy trông vào Chúa cho chúng con. Amen.

 

.

SỐNG YÊU THƯƠNG TRONG THẾ GIỚI DỐI GIAN

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Trong một khảo sát được công bố mới đây của nhóm nghiên cứudo Giáo sư Trần Ngọc Thêm chủt rì cho thấy, bệnh giả dối đứng hàng đầu trong 34 tật xấu của người Việt, chiếm đến 81%.

Có thể thấy nói dối có mặt ở khắp nơi. Nói dối chằng chịt từ dưới lên trên, dọc ngang ngang dọc, trong gia đình, trong công sở, nơi kinh doanh, trong thực thi pháp luật…

Điều lạ là ai cũng nói dối nhưng ai cũng tỏ ra mình thật thà. Ai cũng biết mười mươi đối phương đang nói dối nhưng ai cũng tỏra hoàn toàn tin cậy.

Ngayở cấp độ Giáo hội nhiều giáo xứ, nhiều ban ngành cũng chấp nhận và sẵn sàng lừa dối nhau bằng những bản báo cáo mượt mà thành tích, số liệu… nhưng thực tế có phải vậy?

Một xã hội dối trá làm sao chúng ta có thể hy vọng xây dựng được một xã hội lành mạnh văn minh tình thương. Một xã hội dối trá sẽ cài cắm vào lương tâm con người từ thuở bé những hạt giống xấu của gian dối, lừa gạt. . .và chắc chắn sau này những mầm non ấy lớn lên trở thành những lãnh đạo, họ sẽ gian dối bằng cách ăn bớt giờ làm, đục khoét người dân và báo cáo láo về thành tích, rồi nào là học giả bằng thật, học giả bằng giả, mua bằng cấp, và mua quan bán chức… để leo lên những chức vụ cao hơn.

Chẳng cần nói đến thế hệ sau mà chỉcần nhìn vào hiện tại chúng ta có thểthâý sự dối trá đang hoành hành khắp nơi.

Biết bao kỹ sư đã rút ruột công trình hay thiết kế ẩu, thi công ẩu… miễn là có lợi cho mình gần đây nhất là đường cao tốc 34 ngàn tỉ một cơn mưa đã hư.

Với nghề lương y như từ mẫu là bác sỹ, có người sẵn sàng trục lợi trên tính mạng con người. Là công nhân, họ cũng sẽ có trăm phương ngàn kế để ăn cắp nguyên vật liệu hay thành phẩm của nhà máy.

Rồi trong kinh doanh, với kiểu làm ăn chụp giật…và lừa đảo đã khiến bao người tan gia bại sản.

Nếu được nhận định về xã hội hôm nay, chúng ta có thể nói đây làmột xã hội giả dối, con cái lừa dối cha mẹ, người nọ lừa dối người kia, nói một đằng nhưng việc làm lại một nẻo, nói mà không làm.

Hôm nay lễ Chúa Ky-tô Vua, chúng ta được nghe lại lời xác quyết của Chúa Giê-su đến trần gian là để làm chứng cho sự thật. Chính Ngài đã nói: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Sự thật mà Chúa Giê-su làm chứng chính là giới thiệu cho nhân loại một vương quốc đầy ánh sáng tình thương và chân thành. Một vương quốc không có bệnh thành tích mà chỉ có tinh thần phục vụ một cách vô vị lợi. Một vương quốc mà con người tìm được tiếng nói chung khi biết tôn trọng sự thật và đề cao chân lý.

Chính Chúa Giê-su đã sống điều đó. Ngài đã sống cuộc đời không tìm hư danh mà chỉ biết sống yêu thương phục vụ mọi phận người lầm than. Ngài cũng không làm để được báo cáo thành tích mà chỉ biết cho đi mà không hề so đo tính toán. Ngài đã sống và bảo vệ chân lý cho dù vì thế mà Ngài bị nhiều thế lực gian tà thù ghét và tìm cách loại trừ. Tuy nhiên, cuối cùng Ngài vẫn toàn thắng. Sự dữ đã bị đẩy lùi. Sự gian dối của ma quỷ đã bị phơi bày. Thiên Chúa đã làm chủ vạn vật và trái đất này.

Hôm nay, lễ suy tôn Chúa làm Vua, Giáo hội nhắc nhở chúng ta, là Kytô hữu tức là công dân của Nước Thiên Chúa chúng ta được mời gọi xây dựng nước Chúa ở trần gian bằng sự hiệp nhất yêu thương nơi những người con của Chúa có chung một Cha trên trời. Sự hiệp nhất đó phải được xây dựng từ nơi gia đình, nơi xứ đạo chúng ta. Phải xóa bỏ những tị hiềm, ghen ghét, những bất công, hận thù trong cuộc sống giữa người với người. Mỗi người kytô hữu khi lãnh nhận bí tích rửa tội còn được mời gọi làm chứng cho sự thật giữa thế gian. Điều đó mời gọi chúng ta phải cùng nhau loại trừ  điều gian dối, chua ngoa và xây dựng một nền công lý và sự thật giữa thế gian còn quá nhiều bất công và gian dối.

Vâng, cuộc đời hôm nay có lẽ sẽ vui hơn nếu người ta biết sống chân thành với nhau.Vợchồng chân thành với nhau trong nghĩa tình thuỷ chung. Người trong một đoàn thể, một xứ đạo sống chân thành với nhau hầu loại trừ bệnh thành tích khoe trương. Nhất là trong cuộc sống hằng ngày cần lấy chữ tín làm đầu, luôn sống chân thành trong lời nói , việc làm luôn theo chân lý và sự thật.

Ước gì mỗi người tín hữu chúng ta biết xây dựng Nước Chúa ở trần gian bằng cuộc sống chứng nhân cho tình yêu, cho chân lý và công bình giữa thế giới hôm nay. Amen

 

.

CHÚA KITÔ VUA.

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Sách Trung Dung, Tử Tư nhận xét rằng: “Sở dĩ biển cả làm vua các sông ngòi, bởi vì biển ở thấp”. Mầu nhiệm suy tôn Chúa Ki Tô vua được Thánh Phao lô viết: “ Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.” (Pl 2, 8 -9). Vương quyền của Chúa là vương quyền của sự vâng phục – khiêm hạ và phục vụ sự sống.

Mầu nhiệm tự hạ

Danh xưng Con Thiên Chúa được giới thiệu trong phúc âm Thánh Gioan là một danh xưng vượt trên mọi ý niệm của người Do Thái chờ đợi Đấng Messia. Người vốn dĩ là Thiên Chúa, theo cách tường thuật Chúa Giêsu của Thánh Phao lô, Đâng đã tự hạ vâng phục xuống thế làm người và vâng phục cho đến chết. Mầu nhiệm tự hạ rõ nét nhất khi người ta thấy một Thiên Chúa Toàn Năng được tuyên xưng trong kinh tin kính, lại xuất hiện như một người tử tội.

Dấu chỉ tự hạ trong vâng phục

Vâng phục không chỉ là đón nhận những đòi buộc luân lý, nhưng còn là chấp nhận hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Không phải theo cách máy móc như Robot được lập trình mà vâng phục với tất cả tự do của con người, lãnh nhận tất cả khổ đau vì lẽ công chính, đón nhận tất cả với niềm vui vì Nước Trời. Chúa Giêsu vâng phục Chúa Cha như Ngài nói: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người.” (Ga 4, 34). Một sự vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá. Vâng phục đối với Chúa Giêsu là trao mọi sự trong tay Cha như là một sự tự hiến: “Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến” (Ga 17, 19).

Vâng Phục – Tự hạ, biểu lộ đức khiêm nhường.

Đức khiêm nhường là một nhân đức cần thiết trong đời sống của con người muốn nhuận được lòng người. Khiêm nhường cần thiết cho con người để nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa, nhận ra con người thật của mình dù thế nào cũng mang những tính bất toàn. Đức khiêm nhường biểu lộ bằng sự vâng phục, trong sự vâng phục đó, “Chúa đã làm và sẽ làm cho tôi những điều trọng đại” (tham chiếu Lc 1, 49). Chúa Giê su là thầy dạy về khiêm hạ, đến học với Ngài: “ Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11, 29)

Vâng phục trong tình yêu

Chúa Giê su vâng phục Chúa Cha mọi đàng, đó là một vâng phục vì tình yêu. Một tình yêu được diễn tả: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3, 16). Chúa Giê su đã thực hiện yêu thương nhân loại bằng việc đón nhận sự chết trên thập giá để ban lại sự sống mới cho nhân loại. Kinh nghiệm sống cho thấy rằng: “yêu ai, là nói với người đó rằng: em,(anh) sẽ không chết” (G. Marcel) và “tình yêu mới làm cho người ta sống” (M. Blondel).

Vương quyền tình yêu 

Có thể lấy hình ảnh người mẹ để diễn ta tình yêu Thiên Chúa một cách dễ hiểu, Hồng y Bruno Forte viết: “Tình yêu phát xuất từ lòng dạ người mẹ là một tình yêu trắc ẩn. Thiên Chúa đầy lòng trắc ẩn nên hằng mong con cái trở về”. Tình yêu làm cho Chúa Giêsu trở nên người phục vụ sự sống. “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8, 17). Một tình yêu của người cha, người mẹ yêu thương con đích thực sẽ hiểu được thế nào là tình yêu phục vụ, cũng để hiểu Lời Chúa: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10, 45)

Xin Chúa dạy chúng con về vương quyền của Người và biết thực thi vương quyền Chúa muốn nơi chúng con.

 

.

CHÚA KITÔ VUA

Jorathe Nắng Tím

Thật bẽ bàng, đắng đót khi quan tổng trấn Philatô hỏi Đức Giêsu đang đứng trước mặt ông trong tư thế bị cáo: “Ông có phải là vua dân Do Thái không ?” (Ga 18,33).  Bị chính đồng hương, đồng bào Do Thái giải giao cho quan tổng trấn như tội phạm, sao lại có thể là vua của dân mình ?  Và còn chua xót, ứ nghẹn hơn khi Philatô lạnh lùng xác nhận : “Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi” (Ga18, 35).  Thực vậy, Đức Giêsu đã nhận “triều thiên và vương trượng” Vua trong hoàn cảnh nghiệt ngã của một tên tội phạm đang chờ lãnh án tử hình, giữa tiếng la hét điên cuồng, khát máu :  “đóng đinh nó vào thập giá !” của đám đông nhẹ dạ bị chăn giắt bởi các thượng tế ma mãnh, gian hùng, mưu lược.

Vì quyết tâm giết chết Đức Giêsu qua tay chính quyền đế quốc  Rôma, mà họ đã nộp Đức Giêsu cho quan Philatô. Ông này thấy Đức Giêsu vô tội, nên hỏi các thượng tế và đám đông đang gào thét đòi mạng : “Các ngươi tố cáo ông này về tội gì ?”.  Câu hỏi rất tự nhiên, vô tư đáng lẽ phải nhận được câu trả lời  khách quan, chính xác, nào ngờ, người ta đã lái xa trọng tâm của câu hỏi để ngụy biện một cách trơ trẽn, lố bịch, nhưng đầy độc ác : “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan” (Ga 18,30). Thế ra cứ tố cáo ai, là hẳn người ấy phải có tội ; cứ viết thư nặc danh, lên mạng vu khống ai, là người ấy trở thành tội nhân ; cứ trục cổ được người nào ra trước toà án nhân dân, tất người ấy phải là tội phạm. Câu trả lời của các thượng tế làm cho người nghe có cảm tưởng đúng, nhưng thực sự hoàn toàn phi lý vì chỉ là “trò chơi luận lý” lắt léo để buộc tội.

Dã tâm giết chết Đức Giêsu của các thượng tế và đám đông qúa khích  còn bị lộ tẩy ngay trong câu trả lời của họ với quan Philatô : “Chúng tôi không có quyền xử tử ai” (Ga 18,31), khi ông bảo họ : “Các ông cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người” (Ga 18,31). Bởi muốn Đức Giêsu phải chịu án tử hình, phải bị đóng đinh vào thập giá, chứ không chỉ đánh đòn hay tù giam ít tháng, mà các thượng tế đã lừa Philatô bằng tạo áp lực, xử dụng trò chơi chữ nghiã, nhất là đe dọa ông : “Nếu ngài tha nó, ngài không phải là bạn của Xêda. Ai xưng mình là vua thì chống lại Xêda” (Ga 19,12).

Tuy hèn nhát không dám quyết định tha Đức Giêsu vì sợ sức mạnh của đám đông và để giữ an toàn chiếc ghế tổng trấn, Philatô vẫn tỏ lòng ngưỡng mộ Đức Giêsu và hỏi Ngài một vài câu hỏi xoay quanh câu chuyện vương quyền.

Đáp lại câu hỏi của Philatô : Ông có phải là vua  dân Do Thái không ? Đức Giêsu đã vắn tắt cho quan tổng trấn biết về vương quyền của Ngài :

  1. Đức Giêsu xác nhận Ngài là Vua :

Khi trả lời Philatô : “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi ?” (Ga 18,34), Đức Giêsu đã gián tiếp xác nhận Ngài là vua, nhưng không là vua dân Do Thái, và nước của Ngài không thuộc về thế gian này (x. Ga 18,36), như nhiều người đã mơ tưởng, gán ghép cho Ngài, vì khao khát được giải phóng khỏi ách thống trị của đế quốc Rôma, và tái lập nền độc lập. Cũng chính vì không đáp ứng ước vọng thuần chính trị, mà người Do Thái đã muốn giết chết Ngài, vì cho rằng Ngài đã lừa bịp họ, khi làm họ vỡ mộng.

Họ vỡ mộng thật, khi họ mong Ngài là Đấng đến giải phóng dân tộc bằng bạo lực, thì Ngài lại rao giảng yêu thương, tha thứ, làm ơn và cầu nguyện cho kẻ thù ; vỡ mộng khi  muốn tôn Ngài làm chủ tịch phong trào phục quốc, giải phóng Israel, thì Ngài lại chủ trương nghèo khó, khiêm nhường, trong sạch,  đi tìm công lý và xây dựng hoà bình (Mt 5, 1-9) ; vỡ mộng khi muốn thần tượng Ngài là lãnh tụ đầy uy lực, thì Ngài lại khiêm tốn qùy xuống rửa chân cho môn đệ ; vỡ mộng khi muốn Ngài làm phép lạ cho quân ngoại bang Rôma tàn rụi, te tua, thì Ngài lại loan báo cuộc tử nạn của chính mình. Vì thế mà người ta phải khử Ngài, chỉ vì không còn chịu đựng nổi giáo lý và đường lối Cứu Thế  khiêm tốn, yêu thương, phục vụ, quên mình, hiến mình của Ngài, bởi hoàn toàn đi ngược điều họ mong đợi.

  1. Đức Giêsu qủa quyết Ngài là Vua của vương quốc Sự Thật :

Trả lời Philatô, Đức Giêsu nói : “Chính Ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37).

Như thế, Nước của Đức Giêsu là nước gồm các chứng nhân, bởi Ngài đến làm Vua với duy nhất một mục đích là làm chứng cho sự thật, và người nghe tiếng Ngài, đi theo Ngài, thuộc về Ngài, là công dân của vương quốc Ngài trị vì, mang quốc tịch do Ngài cấp, tất cả đều phải đứng về sự thật. Đứng về sự thật là thao thức mong ước sự thật, khắc khoải muốn có sự thật, tận tụy tìm kiếm sự thật, một lòng yêu mến sự thật, hết mình sống sự thật, tận tình phục vụ sự thật, và can đảm làm chứng sự thật, dù phải hy sinh chính mạng sống.

Thế ra vương quốc của Đức Giêsu không giống các vương quốc thế gian khác phải có cung điện, triều đình, bầy tôi, quân đội, dân chúng, lãnh thổ, ngân sách… Ngài làm Vua cũng không như các vua trần thế phải có đủ mọi vinh quang, quyền lực, lợi thú, ảnh hưởng. Vua như Đức Giêsu  qủa thực không giống ai, và vương quốc của Ngài thật kỳ lạ !

a). Đức Giêsu : Vua của Sự Thật về Thiên Chúa là Cha giầu lòng thương xót.

Sự thật lớn nhất mà Đức Giêsu làm chứng khi đến thế gian chính là lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người : “Chúa Cha yêu chúng ta dường nào. Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa” (1Ga 3,1).

Người Cha Thiên Chúa, vì yêu thương đã không nỡ đoán phạt con cái yếu đuối, “nhưng nếu ai phạm tội, thì đã có một Đấng Bảo trợ trước mặt Chúa Cha : đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính” (1Ga 2,1) Thiên Chúa làm người. “Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa” (1Ga 2,2).

Cùng với  Đức Giêsu, Chúa Thánh Thần là Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa Con. “Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13). Sự thật toàn vẹn về Thiên Chúa là Cha nhân hậu như Tin Mừng Luca chương 15 đã mô tả :

Người cha như người chăn chiên vui mừng vác lên vai con chiên bị lạc mất nay tìm thấy. Về đến nhà, ông mời bạn bè, hàng xóm lại ăn mừng (x. Lc 15,4-6) ; “và trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15,7).

b). Đức Giêsu : Vua của Sự Thật về con người được Thiên Chúa yêu thương, cứu độ :

Ngoài Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, không ai đã cho con người biết sự thật về Thiên Chúa : Thiên Chúa là ai, Ngài muốn gì nơi con người ? Cũng vậy, ngoài Đức Giêsu, không ai có thể nói hết sự thật về con người : tại sao con người hiện hữu, con người sống để làm gì, chết rồi đi đâu ?

Chỉ một mình Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa, vừa là con người mới mặc khải cho chúng ta sự thật về cả Thiên Chúa và con người một cách chính xác, đích thực.

Sự thật về con người, chính là con người được tạo dựng vì được Thiên Chúa yêu thương, để hạnh phúc ở đời này và đời sau khi ở trong Thiên Chúa, đồng thời  “sống với”, và chia sẻ với anh em đồng loại trong tình yêu.  Điều này có nghiã : chúng ta chỉ có hạnh phúc thật, khi chúng ta yêu mến Thiên Chúa và yêu mến tha nhân như chính mình (Mt 22,37-39), bởi ai yêu mến thì ở trong Thiên Chúa, và ai ở trong Thiên Chúa, người ấy có tất cả.

Đàng khác, con người được hạnh phúc vì được Thiên Chúa chăm sóc, nâng niu, bởi vận mạng, sự sống, sự chết của con người đều được đặt trong tình yêu quan phòng của Thiên Chúa : “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào ? Thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em trên trời. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đã đếm cả rồi.Vậy anh em đừng sợ, anh em còn qúy giá hơn muôn vàn chim sẻ” (Mt 10,29-31).

c). Đức Giêsu : Vua Sự Thật về cuộc sống đời sau của con người :

Bí mật làm nhức nhối và làm con người lo sợ, hoang mang hơn tất cả, đó là những bí mật sau cái chết. Chết chấm dứt cuộc sống hôm nay, nhưng mơ hồ cho thấy có một cuộc sống khác, sau cuộc sống này. Chính vì mơ hồ linh cảm có một đời sau, nên con người lo lắng, sợ hãi trước ngưỡng cửa vào đời sau là cái chết, bởi điều làm người ta sợ nhất là rơi vào tình trạng chơi vơi, thấy mình cô đơn lạc lõng giữa một thế giới không thuộc về mình. Cảm giác chơi vơi làm sợ hãi: sợ vì không biết mình sẽ phải làm gì, đi về đâu, nương tựa vào ai, bám víu vào người nào?

Đức Giêsu đã mặc khải sự thật về đời sau, về những gì sẽ xẩy đến :

–        “Chúng ta từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em”  (1Ga 3,14).

–        Thiên Chúa sẽ phán xét mỗi người về  lòng thương xót anh em :

“Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người bên phải rằng : “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dành sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn ; Ta khát, các ngươi đã cho uống ; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước ; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc ; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng ; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”. Bấy giờ, những người công chính sẽ thưa rằng : “Lậy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống ; có bao giờ thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước ; hoặc trần truồng mà cho mặc ? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù mà đến hỏi han đâu ?” Đức Vua sẽ đáp lại rằng : “Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất   của Ta đây,  là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,34-40).

Tóm lại, Đức Giêsu đã khẳng định trước mặt quan Philatô : Đích thực Ngài là Vua, nhưng không làm Vua kiểu thế gian, nhưng Vua của Sự Thật. Hiểu theo nghiã : Ngài là Vua tất cả mọi người yêu mến và đi tìm Chân Lý về Thiên Chúa, về Con Người, về vận mệnh tương lai của con người, nên bất kỳ ai đứng về  Chân Lý thì thuộc về Ngài, là công dân của Nước Ngài ; bất cứ người nào khao khát Sự Thật của Thiên Chúa, đấu tranh cho Sự Thật của con người, làm chứng cho Sự Thật của Vương Quốc Nước Trời đều nghe tiếng Ngài, vì chính Ngài là Sự Thật (Ga 14,6).

Là Sự Thật, Đức Giêsu không là sự thật soi mói, tìm tòi để buộc tội, tống giam của công an chấp pháp ; sự thật “bới lông tìm vết” để trừng phạt, kết tội của chánh án ; sự thật đe doạ, thanh toán của xã hội đen ; sự thật như con ách chủ, lá bài tẩy để khống chế, đánh gục kẻ thù ; sự thật ganh ghét, bạo lực cốt tiêu diệt đối phương, nhưng là Sự Thật của lòng thương xót, Sự Thật được lòng thương xót bao bọc, Sự Thật  được lòng thương xót che chở, Sự Thật được bảo kê bởi Thiên Chúa là Tình Yêu xót thương.

Là Vua của Sự Thật về Thiên Chúa giầu lòng thương xót ; Vua của Sự Thật về con người luôn được Thiên Chúa xót thương ; Vua của Sự Thật về một Vương Quốc đời sau gồm những người biết chạnh lòng xót thương và chia sẻ cơm bánh, áo quần, thời giờ, tiền bạc, điều kiện sống, và tình yêu thương, huynh đệ với anh em mình, Đức Giêsu thực là Vua muôn vua, Chúa các chúa, bởi vương quốc Sự Thật của Ngài bao trùm toàn thể địa cầu và thiên quốc, bao trùm cả đời này, đời sau, và tất cả mọi người bất phân sắc tộc, trình độ, hoàn cảnh, mọi nơi, mọi thời đều được kêu gọi lắng nghe tiếng nói Sự Thật của Ngài, được mời gọi quây quần chung quanh Ngài, đứng bên Ngài là Vua với duy nhất một điều kiện, một đòi hỏi là tin và sống lòng thương xót như Ngài là Thiên Chúa giầu lòng xót thương.

Đó cũng là lý do Đức Giêsu đã không trả lời, khi Philatô gặng hỏi : “Sự thật là gì ?” (Ga 18,38), bởi người ta không thể đón nhận sự thật của lòng thương xót khi tâm hồn đầy gian dối, bất lương, bạo lực ; bởi không cách nào sự thật thương xót có thể được lắng nghe, khi những người Do Thái kia đang cuồng điên kêu gào Philatô dùng bạo lực tàn ác để giết chết Thiên Chúa là Sự Thật ; bởi làm sao sự thật của lòng thương xót có thể  đi vào nhà, cư ngụ trong tâm hồn, khi các thượng tế, lòng đầy gian ác và giả hình, đã từ chối “đội trời chung” với Đấng là Thiên Chúa của Sự Thật xót thương.

Như thế, không phải ai cũng nhận ra Sự Thật, cũng như không phải ai cũng nhận ra Thiên Chúa, vì chỉ có những người có tâm hồn khao khát Sự Thật của lòng thương xót, mới nghe được tiếng Thiên Chúa giầu lòng xót thương ; chỉ những trái tim biết chạnh lòng trước sự thật về con người cần được thương xót, mới nhận ra Đức Giêsu Kitô, Dung Mạo đích thực và hoàn hảo của Chúa Cha giầu lòng thương xót ; chỉ những cuộc đời dấn thân phục vụ vì lòng thương xót, mới nhận được visa vào Vương Quốc Nước Trời dành sẵn từ thuở tạo thiên lập địa cho những ai có lòng xót thương anh em mình.

Xin Đức Giêsu Kitô là Vua giầu lòng thương xót đón nhận chúng con làm công dân Vương Quốc Thương Xót của Ngài ngay ở đời này, và được hưởng phần thưởng đời sau trong Nước yêu thương đời đời dành sẵn cho những ai biết chạnh lòng xót thương.

 

.

CHÚA GIÊSU KITÔ, VUA VŨ TRỤ

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Hôm nay, Giáo Hội mừng lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ. Từ ngữ này nghe hơi kỳ lạ. Chúa làm vua không theo quan niệm trần gian vì vua có nghĩa là chính trị và cai quản, điều khiển với quân đội, với bộ máy hành chánh, với uy quyền của người đời. Chúa là vua. Nước Ngài không thuộc về thế gian mà là Vương quốc Nước trời. Do đó từ “ vua “ ở đây có một ý nghĩa đa dạng, phong phú.

Mừng lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, chúng ta được mời chiêm ngắm một vị vua mục tử, vị vua vâng lời, vị vua nhân ái. Đức Giêsu Kitô đến trần gian, chấp nhận sự khó nghèo, sinh ra nơi Hang đá Bêlem, lớn lên ở làng quê Nazarét.Ngài hiền lành, khiêm nhượng, cỡi trên mình lừa tiến vào Giêrusalem, chấp nhận cái chết để cứu rỗi nhân loại. Ngài là vị Vua vâng lời, luôn tỏ lòng hiếu thảo Thiên Chúa Cha, vâng theo ý của Người và vâng lời cha mẹ : Đức Trinh nữ Maria và thánh Giuse. Ngài vâng lời cho đến chết bằng hình phạt nhục nhã là bị đóng đinh trên thập giá như thánh Phaolô đã viết : ” …Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến chết, chết trên cây thập tự “ (Philip 2, 8 ).

Là Vua nhưng Chúa Giêsu luôn tỏ lòng nhân hậu chạnh thương hết mọi người, đặc biệt những kẻ yếu hèn, nghèo túng, cô thân cô thế, những con người tội lỗi, thấp cổ bé họng. Chúa Giêsu là Vua nhưng không dùng quyền lực để cai trị dân, mà dựa trên tình yêu thương, lòng nhân từ. Một vị vua không có quân đội, không có nội các, không có phương tiện để chiến đấu, nhưng chỉ dùng sự yêu thương để lãnh đạo dân chúng. Một vị vua không có lãnh thổ, ghi tên trên bản đồ thế giới nhưng vị vua được nhiều người yêu mến, kính trọng, tôn vinh trong trái tim của chính mình.

Đức Giêsu là Vua nhưng Vương quốc của Người không thuộc nơi thế giới, nơi trần gian mà Nước Ngài là Nước Thiên Chúa. Nước của Sự thật, của Hòa bình, của Thứ tha như Chúa Giêsu đã trả lời với Philatô : ” Nước tôi không thuộc thế gian này…” ( Ga 18,36 ). Rồi Ngài nói tiếp :” …Tôi đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật.Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi “ ( Ga 18, 37 ). Đức Giêsu là chính Sự thật. Philatô đứng trước mặt Vua Sự thật nhưng ông đã không hiểu gì ! Nước của Đức Giêsu Kitô là nước của Tình Yêu. Ngài nói và đã thực hiện : ” Khi nào tôi được giương cao khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người đến cùng tôi “ hoặc “ Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống mình “ ( Ga 15, 13 ). Nơi khác Ngài nói : ” Ta đến để phục vụ, chứ không đến để được phục vụ “ ( Mc 10, 45 ). Chúa Giêsu đã cho nhân loại, cho chúng ta một giới răn mới, đưa nó lên tầm cao mới, chiều sâu mới :” Yêu thương ngay cả kẻ thù “. Vâng, chỉ có ai sống yêu thương mới xứng đáng làm công dân Nước Thiên Chúa.

Chúa mời gọi chúng ta nhìn lên Chúa, chiêm ngắm Chúa vì Chúa chính là Vua Yêu Thương như thánh Gioan định nghĩa “ Thiên Chúa là Tình Yêu “. Do đó, mỗi khi chúng ta sống bác ái, yêu thương, mỗi lần chúng ta giúp một người đói ăn, người khát uống, mỗi lần chúng ta cho một người rách rưới ăn mặc, mỗi lần chúng ta thăm viếng một kẻ tù tội, cho khách đỗ nhà…Mỗi lần chúng ta tích cực dùng lời nói làm cho người khác hòa thuận, giúp đỡ một người đang gặp giông bão, thử thách để họ vươn lên, vượt thắng, mỗi lần chúng ta nở một nụ cười với tha nhân là chúng ta đang sống trong Vương quốc của Vua Giêsu, Tình Yêu.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết noi gương bắt chước Chúa, sống yêu thương và yêu như Chúa để khi những người gặp chúng con sẽ nhận ra chúng con là hiện thân của Chúa, Vua Yêu Thương, Khiêm Nhượng và Vâng Phục. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

  1. Đức Giêsu Kitô, Vua Vũ trụ có nghìa gì ?
    2. Tại sao lại gọi Chúa Giêsu là Vua Vâng lời ?
    3. Tại sao lại gọi Chúa Giêsu là Vua Tình Yêu ?
    4. Sự thật theo Chúa Giêsu nói là gì ?
    5. Vua mục tử có nghĩa gì ?

 

.

VUA VŨ TRỤ

Lm. Trần Việt Hùng 

Phi-la-tô hỏi Chúa rằng:

Là Vua Do-thái, vinh thăng thế trần.

Nhân dân, Thượng Tế quần thần,

Toàn dân Do-thái, trao phần xét suy.

Quan hỏi: Ông đã làm gì?

Giê-su đáp lại, cũng tùy quý quan.

Nước tôi không thuộc thế gian,

Chốn này trần thế, lan tràn đấu tranh.

Quyền uy chỗ dứng tranh dành,

Vua quan chiến đấu, xây thành lập công.

Tò mò quan hỏi viển vông,

Ông là Vua hả? Sao không có người.

Thật, quan nói đúng từng lời.

Tôi là Vua Cả, cao vời linh thiêng.

Chứng minh chân lý cao thiên,

Muốn nghe sự thật, Chúa Chiên gọi mời.

Trước mặt Philatô, Chúa Giêsu trả lời: Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng cho chân lý. Ai thuộc về chân lý thì nghe tôi. Chân lý là sự thật. Sự thật có một nhưng được nhìn dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Làm sao chúng ta có thể tìm ra được sự thật chân chính?

Cũng thế, chúng ta thấy có rất nhiều tôn giáo khác nhau. Vậy đâu là tôn giáo thật? Có các tôn giáo như Do Thái giáo, Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo, Hồi giáo, Balamôn, Cao Đài, Chính thống giáo, Tin lành và Công giáo…. Các tôn giáo đều cố gắng đi tìm sự thật, nhưng chỉ có sự thật thì bao la. Chúng ta tin vào Chúa Kitô, Con Thiên Chúa. Chính Chúa Kitô là Đường, là sự Thật và là Sự Sống.

Truyện kể về năm anh mù sờ voi. Người thứ nhất sờ tai voi cho rằng con voi to và dẹp như cái quạt. Người thứ hai rờ vào cái vòi thì nói rằng voi thon và dài như cái vòi nước. Người thứ ba sờ chân voi thì nghĩ rằng voi to như cái cột nhà. Anh thứ tư sờ vào đuôi thì nghĩ rằng voi giống cái chổi. Anh thứ năm sờ bụng con voi và cho rằng voi tròn như cái trống. Họ đã bất đồng ý kiến với nhau. Ai cũng có sự thật, nhưng chỉ có một phần sự thật. Mỗi người đều nghĩ rằng họ biết tất cả sự thật.

Chúng ta học biết về sự thật, nhưng sự thật của chúng ta còn qúa giới hạn. Chúng ta phải đến với Đấng là nguồn của chân lý. Đó là Chúa Kitô. Chúa nói rằng: Ai thuộc về chân lý thì nghe tiếng Tôi. Chúa Kitô đến từ Thiên Chúa Cha. Ngài đến để làm chứng cho sự thật. Phải chăng người ta sợ sự thật. Đúng thế, sự thật không những làm cho người ta mất lòng, mất cả của cải và có khi mất cả mạng sống mình. Thánh Gioan Tẩy Giả, nói sự thật nên đã bị tống giam và bị chặt đầu. Biết bao vị thánh tử đạo đã mất mạng sống, vì dám làm nhân chứng cho sự thật.

Nhiều người muốn sống xa sự thật vì sự thật làm mất lòng. Họ không muốn mất đi những mối lợi cả về phần xác lẫn phần hồn, họ dần rời xa sự thật. Sự gian dối nẩy sinh để che đậy những bất toàn, thiếu xót và dơ bẩn của con người. Người ta tìm tiêu hủy sự thật như thủ tiêu hay phi tang, để sống trong sự an toàn của giả dối.

Chỉ có chân lý sẽ dẫn con người ra khỏi bóng tối của lầm lạc. Ánh sáng của Chúa Kitô sẽ giúp chúng ta vượt ra khỏi những gian trá lọc lừa của thế gian. Về bên Chúa, chúng ta hãy đi tìm sự thật, nói sự thật và sống sự thật. Tấm gương sự thật của chúng ta chính là Đức Kitô. Đức Kitô là Vua các Vua. Ngài là Vua của tình yêu. Ngài thí mạng vì tình yêu trong sự thật.

 

.

NƯỚC CỦA SỰ THẬT

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Tôn vinh Chúa Giêsu là Vua, Giáo hội công bố bài Tin Mừng Gioan: Vua Giêsu đang bị trói, bị điệu đến trước mặt quan Philatô và bị đối xử như một tội phạm. Philatô hỏi:Ông là vua sao? Sao lạ vậy? Vua Hêrôđê còn sống sờ sờ đó mà. Vua gì mà chẳng có quân có tướng hộ vệ? Vua gì mà chẳng có vương miện cẩm bào? Trước mặt Philatô, Chúa Giêsu mang chiếc áo loang lỗ máu đào, tả tơi. Phải chăng Philatô nhận ra Chúa có một tác phong uy quyền cao cả một một vị đế vương. Và trong chiều sâu tâm hồn, Philatô thán phục đánh giá cao vị vua này!

Chúa Giêsu đáp: Chính ngài nói rằng tôi là vua. Rồi Chúa giải thích thêm: Tôi sinh ra và đến thế gian để làm chứng cho sự thật, ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi. “Nước tôi không thuộc về thế gian này”. Như vậy, Chúa xác nhận Ngài là Vua, vì có một nước để Ngài thống trị. Đó là nước của sự thật: Ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng Chúa; đó là nước của tình yêu: “Người ta sẽ căn cứ vào dấu hiệu này để nhận ra anh em là môn đệ của Thầy, là anh em thương mến nhau.” (Ga 13,35); đó là nước của sự sống: “Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi thì có sự sống đời đời” (Ga 5,24).

  1. Nước của Sự Thật.

Nước của Vua Giêsu là nước của sự thật và “ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Nhiều lần Đức Giêsu đã khước từ làm vua theo kiểu trần thế. Nước trần gian do con người thiết lập bằng sức mạnh, thường đem lại sự giàu sang và vinh quang. Đức Giêsu từ chối loại nước huy hoàng do Satan đề nghị: Nếu ông quỳ gối thờ lạy tôi, tôi sẽ cho ông mọi nước làm sản nghiệp. Sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, dân Do thái muốn tôn Đức Giêsu làm vua, nhưng Ngài trốn lên núi. Khi trả lời cho những kẻ gài bẫy: chúng tôi có phải nộp thuế cho Xêza không? Đức Giêsu đáp: của Xêza hãy trả cho Xêza, của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa.

Nước của Vua Giêsu là nước của sự thật thuộc thế giới niềm tin, thế giới tâm linh trong tâm hồn con người. Nước đó hoàn toàn khác biệt với đế quốc của Xêza hay bất cứ đế quốc nào, chủ nghĩa nào. Nuớc của Xêza chỉ cai trị thể xác loài người, còn nước của Đức Giêsu chiếm trọn lòng người.Thế lực của Xêza là quân đội khí giới nhà tù. Sức mạnh nước của Đức Giêsu là niềm tin yêu thương tha thứ. Dù rộng lớn, đế quốc Xêza cũng bị giới hạn, còn nước của Đức Giêsu vô biên, được thiết lập mọi nơi. Các triều đại phong kiến, các thể chế chính trị cũng đã và đang chấm dứt trong dòng thời gian như đế quốc của Xêza, chỉ còn nước sự thật và niềm tin là tồn tại muôn đời.

Chúa Giêsu là vị vua của Sự Thật và sứ mạng của Ngài là làm chứng cho sự thật. Là vua sự thật, Chúa đến thế gian để chỉ cho con người về sự thật và dạy cho con người sống sự thật. Vua Giêsu đã chỉ cho con người thấy Thiên Chúa là chân lý và là sự thật. Vua Giêsu còn chỉ cho con người thấy bộ mặt thật gian dối của thế gian, sự xảo trá của ma quỷ và thế lực của bóng tối. Nó đang tìm cách tách con người ra khỏi sự thật và gieo sự gian dối vào trong tâm hồn con người.

Kitô hữu là thần dân của nước sự thật nên dám nói lên sự thật, dám can đảm sống theo sự thật, dám chết cho sự thật.

  1. Nước của Tình Yêu

Chúa Giêsu là Vua Tình Yêu. Chính tình yêu là sức mạnh của nước Ngài thiết lập. Đức Kitô là vua, nhưng lại rất khác với các vua trần thế ở chỗ : để cai trị, các vua thế gian dùng quyền lực, còn Ngài dùng tình thương. Ngài yêu thương mọi người, mọi con dân của Ngài như người mục tử tốt lành yêu thương chăn dắt đoàn chiên, biết rõ từng con chiên một, và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì lợi ích của chiên (Ga 10,11-16). Luật pháp trong nước của Ngài là sống trong Tình Yêu. Một Tình Yêu trọn vẹn trong chiều dọc, đối với Đấng dựng nên mình là Thiên Chúa. Một Tình Yêu chan hòa trong chiều ngang đối với đồng loại của mình.

“Khi một mình đối diện với những ghen ghét thù hận của đám đông, Đức Giêsu muốn dạy ta biết Thiên Chúa là tình yêu. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa trên trần gian. Vì yêu thương mà Ngài đã xuống trần gian. Ngài đã yêu thương cho đến chết vì yêu. Đó là tình yêu lớn lao nhất như lời Ngài nói: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu”. Dù những thù hận vây bọc, nhưng Đức Giêsu vẫn yêu thương. Hôm nay đơn thân độc mã trong vòng vây của hận thù, Đức Giêsu vẫn xưng vương để cho ta thấy: tình yêu thương đã chiến thắng. Hận thù đem lại chết chóc, chỉ có tình yêu thương mới cứu được thế giới. Đức Giêsu đã chiến thắng. Ngài là Đấng đầu tiên từ trong kẻ chết sống lại. Với chiến thắng, Đức Giêsu mở cửa nước của Ngài. Đó là nước của Sự Thật. Chỉ những ai thuộc về sự thật mới được vào. Và những ai thuộc về sự thật phải biết chiến thắng sự giả trá. Sự giả trá đó là sự chết, đó là những vinh hoa phú quý trần gian và đó là lòng thù hận ghen ghét. Hiểu biết sự thật, đập tan sự dối trá, ta mới tiến vào Nước Sự Sống theo bước Đức Giêsu Kitô. Với chiến thắng Ngài thật sự là Đường dẫn đến Sự Thật và Sự Sống muôn đời”. (ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt).

Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17). Vua Giêsu đã thi hành vương quyền bằng cách yêu thương loài người đến nỗi sẵn sàng chết cho loài người ngay chính lúc loài người từ chối Ngài, chế giễu Ngài, thậm chí thách thức Ngài.

Tình yêu chi phối mọi sinh hoạt cuộc đời. Con người đau khổ vì không có tình yêu. Chúa là tình yêu. Chỉ những ai biết tìm đến với Ngài, được Ngài thông truyền cho tình yêu, họ mới biết mở mắt để nhận ra được mọi người anh em, như thế mới có thể yêu thương. Bản tính của tình yêu là cho đi điều tốt lành. Ai sống yêu thương thì thuộc về Chúa, là thần dân của Ngài. Nước của Chúa Kitô Vua là nước của tình yêu. Muốn vào nước ấy, phải là người có lòng yêu mến Chúa và yêu thương anh em thật sự.

  1. Nước của Sự Sống

“Ta là sự sống và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ “(Ga 11, 25-26). Thật là đại tin mừng : “Nơi Ngài là sự Sống, và sự Sống là sự Sáng cho nhân loại. Và sự sáng rạng trong tối tăm, và tối tăm đã không tiêu diệt được sự sáng” ( Ga 1,4-5).

Chúa Giêsu là sự sống lại và là sự sống nên nước của Ngài không còn bóng dáng cái chết. Khi còn ngày rộng tháng dài, Đức Giêsu không xưng vương. Nay cận kề cái chết Ngài mới xưng vương để dạy cho ta biết nước của Ngài “không thuộc thế gian này”. Sự sống trần gian này chẳng đáng giá gì so với sự sống trong Nước Chúa. Vì thế muốn vào được vương quốc của Chúa, phải biết từ bỏ tất cả, kể cả mạng sống nữa.

Chúng ta lãnh nhận sự sống từ Thiên Chúa, chỉ mình Thiên Chúa mới có thể trao ban sự sống ấy. Chúa Cha đã trao cho Chúa Con quyền này, và đặt vào tay Chúa Con, nên Chúa Con là Vua Sự Sống.

Con người tiếp nhận sự sống từ chính nguồn sống là Thiên Chúa như trái đất nhận lãnh ánh sáng từ mặt trời.Thiếu ánh sáng mặt trời thì không có sự sống trên trái đất. Cũng thế, không có Thiên Chúa thì không thể có sự sống.Thiên Chúa thông ban sự sống cho con người vì Thiên Chúa yêu thương con người.Thiên Chúa yêu thương mọi người ngay cả những ai chối bỏ và thù ghét Ngài.Con người là hình ảnh cao quý của Thiên Chúa.Thánh thiện hay tội lỗi, giàu sang hay nghèo hèn, bạn hữu hay thù địch, mỗi con người đều là hình ảnh Thiên Chúa. Chỉ xuyên qua niềm tin và tình thương con người mới đến được với Thiên Chúa. Sống cho hạnh phúc của tha nhân, đó là sự thật mà mỗi thần dân sống trong nước Vua Giêsu được mời gọi thể hiện mỗi ngày.

Nhưng ai thuộc về sự thật thì nghe Đức Kitô và ai thuộc về Đức Kitô thì hãy để Người sống và lớn lên trong cuộc đời mình và chấp nhận để Người biến đổi toàn diện. Đồng thời, chính mình cũng cần nổ lực “làm chứng” sao cho niềm tin luôn luôn vươn lên, mà cũng không quên nhiệt tình tông đồ là làm cho những người lân cận nhận biết và tin yêu Chúa Kitô nữa.

Ở Bãi Sau Vũng Tàu, có một tượng Chúa Kitô Vua thật lớn dựng trên triền núi quay mặt ra biển, đôi tay giang rộng như ôm lấy cả trùng dương. Ngư dân quanh đó kể lại rằng những khi ra khơi, họ vẫn căn cứ vào đó để mà định hướng đi về, và nhiều lần sóng gió họ cũng hướng về đó để mà cầu nguyện xin ơn bình an.

Giữa trùng dương cuộc sống, Kitô hữu biết rằng Chúa Kitô vẫn luôn hiện diện như một chuẩn đích để định hướng tin yêu hy vọng. Xin Người cũng làm Vua quy tụ mọi sự trong Nước vĩnh cửu của Người.

Mừng lễ Chúa Giêsu – Vua Vũ Trụ – Vua Sự Thật -Vua Tình Yêu – Vua Sự Sống, chúng ta hãy để cho Vua Giêsu chiếm trọn tất cả con người mình, từ tư tưởng lời nói cho đến việc làm. Chúng ta không còn thuộc về thế giới của bóng tối và tội lỗi. Chúng ta thuộc về vương quyền của Vua Giêsu là vương quyền của sự sống và sự thật, vương quyền của niềm tin và ân sủng, vương quyền của sự thánh thiện công lý và tình yêu hoà bình (Kinh Tiền Tụng).

Giêsu, lạy Chúa từ nhân,

Tâu Vua vinh hiển, thần dân kính mừng!

Duy Ngài là lẽ cậy trông,

Là trung tâm điểm của dòng thời gian.

Quyền uy thống trị vũ hoàn,

Chúng con tình nguyện làm dân con Ngài.

(Thánh Thi Kinh sáng lễ Chúa Kitô vua).

 

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 34 THƯỜNG NIÊN_B

Giuse Đinh Tất Quý

Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng Vụ. Giáo Hội cho chúng ta mừng lễ Chúa Kitô Vua.

  1. Hầu như trong cả cuộc đời của Chúa, ngoài một lần duy nhất Chúa được đối xử như một vị Vua lúc Chúa giáng sinh, khi các nhà đạo sĩ tìm đến bái thờ, còn ngoài ra thì Ngài sống như một người bình thường.

Thế nhưng vào những ngày cuối cùng trên trần thế cuộc sống của Chúa có thật nhiều đổi thay.

a/ Lúc vào Thành Giêrusalem một cách long trọng, Ngài để cho dân chúng tung hô Ngài như một ông Vua.

b/ Rồi trong cuộc đối đầu với Philatô, đại diện cho quyền lực của cả Đế quốc Roma lúc đó, Chúa đã không một chút ngần ngại để xác nhận một sự thật khi Philatô hỏi Chúa: “Ông là Vua sao?” Chúa trả lời một cách dứt khoát, không một chút ngại ngùng: “Quan nói đúng: tôi là Vua”

c/ Chưa hết trong cuộc xét xử Chúa, khi được bà vợ báo tin cho biết Chúa là người vô tội, Philatô đã muốn tìm cách cứu Chúa Giêsu. Ông đã làm cho Chúa ra tiều tuỵ bằng những trận đòn ông cho lính hành hạ Chúa, rồi ông đưa Chúa ra trình diện với người Do thái: “Đây là Vua các ngươi”. Quả thực là Philatô đã muốn cứu Chúa nhưng sự việc lại không diễn ra như ông mong mỏi.

d/ Và cuối cùng như chúng ta đã thấy, khi Chúa bị treo ở trên Thập giá, chính Philatô đã truyền viết và gắn một tấm bảng thật lớn để mọi người có thể nhìn thấy trên đầu cây Thập giá của Chúa. Tấm bảng với dòng chữ rất rõ như thế này: “Giêsu Nagiareth, Vua dân Do thái”

  1. Vâng, quả thực Chúa là Vuanhư Chúa đã xác nhận. Thế lực của trần gian cũng xác nhận, nhưng phải hiểu nội dung lời tuyên bố của Chúa và lời tuyên xưng của trần thế như thế nào? Rõ ràng là Chúa là Vua nhưng cuộc sống của Chúa và cách cai trị của Chúa chẳng giống với bất cứ một ông Vua nào trên trần thế này cả.

a- Nói đến Vua, người ta thường liên tưởng đến một người có uy quyền. Uy quyền đó thường do hai cách: hoặc là tự mình cướp được hay là do người khác ủy cho. Thí dụ như các vua Do thái vào thời của Chúa Giêsu đều là những người đã được các Vua Roma phong cho.

Với Chúa Giêsu thì không như thế. Trước khi về trời Chúa đã long trọng tuyên bố với các môn đệ của Ngài: “Mọi quyền trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy” (Mt 28,18). Đây là uy quyền tuyệt đối dù cửa hỏa ngục cũng không thắng được.

b- Tiếp theo khi nói đến Vua thì người ta thường liên tưởng đến một lãnh thổ nơi mà Vua cai trị. Lãnh thổ của một ông vua trên trần thế thường là một không gian có biên giới, có bờ cõi, trong đó thần dân của vua sinh sống.

Đối với Chúa thì không như thế. Chúa nói thẳng với Philatô“Nước tôi không thuộc về thế gian này” Chúa không muốn uy quyền của Chúa bị đóng khung trong một thứ không gian nhỏ bé ở trên đất này. Vương quốc của Ngài là vương quốc của sự thật, của sự sống, của sự thánh thiện, của công chính, yêu thương và an bìnhVương quốc đó vượt xa mọi thứ vương quốc chóng tàn và mau qua ở dưới trần gian

c- Khi nghĩ đến một ông vua thường chúng ta cũng còn liên tưởng đến đường lối mà vua thường dùng dể cai trị cũng như những phương thức ông dùng để chinh phục và mở mang bờ cõi cho vương quốc của ông.

Còn Chúa Giêsu thì không như thế. Ngài không đến để thống trị, nhưng để phục vụ. Chúa nói với  các môn đệ của Ngài: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em. Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ” (Mt 20,26-27). Chính Ngài cũng đã làm như thế: “Con người đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người “(Mt 20,28). Vào những giờ phút chót trong cuộc đời trần thế của Người, Người đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Và Chúa khuyên các môn đệ cũng hãy bắt chước mà làm như thế (Ga 13,12-18)

d – Cuối cùng khi nói đến những ông vua, chúng ta còn hay liên tưởng đến một cuộc sống giầu có và sang trọng của họ. Họ thường sống cách ly với mọi người nhất là những người nghèo khổ. Rất ít khi có một vị vua biết sống gần gũi với dân. Trong một cuộc nói truyện với dân, Chúa Giêsu đã đưa ra một nhận xét rất hay. Chúa bảo: “Những kẻ áo quần lộng lẫy, đời sống xa hoa thì ở trong cung điện” (Lc 7,25). Ở trong cung điện, sang trọng và kín cửa cao tường.

Còn Chúa thì không như thế. Ngài đã từng tuyên bố: “Con chim có tổ, con chồn có hang nhưng con người không có chỗ tựa đầu”. Cả cuộc đời công khai hầu như chỉ là cuộc sống ở ngoài đường. Người ở giữa dân của Người. Không nhà cao cửa rộng. Không lụa là gấm vóc, không cao lương mỹ vị. Người bước những bước đi với dân của Người. Người chia sẻ với dân từng miếng cơm manh áo. Bệnh tật Người chữa cho lành. Què quặt Người làm cho đứng dậy mà đi. Mù loà Người cho được nhìn thấy. Sa đọa Người vực dậy. Tội lỗi Người tìm cách để được trở về đường ngay nẻo chính. Cây lau bị dập Người không nỡ bẻ gẫy. Tim dèn còn khói người không nỡ dập tắt đi. Người làm tất cả những điều đó chỉ vì lòng yêu thương. Người yêu thương dân như yêu thương chính mình. Chẳng có một ông Vua nào trên trần thế này làm được như thế.

  1. Bây giờ đến lượt chúng ta kính thưa anh chị em. Chúng ta phải làm gì để xứng đáng với danh nghĩa là thần dân của Vua Giêsu.

Trong một cuộc thi hùng biện hồi còn là một học sinh, Lý quang Diệu người đã làm nên những “phép lạ” biến hòn đảo Singapore trở thành một trong những con rồng ở Châu Á, đã nói với các bạn của ông bằng những lời như thế này: “Thưa các bạn, cha mẹ cho chúng ta cuộc sống nhưng chúng ta sống vì mục đích gì?. Câu hỏi đó không phải là dễ đối với nhiều người. Có người trả lời: tôi sống vì tiền của và mong trở thành một thương gia cự phách. Có người vì địa vị quyền uy mà phấn đấu. Mục tiêu cuối cùng của tôi là đại quan. Có người nỗ lực cho những gì mình ưa thích để sau này sẽ là nhà khoa học, nhà văn, nhà giáo, kỹ sư, bác sĩ v.v.. Tôi không hề hoài nghi là sự lựa chọn của họ có điều gì không thỏa đáng nhưng tôi nghĩ rằng trong lúc bươn chải cho những hoài bão lớn lao đó, họ đã thiếu vắng một linh hồn cao thượng đó là CHÂN LÝ.

Sau đó ông nại tới Tân Ước dể giúp cho nhưng người nghe biết giá trị chân lý là gì. Ông nói tiếp: “Bạn hãy mở lại chương thứ 18 Phúc Âm thánh Gioan của Kinh Thánh Tân Ước mà xem” Trong chương này Chúa Giêsu Chúa của chúng ta đã nói về chân lý nhưng những người trong cuộc hầu như chẳng ai hiểu được chân lý là gì kể cả con người có quyền uy vào hạng tuyệt dối trên đất nước Do thái lúc đó tức là Philatô, đại diện cho uy quyền của cả một đế quốc rộng lớn bao la. Muốn hiểu được chân lý con người phải có một cái tâm trong sáng, phải có một cái nhìn không bị vẩn đục bởi những giá trị phàm trần.

Rồi ông dõng dạc nhấn mạnh từng tiếng để kết thức bài diễn thuyết của ông. Ông nói:Dũng cảm đi tim chân lý là thiên chức của con người. Người bạn vĩ đại nhất của chân lý là thời gian. Kẻ thù ác độc nhất của chân lý là thiên kiến và khiêm tốn chính là người tình vĩnh hằng nhất của nó. Các bạn đồng học thân mến! Hãy sống vì chân lý. Trên đường đời muôn dặm hãy luôn tìm đến chân lý, nghiên cứu chân lý và cống hiến cho chân lý”

Những lời này tự nhiên làm cho tôi liên tưởng đến những lời của Chúa Giêsu: “Chân lý sẽ giải phóng anh em” “Ai thuộc về chân lý thì nghe tiếng của tôi”

“Trên đường đời muôn dặm hãy luôn tìm đến chân lý, nghiên cứu chân lý và cống hiến cho chân lý. Hãy sống vì chân lý.”

Và tôi lại nhớ tới một lời dạy khác của Chúa Giêsu. Chúa nói với các môn đệ: “Thầy là đường, là chân lý và là sự sống” Và tôi muốn thay đổi một chút lời kết thúc bài diễn văn của Ông Lý quang Diệu

“Trên đường đời muôn dặm hãy luôn đi tìm Chúa Giêsu, nghiên cứu những lời dạy của Người và cống hiến cuộc đời làm nhân chứng cho Người. Hãy sống cho Chúa Giêsu và vì Chúa Giêsu” Làm được như thế chúng ta sẽ xứng đáng là thần dân của Người .Amen.

 

.

VUA KHIÊM NHƯỜNG VÀ PHỤC VỤ

Lm. Phêrô Lê văn Chính

Vào cuối năm Phụng vụ, Giáo hội long trọng mừng lễ Chúa Giêsu Vua vũ trụ. Chúng ta được mời gọi chiêm ngắm vương quyền của vị Vua vũ trụ, được biểu lộ hàm ẩn nơi khuôn mặt Đức Giêsu Nazarét chịu xét xử trước mặt tòa án Philatô và đóng đinh vào thập giá, nhưng rồi sẽ được biểu lộ cách quyết định sau này trong vinh quang vĩnh cửu vào cuối thời gian của lịch sử nhân loại và vào lúc kết thúc mọi vương quốc trần gian.

Bài đọc thứ nhất trích từ sách Đaniel chương 7, nói về một giấc mơ của tiên tri Đaniel. Ông được nhìn thấy một Con người đến trong đám mây trước vị Bô Lão và lãnh nhận từ vị Bô lão này quyền năng và vương quyền trên mọi dân tộc và ngôn ngữ. Từ mà tiên tri dùng là “Con người” cũng sẽ là từ mà Chúa Giêsu sẽ dùng nhiều lần để ám chỉ chính người, tức là Con Thiên Chúa vĩnh cửu, nhưng được sinh hạ như một con người ở trần gian để rao giảng Tin mừng Nước Thiên Chúa cho mọi người. Từ này xuất hiện lần đầu tiên trong sách tiên tri Đaniel, và “Con người” mầu nhiệm này được mô tả là đến trong đám mây trên trời. Người vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Người là Con Thiên Chúa nên đến trong mây trời và được ban cho mọi quyền năng vinh dự và vương quốc đến muôn ngàn đời và vương quốc của người sẽ không bao giờ qua đi.

Vương quyền của Chúa Giêsu đã là điều mà các tác giả Tin mừng cũng như thánh Phaolô đã nói tới và cố gắng để chứng minh. Vương quyền của Người cũng đồng thời là vương quyền của Đấng cứu thế, bởi vì những người do thái vốn tin vào lời loan báo của các tiên tri là Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện từ dòng dõi vua Đavít một Đấng cứu thế sẽ giải thoát và cứu độ họ, và Người sẽ là Vua trên các vua. Giờ đây, với việc Chúa Giêsu Nazarét hiện diện, những người do thái không thể đón nhận người như là Đấng cứu thế và là vua của họ, bởi vì Đức Giêsu không hành xử như một nhà vua hay đấng cứu độ trần gian lãnh đạo dân tộc họ để chiến đấu chống quân thù hoặc xâm chiếm các nước hay để xây dựng một vương quốc trần gian hùng mạnh.

Sách Khải huyền mô tả thời cuối cùng của lịch sử khi Đức Giêsu, con người lại đến trong vinh quang, lúc mà các vương quốc trần gian kết thúc. Sách Khải huyền vang vọng lại thị kiến của tiên tri Đaniel, với hình ảnh Chúa Kitô đến trong đám mây. Người là Đấng đã tạo dựng mọi sự bởi Lời quyền năng của người, giờ đây người cũng sẽ kết thúc mọi sự bởi vì Người là nguyên thủy và cùng đích mọi sự. Nhưng sự kết thúc lịch sử nhân loại cũng là lúc biểu lộ Vương quyền của người, khi mà người sẽ ban tặng sự sống vĩnh cửu cho những kẻ thuộc về người mà người đã đổ máu cứu độ và tẩy sạch mọi tội lỗi của họ. Bài Tin mừng theo thánh Gioan sẽ tường thuật cụ thể việc Đức Giêsu bị xét xử trước tòa án của Philatô, một hình ảnh tượng trưng tiêu biểu của quyền lực trần gian đối diện với Nước Thiên Chúa và vị vua trời vĩnh cửu. Đức Giêsu bị tố cáo là đã xưng mình là vua và Philatô chất vấn xem người có xác nhận những gì mà người do thái tố cáo chăng. Chúa Giêsu đã trả lời cho Philatô và giải thích cho ông về Nước của người, một nước không thuộc về trần gian và không giống như những nước trần gian. Đồng thời Chúa Giêsu còn khẳng định cho Phaolô rằng bất cứ ai nghe lời của người và đón nhận chân lý của người thì thuộc về nước của người: “Quan nói đúng. Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi”. Quả thực, cuộc đối thoại này cho thấy hai thế giới thực là khác biệt. Thế giới của Philatô và của các thượng tế do thái là thế giới của quyền lực, gian dối, trong khi đó thế giới của Chúa Giêsu là thế giới của chân lý, của tình yêu và sự sống. Quả thực, Đức Giêsu là Vua, nhưng là vua của một vương quốc sự thật, không giống như những vương quốc trần gian, và những gì mà Người muốn ban tặng là vương quốc sự thật này để cho mọi người được chia sẻ hạnh phúc và sự sống của người. Một cách cụ thể, Philatô thực là ngạc nhiên, vì trước mặt ông một người bị bắt, bị tra tấn, không có sức mạnh nào để nương tựa và tự vệ lại có thể làm vua được sao. Ông còn ngạc nhiên hơn nữa khi nghe nói đến vương quốc chân lý, một điều mà Philatô khó có thể tưởng tượng, bởi vì một con người không có gì để tự bảo vệ mạng sống mình trong lúc này khi mà những người khác tố cáo mình bằng bạo lực thì những lời nói của ông phải chăng là hoang tưởng. Philatô thực là bối rối và không muốn bị ràng buộc vào một vụ án mà ông không muốn chịu trách nhiệm.

Nước của Chúa Giêsu không định vị ở một nơi nào trong thế gian, nhưng lại là một vương quốc chân thật và vững bền hơn hết và dành cho những ai đã bắt đầu tin vào Người, đón nhận Lời của người và thực hành những chân lý Tin mừng mà người rao giảng. Vào cuối năm Phụng vụ, Giáo hội nhắc nhở cho chúng ta thời gian thuộc về Chúa, và thời gian có ý nghĩa vì đó là thời gian được ban tặng cho chúng ta để với hành trình của cuộc đời qua mọi năm tháng, chúng ta càng ngày càng được biến đổi nhiều hơn nhờ ân sủng của Chúa Giêsu ban tặng. Các bài đọc đều mời gọi chúng ta đón nhận vương quyền của Chúa Giêsu để thuộc về vương quốc của người. Bài đọc sách Khải huyền khẳng định tất cả mọi người là những kẻ tin vào Chúa Giêsu thì đều được thuộc về Người và vương quốc của người bởi vì Người yêu thương chúng ta và dùng máu người mà rửa sạch chúng ta khỏi mọi tội lỗi và làm cho chúng ta trở nên vương quốc và tư tế của Thiên Chúa, Cha của người. Và lời khẳng định của Chúa Giêsu trước tòa án Phaolô còn mời gọi hơn nữa tất cả mọi người không trừ ai, để được mời gọi đó nhận vương quyền của người: “Ai thuộc về chân lý thì nghe tiếng tôi”. Chúng ta được mời gọi, qua mọi thăng trầm và vui buồn của cuộc đời, khi đau khổ hoặc thất bại, luôn tin tưởng vào vương quyền của Chúa Giêsu, và cùng với người chúng ta chiến thắng tội lỗi và sự chết bằng đời sống mới đầy tràn quyền năng Thánh Thần của người.

 

.

ĐỨC GIÊSU LÀ VUA Ư?

Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

“Chính vì lẽ này mà tôi đã đến trong thế gian: ấy là để làm chứng cho chân lý. Phàm ai thuộc về chân lý thì nghe được tiếng tôi” (Ga 18:37).

Không ít người khi mới tìm hiểu về Kitô giáo, hoặc có dịp đọc qua một vài trang sách Phúc Âm, đã vội đưa ra vài nhận xét về Đức Giêsu như sau: Ngài không phải là một chính trị gia xuất chúng và cũng chẳng phải là một thương gia đại tài. Bởi vì những lời Ngài nói, những điều Ngài hứa hẹn không giống với các chính khách hay các nhà buôn thời nay tí nào. Thay vì lôi kéo quần chúng bằng những lời mời gọi hấp dẫn, có tính chất quyến rũ thị hiếu của người ta, để họ sẵn sàng đi theo ủng hộ, thì Đức Giêsu lại nói, “Ai muốn theo Ta, hãy chối bỏ chính mình, hãy vác thập giá mình mà theo” (Mt 16:24). Đã vậy rồi khi có người đi theo, Ngài lại phán thêm những câu mà mới nghe qua đã muốn bất mãn. Chẳng hạn như, “Ai không từ bỏ cha mẹ, anh em, vợ con và ngay cả mạng sống mình thì không xứng đáng làm môn đệ của Ta” (Lc 14:26); hoặc “Ta không đến để đem bình an, nhưng là gươm giáo” (Mt 10:34).

Thật là khác lạ! Thay vì hứa hẹn một cuộc sống sung túc nhẹ nhàng thoải mái, êm ấm bình an, thay vì cứ hoá bánh ra thật nhiều và hoá thường xuyên để nuôi dân chúng, và như thế thì làm gì mà họ chẳng theo, thậm chí còn ủng hộ, bỏ phiếu bầu mình làm thủ lãnh, chứ đàng này Ngài lại dạy phải chịu đau khổ, phải từ bỏ chính mình, phải nhân nhượng kẻ thù, hay nói cách khác là phải chịu mất mát thiệt thòi. Thế thì làm sao mà lôi kéo dân chúng được!

Khi suy luận như thế, tất nhiên sẽ có không ít người tin tưởng mình sẽ nắm chắc phần thắng khi đánh cuộc nếu Đức Giêsu mà ra tranh cử, dù thời xưa hay thời nay, thế nào cũng bị loại ngay từ vòng đầu thôi. Nhất là khi họ thấy thân xác của Ngài bị đóng đinh thê thảm trên thập giá, kết thúc cuộc đời không một chút oai phong vinh quang, thì chẳng mấy ai dám khẳng định Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai, là Vua dân Do thái, hay là Chúa của muôn dân. Có chăng chỉ là một sự nhạo báng!

Ấy thế mà kẻ bị đóng đinh ô nhục trên thập giá giữa những tên trộm cướp, người đã từng bị nhạo báng là vua, là Mêsia, lại thật sự là Đức Kitô, Vua của muôn muôn tỉ tâm hồn.

Sẽ có người ngạc nhiên nêu vấn đề: Tại sao nghịch lý thế? Do đâu mà một tử tội lại được người ta bước theo đông đảo như vậy? Phải chăng vì người đó chính là chân lý-phải chăng vì người đó đã đến để giải thoát nhân loại bằng chân lý, và nay lại dám hiến mình chịu chết cho chân lý?

Nhưng “chân lý là gì”? Câu hỏi không cần câu trả lời của Philatô lại là đề tài suy tư của nhiều thế hệ. Chân lý đó chính là Thiên Chúa yêu thương con người. Bất cứ ai tin nhận chân lý này sẽ tìm thấy cho mình một sức sống phong phú, một niềm vui linh thiêng tràn đầy, nhất là sẽ múc được hồng ân cứu thoát, dù rằng người đó có đang quằn quại trong nỗi đau của thân xác như người trộm lành bị đóng đinh bên cạnh Chúa Giêsu.

Trong nỗi đau đớn tột cùng trước những hình khổ do quân Roma bày ra, anh trộm lành đã nhận chân con người của Đức Giêsu. Anh Đã bênh vực cho Ngài khi lên tiếng: “Ông này đâu có làm điều gì sai trái” (Lc 23:41). Nói cách khác, anh đã thừa nhận Đức Giêsu đã làm điều đúng. Ngài chỉ làm theo sự thật, đã sống cho chân lý yêu thương con người, và nay ngài chết cũng vì chân lý yêu thương đó.

Từ chỗ tin nhận và bênh vực sự vô tội của Đức Kitô, anh trộm lành đã khám phá ra vương quyền và thiên tính của Ngài. Kết quả, anh đã lên tiếng khẩn cầu: “Khi nào về Nước, xin Ngài nhớ đến tôi” (Lc 23:42).

Lạ quá! Làm sao trước một thân xác rã rời với đinh sắt, máu me thế kia mà anh ta có thể cất lên được lời kêu nài như thế là lời thỉnh cầu trước một quốc vương? Làm sao trước hình hài của một kẻ đang chịu đau khổ chẳng thua kém gì anh ta thế kia mà anh lại đem lòng thần phục như đối với một vị vua uy quyền như vậy? Câu trả lời sẽ là: Chân Lý đã gặp gỡ anh và anh đã tin nhận Chân Lý. Đức Kitô gặp anh và anh đã tin phục Ngài. Chính sự tin phục cùng tin nhận này mà ơn cứu độ, phần thưởng của sự sống linh thiêng được trao ban cho anh ngay trong ngày đó.

Đã có rất nhiều người gặp Đức Giêsu, nhưng không phải tất cả đều nhận ra Ngài là Chân Lý, là Vua của tâm hồn, là Chúa của yêu thương. Philatô đã gặp Đức Giêsu đấy chứ, nhưng lòng ham mê quyền hành đã che khuất chân lý; những người luật sĩ biệt phái đã thấy Đức Giêsu đấy chứ, nhưng những ghen tương đố kị, những mưu cầu ảnh hưởng cá nhân đã làm lu mờ khuôn mặt của chân lý; rất nhiều người trong đám đông dân chúng Do thái về dự lễ Vượt qua ngày xưa đã thấy Đức Giêsu đấy chứ, nhưng chỉ vì thích hùa theo tính bạo động của đám đông, bất chấp chuyện đúng sai, bất chấp kẻ vô tội là Giêsu hay là Baraba. Thế nên, cuối cùng Chân Lý đã bị họ đóng đinh.

Trong tuần cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo hội muốn đặc biệt nhắc nhở với mọi người tín hữu về gương mặt của Chúa Giêsu Vua, gương mặt của chân lý yêu thương con người-chân lý duy nhất mang lại hạnh phúc và niềm vui tâm hồn. Thử hỏi chân lý yêu thương đó có ngự trị tâm hồn của tôi chưa? Tôi đã dám bước trên những gì là quyền hành, dù đó là quyền hành của một người cha, người chồng, hay người chủ, tôi có dám vượt thoát những gì là ghen tương đố kị, lợi ích riêng tư, tôi có can đảm chế ngự những bạo động của dục tình hay nóng giận để làm cho hình ảnh của chân lý yêu thương là Vua Giêsu được bừng sáng hơn trong gia đình và cộng đoàn tôi không?

Xét lại chính mình nhân ngày cuối năm phụng vụ để xác định thái độ tin phục và suy tôn cần có đối với Vua Giêsu, hầu sự bình an và niềm hạnh phúc thiên đàng mà Ngài đã tặng ban cho người trộm lành xưa, cũng chiếm ngự tâm hồn, gia đình, và cộng đoàn chúng ta.

 

.

ĐỨC KITÔ LÀM VUA ĐỜI TÔI

Lm. Nguyễn Hữu Thy

Hôm nay cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta mừng lễ Đức Kitô-Vua. Người là Đấng thống trị duy nhất toàn thể vũ trụ và thống trị đời chúng ta!

Nhưng mừng lễ Đức Kitô làm vua cuộc đời chúng ta có nghĩa là chúng ta tin nhận rằng chúng ta hết lòng khâm phục Người và để Người làm chủ trên chúng ta, trên trọn cuộc sống của chúng ta.

Tuy nhiên, trong thực tế ai làm chủ đời tôi, đời chúng ta? Chỉ một mình Đức Kitô hay còn vua nào khác nữa? Phải chăng ngoài Đức Kitô là Đấng duy nhất làm chủ trên cuộc sống hằng ngày của chúng ta, chứ không còn vua nào khác nữa?

Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta còn có bao nhiêu vua chúa khác đang chờ đợi tranh dành ngôi vua với Đức Kitô: Nào là “vua thuốc lá”, “vua bia rượu”, “vua cờ bạc”, “vua thể thao”, “vua tivi, vua phim ảnh”, “vua tiền bạc”, v.v… Những ai thiếu khôn ngoan và liều mình để cho các ông vua này cai trị đời họ, thì thật là cả một tai họa khôn lường: Họ hoàn toàn mất hết tự do, trở nên nô lệ cho chúng, để chúng sai khiến, và họ sẽ vâng lời làm bất cứ điều gì chúng muốn, cả đến tư cách, lý trí và tình nghĩa gia đình bạn bè họ cũng sẵn sàng từ bỏ hết, vì để làm thỏa mãn chúng! Đúng vậy, đó là những ông vua độc tài và chỉ muốn nô lệ hóa những kẻ phục tùng chúng. Chúng đòi hỏi các thần dân của chúng những đóng góp rất to lớn về thời giờ và tiền bạc. Chúng hứa mang lại một cuộc sống đầy hoan lạc và vui thú, nhưng rốt cục thường chỉ để lại những cảm giác trống rỗng, chán chường và thất vọng.

Tôi đã từng gặp nhiều người đã dại dột để cho hầu hết những ông vua như thế lừa gạt và rơi vào tròng nô lệ của chúng. Kết cục, những người đó trở nên thân tàn ma dại, và chẳng những hoàn toàn vô dụng cho gia đình và xã hội mà còn là gánh nặng cho mọi người. Họ trở nên những kẻ sống đời tầm gửi trên mồ hôi, nước mắt và công lao của kẻ khác.

Các ông vua trần tục đó thường huyênh hoang và cao ngạo. Chúng chỉ luôn tìm cách nhấn sâu và chôn vùi những kẻ chạy theo chúng xuống tận bùn đen hôi thối của tội ác. Chúng ta thử đưa ra một vài thí dụ: chẳng hạn “vua thể thao”: Thể thao thực ra là một điều lành mạnh, nhưng nếu chúng ta mê man đến nỗi sao nhãng bổn phận đối với gia đình, đối với con cái và đối với Thiên Chúa, thì thể thao không còn là một môn tập luyện lành mạnh nữa, nhưng là một tên độc tài thống trị trên ta và biến ta thành nô lệ cho nó. Hay không ai chống đối việc thưởng thức một chén rượu hoặc một ly bia, nhưng nếu cuộc sống mà hoàn toàn lệ thuộc vào chén rượu hay ly bia, đến nỗi thiếu chúng thì mọi việc đều bị đình trệ, không thể tiến xa hơn được nữa, bấy giờ chén rượu và ly bia không còn là những phương tiện “làm vui lòng người”, mà là những ông vua độc tài biến chúng ta thành nô lệ cho chúng. Những kẻ say mê cờ bạc, rượu chè, v.v… sẽ đốt cháy nhân vị và tư cách của mình.

Làm thế nào để chúng ta có thể bảo vệ được sự tự do và độc lập, nhất là tư cách và nhân phẩm của mình trước những ông vua độc tài đó? Chỉ một cách duy nhất là chúng ta hãy dứt khoát xa tránh chúng. Những ông vua này tuy độc tài và luôn nô lệ hóa con người, nhưng chúng lại không có “khí giới” trong tay để bắt ép được ta làm nô lệ cho chúng. Việc sống cuộc đời tự do và có tư cách, hay làm nô lệ cho chúng là hoàn toàn tùy vào sự quyết định của chúng ta, hoàn toàn tùy vào ý chí của chúng ta.

Khi nói đến đây tôi lại liên tưởng đến một ông vua khác còn khó tính và độc tài hơn cả trong các ông vua vừa kể trên: đó chính là “cái tôi” của chúng ta. Cái khó để tự giải thoát khỏi sự cai trị của ông vua độc tài này là ở chỗ: Nó không điều khiển chúng ta từ bên ngoài vào, nhưng là ngự trị nội tại trong ta, chiếm giữ và lèo lái cả lý trí và ý muốn của ta. Cuối cùng, những lợi lộc mà ông vua “cái tôi” thu vén là cốt cho chúng ta, để phục vụ chính chúng ta. Chính cái khó nhất là ở chỗ đó: Làm thế nào chúng ta có thể khách quan nhận ra cái lệch lạc, cái sai trái của cái tôi – nghĩa là lòng ích kỷ – của chúng ta?

Con đường duy nhất là tìm về phục vụ Đức Giêsu Kitô-Vua, vị vua đích thực của vũ trụ và của đời sống chúng ta. Người đã hy sinh mạng sống vì chúng ta, Người chịu chết để chúng ta được sống. Người là vị vua nhân hậu, chấp nhận thân phận nghèo hèn và vâng lời chịu lụy cho đến chết, chết trên thập giá. Về Đức Kitô-Vua, Tinsley đã viết: “Người đã không bao giờ là Vua và là Đấng Cứu Thế, nếu không chết trên thập giá”. Đức Kitô là vua và nước của Người không thuộc về thế gian này, nhưng lại ở giữa thế gian. Người không hề dùng quyền bính để cai trị, nhưng là để phục vụ. “Phục vụ thay vì cai trị”, bênh vực quyền lợi của kẻ cô thế cô thân, chở che người nghèo đói, trả lại công bằng cho những người đã bị mất quyền sống, v.v… là chương sống và hành động của Kitô-Vua. Người thay thế sự tự hy sinh mình vào chỗ sự tự khẳng định mình. Người không đòi hỏi gì cho mình cả, người chỉ cho đi! Người không tẩy não hay rửa đầu ai hết, Người rửa chân cho mọi người. Những thủ lãnh thế gian bắt thần dân chết thay cho mình, còn Đức Kitô-Vua lại đã chết thay cho thần dân của Người: Đó chính là sự cao cả của Đức Kitô-Vua. Chính những kẻ nhạo báng Người đã nói lên sự thật về Vương Quyền của Người, khi họ mỉa mai: “Nó đã cứu được kẻ khác!” (x. Mt 27,42). Quả vậy, việc cứu giúp kẻ khác: là biểu tượng và là mục đích của Phẩm Hàm Vương Đế và của Vương Quyền Đức Giêsu. Vương Quyền của Đức Giêsu cần đến những con người không chỉ sống và chỉ nghĩ đến chính mình mà thôi, nhưng – cũng như Người – còn biết giúp đỡ và sống cho kẻ khác nữa. Thiên Chúa cần đến tất cả chúng ta!

Ai chấp nhận và tùng phục Vương quyền êm ái dịu hiền của Đức Giêsu, người đó hoàn toàn tự do trước tứ độ tường, trước mọi mê say tội lỗi. Dĩ nhiên, để phục quyền Đức Kitô-Vua, nghĩa là để bước đi trên con đường của Người, con đường của sự từ bỏ bản thân mình và nhờ thế được sống đời tự do, con người cần phải từ bỏ một đôi thứ – không chỉ những thứ xấu và tai hại, nhưng đôi khi cả những thứ tốt nữa – nếu chúng trở nên chướng ngại vật ngăn cản bước đường đó của chúng ta. Chính đó là con đường đưa dẫn chúng ta vào trong Vương Quốc vô biên giới, một con đường không chỉ hứa mang lại một cuộc sống sung mãn, nhưng còn ban tặng cho ta chính cuộc sống đó nữa. Ai phục vụ Đức Kitô-Vua, người đó tìm được ý nghĩa và mục đích chân thật đời mình!

 

.

VUA GIÊSU

Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

Thưa anh chị em,

Giáo hội long trọng mừng lễ Chúa Kitô vua vũ trụ vào Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, như một lời nhắc nhở chúng ta, Chúa Kitô là chủ của thời gian và không gian. Là nguyên thủy và là cùng đích. Ngài là vua muôn vua là Chúa các chúa. Chúng ta dành một vài phút để chiêm ngắm vị vua Giêsu của chúng ta.

Đức Giêsu là vua nghèo khó: Vua chúa trần gian thường được sinh ra trong cung điện giàu sang, còn vua Giêsu sinh trong hang lừa máng cỏ nghèo hèn thiếu thốn mọi tiện nghi.

Vua Chúa trần gian cư ngụ trong những dinh thự sang trọng cao cấp nhất, nhưng vua Giêsu sống trong làng quê Nazarét nào có cái chi hay, Ngài nói: Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có nơi tựa đầu.

Vua Chúa trần gian ngày ngày trong trang phục cẩm bào lộng lẫy, còn vua Giêsu chẳng có tấm áo che thân, chết trần trụi trên cây thập tự giá. Nói tóm lại, cả cuộc đời của vua Giêsu là sống nghèo: nghèo khi sinh ra, nghèo trong cuộc sống và nghèo cả khi chết. Sinh vô gia cư, tử vô địa táng.

Đức Giêsu là vua khiêm nhường: Ngài là Đấng quyền năng, làm được mọi sự, nhưng khi nhập thể làm người, Ngài sống như một người tôi tớ phục vụ. Vua chúa trần gian dùng quyền hành thống trị, có kẻ hầu người hạ, còn vua Giêsu của chúng ta hạ mình đến tột cùng. Ngài nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20, 28).

Vua Giêsu không mời gọi chúng ta học nơi Ngài cách làm phép lạ; học nơi ngài cách chữa bệnh; học nơi Ngài cách giảng dạy, nhưng mời gọi học nơi Ngài một bài học duy nhất đó là: “Hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29).

Chúa Giêsu là vua tình yêu: Tình yêu bao dung và tha thứ. Có thể nói: tha thứ là đặc tính của tình yêu Giêsu. Ngài tha thứ cho Phêrô sau ba lần chối Ngài; tha thứ cho đám lý hình hành hạ Ngài: “Lạy Cha! Xin tha cho họ, vì họ lầm chẳng biết”(Lc 23,34); tha thứ cho người trộm lành. Và tất cả chúng ta đây là đối tượng của lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến,

Nơi tòa án quan Philatô, ông hỏi Đức Giêsu: “Ông có phải là vua không?”. Chúa liền xưng mình: “Tôi là vua, Tôi sinh ra và đến trong thế gian này, là để làm chứng cho sự thật, ai hâm mộ sự thật thì nghe tôi” (Ga,18,37).

Vậy khi chúng ta tôn xưng Đức Giêsu là vua sự thật, thì hãy sống theo Chúa dạy. Điều Chúa dạy nơi điều răn thứ Tám đó là: ” Chớ làm chứng dối, bỏ vạ, cáo gian. Có thì nói có, không thì nói không, đừng thêm điều đặt chuyện là do lòng tà mà ra” (Mt 6,37).

Xã hội ngày nay có nhiều hình thức gian tà, gian dối, gian manh, gian xảo…. làm chúng ta cũng dễ bị ảnh hưởng. Thế nhưng, là những người con của Vua sự thật, chúng ta nên ý thức sống theo sự thật, sự thật trong lời nói, trong tư tưởng và việc làm, dẫu biết rằng thật thà thường thua thiệt. Nói tóm lại, chúng ta cần sống thật với Chúa, với chính mình và với nhau.

Ước gì mỗi người chúng ta luôn biết chọn Chúa làm vua trong cuộc đời của mình. Xin cho chúng ta luôn ý thức rằng: Là con của vua Giêsu, chúng ta được mời gọi sống khiêm tốn trong phục vụ, sống yêu thương và tha thứ. Đồng thời, sống trong chân lý mà vua Giêsu đã làm gương cho chúng ta. Amen.

 

.

LỄ CHÚA GIÊSU KITÔ VUA

Lm Giuse Đinh lập Liễm

A. DẪN NHẬP

Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng kết thúc năm Phụng vụ, Giáo hội mừng lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ. Điều đó nói lên rằng, Đức Giêsu Kitô, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ Chúa Cha trao phó , được Chúa Cha  trao quyền cai trị muôn loài trên trời dưới đất và sẽ kết thúc lịch sử loài người trong vinh quang để mọi sự sẽ được “restaurare in Christo”.

Trong suốt quãng đường đi truyền giáo, Đức Giêsu chỉ đi rao giảng Tin mừng về Nước Thiên Chúa và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền cho người ta. Chưa bao giờ Đức Giêsu dám nhận mình là vua, mặc dầu dân chúng hồ hởi tôn vinh Ngài. Nhưng về cuối đời, trong cuộc thương khó, Ngài đã công khai xác nhận vương quyền của Ngài trước mặt quan Philatô:”Ngài nói đúng, Tôi là vua”(Ga 18,37), nhưng để tránh ngộ nhận, Ngài nói thêm:”Nhưng nước tôi không thuộc thế gian này”(Ga 18,36).

Vậy nếu Đức Giêsu không có lấy một tấc đất để cắm dùi thì nước của Ngài ở đâu ? Thần dân của Ngài là ai ? Vương quyền này được thiết lập và thực hiện bằng những phương tiện nào ?

Nhờ Bí tích rửa tội, chúng ta đã được tham dự vào vương quyền của Đức Kitô, chúng ta có nhiệm vụ phải bảo vệ và làm cho vương quyền của Ngài được mở rộng để tất cả mọi nguời nhận biết Đức Giêsu là vua vũ trụ và hết lòng tin theo Ngài.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

Bài đọc 1 : Đn 7,13-14.

Vào thế kỷ thứ 2, đức tin bị đe dọa trầm trọng. Tác giả Sách Thánh muốn khích lệ các người đồng hương của mình vững chí trong cơn thử thách, thì trong một thị kiến, Đaniel nhìn ngắm bốn Con Thú tượng trưng từ biển nhô lên và cập vào đất liền : chúng biểu thị những vương quốc đã liên tiếp nhau đe dọa Israel. Chính lúc đó xuất hiện một khuôn mặt bí ẩn, được mô tả như một Con Người. Lúc đó Đấng Lão thành (tức Thiên Chúa) cũng hiện ra và trao cho Con Người quyền thống trị tất cả loài nguời và thiết lập một vương quyền vĩnh cửu và phổ quát.

Nhân vật Con Người ấy chính là hình ảnh tiên báo Đấng Messia. Và Đức Giêsu chính là Đấng Messia hoàn thành lời tiên tri ấy.

+  Bài đọc 2 : Kh 1,5-8.

Đoạn sách Khải huyền này cũng mô tả Đức Giêsu là Vua. Ngài đã yêu thương chúng ta, đã lấy máu mình mà rửa sạch mọi tội lỗi của chúng ta. Được phục sinh vì đã làm chứng cho đến chết chương trình của Chúa Cha, Đức Kitô đã trở nên “Thủ lãnh các vương đế trần gian”, nhận đuợc mọi quyền năng để dẫn dắt lịch sử nhân loại. Ngài làm cho chúng ta trở thành vương quốc của Ngài. Vương quốc này chưa hoàn tất. Nhưng  vào thời sau hết, Đức Kitô sẽ hiển trị trong uy quyền, thắng vượt sự dữ và lầm lạc. Ngài là vua hoàn vũ và vĩnh cửu.

Bài Tin mừng : Ga 18,33b-37.

Từ truớc tới nay, Đức Giêsu chỉ đi rao giảng Tin nừng về Nước Thiên Chúa, chữa lành mọi tật nguyền cho người ta. Không bao giờ Ngài tự xưng là vua. Ngài còn trốn tránh khi dân chúng tung hô Ngài là vua. Không bao giờ Ngài làm điều gì tỏ ra cạnh tranh với nhà cầm quyền.

Bị người Do thái tố cáo trước nhà cầm quyền là Ngài muốn làm vua. Philatô hỏi Đức Giêsu:”Vậy ông là vua ư”? Nhân dịp này, Đức Giêsu vừa đáp vừa giải thích cho ông Philatô :

– Ngài là vua thật, đúng như lời ông nói.

– Nước Ngài không thuộc thế gian này.

– Nước Ngài không giống như nước trần gian, không cạnh tranh với quyền lực nào.

– Nước  Ngài là vương quốc sự thật : sự thật về Thiên Chúa, sự thật về con người, sự thật về mọi loài thọ tạo.

– Ngài đến làm chứng cho sự thật. Ai yêu sự thật thì thuộc về vương quốc Ngài.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

I. LỊCH SỬ LỄ CHÚA KITÔ VUA.

Một triết gia đã đưa ra một nhận định rất bi quan :”Homo homini lupus” : con người là lang sói của con ngươiø. Con người đã trở nên một thú dữ hay tấn công, cắn xé và giết chóc. Lịch sử loài người là một chuỗi những cuộc chiến tranh liên tiếp. Hai cuộc thế chiến thứ nhất và thứ hai đã cướp đi sinh mạng của gần 50 triệu người, không kể những người bị thương, mất tài sản và thiệt hại vật chất khôn lường.

Cho nên ngày 12.11.1927, Đức Giáo hoàng Piô XI đã thiết lập lễ Chúa Kitô Vua, mục đích là để cầu cho loài người thôi đừng buông theo thú tính mà cắn xé lẫn nhau, các nước đừng nuôi mộng bá chủ hoàn cầu mà gây chiến với nhau.

Đàng khác, thế giới đang dần rời bỏ Chúa, muốn khai trừ Chúa ra khỏi các tâm hồn, các gia đình, các xã hội, thế giới muốn xây xã hội trên nền tảng thuần túy nhân loại. Trong trường hợp đó, Đức Giáo hoàng muốn công bố những quyền bất khả xâm phạm của  Chúa Kitô : Ngài là vua vũ trụ, vua các thiên thần và loài người.

Ngoài ra, Đức Giáo hoàng cũng nghĩ rằng cần phải phản ứng lại mấy sự lệch lạc trong quan niệm đạo đức tân thời phát sinh ngay trong Công giáo tiến hành ở một số nơi. Người ta đang có khuynh hướng nhìn nơi Đức Giêsu chỉ là người Anh Cả, người bạn và đối xử với Chúa bằng vai,…là bạn đường, bạn làm việc… Lễ Chúa Kitô Vua nhắc cho người ta rằng : Đức Giêsu còn là Đấng Toàn Năng, Đấng vô cùng vô biên, Vua các vua. Ngài còn là Đấng Hữu, ta có là nhờ Ngài, và bổn phận chính yếu nhất là Thờ Lạy Ngài (Trần văn Khả).

II. ĐỨC GIÊSU LÀ VUA.

  1. Đức Giêsu khẳng định.

Trước toà án, Philatô hỏi Đức Giêsu :”Ôâng có phải là vua dân Do thái không”? Đức Giêsu có thể trả lời là  hay không, tùy theo ý của người hỏi.

Nếu người Do thái hỏi Ngài câu ấy, thì câu ấy có nghĩa là : ông có phải là Đấng Messia không ? Nhưng khi Philatô hỏi thì câu ấy có ý nghĩa là : ông có phải là kẻ cầm đầu xúi giục dân Do thái phản loạn không ? Theo não trạng của người Do thái, thì Đấng Messia , vị cứu tinh của dân tộc ắt phải là một thủ lãnh của đoàn quân nổi loạn chống lại Rôma để giải phóng dân Do thái khỏi ách thống trị của đế quốc. Nếu Ngài là người nổi loạn chống lại Rôma, thì dân Do thái sẽ theo Ngài. Nhưng họ thấy Ngài không phải là người nổi loạn như ý muốn của họ, mà lại có những ý tưởng lạ đời đi ngược lại tư tưởng truyền thống của chính tôn giáo của họ, nên họ muốn tiêu diệt Ngài. Để làm điều ấy, họ chụp mũ Ngài là người phản loạn, chống lại Rôma.

Nhưng Philatô nhận ra ngay là : nếu Đức Giêsu là kẻ đứng về phía người Do thái để chống lại Rôma, thì họ đã chẳng nộp Ngài cho ông. Vì thế, câu ông hỏi Đức Giêsu chỉ hỏi cho có lệ, chứ ông đã biết Ngài vô tội, và chỉ vì ghen ghét mà dân chúng nộp Ngài cho ông. Nhưng cũng chính nhờ ông ta  hỏi điều ấy mà chúng ta được mạc khải một chân lý quan trọng : Đức Giêsu chính là Vua như Ngài đã xác nhận :”Tôi được sinh ra là để làm vua”.

Tuy Đức Giêsu xác định Ngài là vua, nhưng với tước hiệu là vua mà Philatô đang muốn điều tra, ít nhất có ba cách làm “Vua”:

a) Vua theo nghĩa chính trị, theo kiểu Rôma : người ta thống trị kẻ khác bằng nô lệ hoá họ :”Một ngàn năm đô hộ giặc Tầu, một trăm năm đô hộ giặc Tây”(Trịnh công Sơn).

b) Vua theo nghĩa Thiên sai, theo kiểu mong đợi của người Do thái : một người thuộc dòng dõi vua Đavít chính thức lên ngôi, và chiến thắng kẻ thù của Israel, của Chúa bằng cách đè bẹp chúng.

c) Sau hết, Vua theo cách của Đức Giêsu : một vương quyền huyền bí, không ép buộc ai,  không đè bẹp ai như “bạn có muốn theo tôi không”, “Các bạn cũng muốn bỏ đi sao” ? Một vương quyền mà lại để “Vua” bị giao nộp cho kẻ thù mà không chống cự, một tổng thống mà không có “vệ binh” để bảo vệ mình, không cận vệ để bao bọc trước đám dông (Noel Quesson).

2. Vương quốc của Đức Giêsu.

a)Nước Ngài không thuộc thế gian này.

Khi Philatô hỏi Đức Giêsu:”Ông có phải là vua dân Do thái không”? Đức Giêsu trả lời:”Tôi là vua, nhưng không phải của nguời Do thái như ông hiểu vì nước tôi không thuộc thế gian này”(x. Ga 18,33-36).

Nếu Đức Giêsu không phải là một vua của một nước trần gian, thì nước của Ngài ở đâu ? Ngài là vua của ai ?

Làm vua có nhiều cách, không nhất thiết cứ phải có đất đai, lãnh thổ, có quân đội, triều đình… mới là vua. Người ta vẫn nói:”vua dầu lửa”, “vua xe hơi”, “vua bóng đá”,v.v… mặc dầu những ông vua này không có quân đội, không cai trị ai . Đức Giêsu không những làm vua hiểu theo nghĩa bóng, mà đích thực Ngài là vua hiểu theo nghĩa đen, nghĩa chính thức của từ “vua”.

Ngài là vua, vua của cả vũ trụ, của cả trần gian, của cả nhân loại, vì Ngài chính là Ngôi Lời, một trong Ba Ngôi Thiên Chúa đã dựng nên muôn loài muôn vật trong vũ trụ. Thánh Kinh viết:”Nhờ Ngài, vạn vật được tạo thành, và không có Ngài thì chẳng có gì được tạo thành”(Ga 1,3 ; x. 1,10). Ngài là vua của thế giới, nên đến ngày chung thẩm, chính Ngài sẽ là người đến phán xét trần gian với tư cách một vị vua (Mt 25,34).

Thế gian này có nhiều nước, mỗi nuớc có một ông vua. Nhưng Ngài là vua cả thế gian, cả vũ trụ, nên Ngài là Vua trên hết các vua, Chúa trên hết các chúa.

Truyện : Nước Ta chỉ có trên thế gian này.

Ông SELMA  LAGERLOP có viết một câu truyện như sau : Ở thành La mã, trong một đền thờ dâng kính Đức Mẹ, gần đồi Capitole, có một tượng Chúa Hài đồng rất đẹp. Chung quanh vòng hào quang có khắc câu Phúc âm rằng:”NƯỚC TA CHẲNG CÓ TRÊN THẾ GIAN NÀY”(GA 18,38).

Một hôm, một phụ nữ thượng lưu, người Anh, tới viếng đền thờ, và tượng Chúa Hài đồng đã lọt mắt bà. Bà liền nài nẵng chuộc cho kỳ được. Khổ thay ! Không ai đồng ý cả. Bà ta mới thuê thợ gọt một tượng khác, giống y như tượng Chúa Hài đồng bà đã trông thấy. Rồi một hôm dùng thủ đoạn, đem đổi lấy tượng thật.

Nhưng không biết là vô tình hay hữu ý, thay vì viết vào vòng hào quang rằng “Nước Ta chẳng có trên thế gian này”, thì bác thợ kia lại viết :”Nước Ta chỉ có trên trần gian này”.

Ít lâu sau, không hiểu tại sao, tượng thật Chúa Hài đồng bỏ lâu đài của chủ mới, trở về đền thờ cũ lại như xưa.

Mưu mô bại lộ ra. Người coi đền thờ liền đem tượng giả ném xuống chân đồi Capitole. Người phụ nữ kia, buồn tiếc, đi tìm, gặp được và trở về nước với pho tượng giả, còn nguyên vẹn với vòng hào quang ngạo mạn kia.

Từ ấy, tượng giả cứ chuyền tay nhau, người này sang người khác, hết thành nọ đến thành kia…

Một hôm tượng ấy tới thành Paris. Quân Cách mạng mới đem đi biểu diễn qua các đại lộ, và hiệu triệu dân chúng rằng:”Nước Ta chỉ có trên thế gian này. Hãy mau mau phân chia tài sản cho nhau, để mọi người được bình đẳng vui sống. Nước Ta chỉ có trên thế gian này. Chết là sự đổ vỡ vô phương cứu vãn” !(Vũ minh Nghiễm, Vươn, 1966, tr 54-55).

b) Vương quốc của sự thật.

Philatô hỏi Ngài :”Thế thì ông là vua sao” ? Ngài đáp ngay:”Đúng thế, chính vì thế mà tôi đã sinh ra và đến trong thế gian này, đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”(Ga 18,37).

Vương quốc sự thật chính là nước của Ngài. Nước đó hoàn toàn khác biệt với đế quốc của vua César. Nước của César chỉ cai trị thể xác của loài người, còn vương quốc của Ngài chiếm hữu những tấm lòng. Thế lực của César là binh đội, khí giới, thành trì, nhưng sức mạnh của vương quốc của Chúa là những nguyên tắc, tình cảm và tư tưởng. Công dân của đế quốc César chỉ được hưởng an toàn bên ngoài và bảo đảm tài sản vật chất, nhưng phước hạnh trong Nước Chúa là an lạc và vui mừng trong Thánh Thần”(x. Rm 14,17). Dù là rộng lớn, đế quốc Rôma cũng bị giới hạn, nhưng vương quốc của Chúa vô biên và được quyền thiết lập tại mọi nơi. Cũng như hầu hết các nước thuộc về đất, đế quốc Rôma rồi sẽ chấm dứt, còn vương quốc Sự Thật sẽ tồn tại muôn đời.

c) Vương quốc tình yêu.

Vương quốc của vua Giêsu là vương quốc của Tình yêu :”Con người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người”(Mc 10,45). Đức Kitô là vua, nhưng Ngài khác với những vua khác ở chỗ : để cai trị, các vua khác dùng quyền lực, còn Ngài dùng tình thương. Thật vậy, Ngài yêu thương mọi nguời, mọi con dân của Ngài như một mục tử tốt lành yêu thương chăn dắt đoàn chiên, biết rõ từng con một, và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì lợi ích của con chiên (x. Ga 10,11-16). Ngài hành xử như thế vì Ngài là Thiên Chúa, mà “Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,8). Trong thực tế, Ngài đã hy sinh trên thập giá một cách khổ nhục để cứu nhân loại, là con dân được Thiên Chúa trao cho Ngài quyền cai trị.

d) Vương quốc của phục vụ.

Mừng lề Đức Giêsu Kitô , Vua vũ trụ, chúng ta được mời gọi nhìn lên vua của chúng ta. Một vị vua không ngồi trên ngai vàng, nhưng trên thập giá. Một vị vua không cai trị bằng quyền lực, nhưng dựa trên tình yêu thương, phục vụ. Một vị vua không có lãnh thổ, nhưng nằm sâu trong trái tim mọi người. Một vị vua chỉ biết dấn thân phục vụ.

Truyện : Hoàng tử Alexis.

Truyện cổ Nga thuật lại rằng : Vào thời Trung cổ, hoàng tử Alexis cũng như bao vua chúa khác sống trong cung điện nguy nga tráng lệ, trong khi dân chúng chung quanh  phải sống trong những khu xóm nghèo nàn tồi tệ. Thế nhưng, Alexis rất hiểu nỗi cơ cực của thần dân và cảm thương họ. Ôâng bỏ ra mỗi ngày một ít thời giờ để thăm họ. Nhưng, dù cố gắng đến đâu, Alexis vẫn không thu  phục được lòng yêu mến của thần dân. Vì thế, sau mỗi lần thăm họ trở về, ông thấy lòng mình buồn rười rượi.

Ngày kia, có một người lạ mặt đi vào khu xóm, ăn mặc đơn sơ, anh tự xưng là Bác sĩ, anh săn sóc những người già cả, bệnh tật. Đặc biệt Bác sĩ không lấy tiền thù lao, và còn phát thuốc miễn phí cho thần dân.

Bác sĩ ấy trở thành người của xóm nghèo, được mọi nguời yêu mến kính phục. Ngày ngày, anh dàn xếp những cuộc cãi vã, tranh giành, hoà giải những thù oán, và giúp đỡ họ sống đúng với phẩm giá con nguời.

Bác sĩ trẻ đó chính là Hoàng tử Alexis, người đã bỏ cung điện giầu sang đến sống với thần dân nghèo khổ và trở nên bạn bè của họ, để yêu thương săn sóc và phục vụ họ.

Đức Kitô thực sự là một vị  Vua đầy uy quyền. Ngài đã trở nên giống chúng ta, để yêu thương phục vụ chúng ta. Ngài đã phán:”Con người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống cứu chuộc cho nhiều người”.

  1. Chỉ có Đức Giêsu là Vua.

a) Tuy trước toà án Philatô, Đức Giêsu đã chính thức tuyên bố và xác nhận Ngài là vua, nhưng thực sự danh hiệu Vua ấy đã được tiên báo như tiên tri Daniel đã nhìn thấy “như là ConNgười đến trong đám mây trời… quyền năng vĩnh cửu”(Dn 7,13; và Gioan, cụ già trên đảo Patmos đã được thị kiến :”Đấng là Alpha và Oâmêga là nguyên thủy, là cùng tận, Đấng đang có, đã có và sẽ đến, Đấng là Thiên Chúa”(Kh 1,8)Ngài làm cho chúng thành một vương quốc tư tế, để phụng sự Đức Chúa Cha, là Thiên Chúa và là Cha của Ngài”.

b) Nhìn ra vua sự thật, vua tình thương, anh trộm lành đã nói :”Ôâng này có làm điều gì satrái đâu” ? Và anh đã cầu nguyện với Ngài:”LạyNgài, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. Anh chỉ dám xin nhớ, không dám xin cứu, không dám được xin vào nước Ngài vì anh thấy mình quá bất xứng, quá tội lỗi. Nhưng Đức Giêsu thấy lòng thông cảm khiêm nhường của anh, Ngài đã dịu dàng nói với anh:”Tôi nói thật hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên nước thiên đàng”(Lc 23,41-42).

c) Cái lý do khiến Đức Giêsu làm vua đã được thánh Phaolô nói rất xác đáng trong  đoạn văn gủi  cho tín hữu Côlôssê:”

“Ngài là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử giữa mọi thụ sinh. Vì trong Ngài vạn vật đã được tạo thành, chốn trời cao và nơi dương thế, vật hữu hình, vật vô hình, dù là thiên toà, hay thiên chủ, dù là thiên phủ hay uy linh : mọi sự đã được tạo thành nhờ Ngài và cho Ngài ! Và Ngài có ưu thắng trên mọi sự, và mọi sự đếu tồn tại trong Ngài. Và Ngài là đầu của thân mình, tức là Hội thánh, Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử giữa các vong nhân, ngõ hầu trong muôn sự Ngài là đệ nhất vô song ! Vì chưng Thiên Chúa đã quyết ý cho tất cả Viên mãn đậu tại trong Ngài và đã giảng hoà cả vạn vật nhờ Ngài và cho Ngài, đã ban lại bình an nhờ bửu huyết đổ nơi thập giá của Ngài cho mọi vật  dù ở dưới đất hay trên trời”(Cl 1,15-20).

Truyện : Chỉ có Chúa là Vua

Lịch sử nước Anh có kể rằng hồi ấy, nước Anh có một ông vua đạo đức tên là Cannut III. Ôâng là vua của một cường quốc, nên chung quanh ông hay có những quan nịnh thần ton hót. Một hôm trong một buổi triều yết, các nịnh thần tâu:”Thánh Thượng” là vua trên hết các vua, là chúa trên các chúa, có quyền trên mặt đất và biển cả. Nghe vậy nhà vua muốn cho họ một bài học, liền mời tất cả đi ra bờ biển. Đứng trước đại dương, ông tuyên bố:”Ta là vua trên hết các vua, có quyền trên đất liền và trên biển cả. Vậy ta truyền cho sóng biển không được trở tới”. Nhưng nước vẫn dâng lên, sóng vẫn trở tới làm ướt hết áo cẩm bào của vua cũng như triều thần. Nhà vua đi vào trong một thánh đuờng đến trước tượng chuộc tội, lấy chiếc vương miện đội trên đầu Chúa và nói:”Lạy Chúa, chỉ có Chúa là Vua trên hết các vua, là Chúa trên hết các chúa”.

(Hồng Phúc, Suy niệm Lời Chúa năm B, tr 169).

III. HÃY TIN THEO ĐỨC KITÔ VUA.

  1. Không đuợc bắt cá hai tay .

Câu tục ngữ này có ý nói : hai tay đều thò xuống bắt cá, không phải là hai tay định bắt một mà mỗi tay bắt một con cá. Câu này thường để chỉ người mưu một lúc cả hai việc, hy vọng rằng hễ hỏng việc này thì còn việc kia. Vì thế người ta nói :

Thôi đừng bắt cá hai tay,

                                Cá thì xuống bể, chim bay về ngàn.

                                                (Ca dao)

Trong việc tin theo Chúa, Đức Giêsu đã khẳng định”Không ai có thể làm tôi hai chủ vì hoặc ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc gắn bó chủ này mà khinh chủ nọ. Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa tiền tài”(Mt 6,24 ; Lc 16,13). Chúng ta phải dứt khoát trên đường theo Chúa, không thể trung lập được, hoặc chọn Thiên Chúa, hoặc chọn thần Mammon, nếu không thì sẽ mất cả chì lẫn chài. Người xưa đã nói :”Trung thần bất sự nhị quân” : tôi trung không thểà thờ hai vua, vì trong thực tế, câu ngạn ngữ này lúc nào cũng đúng :”Thiên vô nhị nhật, dân vô nhị vương”.

Truyện : Đức Hồng y Deschamps

Hồng y Deschamps, Tổng giám mục Mailines, khi còn là thanh niên, đã có ý muốn học hành thật giỏi để đạt được một địa vị cao trong hàng ngũ các quan chức triều đình. Một hôm, Deschamps đã được chứng kiến lễ đăng quang lên ngôi vua cách long trọng của nhà vua Bỉ. Từ cửa sổ của một nhà cao tầng, Deschamps chăm chú theo dõi  diễn tiến của buổi lễ từ đầu đến cuối. Có thể nói đấy là một buổi lễ hội vừa tưng bừng náo nhiệt với cờ xí và biểu ngữ rợp trời, và tiếng trống dồn dập và tiếng kèn đồng thổi lên inh ỏi với hàng vạn người đến tham dự.

Trọng tâm buổi lễ là nghi thức tấn phong hoàng thái tử lên ngai vàng  kế vị vua cha mới băng hà, với việc đội vương miện và nhận phủ việt. Buổi lễ kết thúc bằng một cuộc diễn hành của hoàng gia cùng với đoàn tùy tùng. Đoàn rước đi  theo hàng đôi kéo dài cả cây số. Sau khi cuộc lễ kết thúc, quảng trường trở lại bầu khí bình lặng như mọi khi. Deschamps tự nhủ mình rằng:”Thế là một ông vua đã qua đi”. Rồi được ơn Chúa kêu gọi. Deschamps đã suy nghĩ nhiều ngày sau đó và cuối cùng đã quyết định như sau :”Tôi không muốn phục vụ cho ông vua sẽ qua đi. Tôi muốn phục vụ ông vua tồn tại mãi mãi là Vua Giêsu”.

Deschamps đã dứt khoát từ bỏ giấc mơ danh vọng chức quyền thế gian như trước đây anh mơ tưởng, để xin gia nhập vào một dòng khổ tu và khoác vào mình chiếc áo tu sĩ. Sau một thời gian tu học, thầy Deschamps đã đuợc thụ phong Linh mục, rồi sau đó được tấn phong Giám mục và cuối cùng được phong tước vị Hồng y Giáo chủ, trở thành niên tưởng của hàng Giám mục Bỉ.

  1. Làm gì để xây dựng Nước Chúa.

Nhờ Bí tích rửa tội, chúng ta đã được trở thành công dân Nước Trời, chúng ta được ở trong một Vương quốc: “Vương quốc vĩnh cửu và vô biên , vương quốc tràn đầy sự thật và sự sống, đầy tràn ân sủng và thánh thiện, đầy tràn tình thương, công lý và bình an”(Kinh Tiền tụng lễ Chúa Kitô Vua) . Đức Kitô cai trị trên những ai chấp nhận chân lý Ngài mạc khải cho : tình yêu của Chúa Cha. Ngài làm người để chiếu toả tình yêu ấy, để con người có thể nhận ra và tiếp nhận, và như thế những ai nhận biết vương quốc và vương quyền của Đức Kitô thì thần phục Ngài là Vua vũ trụ muôn đời.

Khi chịu phép Rửa tội, các tín hữu đã được tham dự vào vương quyền của Đức Kitô.  Chúa Kitô không còn đi đó đây trên mặt đất để dạy dỗ và chữa lành dân chúng như Ngài đã từng làm nữa, Ngài chỉ có thể làm được điều đó thông qua thân thể mầu nhiệm của Ngài . Chúng ta là tay, là chân, là miệng lưỡi, là trái tim của Ngài. Nói khác đi, vương quốc Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã thiết lập khi Ngài còn ở duơng trần này sẽ phải được chính chúng ta bổ túc bằng cuộc sống trần gian của chúng ta. Điều cốt yếu là chúng ta phải theo những giá trị mà Tin mừng Chúa đã đề ra : sống theo lương tâm ngay chính, sống hoà thuận, thương yêu, làm những việc lành… Càng có thêm người sống như thế thì Nước Chúa càng mở rộng; và khi nào tất cả loài người biết sống như thế thì Nước Chúa đã trị đến. Và khi đó là thời thái bình, hạnh phúc.

Truyện : Pho tượng Chúa Giêsu Vua.

Trên đỉnh ngọn núi Corovado ở Nam Mỹ, người ta đã dựng một pho tượng Chúa Giêsu vua. Ở xa trông lại, du khách trông như pho tượng chạm trời, vì tượng cao hơn 30 mét. Đứng sừng sững, bao quát cả một vùng bát ngát mênh mông, pho tượng đã làm tăng thêm vẻ đẹp cho kinh thành Rio de Janeiro, thủ đô nước Brasil.

Bạn thử nghĩ biết bao công phu mới dựng được pho tượng ấy ! Chuyên chở vật liệu từ chân lên đỉnh núi, sườn núi lởm chởm. Nhưng người ta chưa thỏa mãn. Trong không trung đã có tượng Chúa Giêsu Vua, người ta còn muốn dựng một pho tượng ở đáy biển để chứng tỏ vương quyền khắp nơi của Chúa Giêsu

Tạo hóa hình như cũng chiều lòng người  đã dành cho họ một nơi đẹp đẽ để thực hiện ý tưởng cao qúi ấy.  Ở biển Italia, không xa Napoli, làn nước trong xanh, lăn tăn gợn sóng, chính chỗ đáy biển ấy người ta đã chọn để dựng tượng Chúa Giêsu Vua. Biết bao công lao.

Có những tầu đánh cá nối đuôi nhau ra đó để tung hoa chào mừng Chúa. Còn những tầu ngầm cũng lượn quanh viếng thăm Chuá. Tuy nước trong đẹp nhưng rêu xanh thường rủ nhau đến bám tượng đá. Nên hằng năm người ta phải tổ chức một cuộc cạo rêu và tắm rửa cho tượng.

(Ngọc Miện, Phút chiều tà, 1957, tr 83)

 

.

VẠN TUẾ ĐỨC KITÔ!

Trầm Thiên Thu

Thánh Gioan kể lại thị kiến về cuộc chiến cánh chung thứ nhất: Một con ngựa trắng và người cưỡi ngựa tên là Trung Thành và Chân Thật, Người theo công lý mà xét xử và giao chiến. Người mang một danh hiệu viết trên áo choàng và trên vế: “Vua các vua, Chúa các chúa” (Kh 19:11 và 16). Trước khi bị hành quyết vì “tội” là linh mục Công giáo, cha Miguel Agustin Pro (1891–1927, Dòng Tên) vẫn hiên ngang hô vang: “Viva Cristo Rey! – Vạn tuế Đức Vua Kitô!”. Tạ ơn Chúa luôn ban cho những tấm gương sáng cho tín nhân soi vào để củng cố đức tin!

Chân thành thân thưa, Thánh Vịnh gia xác định: “Lạy Thiên Chúa, một lần Ngài phán dạy, con nghe được hai điều, rằng: Ngài nắm quyền uy và giàu lòng nhân hậu; rằng: Ngài theo tội phúc mà thưởng phạt mỗi người” (Tv 62:12-13). Đó là điều rạch ròi và chắc chắn, vì Ngài KHÔNG THIÊN VỊ bất cứ ai (Đnl 10:17-18; Hc 35:12; Lc 20:21; Cv 10:34; Rm 2:11; Gl 2:6; Ep 6:9). Chúa Giêsu xác định: “Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho Người Con MỌI QUYỀN XÉT XỬ” (Ga 5:22).

QUỐC VƯƠNG ĐỆ NHẤT

Trong một quốc gia thời quân chủ, quyền tối thượng thuộc về vua. Theo trật tự xã hội, người ta “quy ước” là Quân-Sư-Phụ – thứ nhất là vua, thứ nhì là thầy (người dạy), thứ ba mới là cha mẹ. Vua được tôn xưng là Đức Vua, là Hoàng Đế, là Thánh Thượng, và tất nhiên cũng nắm quyền lực cao nhất – bao hàm cả quyền sinh sát: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Không chỉ vậy, vua còn mệnh danh là Thiên tử – con của Trời, thần dân phải phụng mệnh tối đa, tuân thủ “tối mặt”. Vua bảo chết mà chết mới là trung thần. Đúng là “hết ý” luôn!

Trong mười hai con giáp, rồng là con vật quý – dù chỉ là con vật do tưởng tượng, nhưng mọi thứ của vua đều được trân trọng là “rồng”: Long nhan, long thể, long bào, long mão, long sàng,…

Chúng ta biết rằng thời phong kiến theo chế độ “tông pháp” (cha truyền con nối), vua trị vì tới mãn đời. Vua có khi chỉ là một thiếu niên, và sẽ làm vua cho đến chết, gặp phải ác vương thì dân vô cùng khốn khổ. Vua có “quyền” nên thỏa sức “hành” người ta, vì thế vua nào cũng có có “máu ác”, thế mà vẫn được xã hội mặc nhiên chấp nhận, ít có những ông vua đức độ như vua Nghiêu và vua Thuấn của Trung quốc, làm thiên hạ thái bình, hoặc như các vua Trần Nhân Tôn và Lê Thánh Tôn của Việt Nam; qua thời dân chủ thì TT Ngô Đình Diệm là người khiến dân Việt tiếc thương hoài, tưởng nhớ mãi.

Lịch sử cho thấy rằng minh quân thì hiếm, hôn quân (vua ác) thì nhiều. Trung quốc có Tần Thủy Hoàng, Vạn Lý Trường Thành của ông vua này đã hao tổn bao sinh mạng của dân lành; Việt Nam có vua Lê Long Đĩnh, với “biệt danh” là Ngọa Triều (“ngọa” là nằm, “triều” là triều chính, ông này ăn chơi sa đọa đến nỗi không ngồi được nên phải nằm mỗi khi ngự triều), ông ta còn có thú vui độc ác là “róc mía trên đầu nhà sư” và “mổ bụng các thai phụ để xem thai nhi thế nào”; vua Shah Jahan của Ấn Độ đã xây đền Taj Mahal bằng cẩm thạch (một trong những kỳ quan thế giới) để tưởng nhớ người vợ thứ ba là Mumtaz Mahal, nhưng khi đền này xây xong, ông ra lệnh chặt tay tất cả những người thợ để họ không thể xây ngôi đền khác như vậy. Ác nhân luôn vui thú với sự ác độc của họ, càng nghĩ ra các trò ác thì họ càng thấy vui.

Việc bách hại Kitô hữu cũng theo quy trình tương tự. Thời xưa, đế quốc La Mã đã từng “làm mưa, làm gió” một thời, biết bao tín hữu bị phanh thây, xẻ thịt! Người Công giáo Việt Nam cũng bị hành hạ suốt ba thời ác vương: Minh Mạng, Thiệu Trị, và Tự Đức. Hàng trăm ngàn tín nhân đã chết không toàn thây để anh dũng minh chứng niềm tin tuyệt đối vào Đức-Kitô-chịu-đóng-đinh.

Từ cổ chí kim, luôn có những ác vương trên khắp thế giới. Thế nhưng thần dân vẫn phải tán tụng họ là “hoàng thượng anh minh”. Thậm chí khi muốn tấu trình thì phải “muôn tâu bệ hạ” – tức là tâu với cái bệ rồng của vua ngồi chứ không được tâu thẳng nhà vua, thậm chí còn không được nhìn mặt vua, ai nhìn là phạm tội “khi quân”.

Ngày nay chỉ còn vài quốc gia theo chính thể quân chủ, nhưng không “thuần túy” như xưa. Người đứng đầu một quốc gia ngày nay gọi là tổng thống, chỉ tại chức theo nhiệm kỳ vài năm. Ngày xưa vua tàn ác minh nhiên, dễ thấy; còn ngày nay, người đứng đầu một nước cũng vẫn có người ác độc, nhưng bằng các động thái khác và “tinh vi” hơn nhiều, rất khó phát hiện. Mà có phát hiện thì cũng chẳng làm gì được, bởi vì phe nào cũng có “vây cánh” cả rồi!

THIÊN VƯƠNG NGỰ ĐẾN

Đệ nhất quốc vương hoặc tổng thống cũng chỉ là phàm nhân, nghĩa là vẫn sai lầm và dân vẫn chịu khổ. Vì thế người ta mong chờ Thiên Vương để đòi lại công bình cho họ. Ngôn sứ Đa-ni-en kể: “Trong những thị kiến ban đêm, tôi mải nhìn thì kìa: có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến. Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành và được dẫn đưa tới trình diện” (Ðn 7:13). Đó là hình ảnh liên quan thời điểm niên tận thế cùng – Ngày Tận Thế, Ngày Cánh Chung. Chính lúc đó mọi người tỏ tường mọi thứ, là lúc yết kiến Thiên Vương, và cũng là lúc phải trình diện Vua Muôn Đời.

Và rồi lúc đó, “Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị”, còn “muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người” (Ðn 7:14a), thậm chí quỷ vương cũng phải tâm phục khẩu phục mà bái lạy Người là Vua các vua, là Chúa các chúa, như Kinh Thánh đã nói: “Một ngày kia, con cái Thiên Chúa đến TRÌNH DIỆN Đức Chúa; Satan cũng đến trong đám họ để TRÌNH DIỆN Đức Chúa” (Gióp 2:1). Đó là đặc quyền, độc nhất vô nhị: “Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong” (Ðn 7:14b).

Theo thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en, Con Người ngự giá mây trời đó chính là Đức Kitô, là Vị Vua hoàn toàn khác thường về mọi thứ: “Chúa là Vua hiển trị, Chúa mặc oai phong tựa cẩm bào, Người lấy dũng lực làm cân đai. Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu không lay chuyển. Ngai vàng Chúa kiên cố tự ngàn xưa: Ngài hiện hữu tự muôn ngàn đời” (Tv 93:1-2). Vì thế, Ngài chính là Đệ nhất Thiên Vương mà chúng ta hằng mong đợi, đồng thời cũng phải tôn thờ và tôn vinh: “Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài thật là bền vững, nơi đền vàng rực lên toàn thánh thiện triền miên qua mọi thời” (Tv 93:5). Vạn tuế Thiên Vương Kitô!

Không chỉ có vậy, chúng ta còn phải cầu nguyện: “Xin Đức Giêsu Kitô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, ban cho anh em ân sủng và bình an. Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người: kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời. A-men!” (Kh 1:5-6). Thánh sử Gioan cũng thị kiến “Người ngự đến giữa đám mây” (Kh 1:7a), điều đó cho thấy về Ngày Tận Thế, ngày mà Đức Kitô đến xét xử thế gian, vẫn đang diễn tiến từng ngày. Và rồi “ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người. Đúng thế! A-men!” (Kh 1:7b). Kẻ lành và kẻ dữ đều diện kiến Ngài, nhưng cuộc sống vĩnh hằng của họ lại hoàn toàn khác nhau: Người lành được làm công dân Nước Trời vĩnh hằng, còn kẻ ác làm đệ tử Luxiphe đời đời.

Là Thiên Chúa duy nhất, hằng hữu và hằng sống, Ngài xác định: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng” (Kh 1:8). Và mãi mãi Ngài vẫn là thế, vĩnh hằng bất biến: “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13:8).

THIÊN VƯƠNG THƯƠNG XÓT

Trình thuật Ga 18:28-37 mô tả một phiên tòa bất công – vì kẻ ác lại kết án tử một người công chính. Hôm đó, ông Philatô trở vào dinh, cho gọi Đức Giêsu tới và hỏi: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Đức Giêsu không trả lời trực tiếp mà đáp lại bằng một câu hỏi: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”. Ông Philatô nói: “Tôi là người Do Thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?”. Đức Giêsu trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này”.

Chúa Giêsu rạch ròi hai lần xác định: “Nước tôi không thuộc thế gian này”. Chắc hẳn tổng trấn Philatô không thể hiểu ý Chúa, thế nên ông ta liền hỏi lại: “Vậy ông là vua sao?”. Đức Giêsu không hề tự nhận là vua, và thản nhiên nói: “Chính ngài nói rằng tôi là vua”. Rồi Ngài nói rõ: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: LÀM CHỨNG CHO SỰ THẬT. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Ngài là Người-của-Sự-Thật, là Nhân-Chứng-Chân-Lý, Ngài không đấu tranh cho chính Ngài mà đấu tranh vì công lý và hòa bình của nhân dân, dù người đó sống tốt lành hay tội lỗi. Lòng thương xót của Chúa Giêsu bao la vô tận: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (1 Sb 16:34 và 41; 2 Sb 5:13; 2 Sb 7:3 và 6; Er 3:11; Tv 100:5; Tv 106:1; Tv 107:1; Tv 118:1-4 và 29; Tv 136:1-26).

Nếu nói về Vương Quốc Chân Lý, Ngài là Vua Sự Thật. Tuy là Thiên Vương đệ nhất nhưng Ngài lại luôn động lòng trắc ẩn, như vậy Ngài chính là Đức Vua Thương Xót. Thế mà những kẻ ác lại tự nhận mình là công chính để rồi xét xử Người-Vô-Tội. Thiết nghĩ cũng nên biết điểm “chú thích” này: Tại dinh Cai-pha, một mình Chúa Giêsu phải đối mặt với hội đồng xét xử gồm 71 người – trong đó có 23 Tư tế, 23 Luật sĩ, 23 Kỳ lão, với hai vị chánh và phó chủ tịch. Ôi, thật kinh khủng!

Đề cập vua chúa thế gian và quyền hành trần tục, có lần Chúa Giêsu đã nói: “Thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân” (Mt 20:25). Người có thế quyền và thế lực hành xử như vậy, bắt người khác quy phục, còn Chúa Giêsu không dùng uy quyền và thế lực để đàn áp người khác, không lạm dụng uy tín và chức vụ để thị uy hoặc bóc lột người khác, mà ngược lại, Ngài phục vụ chứ không bắt người khác phục vụ (x. Mt 20:28; Mc 10:45). Ngài không chỉ là Vua của các vua mà còn là Vua Khiêm Nhường và Nhân Ái.

Xưa nay và mãi đến tận thế, chắc hẳn chẳng có ông vua nào dám làm như vậy, thậm chí đối với những kẻ nhẫn tâm giết Ngài mà Ngài vẫn bênh vực họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Ngài thật lòng thương xót và thật lòng tha thứ chứ không miễn cưỡng hoặc vì ở thế việt vị.

Quả thật, Chúa Giêsu là Vị Vua “ngược đời” nhất thế gian, vì Ngài là Vua Trời nhưng đã tự hạ mình xuống thế gian để hòa nhập với thần dân. Chúng ta cũng “ngược đời”, nhưng ngược đời trái chiều với Vua Trời, vì chúng ta chỉ là bụi tro nhơ nhớp và hèn mọn, thế mà chúng ta lại muốn ở “trên mây”, nghĩa là nâng mình lên càng cao càng tốt – tức là kiêu ngạo, hợm mình, ảo tưởng. Nếu vậy thì chúng ta hoàn toàn đi ngược chiều với Đấng mà chúng ta tôn vinh là Thiên Vương, là Chúa Tể Càn Khôn, là Vua Trời Đất, là Vua Vũ Trụ. Hai người chuyển động ngược chiều thì chẳng bao giờ gặp nhau được!

Hôm nay nhìn lại chính mình, chúng ta học được chút gì ở Vua Giêsu về quyền hành, chức vụ, địa vị, cách phục vụ, sự tha thứ, tình yêu thương, lòng thương xót, cách nói, cách nhìn, cách đối nhân xử thế,…? Nhưng nên nhớ rằng học là một chuyện, và thuộc bài là một chuyện, còn thực hành bài học đó hay không lại là chuyện khác!

Kính mừng Đức Kitô là Vua Vũ Trụ cũng là lúc kết thúc năm phụng vụ và năm đời thường, đồng thời là lời nhắc nhở về tận thế và sự chết, chúng ta cùng suy tư về ý tưởng độc đáo của tộc trưởng Aupumut – bộ lạc Mohican: “Vào giây phút ra đi, ĐỪNG để trái tim mình ngập tràn nỗi sợ hãi, khóc than, nhưng HÃY cầu nguyện như thể được ban tặng một cuộc đời nữa để sống khác đi, HÃY hát bài ca chào cái chết, và ra đi giống như một người hùng quay trở về cố hương”.

Lạy Thiên Vương Giêsu Kitô, đầy uy quyền nhưng rất mực khiêm nhường, có quyền ném vào lửa đời đời nhưng đầy tình thương xót, chúng con thành kính phủ phục để thú tội vì chúng con quá tồi tệ. Cúi xin Ngài xót thương và tha thứ cho chúng con, xin giúp chúng con sống đúng theo Ý Ngài muốn, xin Ngài mãi mãi là Vua cai trị cuộc đời chúng con, và ban cho chúng con được hưởng Ơn Cứu Độ muôn đời. Amen.

 

.

GIÊSU, ĐỨC VUA TÌNH YÊU

Bông Hồng Nhỏ

Ngày xưa, các vị vua thường vi hành thăm thần dân của mình. Một số vị vua đã cải trang thường dân để sống với họ, để biết tình hình của đất nước. Dân chúng được vua thăm viếng nhưng chẳng ai hay biết.

Đức Giêsu Kitô, Đấng là vua vũ trụ, là Con Thiên Chúa, đã không cải trang thành thường dân như cách làm của các vua trần thế, nhưng Ngài đã “hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (x. Pl 2,7). Cả cuộc đời Chúa Cứu Thế đã hiến trọn một tình yêu vẹn tuyền và bao la cho những kẻ tội lỗi. Vua Kitô đã tự đồng hóa mình với những con người tội lỗi để tỏ lòng thương xót vô ngần, để nâng họ từ chỗ sa ngã đứng lên, được làm con của Chúa. Chúa Cứu Thế đã đến trần gian để làm chứng cho sự thật, ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng Ngài (x. Ga 18,37b). Chúa Kitô là vua vũ trụ, nhưng Chúa đã chọn một kiếp sống nghèo khó để thông chia kiếp người cách gần gũi, sát hơn và sâu hơn. Chúa đã muốn đi sâu vào tận cùng những thống khổ của kiếp người và trao cho họ yêu thương. Tuy nhiên, “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa (Ga 1,11 – 12).

Đức Giêsu Kitô là vua vũ trụ nhưng khi sống kiếp phàm nhân, Ngài đã chẳng tự xưng vương. Khi bị điệu ra trước tổng trấn Philatô, trong sự náo loạn của dân chúng, sự phẫn nộ của các thượng tế và kinh sư, Đức Giêsu vẫn giữ thái độ rất điềm tĩnh. Tổng trấn hỏi: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?” Đức Giêsu đáp: “Ngài tự ý nói điều ấy hay những người khác đã nói với ngài về tôi?” (Ga 18, 33 – 34). Trước câu hỏi của Đức Giêsu, ta cũng cảm thấy bối rối. Vì sao vậy? Từ trước đến nay, ta đã biết gì về Chúa Giêsu? Hay nói khác hơn, những điều ta biết về Chúa Giêsu có phải là điều ta khám phá từng ngày với lòng yêu mến, vì đã hăng say tưởng nhớ đến Người và hằng noi theo cuộc đời lữ thứ hy sinh của Người; hay điều ta biết về Chúa Giêsu chỉ là điều ta nghe biết? Trong thinh lặng của nội tâm, ta hãy nhìn lại tình yêu ta đã dành cho Chúa Giêsu, Đấng mà ta tôn thờ và yêu mến, Đấng là Đức Vua tình yêu của ta.

Có bao giờ ta trao nộp Đức Vua của ta cho quân dữ như điều tổng trấn Philatô đã nói: “Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi?” Dân chúng nộp Chúa Giêsu vì họ đã không nhận biết Người là Đấng Mêsia, đã vô ơn trước bao điều tốt đẹp Người làm cho họ. Họ biết rõ những điều Chúa Giêsu đã làm. Cả cuộc đời của Người là phục vụ vì yêu, và sẽ hiến mình vì yêu, và Người yêu họ đến cùng (x. Ga 13,1b). Rất tiếc, dân chúng và các thượng tế không nhìn nhận điều đó. Chúa Giêsu tố cáo những sai trái của các kinh sư và thượng tế, Người thẳng thắn chỉ cho họ biết đâu mới là sự thật. Điều Chúa Giêsu đã sống và rao giảng đi ngược lại với những gì họ đang sống, vì Người là ánh sáng thật đã đến thế gian chiếu soi mọi người (x. Ga 1,9). Đã bao lần ta bưng tai bịt mắt trước lời mời gọi của Chúa và ta vấp ngã. Chính khi ta làm nô lệ cho tội lỗi là ta đang nộp Chúa Giêsu để quân dữ đóng đinh Người và đâm vào trái tim tình yêu của Người. Chúa Giêsu mời gọi ta đứng về phía sự thật, vì chính lúc ta sống cho sự thật là ta đang tuân hành thánh ý Thiên Chúa. Là thần dân của Chúa, ta hãy lắng nghe và tuân giữ thánh ý Người.

Lạy Chúa Giêsu Kitô yêu mến! Chúa là Vua Tình Yêu. Chúa đã cứu chuộc con bằng chính giá máu châu báu của Chúa và Chúa đã giải thoát con khỏi cảnh nô lệ tội lỗi. Con xin tôn thờ, chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ tình thương Chúa. Xin Chúa chiếu giãi ánh sáng Chúa vào tâm hồn con, cho con nhìn thấy sự thật và lắng nghe tiếng Chúa thúc bách, để mỗi ngày con được nên người công dân tự do của Nước Trời. Amen

 

.

VƯƠNG MIỆN

Lm Vũdình Tường

Philatô ngồi toà xử và các câu hỏi của ông xoay quanh vấn đề Đức Kitô tự nhận mình là vua hay do đám đông ca tụng Ngài là vua. Sau khi biết rõ Đức Kitô không có í định làm hại đến ngai vàng của ông cũng không chủ trương lật đổ chính phủ bảo hộ Roma do Caesar lãnh đạo, Philatô tuyên bố Đức Kitô vô tội và tha Ngài. Thầy cả thượng phẩm Do Thái không hài lòng về quyết định của Philatô nên họ gây áp lực buộc Philatô kết án người vô tội và bản án đó phải là bản án tử hình. Philatô miễn cưỡng trước áp lực đó nên ông rửa tay tuyên bố vô tội trong việc đổ máu người vô tội.

Vua quan trần thế coi vương quyền là quyền ăn trên, ngồi cao. Hoàng tộc được ăn, được nói, đứng trên luật lệ vì luật lệ phải phục vụ họ. Hoàng gia ưu tiên hưởng mọi quyền lợi và thần dân có nhiệm vụ hầu hạ, phục tùng hoàng gia. Mọi con dân đều có trách nhiệm tôi tớ cho hoàng gia và coi đó là đặc ân riêng cho hoàng gia. Vua quan trần thế đều mong được như thế. Đức Kitô đưa ra cách nhìn mới về vương quyền. Cách nhìn mới của Ngài, mọi vua quan trần thế lớn nhỏ đều cố tránh. Theo Đức Kitô vương quyền chính đáng là đến để phục vụ. Quan trọng hơn vương quyền không phải chỉ phục vụ mà còn đi chung với hiến dâng mạng sống mình vì mọi người. Đây chính là điều thánh Gioan Tẩy Giả tiên tri khi thánh nhân nói về Đức Kitô:

Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng đến xoá tội trần gian Jn 1,28.

Chính Đức Kitô sau này khi nói về vương quyền của Ngài cũng nói thập giá là dấu chỉ của đoàn kết:

Khi Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta 12:32.

Không phải sức mạnh của gươm giáo hay vũ khí tân kì mà chính là sức mạnh tình yêu thập giá nối kết con người. Đức Kitô coi sóc nhân loại bằng tình yêu, ban cho họ an bình nội tâm và hướng dẫn họ sống trong sự thật. Điều Đức Kitô trao ban thế gian không thể có để ban tặng

Thầy để lại bình anh cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy Jn 14,27

Khi trả lời Philatô:

Vậy Ông là vua sao c.37? Đức Kitô đáp: Chính Ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đến thế gian với mục đích này: Làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi c.38

Xác nhận trước mặt Philatô, Đức Kitô tuyên bố Ngài là vua sự thật. Những kẻ tin theo Ngài phải sống trong sự thật, làm chứng cho sự thật. Sự thật là Đức Kitô, Con Một Thiên Chúa, xuống thế gian công bố tình yêu Chúa Cha ban cho nhân loại và ai tin vào Ngài sẽ nhận được ơn cứu rỗi. Trong vương quốc của Ngài con người đối xử với nhau bằng tình yêu, chân lí và sự thật. Công lí được coi trọng bởi công lí đó nhằm mục đích bảo vệ mạng sống con người từ lúc thụ thai cho đến khi sống lại về cùng Thiên Chúa. Mọi người đều mang hình ảnh Chúa và là anh chị em với nhau. Để có thể sống trong tình yêu, chân lí và sự thật người đó phải được tái sinh trong nước Thanh Tẩy và chịu sự hướng dẫn của Thánh Thần Jn 3,3-7.

Nước Thiên Chúa bắt đầu khi Đức Kitô đội triều thiên mạo gai và treo trên thập tự phía trên đầu cho viết chữ Vua Dân Do Thái. Các Thầy Cả Thượng Phẩm Do Thái cực lực phản đối nhưng Philatô cương quyết giữ điều ông phán quyết.

Đức Kitô là Vua vũ trụ bởi một mình Ngài đã chiến thắng tội lỗi, ma quỷ và thần chết, chính chúng đại diện cho nước của bóng tối.

 

.

CHÚA GIÊSU KITÔ, VUA TÌNH YÊU VÀ SỰ THẬT

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

Kết thúc năm phụng vụ, Giáo Hội mừng lễ trọng thể lễ Chúa Kitô Vua, được Đức Giáo Hoàng Pio XI thiết lập vào năm 1925. Qua thánh lễ này, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta rằng: Chúa Giêsu Kitô chính là Vua vũ trụ, Vua nhân loại. Người là khởi nguyên và là cùng đích, là Alpha và Ômêga (x. Kh 1,8). Vì thế, chúng ta hiểu ý nghĩa tước hiệu vua và vương quyền của Chúa Giêsu.

1- Ý nghĩa tước hiệu vua

Ngày nay tước hiệu vua, Chúa khá xa lạ với con người của thời đại dân chủ. Ngày xưa nó là một tước hiệu quen thuộc và phổ biến nhiều nơi trên thế giới. Theo quan niệm thông thường, vua là người đứng đầu một quốc gia, một chính thể, lãnh đạo đất nước, người có mọi quyền hành trong tay.

Theo quan niệm Nho Giáo, vua là thiên tử, con trời, người thay Trời trị dân. Nên vua có mọi quyền hành trong tay, cả quyền quyết định số phận sinh tử của thần dân, “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.” Vua cũng là người được người khác phục vụ và hầu hạ. Nên người ta vẫn nói “sướng như vua.” Trong lịch sử Việt Nam, có nhiều vị vua lạm đã dụng quyền hành và làm cho đất nước, người dân phải điêu đứng như các vua thời Nhà Nguyễn.

Kinh Thánh Tân Ước mạc khải chúng ta biết: Chúa Giêsu đến trần gian để làm vua, nhưng không theo kiểu vua trần thế và chính trị. Mặc dầu dân Do Thái đã nhiều lần muốn tôn phong Người lên làm vua của họ theo kiểu chính trị, để giải phóng họ và dân tộc thoát khỏi ách nô lệ của đế quốc La Mã thời bấy giờ. Nhưng Đức Giêsu đã mạnh mẽ từ chối kiểu làm vua như thế (x. Ga 6,15; Lc 19,38). Người không muốn làm vua theo kiểu trần thế và Người quả quyết rằng: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 20,36). Hơn một lần Đức Giêsu quả quyết với các môn đệ rằng: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em… Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,24). Như thế, vương quốc của Chúa Giêsu không nhắm những tục tiêu chính trị, cũng chẳng sử dụng những phương thế trần gian như bạo lực, quân đội, súng đạn… Nên Người không phải là Đấng Messia theo quan niệm trần thế chỉ đến để thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc. Nhưng người sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật.

2- Chúa Kitô, vua đích thực

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?” Chúa Giêsu trả lời: “Chính ngài nói tôi là vua.” Trước đó không lâu, Caipha đã hỏi Người cũng một câu hỏi như thế nhưng với một hình thức khác: “Ông có phải là Con Thiên Chúa không?” Chúa Giêsu đã lời một cách chắc chắn rằng: “Vâng, tôi là Con Thiên Chúa.” Theo Tin Mừng Máccô, Chúa Giêsu trả lời câu hỏi này, Người quy chiếu và áp dụng cho chính mình điều mà sách tiên tri Đanien nói về Con Người đến trong đám mây từ các tầng trời và triều đại Người trị vì đến muôn đời (Bài đọc I).

Theo đó, Chúa Kitô xuất hiện như là vị vua, vị cứu tinh của nhân loại. Người là vị vua không dùng quyền lực hùng mạnh để cai trị nhưng bằng phục vụ khiêm tốn cho chân lý và ơn cứu độ của loài người. Bởi lẽ, Chúa Cha đã giao phó cho Người sứ mạng đến để giải thoát con người khỏi mọi sự nô lệ của tội lỗi và đau khổ. Người đã chịu chết và phục sinh để giải thoát và đưa chúng ta vào vương quốc vĩnh cửu của Người. Như bài đọc II diễn tả: “Đức Giêsu Kitô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết trỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian. Người đã yêu mến chúng ta và đã lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người” (Kh 1,5-6).

Bởi thế, thánh Gioan đã trình bày giờ Chúa Giêsu bước lên thập giá là giờ vinh quang, giờ chiến thắng và tôn vinh. Vì giờ đó mà Người đến, giờ đó là giờ Người lên làm vua. Như thế, theo ý nghĩa này, khi Philatô có ý châm biếm khi viết trên thập giá Chúa chữ “Inri – Giêsu Nadarét là vua dân Do Thái,” ông vô tình đã nói tiên tri về Người. Người là vua không chỉ vua dân Do Thái mà còn là vua hoàn vũ. Người là vua tình yêu và sự thật.

3- Những công dân của vương triều Người

Như thế, Chúa Giêsu đến trong thế gian và đã khai mở vương quốc tình yêu và sự thật. Ai đứng về phía sự thật và sống yêu thương thì thuộc về Nước Trời. Ai đón nhận sự thật và tình yêu của Người là thuộc về vương quyền Người. Thật vậy, nhờ bí tích Rửa Tội, chúng ta được về công dân Nước Trời, trở thành vương quốc và một dân tộc tư tế để phụng sự Thiên Chúa. Chúng ta thật hạnh phúc vì được làm con dân trong vương quốc Vua Giêsu. Đồng thời chúng ta có sứ mạng phục vụ cho “vương quốc chân lý và sự thật, vương quốc thánh thiện và ân sủng, vương quốc công bình, tình yêu và hòa bình” mà Chúa Kitô đã khai mở được ngự đến, lan rộng khắp nơi, trong lòng mỗi người. Thế giới hôm nay vẫn đang bị thống bị bởi vương quốc ma quỷ, bởi sự gian dối, bất công, chiến tranh và hận thù. Chúng ta được mời gọi đóng góp phần mình để làm vương quốc sự thật và tình yêu của Chúa Kitô được hiện diện trong tâm hồn mỗi người, không phải bằng sức mạnh chính trị, quân sự, nhưng bằng việc phục vụ khiêm tốn của mình đối với tha nhân.

Để kết thúc bài suy niệm về Chúa Kitô Vua, chúng ta nghe lại câu chuyện sau đây: Lịch sử nước Anh có câu chuyện về vua Canut III có lòng khiêm nhường và đạo đức. Một hôm, trong một buổi triều yết, các nịnh thần đã nịnh nhà vua như sau: “Muôn tâu thánh thượng! Thánh thượng là vua trên hết các vua, là chúa trên hết các chúa. Thánh thượng có toàn quyền cả trên đất liền cũng như ngòai biển cả bao la!”

Nghe vậy, nhà vua muốn dạy cho quần thần một bài học, nên đã mời tất cả quan chức triều đình cùng đi du lịch đến một bãi biển dành riêng cho hoàng gia. Khi mọi người đều theo sau nhà vua xuống bãi tắm sóng vỗ rì rào, nhà vua đứng trước biển tuyên bố: “Hỡi biển cả kia. Nhiều người nói ta là vua trên hết các vua, là chúa trên hết các chúa, có quyền trên đất liền và biển khơi. Vậy hỡi biển cả hãy nghe đây: Ta truyền cho sóng biển không được tràn tới nữa!” Nhưng dù nhà vua đã ra lệnh, nước biển vẫn cứ từng đợt thi nhau đổ tới tấp lên bãi cát, làm ướt cả áo cẩm bào của nhà vua cùng quần áo các quan chức triều đình. Sau đó nhà vua dẫn quần thần đến một nhà nguyện gần đó. Vua quỳ gối trước tượng thánh giá Chúa Giêsu, lấy ra chiếc vương miện bằng vàng đội lên đầu Chúa và cầu nguyện như sau: “Lạy Chúa Giêsu. Chỉ có Chúa mới là Vua trên hết các vua, là Chúa trên hết các Chúa. Chỉ có Chúa mới có quyền trên cả đất liền cùng biển khơi. Con chúc tụng ngợi khen Chúa.”

Xin cho mỗi người Kitô hữu chúng ta luôn có được tâm tình khiêm hạ và niềm xác tín mạnh mẽ vào Chúa Kitô Vua, như vị vua nước Anh này. Amen!

 

.

VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU

Lm. Giuse Nguyễn

Phanxicô Assisi là một thanh niên giàu có, dòng dõi danh giá, nhưng không hạnh phúc. Anh cảm thấy cuộc đời vẫn còn thiếu một cái gì đó. Ngày nọ anh ra đường và gặp một người cùi lở loét, hôi hám. Có một điều gì đó khiến anh cảm động, dừng chân, tiến đến ôm chầm lấy con người đau khổ ấy. Chính lúc đó, trong vòng tay của Phanxicô không phải là gương mặt của một người cùi ghê sợ, nhưng là gương mặt hạnh phúc của Đức Giêsu. Từ đó, Phanxicô tìm được cái thiếu của đời mình là phục vụ Đức Kitô nơi những người nghèo. Có lẽ cũng vì thế mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã chọn Chúa Nhật 33 Thường niên, Chúa Nhật áp cuối năm phụng vụ làm ngày thế giới người nghèo, để liền sau đó là Chúa Nhật Chúa Kitô là Vua. Vinh quang, vương quyền của Đức Kitô ở nơi những con người nghèo khổ. Hôm nay cùng với Giáo Hội chúng ta mừng kính Đức Kitô là vua vũ trụ. Lễ này đã được ĐGH Piô XV thiết lập vào năm 1925 để tôn vinh vương quyền của Đức Kitô như là cùng đích của muôn loài muôn vật. Sự thật đó cho chúng ta ý thức rằng người có quyền tối thượng trên cuộc đời chúng ta không là ai khác, mà là vua Giêsu, và cùng đích cuộc đời chúng ta là được hưởng hạnh phúc trong Nước Chúa. Tuy nhiên vị vua này lãnh đạo chúng ta bằng cách thức nào? và đâu là điều kiện để chúng ta trở thành công dân của vương quốc đó?

Đức Giêsu không bao giờ chấp nhận làm vua theo cái nhìn của dân chúng, vì vị vua theo cái nhìn của họ mang nhiều yếu tố trần tục và tham vọng chính trị. Chính vì vậy mà Ngài đã từng lẫn trốn khi dân chúng tôn phong Ngài lên làm vua sau phép lạ hóa bánh ra nhiều. Tuy nhiên cũng có lần Ngài chấp nhận để dân chúng tung hô Ngài như một vị vua khi tiến vào Giêrusalem, bởi vì đây là hình ảnh của một vị vua hiền lành ngồi trên lưng lừa con. Hình ảnh đẹp nhất về vua Giêsu không phải là một ông hoàng ngồi trên ngai vàng, nhưng là một tử tội chết trần trụi trên cây thập giá. Từ đó cho chúng ta thấy đường lối lãnh đạo của vua Giêsu là yêu thương và cách thức để điều hành chính là phục vụ.

Yêu thương:

Trong suốt khoảng thời gian sống ở trần gian, mọi suy nghĩ, lời nói và việc làm của CG đều thể hiện một tình yêu thương. Yêu thương đến trăn trở vì hạnh phúc của người khác. Yêu thương đến thổn thức rơi lệ vì khổ đau của con người. Yêu thương đến quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ…

Phục vụ

…Và Ngài đã phục vụ không biết mỏi mệt. Phục vụ như một đầy tớ. Phục vụ đến quên mình. Và đỉnh cao là phục vụ đến hy sinh thân mình…

Chính tình yêu thương là đường lối lãnh đạo của vua Giêsu và phục vụ là cách thức thực hiện đường lối đó.

Là Kitô hữu, chúng ta thuộc quyền của vua Giêsu, chúng ta tự hào vì mình là công dân Nước Chúa. Nếu đã nhìn nhận Chúa là vua và chấp nhận sống trong vương quốc của Chúa (Thực ra đó là ân huệ và vinh dự cho chúng ta) thì chúng ta phải theo đường lối yêu thương và cách thức phục vụ mà vị vua Giêsu đã sống và nêu gương.

Đường lối lãnh đạo của Đức Giêsu là đường lối yêu thương, thì cung cách sống của chúng ta cũng phải là cung cách yêu thương; Có nghĩa là nơi cuộc sống của chúng ta phải toát lộ ra một sự yêu thương chân thành dành cho mọi người chúng ta gặp gỡ. Sự yêu thương sâu xa nhất của Đức Giêsu là nhìn thấy nơi chúng ta một sự đáng thương vì còn xa cách ân tình Chúa. Hay nói cách khác Ngài khao khát linh hồn của chúng ta. Từ đó, sự yêu thương đúng đắn nhất của con người cũng phải là thao thức làm sao cho người khác được sống xứng đáng là con cái Chúa. Chúng ta phải tội nghiệp cho những anh chị em còn đang xa cách Chúa. Chúng ta phải lo lắng cho những người thân yêu bạn bè của mình đang sống trong tội lỗi sớm quay trở lại với Chúa. Đó là một tình yêu thương đúng đắn và cũng là đường lối của vua Giêsu, muốn cho mọi người được hạnh phúc đích thực.

Cách thức để thực hiện chương trình yêu thương của vua Giêsu chính là phục vụ. Sự phục vụ của chúng ta không được tính toán và phải hết sức âm thầm, không cho tay trái biết việc tay phải làm. Những việc phục vụ hết sức cụ thể mà mỗi người chúng ta ai cũng làm được: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách đỗ nhà… như kinh thương người có 14 mối mà chúng ta vẫn đọc. Động lực để phục vụ theo lời Đức Giêsu  không gì khác hơn là nhìn ra khuôn mặt Đức Giêsu nơi những người và những việc chúng ta phục vụ.

Một mùa đông lạnh lẽo kia, thánh Martinô đi vào thành phố. Ông gặp một người ăn xin chận lại để xin tiền. Thánh nhân không có tiền, nhưng thấy người hành khất đang run vì lạnh lẽo, ngài vội cởi chiếc áo chiến sĩ sờn rách của mình và cắt một nửa trao cho người hành khất. Đêm đó Martinô nằm mơ thấy Đức Giêsu với các thiên thần hầu cận, và Ngài mặc một nửa chiếc áo chiến sĩ sờn rách. Các thiên thần hỏi tại sao Ngài mặc nửa chiếc áo rách kỳ vậy, và ai đã cho Ngài chiếc áo đó? Đức Giêsu trả lời một cách tự hào: “Của Martinô, tôi tớ Ta cho đó!” Rõ ràng khi chúng ta làm cho người khác là làm cho chính Chúa.

Tóm lại… kết thúc năm phụng vụ năm nay, một lần nữa Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy đặt lại giá trị: ai đang làm vua trong cuộc đời của mình? Nếu là Đức Giêsu thì chúng ta phải theo đường lối yêu thương và cách thức phục vụ của Ngài, như vậy chúng ta mới xứng đáng là công dân trong Nước Chúa. Khi chúng ta yêu thương phục vụ người khác là chúng ta đang yêu thương phục vụ cho chính Chúa. Chắc chắn Chúa cũng sẽ nói với chúng ta: “Nào những kẻ Cha ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi”.

 

.

TÔN CHÚA GIÊSU LÀM VUA CỦA MÌNH

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Hôm nay, nhân ngày lễ tôn vinh Chúa Giê-su vua, chúng ta hãy đến bệ kiến Ngài.

Trước hết, chúng ta hãy tiến vào chiêm ngưỡng hoàng cung của Vua Giê-su. Thật lạ lùng! Nơi đây là một ngọn đồi hoang vu trơ trọi, sặc mùi tử khí, lác đác mấy thập tự giá nằm vương vãi đó đây.

Tiếp theo, chúng ta hãy tìm đến ngai tòa đức Vua. Đây rồi, ngai tòa của Ngài đây, vì có tấm biển ghi rõ ràng: “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Ít-ra-en.” (Ga 19,19).

Ta hãy chiêm ngưỡng xem vị vua này như thế nào? Ngự ở đâu? Cẩm bào của ngài thế nào? Ngai vàng Ngài ra sao? Thần dân của Ngài gồm những hạng người nào?

Nơi đây, Vua Giê-su không mặc áo cẩm bào sang trọng đính ngọc dát vàng, nhưng phải chịu cảnh mình trần, thân mình bầm dập, loang lổ vết thương.

Nơi đây, Vua Giê-su không ngồi chễm chệ trên ngai cao nhưng chịu treo thân trên thập tự giá.

Hai bên ngai Vua Giê-su không có hai chức quan tả, hữu thừa tướng như ở các cung đình uy nghiêm lộng lẫy, mà là hai tên gian phi cùng chịu treo trên thập tự giá như Ngài.

Thay vì quân hầu, người ta chỉ thấy đám lính hung hăng, thô bạo. Chúng đứng đó không phải để hầu hạ phục dịch Ngài, nhưng là để lăng nhục, để hành hung, chế giễu nhạo cười Ngài và kết liễu cuộc sống của Ngài.

Vị vua này thật lạ lùng!

Thay vì để cho thần dân tung hô chúc tụng, Vua Giê-su chịu nghe những lời nhiếc móc nhạo cười: “Nó đã cứu được kẻ khác mà không cứu được mình”, “Nếu ông là vua dân Do-thái thì hãy cứu lấy mình đi!” (Lc 23,35-37).

Trên ngai cao này, thay vì ban ra những lệnh truyền như vua chúa trần gian, những lệnh truyền bắt dân phải chịu sưu cao thuế nặng để chất thêm vàng bạc vào kho báu của mình, truyền cho nô lệ phải hầu hạ phục dịch mình, truyền cho quan quân phải hy sinh mạng sống, chiến đấu phục vụ cho vương quốc mình…Vua Giê-su chỉ ban ra những lời yêu thương: “Lạy Cha, xin tha thứ tội lỗi cho những người đóng đinh Con…” và hứa ban hạnh phúc thiên đàng cho người bất hạnh cùng chịu treo trên thập tự giá như mình: “Hôm nay, anh sẽ ở trên thiên đàng với Tôi.” (Lc 23, 43)

Cuối cùng, không như vua chúa trần gian, bòn rút công sức, của cải thần dân tận xương tủy, Vua Giê-su hiến trao mạng sống mình cho muôn người được sống đời đời, trút cho nhân loại cả giọt máu cuối cùng trong đáy tim!

Như thế, dù là Chúa tể trời đất, bá chủ muôn vật muôn loài, Chúa Giê-su đã hạ mình xuống thế làm người, chuốc lấy tủi hổ, đau thương và nộp mình chịu chết để cứu độ muôn dân. “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa” (Ph 2, 9-11).

Lạy Chúa Giê-su,

Trên cõi đời này, không ai xứng đáng là vua của chúng con, bởi vì tất cả mọi ông vua đều ươn hèn, yếu đuối và mắc phải đủ mọi thứ lỗi lầm. Chỉ có Chúa mới là vị vua hoàn hảo, vua tốt lành thánh thiện, vua đầy lòng yêu thương, là vua quảng đại bao dung, đã hy sinh chịu chết để ban cho chúng con sự sống đời đời.

Xin cho chúng con biết tôn Chúa lên làm Vua của mình, biết noi gương Chúa mà hy sinh cho người khác, biết nhận quy luật yêu thương của Chúa làm kim chỉ nam cho cuộc sống chúng con.

 

.

SONG HỈ LÂM TÂM

Lm. Bosco Dương Trung Tín

Phi-la-tô liền hỏi: Ông là vua sao ? Đức Giê-su đáp: chính ngài nói ta là Vua. Tôi sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: Làm chứng cho sự thật” (Ga 18,37).

Hôm nay, Giáo Hội mừng lễ Đức Giê-su là Vua. Vậy Đức Giê-su là Vua theo nghĩa nào ? Đức Giê-su là vua dân Do-thái ư ? Không phải. Đức Giê-su là vua như bao vua chúa trần gian sao ? Cũng không phải. Quan Phi-la-tô hỏi Chúa là Vua theo nghĩa chính trị, theo ý nghĩ của con người. Còn theo như câu trả lời của Đức Giê-su, Ngài là vua SỰ THẬT.

Sự Thật nghĩa là gì ? Sự Thật là Sự Thật thôi chứ là gì nữa. Sự Thật về cái gì ? Sự Thật về Thiên Chúa và con người. Đức Giê-su đến để làm chứng cho Thiên Chúa và con người. Ngài là Vua Sự Thật đó, theo kiểu người ta nói là “vua thép”, “vua dầu lửa” vậy. Không phải ông vua thép là người bằng thép mà là ông là người chuyên môn sản xuất và buôn bán thép. Không ai có thể qua được ông. Ông vua dầu lửa là ông chuyên kinh doanh dầu lửa. Không ai có thể là đối thủ của ông. Đức Giê-su là “vua sự thật”, có nghĩa là Đức Giê-su là người chuyên môn nói về Sự Thật, mà sự thật đó là sự thật về Thiên Chúa và con người. Không ai có thể qua mặt Ngài khi nói về Thiên Chúa và con người. Vì Ngài biết rất rõ về Thiên Chúa và con người hơn ai hết. Ngài là chứng nhân cho Thiên Chúa và con người.

  1. Đức Giê-su là chứng nhân cho Thiên Chúa và loan báo Thiên Chúa cho con người.

Đức Giê-su đã nói với ông Ni-cô-đê-mô rằng: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để những ai tin vào Con Một của Người thì được sống đời đời” (x. Ga 3,16).

Thiên Chúa đó là một Thiên Chúa yêu thương, tốt lành và cứu độ con người. Một Thiên Chúa đầy lòng từ bi, thương xót và tha thứ. Điều đó Đức Giê-su đã loan báo khi đến trần gian này. Các sách Tin Mừng đã ghi lại và chứng minh những điều đó. Thiên Chúa đó là Thiên Chúa của con người. Thiên Chúa đó là một người Cha NHÂN LÀNH của hết thảy mọi người.

Thiên Chúa đó, “Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt; cho mưa xuống trên người công chính cũng kẻ bất lương” (x.Mt 7,45).

Thiên Chúa đó tốt lành hơn người cha trần thế: “Nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời lại không ban những của tốt lành cho những kẻ cầu xin Người sao ?” (x. Mt 7,11).

Thiên Chúa đó “biết rất rõ anh em cần gì trước khi anh em cầu xin”, nên đừng có lải nhải, nghĩ rằng cứ nói nhiều là được nhận lời (x. Mt 7, 7-8).

Thiên Chúa đó là một Thiên Chúa công bằng: “Ấy vậy, Cha của Thầy trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (x. Mt 18,35).

Thiên Chúa đó là một Ông Chủ tốt bụng “Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào sau hết bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền định đoạt những gì là của tôi sao; hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn lại đâm ra ghen tức” (x. Mt 20, 14-15).

Thiên Chúa đó là một Ông Chủ công minh: “Khá lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành. Được giao ít mà anh đã trung thành, tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh” (x. Mt 15, 21). Nhưng với tên đầy tớ biếng nhác và lắm mồm thì: “Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng” (x. Mt 25, 30).

Thiên Chúa đó là một người Cha nhân hậu: “Con à, lúc nào con cũng ở với Cha, tất cả những gì của Cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống; đã mất mà nay lại tìm thấy” (x. Lc 15, 31-32).

Thiên Chúa đó hằng lắng nghe những ai kêu cầu Người. “Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những người đã tuyển chọn ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ phải chờ đợi mãi. Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ.

Thế nhưng khi Con Người đến, liệu còn thấy lòng tin trên mặt đất này nữa không?” (x. Lc 18, 7-8).

Có thể xem đây như là một “lời nói lẩy” của Đức Giê-su hay của Thiên Chúa cũng được. Liệu con người có tin vào một Thiên Chúa như thế không; có thể tin vào Vị Chứng Nhân của Thiên Chúa là Đức Giê-su không? Nếu ta tin thì ta sẽ được sống bình an ở đời này và được sống đời đời ở đời sau trong Nước của Thiên Chúa. “Nước Thiên Chúa sẽ viên mãn trong ngày tận thế” (GLCG, số 1042), Nước đó còn gọi là “Trời mới đất mới” (GLCG, số 1043). Và Đức Giê-su là Vua trong Nước này.

  1. Đức Giê-su làm chứng về con người.

Con người phải là những tư tế để phụng sự Thiên Chúa. Chính “Đức Giê-su là Vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết trỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian. Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người” (x. Kh 1, 5-6).

Con người chúng ta sẽ phụng sự Thiên Chúa không chỉ sau này trên Thiên Quốc mà ngay từ bây giờ nữa. Vậy ta phải làm gì trong khi chờ đợi “Trời mới đất mới” đây ?

Theo sách Giáo Lý Công Giáo thì: “Sự trông đợi “Trời mới đất mới” không được làm suy giảm, trái lại phải kích thích nỗ lực phát triển trái đất này, nơi mà thân thể, gia đình nhân loại mới đang tăng trưởng và tiên báo một vài hình ảnh của thời đại mới. Bởi vậy, tuy phải phân biệt rõ rệt những tiến bộ trần thế với sự mở rộng của Vương Triều Chúa Ki-tô, nhưng những tiến bộ này trở thành quan trọng đối với Nước Thiên Chúa tùy theo mức độ chúng có thể góp phần vào việc tổ chức xã hội loài người cho tốt đẹp hơn”( GLCG , số 1049).

Nghĩa là trong khi chờ đợi “Trời mới đất mới”, con người chúng ta phải nỗ lực xây dựng xã hội này sao cho ngày càng tốt đẹp hơn. Vì những sự tốt đẹp đó tiên báo cho Nước Thiên Chúa đó. Và “Bởi vì tất cả những thành quả tuyệt hảo của bản chất và tài năng chúng ta, mà (con người) chúng ta đã tạo nên trên khắp địa cầu, theo mệnh lệnh của Chúa và trong Thánh Thần Người, chúng ta sẽ nhận lại sau này, nhưng chúng đã được thanh luyện khỏi tì ố, được chiếu sáng và biến đổi, khi Chúa Ki-tô trao lại cho Chúa Cha Vương Quốc vĩnh cửu và đại đồng” (GLCG, số 1050).

Tức là con người chúng ta phải nỗ lực xây dựng xã hội dưới trần gian này theo Lời Chúa dạy và theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Có như thế thì mọi việc ta làm, những cố gắng ta nỗ lực, ta sẽ nhận lại chúng trên thiên đàng sau này.

Trong Giáo Hội, chúng ta làm những việc này trong việc cử hành gọi là “PHỤNG VỤ”. Phụng vụ nghĩa là “Dân Thiên Chúa tham dự vào công trình của Thiên Chúa” (x. GLCG, số 1069). Vì “Trong mọi trường hợp, Phụng Vụ nhắm đến hai mục tiêu là Phục Vụ Thiên Chúa và con người” (x. GLCG, số 1070).

“Trong Phụng Vụ, Hội Thánh chúc tụng và tôn thờ Thiên Chúa Cha, nguồn mạch mọi phúc lành trong công trình sáng tạo và cứu độ. Đấng chúc lành cho chúng ta trong Chúa Con và ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần. Nhờ đó, chúng ta trở nên nghĩa tử của Người” ( GLCG, số 1110).

Đức Giê-su đã đến là làm chứng về Thiên Chúa và con người. Ngài là Vua Sự Thật. Ai muốn sống trong Sự Thật, muốn làm thần dân của Ngài thì nghe tiếng Ngài. Nghĩa là ta cũng phải sống trong Sự Thật và làm chứng về Sự Thật về Thiên Chúa và con người qua cuộc sống hằng ngày của mình. Ta không chỉ cử hành Phụng Vụ ở nhà thờ mà còn trong cuộc sống của ta nữa. Trong nhà Thờ thì ta đọc kinh Phụng Vụ, dâng lễ, đón nhận các bí tích; trong cuộc sống thì ta sống Sự Thật và làm chứng cho Sự Thật.

Vậy hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta hãy hân hoan mừng lễ Đức Giê-su là Vua Vũ Trụ. Ta hãy tin Ngài là Vua Sự Thật, là Vua trong Nước của Thiên Chúa; là Vua trong “trời mới đất mới”. Đồng thời, ta cũng hãy noi gương Ngài là sống trong sự thật, biết phụng sự Thiên Chúa và phục vụ con người, để ta nên chứng nhân cho Thiên Chúa Tình Yêu ở đời này và nên thần dân của Nước Chúa đời sau.

Đó gọi là “Song hỉ lâm môn”. Hai niềm vui đến cùng một lúc; hai niềm vui cùng một lúc đến trước cửa nhà ta. Không chỉ thế, mà hai niềm vui cùng đến trong tâm hồn của ta, nên phải gọi là “Song hỉ lâm tâm”. Một là niềm vui ta sống ở đời này; hai là niềm vui được sống ở đời sau. Một là niềm vui được phụng thờ Thiên Chúa; hai là niềm vui được phục vụ con người. Một là niềm vui là thần dân đời này; hai là niềm vui là thần dân của đời sau. Một là ta được sống bình an ở đời này; hai là ta được sống hạnh phúc ở đời sau. Thế thì còn niềm vui, còn hạnh phúc nào bằng nữa !!!!!!!!!!

Vua Giê-su Ki-tô muôn năm. Vạn tuế…vạn vạn tuế!!!

 

.

CHÚA GIÊSU KITÔ – VUA TÌNH YÊU

Lm. Simon Nguyễn Thanh Tú

Kính thưa quí ÔBACE thân mến!.
Trong suốt quãng đường đi rao giảng, Chúa Giêsu chỉ đi rao giảng về Nước Thiên Chúa, làm nhiều phép lạ và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền cho dân chúng. Chưa bao giờ Chúa Giêsu tự nhận mình là vua, mặc dầu dân chúng hồ hởi tôn vinh Ngài. Nhưng về cuối đời, Ngài đã công khai xác nhận vương quyền của Ngài trước mặt quan Philatô: “Ngài nói đúng, Tôi là vua”, nhưng để tránh ngộ nhận, Ngài nói thêm: “Nhưng nước tôi không thuộc thế gian này”. Vậy nước của Ngài ở đâu ? Thần dân của Ngài là ai ? Ngài được nhìn nhận từ khi nào?. Chúng ta hãy nhìn lên trên đỉnh thập giá có chữ INRI, có nghĩa là Giêsu Nazareth Vua Dân Do Thái, chính giây phút chịu đóng đinh mà Chúa Giêsu được tôn vinh là Vua, Ngài là Vua không chỉ cho dân Do Thái mà Ngài còn là Vua của cả vũ trụ.

Mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ hôm nay, chúng ta được mời gọi nhìn lên vị vua của mình. Một vị vua không ngồi trên ngai vàng, nhưng trên thập giá. Một vị vua không cai trị bằng quyền lực, nhưng dựa trên tình yêu thương, phục vụ. Một vị vua không có lãnh thổ, nhưng nằm sâu trong trái tim mọi người. Vương quốc của Vua Giêsu là vương quốc của Tình yêu. Ngài được mệnh danh là Vua Tình Yêu. Cho nên chỉ những ai sống yêu thương mới đích thực là thần dân của Ngài. Thế nhưng phải sống như thế nào mới được gọi là sống yêu thương?

Có một giáo lý viên kia đang dạy đạo cho một người dự tòng. Một hôm, người dự tòng hỏi “Điểm nổi bật hay còn gọi là điểm son của Đạo Công Giáo là gì ?”. Giáo lý viên đáp : “là Yêu Thương”. Người dự tòng là một thanh niên đang ở tuổi yêu đương, nên gật gù tỏ ra rất thấm thía với câu trả lời của giáo lý viên. Nhưng sau một lúc suy nghĩ, anh lại đặt vấn đề : “Yêu thương thì tôi đã nghe nói rất nhiều, và rất nhiều người nói : Những cặp tình nhân luôn miệng nói yêu nhau; những đạo khác, đạo nào cũng dạy người ta sống yêu thương; và ngay cả những tổ chức không có đạo cũng dạy người ta yêu thương nhau”. Rồi anh này đưa ra 2 kết luận hết sức bất ngờ : 1/ Đạo Công giáo chẳng có gì hơn những đạo khác, mà cũng không hơn không có đạo ; 2/ Chẳng cần vào đạo Công giáo mới biết yêu thương”. Và giáo lý viên bí !

Quí ÔBACE nghĩ sao về đạo yêu thương của chúng ta? Chúng ta phải công nhận rằng người dự tòng trên đã nhận xét rất đúng. Yêu thương là tình cảm cao đẹp nhất trong con tim mọi người. Yêu thương là nhân đức cao trọng nhất trong mọi nhân đức. Vì thế không cần đạo công giáo dạy, không cần Đức Giêsu dạy, mọi người cũng đều biết trân trọng tình cảm và nhân đức yêu thương. Nhưng chẳng lẽ đạo Công giáo của chúng ta không có gì hơn các đạo khác, cũng không có gì hơn các nền luân lý không có đạo sao ? Chẳng lẽ Đức Giêsu từ trời xuống thế làm người mà chẳng dạy gì hay hơn điều mà mọi người đã biết hết rồi sao ?

Tình thương của người ta có nhiều cấp bực khác nhau : thương một người bạn thì không bằng thương anh em ruột, thương anh em cũng không bằng thương cha mẹ, và thương ai cũng không thể nào bằng thương người tình của mình. Đối với một người có đạo, thì họ nghĩ phải thương yêu Chúa trên hết, kế đó mới là tình thương đối với những người khác. Còn Chúa Giêsu thì dạy phải đặt tình thương người và tình thương Chúa ngang nhau. Nghĩa là ta thương Chúa bao nhiêu thì cũng phải thương người bấy nhiêu. Nói cách khác, ta phải coi người ta như Chúa vậy, và phải thương người ta như thương Chúa vậy. Đó chính là điểm độc đáo thứ nhất của Tình Thương Công Giáo.

Nhưng thương người là thương ai ? Người Do thái cũng có luật thương người, luật ghi rõ phải thương người thân cận. Theo lối hiểu của người Do thái, thì người thân cận tức là người cùng dân tộc, cùng tín ngưỡng với mình. Còn những kẻ thuộc dân khác, thuộc đạo khác thì không phải là người thân cận nên không buộc phải thương. Còn theo Chúa Giêsu, tình yêu thương không có biên giới. Ta phải thương yêu mọi người, phải coi mọi người đều là kẻ thân cận, như dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu. Người ta thường vẽ ranh giới cho tình thương, người ta thường đặt hàng rào cho tình thương : ai ở trong ranh giới và trong hàng rào đó thì thương hết là thương, còn ai ở ngoài thì là người dưng, người lạ khỏi thèm thương. Đức Giêsu khi phá bỏ mọi hàng rào, mọi biên giới, tức là thêm một điểm độc đáo nữa cho Tình Yêu thương Công giáo.

Điểm độc đáo thứ ba là “Yêu thương người thân cận như chính mình thì hơn là dâng mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”. Chúng ta cho người nghèo dù là một ly nước lã, một lon gạo còn hơn là dâng cho Chúa nhiều lễ vật quí giá mà lại không quan tâm đến anh em. Đây là điểm độc đáo thứ 3 của Tình thương Công giáo.

Kính thưa Quí ÔBACE!
Mừng lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ hôm nay, Giáo hội mời gọi chúng ta là thần dân của nước Thiên Chúa chúng ta phải sống như thế nào để chứng tỏ cho người khác biết chúng ta đang sống trong Vương quốc tình yêu, vương quốc của Vua Giêsu. Để chứng tỏ điều đó chúng ta hãy sống yêu thương, hãy thực hiện 3 điểm độc đáo của Tình yêu Tin Mừng. Có như vậy chúng ta mới xứng đáng sống trong vương quốc tình yêu, mới xứng đáng gọi Chúa Giêsu là Vua. Amen.

 

.

LỄ CHÚA GIÊSU KITÔ VUA_B

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Sống trong hoàn cảnh xã hội xô bồ, con người không nhiều thì ít, bị ảnh hưởng tới sự chọn lựa và phán đoán của mình. Có mấy lần chúng ta dám đứng lên để nói sự thật và làm chứng cho sự thật, khi mà hằng ngày con người vẫn luôn đối diện với học giả, bằng giả, hàng giả. Người ta thường nói: Khôn chết, dại chết, biết thì sống. Người khôn ngoan là người biết lúc nào cần nói sự thật và lúc nào cần im lặng. Không phải cứ sự thật là chúng ta có quyền phát biểu hay phải tỏ lộ. Điều đó nó đi nghịch lại với chân lý sống của Chúa Giêsu, Vua sự thật: “Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi”.

Thưa anh chị em, câu khẳng định của Chúa Giêsu trong phiên tòa được trang Tin Mừng ghi lại là tư tưởng chủ yếu cho ý nghĩa của phụng vụ Lời Chúa hôm nay. Mặc dù Chúa Giêsu thẳng thắn trả lời, “quan nói đúng: tôi là Vua”. Philatô cũng nhận ra rằng vương quyền của Chúa Giêsu không có tính cách chính trị, trần thế nhưng là một trật tự khác. Trật tự ấy chính là thực tại thần linh: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một mình cho thế gian, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời”. Suốt đời và bằng cả cuộc đời, những hành động, lời rao giảng và các phép lạ đều làm chứng cho sự thật đó và đó là nguyên cớ khiến cho Người phải chết. Khi tự nguyện chấp nhận cái chết, Chúa Giêsu muốn cho chúng ta hiểu: Ngoài cuộc đời này còn có một cuộc đời khác. Ngoài thế giới này còn có một thế giới khác. Đó là vương quốc của Chúa. Đó là Nước Trời. “Vương quyền của Người đầy nhân hậu, vĩnh cửu, không khi nào bị cất mất; vương quốc của Người không khi nào bị phá huỷ”. Chỉ những ai thuộc về sự thật mới được vào. Vậy, ai thuộc về vương quyền của Chúa Giêsu ?

Có câu truyện kể rằng, ngày nọ có một thiếu phụ tay ẵm một thiếu nhi bước vào phòng mạch bác sĩ gia đình. Thưa bác sĩ, xin bác sĩ vui lòng giải quyết khó khăn nầy: đứa nhỏ đây mới chưa đầy một tuổi, và tôi lại mang thai nữa rồi. Bác sĩ giúp tôi làm bất cứ điều gì có thể cất được các của nợ này. Sau một hồi suy nghĩ, bác sĩ trả lời: Nếu bà không muốn có hai đứa con sinh gần nhau như vậy, tốt nhất là giết đứa con bà đang ẵm trong tay, giết đứa trong bụng bà hay giết đứa trong tay bà thì cũng như nhau. Vả lại, nếu giết đứa trong bụng thì lại còn nguy hiểm cho bà nữa. Vừa nói xong, vị bác sĩ vươn tay lấy con dao nhỏ và bảo bà đặt đứa nhỏ lên vế bà, đưa đầu ra phía ông ta. Lúc đó người thiếu phụ tái xanh mặt và thét lên: Đồ sát nhân.

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Chỉ vài lời nói, vị bác sĩ đã thuyết phục được người thiếu phụ trẻ hiểu ra rằng việc ông ta đề nghị giết đứa con một tuổi của bà thì cũng chẳng tệ hại hơn lời thỉnh cầu giết đứa bé chưa sinh trong bụng bà. Sự thật, đàng nào cũng là giết người. Hôm nay, chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu Vua sự thật. Giáo hội mời gọi chúng ta nói sự thật, làm nhân chứng cho sự thật và sống cho sự thật. Sống sự thật là sống trong đường lối của Chúa. Chỉ sự thật có thể giải thoát chúng ta khỏi những lầm lạc của thế gian. Vì, “sự thật sẽ giải phóng các ông”. Xã hội cần tôn trọng sự thật. Hôn nhân cần có sự thật về lòng chung thủy, sự thật về tình cảm và sự thật của kết quả tình yêu chính là con cái. Đây là những mấu chốt xây dựng đời sống hạnh phúc gia đình và xã hội.

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta biết vâng nghe và thực hành Lời Chúa truyền dạy và bước đi trong chân lý của Chúa để chúng ta tìm ra lẽ sống thật, xứng đáng là công dân trong nước Chúa Kitô. Amen.

 

.

CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ – VUA SỰ THẬT

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Ước mơ được làm vua, thống lĩnh thiên hạ, cai trị muôn dân, sai khiến mọi người là ước mơ của nhiều người. Mặc dù ngày nay chế độ vua quan không còn nữa, nhưng khát vọng được xưng vương, xưng đế vẫn là cám dỗ triền miên. Ví dụ, những quan chức khi đi công du nước ngoài thèm khát được các nước đó đón tiếp theo nghi thức cấp quốc gia. Đi đến đâu cũng có người bảo vệ, kẻ mở đường, vv… Những người này thèm khát quyền lực chính trị, họ dùng mọi thủ đoạn để đạt được quyền lực như mong muốn. Bên cạnh những thèm khát làm vua theo nghĩa chính trị, còn có những cám dỗ của nhiều hình thức làm vua khác nữa, muốn trở thành kẻ đứng trên nhiều người, được nhiều người biết đến, như vua nhạc rock, vua dầu hỏa, vua gỗ, và các hình thức thi hoa hậu…những người này cảm thấy thỏa mãn mỗi khi xuất hiện trước đám đông được nhiều người ca tụng.
Hôm nay Tin Mừng thuật lại câu chuyện một vị vua khẳng định: Tôi là vua, trong khi tay chân đang bị trói. Ngài không đội vương miện vàng cũng không khoác áo cẩm bào, nhưng lại đội một vòng gai đang đâm sâu thấu óc, trên mình Ngài là một tấm áo đã thấm máu vì những trận đòn. Trước mặt Ngài không phải là một đoàn dân ủng hộ hay tung hô, mà là đám dân đang la ó đòi giết đi, giết đi, đóng đinh nó vào thập giá. Vị vua đó chính là Vua Giêsu mà hôm nay Giáo Hội tôn kính Ngài với danh hiệu là Vua vũ trụ và Vua sự thật. Chúa Giêsu là Vua vũ trụ không phải bởi tranh giành quyền lực, nhưng cùng với Chúa Cha và Thánh Thần, Ngài chính là Thiên Chúa Đấng tạo dựng nên vũ trụ muôn vật muôn loài. Mọi loài mọi vật nhờ Ngài mà có sự sống và tồn tại. Ngài không dựng nên vũ trụ và con người rồi bỏ nó hoang vu, nhưng cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần Ngài còn là một vị Thiên Chúa quan phòng, sắp đặt và điều khiển vũ trụ. Vì ngài là Con Thiên Chúa, được Thiên Chúa yêu thương và trao cho mọi quyền bính trên trời và dưới đất. Quyền bính này không phải là quyền bính của sức mạnh, vũ khí hay quân đội, mà là quyền bính của tình yêu.
Bài đọc một kể lại thị kiến của tiên tri Daniel về một Con Người ngự đến từ mây trời. Người được dẫn tới trước mặt một Vị Lão Thành. Vị này trao cho Người mọi danh dự, vinh quang, vương quyền thống trị trên mọi dân mọi nước. Quyền thống trị của Người là vĩnh cửu. Hình ảnh Con Người mà tiên tri Daniel đã thị kiến chính là hình ảnh báo trước về vị Vua Giêsu. Ngài không ngự trên ngai trời để điều khiển vũ trụ, nhưng Ngài đã chấp nhận mang thân phận con người để bước đến với nhân loại, để yêu thương phục vụ và cứu chuộc nhận loại. Sau cùng, Ngài đã chấp nhận cái chết đau đớn trên thập giá để minh chứng tình yêu đến cùng dành cho nhân loại.
Đáng lẽ con người phạm tội thì sẽ phải chết vì tội của mình, nhưng vua Giêsu đã chấp nhận chết thay cho nhân loại. Trên cây thập giá Ngài còn đón nhận tất cả nhân loại trở nên thần dân và là người nhà của Ngài. Kể từ đây tất cả nhân loại mọi nơi, mọi thời đều mắc nợ Ngài về sự sống. Chúng ta sống là nhờ Ngài đã chết để trả lại sự sống cho chúng ta. Sau cuộc khổ nạn và phục sinh, Chúa Giêsu đã về trời trong vinh quang của một vị Thiên Chúa quyền năng. Vì đã hoàn toàn yêu mến và vâng phục Thiên Chúa Cha và hoàn tất chương trình cứu độ nhân loại, nên Thiên Chúa Cha đã tôn vinh Đức Giêsu làm Chúa Tể muôn loài trên trời dưới đất.
Có thể nói, danh hiệu Vua trời đất, Chúa tể muôn loài phản ánh vinh quang quyền lực của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu. Danh hiệu Vua sự thật phản ánh lên thái độ và chọn lựa của Ngài trong cách sống và phục vụ. Chúa là Vua sự thật, vì Thiên Chúa không bao giờ lừa dối ai, không bao giờ sai lời, Ngài trung thành với mọi điều Ngài đã hứa. Là vua sự thật vì Ngài là chính Sự Thật và là Đấng dạy cho con người biết sống và hành động theo sự thật.
Chúa Giêsu là Vua sự thật vì Ngài là Đấng nói sự thật về Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng quyền năng phép tắc vô cùng, cả trời đất không thể chứa nổi, vậy mà giờ đây được bày tỏ qua chính con người của Chúa Giêsu. Đức Giêsu là vị Thiên Chúa khiêm nhường và nghèo khó, một Thiên Chúa yêu thương đến trao hiến cả mạng sống. Ngài là Thiên Chúa duy nhất chỉ cho chúng ta con đường để đạt được chân lý và hạnh phúc đời đời. Ma quỷ là cha của sự gian dối, nó hoàn toàn đối nghịch lại với Thiên Chúa là sự thật. Ai sống và hành động gian dối thì thuộc về ma quỷ, còn ai sống và hành động theo sự thật thì thuộc về Thiên Chúa.
Đoạn Tin Mừng hôm nay gợi lên nhiều hình ảnh tương phản: Philatô, một con người quyền lực của thể chế chính trị trần gian, đang kiêu hãnh, cột trói, đánh đòn và thách thức Vua trời đất. Qua cuộc đối thoại, Chúa Giêsu cho Philatô thấy giữa Ngài và quyền lực trần thế hoàn toàn khác nhau. Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”Chúa Giêsu đã không trả lời trực tiếp nhưng muốn giúp cho Philatô phân định và hiểu chữ vua mà ông ta định hỏi là gì. Chúa Giêsu nói: “Ngài tự ý hỏi tôi hay ngài nghe người khác nói về tôi? Nếu tự ý ngài hỏi, câu hỏi từ trong tâm hồn ngài thì đó là một lời mời gọi ngài nhận ra quyền năng Thiên Chúa nơi người đang đứng trước mặt ngài. Nếu ngài nghe dân chúng nói, thì ngài sẽ không thể hiểu được”.
Philatô đã không hiểu được câu trả lời của Chúa Giêsu, ông đã chuyển qua một câu hỏi khác, về việc làm của Chúa: “Vậy ông đã làm gì?”Chúa Giêsu đã trả lời về việc làm cũng là sứ mạng của Ngài trong vương quốc của Ngài. Chỉ những ai thuộc vương quốc của Chúa, là con dân của Chúa thì mới có thể nhận ra và hiểu được việc làm và sứ mạng của Vua Giêsu mà thôi: “Nước tôi không thuộc về thế gian này”.Philatô dường như đã nhận ra một điều gì đó siêu phàm nơi kẻ đang bị buộc tội trước mặt ông. Ông nhận ra một quyền năng nào đó phát xuất ra từ những lời của người đang bị buộc tội. Vì thế ông đã như xin Chúa xác nhận sự hiểu biết của ông qua câu hỏi: “Vậy Ngài là vua sao?”  Chúa Giêsu đã xác nhận theo mức độ hiểu biết của Philatô khi nói với ông: “Chính Ngài nói rằng tôi là vua”.Chúa Giêsu cũng giải thích thêm: “Tôi sinh ra và đến thế gian là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”.Chúa Giêsu là vua sự thật vì Ngài dám hết mình bênh vực và bảo vệ cho sự thật và cuối cùng là chết vì sự thật: Sự thật về Thiên chúa là Cha yêu thương; sự thật về Thiên Chúa đã làm người và ở với con người; sự thật về Thiên Chúa dám chấp nhận cả cái chết để cứu chuộc con người. Có lẽ câu trả lời này đã hoàn toàn vượt quá khả năng và thực tế đang diễn ra nơi con người của Philatô. Vì ông đang là người đại diện cho công lý nhưng lại chiều theo sức ép của dân chúng. Ông được nghe biết sự thật về Chúa Giêsu, nhưng lại không dám lên tiếng bênh vực và bảo vệ cho sự thật. Sau cùng ông đã để mình nghiêng chiều về phía sự dối trá và đã chiều theo sự dối trá bằng việc ra bản án tử hình thập giá cho Vua sự thật.
Thưa quý OBACE, tôn kính Chúa Giêsu là Vua vũ trụ, Vua sự thật, đồng thời chúng ta phải có trách nhiệm làm cho vương quyền của Chúa, sự thật của Chúa được lan tỏa mọi nơi. Tôn vinh Chúa là Vua vũ trụ, chúng ta tôn vinh Chúa là đấng làm chủ vũ trụ trời đất và cả cuộc đời, gia đình của từng người; tin rằng Chúa là đấng lo liệu xếp đặt quan phòng cho từng người. Tin như thế để chúng ta dám sống trong sự biết ơn, phó thác, cậy trông vào Chúa, sống theo lề luật và sự dẫn dắt của vua Giêsu.
Con người ngày nay đang làm tổn hại đến vũ trụ; trong xã hội, con người cư xử với nhau bằng sự giả dối, lừa bịp. Là công dân trong vương quốc sự thật của vua Giêsu, chúng ta phải ra sức bênh vực, bảo vệ vũ trụ trái đất và làm chứng cho sự thật. Chúng ta cần phải để cho sự thật của Chúa được lan tỏa, ngấm vào suy nghĩ, lời nói và hành động của mỗi người. Chúng ta cần phải sống thành thật với Chúa và chân thật với mọi người, không giả dối với Chúa và không giả hình đối với anh chị em.
Xin Chúa giúp mỗi chúng ta luôn tự hào và sống xứng đáng là những người thuộc về vua Giêsu, yêu mến và hành động vì vua Giêsu. Xin cho chúng ta cùng với vua Giêsu, làm cho vương quyền và sự thật của Chúa được lan toả đến với mọi người trên trái đất này. Amen

 

.

ĐỨC GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ – VUA SỰ THẬT

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng

Chúa Giêsu có phải là vua thật không? Ngài là vua theo nghĩa nào? bài Tin Mừng trả lời cho chúng ta những câu hỏi đó trong phiên tòa Rô-ma xử án Chúa Giêsu.

Người xét xử là tổng trấn Phi-la-tô, là ông quan của đế quốc Rô-ma đặt cai trị ở Do thái, vì lúc ấy dân Do thái đang ở dưới quyền đô hộ của người Rô-ma. Bị cáo là Chúa Giêsu, do người Do thái điệu Chúa đến đây để xin Phi-la-tô xét xử.

Phi-la-tô hỏi Chúa: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”. Để trả lời, Chúa hỏi lại: “Ngài tự ý hỏi điều ấy hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”. Hỏi như vậy là Chúa muốn vạch trần thâm ý của Phi-la-tô. nếu Phi-la-tô tự ý hỏi như vậy tức là Phi-la-tô muốn hỏi: “Anh có phải là tay lãnh tụ chính trị, dám chống lại chính quyền Rô-ma không?. Đối với Phi-la-tô, là vua Do thái chỉ có nghĩa như vậy. Mà nếu như thế thì câu trả lời của Chúa là “không”. Ngài không phải là vua theo nghĩa đó. Còn nếu câu Phi-la-tô hỏi là do các nhà lãnh đạo Do thái nhắc nhở cho, thì có nghĩa là Chúa Giêsu là vị cứu tinh của Do thái như Thiên Chúa đã hứa với dân tộc họ. Nếu như thế thì câu trả lời của Chúa là “có”. Ngài thực sự là vua. Nhưng không phải chỉ là vua của dân Do thái mà còn là vua của mọi người. Nói rõ hơn, Chúa Giêsu là vua tâm linh, là vua lòng mọi người, chứ không phải là vua theo nghĩa thông thường trần gian. Nước của Chúa bao gồm những tâm hồn tin theo Chúa. Vì thế, vương quyền của Chúa có tính cách thiêng liêng chứ không có tính cách trần thế, không dùng phương tiện, sức mạnh, bạo lực của trần gian. Trái lại, phương tiện thực thi vương quyền của Chúa là nhập thể cứu chuộc và rao giảng sự thật. Chính Chúa đã khẳng định với Phi-la-tô: “Tôi là vua, nước tôi không thuộc về thế gian này. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”.

Như vậy, chúng ta có thể quả quyết: Chúa Giêsu là vua. Ngài là vua sự thật. Sự thật là gì? Chính Phi-la-tô đã hỏi Chúa điều đó. Chúa không đáp lại bằng lời nói mà bằng chính việc Ngài đang thực hiện trước tổng trấn. Việc đó là thực hiện việc của tình yêu cứu độ. Ngài vô tội, nhưng vì yêu thương nhân loại, đã cam lòng chịu chết để đền tội cho nhân loại. Sự thật là như thế. Đó là tình yêu cứu độ. Đó là sự thật mà Chúa muốn làm chứng và muốn nói tới. Và giờ đây, nhìn chung quanh trong nhà thờ này: các ảnh tượng Chúa, chúng ta cũng thấy sự thật cứu độ là như vậy: Chúa Giêsu trên cây Thánh giá, Chúa Giêsu trong phép Mình Thánh, Chúa Giêsu trong chặng đường thánh giá…Tất cả đều nói lên tình yêu cứu độ.

Tình yêu ấy đã được ban cho con người, chỉ cần con người đón nhận tình yêu ấy bằng một tâm hồn khiêm tốn, khao khát tình yêu cứu độ. Và bằng tâm hồn mở rộng ra, yêu thương bác ái đối với những người chung quanh. Sự thật cứu độ như vậy, nói thì đơn sơ dễ dàng, nhưng thực hiện thật là phức tạp và khó khăn, đòi hỏi nhiều cố gắng của chúng ta. Bởi vì cuộc sống tất bật, chật vật, đầu tắt mặt tối, đầy lo toan khốn khổ, dễ đẩy chúng ta vào thái độ ích kỷ, nhỏ nhen, thấp hèn. Chúng ta không dễ nhường nhịn nhau, hòa thuận với nhau, mà ngược lại, muốn lấn lướt người, muốn được phần hơn, muốn loại trừ nhau, nhiều khi dùng cả những thủ đoạn độc địa, thô bỉ nữa. Như vậy, chúng ta chưa sống sự thật cứu độ, chưa rao giảng sự thật cứu độ, chưa làm chứng cho sự thật cứu độ. Điều đó có đúng không?

Chúng ta tôn xưng Chúa Giêsu là vua, thì chúng ta là dân của Ngài. Chúng ta tôn xưng Chúa là vua sự thật, thì chúng ta là dân sự thật của Ngài, chúng ta phải làm sáng tỏ sự thật ấy. Cuộc sống chúng ta có rất nhiều dịp, nhiều lúc phải quyết định chấp nhận hay từ khước, nói có hay không dứt khoát: có thì nói có, không thì nói không. Một khi chúng ta trả lời “có” cho một người, tức là chúng ta trả lời “không” cho người khác. Khi chúng ta trả lời “có” cho Thiên Chúa, là chúng ta trả lời “không” cho ma quỷ cám dỗ. Không thể có trung lập giữa không và có, giữa Chúa và ma quỷ, giữa ánh sáng và bóng tối. Theo Chúa là phải có một quyết định, một lập trường, một triết lý sống thực hành thánh thiện, ngay thẳng, trung thực, chứ đừng ăn không nói có, lật lọng, dối trá, thay trắng đổi đen.

Nói rõ hơn, chúng ta phải tôn trọng sự thật: phải giữ thành thật trong lời nói, tư tưởng và việc làm. Không được làm chứng dối, thề gian, bỏ vạ, cáo gian, đổ tội cho người khác, vu khống người ta. Không được xét đoán vô căn cứ, kết tội khi chưa đủ bằng chứng, cả khi nói những lời gây thiệt hại danh dự của người khác…cũng đều lỗi phạm sự thật. Can đảm biện hộ cho sự thật khi cần đến và có sự thật buộc chúng ta phải giữ kín.

Chúng ta hãy nhớ: một người sống trung thực, chân thành, bác ái, yêu thương giữa một xã hội đầy dẫy những lừa lọc, gian dối, ích kỷ, ti tiện…có lẽ sẽ bị đánh giá là một người không giống ai, là một người lội ngược dòng nước cuốn, Nhưng chính việc lội ngược dòng, chính việc sống trung thực, yêu thương lại chính là thánh giá mỗi người cần phải vác hằng ngày. Chúng ta phải trở nên muối đất, trở nên ánh sáng thế gian bằng cuộc sống chứng nhân trung thực cho Chúa Giêsu Kitô.

 

.

VUA THẬT

Lm. Thái Sơn

Một anh chồng nói với vợ là ra ngoài mua thuốc lá, nhưng lại đến quán bar uống bia, gặp một cô gái váy ngắn. Điều tiếp theo anh ta nhớ được là tỉnh dậy trong căn hộ cô gái lúc ba giờ sáng.

– Ôi, vợ tôi sẽ giết tôi mất – Anh ta cuống cuồng kêu lên – Nhanh lên, cho tôi một ít bột màu trắng nào!

Cô gái lấy cho anh ta một ít bột phấn trắng, anh ta liền xoa ngay vào tay rồi vội về nhà. Vừa về đến nhà, vợ anh ta nhảy bổ ra và hỏi: “Anh đã đi đâu suốt đêm thế hả?

– Anh thú thật với em, anh đã đi quán bar, uống bia rồi về nhà một cô gái xinh đẹp…

– Đưa tay đây tôi xem nào – Cô vợ quát lên.

Anh chồng đưa tay đầy bột phấn trắng ra. Cô vợ mắng: “Đồ nói dối mà không biết ngượng. Anh lại đi chơi bowling suốt đêm chứ gì!”…

Thưa các bạn!

Phải chăng, “dối trá & thật thà” là một trong những chủ đề được thu hút và chú ý nhất? Có nhiều ý kiến khác nhau.

Có ý kiến cho rằng, chính vì “thật thà thẳng thắn thường thua thiệt, luồn lách lươn lẹo lại lên lương”. Nên không ít người chọn giả dối. Vậy còn ai dám nói thật?

Có ý kiến cho rằng, chính khi “thẳng thắn thật thà thường thiếu thốn, lươn lẹo luồn lỏi lại leo lên”. Vì thế không thiếu người chọn dối trá. Vậy còn ai dám chân thành?

Có ý kiến cho rằng, chính lúc “thật thà thẳng thắn tình tiền tới, lọc lừa luồn lách lại lắng lo”. Cho nên, lựa chọn sự chân thật là phương pháp tốt nhất cho đời mình.

Có ý kiến cho rằng, chỉ có “thẳng thắn thật thà thì thường tốt, luồn lỏi lừa lọc làm lao lúng”. Vì vậy, bài học làm người chính là sống thật, chứ không phải là sống giả…

Danh ngôn cuộc sống có dạy: “Sự thật và hoa hồng đều có gai” (David Thoreau). Hay là “Nước quá trong thì không có cá. Người tốt quá thì không ai chơi” (Ca dao)…

Trước viễn cảnh của xã hội hôm nay, Sĩ Phu Bắc Hà đã đúc kết thành bốn câu thơ: “Nhân phẩm từ đây giảm giá rồiChỉ còn lương thực tăng giá thôiLương tâm bán rẻ hơn lương thựcChân lý chân giò một giá thôi!”…

Thưa các bạn!

Hơn bao giờ hết, giáo hội, nhà trường và gia đình cần giáo dục cho giới trẻ về sự thật thà, dũng cảm nói không với giả dối. Bên cạnh mỗi cá nhân cần giữ lấy niềm tin về sự trung thực và giá trị của sự thành thật trong cuộc sống.

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”. Có lẽ, cuộc sống còn nhiều người đạo đức giả hay vô đạo đức, nên sự thẳng thắn, trung thực đôi khi bị ngộ nhận hay bị bóp méo.

Nhiều lần Đức Giêsu được dân chúng tôn làm vua, nhưng Ngài từ chối thẳng thắn, như khi hóa bánh ra nhiều người ăn no nê, hay lúc cưỡi lừa vào thành Giêrusalem giữa tiếng hoan hô, rải cành lá…

Tuần này, Chúa Nhật 34 Thường Niên B, trong bối cảnh bất tiện, bị tố cáo, bị xét xử trước mặt quan Philatô, Đức Giêsu lại nhận mình là vua, nhưng Ngài khẳng định: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18,36).

Thẳng thắn và thật thà hơn nữa, Đức Giêsu đã chỉ ra con đường và chính sách làm vua của Ngài là vua của sự thật, bằng cách “làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37).

Thật thà và thẳng thắn mà nói: “Chân lý không thuộc về số đông hay kẻ mạnh, mà thuộc về những người hiểu biết.

Ước gì, “bạn & tôi” thích sự thật, biết sự thật, hiểu sự thật, nghe sự thật, muốn sự thật và sống sự thật để xứng đáng là con cái sự thật, và là bạn bè với vua sự thật, chính là Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ. Amen

 

.

SUY NIỆM VÀ CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – LỄ CHÚA KTIÔ VUA

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Mục đích của Chúa Giê-su khi thành lập Giáo Hội là thiết lập một vương quốc của tình yêu, công lý và hòa bình trên mặt đất. Nhiệm vụ của mỗi Ki-tô hữu phải là nắm men làm dậy lên tình yêu, công lý và hòa bình trong đống bột trần thế. Triều đại Thiên Chúa chỉ có thể trị đến bằng hành động tích cực của mỗi thành viên.

Đn 7: 13-14

Trong Bài Đọc I được trích từ sách Đa-ni-en, nhà thị kiến được tham dự vào lễ phong vương của một nhân vật mầu nhiệm, được gọi “Con Người”, lãnh nhận từ Thiên Chúa vương quyền hoàn vũ.

Kh 1: 5-8

Bài Đọc II là phần mở đầu sách Khải Huyền của thánh Gioan. Đây là một bài thánh thi chúc tụng Đức Ki-tô, “Người là Đấng vinh hiển và toàn năng đến muôn thuở muôn đời”.

Ga 18: 33-37   

Tin Mừng được trích dẫn từ bài Thương Khó theo Tin Mừng Gioan: Đức Giê-su bị điệu ra trước tổng trấn Phi-la-tô. Ngài khẳng định mình là Vua, nhưng Nước Ngài không thuộc thế gian này.

BÀI ĐỌC I (Đn 7: 13-14)

Sách Đa-ni-en cốt yếu là một sứ điệp tràn đầy hy vọng. Mục đích của tác giả là an ủi các tín hữu Do thái đang sống trong cảnh bị bách hại dưới thời vua An-ti-ô-khô Ê-phi-pha-nê (175-164 trước Công Nguyên). Tác giả tiên báo kẻ thù của họ sắp bị tiêu diệt và cuối cùng Thiên Chúa sẽ toàn thắng.

  1. Bố cục

Ngoài phần phụ chương (ch. 13-14), sách Đa-ni-en gồm có hai phần chính:

– “Phần trình thuật” (ch. 1-6) kể lại tấm gương của thiếu niên Đa-ni-en bị lưu đày ở Ba-by-lon, qua đó, tác giả cho thấy Thiên Chúa phù trợ các tín hữu trung thành với Ngài ngay cả trong những cơn gian nan khốn khó nhất như thế nào.

– “Phần thị kiến” (ch. 7-12), theo thể loại văn chương khải huyền, trình bày những thị kiến liên quan đến lịch sử dân Ít-ra-en. Chính ở phần thứ hai này mà chúng ta gặp thấy bản văn nổi tiếng mô tả lễ phong vương của “Con Người”. Đức Giê-su đã đồng hóa mình với nhân vật mầu nhiệm này.

  1. Sứ điệp

Vị ngôn sứ vừa mới trình bày một trong những thị kiến ban đêm, trong đó ông đã thấy xuất hiện từ biển bốn con quái vật, biểu tượng bốn đế quốc thống trị. Những đế quốc này không được nêu tên, xem ra cốt là bốn đế quốc tiếp nối nhau thống trị Ít-ra-en: Ba-by-lon, Ba tư, A-lê-xan-đê đại đế, triều đại của hai dòng họ La-gít và Sê-lơ-sít. Con thú thứ tư gây kinh khiếp nhất, chính là triều đại của dòng họ Sê-lơ-sít là vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê quỷ quyệt, được mô tả bằng những hình tượng huyền hoặc. Bốn đế quốc này đều sụp đổ để nhường chỗ cho Nước Thiên Chúa, được trao ban cho một nhân vật được gọi “Con Người”.

Trong ngôn ngữ Do thái, danh xưng “con người” viết thường là một thành ngữ Do thái được viết tắt từ cụm từ “con cái của loài người” (“son of Man”) để chỉ “một phàm nhân mỏng dòn yếu đuối” (x. Tv 80: 17; Gr 50: 40; 51: 43). Trong sách Ê-dê-ki-en, danh xưng này xuất hiện đến 93 lần mà tiêu biểu nhất là lệnh truyền của Thiên Chúa được ngỏ với ngôn sứ Ê-dê-ki-en: “Còn ngươi, hỡi con người, hãy nói…” (Ed 7: 2). Qua danh xưng này, ngôn sứ Ê-dê-ki-en muốn nói rằng ông chỉ là một phàm nhân như bao nhiêu con người khác, nhưng Thiên Chúa toàn năng, Đấng cho ông thoáng thấy vinh quang của Ngài, đã trao ban cho ông lời hằng sống của Ngài để ông chuyển giao cho dân Ngài. Vì thế, có một khoảng cách khôn sánh giữa sứ điệp mà ông truyền đạt và con người của ông.

Tuy nhiên, trong sách Đa-ni-en, thành ngữ “Con Người” được viết hoa là một danh hiệu để chỉ một nhân vật có nguồn gốc thiên giới: “Có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến” (7: 13). Theo biểu tượng Kinh Thánh, “mây trời” luôn luôn là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Con Người lãnh nhận “quyền thống trị, vinh quang và vương vị”, được Đấng Lão Thành, tức là Thiên Chúa hằng sống, trao ban. Trong khi những vương quyền trần thế lần lượt bị tiêu vong, thì vương quyền của Con Người “chẳng hề suy vong” và bao trùm mọi dân mọi nước cũng như toàn thể vũ trụ.

  1. Vương quyền của Con Người

Toàn bộ chương 7 này cho thấy dung mạo “Con Người” vừa là một cá nhân vừa một tập thể, tương tự như dung mạo “Người Tôi Trung” của I-sai-a đệ nhị. Vả lại, Đức Giê-su đã đồng hóa dung mạo “Người Tôi Trung” và dung mạo “Con Người” vào Ngài. Viễn cảnh vừa cá nhân vừa tập thể này hoàn toàn phù hợp với não trạng Do thái: Con Người là một lãnh tụ điển hình của dân Thiên Chúa, đồng thời cũng là dân Thiên Chúa. Những câu theo sau giải thích rõ điều này: khi con thú thứ tư dứt khoát bị tiêu diệt, Thiên Chúa ban cho dân thánh của Đấng Tối Cao vương quốc với quyền thống trị cũng như địa vị cao cả trên mọi dân mọi nước (7: 18, 27).

Trong tất cả sấm ngôn, phải phân biệt “nghĩa hiện thời” và “nghĩa tương lai”. Nghĩa hiện thời mà tác giả sách Đa-ni-en nhắm đến là loan báo cho đồng bào của ông cuộc giải thoát chắc chắn sắp đến được ban cho họ qua các vị tử đạo vinh hiển của họ. Như vậy, về phương diện tập thể, Con Người là dân Chúa chọn được giải thoát và được tôn vinh. Tuy nhiên, những viễn cảnh cánh chung (nghĩa tương lai) không bao giờ vắng bóng trong các sách khải huyền. Đó là quy luật của thể loại văn chương này. Những biến cố được loan báo hiện thời bao gồm rồi bức tranh vĩ đại của thế giới sắp đến. Sách Khải Huyền của thánh Gioan cũng trình bày nghĩa kép như thế: tôn vinh các thánh tử đạo của thời kỳ bách hại cũng là tôn vinh toàn thể dân Chúa chọn, họ sẽ cử hành cuộc chiến thắng sau cùng của Con Chiên vào ngày tận thế.

Tiếp sau sách Đa-ni-en, các sách khải huyền Do thái lấy lại danh hiệu “Con Người” và ban danh hiệu này cho một cá nhân rất rõ nét, khi trao ban tước hiệu này cho một Đấng Thiên Sai thuộc dòng dõi Đa-vít, nhưng các sách này nhấn mạnh tính cách siêu việt và mầu nhiệm của nhân vật này, và tính cách này chỉ được bày tỏ vào thời tận thế.

Khi nhận tước hiệu Con Người về mình, Đức Giê-su đã cá nhân hóa tước hiệu tập thể này vào Ngài. Theo cách thức này, Ngài khẳng định vừa nhân tính vừa thiên tính của Ngài, Ngài thật sự là một con người có nguồn gốc thần linh: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3: 13). Khi Đức Giê-su tuyên bố trước Thượng Hội Đồng Do thái: “Từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mt 26: 64), rõ ràng Ngài ám chỉ đến nhân vật “Con Người” trong sách Đa-ni-en.

BÀI ĐỌC II (Kh 1: 5-8)

Sách Khải Huyền thánh Gioan được định vị vào trào lưu văn chương khải huyền Do thái, đặc biệt sách Đa-ni-en. Tác giả sử dụng những từ ngữ và hình ảnh tương tự, nhưng chủ đề thì biến đổi. Những sấm ngôn đã được ứng nghiệm. Đấng Thiên Sai đã đến giữa nhân loại, đã chết và sống lại; Ngài đã vào trong vinh quang của Ngài. Ngay từ đầu đoạn trích này, Đức Giê-su được xưng tụng là “Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian”.

Ở những chương đầu tiên, sách Khải Huyền được trình bày như một bức thư được gửi đến cho bảy Hội Thánh miền Tiểu Á. Theo thể loại thư tín của thời đại này, thư thông thường bắt đầu với lời chào được gửi đến người nhận, và cũng như trong các thư của thánh Phao-lô, lời chào này được Ki-tô hóa: “Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giê-su Ki tô ban cho anh em ân sủng và bình an” (Kh 1: 2). Lời cầu chúc này tập hợp lời chào Hy lạp: “ân sủng”, và lời chào Do thái: “bình an”.

  1. Các danh hiệu của Đức Giê-su Ki-tô

Danh hiệu đầu tiên của Đức Giê-su Ki-tô được kể ra là “Chứng Nhân trung thành”. Trong thư thứ nhất cũng như trong sách Tin Mừng của mình, thánh ký Gioan nhấn rất mạnh tầm quan trọng của chứng nhân. Thánh Gioan Tẩy Giả là chứng nhân của Đức Ki-tô; thánh Gioan Tông Đồ cũng là chứng nhân về điều mình đã thấy và đã nghe (x. 1Ga 1: 1-4; Ga 19: 35). Ở đây, danh hiệu “Chứng Nhân trung thành” được áp dụng cho Đức Giê-su Ki-tô. Chính Đức Giê-su Ki-tô làm chứng về những gì Ngài đã thấy và đã nghe ở trong cung lòng của Chúa Cha.

Những danh hiệu: “Chứng Nhân trung thành”, “Trưởng Tử” và “Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian”, không phải là ngẫu nhiên nhưng rất tương xứng với những danh hiệu của Đấng Mê-si-a (“Đức Ki-tô”) thuộc dòng dõi Đa-vít được mô tả trong Tv 89: 27-28, 38. Với danh hiệu “Trưởng Tử”, thánh Gioan thêm: “trong số những người từ cõi chết chỗi dậy” như thánh Phao-lô trong thư gửi tín hữu Cô-lô-sê (Cl 1: 15). Sách Khải Huyền rõ ràng là một bức tranh mô tả vô số những người được tuyển chọn vây quanh Đấng Phục Sinh.

  1. Bài thánh thi

Đoạn trích này là một “bài thánh thi” mà các nhà chuyên môn gọi “Vinh Tụng Ca” ca ngợi những ân phúc của Đức Giê-su Ki-tô. Bài thánh thi ca ngợi những phẩm chất cao vời của vương quyền Đức Ki-tô: triều đại tình yêu, thời kỳ Đức Vua dâng hiến cho các thần dân của Ngài những thành quả cuộc Tử Nạn và Hy Tế của Ngài và cho họ dự phần vào vương quốc của Ngài. Sau khi đã thánh hiến họ và thanh tẩy họ khỏi vết nhơ tội lỗi, Ngài cho họ trở thành tư tế để tôn vinh Thiên Chúa là Cha của Ngài.

Vị vua này sẽ tỏ mình ra vào ngày tận thế: “Kìa Người ngự đến giữa đám mây”như Con Người trong thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en. “Ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người”, ám chỉ đến sấm ngôn của Dcr 12: 10: “Chúng sẽ ngước nhìn lên Ta. Chúng sẽ khóc than Đấng chúng đã đâm thâu”, nghĩa là Đấng mà người ta long trọng loan báo cuộc Quang Lâm của Ngài là Đấng chịu đóng đinh trên thập giá.

“Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người”, vì đây là giờ xử án, giờ ăn năn sám hối. Như sách Khải Huyền, Tin Mừng Mát-thêu cũng đặt bên cạnh nhau sự ăn năn sám hối và thị kiến vinh quang: “Bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến”(Mt 24: 30).

Như sách Đa-ni-en, sách Khải Huyền là một bài thánh ca chứa chan niềm hy vọng vào sự chiến thắng của Thiên Chúa trên các quyền lực của sự ác. Lời tung hô “A-men!…A-men!…” đem lại cho bài thánh thi tạ ơn này sắc thái phụng vụ.

Bài thánh thi kết thúc với lời công bố của Thiên Chúa. Lời công bố này gồm hai phần: phần thứ nhất: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga”, và phần thứ hai: “Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng”. Phần thứ nhất là một biểu thức lập đi lập lại nhiều lần trong sách Khải Huyền: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga” (chữ đầu và chữ cuối trong mẫu tự Hy ngữ) và âm vang lời Thiên Chúa công bố trong Is 44: 6: “Ta là khởi nguyên, Ta là cùng tận; chẳng có thần nào hết, ngoại trừ Ta”. Phần thứ hai được gợi hứng từ lời Đức Chúa công bố cho ông Mô-sê trong sách Xuất Hành: “Ta là Đấng Hiện Hữu” (Xh 3: 14), nhưng được thích ứng vào viễn cảnh ngày tận thế nên được thêm vào ở đây: “Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng”. Ở Kh 22: 13, lời công bố này được quy cho chính Đức Ki tô: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Cùng Tận” .

TIN MỪNG (Ga 18: 33-37)

Sau khi sống lại, Đức Giê-su sẽ công bố quyền chủ tể hoàn vũ của Ngài; nhưng trong khi thi hành sứ vụ công khai, Ngài đã không ngừng tránh né danh hiệu này vì sợ dân chúng hiểu lầm danh hiệu này theo sắc thái chủ nghĩa dân tộc và chính trị. Còn đối với các môn đệ của Ngài, Ngài chỉ dạy cho họ một mẫu gương phải noi theo, mẫu gương phục vụ như Ngài: “Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20: 28). Chỉ khi Ngài bị bắt, bị nộp vào tay người đời và bất lực, Ngài mới công bố mình là Vua.

Trong bài Thương Khó, thánh Gioan dành cho hoạt cảnh Chúa Giê-su bị điệu ra trước quan tổng trấn Phi-la-tô một chỗ quan trọng hơn ba sách Tin Mừng Nhất Lãm. Thánh Gioan đặt ở nơi hoạt cảnh này dấu ấn của riêng mình, ý nghĩa sâu xa, pha lẫn với lời châm biếm nhẹ nhàng, sứ điệp ngẫu nhiên được dùng để nâng đỡ sứ điệp vĩnh hằng. Thánh Gioan là nhà thần học về cuộc Thương Khó.

  1. Đức Giê-su bị điệu ra trước tổng trấn Phi-la-tô

Bản văn thuật lại cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và tổng trấn Phi-la-tô đưa chúng ta vào trọng tâm của cuộc tranh luận. Các thượng tế tố cáo Đức Giê-su hai tội: “Ông này tự xưng mình là Con Thiên Chúa” và “Ông này tự xưng mình là vua”. Lời tố cáo thứ nhất mới thực sự là lời buộc tội, lời tố cáo thứ hai chỉ là cái cớ ngụy tạo cốt đặt vị tổng trấn Rô-ma và kẻ phá rối trị an đối diện với nhau. Vị tổng trấn không dễ bị mắc lừa; ông hiểu quá rõ mánh lới của các thượng tế, vì thế ông cần phải tra hỏi phạm nhân cho ra lẽ: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”.

  1. “Vua dân Do thái”

Đối với tổng trấn Rô-ma, đây là một câu hỏi then chốt, vả lại đây là câu hỏi duy nhất thuộc thẩm quyền của ông: tội chính trị. Theo phương sách Chúa Giê-su thường dùng, phương sách này cho phép Ngài giữ thế phản công, thay vì trả lời câu hỏi mà quan tổng trấn đặt ra cho Ngài, Chúa Giê-su hỏi ngược lại ông Phi-la-tô: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”, nghĩa là, “với tư cách quan tổng trấn, ông có những thông tin chính xác về những tham vọng chính trị của tôi, hay lời buộc tội đến từ các thượng tế mà ông chỉ nghe tin đồn?”. Như vậy, Đức Giê-su đặt tổng trấn Phi-la-tô trước trách nhiệm của ông.

Quan tổng trấn hiểu rõ điều này và ông trả lời với thái độ miệt thị các lãnh đạo Do thái: “Tôi là người Do thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?”. Qua câu trả lời này, ông Phi-la-tô muốn nói rằng chính ông, với tư cách quan tổng trấn, tiến hành cuộc điều tra, chứ không dựa trên những lời đồn đại. Như chúng ta thấy, cuộc tranh luận được tiến hành không phải bởi quan tòa nhưng bởi kẻ bị cáo. Điều này cho thấy Đức Giê-su vẫn làm chủ tình thế, dù người chất vấn Ngài nắm trong tay quyền sinh sát đối với Ngài.

Câu hỏi “Ông đã làm gì?” là lời đáp trả cho câu hỏi vặn lại của Đức Giê-su. Đức Giê-su không trả lời thẳng câu hỏi sau cùng này: “Ông đã làm gì?”, nhưng câu hỏi đầu tiên: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”; Ngài gợi lên bản chất vương quyền của Ngài: Nước Ngài không thuộc về thế gian này, vì thế, quyền lực Rô-ma chẳng có gì phải bận tâm; và quân đội của Ngài không chiến đấu để bảo vệ Ngài, vì thế, quan tổng trấn chẳng có gì phải lo sợ.

Quan tổng trấn Phi-la-tô lại hỏi: “Vậy ông là vua sao?”, Đức Giê-su trả lời: “Chính ngài nói rằng tôi là vua”. Câu trả lời của Đức Giê-su vừa khẳng định nhưng vừa bỏ lửng, nghĩa là: “Đúng như ông nói, nhưng không theo cách ông nghĩ”.

  1. Sự thật

Đức Giê-su tiếp tục tranh luận khi mô tả bản chất vương quyền của Ngài: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi”. Một lần nữa, Đức Giê-su đặt tổng trấn Phi-la-tô trước trách nhiệm của ông: ông đứng về sự thật hay đồng lõa với sự dối trá. Bấy giờ, quan tổng trấn biết rõ các vị thượng tế bịa đặt lời tố cáo; vì thế ông đứng về phía sự thật. Quả thật, tổng trấn Phi-la-tô sắp công bố đến ba lần Đức Giê-su vô tội trước đám đông (Ga 18: 38; 19: 4, 6). Thánh Lu-ca còn xác định thêm nữa: “Bây giờ ông Phi-la-tô triệu tập các thượng tế, thủ lãnh và dân chúng lại mà nói: ‘Các ngươi nộp người này cho ta, vì cho là tay khích động dân, nhưng ta đã hỏi cung ngay trước mặt các ngươi, mà không thấy người này có tội gì, như các ngươi tố cáo” (Lc 23: 13-14). Vì thế ông tìm mọi cách để tha bổng Chúa Giê-su, nhưng ông đành bất lực trước những áp lực từ phía giai cấp lãnh đạo Do thái.

“Chúng tôi có Lề Luật; và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa” (Ga 19: 7). Đây mới thật là tội danh dẫn Ngài đến cái chết. Ông Phi-la-tô không đủ can đảm đi cho đến cùng lời chứng của mình, nói lên tiếng lương tâm ngay thẳng của mình. Vấn đề trung thành với sự thật được đặt ra và được đặt ra rất kịch tính.

  1. Sứ điệp vĩnh hằng

Bên kia sứ điệp bất ngờ của Đức Giê-su với tổng trấn Phi-la-tô: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi”, thánh ký nghĩ đến tất cả các Ki-tô hữu mà giáo huấn này được gửi đến họ. Đức Giê-su đã đến mặc khải cho con người sự thật đến từ Thiên Chúa; Ngài đã làm chứng sự thật này cho đến cả mạng sống mình, Ngài đã đồng hóa mình với sự thật. Tất cả những ai đón nhận, sống và chết cho sự thật này được liên kết với Ngài. Đức Giê-su không nói “Ai sở hữu sự thật”, nhưng “ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Đức Giê-su đã công bố Xa-tan là cha của sự dối trá, trong khi sự thật là một phần liên kết với Thiên Chúa và mở rộng cánh cửa Nước Thiên Chúa.

 

.

AI ĐỨNG VỀ SỰ THẬT THÌ NGHE TIẾNG TÔI

  Fx Đỗ Công Minh

Sống trong thời đại hôm nay, không ít lần chúng con nghe nói nơi này, nơi khác có người tự xưng mình là vua, là chủ tịch, tổng thống. . . hay có những người cùng phe nhóm với nhau, họp nhau tôn vinh một người làm lãnh tụ, rồi từ trong  phe lại phong cho nhau làm chức này, chức kia trong bộ máy tự lập ra. Cũng có người làm những việc khác người rồi tự xưng là vua, như vua hề, vua ăn thịt, vua đánh bài, vua lừa, vua bịp. . . tựu trung là muốn có quyền lực hơn người, muốn thống trị  người khác, hay tranh đua để có địa vị trong xã hội. Bài Tin Mừng hôm nay  chúng con  chứng kiến quan Tổng trấn PhilaTô tra hỏi  Đức Giêsu :”Ông có phải là Vua dân Do Thái không ?”. Khi thấy Người nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ tôi đã chiến đấu không  để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra nước tôi không thuộc chốn này “.PhilaTô nghe đến “ Nước của Chúa Giêsu “ dù là không thuộc về thế gian này, nhưng vì e sợ những người đứng đầu một tổ chức chống lại hòang đế, tức là chống lại ông, nên cũng  buộc phải vu cho Chúa tội dám nhận là Vua, với lời kết tội:”Vậy ông là vua sao ?”. Đức Kitô không phủ nhận điều đó, nhưng Người  khéo léo : ” Chính Ngài nói rằng tôi làVua. Nhưng tôi sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này,làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Đến đây thì đã rõ, dù Philatô có chạy theo những tố giác của người Do Thái, nhưng hẳn là ông cũng ngộ ra được một điều:  Ông Giêsu không phải như những vị vua trần thế. Ông vua mà lại không có binh lính dưới quyền, không có vũ khí bảo vệ. Ông vua không có lãnh địa, dinh cơ, không ngai vàng cung điện. Ông vua mà nước không thuộc chốn này chỉ có thể là Vua. . . ảo. Quả thật,  Đức Giêsu, vị Vua của những lời răn dạy. Vua tình yêu, Vua của sự thật, Vua của công lý. Ai chấp nhận đứng về sự thật thì theo Người. Người đã không xưng mình là Vua, nhưng chính những  con người đơn sơ, bé nhỏ, nghèo hèn, yếu đuối, tội lỗi nhận mình là thần dân của vương quốc nước trời, tôn vinh Người. Đường lối cai trị của Người là hiền lành, khiêm nhường. Người đến với con dân nước Người không để được hầu hạ, mà chính là để hầu hạ mọi người, để  nâng con người lên địa vị như Người, là con Thiên Chúa.

Lạy Chúa,

Đã có một thời  chúng con ngộ nhận Chúa là Vua thống trị thế giới này về mặt quyền bính trần gian, nên có lúc những người con Chúa đòi mọi người chưa tin vào Chúa phải khuất phục, khiếp đảm. Chính trong thâm tâm, chúng con cũng từng nghĩ Chúa phải là vua trên các vị vua trần thế, nên đã khiến những người con của Chúa tự cho là hơn người khác, tài giỏi hơn, thánh thiện hơn, đạo đức hơn và có quyền coi khinh, coi rẻ anh em mình. Hiểu như thế là không nhận ra được Đức Giêsu, vị Vua của tình yêu thương, vị Vua của lòng thương xót. Vị Vua dám đổ máu mình ra chết thay cho con người. Vị Vua từ bỏ địa vị là Thiên Chúa để trở thành một con người, hầu cứu con người thóat mọi tội lỗi, khổ đau, bất hòa, chia rẽ, tranh giành, xảo quyệt để tiến đến sự bình an, đạt đến công lý, yêu thương và sự thật.

Xin cho con luôn biết tôn nhận Chúa là Vua của tâm hồn con, gia đình con. Hầu từ nơi con, gia đình con sẽ tràn ngập tình yêu thương, tiến đến xây dựng khu xóm, địa phương nơi con sinh sống, làm ăn; đến đất nước và cả thế giới này, dần dần thành một vương quốc của Tình yêu thương cho đến ngày Chúa đến . AMEN.

 

.

ÔNG VUA LẠ ĐỜI

JM. Lam Thy

Cũng đã hơn một lần kẻ viết bài này chia sẻ về thói đời chỉ ham chuộng cái vỏ bên ngoài mà quên mất những câu tục ngữ cổ nhân cảnh giác:  “Xanh vỏ đỏ lòng”, “Tốt mã dẻ cùi”, “Thùng rỗng kêu to”. Tiêu biểu cho quan niệm trên là hình ảnh những ông vua thời phong kiến được coi trọng ví như con rồng: Thân thể của vua đựơc gọi là mình rồng (“long thể”), mặt là mặt rồng (“long nhan”), râu là râu rồng (“long tu”), nơi vua ở là điện rồng (“long điện”:), áo vua mặc là áo rồng (“long bào”), ghế vua ngồi là ghế rồng (“long ỷ”), giường vua nằm là giường rồng (“long sàng”), xe vua đi là xe rồng (“long xa”), đến khi vua chết thì phải tìm mạch rồng (“long mạch”) mà táng xác và bắt cả nước phải để tang (quốc tang). Chưa hết, vì là rồng nên chỗ vua ngồi tại triều đình phải là một cái ghế được chạm khắc hình rồng và sơn son thếp vàng choáng lộn, gọi là ngai vàng (“bảo toạ”). Khiếp! Cái gì cũng rồng hết trơn, chỉ khác một điều, ấy là rồng thì phun nước, mà vua thì hét ra lửa, mửa ra khói.

Dông dài đôi điều về những ông vua thời phong kiến cho vui và có cái cớ để dẫn nhập. Nay xin nghiêm chỉnh vào đề: Bài Tin Mừng hôm nay (CN XXXIV/TN-B – Ga 18, 33b-37) trình thuật về một ông vua thật kỳ lạ (vua không có ngai vàng, áo rồng, ghế rồng, giường rồng, thậm chí không có cả điện rồng để họp triều đình). Đó chính là một người xuất thân trong một gia đình lao động nghèo ở một làng quê nghèo và hẻo lánh; là con của một ông thợ mộc trầm lặng và một bà nội trợ hiền lành. Cách ăn mặc thì xuềnh xoàng, tụ họp môn đệ (kiểu như họp triều đình) để giảng dạy khi thì trên một bãi cỏ, lúc thì ven đường đi, bên bờ giếng, trên triền núi, nếu có tụ họp trong nhà thì lại là nhà của một bệnh nhân hay một người nghèo kiết xác. Khi di chuyển thì đa phần là lội bộ hơn là cưỡi ngựa hoặc đi xe, đến khi chết thì bị nhục hình chết treo trên thập giá và được môn đệ táng trong hang đá. Thế đấy! Như vậy mà gọi được là vua sao? Chuyện khó tin nhưng lại có thật 100%: Vị vua ấy chẳng ai khác hơn là Vua Giê-su Ki-tô vậy.

Hoá cho nên, nếu chỉ căn cứ vào bộ vó bên ngoài thì không thể đánh giá đúng chất lượng được. “Xanh vỏ đỏ lòng”, “Tốt mã dẻ cùi”, cũng là lẽ thường tình thế sự. Thực ra, cũng không phải tất cả những ông vua phong kiến (kể cả những ông vua hiện đại: Thủ tướng, Tổng thống, Chủ tịch nước v.v…) đều xấu xa, đáng lên án. Cũng có nhiều những ông vua thương dân như con, biết “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của mọi người” (“Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” – Khổng Tử – “Luận Ngữ”), rất xứng đáng là những bậc minh quân trị vì dân nước.

Với Đức Giê-su thì chính vì Người là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật (điều này không phải chỉ do Người tự xưng – đến nỗi đã bị nhóm Pha-ri-sêu cho là phạm thượng – mà còn được chính Thiên Chúa Cha phán bảo khi Người chịu phép rửa trên sông Gio-đan, khi Người biến hình trên núi, đồng thời Chúa Thánh Thần còn linh hứng, mạc khải cho các Thánh sử, các vị tiên tri, ngôn sứ nữa). Người đã sinh ra tại một địa điểm nhất định, trong một thời điểm lịch sử cố định. Người chính là “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành, trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình.” (Cl 1, 15-16). Ngày sinh của Người đã được cả thế giới chọn làm ngày mở đầu cho bộ lịch Công nguyên, là cái mốc để tình ngược thời gian về quá khứ (thời thượng cổ, thời tối cố); đồng thời vươn tới tương lai cho đến thiên thu vạn đại.

Người là Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là Đấng tạo dựng vũ trụ, muôn loài, như vậy Người là chủ muôn loài, chủ vũ trụ (Vua vũ trụ) cũng là lẽ đương nhiên. Đó là xét về mặt danh nghĩa, nhưng còn mặt thực chất của vấn đề, và cũng là điều quan trọng nhất, ấy là Người đã vâng lệnh Chúa Cha xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại. Không cần nói đến những phép lạ, những linh hứng, mạc khải, mà chỉ cần suy niệm vào chính cuộc đời trần thế của Người (từ cách sống, cách giảng dạy, cách chữa trị bệnh nhân, đến chính việc hy sinh cả tính mạng mình vì yêu thương loài người tội lỗi), cũng đủ để xác tín Người chính là Vua – VUA TÌNH YÊU. Và chính điều này một lần nữa khẳng định Đức Giê-su Ki-tô thật sự là Vua trên hết các vua, Chúa trên hết các chúa, Người chính là VUA VŨ TRỤ vậy.

Ngày 11/12/1925, Đức Giáo hoàng Pi-ô XI thiết lập lễ kính trọng thể CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ VUA, với lời nhắc nhở cộng đồng dân Chúa rằng: Chúa Giê-su Ki-tô, Con của Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, chính Người là Vua vũ trụ, Vua muôn loài. Người không những là Vua của từng cá nhân, từng gia đình mà còn là Vua của tất cả mọi loài, mọi người, mọi dân tộc, là Vua trên hết các vua ở trần gian này. Vương quyền của Người chi phối toàn thể vũ trụ, mặc dù vương quyền ấy là linh thiêng, vĩnh cửu, không lệ thuộc vào không gian, thời gian hữu hạn, không thuộc về thế gian (“Đức Giê-su trả lời: ‘Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này’. Ông Phi-la-tô liền hỏi: ‘Vậy ông là vua sao?’  Đức Giê-su đáp: ‘Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi’ .” – Ga 18, 36-37).

Lịch sử cứu độ đã khẳng  định Đức Giê-su Ki-tô là Vua không theo nghĩa chính trị hẹp hòi của trần thế, với những ưu thế tuyệt đỉnh về vật chất trong một quốc gia, như những vua chúa gian trần. Sau đó, tại CĐ Va-ti-ca-nô II, khi canh tân Phụng vụ, Giáo Hội đưa thêm vào một ý nghĩa mới: “ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ, VUA VŨ TRỤ” (Giáo Hội thừa nhận đặc tính vũ trụ và cánh chung được thể hiện cụ thể và đầy đủ nhất nơi mầu nhiệm Giê-su Ki-tô, vì thế nên Lễ này được đặt vào đúng vị trí của nó: Chúa nhật cuối cùng của Năm Phụng vụ, thay vì như trước đó, Đức Pi-ô XI để vào CN trước ngày Lễ Các Thánh 01/11).

Không bút mực nào có thể kể hoặc ghi lại cho hết được những điều mà Đức Vua Giê-su đã nói, đã dạy và đã làm, thật đúng như lời Gio-an Thánh sử: “Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực. Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.” (Ga 21, 24-25). Rõ ràng Vua Giê-su là một vị Vua không ngai vàng, nhưng Vương Quốc của Người được xây dựng và hoàn thành trong sự chết và phục sinh để cứu độ nhân loại. Vương Quốc của Người bao trùm lên tất cả muôn loài (“cả trên trời đưới đất và trong nơi âm phủ”). Vương Quốc của Người chính là Vương Quốc Tình Yêu vậy.

Ôi! Xin cho con không đui mù trước những thảm cảnh nơi trần thế, xin cho con khỏi câm điếc trước những bất công đày đoạ con người, và nhất là xin cho con được mở rộng trái tim hèn yếu của con, hằng ngày kín múc Tình Yêu chan chứa nơi Ngài, để con biết đến với anh em của con bằng cách san sẻ nguồn Tình Yêu vô tận đó. Ôi, lạy Đức Vua Tình Yêu! Xin cho con luôn được sống trong cuộc sống “vui với người vui và khóc với kẻ u sầu”.

Ôi! “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã muốn quy tụ muôn loài dưới quyền lãnh đạo của Đức Ki-tô là người Con mà Chúa hằng ưu ái, và là Vua toàn thể vũ trụ. Xin cho hết mọi loài thọ sinh đã được cứu khỏi vòng nô lệ tội lỗi biết phụng thờ Chúa là Đấng cao cả uy linh và không ngớt lời ngợi khen chúc tụng. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.” (Lời nguyện Nhập lễ, lễ Đức Giê-su Ki-tô Vua vũ trụ).

 

.

 

CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Cách đây hơn hai ngàn năm, một bị cáo bó buộc phải đứng trước công đường của một vị quan tổng trấn. Hai người gặp nhau lần đầu, mặc dù đã nghe nói về nhau. Philatô, người tượng trưng cho quyền lực trần thế, Đức Giêsu, người đại diện cho quyền bính trên cao. Cuộc gặp gỡ này vừa là một vụ án, vừa là một vở kịch. Người sát hạch cũng là người bị hỏi, bên bị cáo cũng là người thẩm vấn. Dưới cái nhìn của tác giả Tin Mừng thứ tư, sự đổi vai giữa hai nhân vật mang đầy ý nghĩa.

“Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Một câu hỏi kỳ lạ, thậm chí vô duyên. Có lẽ nào người hiện diện trước mặt ông là một vị vua mà lại không được ông, một vị tổng trấn uy quyền, biết đến? Có lẽ nào một vị vua lại trong bộ dạng tiều tuỵ, bầm dập vì đòn như thế? Những điều đó cho thấy Đức Giêsu không phải là một vị vua theo quan niệm thế gian. Vương quốc của Người không phải ở thế gian này, như chính Người đã tuyên bố.

Hai ngàn năm đã qua sau vụ án, hôm nay vẫn có những người đang đặt câu hỏi mang tính thách thức như Philatô về vương quốc của Chúa, nhưng ngược lại, vẫn có biết bao người đang kiếm tìm vương quốc ấy, và cũng có vô số tín hữu sẵn sàng đổ máu đào vì vương quốc kỳ diệu này.

“Vậy ông là vua sao?” Lại một lần nữa, Philatô buông một câu hỏi vô nghĩa. Trước câu hỏi này, Đức Giêsu cũng không đưa ra một câu trả lời trực tiếp. Người nói: “Chính ngài nói rằng tôi là vua”. Tiếp đó, Người minh định rõ ràng chức năng vương hoàng của Người, đó là chức năng làm chứng cho sự thật. Vậy là đã rõ, vương quốc của Chúa là vương quốc của sự thật, mà sự thật thì không bị xiềng xích. Sự thật cũng như trái tim, không bị chi phối bởi sắc tộc, ngôn ngữ hay thế mạnh quân sự. Sự thật đã và đang đem lại chiến thắng cho con người.

“Nước tôi không thuộc chốn này”. Đức Giêsu nhấn mạnh hai lần điều này. Người không muốn để cho Philatô hiểu về chức vương hoàng của Người theo kiểu thế gian. Không chỉ Philatô, mà suốt bề dầy của lịch sử, những ai muốn quan niệm hoặc trình bày tước vị “Vua” của Đức Giêsu theo kiểu trần thế đều bị thất bại. Đã có thời trong khá nhiều người, kể cả một số vị lãnh đạo, mang quan niệm sai lầm về sức mạnh của Giáo Hội, khi họ cho rằng Giáo Hội mạnh mẽ nhờ thế lực trần gian hoặc do sức mạnh của đồng tiền. Quan điểm ấy đã chuốc lấy những bài học chua cay. Đức Giêsu tuyên bố chức năng vương hoàng của Người vào lúc Người bị điệu ra trước pháp đình. Qua đó, người muốn khẳng định rõ: Người làm vua để phục vụ và trao gửi yêu thương. Sau bao thế kỷ, Giáo Hội cũng đã ngộ ra rằng sức mạnh của Giáo Hội không đến từ quyền lực trần thế, mà là đến từ Đấng chịu đóng đinh. Cộng đoàn tín hữu tiên khởi, mặc dù phải đối diện với biết bao khó khăn do thù nghịch đến từ phía người Do Thái và nhà cầm quyền La Mã, nhưng vẫn tăng trưởng, vì họ tìm được sức mạnh nơi Đấng đã chịu đóng đinh trên thập giá, đã chịu chết và đã Phục Sinh.

Khi mừng lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ, Phụng vụ muốn nhắc cho chúng ta về khái niệm “vương quyền” của Đức Giêsu. Vương quốc của Người đã được khởi đầu ở trần gian này rồi, như lời rao giảng của Chúa khi khởi sự công cuộc loan báo Tin Mừng: “Thời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã gần đến. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Tuy thế, vương quốc của Chúa vẫn chưa được thực hiện, mà sẽ thành toàn vào thời điểm Chúa muốn. Sự thành toàn của vương quốc Thiên Chúa sẽ được thực hiện trong tương lai, lúc ấy, Con Người sẽ từ mây trời ngự đến, thống trị vinh quang mãi mãi (Bài đọc I). Tác giả sách Khải Huyền (Bài đọc II) nhắc chúng ta: chính Chúa Giêsu, vị Chứng Nhân trung thành, sẽ đến trong vinh quang vào ngày tận thế để xét xử con người. Như thế, hình ảnh “Con Người” mà ngôn sứ Đanien đã được chiêm ngưỡng, đã được các Kitô hữu từ thuở ban đầu áp dụng cho Chúa Giêsu. Người là Vua vũ trụ và là Đấng thống trị lòng người bằng tình yêu.

Năm phụng vụ chấm dứt với Chúa nhật hôm nay. Đây là dịp chúng ta cũng được mời gọi suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời. Là con dân của Nước Chúa, người tín hữu phải nỗ lực thực thi tình bác ái và xây đắp an bình, vì Nước Chúa là nước của bình an, nhân ái, chan hòa tình Chúa tình người. Khi cố gắng thực thi lời Chúa dạy là chúng ta làm cho vương quốc của Chúa mau trị đến.

Tuyên xưng Chúa là Vua, chúng ta cũng muốn thuộc trọn về Người. Tấm “hộ chiếu” của vương quốc vĩnh cửu chính là đức tin vững vàng, đức cậy trung tín và đức mến thiết tha. Chúa sẽ nhận ra chúng ta, qua việc thiện chí sống và thực thi những nhân đức này.

 

.

LÀM VUA LÀ LÀM CHỨNG

Gm. Giuse Vũ Duy Thống

Không còn nữa hình ảnh của những vì vua oai phong lẫm liệt như trong chế độ quân chủ ngày nào, nhưng thay vào đó là một lớp những nhà vua mới lên ngôi thần tượng, không ngai vàng mà nhiều khi cũng đầy uy lực: vua dầu hoả, vua xe hơi, vua trò chơi, vua bóng đá. Mỗi thời có những kiểu đăng quang riêng, và mỗi lĩnh vực cũng có những nhà vua riêng của mình.

Thuật ngữ “Vua” xem ra đã có nhiều biến thể. Phổ cập hơn nhưng cũng mong manh hơn, thời sự hơn và cũng đời thường hơn. Trong bối cảnh đó, lễ Chúa Kitô Vua lại trở về, vừa khép lại năm Phụng Vụ cũ vừa mở sang năm Phụng Vụ mới. Phải chăng đây cũng chỉ là một lễ đăng quang tương tự như các nhà vua trần thế? Hay là một lễ của niềm tin yêu hy vọng vào Chúa Kitô – Đấng làm Vua bằng cách làm chứng, hiến thân đến cùng trong tình yêu để mở ra triều đại cứu độ?

1) Chúa Kitô không làm Vua như những vua trần thế.

Có lẽ khi tự ý cho treo tấm bảng “Giêsu Nagiarét Vua dân Do Thái” lên đầu Thập giá, Philatô đã không nghĩ đến điều gì khác ngoài lợi thế chính trị cho ông, bất kể phải chơi khăm những người Do thái, nhưng có một điều ông không bao giờ nghĩ tới, mà điều đó lại thật quan trọng trong lợi thế đức tin của người Công giáo, đó là tấm bảng kia trong ý định của Thiên Chúa lại là một tuyên xưng không thể xoá nhoà.

Chúa Kitô không chỉ làm Vua một thời, mà là Vua vĩnh cửu. Dù trong đời sống công khai, có lần Người đã nặng lời quở trách Phêrô khi ông này chỉ muốn thấy nơi Người hình ảnh của một Đấng Messia dễ dãi đồng nghĩa với vị vua phàm trần, và Người cũng đã từng trốn chạy khỏi đám đông cuồng nhiệt khi họ muốn bắt Người làm vua sau phép lạ hoá bánh nhiều. Nhưng, trước mặt Philatô, Người đã công khai tuyên bố mình là Vua, để rồi trên Thập giá, chính lúc tưởng rằng chết đi, Người cho thấy mình còn sống mãi, và chính khi tưởng rằng bị huỷ diệt, Người cho thấy mình vẫn muôn thuở tồn tại. Thời gian là đại lượng dành cho những vị vua trần thế, còn Người vượt trên thời gian để mãi mãi là vị Vua vĩnh cửu.

Chúa Kitô không chỉ làm Vua dân Do thái mà là Vua phổ quát. Với cái chết của Người trên Thập giá trong tư cách Đấng Cứu Thế, một dân mới đã được khai sinh không phải giới hạn trong một vùng lãnh thổ địa lý mà đã mang lấy tầm vóc của cả thế giới vũ hoàn. Trong máu của Người, giao ước mới phổ quát đã hình thành vượt trên giao ước cũ vốn giới hạn nơi dân Do thái. Và trong công cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, những gì cũ phải qua đi để nhường chỗ cho một triều đại mới vượt trên tất cả.

Người là Vua phổ quát vì Nước Người chẳng thuộc trật tự trần thế. Người là Vua vũ trụ bởi chính Người là Thủ Lãnh sẽ quy tụ mọi sự về một mối: “Khi nào Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi sự lên cùng Ta”.

Và nếu theo nhãn giới của bài đọc thứ nhất và thứ hai với hình ảnh của “Đấng đến giữa mây trời” thì vương quyền của Chúa Kitô đã khác xa một trời một vực so với các vương quyền trần thế khác. Vương quyền trần thế dẫu có lan tràn khắp mặt đất cũng vẫn có thể đo lường được, còn vương quyền của Chúa Kitô vì vượt trên tất cả nên cũng vô phương dò thấu. Người là Vua muôn Vua.

Không phải vô tình mà phiên toà lễ Vượt Qua đã đặt Chúa Giêsu đối diện với Philatô, mà chính trong tư thế đối diện cộng với những đối chất qua lại đã làm nổi bật lên cái nghịch lý mầu nhiệm của Giờ Tử Nạn. Vào chính lúc quyền bính thế gian xem ra thắng thế còn quyền bính trời cao dường như hạ bệ, thì Chúa Giêsu đã tuyên bố mình là Vua. Lời tuyên bố như thế lẽ ra đẩy Philatô vào thế đối thủ, nhưng – Chúa Giêsu đã nhanh chóng khẳng định Nước Người chẳng thuộc trật tự chính trị thế gian, nên Tổng trấn Rôma dầu quyền uy là thế vẫn chỉ là chiếc bóng mờ nhạt đứng đó trong vai trò của một đối chứng hơn là một đối thủ để làm nổi bật lên dung mạo của Chúa Giêsu – Vua muôn Vua. Hơn nữa, bởi Philatô là một người ngoại nên tầm vóc của lời tuyên bố kia đã vượt xa giới hạn đạo giáo để trở thành phổ quát cho cả muôn người. Và hệ luỵ là quyền bính Philatô bởi thuộc về thế gian nên cũng qua đi với thế gian, còn vương quyền Chúa Kitô vẫn tồn tại mãi bởi thuộc về trật tự tâm linh để không gì có thể đặt giới hạn cho Người. Người là Vua vĩnh cửu.

2) Chúa Kitô làm Vua bằng cách làm chứng.

Dẫu vào Giờ Tử Nạn, Chúa Giêsu mới tuyên bố mình là Vua để khởi đầu cho một triều đại mới trong “sự thật và sự sống, thánh thiện và ân sủng, công chính, yêu thương và an bình” (Kinh Tiền Tụng), nhưng thực ra đó chỉ là đỉnh cao của một đời lựa chọn và là điểm đến của một quá trình thực thi sứ mệnh làm chứng cho sự thật: “Tôi sinh ra và đến thế gian là để làm chứng cho sự thật”. Nếu sự thật là chính Thiên Chúa, là thực tại thần linh, là “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một mình” như một kiểu nói của thánh Gioan hoặc là ơn cứu độ, thì trót cuộc đời của Chúa Giêsu là một công cuộc liên lỉ minh chứng.

Qua Nhập Thể, Người đã mang lấy bộ mặt đớn hèn của cả nhân loại. Qua Tử Nạn, Người đã nhận vào mình thân phận loài người tội lỗi. Qua Thập giá, Người đã sẵn sàng chấp nhận cái chết để cứu độ toàn thế giới. Và đỉnh cao Phục Sinh tôn vinh chỉ có được khi Người đã trải qua nẻo đường Thương Khó đến cùng trong số phận của “Người Tôi Tớ đau khổ”.

Rõ ràng là nơi Đức Kitô, làm Vua có nghĩa là làm chứng và làm chứng không chỉ bằng lời mà bằng chính cuộc đời của Người, trải dài từ Nhập Thể qua Tử Nạn cho đến Phục Sinh. Nói cách khác, làm chứng cho sự thật cũng là sống và chết cho sự thật ấy, và làm chứng cho hiện thân của Thiên Chúa ở giữa thế gian cũng chính là sống và chết để cho hiện thân tình thương được triển nở cách hiện thực sống động và viên thành.

Thảo nào vương quốc và vương quyền của Chúa Kitô thật khác lạ. Chẳng cần đến lực lượng để mà thiết lập, chẳng cần đến vũ lực để mà cai trị, cũng chẳng cần đến quân sự để mà bảo tồn. Như vậy, điều mà mọi vị vua trần thế mong ước là trải dài vương quốc trong không gian và thời gian, thì chỉ duy Chúa Kitô mới thực hiện được, không phải bằng vũ trang mà là bằng một tình thương không mệt mỏi hiến thân làm chứng cho sự thật. Và đó là phương thế duy nhất để thiết lập một Vương quốc phổ quát và vĩnh cửu.

Trong ý hướng ấy, bài đọc thứ hai là một tiến trình mạch lạc không thể đảo ngược: chỉ khi nào sống trọn vai trò chứng nhân trung thành, Đức Kitô mới nên Trưởng Tử kẻ chết và làm Vua muôn vua.

3) Ai thuộc về sự thật thì nghe Đức Kitô.

Đức Kitô, Người làm Vua như thế đó. Nên mục đích của Thánh lễ hôm nay đối với mọi kẻ tin là: “tôn vương” Chúa Kitô trong cuộc sống của mình.

Thực ra thì cử hành lễ Chúa Kitô Vua vào Chúa Nhật cuối năm Phụng Vụ cũng nói lên niềm tin vào vương quyền Chúa Kitô như tinh thần của Thông điệp Quas Primas mà Đức Piô XI đã ban hành ngày 11 tháng 12 năm 1925, nhưng niềm tin vốn là một sự sống, nên chỉ khi thể hiện niềm tin bằng cuộc sống, tín hữu mới có thể an lòng là thần dân trong Vương quốc của Đức Kitô.

Không thể nhận mình là dân của Vua Kitô trong khi cuộc sống cá nhân và gia đình lại nghiêng theo lối sống thế tục làm vẩn đục vũ trụ quan Kitô giáo, dần dà xa rời Giáo Hội và có nguy cơ chối bỏ vương quyền Chúa Kitô mà không hay biết.

Cũng không thể nhận mình ở trong Vương Quốc của Đức Kitô mà hằng ngày một cách nào đó mình vẫn dửng dưng với sự hiện diện của Người trong cuộc sống con người như coi thường nhân phẩm, khinh rẻ người nghèo… càng không thể nhận mình sống trong Vương Quốc Đức Kitô khi mà cuộc sống chung riêng vẫn gây ra những oán thù, ghen ghét, gian tham, bất công, gương xấu, tội lỗi…

Càng không thể nhận mình thuộc về vương quyền của Đức Kitô khi mình chưa thực sự hiến thân một cách nào đó để thể hiện tinh thần chứng nhân. Đức Kitô đã lấy cái chết để làm chứng, Kitô hữu cũng phải đi vào lối sống hy sinh mới có thể trở thành chứng nhân cho đức tin được. Đừng quên, chứng nhân có nghĩa là tử đạo và sống đạo một cách anh hùng cũng chính là chứng nhân.

Nhưng ai thuộc về sự thật thì nghe Đức Kitô và ai thuộc về Đức Kitô thì hãy để Người sống và lớn lên trong cuộc đời mình và chấp nhận để Người biến đổi toàn diện. Đồng thời, chính mình cũng cần nỗ lực “làm chứng” sao cho niềm tin luôn luôn vươn lên, mà cũng không quên nhiệt tình tông đồ là làm cho những người lân cận nhận biết và tin yêu Chúa Kitô nữa. Như thế là tin vào vương quyền Chúa Kitô, là “tôn vương” Chúa Kitô trong cuộc sống của mình và cũng là cùng với mọi người tích cực hoạt động cho công cuộc truyền giáo nhằm “quy tụ mọi sự trong Chúa Kitô”.

Ở Bãi Sau Vũng Tàu, có một tượng Chúa Kitô Vua thật lớn dựng trên triền núi quay mặt ra biển, đôi tay giang rộng như ôm lấy cả trùng dương. Ngư dân quanh đó kể lại rằng những khi ra khơi, họ vẫn căn cứ vào đó để mà định hướng đi về, và nhiều lần sóng gió họ cũng hướng về đó để mà cầu nguyện xin ơn bình an.

Giữa trùng dương cuộc sống, Kitô hữu biết rằng Chúa Kitô vẫn luôn hiện diện như một chuẩn đích để định hướng tin yêu hy vọng. Xin Người cũng làm Vua quy tụ mọi sự trong Vương Quốc vĩnh cửu của Người.

Lạy Chúa Kitô, cùng với Giáo Hội, hôm nay chúng con lặp lại niềm tin của mình vào Vương Quyền của Chúa. Xin chúc lành cho những ước nguyện chúng con dâng lên, để khi quyết tâm xa lìa tội lỗi và sống thánh thiện, chúng con được trở nên chứng nhân cho Chúa giữa lòng xã hội. Chúa là Đấng hằng sống hằng trị muôn đời. Amen.

 

.

VUA SỰ THẬT

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Chúa Giêsu thật là ngược đời. Khi làm phép lạ cho bánh hoá ra nhiều, dân chúng hân hoan phấn khởi, muốn tôn Ngài làm vua thì Ngài không muốn. Ngài phản đối bằng cách trốn đi. Cũng như hôm vinh quang vào thành Giêrusalem, dân chúng hân hoan, cởi áo lót đường, cầm cành lá phất phơ đón chào. Hôm ấy mà Chúa xưng vương thì quá thuận lợi. Thế mà Chúa phản đối bằng cách cỡi con lừa bé nhỏ, yếu ớt. Còn hôm nay, phận tội đồ đứng trước mặt quan án, bị dân chúng khinh khi chối bỏ, thân tàn ma dại, chẳng còn hình tượng con người nữa, thì Ngài lại hiên ngang xưng mình là vua. Chẳng phải vô tình, nhưng là cố ý. Hôm nay, đối diện với cái chết, đối diện với quyền lực và đối diện với sự hận thù, Chúa Giêsu muốn xưng vương trong hoàn cảnh này để làm chứng cho sự thật.

Sự thật mà Đức Giêsu làm chứng đó là có một vương quốc khác, vượt xa mọi vương quốc trần gian. Khi tự nguyện chấp nhận cái chết, Đức Giêsu muốn cho ta hiểu: Ngoài cuộc đời này còn có một cuộc đời khác. Ngoài thế giới này còn có một thế giới khác. Đó là vương quốc của Chúa. Đó là Nước Trời. Vương quốc ấy là vương quốc sự sống vì sẽ không còn bóng dáng cái chết. Khi còn ngày rộng tháng dài, Đức Giêsu không xưng vương. Nay cận kề cái chết Ngài mới xưng vương để dạy cho ta biết vương quốc của Ngài “không thuộc thế gian này”. Sự sống trần gian này chẳng đáng giá gì so với sự sống trong Nước Chúa. Vì thế muốn vào được vương quốc của Chúa, phải biết từ bỏ tất cả, kể cả mạng sống nữa.

Sự thật mà Đức Giêsu làm chứng đó là quyền năng của Chúa là trên hết. Khi một mình yếu đuối nhưng vẫn hiên ngang đối diện với Philatô tượng trưng cho quyền lực của đế quốc La mã bao trùm thiên hạ, Đức Giêsu muốn cho ta hiểu rằng Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi quyền năng như Ngài đã trả lời Philatô: “Ông có quyền không bởi tự mình mà có, nhưng từ thành công ban cho”. Thánh nữ Xêxilia cũng nói: “Quyền uy ở đời giống như quả bong bóng. Nó không triển nở ở tự nó. Nó không tự mình tròn trịa được. Phải nhờ đến không khí. Nhưng chỉ một mũi kim cũng làm nó xẹp xuống”. Quyền uy trần gian mau tàn. Chỉ có quyền năng của Thiên Chúa mới bền vững. Chính vì thế Đức Giêsu không xưng vương khi tràn đầy uy tín, khi được dân chúng ngưỡng mộ. Vì nếu Ngài xưng vương khi được dân chúng tung hô vạn tuế, khi làm những việc kỳ lạ lớn lao, khi tràn đầy uy tín, thì vương quyền ấy chẳng hơn gì vương quyền của vua chúa trần gian khác. Nhưng hôm nay, khi mất hết mọi uy tín, không còn ai tung hô ủng hộ, Đức Giêsu xưng vương để cho ta thấy Ngài siêu thoát mọi quyền lực và vinh quang theo thói thế gian. Ngài chỉ trông cậy vào quyền năng của Thiên Chúa. Vì thế những ai muốn vào vương quyền của Ngài phải biết coi thường mọi vinh quang quyền thế ở trần gian.

Sự thật mà Đức Giêsu làm chứng đó là tình thương chiến thắng thù hận. Khi một mình đối diện với những ghen ghét thù hận của đám đông, Đức Giêsu muốn dạy ta biết Thiên Chúa là tình yêu. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa trên trần gian. Vì yêu thương mà Ngài đã xuống trần gian. Ngài đã yêu thương cho đến chết vì yêu. Đó là tình yêu lớn lao nhất như lời Ngài nói: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu”. Dù những thù hận vây bọc, nhưng Đức Giêsu vẫn yêu thương. Hôm nay đơn thân độc mã trong vòng vây của hận thù, Đức Giêsu vẫn xưng vương để cho ta thấy: tình yêu thương đã chiến thắng. Hận thù đem lại chết chóc, chỉ có tình yêu thương mới cứu được thế giới.

Đức Giêsu đã chiến thắng. Ngài là Đấng đầu tiên từ trong kẻ chết sống lại. Với chiến thắng, Đức Giêsu mở cửa vương quốc của Ngài. Đó là vương quốc của Sự Thật. Chỉ những ai thuộc về sự thật mới được vào. Và những ai thuộc về sự thật phải biết chiến thắng sự giả trá. Sự giả trá đó là sự chết, đó là những vinh hoa phú quý trần gian và đó là lòng thù hận ghen ghét. Hiểu biết sự thật, đập tan sự dối trá, ta mới tiến vào Nước Sự Sống theo bước Đức Giêsu Kitô. Với chiến thắng Ngài thật sự là Đường dẫn đến Sự Thật và Sự Sống muôn đời.

Lạy Đức Giêsu là Vua của chúng con, xin cho chúng con được làm dân của Chúa, được thuộc về Nước Chúa, nước đầy tràn Sự Thật và Sự Sống, nước công chính và tình yêu muôn đời.

GỢI Ý CHIA SẺ

1- Chúa Giêsu cho biết gì về vương quốc của Chúa?

2- Chúa Giêsu cho biết gì về quyền năng của Chúa?

3- Chúa Giêsu cho biết gì về cuộc chiến giữa tình thương và thù hận?

4- Muốn sống trong vương quốc của Chúa, ta phải làm gì?

 

.

CHÚA GIÊSU LÀ CHÂN LÝ

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Con người ngày nay thường sai lầm khi « thả mồi bắt bóng ». Họ thiếu trân trọng những gì mình đang có để rồi chạy theo những cái ngoài tầm tay. Có người bỏ vợ con để chay theo những cuộc tình bất chính. Có người ngược đãi cha mẹ vợ con lại mất thì giờ lấy lòng người dưng. . .
Tôi từng thấy có một người đàn ông thích bồ bịch lăng nhăng. Anh ta cứ sống với hết phụ nữ này đến phụ nữ khác, nay đã xế chiều thì không ai chứa chấp và phải về sống với mẹ đẻ. Đứa con gái đã lớn, cũng sắp lập gia đình. Một lần cháu buột miệng bảo: “Mẹ ơi, bố mình thật khổ, có nhiều vợ mà cuối cùng chẳng có nhà để ở”. Đấy là kết cục của những người nhẫn tâm chối bỏ vợ con mình, chỉ biết nghĩ đến dục vọng bản thân.
Có một người vợ trẻ nói với tôi chị đang quen với một người đàn ông đã có vợ. Anh ta rất tốt với chị đến nỗi chị chỉ muốn bỏ chồng theo anh ta. Tôi nói rằng : nếu chị đang sống yên ổn hạnh phúc với gia đình thì nên chấm dứt quan hệ với người ấy và đừng tự chuốc lấy phiền phức vào mình khi « thả mồi bắt bóng ». Đôi khi trong cuộc đời ai cũng có những lúc « đứng núi này trong núi kia » nhưng chưa chắc « cỏ ở đồi bên ấy xanh hơn ».
Quả thực con người ngày nay rất khó tìm giá trị thực của cuộc sống. Cuộc sống luôn thả những con mồi khiến ta cứ lao theo con mồi mà đâu biết rằng đó chỉ là ảo ảnh, là giả dối, là hạnh phúc mau qua. Có biết bao người như say máu chạy theo danh lợi thú trần gian nhưng rồi họ không bao giờ toại nguyện với những cái mình đang có. Có cả những người dùng thủ đoạn bất chính để bắt bóng phù hoa nhưng chỉ thấy những ngổn ngang đau khổ dằn vặt lương tâm.
Cuộc sống là đi tìm hạnh phúc. Hạnh phúc không ở những con mồi danh vọng, quyền lực, tiền tài, dục vọng. Hạnh phúc hệ tại ở chân lý, ở sự thật. Khi ta sống theo lẽ phải, theo sự thật lương tâm thì ta mới có niềm vui nội tại tâm hồn.
Hôm nay, Chúa Giê-su bảo con đường tìm hạnh phúc của Ngài là yêu thương phục vụ. Chính cuộc sống Ngài mới là Đường, là Chân Lý để chúng ta noi theo. Cuộc đời Ngài luôn sống vì tha nhân. Ngài luôn tìm kiếm niềm vui trong phục vụ. Ngài sống để trao ban. Trao ban đến giọt máu cuối cùng.
Cuộc sống của Ngài đã cho chúng ta hiểu hơn về giá trị cuộc sống. Con người chỉ có giá trị với xã hội và gia đình khi biết sống yêu thương và phục vụ. Càng phục vụ giá trị người phục vụ không mất đi mà xem ra lại càng tăng thêm. Chính Chúa Giê-su còn quả quyết : Ngài làm vua nhưng không ở trên ngai cho người khác phục vụ mà Ngài sẵn lòng cúi mình phục vụ hết mọi phận người.
Cuộc sống đã cho ta rất nhiều cơ hội để phục vụ. Phục vụ để mang lại niềm vui hạnh phúc cho gia đình. Phục vụ mang lại cho xứ đạo ngày một phát triển. Phục vụ cho dân tộc mỗi ngày một thịnh vượng hơn. Phục vụ chứ không đòi người khác phục vụ sẽ giúp ta không nhẫn tâm thiếu trách nhiệm với gia đình để đi tìm niềm vui cho bản thân. Phục vụ vô vị lợi sẽ giúp ta biết từ bỏ hạnh phúc của riêng mình để sống có trách nhiệm với tha nhân.
Xin Chúa giúp chúng ta biết nâng cao giá trị cuộc sống bằng đời sống hy sinh phục vụ. Sống cho tha nhân hơn là đòi hỏi nơi tha nhân. Biết sống như ai đó nói rằng : bạn đừng nghĩ người khác đã làm gì cho bạn, nhưng bạn hãy nghĩ bạn đã làm gì cho tha nhân. Chính lối sống ấy sẽ giúp ta biết dấn thân một cách quảng đại để xây dựng hạnh phúc cho gia đình và xã hội.
Ước gì chúng ta cũng trở nên một nhân chứng cho chân lý khi biết sống hết mình vì tha nhân. Amen.

 

.

CHÚA GIÊSU KITÔ LÀ VUA VŨ TRỤ

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Ngày lễ tuyên thệ nhậm chức của tổng thống Hoa Kỳ là một đại lễ, cũng là một biến cố lịch sử của quốc gia, được nhiều người theo dõi. Trong ngày đó, sau những lời tuyên thệ nói lên tự do, quyết tâm và lòng trung thành tuyệt đối với tổ quốc, tổng thống có một bài phát biểu hết sức quan trọng để ngỏ lời với toàn thể quốc dân, cũng như nói lên những quan tâm và mục tiêu mà ông sẽ theo đuổi. Có lẽ chỉ có cuộc nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ là cuộc lễ được thế giới quan tâm nhiều nhất, vì tổng thống Hoa Kỳ là người có ảnh hương lớn nhất trên thế giới. Mặc dù là một quốc gia dân chủ, tổng thống không phải là vua, nhưng ông lại là một trong những người quyền lực nhất thế giới không khác gì một vị vua ngày xưa.

Hôm nay, Kinh Thánh cũng kể về một ngày lễ đăng quang của một vị vua trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Vị vua này dõng dạc tuyên bố: Tôi là Vua, trong khi hai tay đang bị trói, thân hình đã bị bầm giập vì những trận đòn. Đó chính là Vua Giêsu mà chúng ta tôn vinh Ngài là Vua Vũ Trụ. Trong ngày Chúa Giêsu tuyên bố Ngài là vua, thì trước mặt Ngài không phải là cử tri ủng hộ, mà là một đám dân đang điên cuồng gào thét đòi giết Ngài. Bên cạnh Ngài không phải là những vị quan cận thần, mà là Philatô, kẻ đang hạch hỏi Ngài, và những đám lính hung tợn đã đánh đập Ngài. “Bài diễn văn” nói lên mục tiêu của Ngài không phải là những hứa hẹn về đường lối chính trị, kinh tế, nhưng là làm chứng cho Sự Thật. Trong khi đó, người Do Thái la hét phản đối vì họ không chấp nhận Chúa là vua của họ.

Chúa Giêsu không phải vị vua quyền lực theo kiểu thế gian, nhưng Ngài là Vua vũ trụ. Ngài là vua vì chính Ngài là Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên vũ trụ và muôn loài muôn vật. Ngài đã dựng nên vũ trụ từ hư vô, Ngài còn tiếp tục quan phòng và điều khiển vũ trụ theo một trật tự lạ lùng kỳ diệu. Ngài nắm giữ giềng mối sự sống của hết mọi vật mọi loài, Ngài “buông tay” ra, mọi vật sẽ trở về hư không. Chính vì thế, Ngài là Vua và muôn vật cùng cả vũ trụ này hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài.

Nếu như một vị vua trần gian là người có công đem lại tự do và hạnh phúc cho dân tộc và xây dựng nên quốc gia, thì Vua Giêsu cũng thế. Khi cả nhân loại và vũ trụ chìm ngập trong đau khổ của tội lỗi và sự chết, Hoàng Tử Giêsu đã vâng lời Thiên Chúa Cha đến trần gian. Ngài loan báo cho nhân loại Tin Mừng giải thoát, Ngài cũng loan báo cho mọi người biết họ được Thiên Chúa là Cha yêu thương, và mỗi người phải sống tình con thảo với Thiên Chúa. Hoàng Tử Giêsu đã miệt mài xây dựng và mời gọi tất cả mọi người gia nhập vương quốc Nước Trời, trở thành công dân của Nước ấy. Ngài chỉ cho mọi người biết sống đúng với tư cách là công dân Nước Trời qua việc thực thi các điều luật của Tin Mừng và Hiến chương Nước Trời. Ngài đã cứu thế giới bằng cách chấp nhận cái chết trên thập giá và đã sống lại để tiêu diệt sự chết và quyền lực của ma quỷ, đem lại cho con người sự tự do của con cái Thiên Chúa. Sau khi phục sinh, Thiên Chúa Cha đã tôn vinh Ngài và đặt Ngài làm đầu và làm trưởng tử của mọi loài mọi vật.

Từ xưa đến nay, các vua chúa và chính quyền dân sự vẫn cứ sợ Chúa Giêsu tranh giành quyền lực của họ. Họ sợ Nước Trời làm ảnh hưởng đến quyền lực của họ, nhưng Chúa Giêsu không màng đến quyền lực thế gian, vương quốc của Thiên Chúa không bị giới hạn nơi con người trần thế. Tin Mừng Gioan cho thấy, đứng trước quyền lực của thế gian, lúc bị trói chặt tay, Chúa Giêsu đã khẳng định với Philatô : Nước tôi không thuộc về thế gian này. Chúa Giêsu còn giải thích cho thắc mắc của Philatô, khi ông hỏi Chúa : Vậy ông là vua sao ? Chúa đã trả lời : Như chính ông đã nói, tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích này là : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.

Chúa Giêsu là Vua sự thật, Vua công lý. Ngài đã nói lên sứ mạng của Ngài là làm chứng cho sự thật. Sự thật về một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo dựng và hết mực yêu thương con người. Ngài không bao giờ có thể bỏ rơi, ruồng rẫy con người mà Ngài đã dựng nên. Vua Giêsu loan báo về một sự thật là : Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình, để tất cả những ai tin Người Con ấy thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời. Người nói cho nhân loại biết về một Thiên Chúa luôn tìm kiếm con người, cho dù con người chống lại Ngài, lẩn trốn Ngài. Chúa Giêsu còn nói cho biết sự thật về tình trạng của con người đang bị tội lỗi, ma quỷ và dục vọng trói buộc. Con người đã để cho sự kiêu ngạo, của cải và quyền lực thế gian làm chủ, khiến họ trở nên mù loà và câm điếc trước lời mời gọi của Chúa. Chắc chắn Philatô sẽ không thể hiểu được và vì ông không thuộc về sự thật, nên không thể nghe được sự thật. Chỉ ai đứng về phía sự thật mới có thể nghe được lời của Vua Giêsu mà thôi.

Tôn vinh Chúa Giêsu là Vua vũ trụ là tôn Ngài làm chủ và làm Chúa trên cuộc đời mỗi người và trên toàn thể vũ trụ, đồng thời quyết tâm sống xứng đáng là công dân trong Nước của Ngài. Tuy nhiên trong thực tế, nhiều tín hữu đã không còn để cho Ngài làm chủ cuộc đời mình, khi họ muốn tự mình quyết định cho tương lai mà không cần sự trợ giúp của Thiên Chúa. Họ muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống và công việc khi họ không bao giờ nghĩ đến Chúa trong ngày, không đọc kinh cầu nguyện. Thánh lễ mỗi ngày là cơ hội để mỗi người bày tỏ lòng thần phục của mình với Vua Giêsu, nhưng có nhiều người lười biếng, từ chối hoặc không muốn đến với Ngài.

Có nhiều người, nhiều gia đình đã đặt tiền bạc, công việc, quyền lợi và cả các thần minh dân ngoại làm vua, làm chúa của mình. Họ dễ dàng quỳ gối, cúi đầu trước sức mạnh của các thứ vua vật chất mà bỏ qua giới răn lề luật của Vua Giêsu. Có nhiều người ngại ngần khi phải tỏ ra mình là công dân của Nước Trời, là thần dân của Vua Giêsu. Vì thế, họ không dám mạnh dạn sống làm chứng về sự thật. Là công dân của vương quốc sự thật, thần dân của Vua công lý nhưng nhiều người vẫn sống trong gian dối, gian dối với chính lương tâm của mình và gian dối với người khác.

Chúng ta đang sống trong một xã hội có quá nhiều sự gian dối, mỗi Kitô hữu sẽ phải là người đứng về phía sự thật, xây dựng một cuộc sống công bằng, yêu thương, bác ái. Hãy làm chúng về sự thật là Thiên Chúa yêu thương con người, Ngài muốn chúng ta sống trọn tình con thảo với Ngài. Làm chứng về Vua Giêsu là Đấng Cứu độ duy nhất, vì chỉ nhờ Ngài, chúng ta mới được giải thoát, được sống hạnh phúc. Hãy làm cho sự thật ấy được làn tỏa đến mọi ngõ ngách của cuộc sống. Hãy để cho sự thật đó chi phối toàn bộ đời sống và hoạt động của chúng ta và lan truyền đến với anh em chung quanh.

Nếu như chúng ta tự hào mình là người Việt Nam, thì cũng vậy, là Kitô hữu, công dân của Nước Trời, chúng ta hãy tự hào mình là công dân của Nước Chúa, là những người thuộc về Vua Giêsu. Hãy để cho vua Giêsu làm chủ cuộc đời, làm chủ gia đình và cả cuộc đời của mỗi chúng ta. Các vua chúa và thần tượng của thế gian sẽ có ngày xụp đổ, vì thế, đừng bao giờ để cho một thứ thần linh nào hoặc sức mạnh quyền lực nào khác làm chủ và sai kiến cuộc đời chúng ta.

Xin Chúa Giêsu làm Vua luôn mãi ngự trị trong tâm hồn, trong gia đình và trong cộng đoàn chúng ta và hướng dẫn chúng ta luôn sống xứng đáng làm thần dân của Ngài. Amen.

 

.

VUA CHÂN LÝ

Trầm Thiên Thu

Danh nhân Mahatma Gandhi (1869-1948), chính khách chủ trương bất bạo động và nhà lãnh đạo tinh thần của dân Ấn Độ, nhận định: “Đc hnh là nn tng ca mi th và chân lý là bn cht ca mđc hnh. Một câu nói rất thâm thúy, rất phù hợp với đạo làm người và cũng phù hợp với đạo giáo – đặc biệt là Công giáo.

Ông Gandhi còn xác định rạch ròi và chi tiết hơn: “Dù bn có là thiu s thì chân lý vn là chân lý. Công cuc theo đui chân lý không cho phép bo lc vi đi phương. Sai lm không tr thành chân lý vì lý l ca vô s cách tuyên truyn, chân lý cũng không tr thành sai lm vì không ai thy nó. Tôn giáo ca tôi da trên chân lý và bt bđng, chân lý là Chúa ca tôi, bt bđng là cách đ nhn biết Người. Cách sống của ông rất gần với giáo huấn yêu thương của Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng ta.

Thế mà, khi xét xử Chúa Giêsu, ông Philatô đã hỏi Ngài: “S tht là gì? (Ga 18:38). Ông ta thực sự không biết hay là cố ý giả nai? Chúng ta có bao giờ “đặt vấn đề” như ông Philatô? Có đấy, nhưng với kiểu cách “tinh vi” hơn! Người Việt nói là “giả nai” hoặc “ngây thơ cụ”.

Theo chế độ quân chủ, vua là người có quyền tối thượng, cho sống thì được sống, bắt chết thì phải chết, thế mới là trung thần: “Quân x thn t, thn bt t bt trung. Mọi thần dân đều vui nhận mọi mệnh lệnh của nhà vua, vì được nhận chiếu chỉ của vua là niềm hãnh diện, và người ta còn gọi chiếu chỉ là “thánh chỉ”, tất nhiên không loại trừ mệnh lệnh bắt phải chết.

Chúa Giêsu là Vua các vua, Chúa các chúa, tự hữu và hằng sinh, vua chúa trần gian chỉ là “hạt bụi” dưới chân Ngài mà thôi. Thế nhưng Ngài lại giàu lòng thương xót, thích tha thứ chứ không thích kết án ai. Thật lạ, khi Chúa Giêsu đứng trước Philatô, một người đầy uy lực, còn Chúa Giêsu khi đó chỉ như một tội đồ, thế mà Ngài vẫn thản nhiên nói thẳng với tổng trấn đó: “Ông không có quyn gì đi vi tôi, nếu Tri chng ban cho ông (Ga 19:11).

Trình thuật Ðn 7:13-14 cho biết một trong những thị kiến ban đêm của ngôn sứ Đa-ni-en: “Tôi mi nhìn thì kìa: có ai như Con Ngườđang ng giá mây tri mà đến. Người tiến li gn bêĐng Lão Thành và được dđưa ti trình din. Đng Lão Thành trao cho Người quyn thng tr, vinh quang và vương v; muôn người thuc mi dân tc, quc gia và ngôn ng đu phi phng s Người. Quyn thng tr ca Người là quyn vĩnh cu, không bao gi mai mt; vương quc ca Người schng h suy vong.

Chỉ có hai câu, ngắn gọn nhưng súc tích nói rõ về Vua Chân Lý, cũng là Hoàng Tử Bình An, Vua Công Lý, Vua Tình Yêu, Chúa Tể Càn Khôn. Nhưng có điều đặc biệt, Vị Vua này là Hoàng-Đế-ba-không: KHÔNG đăng quang, KHÔNG ngai vàng, và KHÔNG được tiền hô hậu ủng. Chắc chắn không một vị vua chúa nào “độc đáo” như Ngài và cũng không có uy quyền như Ngài. Thật hạnh phúc khi chúng ta được nhận biết Ngài và tôn thờ Ngài!

Thật vậy, tác giả Thánh Vịnh xác định: “Chúa là Vua hin tr, Chúa mc oai phong ta cm bào, Người ly dũng lc làm câđai. Chúa thiết lđa cu, đa cu không lay chuyn. Ngai vàng Chúa kiên c t ngàn xưa: Ngài hin hu t muôn ngàđi (Tv 93:1-2). Vâng, quả nhiên là chúng ta không thể không chia sẻ với người khác khi chúng ta có một Đức Chúa như vậy, ngay cả những vật vô tri cũng chợt nhận biết và rồi chúng không thể im lặng: “Tri xanh tường thut vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo vic tay Người làm. Ngày qua mách bo cho ngày ti, đêm này k li vđêm kia (Tv 19:2-3).

Thiên Chúa là Đấng siêu việt nên mọi thứ khác bởi Ngài cũng hoàn toàn siêu việt: “Ly Chúa, thánh ch Ngài tht là bn vng, nơđn vàng rc lên toàn thánh thin trin miên qua mi thi (Tv 93:5). Đó là một sự thật minh nhiên, vĩnh hằng, không ai có thể chối cãi. Nếu có ai chối bỏ thì chỉ là tự lừa dối chính họ mà thôi.

Thiên Chúa quan tâm chăm sóc các thụ tạo của Ngài rất chu đáo, Ngài muốn chúng ta đồng hưởng vinh quang với Ngài đời đời. Tuy nhiên, trước đó thì chúng ta được “thanh luyện” trên thế gian với quyền tự do mà Ngài đã ban cho chúng ta. Vâng, chúng ta được hoàn toàn tự do chứ hề không bị ép buộc.

Thánh Gioan viết thư gửi bảy Hội Thánh Axia và đề cập việc làm chứng nhân của Đức Giêsu Kitô: “Xin Đng hin cóđã có và đang đến, xin by thn khí hin din trước ngai ca Người, xin Đc Giêsu Kitô là v Chng Nhân trung thành, là Trưởng T trong s nhng người t cõi chết chi dy, là Th Lãnh mi vương đế trn gian, ban cho anh em ân sng và bình an. Ngườđã yêu mến chúng ta và ly MÁU mình RA SCH ti li chúng ta, làm cho chúng ta tr thành vương quc và hàng tư tế đ phng s Thiên Chúa là Cha ca Người: kính dâng Người vinh quang và uy quyđến muôn thu muôđi. Amen! (Kh 1:5-6). Thiên Vương Giêsu Kitô không “hét ra lửa” như các vua chúa trần gian, nhưng Ngài lại có uy tín hơn bất cứ ai. Ngài trị vì cả vũ trụ hữu hình và vô hình, nhưng Ngài lại làm gương là hy sinh vì tình yêu đến tận cùng, đến chết.

Lần thứ nhất Chúa Giêsu Kitô đến thế gian như “con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt” (Gr 11:19) và với tư cách là Vua Thương Xót, nhưng Ngài đến thế gian lần thứ hai như một Thẩm Phán Công Bình và với cương vị là Vua Công Lý. Ngày ấy đang đến rất gần rồi!

Thánh Gioan cho biết cách Thiên Vương Giêsu quang lâm: “Kìa, Người ng đến giđám mây. Ai ny s thy Người, c nhng k đã đâm Người. Mi dân trên mđt s đm ngc than khóc khi thy Người. Đúng thế! Amen!” (Kh 1:7). Đấm ngực là biểu hiện lòng sám hối, nhưng nếu đấm ngực mà không ăn năn thì có đấm mạnh đến nỗi đau tức ngực cũng chỉ là vô ích. Biết chuẩn bị đón Ngài bằng cách “đấm ngực chân thành” ở mọi nơi và mọi lúc thì chúng ta sẽ được Thiên Chúa khoan hồng, thậm chí là tha bổng, cho trắng án. Không ai xa lạ, chính “tướng cướp khét tiếng” Dismas đã nên thánh nhờ được diễm phúc đó (x. Lc 23:43), đúng như lời Chúa Giêsu đã hứa: “Ai đến vi tôi, tôi s không loi ra ngoài” (Ga 6:37).

Thiên Chúa là tất cả, mọi điều không thể sẽ hóa thành có thể, chỉ cần chúng ta thành tâm mà khiêm nhường sám hối, chứ Ngài không cần lễ vật chi cả (). Thật vậy, Ngài đã xác định rạch ròi: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đng hin cóđã có vàđang đến, là Đng Toàn Năng (Kh 1:8). Nhưng đừng quên điều này: “Thiên Chúa không thiên v ai (Gl 2:6; Cv 10:34) và cũng không v n ai (1 Pr 1:17a; Mt 22:16), cứ theo công việc mỗi người mà xét xử.

Trình thuật Ga 18:33b-37 cho thấy cảnh người ta phải công nhận Ngài là Vua, một Vị-Vua-ba-không.

Sau khi bọn thủ ác bắt Chúa Giêsu và điệu Ngài tới cho tổng trấn Philatô luận tội. Lúc ông ta trở vào dinh, cho gọi Chúa Giêsu và hỏi Ngài: “Ông có phi là vua dân Do-thái không?. Ngài không trả lời mà thản nhiên hỏi lại: “Ngài t ý nóđiy, hay nhng người kháđã nói vi ngài v tôi?. Ông Philatô nói rằng ông là người Do-thái, mà chính dân chúng và các thượng tế đã nộp Ngài cho ông ta. Rồi ông ta hỏi Chúa Giêsu: “Ông đã làm gì?”. Chúa Giêsu không trả lời thẳng mà trình bày lý luận: “Nước tôi không thuc v thế gian này. Nếu Nước tôi thuc v thế gian này, thuc h ca tôđã chiếđu không đ tôi b np cho người Do-thái. Nhưng tht ra Nước tôi không thuc chn này.

Có lẽ ông Philatô gần giống như “vịt nghe sấm”, chưa hiểu hết ý của Chúa Giêsu nên ông ta phải hỏi lại: “Vông là vua sao?. Chúa Giêsu vẫn không xác nhận mà lại nói: “Chính ngài nói tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhm mđích này: làm chng cho s tht. Ai đng v phía s tht thì nghe tiếng tôi. Ai cũng thích sự thật, nhưng không dễ “đứng về phía sự thật”. Tại sao? Vì SỰ THẬT luôn THẲNG THẮN. Thế nên người ta dễ a dua, vì không có lập trường, sợ bị “lẻ loi”, như người ta vẫn nói đùa mà thật: “Ai làm sao, tôi làm vy; ai làm by, tôi làm theo!. Phải thực sự can đảm mới có thể dám “đứng về phía sự thật”.

Sự thật vốn dĩ dễ khiến người ta mất lòng vì sự thật thường mang tính phũ phàng. Tuy nhiên, sự thật là chân lý, mà chân lý không thể bị bóp méo hoặc bị xuyên tạc, nhưng chân lý đó phải thực sự là sự thật – tức là chân-lý-thật, chứ không thể là sự thật giả tạo, được ngụy biện hoặc được dàn xếp. Chính chân-lý-thật mới có khả năng kỳ diệu, dạng sự thật mà Chúa Giêsu đã đề cập và xác định: “S tht s gii phóng quý v (Ga 8:32).

Ước gì không một ai trong chúng ta “ngây thơ cụ” như ông Philatô đã hỏi Chúa Giêsu: “S tht là gì? (Ga 18:38).

Mừng kính lễ Thiên Vương Giêsu Kitô là dịp để chúng ta xét mình một cách nghiêm túc hơn, xem mình đã thực sự là tín dân của Ngài hay chưa. Và xin được kể vài chuyện có thật đã xảy ra với những kẻ vô thần, dám coi thường Thiên Chúa:

  1. John Lennon, ca sĩ của ban nhạc nổi tiếng The Beatles của Anh quốc. Trong lúc được tạp chí American Magazine phỏng vấn, John Lennon nói:“Thiên Chúa Giáo s không còn, s biến mt. Tôi không có gì phi tranh cãi v điđó. Tôi chăc chn như thế. Ông Giêsu thì được, nhưng nhng k theo Ông thì quá ngây ngô! (Ýmuốn nói là bị Ông Giêsu lừa gạt).Ngày nay, chúng tôi, ban nhạc The Beatles ni tiếng hơÔng Giêsu(1966). Sau khi John Lennon tuyên bố lời trên đây, hn bbn sáu ln. Không biết sau đó hắn có ăn năn hay không, nhưng mọi người biết rõ là The Beatles đã “chết”.
  2. Một nhà báo hỏi người thiết lập chiêc tàu Titanic về sự an toàn của chiếc tàu, hắn nói:“Ngay c Thượng Đế cũng không th đánh chìđược nó”. Kết quả ra sao, mọi người đã biết rõ: V đôi vì tng băng ngm vào sáng ngày 15-4-1912 tại Bắc Đại Tây Dương!
  3. Marilyn Monroe, diễn viên điện ảnh. Trong một xuất trình diễn, cô được Billy Graham đến thăm. Bill Graham nói rằng Chúa Thánh Thần sai ông đến để nói với cô. Nghe xong, Marilyn Monroe nói:“Tôi không cn Giêsu công. Một tuần sau, người ta thy xác Marilyn chết cô đơn trong mt chung cư.
  4. Năm 1954, sau khi chiếm miền Bắc, một toán công an cộng sản vào nhà dòng kín Bùi Chu lục soát. Khi đến Nhà Nguyện, lúc các nữ tu đang chầu Mình Thánh, một tên cộng sản lớn tiếng la lối: “Chúa ca các ngườ đâu?. Nữ tu chỉ Nhà Tạm trên bàn thờ, tên này lấy súng mang trên người nhắm Nhà Tạm. Hắn bắn vỡ chén thánh và Mình Thánh Chúa đổ ra vương vãi. Bắn xong, hắn vẫn đứng yên, chĩa súng vào Nhà Tạm như muốn bắn tiếp. Các nữ tu vô cùng đau lòng vì Mình Thánh Chúa bị xúc phạm, nên quỳ xuống, van xin anh đừng bắn nữa, nhưng khi chạm đến anh, các nữ tu mới biết linh hồn hắn đã lià khỏi xác từ lúc nào rồi: Hn chếđng!
  5. Năm 1963, sau khi Tổng thống Ngô Ðình Diệm bị một số tướng tá phản bội lật đổ, một số người bên lương tràn vào Tòa tỉnh trưởng Thừa Thiên (Huế), đập phá “tàn tích gia đình trị”. Khi thấy bức tượng Thánh Gioan Tẩy Giả, quan thầy của Tổng thống Diệm, một thanh niên trèo lên vác búa đập vỡ mặt mũi bức tượng, nhưng hắn b trt chân ngã xung và chết ngay lp tc. Sự kiện này xảy ra trước mắt nhiều người chứng kiến.
  6. Voltaire là bác học nhưng lại chống Thiên Chúa và phá Hội Thánh Công Giáo rất quyết liệt. Không một lời gian dối và vu oan nào mà ông tởm gớm. Ông chiêu tập một nhóm lấy tên là “Beelzebub” (Bê-en-dê-bun, tên của tướng quỷ). Năm 1753, ông đã lên án Thiên Chúa: “Hai mươi năm na Thiên Chúa v hưu, vì không còn ai phc v Ngài. Đúng hai mươi năm sau, năm 1773, Voltaire tt th vìchết thê thm. Ông đã thấy những hình ảnh làm ông run sợ và hét lên: “Mt bàn tay đang kéo tôi xa Thiên Chúa… Qy bt tôi… Tôi trông thy ha ngc. Ông tru tréo như thú vật hung dữ. Ông lấy móng tay cấu xé thịt mình ra từng miếng. Một bà già thường giúp người hấp hối, sau khi chứng kiến cái chết của Voltaire, đã nói: “Khi y tô gn giường ca Voltaire đang hp hi, tôi không mun nhìn thy mt người vô đo chết na. Một người khác chứng kiến cái chết của Voltaire cũng nói: “Nếu quỷ có th chếđược, cũng không chết d như Voltaire.

Ly Thiên Chúa, xin thêm lòng Tin Cy Mến cho con, vì con yếđui lm. Xin đng đ sóng đi cun trôi con theo hướng vô đnh. Xin Thn Khí Chúđnh hướng tâm linh đ con tin nhĐc Giêsu Kitô là Vua cai tr đi con mà vui nhn mi mnh lnh ca Ngà Đng cđ nhân loi, Đng hng sinh vàhng hu, hin tr cùng vi Chúa Cha, và hip nht vi Chúa Thánh Thđến muôn thu muôđi. Amen.

 

.

TÔI LÀ VUA

Văn Hào

Chế độ quân chủ tại Việt Nam với một ông vua cai trị đất nước kéo dài hàng chục thế kỷ đã thực sự cáo chung vào năm 1945, sau khi vị vua cuối cùng là Bảo Đại bị truất phế. Ngày nay ý niệm về một thể chế quân chủ đã hoàn toàn trở nên xa lạ đối với con người ngày hôm nay. Trên thế giới chỉ còn vài quốc gia như Anh quốc, Thái Lan, Nhật Bản… vẫn duy trì chiếc ghế của nữ hoàng hay hoàng thân, nhưng chỉ là sắc nét văn hóa theo truyền thống, còn thực quyền thì không có. Thể chế dân chủ được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng. Con người ngày càng văn minh càng thích sống bình đẳng, không ai muốn người khác đè đầu đè cổ mình. Cũng chẳng ai thích sống trong một chế độ mà quyền hành chỉ tập trung nơi một cá nhân, thậm chí vị lãnh đạo ấy nắm trong tay cả quyền sinh sát giống như các vua chúa ngày xưa.

Như vậy mừng lễ Chúa Kitô làm Vua liệu có gây ra dị ứng nơi tâm thức của con người thời đại ngày hôm nay hay không, đặc biệt nơi giới trẻ? Đức Giêsu có thực sự là Vua hay đây chỉ là một lối nói cường điệu hóa giống như chúng ta suy tôn lãnh tụ một cách hình thức? Còn nếu Ngài đích thực là Vua, Ngài có bóp nghẹt tự do và nhân quyền của chúng ta hay không?

Các bài đọc Lời Chúa trong phụng vụ hôm nay sẽ gợi mở cho chúng ta câu trả lời.

Ông có phải là vua không?

Hai ngàn năm trước Philatô đã nêu ra câu hỏi này khi Đức Giêsu bị điệu đến trước mặt ông như một tên tội phạm. Bài Tin mừng trong phụng vụ hôm nay thuật lại mẩu đối thoại này. Philatô dồn dập đặt ra nhiều nghi vấn, khi đối diện trước một con người đã từng được dân chúng tung hô là ‘Con Vua Đavit’, đã từng được dân chúng nể phục như một ngôn sứ vì đã làm nhiều điều lạ lùng không giải thích được. Philatô càng ngạc nhiên hơn bởi lẽ, một ông vua phải có dáng vẻ oai phong và hiển hách, nhưng đây chỉ là một con người rất bình thường, trong tay không có một tấc sắt để tự bảo vệ, không có một chú lính quèn để hộ tống. Ông mở to con mắt nhìn vào Đức Giêsu với sự kinh ngạc. Nếu ở vào vị trí của Philatô chắc hẳn chúng ta cũng sẽ đặt nghi vấn giống như vậy. Tuy nhiên khi đối diện với Philatô, Đức Giêsu đã không cần che dấu căn tính của mình. Ngài trả lời: “ Chính ông nói tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi”. Đức Giêsu khẳng định Ngài chính là Vua, và Ngài đến trong trần gian để khai mở Vương quốc của chân lý. Những thần dân của Ngài sẽ nghe tiếng Ngài vì họ là những công dân của Vương quốc sự thật. Philatô không hiểu và hỏi lại: “ Sự thật là gì?” Ông chắc chắn không hiểu nổi vì ông đâu có phải là thần dân của vương quốc ấy, vương quốc chân lý mà Đức Giêsu đã khai sáng (Ga 18, 33-38).

Trong Tin mừng Gioan, Chúa Giêsu nói khá nhiều về ‘sự thật’. Ngài mặc khải tiệm tiến về Vương quốc mà chính Ngài sẽ khai mở. Khi nói chuyện với người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp, Đức Giêsu đã vén mở một nền phụng tự mới trong Vương quốc ấy: “ Thiên Chúa là Thần khí và những kẻ thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong Thần khí và sự thật” (Ga 4, 24). Cũng vậy trong bữa tiệc ly để giã từ các môn sinh, Chúa Giêsu đã nói với Tôma: “ Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6 ). Đức Giêsu sẽ ra đi, tiến nhận cái chết và khai lập vương quốc của chân lý. Đồng thời Ngài cũng chính là sự thật, là con đường dẫn đưa chúng ta đi vào vương quốc ấy để chúng ta được sống và sống dồi dào (Ga 10, 10). Đối diện trước Philatô, Chúa đã khẳng quyết căn tính của Ngài, nhưng chắc chắn Philatô không hiểu nổi vì ông ta không ở trong quỹ đạo Nước Trời. “Nước tôi không thuộc thế gian này”(c 36). Tuy nhiên, chính Philatô đã cho treo một tấm bảng đóng trên Thập giá với hàng chữ :‘Giêsu Nazareth, vua Israel’. Có lẽ đây không phải là một sự tình cờ, song Thiên Chúa đã định liệu và sử dụng một ông quan ngoại giáo để công bố cho cả thế giới biết Đức Giêsu chính là Vua đích thật. Tuy nhiên chúng ta cần suy tư sâu xa hơn để tìm hiểu xem, trong vương quốc sự thật ấy, Chúa đã hành xử vương quyền như thế nào?

Đức Giêsu quả là một vị Vua rất khác người, chẳng giống ai. Vương miện của Ngài là một vòng gai thấm máu đầy nhục nhã. Cẩm bào Ngài khoác chỉ là một tấm thân trần trụi bị treo thân vào khổ giá như một tên tử tội. Ngai vàng cao sang của Ngài là chỗ chuyên để hành quyết những tên cướp đáng sợ. Ngài đã đi xuống tận đáy bùn đen của xã hội loài người, bị đầy đọa, bị chửi rủa, bị khinh miệt và cuối cùng bị giết chết. Vương quốc Nước Trời mà Ngài nói tới là một Vương quốc đảo lộn mọi bậc thang giá trị mà con người vẫn thường đặt định. Sống trong Vương quốc đó, ‘ ai làm lớn nhất phải trở nên người bé nhất’ . Chính Ngài là một vị Vua cai trị theo một cung cách khác thường, đó là “ Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến ban sự sống cho nhiều người” (Mc 10,45).

Philatô không hiểu là phải, bởi vì ông chưa làm ‘thẻ chứng minh nhân dân’ để trở thành công dân của một vương quốc xem ra có vẻ quái chiêu và nghịch thường đến như vậy. Nói tắt một lời, Vương quốc mà Chúa Giêsu thiết lập chính là Vương quốc của tình yêu. Đó không phải là một quốc gia hùng mạnh về quân sự, về dầu hỏa, về đôla hay về khí tài. Vương quốc của Đức Giêsu là Vương quốc tình yêu. Chỉ sống trong tình yêu chúng ta mới có được thẻ ID, thẻ căn cước để vào Nước Trời, nước của Ngài.

Vương quốc của tình yêu

Trong bữa tiệc ly, Đức Giêsu đã cúi xuống rửa chân cho các học trò. Ngài nói với họ: “ Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14). Việc rửa chân cho khách đến nhà là công việc của những tôi tớ, thường là những tên nô lệ được ông chủ mua về. Người nô lệ không có một quyền hành nào hết và họ phải làm mọi công việc theo ý chủ. Đức Giêsu là Chúa là Thầy, là Vua Chúa hay là bậc Tôn sư của các môn đệ. Nhưng Ngài đã khiêm tốn hạ mình xuống để phục vụ như một tôi tớ hèn mọn. Vì thế trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu nói đi nói lại cho các học trò về khuôn mẫu của tình yêu. “ Không có tình yêu nào cao quý cho bằng mối tình của người hiến ban mạng sống cho bạn hữu” (Ga 15, 13). Tình yêu chính là bộ luật dân sự, là hiến pháp căn bản của Vương quốc Nước Trời. Tình yêu cũng chính là tên gọi của Thiên Chúa, hay nói cách khác tình yêu là chính Vương hiệu của Đức Kitô.

Ngày 11/11/1951 trong một bài diễn từ, Đức Thánh Cha Piô 12 đã kể lại một giai thoại. Có một phụ nữ kia rất đạo đức, nhưng sức khỏe quá yếu ớt. Cô ta bị chứng sưng màng phổi và rất khó thở. Lâu lâu căn bệnh tái phát làm cô rất đau đớn. Nhưng cuối cùng cô cũng lập gia đình, mang thai và chờ ngày sinh nở. Bất hạnh bất ngờ ập đến. Căn bệnh năm xưa tái phát trầm trọng. Các bác sĩ đề nghị phải hủy bỏ thai nhi để bảo toàn tính mạng cho người mẹ. Người chồng cũng đồng ý như thế. Cô đã cầu nguyện trong nhiều ngày và kiên quyết từ chối lời đề nghị của bác sĩ. Cô nói trong nước mắt: “ Tôi không thể giết con của tôi. Con tôi phải sống, cho dù tính mạng tôi có ra sao đi nữa”. Cô ta chấp nhận tình huống xấu nhất có thể xảy ra và phó thác hoàn toàn cho Chúa. Cuối cùng cô đã sinh được một bé gái kháu khỉnh, nhưng sau đó sức khỏe của cô ngày càng suy kiệt. Hai tháng sau, người phụ nữ tắt thở, trên tay vẫn ôm chặt lấy đứa con mà cô ta hết lòng thương mến. Hơn hai mươi năm trôi qua, người ta thấy một nữ tu trẻ rất xinh đẹp đang ân cần chăm sóc cho các cháu bé mô côi trong một trại tế bần. Vòng tay thân thương và cặp mắt long lanh của vị nữ tu sáng rực lên nét yêu thương mà chị đã được truyền thụ lại từ chính người mẹ của mình. Đó là người phụ nữ năm xưa đã chấp nhận hy sinh tính mạng để cho con bà được sống. Người mẹ can đảm này đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 tôn phong Chân phước, bởi vì bà đã thực sự đi vào Vương quốc tình yêu theo dấu chân của Đức Giêsu. Chính Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo 2 đã nói: “ Một đất nước nào, một chế độ nào cho phép con người sát hại lẫn nhau, thì đất nước đó, chế độ đó đang đi tới hủy diệt”. Đó là một đất nước đi ngược lại hiến pháp của Vương quốc Đức Giêsu. Sống trong Vương quốc này, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta phải sống với một nền văn minh mới, đó là ‘nền văn minh của tình thương’. Mẹ Têrêsa Calcutta cũng đã từng nói: “ Một người mẹ nhẫn tâm giết chết con của mình, thì không còn một thứ tội ác nào mà họ không dám làm”. Biết bao tội ác nhan nhản đang xảy ra trong xã hội hôm nay vì người ta đang dần đánh mất đi thẻ ID (identity card) để chứng minh mình là công dân Nước Trời.

Kết luận

Một nhà tâm lý học đã nói: “ Trong tình yêu, con người rất dễ trở thành người điên.” Điều đó rất đúng nếu chúng ta ngắm nhìn Thập giá Đức Giêsu và Vương quốc của Ngài. Hêrôđê đã mặc cho Chúa chiếc áo đỏ để chế diễu Ngài như một ông vua nửa điên nửa khùng. Khi chịu đóng đanh trên Thập giá, chiếc áo đỏ của Chúa đã bị lột ra, nhưng sự điên rồ vẫn còn rất đậm nét. Cũng trên Thập giá điên rồ ấy, Đức Giêsu khai mở Vương quốc sự thật, đó là Vương quốc của tình yêu. Càng sống sung mãn ơn gọi tình yêu, chúng ta càng trở nên thần dân của Vương quốc cao cả này. Lúc bấy giờ “ Ai nấy sẽ thấy Người, kể cả những kẻ đã đâm người. Kìa Người ngự đến giữa đám mây” (Kh 1, 7).

 

.

CHÂN LÝ

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Tiên tri Đaniel đã ngắm nhìn thị kiến về vương quốc vĩnh cửu. Vị Bô Lão ban cho Con Người quyền năng, vinh dự và vương quốc. Mọi dân tộc sẽ qui tụ về để phụng sự Ngài. Đây là thị kiến về ngày cánh chung. Không ai biết được ngày giờ kết cùng của thế giới. Khi chúng ta có mặt ở đời, mọi sự đã có đó và luôn chuyển động. Con người được thông dự sự sống với muôn loài và muôn vật. Con người là loài cao quí được Thiên Chúa ban cho có hồn có xác. Xác hồn kết hợp để hoàn thành sứ mệnh được trao ban.Chúng ta hiện hữu trên trần gian một khoảnh khắc thời gian rồi lại trở về cát bụi. Tuy cuộc đời của chúng ta ngắn ngủi phù du, thân xác sẽ tan biến nhưng linh hồn sẽ hiện hữu đến muôn đời. Mọi sinh hoạt trong cuộc lữ hành trần thế sẽ dẫn bước chúng ta về chung hưởng hạnh phúc bên Đấng quyền năng trong vương quốc của Ngài.

Sách Khải Huyền của thánh Gioan cũng diễn tả về hình ảnh của ngày cánh chung. Chúa Giêsu Kitô là thủ lãnh của các vua, Vua các vua và là Đấng yêu thương đã hiến mình rửa sạch tội lỗi của chúng ta. Ngài là trưởng tử những kẻ đã an giấc, đã sống lại và đang ngự bên hữu Thiên Chúa Cha: Ngài là Thiên Chúa, Đấng đang có, đã có và sẽ đến. Chúng ta đặt niềm tin vào những lời mạc khải của Con Thiên Chúa. Con người chúng ta bị giới hạn mọi mặt và tâm trí không hiểu thấu những sự cao siêu. Ngay trong vũ trụ vật chất hiện hữu chung quanh, con người cũng chỉ mới khám phá một chút ven bìa giới hạn của một số nhỏ hành tinh. Tâm trí và giác quan của con người đắm chìm thưởng ngắm vũ trụ bao la để nhận ra sự cao siêu vô lường của Tạo Hóa. Chúng ta chẳng biết đâu là bến bờ. Thánh Gioan đã diễn tả về sự vô thủy vô chung của vũ trụ qua Đấng Toàn Năng phán: Ta là Alpha và Ômêga, là nguyên thủy và cứu cánh (Kh 1, 8).

Kinh Thánh mạc khải giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc của vũ trụ và sự sống. Với những suy tư tìm tòi của con người qua mọi thời đại, nhân loại vẫn còn lần mò trong đêm tối của vô minh. Những suy tư triết học, thần học và khoa học chỉ trả lời một cách rất khiêm tốn về sự hiện hữu của vũ trụ và muôn loài. Có nhiều giả thuyết tìm cách giải thích sự có mặt của vũ trụ theo thuyết Tiến hóa, Ngẫu nhiên hoặc Tự nhiên hình thành. Các khoa học không thể giải đáp một cách thỏa đáng cho những khao khát của tri thức con người muốn tìm hiểu về cội nguồn. Trí khôn của con người không vượt qua được biên giới của sự hiện hữu và chung cục. Kinh Thánh mạc khải cho chúng ta về nguồn gốc và cứu cánh của vũ trụ và con người. Đây là một chân lý cao siêu mà Chúa Giêsu đã làm chứng.

Đứng trước tòa án của Philatô, Chúa Giêsu đã phát biểu một cách công khai: Tôi sinh ra và đến trong thế gian nầy là chỉ để làm chứng cho Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tôi (Ga 18, 37). Lời của Chúa Giêsu là thần trí và là sự sống. Ngài đến thế gian để làm chứng cho chân lý. Chân lý là sự thật. Chúa Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống. Sự thật nằm trong tâm thiện. Lời sự thật là không quanh co, giả dối, lừa lọc, dối trá hay gian manh. Đôi khi nói sự thật thì mất lòng nhưng chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta khỏi những ràng buộc bất công. Chúa Giêsu nói rằng ai thuộc về chân lý thì nghe lời Ngài dạy. Chúng ta đã nhận lãnh Bí tích Rửa Tội để trở nên chi thể của Nhiệm Thể Chúa Kitô. Chúng ta thuộc về Chúa, như thế chúng ta cũng thuộc về chân lý. Thuộc về chân lý thì phải suy nghĩ sự thật, phát biểu sự thật và hành động trong sự thật.

Chúa Giêsu nhìn sự thật trong tận đáy tâm hồn mỗi người. Con người thì thích phô trương và xuất hiện bên ngoài để kéo chú ý của người khác. Giống như các mặt hàng cần quảng cáo ra thị trường, các tiếp viên đã tô điểm bên ngoài, làm đẹp, chào hàng hấp dẫn để kéo lôi khách hàng. Cũng giống như các chính trị gia đã không ngại dùng mọi thủ đọan để hứa hẹn, tô bóng và khuyến dụ các cử tri dồn phiếu. Giữa sự xuất hiện bên ngoài và sự thật có một khoảng cách xa. Có những người rất khôn khéo trong lời nói và thuyết phục đã kéo lôi được nhiều thành viên. Sự dối trá ẩn nấp trong tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống. Chúng ta cần sống trung thực qua ý tưởng, lời nói và việc làm: Nhưng hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ (Mt 5, 37). Nhớ điều răn thứ 8 là chớ làm chứng dối.

Có một số cụm từ tiếng Anh mà người nói dối hay dùng: Never, khi bị ai bắt gặp đang nhìn một cái gì không tốt và bị chất vấn, người đó liền chối ngay là không bao giờ. That man/woman’, dùng chữ đó để diễn tả một sự xa cách với người đó. ‘I would never do something like that’ tôi không bao giờ làm những việc như thế. Yes, ma’ma, nếu một người nào không có lý do, tự dưng nói mama với bạn, hãy cẩn thận. By the way, người nói dối dùng chữ này để người khác chú ý hơn tới điều họ sẽ nói sau. ‘I know you think I’m lying, but…Tôi biết bạn nghĩ rằng tôi đang nói dối, nhưng…Why would I do that?’What kind of person do you think I am? Tự bào chữa bằng cách hỏi tại sao tôi làm thế? Bạn nghĩ tôi là loại người nào? Người nói dối quanh qua, quẩn lại cũng chỉ là tránh né vấn đề nói sự thật.

Mỗi người chúng ta đều có kinh nghiệm về cách đối xử trong thế thái nhân tình. Người đời nói: Một sự bất tín vạn sự không tin. Trong dụ ngôn những yến bạc rút ra cho chúng ta một bài học về sự tín trung và chân thật: Ông chủ nói với người ấy: “Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh (Mt 25, 23). Sự chân thành là một đức tính tốt cần tu luyện mỗi ngày. Người ta nói rằng khôn ba năm dại một giờ, đôi khi vì sự sa ngã bất trung dại dột trong chốc lát mà mất cả chì lẫn chài. Đặc biệt trong đời sống gia đình, vợ chồng cần trung tín và thành thật với nhau trong mối tương giao. Chúng ta biết rằng mọi việc làm dối trá trong bóng tối rồi cũng sẽ có ngày được phơi bày ra ánh sáng.

Mang danh là Kitô hữu, chúng ta là nhân chứng cho sự thật. Sự thật bắt nguồn từ Thiên Chúa. Ngôi Ba Thiên Chúa là Thần Chân Lý. Chúa Giêsu đã hứa cùng các môn đệ: Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em (Ga 14, 26). Sự thật thì rất đơn sơ, rõ ràng, trong sáng và có tính thuyết phục. Sự thật không cần đối chất. Ai ở trong Chúa thì yêu mến sự thật. Sự thật sẽ giải thoát chúng ta khỏi những phiền muộn và lo lắng. Sống sự thật là sống trong an lạc và hạnh phúc. Chúng ta có thể tìm kiếm chân lý qua cuộc đời và lời giảng dạy của Chúa Giêsu Kitô: Ai thuộc về Chân lý thì nghe tôi. Đáp lời hỏi của Philatô: Ông Philatô liền hỏi: “Vậy ông là vua sao? ” Đức Giêsu đáp: “Quan nói đúng: Tôi là Vua (Ga 18, 37). Chúa Giêsu chính là Vua vũ trụ, Vua muôn vua.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến để khai mở tâm trí chúng con, để chúng con biết suy tưởng sự thật, loan truyền sự thật và sống sự thật. Xin cho chúng con tìm đến sự thật tuyệt đối nơi thập giá Chúa Kitô. Từ thánh giá Chúa, chúng con sẽ được múc tận nguồn ơn tha thứ và lòng thương xót.

 

.

VỊ VUA TRÊN THẬP GIÁ

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An 

Năm phụng vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập thể và kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô. Đặt lễ Chúa Kitô Vua trong Chúa nhật cuối cùng năm phụng vụ, Giáo Hội nhắc nhở rằng, Đức Kitô chính là Vua của vũ trụ, Ngài là Chủ của thời gian, Chủ của lịch sử nhân loại và là Chủ của lịch sử mỗi người chúng ta. Chúa Kitô vượt trên thời gian để mãi mãi là vị Vua vĩnh cửu.

Chúa Giêsu đăng quang làm Vua khi bị đóng đinh trên Thập giá. Giây phút Chúa được tuyên xưng là Vua chính là khi bị treo trên Thập giá, đầu gục xuống. Thật lạ lùng! Chính vào lúc hấp hối, mọi sự tưởng như sụp đổ, Vị Vua Bị Đóng Đinh lại hé lộ vương quyền của mình cho anh trộm lành có lòng thống hối, tin tưởng: “ Hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Người trộm bên hữu đã nhận ra vị vua tình yêu, nên anh đã xin với Ngài nhớ đến anh khi vào vương quốc của Ngài.Anh đã tuyên xưng vị vua tình yêu chiến thắng.Tình yêu đã chiến thắng mọi trở ngại: từ những lời thách thức của những người đòi một vị vua uy quyền đến cái chết khổ đau. Trên Thập giá, Vua Giêsu đã mang lấy tất cả tội lỗi nhân loại, gánh chịu mọi khổ đau, nhục nhã. Chính tình yêu chiến thắng của Vua Giêsu đã cứu chuộc nhân loại, đã nối kết con người lại với Thiên Chúa như thánh Phaolô đã xác quyết : “Nhờ máu Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã giao hòa với mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời“(Cl 1,20).

Trong tất cả những gì đã viết về Chúa Kitô, có lời nào bi đát hơn lời của Thánh Gioan ở lời tựa sách Tin Mừng: “Ngài đã đến nơi nhà Ngài mà người nhà đã không tiếp nhận” (Ga 1,11). Bêlem không có chỗ cho Ngài sinh hạ, Nadarét không có chỗ cho Ngài sinh sống, Giêrusalem không có chỗ cho Ngài chết.

Bốn mươi ngày sau khi Ngài sinh hạ, cụ già Simêon đã nói với Mẹ Maria : “Ngài sẽ là dấu gợi lên chống đối”(Lc 2,34). Đó là một kiểu nói khác chứng thực điều Thánh Gioan đã nói. Chưa được hai tuổi, Ngài đã bị binh lính Hêrôđê lùng sục để sát hại. Suốt những năm tháng rao giảng Tin Mừng, Ngài cũng bị hiểu lầm, bị ghen ghét, bị kết án loại trừ và bị đóng đinh khổ giá.

Chúa Giêsu Kitô đã chọn Thập giá làm phương thế thực hiện Ơn Cứu Rỗi. Thập giá được tạo nên do hai thanh gỗ, một nằm và một đứng. Thanh nằm tượng trưng cho sự chết và sự hận thù ghen ghét của thế gian; thanh đứng tượng trưng cho tình yêu và sự sống vươn cao. Hai thanh bắc ngang nhau tượng trưng cho sự tương phản giữa sự sống và sự chết; giữa vui và buồn; cười và khóc; hận thù và thứ tha; ghen ghét và yêu thương; giữa ý muốn của con người và ý muốn của Thiên Chúa. Đặt thanh sự sống và tình yêu lên thanh sự chết và oán thù là cách duy nhất để làm nên một thập giá.

Chúa Kitô lên Ngôi Vua vũ trụ trên Thập giá để thiết lập vương quyền Nước Thiên Chúa.

Nói đến vua, chúng ta thường nghĩ đến con người uy quyền, đầu đội vương miện, mình mặc cẩm bào, ngồi trên ngai vàng xét xử trăm họ.Ngày nay, người ta còn nói đến vua xe hơi, vua bóng đá, vua dầu lửa, vua vi tính… Đó là những thần tượng giàu có, sang trọng của con người thời đại. Chúa Giêsu là vua không phải theo kiểu trần thế, vương quyền của Ngài không theo kiểu chính trị. Chúa Giêsu là vua sự thật, vua tình yêu, vua niềm tin.Vương quyền Chúa Giêsu là vương quyền yêu thương, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.

Bài Tin Mừng đưa chúng ta về với Chúa Giêsu trên Thập giá.Vị Vua bị lăng nhục, các thủ lãnh thế gian cười nhạo, lính tráng chế diễu, một trong hai kẻ gian phi cũng tranh thủ nhục mạ. Những lời chế diễu cũng là những thách thức và cám dỗ gay gắt. Chẳng lúc nào Chúa làm Vua rõ ràng bằng lúc này. Tấm bảng trên Thập giá ghi bằng tiếng Hípri, Latinh và Hylạp chữ INRI – Jesus Nazarenus Rex Judaeorum – Giêsu Nadarét là Vua dân Do Thái.

Nhưng kiểu làm Vua của Ngài thật khác thường : không có vương miện mà chỉ có vòng gai, không có cẩm bào mà chỉ có trần trụi nhơ nhuốc, không có câu tán tụng mà chỉ có lời nhạo báng khinh chê. Bị treo trên Thập giá, Đức Giêsu nghe những lời mời mọc rất ngọt ngào và tinh vi như các cơn cám dỗ của Satan buổi đầu: “Nếu ông là Đức Kitô thì hãy cứu lấy mình.Hãy xuống khỏi thập giá” (Mt 27,40). Chỉ cần xuống khỏi Thập giá là chinh phục được mọi người, từ giới lãnh đạo đến những người chưa tin.Chỉ cần xuống khỏi Thập giá là có ngay được một thành công rực rỡ. Nhưng Đức Giêsu đã không xuống khỏi Thập giá. Cứu lấy mình là điều Ngài chẳng hề nghĩ đến. Chính vì Ngài là Con của Chúa Cha, nên Ngài không tự ý xuống khỏi Thập giá, như xưa Ngài đã từ chối nhảy xuống từ nóc Đền Thờ.

Đức Giêsu không muốn chúng ta tin Ngài vì những màn trình diễn ngoạn mục. Ngài muốn chúng ta tin, vì Ngài đã buông mình cho Cha, đón nhận cái chết với niềm vâng phục tín thác.

Mừng Lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, người Kitô hữu muốn khước từ những thần tượng trần thế, muốn để Ngài làm vua của lòng mình.Người Kitô hữu muốn đưa Ngài đi vào mọi lãnh vực của cuộc sống: văn chương, khoa học nghệ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội …để xây đắp hoà bình và tình thương cho trần thế.

Vương quốc Chúa Giêsu không có sức mạnh của vũ khí và quân đội mà chỉ có sức mạnh của yêu thương và tha thứ, vương quốc ấy không có tên trên bản đồ thế giới, nhưng lại ở trong trái tim con người. Chỉ những ai tin và sống trong tình thương Thiên Chúa mới thuộc vương quốc của Ngài.

Chúa Giêsu là Vua Tình Yêu. Chính tình yêu là sức mạnh của Ngài và cũng chính tình yêu ấy đã khiến cho Ngài tuyên bố : “Khi nào Ta chịu treo trên thập giá, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta”.

Qua hơn 2000 năm, lời ấy vẫn mãi được ứng nghiệm. Ngoài Đức Kitô ra không có một vị vua nào trên trần gian này được nhân loại chọn làm trọng tâm của lịch sử. Chấp nhận hay không chấp nhận, tin hay không tin, ai cũng phải lấy ngày Giáng Sinh của Đức Giêsu làm cột mốc để tính thời gian. Có một thời gian trước Đức Kitô và có một thời gian sau Đức Kitô và dù có tránh tên của Ngài để nói trước hay sau Công nguyên thì nói như Thánh Gioan Phaolô II : “Con người sẽ không bao giờ loại bỏ Đức Kitô ra khỏi lịch sử của mình”. Đức Kitô đang lôi kéo mọi người về với Ngài, Ngài đang đồng hành trong lịch sử nhân loại và trong cuộc đời của mỗi người. Cuộc đời này có giá trị và ý nghĩa hay không là tùy thuộc ở thái độ tiếp nhận của mỗi người đối với Đức Kitô.

Tiếp nhận Ngài và tuyên xưng Ngài là Vua chính là mặc lấy thái độ tín thác của kẻ trộm lành, sẵn sàng trao phó tất cả cuộc đời trong tay Ngài và bước đi theo Ngài. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là đi theo con đường phục vụ cho đến cùng. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là cùng với Ngài xây dựng vương quốc của Ngài ngay trên trần gian này, vương quốc của huynh đệ, vương quốc của yêu thương, vương quốc của công lý và hòa bình. Và mỗi một lần chúng ta xây dựng vương quốc ấy bằng một cử chỉ yêu thương thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ nghe được lời hứa của Ngài cho người trộm lành : “Hôm nay đây con sẽ ở cùng Ta trong vương quốc của Ta”.

Mỗi người tự xét mình xem Đức Giêsu đã thật sự là Vua của chính bản thân chưa? Ngài đã chiếm trọn vẹn trái tim ta chưa, đã thật sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của ta chưa?

Lạy Chúa Giêsu, Vua Tình yêu, Chúa đã yêu thế giới đến nỗi đã ban chính sự sống mình, xin Chúa chiếm trọn con người chúng con từ tư tưởng, lời nói đến việc làm, để chúng con không còn thuộc về thế giới của bóng tối, của tội lỗi, nhưng thuộc về vương quyền của Chúa, là vương quyền của sự sống và chân lý, của ân sủng và thánh thiện, của công lý và hoà bình. Amen.

 

.

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÊSU  KITÔ VUA_B

Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến. Hôm nay cùng với Giáo hội, chúng ta hân hoan mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua. Chúng ta nhận biết trong suốt thời gian sống ở trần thế này, Chúa Giêsu chỉ rao giảng Tin mừng về Nước Thiên Chúa, làm nhiều phép lạ và chữa lành mọi bệnh tật tâm hồn và thể xác. Chưa bao giờ Chúa Giêsu nhận mình hay tự xưng mình là vua, mặc dầu dân chúng đôi khi muốn tôn vinh Ngài làm vua. Nhưng về cuối đời và trong cuộc thương khó, Chúa đã công khai xác nhận vương quyền của Ngài trước mặt quan Philatô như trong bài Tin mừng chúng ta vừa nghe. Chúa khẳng định “Ngài nói đúng, Tôi là vua.” Nhưng để tránh ngộ nhận, Chúa nói thêm “Nhưng nước tôi không thuộc về thế gian này.”

Sau khi đã hoàn thành sứ vụ và trở về Vương Quốc, Nước Thiên Chúa, Chúa Giê-su Ki-tô đã được Chúa Cha trao quyền cai trị muôn loài trên trời, dưới đất. Và trong ngày tận thế, kết thúc lịch sử loài người, Ngài sẽ đến trong vinh quang để qui tụ mọi sự, mọi loài về với Ngài. Chúng ta nhận biết, Vua Giê-su Ki-tô của chúng ta không giống như những vị vua trong lịch sử nhân loại. Chúa không cưỡng ép hay bắt buộc một ai phải trở thành công dân hay phục vụ Ngài. Chúa chỉ kêu mời mọi người gia nhập, mong ước mọi người yêu mến Ngài và chân thành sống chân lý “mến Chúa yêu người” của Ngài mà thôi. Chúng ta biết quyền lực của tất cả vua chúa, tổng thống, thủ tướng và chủ tịch có giới hạn và tạm thời ở trần gian này mà thôi. Nhưng chân lý và quyền lực của Chúa Giê-su Ki-tô Vua thì vĩnh cửu và tồn tại đến muôn muôn đời.

Ông bà anh chị em thân mến. Khi chịu Bí tích Thánh tẩy, chúng ta đã trở thành công dân và chia sẻ vào vương quyền của Chúa Giê-su Kitô. Chính vì vậy cho nên, là những công dân trong Nước Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã thiết lập ở trần gian này, chúng ta có bổn phận và trách nhiệm tiếp tục xây dựng, trở thành những chứng nhân bằng cách sống giáo huấn Chúa dạy trong Tin mừng, cũng như thờ phượng, trung thành với Chúa Giê-su Ki-tô, và làm sáng danh Chúa.

Trung thành và làm sáng danh Chúa, đó cũng là lý do tại sao cha ông của chúng ta là các thánh Tử đạo đã can đảm, cương quyết và vui mừng chịu những sự đau đớn thể xác, lấy máu đào và cái chết của mình để minh chứng Chúa Giê-su Ki-tô là Vua trên hết các vua. Thật vậy, “tử đạo” có nghĩa là “làm chứng và làm sáng danh.” Như vậy việc cha ông chúng ta, từng lớp lớp người, sẵn sàng hy sinh bỏ tất cả vinh hoa, phú quý, tiền bạc, vật chất và sự sống chết đi để làm chứng cho đức tin, cho Tin mừng và làm sáng danh Chúa Giê-su Ki-tô Vua. Bây giờ, các ngài đang đang thực sự hưởng vinh phúc trong vương quốc của Chúa. Máu tử vì đạo của các ngài là phân bón và là những dòng nước tưới vào hạt giống đức tin của con dân Việt, và đã phát sinh lên một cây Giáo Hội Việt Nam hôm nay, như lời Chúa Kitô đã nói, “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”

Để làm chứng và sáng danh Chúa, các thánh tử đạo Việt Nam, cha ông chúng ta, đã phải có những quyết định và chọn lựa can đảm để trung thành với Chúa Giê-su Ki-tô. Có khi thật khó khăn, nhưng có khi rất đơn giản như bước qua Thánh giá hay không bước qua. Bước qua thì có ngay vinh hoa phú quí, danh vọng và tiền bạc, nếu không bước qua thì lập tức lãnh lấy những cực hình và cái chết. Đứng trước Thánh giá Chúa Giê-su, có người đã bước qua, nhưng cũng có nhiều người can đảm không bước qua, và cũng có người bị khiêng qua thập giá.   Có người đã bước qua, nhưng sau lại hối hận, ăn năn quay trở về với Chúa, đó là trường hợp của ba vị thánh Phan Viết Huy người làng Hạ Linh; Bùi Đức Thể quê làng Kiên Trung, và Đinh Đạt sinh tại Phú Nhai.
Quyết định và chọn lựa này của các thánh tử đạo bày tỏ thái độ cương quyết của chính bản thân các ngài đối với Vua Giêsu Ki-tô.   Các ngài đã can đảm chọn Chúa và để làm sáng danh Chúa, thay vì chọn cái tôi to lớn, hay chọn danh vọng và vật chất tiền bạc. Thánh Anrê Kim Thông nói với quan tỉnh: “Thánh giá Chúa Ki-tô tôi kính thờ, tôi bước qua sao được.” Còn Thánh Têphanô Ven, một linh mục trẻ, chỉ mới 31 tuổi, thuộc Hội Thừa Sai Paris đã bày tỏ chọn lựa của mình một cách thật dứt khoát, khi trả lời cho viên quan bảo ngài bước qua Thánh giá, “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!” Đây thật là một quyết định, một sự chọn lựa hùng hồn của lòng tin mạnh mẽ và chắc chắn vào Chúa Giê-su Ki-tô, Vua trên hết các Vua, Chúa trên hết các Chúa.
Ông bà anh chị em thân mến. Mừng lễ Chúa Giê-su Ki-tô Vua và các thánh Tử đạo tại Việt Nam, một lần nữa mời gọi mỗi người chúng ta, là con cháu của các ngài, suy xét lại cuộc sống đức tin của chúng ta ngày hôm nay như thế nào. Chúng ta hãy tự hỏi chính mình, “Tôi đang chọn Chúa hay tôi đang chọn tôi?” “Tôi đang làm vinh danh Chúa hay tôi đang vinh danh chính tôi?” Và nếu tôi thực sự chọn Chúa Giê-su Vua như các Thánh Tử Đạo cha ông tổ tiên, thì tôi phải làm gì, và sẽ sống như thế nào, để trung thành với Chúa và chứng minh cho lựa chọn, quyết định của mình?

Chúng ta biết, cuộc sống và quyết định của chúng ta hôm nay, nhất là trong quốc gia và xã hội tự do này, không đòi chúng ta phải chịu nhiều đau khổ hay đổ máu để làm chứng cho Chúa, nhưng cũng không kém phần khó khăn và thử thách. Hôm nay, tất cả chúng ta đang đứng trước, đối diện với những sự lôi cuốn của tiền tài vật chất, trước sự cám dỗ của đời sống ích kỷ cá nhân, tự cao và lười biếng. Vậy chúng ta phải sống như thế nào để trung thành sống lời Chúa dạy, để vinh danh, để làm sáng danh Chúa, và để xây dựng Nước Thiên Chúa?

Ông bà anh chị em thân mến. Cùng với tất cả mọi người sống trong quốc gia Hòa Kỳ này, tuần này chúng ta mừng lễ Tạ ơn. Chúng ta có nhiều lý do và nhiều người để tạ ơn. Nhưng là những người có đức tin, công dân của Nước Thiên Chúa, và là con cháu của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, trong ngày kính Chúa Giê-su Ki-tô Vua hôm nay, chúng ta ý thức rằng chúng ta phải có một cuộc sống cảm tạ, tri ân, vì thật ra, tạ ơn là trung tâm đời sống đức tin của người Ki-tô giáo.

Xin Thiên Chúa, qua lời cầu bầu của các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam, giúp chúng ta có cuộc sống chứng nhân trung thành với Chúa Giê-su Ki-tô Vua, luôn sống cảm tạ tri ân bằng sự hy sinh và lòng quảng đại, và có những quyết định và chọn lựa sáng suốt trong cuộc sống, để “Cây Đức Tin” của mỗi người chúng ta luôn có sức sống, sinh ra những hoa quả hữu ích để lại cho con cháu đời này, để chúng ta cùng được chung hưởng vinh phúc Vương Quốc của Chúa đời sau, với các Thánh Tử Đạo Việt Nam, cha ông của chúng ta.

 

.

 

NÓI SỰ THẬT

Lm. Jos. DĐH

Biết nói sự thật, dám sống sự thật, nhất định phải là một quá trình tập luyện, vì theo qui luật : học ăn học nói học mở, luôn là nhu cầu cần thiết cho việc ăn nói, học tập và ứng xử của con người. Từ xa xưa, các bậc tiền nhân của chúng ta đã biết xây dựng những câu ca dao tục ngữ để dạy dỗ con cháu, thật đáng nể phục : những người tính nết thật thà, đi đâu cũng được người ta tin dùngmột lời nói ngay, bằng ăn chay cả tháng. Chẳng biết có ích, có hay như thế nào về việc nói thật, sống thật, chắc chắn cha ông chúng ta phải có trải qua kinh nghiệm nên các ngài mới quả quyết : ăn chay nói thật, mọi tật mọi lành.

Nói sự thật, làm chứng cho sự thật, không hề đơn giản, khi mà xã hội có những nghi ngờ như : thật thà thường thua thiệt; sự thật mất lòng, dù biết rằng kinh tế chính trị và đạo làm người có khác nhau. Rõ ràng giáo dục ở gia đình, ở học đường, không ai lại dạy sự gian dối, nói ngoa nói khoác, nhưng quanh ta, “quả đắng”, “quả chua cay”, vẫn đang gây nên sự trì trệ xã hội. Suy gẫm một chút, có thể chúng ta sẽ thấy lý thuyết và thực hành xa nhau lắm, rất cần những mẫu gương “dám nói, dám làm”; biết vui, biết cười, biết chia sẻ chân lý tình yêu thương mà chúng ta đang thừa hưởng.

Đức Kitô Vua vũ trụ có ảnh hưởng gì tới xã hội hay không, hẳn còn tùy thuộc nơi mỗi người tín hữu chúng ta. Mến Chúa yêu người, không thể dừng lại trong nhà thờ, sự tinh túy của tri thức, của vẻ đẹp, rất cần được biểu lộ bằng hành động. Xã hội thời nào mà chẳng có giới trí thức, giới bình dân, có người tốt, người chưa tốt; và dù là đối tượng nào họ cũng hiểu câu ca dao : nói lời thì giữ lấy lời, đừng như ong bướm đậu rồi lại bay. Cha ông chúng ta khuyên dạy con cháu : học khôn học đến chết, học nết học đến già.

Chúa Giêsu hôm nay thì thẳng thắn với Philatô : “quan nói đúng đó, Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này để làm chứng cho Sự thật, ai thuộc về Sự thật thì nghe tiếng Tôi”. Cuộc đối thoại với Philatô chưa dài, nhưng không hề ngắn, đủ để các học trò, và các thế hệ những người tin Đức Kitô, hiểu biết Sự thật là gì, như thế nào là sống chứng nhân, như thế nào là Vua Tình Yêu.

Ngàyhôm nay, tin tức thời sự vẫn thu hút và ích lợi cho các nhà chính trị; điếu thuốc thơm, ly rượu mạnh, chỉ hấp dẫn người nghiện; còn tình yêu và cách sống đẹp, luôn là viên thuốc bổ cho mọi tầng lớp xã hội. Khi Philatô hỏi “Ông có phải là vua dân Do-thái không” ? hẳn Philatô nghĩ đến vương quyền chính trị; lúc Chúa Giêsu trả lời, quan nói đúng, Tôi là Vua, thì Chúa muốn tỏ bày Ngài là Vua Tình yêu, Vua Cứu Thế. Uy quyền trần gian mau qua chóng tàn như câu thành ngữ : quan nhất thời, dân vạn đại, nhưng đâu phải ai cũng thắng vượt được những ham hố bổng lộc ?

Quan niệm chung chung ở đời : được làm vua, thua làm giặc; dù tài giỏi tới đâu, nhưng nếu cách sống của ta bất nhân bất nghĩa, người ta cũng chỉ nhìn thấy “cái tật”, làm sao đáng được gọi là tài giỏi nữa ! Khi nói tới thành công, chúng ta vẫn cho rằng họ phải là người có tài, có đức, biết nói thật thì cũng biết sống sự thật, và có đạt được thành quả cao, cũng không phải là điều khó hiểu.

Chúa Giêsu hôm nay trước quan Philatô, Ngài cũng chỉ là “kẻ thua trận”, đang đợi phán quyết của vương quốc trần gian; cho dù Philatô đã nghe, đã hiểu Chúa Giêsu nói : “Nước Tôi không thuộc về thế gian này”. Chúa Giêsu thành công không phải là làm cho Philatô hoảng sợ vì chức vị “Vua” dân Do-thái; thực ra, Vương Quyền của “Sự thật” từ đó được minh chứng cách trọn vẹn hơn.

Để cho Philatô và cho người thời đại hôm nay biết Ngài là Vua, Đức Giêsu nói lên sự thật, sống sự thật : “ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi”. Khi đối diện với bản án chết, với mưu mô quyền lực thế trần, Chúa Giêsu đã cho nhân loại biết đâu là Vua Tình Yêu, và như thế nào là làm chứng cho Sự thật. Nước Thiên Chúa không có “xe tăng đạn pháo”, không có hận thù chia rẽ, vì vậy mà Nước Chúa chỉ có tình yêu, có những tâm hồn chân thật, có những chứng nhân của Sự thật mà thôi.

Người đời ai cũng có kinh nghiệm : một lần bất tín, vạn lần không tin. Biết Thiên Chúa là Tình Yêu, tuyên xưng Đức Giêsu là Vua Tình Yêu, người ta phải sống Đức mến yêu, mới đáng gọi là thần dân của Vua Giêsu. Ca dao có câu : vàng thời thử lửa, thử than, chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời. Ở đời người ta khéo mồm miệng đỡ chân tay, nhưng là con dân của Vương quốc tình yêu, chúng ta phải sống thật, phải có lòng tin yêu chân thật. Hy vọng mỗi chúng ta không ngại nói lên sự thật, chúng tôi là học trò của Vua Tình Yêu, chúng tôi đang sống ơn gọi làm chứng nhân cho “Sự thật”. Amen.

 

.

VUA TÌNH YÊU

Huệ Minh

Ta không sống ở chế độ phong kiến để ta được nhìn thấy vua ! Thật sự ra dù ta có sống trong chế độ phong kiến đi chăng nữa ta cũng chẳng thể nào gặp được vua. Đơn giản là chỉ có những vị trong triều đình cao cấp may ra mới có thể nhìn thấy mặt vua mà thôi.

Xem trong phim ảnh, ta thấy kiệu vua khi vua vi hành nhưng cũng không thể nào nhìn thấy mặt vua. Trong khi vua vi hành, ai nào đó dại dột ngước mắt nhìn vua sẽ bị tru di tam tộc.

Và, đâu đó dù không thấy, không biết, không gặp nhưng ta vẫn nghe nói về quyền lực của nhà vua. Nói hơi quá, vua muốn cho ai sống thì người đó sống, còn nếu như vua muốn ai chết thì người đó phải chết. Và như thế, ta thấy được vua không công bằng và có khi sống sai với sự thật và không dám đối diện với sự thật.

Chúa Giêsu đến trong trần gian với tư cách là vua nhưng không phải là vua của trần gian mà là vua vĩnh cửu, vua vĩnh hằng.

Thật sự như thế, ta thấy trải qua bao thế hệ và bao nhiêu đời, vương quyền của con người dù mạnh thế đến đâu đi chăng nữa nhưng rồi cũng sẽ mất theo thời gian. Đơn giản và dễ hiểu đó là cuộc đời của những vị vua trần gian, vương quyền của họ chỉ có ngần có hạn mà thôi.

Vua muôn vua, chúa các chúa mới chính là vua thật bởi lẽ Ngài có quyền trên muôn loài muôn vật và muôn người.

Nhìn vào cuộc đời của vị vua vĩnh cửu này, nét mà ta thấy rõ nhất đó chính là  tình yêu. Chính vì tình yêu, bởi tình yêu và do tình yêu mà vua Giêsu đã đến trong trần gian này. Không chỉ nói nhưng vua Giêsu đã minh chứng cuộc đời, tình yêu của mình bằng chính việc hiến thân mình, hiến thân tình yêu cho nhân loại trong yêu thương và phục vụ.

Không có tình yêu nào cao cả cho bằng chết cho người mình yêu ! Thật thế, ai đã yêu thương như Chúa.

Cũng vì yêu thương, Ngài đã chịu chết ngay cả khi chúng ta ngay khi chúng ta là tội nhân như tâm tình của thánh Phaolô tông đồ.

Bằng cái chết, Chúa đã chứng minh một cách hùng hồn, là một đỉnh cao tuyệt vời của tình yêu như lời Ngài nói: Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.

Vì yêu thương, Ngài đã tự khiêm tự hạ và tự bỏ mình đi, hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Ngài lại còn vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Ngài đã hiến thân như người mục tử hy sinh tính mạng để bảo vệ cho đoàn chiên.

Ngài cảm thông thân phận yếu đuối của chúng ta nên không nghiêm khắc kết án. Ngay cả người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Ngài nhân từ dạy chúng ta: Hãy nghiêm khắc với bản thân và rộng rãi với người khác. Không bới lông tìm vết, không nguyền rủa chửi bới. Hãy yêu thương kẻ thù và tha thứ cho nhau mãi mãi. Ngài đề cao phục vụ và kêu gọi chúng ta phục vụ, vì thế Ngài nói: Ta không đến để được phục vụ, nhưng đến để phụv vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Ngài muốn chúng ta noi gương bắt chước Ngài, cũng sống tình bác ái yêu thương và phục vụ.

Và để cho việc yêu thương không chỉ là một lời khuyên tuỳ ý, nhưng là một mệnh lệnh có tính cách bắt buộc, Ngài đã ban bố giới luật yêu thương: Thầy ban cho các con một điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau. Và tình yêu thương đã trở thành một giới răn quan trọng nhất như là lòng kính mến Thiên Chúa.

Hơn thế nữa, Ngài đòi buộc : “Cứ dấu này người ta nhận ra anh em là môn đệ của Thầy là anh em hãy yêu thương nhau”.

Tình yêu thương của Chúa Giêsu đã trở nên nguồn cảm hứng vô tận cho biết bao nhiêu sáng kiến, bao nhiêu tổ chức, bao nhiêu phong trào, bao nhiêu dòng tu chuyên lo việc yêu thương phục vụ. Chúng ta thử thưởng tượng xem: Thế giới này sẽ ra sao, nếu đã không có những người, những phong trào, những tổ chức, những dòng tu như thế. Nhân vật hiện nay đang được cả thế giới ngưỡng mộ, tôn vinh đó là Mẹ Têrêsa Calcutta. Vì sao? Vì Mẹ đã noi gương Đức Kitô và thực hành lời Ngài dạy, đó là đem tình thương đến cho những người nghèo khổ và bất hạnh.

Quả thực, trong lịch sử nhân loại, không có một nhân vật nào giàu lòng nhân từ thương xót như  Đức Kitô. Thật lạ lùng vì mặc dù là Đấng Tối Cao, Ngài vẫn tự nguyện làm người tôi tớ, phục vụ chúng ta. Và còn lạ lùng hơn nữa vì mặc dù Ngài không cần ai, song Ngài lại muốn cần đến chúng ta và tình yêu của chúng ta. Và sau hết, điều lạ lùng hơn cả vì mặc dù là Thiên Chúa, Ngài lại khao khát trở nên bạn hữu của chúng ta và chờ mong chúng ta tiếp nhận Ngài qua những kẻ khổ đau và bất hạnh.

Yêu là trao ban và trao ban đến cùng. Tình yêu, đó là món quà quí nhất của Thiên Chúa đã trao tặng con người. Từ nay, để sống đích thực là người, con người cần phải dốc cạn con tim mình để yêu thương và trao ban cho đồng loại. Chúa Giêsu đã lấy tình yêu thương và phục vụ làm quyền bính cai trị. Ngài đã trở nên gương mẫu đích thực cho các nhà lãnh đạo, cho các người cầm quyền. Ai biết yêu thương và phục vụ như Ngài thì mới được tham dự vào vương quyền của Ngài trong Nước của Ngài, vì “Phục vụ là cai trị” vậy.

Ngày hôm nay, cơ hội để ta làm sổ tổng kết cuộc đời của ta trong suốt năm qua. Tổng kết sổ  ở cuối năm Phụng Vụ không phải là tổng kết năm nay ta có bao nhiều tiền, ta thu nhập được bao nhiêu và ta tích lũy được bao nhiêu ? Cuối năm Phụng Vụ, ta cộng sổ một năm qua xem ta yêu thương như thế nào trong tư cách là người môn đệ của Chúa.

Vẫn là lời mời gọi tự do mà Thiên Chúa mời ta đáp trả nhất là về tình yêu. Khi và chỉ khi ta sống yêu thương đích thực thì khi ấy vua Giêsu mới là vua của đời ta và vương quốc của tình yêu mới là vương quốc của đời ta.

 

.

ĐỨC GIÊSU VUA HOÀN VŨ

AM Trần Bình An

Elvis Aron Presley ( 1935 – 1977 ) được gọi là Vua nhạc rock and roll, thường được tôn vinh Ông Vua nhạc rock, là một ca sĩ và diễn viên người Mỹ. Tạp chí Rolling Stone từng viết “Elvis chính là rock ‘n roll” và phần lớn tác phẩm của Elvis là hoàn hảo. Trong suốt sự nghiệp ca hát của mình kéo dài đến 2 thập kỷ, Elvis Presley đã lập và phá vỡ những kỷ lục về lượng khán giả đến xem trình diễn, cũng như lượng đĩa nhạc được tiêu thụ.

Là một trong những tên tuổi nổi tiếng của làng nhạc, Presley sống một cuộc đời xa hoa, phú quý. Nhưng hiếm ai biết, tuổi thơ của anh rất thiếu thốn. Cậu bé Elvis sinh ngày 8/1/1935 trong một mái lều xiêu vẹo ở Tupelo, Mississippi.  Dù nghèo khó, thường phải ăn chỉ có độc bánh mì, nhưng bù lại, gia đình chăm sóc Elvis Presley khá quy củ và cẩn thận. Cho đến tận năm 15 tuổi, bà mẹ vẫn phải đưa cậu đến trường, để ngăn không cho lũ trẻ chọc ghẹo con bà. Đến sinh nhật 11 tuổi, Elvis lần đầu tiên được tiếp xúc với nhạc cụ, đó là một cây guitare. Ban đầu, cậu tỏ vẻ hơi hậm hực vì cậu thèm được có một chiếc xe đạp mới, hay một khẩu súng, nhưng dần già, Presley bị cây đàn cuốn hút đến quên cả ăn ngủ.

Chỉ vài năm sau, trên các sân khấu  bắt đầu xuất hiện một anh chàng khá điển trai, biểu diễn hết mình, với những cú lắc hông dữ dội, đầy gợi cảm. Lần đầu tiên được các thiếu nữ ở dưới khán đài reo hò, la hét, Elvis đã băn khoăn hỏi ông bầu: “Liệu tôi có làm gì sai không mà bị mọi người la dữ như vậy?” để rồi nhận được câu trả lời: “Dù anh có làm gì đi nữa, thì tốt hơn cả là trở lại sân khấu ngay lập tức và tua lại màn trình diễn đó đi!” Đến năm 20 tuổi, Elvis kiếm được hợp đồng ghi âm  đầu tiên, trị giá chỉ có 30.000 USD, nhưng một năm sau, anh đã làm cả thế giới  phải ngỡ ngàng, khi giành liên tiếp ngôi vị quán quân ở các bảng xếp hạng và nhanh chóng trở thành triệu phú. Trong thời gian ở Đức, Elvis làm quen với cô nàng Priscilla Beaulieu và sau 8 năm tìm hiểu, họ quyết định đi đến hôn nhân. Lấy vợ, anh trở nên “ngoan ngoãn” hơn hẳn, và sau một lần tuyên truyền về tác hại của ma tuý, Elvis đã được Tổng thống Mỹ Nixon trao tặng huân chương đặc biệt. Tuy nhiên, đang trong thời kỳ đỉnh cao sự nghiệp thì Elvis bị bắt đi lính, và chàng thanh niên này đã tỏ ra mình là một kẻ văn võ song toàn. Không chỉ giành tiếng vang trong lĩnh vực nghệ thuật, anh còn được các đồng đội vị nể khi đoạt được đai đen Karatê.

Sau khi đi quân dịch, Presley lại trở về ánh đèn sân khấu. Năm 1973, show hoà nhạc đặc biệt Elvis: Aloha From Hawaii, được phát sóng trực tiếp trên 40 quốc gia, đã thu hút trên 1 tỷ người xem, thậm chí còn nhiều hơn cả chương trình cuộc thám hiểm đầu tiên lên mặt trăng. Nhưng sau sự kiện này, sức khoẻ của Elvis tụt dốc không phanh. Cuộc hôn nhân tan vỡ càng làm ông Vua nhạc rock and roll lún sâu vào vũng lầy đen tối. Gần như không đêm nào mà anh không phải dùng đến thuốc ngủ. Đến ngày 16/8/1977, ngôi sao sáng đã tắt hẳn trên bầu trời âm nhạc, để lại bao nỗi thương tiếc cho fan hâm mộ. ( Wikipedia )

Hôm nay Giáo Hội long trọng mừng lễ Chúa Kitô Vua. Vị Minh Quân Giêsu vô cùng vĩ đại, cao sang và trường cửu, không ồn ào, hào nhoáng, phô trương, cũng chẳng phù phiếm như Vua Rock kia. Vì Người là Đức Vua Tình Yêu, Đức Vua Công Chính, Đức Vua Bình An. “Nhờ Người, vạn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.” ( Ga 1, 3 – 4 )

“Ông có phải là vua dân Do Thái không?” Quan Tổng trấn Philatô mỉa mai hỏi Đức Giêsu. Người không nhận cũng chẳng chối, mà hỏi lại điều đó do ai nói ra, rồi giải thích cặn kẽ. “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do-thái, nhưng mà nước tôi không thuộc chốn này.” Nước Chúa thật kỳ lạ, hoàn toàn trái ngược với thế gian, nhưng vẫn hiện diện và tồn tại.

Đức Vua Tình Yêu

“Thiên Chúa là Tình Yêu.” Thánh Gioan đã long trọng khẳng định trong Thư thứ nhất. ( 1Ga 4, 16 ) Bởi vì “Thiên Chúa yêu thế gian đến ban Con Một mình, để ai tin vào Con thì không phải chết song được sự sống đời đời.” ( Ga 3, 16 ) Đức Giêsu đã hoàn toàn vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa, thể hiện công khai Tình Yêu qua cuộc đời rao giảng Tin Mừng. Vì yêu thương nhân loại, Người mặc lấy thân xác phàm nhân, nghèo khó, cơ hàn, tầm thường, để gần gũi, an ủi, vỗ về, dẫn dắt mọi người đến sự sống vĩnh cửu. Người chính là ánh sáng, soi chiếu vào chốn tăm tối, tội lỗi, để cứu thoát con người khỏi lầm lạc, chết chóc.“Ta là sự sáng đã đến thế gian, để bất cứ ai tin Ta, người ấy sẽ không ở trong sự tối tăm.” ( Ga 12, 46 )

Nhân ái, khiêm nhu, hiền hậu, khoan dung, tha thứ, Đức Vua Giêsu luôn mãi yêu thương mọi người, nhất là những ai lạc bầy, lẻ đàn, như người thu thuế, phụ nữ hư hỏng, những kẻ bệnh tật, nghèo khổ, bị xã hội loại trừ phân biệt…“Ta đã đến không phải để xét xử thế gian, nhưng là để cứu độ thế gian.” ( Ga 12, 47 )

Đức Vua Giêsu đã hiến tế chính thân mình để minh chứng cho Tình Yêu vô biên của Người với nhân loại. “Không tình yêu nào lớn hơn tình yêu của kẻ hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình.” ( Ga 15, 13 ).

Đức Vua Công Chính

“Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích làm chứng cho sự thật.” ( Ga 18, 36-37 ) Đức Giêsu khéo léo xác nhận chức vụ cao cả, vĩ đại của Người, là làm chứng cho sự thật, cho sự công chính giữa thế gian, đang bị chìm đắm, mê muội trong sự giả dối, gian tà, lưu manh, háo danh, háo lợi. Người đem Tin Mừng đến hạ bệ, giải thoát, xua đuổi, những ngẫu tượng, những tà thần ra khỏi tâm hồn con người. “Thiên Chúa đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái.” ( Cl 1, 13 ) Tiếc thay, không phải ai cũng sẵn sàng mở lòng đón nhận Đức Vua Công Chính.“Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.”( Ga 1, 11 )

Chỉ duy nhất Đức Vua Giêsu mới có thể dẫn dắt con người đến nguồn sống vĩnh cứu. Bởi vì Người chính là chánh đạo, là ánh sáng cứu độ: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” ( Ga 14, 6 )

Đức Vua Bình An

“Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng.” ( Mt 11, 28 – 30 ) Trong một thế giới ồn ào, xô bồ, thực dụng, chụp giựt cơ hội làm giàu, tranh nhau chức quyền, con người điên đảo, quay cuồng, chạy theo gía trị vật chất, phàm tục, làm sao có bình an trong tâm hồn? Phước thay, Đức Giêsu đã kịp thời đem lại bình an cho nhân loại. “Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.” ( Lc 2, 14 )

Sự bình an đích thực không thể bỗng dưng mà có, nếu không nhờ Đức Vua Giêsu chịu hy sinh, hiến tế trên đồi Golgotha. “Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.” ( Cl 1, 20 )

Đức Vua Bình An luôn thân thương mời gọi con người gia nhập vào Nước Chúa, sống theo đường lối của Người, theo chân lý của Người, tuân thủ theo Bát Phúc, thì mới được hưởng phúc an bình và niềm vui. “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” ( Rm 14, 17 )

“Con nắm vững một đường lối tông đồ: “Thí mạng vì anh em.” Vì không có tình yêu nào lớn lao hơn. Con hao mòn từng giây phút và sẵn sàng tiêu hao, để chinh phục anh em về với Chúa.”( Đường Hy Vọng, số 981 )

Lạy Chúa Giêsu, Vua trên hết các vua, nhưng không thống trị, mà yêu thương phục vụ, không chỉ thị ra lệnh, mà chỉ khuyên nhủ, ủi an, không gay gắt kết án, mà chỉ ra tay cứu giúp, không trừ khử, mà luôn đi tìm kẻ lạc đường trở về. Xin Người dạy cho chúng con sống trung thành với Tin Mừng, để xứng đáng làm công dân Nước Trời.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa mà vô cùng khiêm hạ, hiền hậu, từ bi, nhân ái, xin Mẹ giúp chúng con cải tà quy chánh, một lòng một dạ tuân giữ Hiến Chương Nước Trời, để được Đức Vua Giêsu thương yêu mãi. Amen.

 

.

ĐỂ NÊN THÀNH VIÊN TRONG VƯƠNG QUỐC CỦA VUA GIÊSU

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Ga 18,33-37

(33) Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su và nói với Người: “Ông có phải là Vua dân Do thái không?” (34) Đức Giê-su đáp: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về Tôi?”. (35) Ông Phi-la-tô trả lời: “Tôi là người Do thái sao? Chính dân của ông và các thương tế đã nộp ông cho tôi. ông đã làm gì?” (36) Đức Giê-su trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho dân Do thái. Nhưng nay Nước tôi không thuộc chốn này”. (37) Ông Phi-la-tô liền hỏi: “Vậy ông là Vua sao?” Đức Giê-su đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là Vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: Đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”.

  1. Ý CHÍNH: Trước tòa án của quan Tổng Trấn Phi-la-tô, Đức Giê-su đã cho ông biết về Vương Quốc của Người. Vương Quốc ấy thiêng liêng và không thuộc về thế gian, không có quân đội và không biên giới. Đức Giê-su cũng khẳng định Người là Vua, nhưng là vị Vua Thiên Sai, đến để làm chứng cho sự thật. Thần dân của Người là những ai sẵn sàng tin theo sự thật của Người.
  2. CHÚ THÍCH:

– C 33-34: + Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-suĐức Giê-su đã bị dân quân Đền thờ bắt tại vườn Cây Dầu vào đêm thứ Năm sau bữa tiệc ly Vượt Qua mừng trước. Sau khi bị bắt Đức Giê-su đã bị tòa án tôn giáo xét xử và bị thương tế Cai-pha kết án tử hình(x Ga 18,19-24). Tuy nhiên vì các đầu mục Do thái đã bị người Rôma truất quyền kết án tử hình (x. Ga 18,31), nên sáng hôm sau, họ đã giải Đức Giê-su đến dinh quan Phi-la-tô để yêu cầu ông này kết án tử hình cho Đức Giê-su. Họ đứng ngòai sân chứ không vào trong nhà để tránh bị ô uế theo Luật, mà ai vi phạm sẽ không được ăn mừng lễ Vượt Qua (x Ga 18,28b). Quan Phi-la-tô đã phải ra ngòai hành lang để gặp họ. Sau khi biết rõ ý họ muốn, Phi-la-tô đã vào trong phòng thẩm vấn Đức Giê-su + “Ông có phải là Vua dân Do thái không?”: Người Do thái đã tố cáo gian cho Đức Giê-su tội phạm chính trị là xưng mình là Vua dân Do thái, để yêu cầu quan Phi-la-tô quy tội phản lọan và kết án tử hình cho Người. Do đó Phi-la-tô  tra vấn Người về việc này. + “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”: Đức Giê-su không trực tiếp trả lời câu hỏi của Phi-la-tô, nhưng Người gợi ý để ông tự xét lời tố cáo đó có cơ sở không hay chỉ là sự vu cáo bịa đặt?

– C 35: + Tôi là người Do thái sao?: Phi-la-tô cho biết ông không quan tâm đến những vấn đề tôn giáo, vì ông không phải là người Do thái! + Chính dân của ông và các thương tế đã nộp ông cho tôi. ông đã làm gì?Phi-la-tô cho biết dân chúng và các đầu mục Do thái đã tố cáo như thế để yêu cầu ông xét xử. Ông hỏi Đức Giê-su đã làm gì chống lại họ để đến nỗi bị họ tố cáo như vậy?

– C 36: + “Nước tôi không thuộc về thế gian này”: Đức Giê-su không chối điều họ tố cáo, nhưng Người xác định mình không phải là ông vua trần tục. Vì Nước của Người không thuộc về thế gian này. + “nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho dân Do thái”: Lời này cho thấy sự khác biệt giữa vương quốc thế gian và Vương Quốc của Thiên Chúa. Khác về tinh thần cai trị (x. Mt 20,24-28), về hiến pháp (x. Mt 5,1-12), về điều kiện gia nhập (x. Mt 7,21), về sự vững bền (x. Mt 25,46), về tương quan giữa vua với dân (x Ga 13,12-15).

– C 37: + “Vậy ông là vua ư?”: Đặt câu hỏi này, Phi-la-tô chỉ tò mò muốn biết thêm về chức vị vua thiêng liêng trong Nước Trời của Đức Giê-su, chứ ông không nghĩ Người là vua thế tục. Phi-la-tô biết rõ Đức Giê-su không làm loạn, vì Người không có quân đội để tự vệ khi bị người Do thái vây bắt. + “Chính ngài nói: tôi là vua”: Đức Giê-su xác nhận Người là Vua. nhưng là Vua Tình Yêu, Vua Mục Tử: Người hiểu biết từng con chiên (x. Ga 10,14), nuôi dưỡng đàn chiên (x. Ga 10,3), đi tìm chiên lạc (x. Ga 10,16), bảo vệ đàn chiên và sẵn sàng hy sinh tính mạng cho đàn chiên (x. Ga 10,11.15). Tóm lại, Người đến “để cho chiên được sống và sống dồi dào” (x. Ga 10,10). + “Tôi đã đến thế gian là để làm chứng cho sự thật”: Sứ mệnh của Đức Giê-su là đến để làm chứng cho sự thật. ** làm chứng theo tiếng Hy Lạp nghĩa là tử đạo. Đức Giê-su làm chứng cho sự thật bằng việc đổ máu ra vì yêu nhân loại đến cùng ** Sự thật không có nghĩa là không gian dối, nhưng chính là Tin Mừng Nước Trời mà Người loan báo. Sự Thật ấy cũng là mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa, đã được biểu lộ qua cuộc đời, lời rao giảng và nhất là trong biến cố Tử nạn và Phục sinh của Đức Giê-su. + Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”: Đức Giê-su đến không những để cứu độ dân Do thái là dân được Thiên Chúa ưu tuyển, mà Người còn đến cứu mọi dân nước tin vào Tin Mừng của Người và gia nhập vào Nước Trời là Hội Thánh hôm nay và là Thiên Đàng mai sau.

  1. CÂU HỎI:

1)Tại sao các đầu mục Do Thái lại giải Đức Giê-su đến tòa án của quan Phi-la-tô?

2) Tại sao người Do thái không vào trong nhà làm cho quan Phi-la-tô phải đi ra ngòai hành lang để tiếp họ đứng dưới sân?

3) Đức Giê-su cho Phi-la-tô biết Nước Trời do Người thiết lập có những đặc tính nào khác với nước thế gian?

4) Khi hỏi Đức Giê-su: “Ông là Vua ư?”, Phi-la-tô có tin những lời các đầu mục Do thái tố cáo Đức Giê-su không?

5) Đức Giê-su nhận mình là Vua nhưng chức vị này có những phẩm chất nào?

6) Đức Giê-su đến để “Làm chứng cho Sự Thật” nào và làm chứng bằng cách nào?

7) Ngòai dân Do thái ra, Đức Giê-su còn đến cứu độ những ai?

.

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: “Tôi là Vua” (Ga 18,37):
  2. CÂU CHUYỆN:

1) THẺ CĂN CƯỚC TRONG VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU CỦA VUA GIÊSU:

Ngày 11/11/1951 trong một bài diễn từ, Đức Thánh Cha Piô 12 đã kể lại một giai thoại. Có một phụ nữ kia rất đạo đức, nhưng sức khỏe quá yếu ớt. Cô ta bị chứng sưng màng phổi và rất khó thở. Lâu lâu căn bệnh tái phát làm cô rất đau đớn. Nhưng cuối cùng cô cũng lập gia đình, mang thai và chờ ngày sinh nở. Bất hạnh bất ngờ ập đến. Căn bệnh năm xưa tái phát trầm trọng. Các bác sĩ đề nghị phải hủy bỏ thai nhi để bảo toàn tính mạng cho người mẹ. Người chồng cũng đồng ý như thế. Cô đã cầu nguyện trong nhiều ngày và kiên quyết từ chối lời đề nghị của bác sĩ. Cô nói trong nước mắt: “ Tôi không thể giết con của tôi. Con tôi phải sống, cho dù tính mạng tôi có ra sao đi nữa”. Cô ta chấp nhận tình huống xấu nhất có thể xảy ra và phó thác hoàn toàn cho Chúa. Cuối cùng cô đã sinh được một bé gái kháu khỉnh, nhưng sau đó sức khỏe của cô ngày càng suy kiệt. Hai tháng sau, người phụ nữ tắt thở, trên tay vẫn ôm chặt lấy đứa con mà cô ta hết lòng thương mến.

Hơn hai mươi năm trôi qua, người ta thấy một nữ tu trẻ rất xinh đẹp đang ân cần chăm sóc cho các cháu bé mô côi trong một trại tế bần. Vòng tay thân thương và cặp mắt long lanh của vị nữ tu sáng rực lên nét yêu thương mà chị đã được truyền thụ lại từ chính người mẹ của mình. Đó là  người phụ nữ năm xưa đã chấp nhận hy sinh tính mạng để cho con bà được sống. Người mẹ can đảm này đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 tôn phong Chân phước, bởi vì bà đã thực sự đi vào Vương quốc tình yêu theo dấu chân của Đức Giêsu. Chính Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo 2 đã nói: “ Một đất nước nào, một chế độ nào cho phép con người sát hại lẫn nhau, thì đất nước đó, chế độ đó đang đi tới hủy diệt”. Đó là một đất nước đi ngược lại hiến pháp của Vương quốc Giêsu. Sống trong Vương quốc này, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta phải sống với một nền văn minh mới, đó là ‘nền văn minh của tình thương’. Mẹ Têrêsa Calcutta cũng đã từng nói: “ Một người mẹ nhẫn tâm giết chết con của mình, thì không còn một thứ tội ác nào mà họ không dám làm”. Biết bao tội ác nhan nhản đang xảy ra trong xã hội hôm nay vì người ta đang dần đánh mất đi thẻ ID (identity card) để chứng minh mình là công dân Nước Trời.

2) CHỈ ĐỨC GIÊSU MỚI LÀ VUA TRÊN HẾT CÁC VUA, CHÚA TRÊN HẾT CÁC CHÚA:

Lịch sử nước Anh có câu chuyện về một ông vua có lòng khiêm nhường và đạo đức tên là KÊ-NẮT Đệ Tam (CANUT III). Là vua của một cường quốc, nên chung quanh ông ta lúc nào cũng có những nịnh thần nói lời ca tụng, tâng bốc. Một hôm, trong một buổi triều yết, các nịnh thần đã nịnh hót nhà vua như sau: “Muôn tâu thánh thượng! Thánh thượng là vua trên hết các vua, là chúa trên hết các chúa”.-“Thánh thượng có toàn quyền cả trong đất liền cũng như ngòai biển cả bao la!”

Nghe vậy, nhà vua muốn dạy cho quần thần một bài học, nên đã mời tất cả quan chức triều đình cùng đi du lịch đến một bãi biển dành riêng cho hoàng gia. Khi mọi người đều theo sau nhà vua xuống bãi tắm đang có các cơn sóng vỗ rì rào, nhà vua liền tuyên bố: “Hỡi biển cả kia. Nhiều người nói ta là vua trên hết các vua, là chúa trên hết các chúa, có quyền trên đất liền và trên biển khơi. Vậy hỡi biển cả hãy nghe đây: Ta truyền cho sóng biển không được tràn tới nữa!”. Nhưng dù nhà vua đã ra lệnh, mà nước biển vẫn cứ từng đợt thi nhau đổ tới tấp lên bãi cát làm ướt cả áo cẩm bào của nhà vua cùng quần áo quan chức triều đình! Sau đó nhà vua dẫn quần thần đến một nhà nguyện gần đó. Vua quì gối trước tượng Thánh giá Chúa Giê-su, lấy ra chiếc vương miện bằng vàng đội lên đầu Chúa và cầu nguyện như sau: “Lạy Chúa Giê-su. Chỉ có Chúa mới là “Vua trên hết các vua”, là “Chúa trên hết các chúa”. Chỉ có Chúa mới “có quyền trên cả đất liền cũng như biển khơi” Con xin ngợi khen Chúa. AL-LÊ-LU-IA!”.

  1. THẢO LUẬN:

1) Mỗi tín hữu chúng ta cần làm gì để Chúa Giê-su làm Vua gia đình mình?

2) Chúng ta cần làm gì để có thẻ căn cước trong Vương Quốc của Vua Giêsu ?

  1. SUY NIỆM:

Ngày nay quân chủ hầu như đã trở nên xa lạ đối với nhân loại. Trên thế giới hiện nay chỉ còn một ít nước Âu Á như: Anh quốc, Tây Ban Nha, Bỉ, Hòa Lan, Thụy Điển, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia… vẫn duy trì chiếc ghế của vua chúa hay nữ hoàng, nhưng chỉ mang tính tượng trưng theo truyền thống chứ không có thực quyền. Thay vào đó, chế đọ dân chủ đã được hầu hết các quốc gia áp dụng. Con người càng văn minh lại càng muốn sống bình đẳng và không muốn kẻ khác đè đầu đè cổ mình. Như vậy Hội Thánh mừng lễ Chúa Kitô làm Vua liệu có gây ra dị ứng nơi tâm thức của con người ngày nay, đặc biệt nơi giới trẻ hay không? Đức Giêsu có thực sự là Vua hay không và ta phải làm gì để được vào Nước Trời của Vua Giêsu ?

1) Đức Giêsu thực sự là Vua Mục Tử:

Qua bài Tin mừng hôm nay, Philatô đã đặt ra nhiều câu hỏi về điều mà các người đầu mục Do thái tố cáo: “Ông có phải là Vua dân Do thái không?”. Người đã trả lời ông ta: “ Chính ông nói tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi”. Qua đó, Đức Giêsu đã khẳng định Người chính là Vua, và đến thế gian để thiết lập một Vương quốc sự thật.  Philatô không hiểu nên hỏi lại: “Sự thật là gì?” . Sở dĩ ông không hiểu sự thật của Chúa vì ông không phải là thần dân của vương quốc Sự Thật mà Người thiết lập (x. Ga 18, 33-38).

2) Vương quốc của Đức Giêsu là “Vương quốc Sự thật”:

Tin mừng Gioan, Chúa Giêsu đã nói khá nhiều về Vương quốc Sự Thật mà chính Người sẽ khai mở. Khi nói chuyện với người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp, Đức Giêsu đã vén mở một phần về Vương quốc sự thật ấy: “ Thiên Chúa là Thần khí và những kẻ thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong Thần khí và sự thật” (Ga 4, 24). Cũng vậy trong bữa tiệc ly để giã từ các môn đệ, Đức Giêsu đã khẳng định: “ Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6). Người đến để chúng ta là thần dân của Người “được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10). Người cũng cho Philatô biết về nước Trời của Người: “Nước tôi không thuộc thế gian này”(c 36). Tuy nhiên, chính Philatô sau đó đã cho treo một tấm bảng gắn trên đầu cây Thập giá với hàng chữ: “Giêsu Nazareth, vua dân Do thái”. Qua đó ông đã chính thức công bố sự thật này là: Đức Giêsu là Vua của dân Do Thái và là Vua của toàn thể Vũ trụ.

3) Điều kiện để được vào Nước Trời là sống giới răn yêu thương cụ thể:

Vua Giêsu đã đảo lộn mọi bậc thang giá trị của con người khi cho biết trong Nước Trời: “Ai muốn làm lớn nhất thì phải trở nên người bé nhất” noi gương Người, Đấng “đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến ban sự sống cho nhiều người” (Mc 10,45).

Vương quốc mà Chúa Giêsu thiết lập là Vương quốc của tình yêu, và chỉ những ai sống tình yêu thương mới đủ điều kiện gia nhập vào Nước ấy như Người sẽ nói với người lành trong ngày phán xét: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm” (Mt 25,34-36). “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã cho biết tình yêu đích thực là thái độ sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình: “Không có tình yêu nào cao quý cho bằng mối tình của người hiến ban mạng sống cho bạn hữu” (Ga 15, 13). Tình yêu của Chúa còn là khiêm hạ phục vụ tha nhân, noi gương Đức Giêsu đã quì xuống rửa chân cho môn đồ. Sau đó Người dạy họ: “ Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14). Đức Giêsu cũng đề ra Hiến Pháp của Nước Trời là Bản Hiến chương Nước Trời hay Tám Mối Phúc Thật, trong đó, Người đòi hỏi điều kiện để được gia nhập Nước Trời như sau: Phải sống khiêm hạ và đơn giản, ứng xử hiền lành, chịu đau khổ bệnh tật, ước ao nên trọn lành, có lòng thương xót người khác, có tâm hồn thanh sạch, luôn gây thuận hòa với tha nhân, sẵn sàng chịu bách hại vì đức tin…

4) Sống theo Chúa là làm chứng cho Sự Thật và sống yêu thương phục vụ:

  1. a) Kitô hữu là những người chọn bước theo chân Đức Giêsu Kitô, đi trên con đường của Ngài, là con đường sự thật. Vậy chúng ta phải làm gì để làm chứng cho sự thật, nhất là trong bối cảnh hôm nay, khi sự giả dối ngày càng chiếm ưu thế. Trước hết, phải sống đúng sự thật,theo sự mách bảo của Chúa Thánh Thần qua tiếng lương tâm. Vì có lẽ chưa bao giờ sự tha hóa trong cung cách làm ăn buôn bán của người Việt nam chúng ta lại bị xuống cấp như hôm nay. Chưa bao giờ vì mưu sinh, muốn làm giàu mau lẹ mà người ta đã dùng mọi thủ đoạn, bỏ qua lòng đạo đức, tiếng lương tâm, để buôn bán hàng gian hàng giả gây nguy hại cho sức khỏe của đồng bào của mình: Ra đường thì dễ bị cán phải đinh do “đinh tặc” rải có thể bị té ngã chết người, dắt xe đi vá thì bị “chặt” với giá “cắt cổ”. Khi đổ xăng thì không chỉ bị gian lận số lượng mà còn gặp phải nạn xăng dổm gây cháy xe. Ra chợ thì mua phải thực phẩm pha chế các thuốc có thể gây ung thư; không ít quán ăn làm ra thực phẩm thiếu vệ sinh để bán cho thực khách, nhiều người chết vì uống nhầm rượu dỏm hay áo ngực của phụ nữ nhập từ Trung Quốc có chứa chất độc nguy hại gây ung thư da cho người tiêu dùng…
  2. b) Ngoài ra chúng ta phải biết dùng lời nói chân thật, khiêm tốn và khoan dung nhân hậu để đem lại sự an vui thuận hòa, để yêu thương và tha thứ, để bênh vực và che chở, để quan tâm nâng đỡ và khích lệ, đồng thời sẵn sàng để cho người khác trổi vượt hơn mình thì tâm hồn chúng ta mới thực sự nên cao đẹp và an bình. Hãy năng đọc hay hát bài Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô,rồi quyết tâm thực hành để nên chứng nhân hữu hiệu cho Chúa hôm nay.
  3. NGUYỆN CẦU

– LẠY CHÚA GIÊ-SU: Ngày nay các bạn trẻ thường hay chọn cho mình một thần tượng để tôn sùng và bắt chước: Người thì mê vua bóng đá Pê-lê; Có người lại chạy theo vua nhạc Rốc Mai-côn Giắc-sân (michael jackson). Có những cô gái cố trang điểm, ăn mặc giống như cô ca sĩ này, hay người mẫu nọ… còn chúng con là môn đệ của Chúa, chúng con có Chúa là vị thần tượng ưu việt duy nhất. Ước chi chúng con nói được như thánh Phao-lô: “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô” (Pl 1,21)- Từ nay “tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20).

– Lạy Chúa. Xin giúp chúng con biết noi gương Chúa là Vua của sự thật. Xin cho chúng con biết yêu sự thật và nói thật để mưu ích cho tha nhân, (nhưng không phải mọi sự thật đều nên nói ra). Xin cho chúng con tránh những lời dối trá lừa đảo. Trong giao tiếp xã hội, xin cho chúng con tránh thái độ đạo đức giả của các người Pha-ri-sêu và kinh sư đã bị Chúa nặng lời quở trách (x. Mt 23,13-36). Trong quan hệ làm ăn buôn bán, xin giúp chúng con biết buôn ngay bán thật, không nói rước nói thách, không làm hàng gian hàng giả, không cư xử bất công lường gạt người nhẹ dạ dễ tin. Xin Chúa giúp chúng con luôn trung thực trong lời nói việc làm, để xứng đáng là công dân trong Nước Trời của Vua Giê-su, Đấng “là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Xin cho chúng con trở thành khí cụ bình an của Chúa để đưa nhiều người về làm con Chúa trong đại gia đình Hội Thánh.

X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.

Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

 

 

Sưu tầm