TRANG CHỦ / TÀI LIỆU / HÀNH TRANG / Qui chế Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh Việt Nam (Phần 1)

Qui chế Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh Việt Nam (Phần 1)

PHẦN II

QUY CHẾ
HUYNH ĐOÀN GIÁO DÂN ĐA MINH
VIỆT NAM

Tỉnh Dòng Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo, Việt Nam

05/2010/PC

VĂN THƯ PHÊ CHUẨN

Kính gởi :
Cha Phanxicô X. Nguyễn Đức Đạt, OP., Đặc trách Huynh đoàn Tỉnh dòng
Toàn thể Anh Chị Em Giáo dân Đa Minh Việt Nam

bt_dinh.jpgKính thưa cha Đặc trách
và anh chị em huynh đoàn rất thân mến,

Tôi vui mừng nhận được bản Qui chế tu chính của Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh Việt Nam được Đại hội Ban phục vụ Huynh đoàn toàn quốc thông qua ngày 11 tháng 11 năm 2009. Ban Cố vấn Tỉnh dòng, sau khi nghiên cứu Bản tu chính một cách kỹ lưỡng, trong phiên họp ngày 19 tháng 7 năm 2010, đã bỏ phiếu chấp thuận Qui chế tu chính với một số sửa đổi đính kèm.

Vì thế qua văn thư này, tôi chính thức phê chuẩn và công bố Qui chế Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh Việt Nam.

Chúng tôi rất vui mừng khi thấy Qui chế tu chính này đã phong phú hơn nhiều so với Qui chế cũ. Có thể nói rằng mức độ phát triển của một tổ chức phần nào được đánh giá qua các qui định có tính pháp chế của tổ chức đó. Một tổ chức có qui chế càng rõ ràng thì càng chứng tỏ sức sống dồi dào và các sinh hoạt phong phú của mình.

Hơn nữa, bản Quy chế tu chính này cũng để đáp ứng những thay đổi của Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh thế giới, theo tinh thần Công vụ của Đại hội Giáo dân Đa Minh Quốc tế và Tuyên bố chung của Bề trên Tổng quyền, năm 2007.

Đọc Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Kitô đã kịch liệt phê phán những đầu óc nệ luật, nhưng điều đó không có nghĩa là Người phê phán sự rõ ràng chi tiết trong các qui định của lề luật. Thực vậy, nếu chỉ có một giới răn duy nhất là luật yêu thương, thì việc triển khai các hình thức cụ thể giúp áp dụng luật duy nhất đó vào các trạng huống khác nhau của cuộc sống lại là điều cần thiết.

Hơn nữa, những qui định này không nhằm gây khó khăn cho sinh hoạt của các huynh đoàn, ngược lại, càng giúp cho những sinh hoạt đó được dễ dàng và phong phú hơn. Vì thế, bản Qui chế luôn cần được điều chỉnh sao cho phù hợp với thực tế của thời đại. Năm nay kỷ niệm đúng 20 năm Qui chế Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh Việt Nam được cha Giuse Đoàn Thiệu, OP., đại diện Bề trên Tổng quyền phê chuẩn thử nghiệm, ngày 9 tháng 3 năm 1990. Bản Qui chế đó cũng đã được tu chính lần thứ nhất ngày 19 tháng 3 năm 2002, và được cha cựu giám tỉnh Giuse Nguyễn Cao Luật phê chuẩn. Như vậy cứ khoảng 10 năm Qui chế được tu chính một lần.

Lần duyệt xét này với tầm mức nội dung và con số các khoản được tu chính và bổ sung, có thể nói Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh Việt Nam đã trưởng thành hơn nhiều. Dĩ nhiên không ai dám dựa vào đó để phủ định giá trị và tính hữu hiệu của Qui chế cũ, nhưng cuộc sống thay đổi, hoàn cảnh thay đổi, đã đến lúc huynh đoàn cần một bản Qui chế phù hợp hơn, như con người lớn lên cần những bộ áo mới hơn phù hợp với mức độ trưởng thành của mình.

Hơn nữa, những sửa đổi được tập trung vào phần đào tạo huấn luyện. Thiết tưởng đây là một nhận định rất đúng đắn, vì anh chị em huynh đoàn đã nhận thức được sự huấn luyện là một điều kiện tất yếu để thanh luyện bản thân theo đòi hỏi của Tin Mừng, trước khi rao giảng cho tha nhân. Tổng hội Bogota nhắc nhở, việc học tập không phải để có kiến thức đi nói cho người khác, nhưng trước tiên vì Lời Chúa làm thay đổi sự hiểu biết của chúng ta về Thiên Chúa, về thế giới và về tha nhân (x.. Bogota, số 99).

Trong phần đời sống huynh đoàn, chúng tôi cũng đọc được sự áp dụng một cách uyển chuyển tinh thần Dòng vào hoàn cảnh huynh đoàn tại Việt Nam. Ai cũng biết bốn nét chính của đời sống Đa Minh là cầu nguyện, đời sống huynh đệ, học tập và giảng thuyết. Bản Qui chế này vẫn theo sát bốn nét chính đó, riêng việc giảng thuyết, được cụ thể hoá bằng đời sống bác ái. Điều này cho thấy anh chị em đã coi việc thi hành bác ái là một hình thức của giảng thuyết, giảng thuyết bằng chứng tá đời sống bác ái của mình. Hơn nữa, việc bác ái này càng phù hợp khi được liên đới với sứ vụ giảng thuyết của các thành phần khác trong Gia đình Đa Minh.

Ước mong bản tu chính này sẽ như một luồng gió mới thổi vào các sinh hoạt của huynh đoàn chúng ta, nhằm đem lại một sức sống mới, làm sống lại nhiệt huyết của mỗi anh chị em thành viên huynh đoàn, theo gợi ý của Tổng hội Bogota 2007. Thực vậy, Tổng hội kêu gọi các thành phần trong Gia đình Đa Minh canh tân đời sống cá nhân cũng như cộng đoàn, làm sống lại nhiệt huyết của thánh Đa Minh và anh chị em thời khai sinh Dòng, để Dòng triển nở một cách phong phú hơn nhân dịp kỷ niệm 800 năm Dòng được chính thức châu phê (1216-2016).

Sau cùng, tôi xin chân thành cám ơn cha Đặc trách và anh chị em đã góp phần trong việc tu chính bản Qui chế này. Xin Cha cùng với Ban phục vụ huynh đoàn tỉnh hoàn chỉnh bản Quy chế theo gợi ý kèm theo, và gởi về Văn phòng Tỉnh dòng ba bản.

Quy chế tu chính này sẽ có hiệu lực vào ngày 25 tháng 3 năm 2011, lễ Truyền tin.

Nguyện xin thánh phụ Đa Minh, thánh nữ Catarina, các thánh Tử đạo Việt Nam chúc lành cho tất cả chúng ta.

Thân mến trong thánh phụ Đa Minh.

Làm tại trụ sở Tỉnh dòng, ngày 15 tháng 8 năm 2010, nhằm ngày lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, cũng là ngày kỷ niệm Cha thánh Đa Minh sai các anh em đầu tiên lên đường.

Tu sĩ Giuse Ngô Sĩ Đình, OP.
Giám tỉnh

Tu sĩ Phêrô Nguyễn Thế Truyền, OP.
Thư k

QUY CHẾ

HUYNH ĐOÀN GIÁO DÂN ĐA MINH
VIỆT NAM

CHƯƠNG I : ƠN GỌI VÀ SỨ MẠNG

  1. Ơn gọi và sứ mạng người Kitô giáo dân : Nhờ bí tích Thánh tẩy, người Kitô giáo dân được thánh hiến cho Thiên Chúa : lãnh nhận các chức vụ tư tế, ngôn sứ, vương đế của Chúa Kitô và trở nên thành phần của Hội thánh.

Hơn nữa, nhờ bí tích Thêm sức, họ được củng cố trong Thánh Thần : can đảm dấn thân cho sứ mạng của Hội thánh bằng phương thức thánh hóa trần gian như men trong bột, theo đặc tính riêng biệt của ơn gọi giáo dân. (x. GH 31, TĐGD 2, GLHTCG 897, 908, QL 1)

  1. Ơn gọi giáo dân Đa Minh : Được Chúa Thánh Thần tác động, người giáo dân Đa Minh sống ơn gọi Kitô hữu của mình theo đoàn sủng Dòng Anh Em Giảng Thuyết, nhờ việc tuyên hứa tuân giữ Luật sống Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh. (x. QL 2 và 14)
  2. Sứ mạng người giáo dân Đa Minh : Tham gia vào sứ vụ tông đồ của Dòng, người giáo dân Đa Minh dấn thân cho việc loan báo Tin Mừng cứu độ cho mọi người bằng đời sống cầu nguyện, hiệp thông huynh đệ, chuyên cần học hỏi và hoạt động tông đồ theo hoàn cảnh riêng (x. QL 4).

CHƯƠNG II : ĐỜI SỐNG ĐOÀN VIÊN

MỤC 1 : KẾT HỢP VỚI THIÊN CHÚA

a. Phụng vụ và cầu nguyện

4. Theo gương Thánh Đa Minh, người luôn “nói với Chúa và nói về Chúa”, đời sống chiêm niệm của chúng ta phải là nguồn mạch nuôi dưỡng sứ vụ giảng thuyết, và ngược lại sứ vụ giảng thuyết lại giúp cho đời sống chiêm niệm được phong phú và mang sắc thái tông đồ. (x. HPNT 4)

5. Thánh lễ và các bí tích : Việc cử hành phụng vụ, đặc biệt bí tích Thánh thể, là trung tâm của đời sống kết hợp với Chúa (x. SHC 57). Anh chị em hãy siêng năng tham dự Thánh lễ một cách ý thức, thành kính và sinh động (x. PV 11), cũng như sốt sắng nhận lãnh các bí tích khác, nhất là bí tích Hòa giải.

6. Kinh phụng vụ : Các giờ kinh Phụng vụ được Hội thánh lập ra để thánh hiến trọn ngày đêm bằng lời ngợi khen Chúa (x. PV 84). Vì thế :

§I. Hằng ngày, anh chị em nên nguyện kinh Phụng vụ, nhất là kinh Sáng và kinh Chiều; nên đọc chung với nhau tại nhà thờ hay nơi thích hợp.

§II. Khi không thể nguyện kinh Phụng vụ được, anh chị em có thể thay thế bằng việc đọc và suy niệm mầu nhiệm Kinh Mân côi.

  1. Các hình thức cầu nguyện khác : Theo truyền thống của Dòng, Phụng vụ chính thức luôn được sống động và nối dài bằng những hình thức cầu nguyện khác. Vì thế, anh chị em hãy siêng năng chầu Thánh Thể, đọc và suy niệm Lời Chúa, chia sẻ Lời Chúa theo nhóm, đọc kinh Mân côi hay cầu nguyện riêng, v.v..
  2. Tĩnh tâm : Mỗi năm, anh chị em phải tĩnh tâm ba ngày để suy gẫm Lời Chúa, cầu nguyện khẩn thiết hơn và duyệt lại toàn bộ đời sống cá nhân và cộng đoàn.

Huynh đoàn nên tổ chức tĩnh tâm chung vào những dịp lễ : thánh Catarina (29/4), thánh Tổ phụ Đa Minh (8/8), Đức Mẹ Mân Côi (7/10) và bổn mạng huynh đoàn.

b. Sống tinh thần các lời khuyên Tin Mừng

9. Đặt nền trên sự thánh hiến của bí tích Thánh tẩy và theo gương thánh Đa Minh, anh chị em sống tinh thần các lời khuyên Tin Mừng trong bậc sống của mình.

§I. Sống tinh thần tuân phục để hiến dâng bản thân mình làm của lễ, kết hợp với hiến tế của chính Đức Kitô, anh chị em quyết tâm từ ý bỏ riêng để tuân phục thánh ý Thiên Chúa trong cuộc sống, vâng nghe giáo huấn của Hội thánh và những hướng dẫn của các vị có trách nhiệm, cũng như mau mắn thi hành những quyết định của cộng đoàn.

§II. Sống tinh thần khiết tịnh để trở nên dấu chỉ sự trung tín của Thiên Chúa đối với con người, cũng như của Hội thánh đối với Chúa Kitô, anh chị em quyết tâm tránh xa những lối sống bất chính, nêu cao vẻ đẹp của đời sống khiết tịnh trong bậc độc thân hoặc hôn nhân.

§III. Sống tinh thần thanh bần để biểu lộ sự tín thác sống động vào Thiên Chúa và cộng tác với Hội thánh trong sứ mạng làm thăng tiến con người, anh chị em quyết tâm không chạy theo lối sống hưởng thụ, nhưng sử dụng của cải cách hữu ích và biết quan tâm chia sẻ với những người nghèo khổ, kém may mắn.

§IV. Anh chị em nên mang huy hiệu Dòng như một dấu chỉ anh chị em được thánh hiến và thuộc về Đức Kitô.

C. Hiệp thông với các thánh

10. Trong ơn gọi và sứ vụ Đa Minh, chúng ta được liên kết với Hội thánh vinh thắng và được chuyển cầu nhờ các chứng nhân đức tin. Anh chị em hãy sống mầu nhiệm hiệp thông các thánh bằng việc tôn kính và noi gương các ngài, đặc biệt Đức Trinh Nữ Maria, thánh cả Giuse và các thánh Dòng.

11. Đức Maria là gương mẫu của việc suy niệm Lời Chúa và mau mắn tuân phục, vì thế, hằng ngày, anh chị em nên đọc và suy niệm các mầu nhiệm kinh Mân côi, kinh Truyền tin, kinh Lạy Nữ Vương.

12. Anh chị em hãy theo gương thánh Giuse, Đấng luôn trung tín với sứ mệnh Chúa giao phó.

13. §I. Theo gương thánh Đa Minh, anh chị em hãy “khao khát ơn cứu độ các linh hồn” và dẫn đưa mọi người về với Chúa bằng lời cầu nguyện và đời sống chứng tá Tin Mừng.

§II. Anh chị em cũng theo gương những vị thánh Dòng, nhất là thánh nữ Catarina và các thánh Tử Đạo Việt Nam.

§III. Hằng ngày, anh chị em hãy đọc kinh thánh Đa Minh và thánh nữ Catarina để biểu lộ lòng tôn kính và yêu mến các ngài.

D. Khổ chế và sám hối

14. Anh chị em hãy quý chuộng những hình thức khổ chế của Dòng :

  1. Luôn hoán cải đời sống theo tinh thần sám hối của Tin Mừng;
  2. Nghiêm chỉnh tuân giữ Luật sống;
  3. Chuyên cần học hỏi các tài liệu huấn luyện để thăng tiến ơn gọi.

15. Mỗi huynh đoàn nên quy định những hình thức sám hối khác để thăng tiến đời sống Kitô hữu, đặc biệt vào những dịp tĩnh tâm và các dịp lễ nói ở số 8.

MỤC 2 : HIỆP THÔNG HUYNH ĐỆ

  1. Qua lời tuyên hứa, anh chị em trở thành phần tử của huynh đoàn và được tháp nhập vào Dòng (x. QL 14). Vì vậy, anh chị em hãy sống đồng tâm nhất trí trong Chúa và hòa hợp với nhau, trước hết, trong huynh đoàn, đồng thời mở rộng sự hiệp thông với các huynh đoàn khác trong Tỉnh dòng, toàn Dòng, và các thành phần khác trong Gia đình Đa Minh.

Mặt khác, sự hiệp thông này không những không cản trở, mà còn tăng cường sự hiệp thông trong Hội thánh địa phương cũng như toàn cầu.

  1. Trong huynh đoàn, mặc dầu anh chị em có khác biệt về tuổi tác, giới tính và phận vụ, nhưng luôn hiệp nhất với nhau trong đức ái (x. 1Cr 13,1tt), và bình đẳng trong ơn gọi và sứ vụ (x. GH 32c). Vì vậy, anh chị em hãy đón nhận và giúp đỡ nhau nên thánh.
  2. §I. Anh chị em hãy bày tỏ tinh thần hiệp thông qua việc luôn cầu nguyện cho nhau và quan tâm đến những người đang gặp khó khăn về tinh thần cũng như vật chất, để có những trợ giúp thích hợp.

§II. Hằng ngày, anh chị em phải đọc một kinh Lạy Cha cầu nguyện cho anh chị em Gia đình Đa Minh và các ân nhân.

  1. Tất cả anh chị em, kể từ khi tuyên hứa, phải tham dự những buổi họp mặt hằng tháng của huynh đoàn. Đây chính là sinh hoạt diễn tả sự hiệp thông huynh đệ sâu xa của chúng ta.
  2. Anh chị em hãy sẵn sàng lãnh nhận trách nhiệm khi được huynh đoàn trao phó để phục vụ cộng đoàn và Hội thánh.
  3. Để tỏ lòng kính nhớ các anh chị em trong Dòng và ân nhân đã qua đời,

§I. Mỗi anh chị em

  1. Hằng năm, tham dự những ngày lễ giỗ của Dòng: Ngày 7/2 cầu cho ông bà cha mẹ, ngày 5/9 cầu cho thân nhân và ân nhân, ngày 8/11 cầu cho anh chị em trong Dòng đã qua đời.
  2. Hằng tuần, hiệp dâng một Thánh lễ và đọc một chuỗi năm mươi kinh Mân côi;
  3. Hằng ngày, đọc một kinh Vực sâu;

§II. Mỗi huynh đoàn

  1. Vào những ngày lễ giỗ của Dòng, xin một Thánh lễ; và nếu có thể, nên tổ chức Thánh lễ có sự tham dự của tất cả anh chị em;
  2. Trong tháng 11, xin một Thánh lễ cầu cho các linh hồn;
  3. Ngoài ra, có thể quy định những hình thức cầu nguyện riêng cho anh chị em, thân nhân và ân nhân của huynh đoàn khi họ qua đời.

22. §I. Khi đức Giáo hoàng qua đời, đức Giám mục Giáo phận, Bề trên Tổng quyền, Bề trên Giám tỉnh, vị đặc trách huynh đoàn tỉnh đương nhiệm và mãn nhiệm qua đời, mỗi huynh đoàn xin một Thánh lễ.

§II. Khi vị đại diện Giám mục phụ trách huynh đoàn, vị đặc trách huynh đoàn giáo phận, vị linh hướng các cấp, linh mục chính xứ, thành viên ban phục vụ huynh đoàn các cấp đương nhiệm qua đời, mỗi cấp liên hệ xin một Thánh lễ.

MỤC 3 : CHUYÊN CẦN HỌC HỎI

  1. Theo gương thánh Đa Minh, anh chị em hãy chuyên cần học hỏi; vì việc học hành chẳng những trợ giúp cho việc chiêm niệm thêm phong phú và thi hành sứ vụ tông đồ hiệu quả hơn, mà còn làm nên nét riêng biệt của đời sống và sứ vụ Đa Minh. (x. QL 10)
  2. Để việc đón nhận, suy tôn và thuyết giảng Lời Chúa đạt được kết quả phong phú, anh chị em hãy chuyên cần học hỏi Kinh Thánh, Phụng vụ, Giáo huấn Hội thánh, Tinh thần Dòng, đồng thời tìm hiểu các vấn đề thời đại dưới ánh sáng đức tin. (x. QL 11 và 13 )
  3. Anh chị em phải tham dự những buổi học hỏi theo chương trình Qui chế đã quy định.
  4. Ban phục vụ huynh đoàn phải lo liệu tổ chức việc học hỏi cho thành viên trong từng giai đoạn huấn luyện, cũng như khuyến khích việc học hỏi trong huynh đoàn bằng những hình thức khác nhau.
  5. Mỗi huynh đoàn phải có những tài liệu và sách báo cần thiết cho việc học hỏi và huấn luyện anh chị em.

MỤC 4 : THI HÀNH SỨ VỤ TÔNG ĐỒ

  1. Sứ mạng do Chúa Kitô ủy thác : Hội thánh hiện diện giữa lòng thế giới để tiếp tục loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho muôn dân theo mệnh lệnh của Chúa Kitô (x. TG. 2,10), đây cũng chính là sứ vụ của Dòng Giảng Thuyết mà tất cả anh chị em đều được mời gọi thực hiện. (Avila 22)
  2. Linh đạo sứ vụ : Sứ mạng tông đồ của người Đa Minh phải xuất phát từ đời sống chiêm niệm sâu xa : khám phá lòng thương xót của Thiên Chúa đối với nhân loại và nhờ tình yêu của Chúa Kitô thôi thúc, chúng ta được biến đổi để trở nên khí cụ tông đồ của Chúa giữa lòng thế giới (2Cr 5,14; TĐGD 4; Avila 93b)
  3. Mẫu gương thánh tổ phụ : Noi gương thánh Đa Minh, người luôn khao khát ơn cứu độ cho mọi người, anh chị em cũng hãy thể hiện một tinh thần nhiệt thành đối với sứ vụ tông đồ.
  4. Đặc tính của sứ vụ Đa Minh : Hoạt động tông đồ của huynh đoàn phải biểu lộ tính cộng đoàn qua việc cùng bàn thảo và thực hiện trong tinh thần đồng trách nhiệm. Vì thế,

§I. Mỗi huynh đoàn phải có kế hoạch tông đồ hằng năm.

§II. Anh chị em hãy sẵn sàng lãnh nhận và chu toàn công việc tông đồ do huynh đoàn ủy thác.

Môi trường thi hành sứ vụ

  1. Hội thánh địa phương : Anh chị em hãy thực hiện công tác tông đồ ngay trong Hội thánh địa phương: nhiệt tình cộng tác với các linh mục, tu sĩ và các thành phần dân Chúa trong việc xây dựng và phát triển giáo xứ về tinh thần cũng như vật chất. Sự cộng tác đó còn phải được mở rộng đến giáo hạt, giáo phận và Hội thánh toàn cầu. (x. KTHGD 28 và 29; GL 311)
  2. Gia đình : Gia đình là Hội thánh thu nhỏ, là môi trường giúp anh chị em nên thánh.

§I. Anh chị em hãy chú tâm vun trồng đời sống thánh thiện trong gia đình theo gương Thánh gia và nêu cao chứng tá Tin Mừng trong chính gia đình mình.

§II. Anh chị em hãy quan tâm đến việc giáo dục Kitô giáo trong gia đình.

  1. Xã hội : Người giáo dân làm tông đồ trong môi trường xã hội là cố gắng làm cho tinh thần Kitô giáo thấm nhuần vào tư tưởng, phong tục, luật lệ và cơ cấu của cộng đồng nơi chúng ta sống. (x. TĐGD. 13). Vì thế,

§I. Anh chị em hãy tích cực xây dựng tinh thần đoàn kết, yêu thương và công bằng trong chính môi trường sống của mình.

§II. Anh chị em hãy mạnh dạn bênh vực sự sống và phẩm giá con người, quan tâm đến những vấn đề xã hội, nhất là tại địa phương mình, và quảng đại giúp đỡ những người nghèo khổ cả tinh thần lẫn vật chất. (QL 12)