Bài hát và Suy niệm (17.02.2019 – Chúa Nhật Tuần VI Mùa Thường Niên Năm C)

 

NL: ĐI VỀ NHÀ CHÚA

ĐC: HẠNH PHÚC THAY

HALL: Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : Anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Ha-lê-lui-a.

DL: LỜI CON NGUYỆN

HL: CUỘC ĐỜI CÒN DÀI

KL: LỜI CHÚA

Lời Chúa: Gr 17,5-8; 1Cr 15,12.16-20; Lc 6, 20-26

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca

17 Khi ấy, Đức Giê-su ở trên núi xuống cùng với Nhóm Mười Hai, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, có nhiều môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng đến từ khắp miền Giu-đê, Giê-ru-sa-lem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đôn.

20 Thấy vậy, Đức Giê-su ngước mắt nhìn các môn đệ và nói :

“Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó,
vì Nước Thiên Chúa là của anh em.
21“Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói,
vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng.
“Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc,
vì anh em sẽ được vui cười.

22 “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. 23 Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.

24 “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi.

25 “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói.

“Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than.

26 “Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.”

Những Mối Phúc Của Thánh Luca

Ở đời người ta có nhiều nhận xét về hạnh phúc. Một cô nàng lấy được chồng giàu, con cái khỏe mạnh, có nhiều tiền tha hồ mua sắm đủ thứ tiện nghi thoải mái, mọi nhu cầu được thỏa mãn, ấy là hạnh phúc. Một anh chàng có vợ đẹp con khôn, nghề nghiệp ổn định là giấc mơ của nhiều người. Khao khát tìm kiếm danh vọng, địa vị đến khi đạt được mong muốn là niềm hạnh phúc cho những người dầy công cố gắng bấy lâu…

Còn trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu lại quảng bá những mối phúc nghe có vẻ ngược đời:

   “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó…” (Lc 6, 20). Có nhiều thứ nghèo: nghèo tiền của vật chất, nghèo sức, thấp cổ bé miệng, số phận hẩm hiu, ít học… Bình thường người khó khăn thiếu thốn sẽ không còn cậy vào sức riêng, mà đặt niềm trông cậy nơi Chúa. Người giàu có, tiện nghi đầy đủ thường thấy an thân không cần đến Chúa, chỉ tìm hưởng thụ và chẳng bao giờ thấy thỏa mãn đủ. Đức Giêsu không cổ động lối sống nghèo nàn đến độ không có những cái căn bản ổn định, để phát triển tinh thần. Ngài nhấn mạnh người có tâm hồn nghèo khó là người không bám víu nặng lòng với của cải vật chất đang có, không hưởng thụ ích kỷ mà sẵn sàng sẻ chia; hay khó nghèo mà không than van, nhưng biết tin tưởng cậy trông vào Chúa quan phòng, họ sẽ được hạnh phúc vì luôn có Chúa hiện diện yêu thương chăm sóc.

   Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười” (Lc 6, 21). Đường lối của Thiên Chúa thì khác xa với cái nhìn của con người, như trong lời kinh ngợi khen của Đức Maria: “Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư”. Những người cùng khốn đang phải khóc lóc sẽ được Thiên Chúa an ủi. Người chịu đau khổ thử thách sẽ được Chúa nâng dậy, ủi an. Họ vẫn tin tưởng vào lời Chúa hứa, Ngài sẽ biến nỗi buồn của họ trở thành niềm vui. Bởi vì chính Ngài là Đấng sẽ lau sạch nước mắt họ.

   “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế” (Lc 6, 22-23). Khi gặp đau khổ thử thách vì sống công chính, ta không than thân trách Chúa hay mất niềm tin tưởng nơi Ngài, nhưng biết liên kết đau khổ với Chúa thì sẽ được hưởng vinh quang với Ngài. Chính Đức Giêsu đã sống triệt để mối phúc này trong cuộc đời bôn ba rao giảng, bị chống đối, loại trừ, sỉ vả và lên án tử trên thập giá đau thương nhục nhã. Nhưng Người đã chiến thắng khải hoàn trong vinh quang. Các thánh tử đạo cũng theo bước chân Người mà chịu muôn cực hình để minh chứng đức tin và giành được phúc tử đạo.

Thánh sử Luca đưa ra bốn mối phúc và bốn điều họa. Những điều họa ngược với các mối phúc ở trên, như là những lời cảnh báo sẽ bị mất hạnh phúc nếu sống tinh thần ngược lại với các mối phúc đó. Bởi vì cửa hẹp dẫn tới vinh quang, đường rộng thênh thang đưa tới diệt vong, nhưng rất nhiều người lại thích đi qua đó.

Chúa ơi! chỉ một mình Chúa mới lấp đầy khao khát hạnh phúc của chúng con. Tiện nghi vật chất không phải là đích điểm cuộc đời. Hạnh phúc của chúng con là chính Chúa. Chúng con chỉ bất hạnh, mất hạnh phúc khi xa rời Chúa mà thôi. Xin cho chúng con luôn tìm gặp và được sống hạnh phúc sung mãn tràn đầy trong Chúa, để dù sống giữa những khó khăn thiếu thốn, sầu khổ gian truân, chúng con vẫn đang tận hưởng hạnh phúc ngọt ngào trong Chúa, ngay hôm nay và mãi mãi.

  Én Nhỏ

***

Mục lục

1. Chúc lành và chúc dữ (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Nghèo vì Nước trời (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Hạnh phúc thật  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

4. Sẽ được đáp đền  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

5. Chúa hứa ban hạnh phúc (Lm. Trần Bình Trọng)

6. Giáo hội bị bách hại (Lm. Anphong Trần Đức Phương)

7. Sống tinh thần nghèo để được hạnh phúc  (Jos.Vinc Ngọc Biển, SSP)

8. Các mối phúc, lời hứa thành hiện thực  (Martin Lê Hoàng Vũ)

9. Phúc cho người nghèo khó (Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến)

10. Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó  (Lm. Đan Vinh)

11. Đối lập  (Trầm Thiên Thu)

12. Chúa muốn chúng ta là những người có phúc (Lm. Antôn Nguyễn văn Độ)

13. Mối phúc thật  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

14. Suy niệm Chúa Nhật 6 Thường niên_C  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

15. Hạnh phúc đầy nghịch lý (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

16. Phúc và họa (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

17. Hạnh phúc thật.  (Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

18. Hạnh phúc  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

19. Phúc cho những ai đặt trọn niềm tin vào Chúa (Lm. Anthony Nguyễn Ngọc Dũng, SDB)

20. Ước gì nghèo một ngày (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

21. Sống dưới ánh mắt Chúa  (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

22. Mối phúc Nước Trời (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

23. Đặt niềm tin vào Thiên Chúa và Con Một Người (Lm. Đaminh Trần Đình Nhi)

24. Thẻ căn cước của Ki-tô hữu  (JM. Lam Thy, ĐVD)

25. Suy niệm chú giải Lời Chúa – Chúa Nhật 6 TN_C  (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

26. Khổ đau và hạnh phúc (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

27. Phúc thật  (Lm. Vũ Đình Tường)

28. Khốn cho kẻ chỉ biết cậy dựa vào tiền bạc và người đời (Lm.Giuse Đỗ Đức Trí)

29. Đúng địa chỉ (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

30. Bốn mối phúc và bốn mối họa  (P.Trần Đình Phan Tiến)

31. Mối phúc (Lm. Trầm Phúc)

 

CHÚC LÀNH VÀ CHÚC DỮ

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Bài đọc Cựu ước và bài Tin Mừng của Chúa nhật này đều bao gồm những lời chúc lành và chúc dữ. Thực ra, những lời được gọi là “chúc dữ” không hẳn là những lời nguyền rủa khi người ta giận dữ và muốn “trù ẻo” người khác. Thiên Chúa tự bản chất là Đấng tốt lành, không lẽ Ngài lại buông những lời nguyền rủa đối với con người, mặc dù họ xấu xa và tệ hại đến mấy đi nữa. Đúng hơn, phải hiểu đây là những lời than vãn và luyến tiếc cho những con người đáng lẽ ra họ phải sống tốt lành, nhưng trong thực tế lại không phải như vậy. Đây là những lời than vãn vì thấy trước những nguy hiểm đang chờ đợi họ ở tương lai, là kết quả của lối sống vô tín đối với Chúa và vô trách nhiệm đối với tha nhân.

Nguyên nhân của những than vãn hay của những lời chúc dữ ấy là gì? đó là sự cậy dựa vào sức mạnh phàm nhân. Theo lời Chúa Giêsu, đó còn là sự kiêu ngạo, cậy vào của cải trần thế. Họ là những người giàu có, no nê và đang vui cười. Dường như họ không cần đến Thượng Đế, vì họ tự cho mình có sức mạnh vô song, có khả năng làm mọi sự. Có một thời, ở Việt Nam, người ta cho rằng niềm tin vào Thượng Đế đã lỗi thời và “cổ hủ”. Vì vậy, con người có thể “thay trời làm mưa”. Người ta cũng thường rêu rao “bàn tay ta làm nên tất cả”. Đây là lối suy nghĩ ảnh hưởng thuyết vô thần duy vật, coi con người như những “thượng đế” và tự quyết định tương lai, không cần đến thần linh hay Đấng Cao cả nào khác. Thực tế đã chứng minh cho chúng ta thấy một xã hội loại trừ Thiên Chúa sẽ trở nên bất hạnh như thế nào. Hậu quả là bạo lực, dối trá, lường gạt và phi luân lý tràn lan mọi lãnh vực cuộc sống.

Chúa Giêsu đã cảm thương và coi những người kiêu ngạo cậy mình, là những người bất hạnh. Cách nói “Khốn cho các ngươi”, như đã nêu ở trên, không phải là lời nguyền rủa, nhưng là một lời than vãn, tựa như khi ta nói: Thật bất hạnh thay, những kẻ cậy vào của cải, những kẻ cho rằng mình tự làm được mọi sự, và những kẻ đang vui cười, vì tương lai của họ thật đen tối và thảm hại!

Những hình ảnh được dùng để minh họa người hạnh phúc và người bất hạnh cũng rất cụ thể và dễ hiểu. Đó là những cây được trồng để sinh hoa kết trái. Người đặt niềm tin ở người đời mà lãng quên Thiên Chúa thì giống như cây mọc trong sa mạc cằn cỗi, quanh năm khô cháy vì chỉ có gió và nắng nóng. Trái lại, người đặt niềm tin nơi Chúa thì giống như cây trồng bên suối, quanh năm bốn mùa sinh hoa trái tốt tươi.

Lắng nghe Lời Chúa hôm nay, mỗi người tự vấn lương tâm, để xem cuộc đời và tương lai của mình đang đặt nền tảng trên cái gì. Trong cuộc sống đầy bon chen toan tính, chúng ta có nguy cơ phủ nhận Thiên Chúa để tìm cho mình những nguồn trợ lực trần gian. Những nguồn trợ lực ấy, có thể đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của chúng ta, hoặc có thể đem lại cho chúng ta những niềm vui nhất thời, nhưng không bền vững và nhất là không đem lại cho chúng ta niềm vui siêu nhiên. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng lấp đầy những khát vọng của chúng ta. Người là Cha nhân hậu, hiểu biết nỗi lòng và nguyện vọng của chúng ta. Người cũng thấu hiểu những băn khoăn trăn trở của chúng ta và ra tay cứu giúp, nếu chúng ta tin tưởng phó thác nơi Ngài.

Nhiều người nản lòng vì họ cầu nguyện mà dường như Chúa không nhận lời. Thánh Phaolô mời gọi chúng ta hãy kiên trì và hy vọng kể cả trong những hoàn cảnh bi đát nhất. Thực thế, mầu nhiệm Phục sinh là một bằng chứng cho quyền năng của Thiên Chúa. Ngôi mộ là một kinh nghiệm đen tối nhất của kiếp con người. Vậy mà Chúa Giêsu đã chiến thắng tử thần, bước ra khỏi mộ vinh quang. Người tin vào Chúa Giêsu là người sống niềm hy vọng, kể cả những lúc cơ cực nhất. Họ không chỉ chờ đợi những lợi lộc trần gian, mà còn hướng tâm hồn về trời, là phần thưởng tối hậu cao quý Chúa dành cho những ai yêu mến cậy trông Người. Thánh Phaolô khẳng định: “Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (Bài đọc II).

Mỗi người trong chúng ta có một môi trường sống: gia đình, văn phòng, công ty, phố chợ, công trường… Trong những môi trường ấy, mỗi chúng ta đều là một cây do Thiên Chúa trồng. Những ai cậy trông nơi Ngài, sẽ quanh năm trổ lá sinh hoa, đem lại hoa thơm trái ngọt cho đời. Chúng ta được hưởng lời chúc lành hay chúc dữ, đó không phải là một định mệnh, nhưng là do chúng ta tự do chọn lựa, thể hiện qua lối sống của mình. Xin Chúa giúp chúng ta luôn kiên trung bền bỉ, cậy trông vào Chúa, để nhờ suối ân sủng của Ngài, chúng ta luôn sinh hoa kết trái.

“Chúng ta sẽ an toàn vượt qua giông tố, bao lâu niềm tin của chúng ta còn gắn chặt vào Thiên Chúa” (Thánh Phanxicô de Salê)

 

.

NGHÈO VÌ NƯỚC TRỜI

Tgm. Ngô Quang Kiệt

Bầu khí ngày Tết vẫn chưa tan, nhất là tại miền Bắc giàu truyền thống lễ hội. Ta vẫn còn nghe những lời chúc thịnh vượng, khang ninh cho năm mới. Đầu năm mới, các nước trên thế giới đều phấn đấu để kinh tế phát triển, tăng thu nhập cho toàn dân. Thế nhưng Lời Chúa hôm nay lại nói: “Hỡi anh em là những kẻ nghèo khó, anh em thật có phúc, vì Nước Thiên Chúa là của anh em”. Phải chăng Chúa Giêsu phản lại tiến bộ, muốn nhân loại tụt hậu?

Để thấu hiểu Lời Chúa, ta cần ghi nhận mấy điểm sau đây:

Trước hết ở đây Chúa Giêsu không nói về kinh tế, nhưng nói về hạnh phúc, nhưng vật chất tự nó chưa phải là hạnh phúc. Câu chuyện về công nương Diana là một minh hoạ rõ nét.

Mùa hè năm 1997, cả thế giới xôn xao về cái chết của công nương Diana. Công nương Diana là một phụ nữ xinh đẹp. Từ khi kết hôn với thái tử Charles, con của nữ hoàng nước Anh, công nương trở thành người có danh vọng và đồng thời cũng có nhiều tiền của vào bậc nhất trên thế giới. Có lẽ ai cũng nghĩ rằng một phụ nữ đẹp đẽ, giàu sang, phú quý như thế phải là người hạnh phúc nhất trên đời. Nhưng không đúng như thế. Công nương rất đau khổ vì cảnh gia đình thiếu tình yêu thương chân thực. Thái tử Charles vẫn lén lút quan hệ với người tình cũ. Đau khổ mà chẳng thể nói ra, vì cả gia đình bên chồng muốn giữ uy tín cho hoàng gia. Chán nản với đời sống gia đình, công nương đã tìm vui bên người bạn trai mới. Trong một chuyến đi chơi ở Paris, cả hai bị thiệt mạng trong một tai nạn xe hơi. Có nhiều người cho rằng chính hoàng gia Anh đã gây ra tai nạn. Không ai nghĩ rằng cuộc đời công nương có hạnh phúc, dù bà có tất cả: sắc đẹp, tiền của, danh vọng.

Thứ đến, Chúa không lên án vật chất, nhưng chỉ lên án thái độ sử dụng vật chất. Vật chất do Chúa dựng nên để phục vụ con người. Chúa dựng nên và Chúa thấy mọi sự đều tốt đẹp. Nhưng con người đã làm sai chương trình của Chúa. Thay vì sử dụng vật chất như phương tiện, người ta đã biến nó thành mục đích. Thay vì sử dụng vật chất phục vụ đồng loại, người ta đã sử dụng đồng loại để phục vụ vật chất. Đó là những thái độ bị Chúa lên án. Những thái độ ấy biến vật chất thành chướng ngại ngăn cản ta đạt đến hạnh phúc Nước Trời.

Sau cùng, Chúa không khuyến khích cảnh nghèo, càng không khuyến khích những người vì lười biếng mà trở nên nghèo. Chúa chỉ khuyến khích những người vì Nước Trời mà tự nguyện sống nghèo.

Những người vì Nước Trời mà tự nguyện trở nên nghèo là những người hiểu biết giá trị thực sự của tiền bạc. Biết rõ tiền bạc chỉ là phương tiện nên họ dùng tiền bạc mà không dính bén, có tiền mà không nô lệ cho đồng tiền, nhất là biết dùng tiền vào những việc hữu ích cho đồng loại. Vì tha nhân, vì Nước Trời mà tự nguyện sống nghèo.

Những người tự nguyện sống nghèo như thế không làm cho xã hội tụt hậu, trái lại giúp phát triển xã hội, đưa nhân loại tiến lên. Không chỉ tiến lên về văn minh vật chất mà còn tiến về nền văn minh tình thương.

Những người tự nguyện sống nghèo như thế giúp nâng cao nhân phẩm con người, đem niềm vui cho người sầu khổ, gieo niềm hy vọng cho những người bị bỏ quên, đem tình thương đến cho những người bị gạt ra ngoài lề xã hội.

Những người tự nguyện sống nghèo như thế không phải là những người lười biếng, hèn nhát, uỷ mị, bạc nhược. Trái lại đó là thái độ của những tâm hồn dũng mạnh, luôn phấn đấu với chính mình để nâng tâm hồn mình và nâng cả thế giới lên.

Tự nguyện sống nghèo như thế là một mối phúc cho thế giới, cho nhân loại. Thế giới sẽ tốt đẹp biết bao nếu có nhiều người tự nguyện như thế.

Sau đám tang của công nương Diana 1 tuần lễ, thế giới lại xôn xao về một đám tang khác: đám tang của mẹ Tesexa Cancutta. Khác hẳn với công nương Diana, mẹ Tesexa là một nữ tu già nua, sống một đời sống nghèo. Trong phòng của mẹ chỉ có một chiếc ghế và một chậu thau đựng nước. Người ta cho mẹ nhiều tiền, nhưng mẹ tự nguyện sống nghèo, dành hết tiền của để giúp những người nghèo, những trẻ mồ côi, tàn tật. Khi Đức Giáo hoàng sang thăm Ấn Độ, thấy mẹ đi lại công tác nhiều, tặng mẹ một xe hơi sang trọng. Nhưng khi Đức Giáo hoàng về, mẹ đã bán xe lấy tiền giúp người nghèo. Có 40 nguyên thủ quốc gia đến tham dự đám tang của mẹ. Và Ấn Độ, một nước không ưa gì đạo Công giáo, đã cử hành quốc tang cho mẹ. Hai mươi mốt phát súng đại bác tiễn đưa linh hồn mẹ trong khi các vị nguyên thủ quốc gia quyền uy đứng cúi đầu kính cẩn trước thi hài vị nữ tu già nua, nghèo khó. Mẹ đã thực hành Lời Chúa: “Phúc cho anh em là người nghèo khó, vì Nước Trời thuộc về anh em”.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

  1. Bạn có kinh nghiệm vui buồn gì về tiền bạc? Vì tranh chấp tiền bạc mà mất tình nghĩa? Nhờ biết nhường nhịn về tiền bạc mà thêm bạn hữu?
  2. Lời Chúa hôm nay có chúc phúc và chúc dữ. Bạn thuộc diện nào? Được chúc phúc hay bị chúc dữ?
  3. So sánh cuộc đời của công nương Diana và cuộc đời của mẹ Tesexa, bạn rút ra được quyết định nào cho đời bạn?
  4. Tiền bạc và hạnh phúc. Bạn thấy chúng có liên hệ gì với nhau?

 

.

HẠNH PHÚC THẬT

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Sống trên đời giầu và nghèo là hai thái cực, hai giai cấp luôn đối chọi nhau.Tin Mừng của thánh luca hôm nay cho chunh1 ta hiểu thế nào là lời chúc, thế nào là lời nguyền rủa của Chúa. Hạnh phúc mà con người muốn đạt được ở trần gian này, chắc chắn không phải là cái gì mau qua, chóng tàn mà phải là sự bền lâu, vĩnh viễn..Tin Mừng mô tả các mối phúc để mời gọi người tín hữu chọn lựa.

Tin Mừng của thánh Luca hôm nay đưa ra bốn lời chúc phúc của Chúa Giêsu cho những kẻ nghèo đói, khóc than, bị khử trừ, bị sỉ vả và bốn lời nguyền rủa, chúc dữ cho những người giầu có ,no phỉ,vui cười, được nhiều người ở đời ca tụng, tán dương. Đây là những điều nghịch lý, phản đề, đối chọi,mời gọi người môn đệ Chúa phải biết phân định, chọn lựa vv…

Điều Chúa muốn hướng chúng ta và mọi người về những người xấu số, khổ cực, đói nghèo, những kẻ thấp cổ bé họng , đồng thời Ngài đem lại cho họ niềm hy vọng.Thực tế, Chúa không lên án những người giầu có vì họ có lắm tiền, nhiều của, Chúa không bần cùng hóa xã hội, nhưng Chúa chỉ lên án những người giầu có khi họ có tiền của mà không biết chia sẻ, dùng tiền của vung vít, bừa bãi mà không nghĩ đến những người nghèo, những người cơ cực trong xã hội. Chúa chỉ lên án người giầu khi họ dùng tiền, tài sản như vật cản đường không cho người khác đến với Chúa, và vào Nước Trời.

Tiền bạc, của cải, tài sản tự nó không phải những gì xấu xa, tội lỗi. Cách sử dụng tiên của sao cho phù hợp mới là điều quan trọng. Tiền của, vật chất có thể được dùng vò việc tốt và việc xấu. Điều quan trọng là biết chia sẻ và trao ban. Anh thanh niên giầu có trong Tin mừng là một điển hình cụ thể. Anh có thể thao Chúa, nhưng với điều kiện duy nhất là đừng bám víu, đừng ham của cải nữa mà về bán hết tài sản, phân chia cho những người nghèo khó và đi theo Đức Giêsu. Tự bản chất, giầu không phải là xấu.Nghèo cũng không phải là nhân đức.

Khốn cho người giầu có khi họ chỉ bo bo giữ của cho riêng mình, không biết xót thương, chia sẻ, trao ban. Họ thu tích của cải, tiền bạc vào kho, rồi đóng kín kho không biết mở ra để giúp người nghèo, giúp những công việc chung vv…Hạnh phúc đích thật là con người biết yêu thương, chia sẻ, quảng đại cho đi mà không đòi lại.

Vâng, người ta sinh ra ở đời là để được sống hạnh phúc. Cả cuộc sống trần gian của con người là tìm kiếm hạnh phúc. Con người có thể ở giữa cái họa và cái phúc. Nhưng họa là khi con người chỉ bo bo, nông cạn tìm điều phúc ngắn hạn, những thú vui mau qua ở trần gin. Hạnh phúc đích thực là chính Chúa mà con người phải tìm kiếm. Lúc con người đặt Chúa ưu tiên trong cuộc sống, lắng nghe tiếng Người và phục vụ, thực thi Lời Chúa trong cuộc sống.Chắc chắn, khi lắng nghe, cầu nguyện, xin ơn soi sáng thì các mối phúc của Chúa dạy là lời an ủi, khích lệ, động viên mạnh mẽ và đó cũng chính là lời thức tỉnh cho những ai bước trên hành trình theo Chúa, và giúp những ai biết xây dựng đời sống của mình trên những thực tại vĩnh viễn, trường cửu của Nước Thiên Chúa hơn là chỉ dựa vào những việc mau qua ở trần gian, ở thế giới này.Nói cách khác, con người phải biết cộng tác với Chúa để các mối phúc được hiện thực ngay nơi trần thế này, nhờ biết chia sẻ, trao ban tiền của cho tha nhân, đem lại hy vọng, niềm vui cho những kẻ khó nghèo, sầu khổ vv…

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con biết đem yêu thương và phụng sự Chúa nơi mọi người, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem thứ tha vào chốn lỗi lầm. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Bốn mối phúc nói gì cho chúng ta ?
2.Bốn mối họa nói gì cho chúng ta ?
3.Hạnh phúc đích thực là gì ?
4.Ai ban cho chúng ta hạnh phúc đích thực ?
5.Chúng ta phải làm gì để các mối phúc của Chúa được thành tựu ở đời này ?

 

.

SẼ ĐƯỢC ĐÁP ĐỀN

Lm. Ignatiô Trần Ngà

Nghèo khó, đói khát là những thứ tai hoạ mà người đời tìm cách khắc phục, tiêu diệt cho đến cùng. Nhân loại hôm nay đang cùng nhau nổ lực xoá đói giảm nghèo. Vậy mà sao Chúa Giêsu lại nói: Phúc cho anh em là những người nghèo khó, phúc cho anh em là những kẻ bây giờ phải đói? Không lẽ Chúa Giêsu lại chủ trương một đời sống nghèo nàn, đói khát và lạc hậu sao?

Tất nhiên là không. Chúa Giêsu muốn cho mọi người được hạnh phúc và no đủ. Trong kinh lạy Cha, Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy xin Chúa Cha ban cho lương thực hằng ngày và chính Chúa Giêsu cũng đã làm phép lạ hoá bánh ra nhiều và dư dật cho những người đi theo Chúa vào nơi hoang vắng hôm xưa được ăn no.

Thế thì tại sao Chúa Giêsu lại nói: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, phúc cho anh em là những kẻ đói khát”?

Ðể hiểu rõ lời Chúa Giêsu dạy, chúng ta hãy đọc cho kỹ câu văn: Bấy giờ “Ðức Giêsu ngước mắt nhìn các môn đệ và nói: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó… là những kẻ bây giờ phải đói… bây giờ đang khóc…”

Thánh Luca ghi rõ: “Ðức Giêsu ngước mắt nhìn các môn đệ và nói…” Vậy thì đây là những lời Ðức Giêsu trực tiếp nói với các môn đệ và đối tượng đầu tiên của các mối phúc nầy chính là những môn đệ của Chúa Giêsu.

Trước đây, các môn đệ như Phê-rô, An-rê, Gioan, Giacôbê là những những khá giả có ghe, có thuyền, có lưới… ngày ngày đánh bắt được tôm cá để nuôi sống gia đình và bản thân. Nay vì theo tiếng gọi của Chúa Giêsu, các vị từ bỏ ghe thuyền, nhà cửa, nghề nghiệp, bỏ lại cả vợ con, ra đi với hai bàn tay trắng, lên đường phục vụ cho Tin Mừng. Vì thế các ngài là những người trở nên nghèo thiếu vì Tin Mừng và vì Chúa Giêsu. Thế nên các ngài sẽ được Chúa Giêsu trọng thưởng. Lòng quảng đại của Thiên Chúa đâu có thua lòng quảng đại của con người.

Trước đây, với nghề chài lưới trên một vùng biển vốn nhiều tôm cá, các môn đệ Chúa Giêsu không biết đói khát là gì. Thế mà từ ngày lang bạt theo Chúa Giêsu rày đây mai đó để loan báo Tin Mừng, các ngài phải chịu cảnh bữa đói bữa no. Có lần các môn đệ khi đi qua đồng lúa, phải bứt lúa mà ăn cho đỡ đói (Mt 12,1). Thiên Chúa là Ðấng giàu lòng quảng đại ắt sẽ bù đắp cho họ dư đầy. “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng”.

Rồi cũng theo dòng tư tưởng đó, Chúa Giêsu nói: Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế”.

Như vậy, nói tóm lại, các môn đệ sẽ được dư đầy hồng phúc vì các ngài đã chịu nghèo đói, thua thiệt vì Chúa Giêsu và vì Tin Mừng của Ngài. Hôm nay cũng thế, nếu chúng ta chấp nhận hy sinh vì Chúa, chịu thiệt thòi mất mát vì Chúa, chúng ta sẽ được Chúa ban thưởng dư đầy, bởi vì lòng quảng đại của Thiên Chúa thì triệu lần lớn lao hơn lòng quảng đại của chúng ta. Chúng ta hiến dâng cho Chúa một, Chúa sẽ ban thưởng gấp trăm gấp ngàn.

Ðại thi hào Tagore người Ấn độ có một bài thơ minh hoạ cho chân lý nầy:

“Tôi đang đi hành khất hết cửa nhà nầy đến cửa nhà kia dọc suốt đường làng lúc xe người vàng óng xuất hiện đàng kia như một giấc mơ rực rỡ; lòng nhủ lòng tôi hỏi đức vua oai phong nầy là ai!

Hy vọng trong tôi giang cánh bay cao; tôi thầm nghĩ ngày xấu số từ đây thôi chấm dứt; tôi đứng đợi chờ của bố thí chẳng hỏi xin mà có và bạc vàng trên bụi đường rơi vãi tứ tung.

Xe ngừng nơi tôi đứng. Người đưa mắt nhìn tôi rồi bước xuống, mỉm cười. Tôi thầm nhủ duyên may đời mình thế là đã đến. Nhưng chẳng chần chừ, người lại chìa bàn tay phải ra mà nói: Có gì cho ta không?

A ha, gớm chưa lời thử lòng vương giả khi mở bàn tay ăn xin một người hành khất tầm thường! Bối rối, tôi đứng lặng im lưỡng lự một hồi, rồi từ từ móc trong bị lấy ra hạt lúa nhỏ bé nhất đưa cho người.

Nhưng, ngạc nhiên xiết bao, lúc ngày tàn, giốc túi ăn xin ra nền đất, tôi lại thấy giữa đống của bố thí nghèo nàn hạt lúa vàng vô cùng nhỏ bé. Tôi khóc nức nở, nghĩ bụng ước gì đã có tấm lòng dám cho người tất cả những gì là của riêng tôi!”

Người ăn xin trên đây đã vò đầu bức tóc và khóc nức nở vì tiếc xót. Giá như ông ta dốc hết cả túi thóc cho đức vua, thì giờ đây, ông đã được một túi đầy những hạt bằng vàng!

Các môn đệ của Chúa Giêsu là những người đã dốc hết cuộc đời cho Chúa Giêsu và cho việc rao giảng Tin Mừng, đến nỗi các ngài trở nên nghèo thiếu, trống không vì Chúa Giêsu, thế nên các ngài sẽ được Thiên Chúa đổ đầy hồng ân. Nước Thiên Chúa thuộc về các ngài. Hạnh phúc thiên đàng đang ở trong tầm tay.

Nếu hôm nay, chúng ta không bủn xỉn như gã ăn xin trên đây, nhưng biết rộng lượng cống hiến cho Chúa khả năng, thời giờ, sức lực, trí tuệ… của chúng ta cho Thiên Chúa và cho việc loan báo Tin Mừng như các môn đệ của Chúa Giêsu năm xưa, chúng ta cũng sẽ là những người được Thiên Chúa ban cho dư đầy phúc lộc mai sau và đối tượng của những lời chúc phúc của Chúa Giêsu trong Tin Mừng là hôm nay cũng chính là chúng ta.

 

.

CHÚA HỨA BAN HẠNH PHÚC

Lm. Trần Bình Trọng

Thế kỷ ta đang sống là một thế kỷ tiến bộ lạ lùng trong mọi cố gắng của loài người. Loài người đã khống chế được không gian và thời gian: du lịch mau lẹ hơn tiếng động. Loài người còn được hưởng những dịch vụ nhanh chóng bằng cách chỉ cần bấm nút là có món hàng mình muốn, và có thể nói với người ở xa cả hàng ngàn dậm. Muốn mua bao thuốc lá, bỏ tiền vào máy, bấm nút, có liền; muốn mua lon nước ngọt cũng vậy. Người ta có thể thu gọn cả thế giới vào trong cái màn ảnh vô tuyến truyền hình trong phòng. Loài người đã lên cung trăng, đã đi vào thế giới nguyên tử, đã khám phá ra những bí mật của bệnh truyền sinh. Loài người tiến quá lẹ đến nỗi một món hàng sản xuất vừa ra khỏi khuôn đã trở thành lỗi thời. Chẳng hạn như đồ vi tính, vừa mua máy này, đã nghe có máy tốt hơn sắp ra.

Tất cả những tiến bộ đó có được là nhờ sự hiểu biết về khoa học của loài người. Du lịch, truyền thông, y tế, canh nông, giải trí, hầu như tất cả mọi lãnh vực trong cuộc sống con người đều được phát triển nhờ khoa học kỹ thuật. Khi gặp nguy hiểm, người ta xây hầm trú ẩn, hay có quân đội bảo vệ an ninh. Người ta lái xe có thắt giây an toàn. Người ta giữ giấy tờ quan trọng trong hộp an toàn trong nhà băng. Người ta mua bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm sinh mạng, đóng tiền an sinh xã hội cho tuổi già…

Tuy nhiên mặc dầu với những tiến bộ về khoa học, cũng như những tiện ích người ta được hưởng dùng, người ta vẫn không có hạnh phúc thực sự ở đời này. Vậy làm sao để giải quyết vấn đề thiếu hạnh phúc? Tiên tri I-sai-a trong bài trích sách Cựu ước hôm nay cho ta một giải pháp: Phúc cho người đặt tin tưởng vào Chúa vì có Chúa làm nơi nương thân (Gr 17: 7). Thánh Phao-lô trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô vọng thêm: Nếu chúng ta đặt hi vọng vào Đức Ki-tô chỉ ở đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hại nhất trần gian (1Cr: 15:19). Trong bài Phúc âm, Chúa Giêsu chúc phúc cho những người mà trước mặt người đời là những người đáng thương hại: người nghèo khó, đói khát, khóc lóc và bị thù ghét. Chúa bảo ta những người được Chúa chúc phúc không phải là những người được người đời ưu đãi. Những đau khổ và bất hạnh của những người bất hạnh trước mặt thế gian, không phải là dấu hiệu Chúa bỏ rơi họ.

Tại sao những người này được chúc phúc và làm sao để được Chúa chúc phúc? Thường những người nghèo khó, đói khát, khóc lóc và bị thù ghét không có gì để bám víu, không có tài năng để làm nên sự nghiệp, không có thế lực để tự bênh đỡ mình, không có bạn bè để nương tựa. Trong trường hợp này họ có thể nảy sinh ra hai phản ứng khác nhau. Phản ứng thứ nhất là họ có thể trở nên thất vọng, sinh ra hận Chúa và hận đời nên dễ làm càn. Cái phản ứng thứ hai là họ tìm đến cậy trông, nương tựa vào Chúa khi không còn gì để bám víu và nương tựa. Họ ý thức về sự hiện diện của Chúa trong đời sống. Và ý thức về sự hiện diện của Chúa là dấu hiệu sơ khởi được Chúa chúc phúc. Khi ý thức được sự hiện diện của Chúa trong đời sống, họ nảy sinh ra cái lòng kính sợ Chúa, không dám làm mất lòng Chúa. Họ cũng nảy sinh ra cái lòng cậy trông vào quyền năng Chúa, tin rằng Chúa sẽ bênh đỡ họ, ở bên họ và trợ giúp họ. Họ tin rằng Chúa sẽ bù đắp cho họ những thiếu sót của họ về của cải, bạn bè, và tài năng mà họ không có, nếu không được ở đời này, thì đời sau họ sẽ được bù đắp. Khi mà cái cùng đích, cái chủ thể, cái lẽ sống của họ là Chúa, thì mặc dù họ không có của cải, bạn hữu, quyền thế, sự nghiệp, họ vẫn không bị sụp ngã, thất vọng, nhưng vẫn còn gì để bám víu. Và cái nơi họ nương tựa bám víu là chính Chúa. Và đó là hạnh phúc của họ.

 

.

GIÁO HỘI BỊ BÁCH HẠI

Lm. Anphong Trần Đức Phương

Ai trong chúng ta cũng muốn sống sung sướng, hạnh phúc, và thông thường sự giầu có, tiền bạc đầy đủ bảo đảm hạnh phúc cho chúng ta. “Tiền bạc là chìa khóa mở cửa vào cuộc sống hạnh phúc.” “Có tiền mua tiên cũng được!” Số người mua xổ số càng ngày càng đông, vì muốn giàu có mau chóng và được sống hạnh phúc.

Tuy nhiên, trong thực tế, sự giầu có tiền bạc không hẳn bảo đảm hạnh phúc cho chúng ta. Theo các thống kê của xã hội học về vấn đề tự tử thì tỷ lệ người giầu tự tử nhiều hơn người nghèo; tỷ lệ người tự tử ở các nước tiên tiến , giàu có như Hoa Kỳ và các nước Âu Châu dẫn đầu các nước khác (xin vào website Suicide để tham khảo). Theo cuộc điều tra mới đây về những người trúng xổ số và trở nên triệu phú trong giây lát, hầu như không người nào nhờ đó mà sống hạnh phúc hơn. Vào khoảng đầu năm 2009, thần tài đã đến viếng thăm một ông, và ông đã trúng số 30 triệu; nhưng chỉ vài tháng sau, ông bị mất tích. Bà mẹ ông thì cho rằng ông sống ẩn dật ở đâu đó, còn cảnh sát thì suy đoán ông đã bị giết, đã phải đổi mạng sống của ông vì tấm vé số trúng. Trong thực tế có nhiều người trúng số lớn, đã mất hẳn cuộc sống tự do lúc bình thường, vì cứ lo bị ‘bắt cóc’, nên đi đâu, ở đâu cũng lo sợ; ngoài ra, còn bị rầy rà vì bao nhiêu bạn bè, bà con thăm hỏi và xin giúp đỡ, nên phải rút vào cuộc sống “ẩn dật” cho yên thân. Chắc chúng ta còn nhớ câu chuyện ngụ ngôn của La Fontaine về “Ông Phú Hộ” đêm đêm mất ngủ vì cứ phải lo tính tiền bạc và sự làm ăn sao cho khỏi thua lỗ và được giầu có thêm mãi. Trái lại, người thợ đóng giầy ngủ nhờ dưới chân cầu thang của nhà ông thì đêm nào, khi đi làm về cũng húyt sáo vui vẻ, rồi đi ngủ ngon một giấc đến sáng để lại bắt đầu một ngày mới. Ông phú hộ liền đem tặng cho ông ta một túi tiền. Thế là từ ngày đó, ông ta không còn ngủ yên như trước, vì đêm nằm cũng lo sợ bị mất trộm túi tiền, và khi đi làm cũng vẫn phải lo giữ túi tiền. Ông ta cảm thấy cuộc sống không còn bình an, thanh thản như trước. Và ông ta đã quyết định trả lại ông phú hộ túi tiền để được trở lại cuộc sống nghèo khó nhưng bình yên hạnh phúc hơn.

Trong Bài Phúc Âm Chúa Nhật này, thường được gọi “Tám Mối Phúc Thật”, Chúa Giêsu có vẻ như đã đi ngược đời, nói đến hạnh phúc không phải cho người giầu có, quyền thế, ăn no mặc ấm… nhưng là cho những người nghèo khó, đói khát, đau khổ, bệnh tật, bị bách hại, phỉ báng, đánh đập tàn nhẫn (như những Giáo sĩ, Giáo dân đang bị bách hại tại Việt Nam, Mã Lai , Trung Quốc, Bắc Hàn, ở Trung Đông và Phi Châu… chẳng hạn). Quả thật là ngược đời hết sức! Nhưng trong Bài Đọc I hôm nay, Thiên Chúa đã soi sáng cho chúng ta biết, qua tiên tri Giêrêmia: con đường hạnh phúc thật là “biết đặt mọi niềm tin tưởng nơi Chúa, lấy Chúa làm tất cả, lấy Chúa làm nơi tựa nương tuyệt đối. Những người đó được sống hạnh phúc thật. Họ giống như cây được trồng bên bờ suối, đâm rể sâu vào đất ẩm ướt; không sợ gì, khi mùa hè đến, lá vẫn xanh tươi; không sợ gì, khi nắng hạn, vẫn sinh hoa kết trái!”

Chúa Giêsu Kitô, Thày Chí Thánh của chúng ta, đã không mở đường hạnh phúc cho chúng ta bằng sự giàu sang, quyền qúy; nhưng bằng cuộc sống nghèo khó của chính Ngài, và trong thời gian đi rao giảng Phúc Âm Tình thương, lo cho những người nghèo khổ, bệnh tật, tội lỗi, lại thường xuyên bị chống đối, ghét bỏ, thù hận. Cuối cùng lại chấp nhận bị bắt, bị hành hạ, sỉ nhục và chết trên Thập Giá, táng xuống mồ, rồi mới sống lại và về Trời để mở đường hạnh phúc Nước Trời cho chúng ta. Nếu chúng ta không tuyệt đối tin tưởng như vậy; nếu chúng ta chỉ hy vọng vào Chúa Giêsu Kitô trong cuộc đời này mà thôi; nếu chúng ta chỉ đặt hạnh phúc vào sự giàu sang, quyền quý và tự do mọi sự ở đời này, thì chúng ta sẽ là những kẻ vô phúc nhất thiên hạ! (Như Thánh Phaolô nói với chúng ta trong Bài Đọc II hôm nay).

Phúc cho ai không theo mưu toan kẻ gian ác,

Không theo đường lối những tội nhân,

Không ngồi chung với những kẻ khinh bỉ người khác;

Nhưng vui thỏa trong lề luật Chúa,

Và suy ngẫm luật Chúa đêm ngày.

Họ như cây trồng bên bờ suối nước,

Trổ sinh hoa trai đúng mùa,

Lá cây không bao giờ tàn úa,

Tất cả công việc họ làm đều thịnh đạt.

Kẻ gian ác không được như vậy,

Họ như vỏ trấu bị gió cuốn đi!

Phúc thay người đặt niềm tin cậy nơi Chúa;

Vì Chúa canh giữ đường người công chính,

Con đường kẻ gian ác dẫn tới diệt vong.

(Bài Đáp Ca theo Thánh Vịnh 1)

Theo đường lối của Chúa, Giáo Hội cũng chỉ lo rao giảng Tin Mừng hạnh phúc thật cho mọi người, giúp đỡ người bệnh hoạn, người đang ở các trại phong cùi (như ở Việt Nam hiện nay), mở mang văn hóa cho các dân tộc, loan truyền ơn cứu độ, con đường đưa đến hạnh phúc thật đời đời. Nhưng như Chúa Giêsu Kitô, trong mọi nơi, mọi thời, Giáo Hội cũng luôn bị bách hại, phỉ báng, lăng nhục. Tuy nhiên, từ những Hoàng Đế Rôma tàn bạo như Neron đến các bạo chúa thời nay như Hitler, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông v.v… tất cả đều đã trở về với cát bụi, nhưng Giáo Hội Chúa vẫn trường tồn và phát triển.

Theo mệnh lệnh của Chúa, chúng ta hãy: “Yêu thương mọi người, làm ơn cho những ai ghét bỏ chúng ta, chúc lành cho những người nguyền rủa chúng ta, và cầu nguyện cho những người vu khống cho chúng ta những điều gian ác.” (Lc. 6,27…). Đó là con đường yêu thương, con đường đưa đến hạnh phúc thật trong cuôc sống đời đời.

 

.

SỐNG TINH THẦN NGHÈO ĐỂ ĐƯỢC HẠNH PHÚC

Jos.Vinc. Ngọc Biển

Đức Giêsu được mọi người biết đến là một người nghèo. Nghèo từ khi sinh ra đến lúc từ giã thế gian để về với Chúa Cha.

Chính Đức Giêsu đã ví cuộc đời của mình như: “Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ dựa đầu”.

Lúc sinh thời, nhất là trong thời gian loan báo Tin Mừng, từ lối sống đến hành động, Ngài luôn quan tâm đến tận cùng kiếp sống con người, nhất là những người khốn khó, bệnh hoạn, tật nguyền. Nên Đức Giêsu không ngần ngại để sống với những người nghèo hèn, cảm thông cho những người tội lỗi và ăn uống với họ, đồng thời, luôn coi họ như những người bạn, sẵn sàng đứng về phía họ để bênh đỡ, chở che.

Tinh thần và lối sống đó hôm nay được Đức Giêsu chính thức chúc phúc, và qua đó như một lời mời gọi mọi người đi theo con đường đó để được hạnh phúc: “Phúc cho các ngươi là những kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của các ngươi”.

Phải chăng Đức Giêsu là người cổ hủ, lỗi thời khi cổ súy cho cái nghèo? Hơn nữa, Ngài lại còn mời gọi những ai muốn đi theo và làm môn đệ cũng phải sống một cuộc sống bần cùng, cơ cực?

Thưa! Hẳn là không! Qua mối phúc này, Đức Giêsu muốn cho con người được hạnh phúc hoàn toàn, khi không bị chi phối bởi lòng ham muốn tiền bạc, vì nếu mê mẩn với chúng thì sẽ trở thành nô lệ cho tiền bạc.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy hướng tâm hồn lên Đức Giêsu và quy chiếu cuộc đời của ta với Ngài, để vui mừng khi được sống tinh thần nghèo khó như Ngài.

Một cách cụ thể, đó là sống hết mình và hiến thân trọn vẹn cho tha nhân, nhất là những người bần cùng trong xã hội.

Cần phải xác định thật rõ rằng: gia tài đích thực của chúng ta là Thiên Chúa. Giá trị lớn lao nhất là sống cho Thiên Chúa qua cung cách phục vụ tha nhân. Cùng đích của con người không phải là của cải chóng qua đời này mà là cuộc sống mai hậu.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết noi gương Chúa để mặc lấy tâm tình nghèo khó như Ngài, ngõ hầu chúng con được tự do để dấn thân phục vụ người nghèo cách vô vị lợi như Chúa khi xưa. Amen.

 

.

CÁC MỐI PHÚC, LỜI HỨA THÀNH HIỆN THỰC

Martin Lê Hoàng Vũ

Bài Tin Mừng hôm nay Thánh sử Luca thuật lại việc Chúa Giêsu công bố các mối phúc. Cả hai thánh sử Luca và Matthêu đều ghi lại bài giảng này, nhưng mỗi người lại có một lối viết riêng, rất độc đáo và có tính bổ sung cho nhau nhằm cung cấp cho các độc giả Kitô hữu những bài học cụ thể trong đời sống đức tin.

  1. Các mối phúc theo Tin Mừng:

Các mối phúc của Tin Mừng thánh Luca ghi lại hướng trực tiếp đến những người nghèo, những hoàn cảnh đáng thương vì thiếu cơm ăn áo mặc, những người thấp cổ bé miệng bị xã hội bạc đãi, những nạn nhân của bất công. Họ lại được Thiên Chúa yêu thương, hứa ban hạnh phúc Nước Trời. Có thể nói Tin Mừng Luca là Tin Mừng của người nghèo, cái nhìn của Luca là suốt cuộc đời hoạt động của Chúa Giêsu, Ngài luôn ưu tiên dành chỗ cho người nghèo. Bên cạnh đó, các mối phúc theo Tin Mừng Mátthêu lại mang nặng tính luân lý hơn. Khi nói đến người nghèo, Matthêu cho thấy con người được vào Nước Trời không phải là những người ở trong tình trạng thiếu thốn phương tiện vật chất, nhưng lại do tình trạng sở hữu. Thánh sử Mátthêu nhấn mạnh đến những cơn đói khát tinh thần của con người, đói khát công lý, bác ái và hòa bình viên mãn.

Tóm lại cả hai thánh sử đều muốn khẳng định rằng: Nước Trời mà Chúa Giêsu loan báo trong các mối phúc không phải là thiên đàng trong thế giới tương lai đang đến. Những thực tại Nước Trời được xem như là những giá trị bền vững như công bình, bác ái, liên đới. Đó là Nước Trời mà suốt cả cuộc đời người Kitô hữu luôn kiếm tìm và xây dựng.

  1. Phúc cho người nghèo khó:

Đối với Chúa Giêsu, nghèo hay giàu không phải là cái tội. Của cải, danh vọng và chức quyền tự nó không có gì trái ngược với Tin Mừng. Nhưng Chúa Giêsu trong cuộc đời rao giảng Tin Mừng luôn cảnh cáo những thái độ làm cho con người trở thành nô lệ. Một cuộc sống nghèo túng có thể là cạm bẫy, những sinh hoạt hằng ngày có thể biến con người thành ngu dại, chỉ biết nhìn thấy miếng cơm manh áo mà quên đi ý nghĩa cùng đích của đời người. Một cuộc sống thiếu thốn vật chất dễ nảy sinh những tật xấu như chúng ta thường nói với nhau “Bần cùng sinh đạo tặc”.

Ngoài ra, sự giàu có cũng có thể là sợi dây trói buộc lòng quảng đại của con người, phát sinh tính ích kỷ và biến cuộc sống trở thành khép kín. Khi công bố các mối phúc Chúa Giêsu không khuyến khích một thái độ sống vô lo, thiếu trách nhiệm hay phó mặc cuộc đời cho số phận may rủi. Vì đó cũng không phải là thái độ đích thực mà Tin Mừng muốn dạy chúng ta.

Trong bài đọc 1 hôm nay, qua miệng Ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Thiên Chúa muốn nói rằng: Ai cũng cần phải lớn lên trong trách nhiệm và tự do. Nhưng không vì thế mà chúng ta chối bỏ sự hiện diện và tác động của Thiên Chúa. Hơn bất cứ ai, Ngài chính là điểm tựa vững chãi của đời người. Bởi đó chúng ta đừng đi tìm kiếm điều gì khác ngoài Ngài, đừng cậy dựa vào sức riêng của mình mà rời xa Thiên Chúa. Chính khi biết đặt niềm tin vào Thiên Chúa, con người sẽ tìm được hạnh phúc đích thực. Đó là bí quyết hạnh phúc Chúa muốn truyền lại cho mỗi người Kitô hữu hôm nay. Tất cả chúng ta điều là những người nghèo của Thiên Chúa. Trước mặt Thiên Chúa là Đấng giàu sang phú quí vô cùng, chúng ta đâu có gì để mà tự hào khoe khoang, nếu chúng ta có gì cũng đều là của Chúa ban cho mà thôi. Chính vì thế chúng ta hãy tin tưởng ở Chúa, hãy tìm đến với Ngài để được Ngài ban cho hạnh phúc. Thực tế cho thấy, ngày nay trong khi con người đi tìm kiếm lợi lộc trần thế họ dễ có nguy cơ tách cuộc đời mình ra khỏi Chúa và chỉ phụ thuộc vào vật chất. Suốt cả cuộc đời con người luôn tìm kiếm giàu sang, danh tiếng, chức quyền nhưng họ đâu có biết đi tìm chính Thiên Chúa là nguồn mạch của tất cả mọi sự.

  1. Nước Trời, nước tình yêu:

Khi xuống thế làm người, Chúa Giêsu đã sống nghèo, Ngài đứng về phía những người nghèo, tuy nhiên Ngài không lấy việc san bằng xã hội làm mục tiêu tranh đấu. Ngài chỉ luôn nhắc nhở con người rằng: Giá trị đích thực của mỗi người không phải là những gì nó có mà là do cái nó là, có nghĩa là chỉ có tình yêu mới làm nên giá trị đích thực của con người mà thôi.

Theo các mối phúc của Tin Mừng Luca, Chúa Giêsu không hứa hẹn một thiên đàng ngay tại trần thế này, Ngài cũng không loan báo một Nước Trời xa lạ với trần thế. Thực ra Nước Trời mà Chúa Giêsu loan báo thiết yếu là nước tình yêu, nước của liên đới và chia sẻ.

Chính khi biết sống yêu thương, công bình, bác ái trong đời sống chúng ta mới hiểu được Nước Trời là gì. Khi biết tận hưởng niềm hân hoan, hòa bình chúng ta mới khám phá ra thế nào là niềm hạnh phúc đích thực. Và khi được quyền sống, được quyền thể hiện và phát triển phẩm giá của mình một cách trọn vẹn nhất thì chính lúc đó các mối phúc Thiên Chúa ban, qua Chúa Giêsu sẽ trở thành hiện thực.

Như vậy các mối phúc không phải là một lời hứa hão, không phải là chuyện ảo tưởng, viễn vông,nhưng là một sự thật hiển nhiên, điều sẽ đến với mỗi người, rất gần gũi với chúng ta, bởi vì chính Chúa Giêsu đã nói “Nước Thiên Chúa ở giữa anh em”.

Lạy Chúa Giêsu. Khi công bố các mối phúc Chúa hứa ban Nước Trời cho những người nghèo khó, Chúa mời gọi chúng con sống tinh thần khó nghèo là biết tận dụng những gì Chúa ban để sinh lợi ích cho mọi người, chứ không bo bo giữ cho riêng mình. Xin cho chúng con biết yêu thương, liên đới và chia sẻ với người nghèo, những người đang cần chúng con giúp đỡ, những nạn nhân của bất công xã hội để chúng con được Chúa yêu thương chúc phúc và hừa ban Nước Trời. Amen.

 

.

PHÚC CHO NGƯỜI NGHÈO KHÓ

Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

So sánh với Bài giảng trên núi trong Matthêô (5:1-7.29), bài giảng trong Luca ngắn hơn và diễn ra trên một chỗ đất bằng và có rất nhiều điểm khác biệt khác (6:17. 20-26). Bốn mối phúc trong Luca nói đến những thiếu thốn cụ thể: nghèo nàn, đói khát, khóc lóc, và bị ghét bỏ. Đoạn 6:20-26 nằm trong văn mạch của diễn từ dành cho các môn đệ (6:17-49), vì họ vừa được qui tụ thành nhóm (6:12-16). Đoạn nầy có thể phân chia làm hai phần đối xứng nhau: 1 – Bốn mối phúc (6:20-23); 2 – Bốn lời chúc dữ (6:24-26). Thính giả trực tiếp của bài giảng nầy là đám đông các môn đệ: “Ngước mắt lên nhìn các môn đệ, Người nói..” (6:20). Như thế, những gì Người sắp nói cho họ phải được hiểu trong tương quan làm môn đệ của Chúa Giêsu. Các mối phúc khác có thể tìm thấy rãi rác trong tin mừng Luca (1:45; 7:23; 10:23; 11:27.28; 12:37.43; 14:15; 23:29; Cv 20:35; ). “Phúc cho…” là từ diễn tả sự ca ngợi, qui chiếu về một điều may mắn chẳng hạn con mắt (Lc 10:23), cái dạ mẹ (23:29), tuy nhiên phần lớn qui chiếu về một người được sủng ái, chúc phúc, may mắn. Thiên Chúa là nguồn của mọi phúc lành ban cho họ (x. 1 Tt 6:15). Và “Khốn cho…” là tiếng ta thán diễn tả sự đau buồn hoặc than phiền hơn là một lời chúc dữ hoặc kết án.

Mối phúc thứ nhất là “Phúc cho người nghèo vì Nước Thiên Chúa thuộc về họ” (6:20); đối lại “Khốn cho người giàu vì họ đã được sự an ủi” (6:24). Luca không dùng chữ “nghèo trong tinh thần” như trong Matthêô (x. Mt 5:3). “Người nghèo” (ptōchos) theo nguyên ngữ chỉ một người sợ hãi vô cùng đến nỗi phải che dẩu mình. Họ thường lẩn tránh và không ở một nơi nào nhất định. Từ đó, chữ nầy chỉ đến người ăn xin, túng thiếu (x. Cv 4:34).

Thế nào là người nghèo? Luca không định nghĩa “người nghèo”, mà chỉ cho thấy cách hành động của người nghèo để được Nước Thiên Chúa. Chúa Giêsu là người nghèo vì Người đã “trở nên không” (kenoō) vì Chúa Cha (x. Phip 2:7), đến nỗi Người chẳng còn nơi để tựa đầu (9:58). Các môn đệ là nghèo vì họ đã bỏ mọi sự mà theo Người (5:11; 18:28). Bà góa được gọi là nghèo không phải vì bà chỉ có hai xu, trong thực tế có thể bà giàu hơn người chỉ có một xu hoặc chẳng có gì hết, mà vì bà đã bỏ tất cả hai xu ấy vào hòm dâng cúng cho Thiên Chúa (21:3); trong khi người được Chúa Giêsu mời gọi bán của cải tất cả mà cho người nghèo được gọi là giàu và “có nhiều của cải”, là vì người ấy từ chối từ bỏ và “trở nên không” để có thể đi theo Người (18:22). Vậy người nghèo được đặt trong tương quan với Chúa Giêsu, chứ không phải với những gì họ đang có hoặc với người khác khi so sánh về tài sản.

Mối phúc thứ nhất nầy được kết cấu bằng hai mệnh đề, mà mệnh đề phụ có chức năng cắt nghĩa mệnh đề trước: không phải vì nghèo mà người môn đệ có phúc, nhưng vì họ được Nước Thiên Chúa như là kết quả của việc từ bỏ mọi sự. Động từ “là” ở thì hiện tại trong mệnh đề phụ muốn chỉ đây là một quả quyết, chứ không phải là một lời hứa. Điều nầy trở nên định luật cho những ai muốn làm môn đệ của Chúa Giêsu là phải “từ bỏ những gì mình có” (14:33); trái lại, nếu không từ bỏ để trở nên nghèo như Người, không thể làm môn đệ của Người, như trường hợp người giàu có. Đàng khác, chỉ khi nghèo mới để mình lệ thuộc hoàn toàn vào sự trợ giúp của người khác, đến bất cứ lúc nào và từ bất cứ hướng nào. Đặc điểm nổi bật của họ là đón nhận dễ dàng hơn người giàu. Họ dễ chấp nhận vào dự tiệc hơn bội phần những người giàu có đã được mời (x. 14:13.21). Và cũng cho đi cách dễ dàng và quảng đại hơn những người giàu. Xem xét sự quảng đại của bà goá (x. 21:3) và sự từ chối của người giàu có (18:22). Vậy, mối phúc của người nghèo là được Nước Thiên Chúa làm của mình, vì họ đã từ bỏ mọi sự để làm môn đệ của Chúa Giêsu; khác với những người giàu là tìm và hưởng những an ủi do sự giàu có mang lại (x. 6:24).

Câu 6:21 nói đến hai mối phúc “đói-no” và “khóc-cười” (6:21). Chúng được xem như là biểu hiện và hậu quả của cái nghèo. Luca liên kết cái nghèo với sự thiếu thốn thực phẩm: Lazarô vì nghèo nên không có gì để ăn (x. 16;21); trái lại, ông phú hộ thì tiệc tùng linh đình mỗi ngày (16:19). Luca xác định thời điểm hiện tại “bây giờ” (6:21[2x]) vừa để cho thấy là sự đau khổ của cái đói và khóc lóc chỉ là tạm thời chứ không trường cửu; đồng thời cho thấy sự tương phản của tình trạng hiện tại với điều sẽ đến khi Thiên Chúa can thiệp vào. Do đó, sự no đầy và vui cười của những người đang hưởng bây giờ cũng tạm thời; cái đói khát và khóc lóc sẽ đến ngay với họ (x. 6:24). Những câu chuyện được ghi lại trong tin mừng Luca cho thấy những người đang khóc lóc là những người đang sầu khổ: bà góa thành Naim (7:13), ông Giairô (8:51-51), người đàn bà tội lỗi (7:38), Phêrô (22:62). Và chính khi họ đang khóc lóc, Chúa Giêsu can thiệp và biến đổi sự khóc lóc ấy thành tiếng cười khi thấy người con sống lại, hoặc biết tội lỗi đã được tha. Đối lại mối phúc nầy (6:24), Luca dùng thêm chữ “than khóc” (x. Mt 5:4; 9:15) bên cạnh chữ “khóc” để nhấn mạnh tình trạng trầm trọng đảo ngược của những người bây giờ đang vui cười. Động từ “no đầy” ở thể thụ động cho thấy chính Thiên Chúa là người làm hành động nầy. Đồng thời cả hai hành động “được no đầy” và “cười” đều ở thì tương lai, hướng về một sự can thiệp từ phía Thiên Chúa sẽ đến. Vậy, hai mối phúc nầy không xây dựng trên sự đói khát thể lý hoặc thiêng liêng và trên những đau buồn đang xảy ra (x. Mt 5:6), mà trên sự can thiệp quyền năng của Chúa Giêsu, “Người đã đổ đầy cho người đói những điều tốt lành” (1:53).

Sự chúc phúc bằng việc sở hữu Nước Thiên Chúa đã bắt đầu ngay bây giờ cho những ai trở nên nghèo như Chúa Giêsu: Maria (1:48), Simêôn (2:29), Phêrô (5:10), Lazarô (16:25) và ngay cả Con Người (22:69).

 

.

PHÚC CHO ANH EM LÀ NHỮNG KẺ NGHÈO KHÓ

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG:  Lc 6,17.20-26

(17) Đức Giê-su đi xuống cùng với các ông. Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giu-đê, Giê-ru-sa-lem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đon đến để nghe Người giảng và để được chữa lành bệnh tật. (20) Đức Giê-su ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. (21) Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. (22) Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa. (23) Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa. Vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các Ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế. (24) Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi. (25) Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói. Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than. (26) Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.

  1. Ý CHÍNH: PHÚC CHO KẺ NGHÈO KHÓ

Bài Tin mừng Lu-ca hôm nay ghi lại bài giảng khai mạc của Đức Giê-su tương đương với Tám Mối Phúc Thật trong Tin mừng Mát-thêu. Nội dung được tóm lại như sau:

– BỐN LỜI CHÚC PHÚC (c 20-23) : Phúc cho những kẻ nghèo hèn, đói khát, ưu sầu và bị bách hại, vì bây giờ Chúa đến thiết lập Nước Thiên Chúa, họ sẽ được đền bù những thiệt thòi kia bằng ơn cứu độ và hạnh phúc đời đời

– BỐN LỜI THỞ THAN (c 24-26) : Đây là những lời cảnh báo và ngăm đe đối với những kẻ đang sống trong giàu có, được no đầy, vui cười và được ca tụng, vì những điều ấy sẽ không còn nữa khi Nước Thiên Chúa đến trong Ngày của Chúa. Bấy giờ kẻ giàu có sẽ hóa nên trắng tay, kẻ no nê sẽ phải chịu đói khát, kẻ vui cười sẽ phải chịu khổ đau, kẻ được vinh dự trước mặt người đời sẽ bị tước đọat tất cả.

  1. CHÚ THÍCH:           

– C 20-21: +Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó…: Nghèo khó ở đây là sự nghèo về tiền bạc vật chất, khác với Tin mừng Mát-thêu nói về sự nghèo khó trong tâm hồn. Nghèo khó còn được hiểu là sự bé mọn (x. Lc 10,21), khiêm nhường tự hạ (x. Lc 14,11), là thái độ không dựa vào thế lực của tiền bạc, mà chỉ biết tín thác vào tình thương và quyền năng của Thiên Chúa. +Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói…: Sự đói khát và no thỏa ở đây cần hiểu theo chiều hướng cánh chung hay thế mạt. +đang phải khóc…: Người ta cần phải biết đón nhận đau khổ gặp phải hằng ngày trong mầu nhiệm tình thương cứu độ của Thiên Chúa.

– C 22-23: +Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa: “Bị xóa tên như đồ xấu xa” nghĩa là bị bôi nhọ thanh danh. +Hãy vui mừng nhảy múa: vì Chúa đến sẽ thiết lập một Trời Mới Đất Mới (x. Kh 21,1), và sẽ đền bù cho những ai đang bị thiệt thòi bằng ơn cứu độ.

– C 24-26: +Khốn cho các ngươi…: Bốn lời tuyên bố nói đây song đối với bốn mối phúc ở trên. Đây không phải là những lời nguyền rủa, nhưng chỉ là sự xác nhận, than thở và ngăm đe, nhằm kêu gọi người ta ăn năn hối cải để thay đổi đời sống. +Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có: Lời kêu gọi người giàu có phải hồi tâm sám hối, vì không thể cùng lúc làm tôi hai chủ là Thiên Chúa và tiền bạc được (x. Lc 16,13). +Khốn cho các ngươi bây giờ đang được no nê, đang được vui cười: Đức Giê-su cảnh báo về một sự đảo ngược tình thế: No nê bây giờ, nếu không chịu chia sẻ cơm bánh cho người nghèo thì sau này chính mình sẽ bị đói khát! Vui cười hôm nay, cần phải đề phòng mai ngày sẽ phải khóc than! +Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng: Nếu kẻ nào chỉ lo tìm kiếm hư danh cho mình ở đời này, nếu không sống theo sự chân thật công chính, thì số phận sau này của họ sẽ phải chịu đau khổ nhục nhã mà bọn ngôn sứ đạo đức giả sẽ phải gánh chịu!

  1. CÂU HỎI: Tại sao Đức Giê-su lại chúc phúc cho những kẻ nghèo khó tiền bạc, những kẻ đang chịu đói khát, khóc lóc sầu khổ và bị người đời thù ghét bách hại, là những điều không ai mong muốn và thường mang lại sự bất hạnh ?

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó” (Lc 6,20).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) GIÁ TRỊ TƯƠNG ĐỐI CỦA TIỀN BẠC:

Một cuộc khảo sát do Đại Học PO-LY-TECH-NIC ở Hong Kong thực hiện phỏng vấn 2,000 người giúp việc Philippines ở Hong Kong và 300 ông bà chủ của họ. Kết quả là 92% người giúp việc Phi cảm thấy “hạnh phúc” hơn các ông bà chủ của họ.

– Tuy nhiên, khi hỏi nếu được hoán đổi vị trí xã hội để trở thành ông bà chủ, thì 100% các chị em ô-sin đều sẵn sàng hoán đổi, dù họ biết rất rõ là các người chủ của họ hàng ngày phải lo lắng đối phó với bao điều phức tạp như: Bị căng thẳng do áp lực của công việc kinh doanh, lúc nào cũng lo xem chỉ số chứng khoán lên xuống, nên không có giờ vui chơi giải trí hay giao tiếp với người thân, luôn phải suy nghĩ để cải tiến kỹ thuật giúp công ty tồn tại và phát triển…

– Ngược lại, khi hỏi các ông bà chủ có muốn hoán đổi vị trí để trở thành ô-sin không, thì 100% đều dứt khoát trả lời “không bao giờ”, dù trước đó họ vừa công nhận là những người giúp việc đang sống “hạnh phúc” hơn họ nhiều.

Như vậy tiền bạc tuy có giá trị vì là thành quả của tài trí khôn ngoan và lao động chăm chỉ. Nhưng giá trị của tiền bạc cũng chỉ là tương đối, dễ bị tiêu tan và không phải lúc nào cũng đem lại hạnh phúc… như tựa đề một cuốn phim: “Người giàu cũng khóc !”. Chính thái độ đối với tiền bạc mới là nguyên nhân làm cho người ta được hạnh phúc hay bị bất hạnh. Người nghèo tiền bạc vẫn có thể hạnh phúc nếu biết quan tâm chia sẻ cho tha nhân những gì mình đang có. Và người giàu cũng có thể bị bất hạnh nếu coi đồng tiền là ông chủ và tìm mọi cách để sở hữu nó càng nhiều càng tốt. Chính khi biết quên mình để lo tìm hạnh phúc cho tha nhân bằng việc chia cơm xẻ áo cho những người nghèo ở bên cạnh như lời Chúa dạy: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35).

2) CHIẾC QUẦN LÓT CỦA GÃ CHĂN CHIÊN HẠNH PHÚC:

Một ông vua kia có đủ mọi thứ của cải trên đời: Nào là cung điện nguy nga tráng lệ, vàng bạc chất đầy kho, ăn uống no say với đủ thứ cao lương mỹ vị, lại có cả một đoàn hầu thiếp mỹ nữ phục vụ ngày đêm… Thế mà nhà vua vẫn không cảm thấy được hạnh phúc. Vua ngày một bị buồn phiền không thiết đến việc ăn uống đến bị phát bệnh. Các thày thuốc giỏi trong triều đình ngày đêm chữa trị cho nhà vua nhưng tất cả đều bó tay. Cuối cùng một vị thần y đã được phát hiện và được cấp thời triệu vời vào hoàng cung chũa bệnh cho nhà vua. Sau khi thăm mạch, vị danh y cho biết Đức vua chỉ bị tâm bệnh, không cần dùng thuốc, mà chỉ cần mặc được chiếc quần lót của người nào thực sự hạnh phúc là bệnh sẽ lập tức khỏi ngay. Một đoàn thái y được sai đi khắp nơi để tìm kiếm con người hạnh phúc để lấy chiếc quần lót mang về trị bệnh cho nhà vua. Sau nhiều ngày tìm kiếm khắp nơi nhưng đoàn vẫn không sao tìm ra được người nào thực sự hạnh phúc, nên viên quan trưởng đoàn đành quyết định quay về triều chịu tội. Một hôm khi đi ngang qua một cánh đồng cỏ thì đột nhiên đoàn thái y nghe thấy có tiếng ca hát rất hồn nhiên vui vẻ. Lần theo tiếng hát thì đoàn thái y gặp một gã chăn chiên nằm dưới gốc cây đa và đang nghêu ngao ca hát. Khi được hỏi, gã chăn chiên cho biết dù luôn sống nghèo khó, nhưng lúc nào gã cũng thấy hạnh phúc. Đoàn người liền vui mừng hè nhau trói gã lại, lột chiếc áo khoác cũ kỹ gã đang mặc trên người để tìm lấy chiếc quần lót đem về cho nhà vua chữa bệnh. Thế nhưng thật bất ngờ: Gã chăn chiên này lại nghèo đến nỗi ngoài chiếc áo khoác sờn rách đang mặc, trên người gã chẳng còn bất kỳ thứ quần áo nào ngay cả một chiếc quần lót !

Nhiều người nghĩ rằng, chỉ những người giàu sở hữu nhiều của cải mới được hạnh phúc. Vì thế, họ không thỏa mãn với số tài sản đang có, và luôn tìm mọi cách để của cải ngày một gia tăng.  Đang khi thực ra hạnh phúc không hệ tại sở hữu nhiều tiền bạc của cải mà bắt nguồn từ sự bình an nội tâm như lời Chúa dạy: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời sẽ là của họ” (Mt 5,3).

3) KHI TIỀN VÀO NHÀ THÌ CHÚA ĐI RA:

Có một đôi vợ chồng tá điền kia làm công cho một ông lãnh chúa giàu có. Hai vợ chồng tuy nghèo nhưng rất có lòng đạo đức: Ngày nào cũng vậy, cả hai đều thức giấc khi gà vừa gáy sáng và dâng giây phút đầu ngày tạ ơn chúc tụng Thiên Chúa. Trong ngày dù phải chịu vất vả làm việc nắng nôi, họ cũng không quên hát những bài thánh ca quen thuộc. Trước và sau bữa ăn đạm bạc, cả hai đều có những lời cầu nguyện sốt sắng. Ngày nào họ cũng đọc kinh tối: ăn năn sám hối tội lỗi và đọc 50 kinh Mân côi dâng kính Đức Mẹ rồi phó thác hồn xác cho Chúa trước khi nghỉ đêm. Tiếng lành về lòng đạo đức của đôi vợ chồng tá điền đã đến tai ông lãnh chúa. Ông ta quyết định thử để biết nếu đôi vợ chồng này giàu lên thì họ có còn giữ được lòng đạo đức như hiện tại hay không ?

Một hôm chờ lúc đêm khuya ông lãnh chúa sai đầy tớ bí mật mang một hòm tiền đựng 100 đồng vàng đến để trước cửa nhà của đôi vợ chồng tá điền rồi quan sát động tĩnh. Hôm ấy khi nghe tiếng gà gáy sáng, theo lệ thường hai vợ chồng bác nông dân liền thức dậy đọc kinh râm ran rồi ăn sáng qua loa trước khi ra đồng làm việc. Chợt anh chồng phát hiện ra một chiếc hòm rất đẹp nằm ngay trước cửa nhà. Anh liền gọi vợ ra khiêng vào nhà. Cả hai rất đỗi ngạc nhiên khi mở hòm ra đếm được tới 100 đồng tiền vàng, một tài sản lớn lao mà không bao giờ hai người dám mơ ước. Thế là họ không đi làm như mọi khi mà ở nhà bàn nhau cách cất giấu hòm tiền vàng. Họ hết đào góc nhà lên chôn hòm tiền vàng xuống, rồi lại moi lên mang cất giấu chỗ khác trong nhà vì không yên tâm. Buổi trưa hôm ấy họ không cảm thấy đói và bỏ ăn luôn cả bữa chiều. Đến tối họ cũng không còn đọc kinh râm ran như mọi khi và lúc nào cũng thắc mắc hòm tiền kia của ai và lý do tại sao xuất hiện trước cửa nhà mình. Ba ngày sau, do ăn uống thất thường và tâm trạng quá lo lắng, nên sức khỏe suy kiệt và cả hai vợ chồng đều nằm liệt giường với chiếc hòm tiền được cất giấu ngay dưới gầm giường.

Tất cả thái độ và cách ứng xử của đôi vợ chồng đều được gia nhân báo cáo cho ông lãnh chúa nên ba ngày sau, ông liền đến nhà đôi vợ chồng tá điền thăm hỏi và báo tin nhà ông bị trộm mất một hòm tiền vàng. Lúc đầu cả hai vợ chồng đều chối, nhưng một phần vì sợ bị đi tù và phần khác biết không thể tiếp tục dấu được mãi, nên hai vợ chồng đành phải thành thật khai báo đã cất giữ hòm tiền vàng ra sao và xin được hoàn lại chủ cũ để tránh sự tù tội. Từ ngày đó, do không còn lo lắng về tiền của bất minh nên hai vợ chồng bác nông dân đã dần dần bình tâm trở lại và tiếp tục thói quen cầu nguyện chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa như trước. Từ nay họ bằng lòng với hòan cảnh hiện tại và đã rút ra bài học này: “Khi tiền vào nhà thì Chúa đi ra!”.

  1. THẢO LUẬN: Mỗi người chúng ta phải làm gì để góp phần xóa đói giảm nghèo, thăng tiến và phát triển con người ngay từ trong gia đình ra đến môi trường xã hội ta đang sống ?
  2. SUY NIỆM:

1) Con người sinh ra là để được sống hạnh phúc: Cuộc đời mỗi người là một cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc. Người đời thường coi hạnh phúc bắt nguồn từ sự giàu sang phú quý, có danh thơm tiếng tốt và quyền cao chức trọng… Thế nhưng Đức Giê-su lại chúc phúc cho những kẻ nghèo khó! Thế nhưng Người không đề cao sự bần cùng, vì “bần cùng sinh đạo tặc!”.

2) Đức Giê-su đã thực hiện các mối phúc: Người đã làm nghề thợ mộc vất vả để kiếm sống; Người đã bị rơi vào vảnh đói khát sau khi ăn chay 40 ngày. Người đã nhỏ lệ khóc thương bạn thân là anh La-da-rô mới chết; Trong cuộc khổ nạn, Người chấp nhận mọi đau khổ, xỉ nhục, đòn vọt và chịu đóng đinh chân tay vào thập giá… Nhưng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Người vẫn luôn hạnh phúc vì đã bỏ đi ý riêng để vâng theo thánh ý Chúa Cha…

3) Đức Giê-su đến để xóa bỏ các đau khổ bất công: nhân loại đang giàu có đã trở nên nghèo khó, đang sung sướng hạnh phúc lại phải chịu đau khổ bệnh tật và còn phải chết là do tội lỗi đã phạm, bắt đầu từ tội tổ tông truyền và sau đó là tội của tất cả mọi người. Đức Giê-su đến để chia sẻ thân phận nghèo khó ấy để mở ra con đường cứu độ giúp loài người chúng ta lại được ơn nghĩa với Thiên Chúa như thánh Phao-lô đã dạy: “Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã hóa nên nghèo khó vì anh em, để lấy sự nghèo khó của mình mà làm cho anh em nên giàu có” (x. 2 Cr 8,9). Người đến ban ơn cứu độ bằng việc: xua trừ ma quỷ, tha thứ tội nhân, mở mắt người mù, mở tai kẻ điếc, cho kẻ què được đi, người câm nói được, phục sinh kẻ chết, mở xiềng xích cho các tù nhân và công bố Năm Hồng Ân của Thiên Chúa (x Lc 4,18-21).

4) Chúng ta phải làm gì ? Hôm nay Đức Giê-su muốn các tín hữu chúng ta tiếp tục sứ mệnh cứu độ bằng cách thay Người thăm viếng chia sẻ tiền bạc cho những bệnh nhân nghèo khó tại các bệnh viện, những trẻ em đường phố … Người muốn chúng ta cộng tác với những người thiện chí để xóa đói giảm nghèo, xóa bỏ các tệ nạn xã hội như: mê tín, mù chữ, sì-ke ma túy, đĩ điếm…, tạo công ăn việc làm cho những người thất nghiệp, sản xuất nhiều của cải phục vụ xã hội… Người muốn chúng ta sống có nhân cách: “Đói cho sạch, rách cho thơm”.

Tóm lại, Đức Giê-su đã tự nguyện sống khó nghèo, để nêu gương chịu đựng gian khổ và góp phần biến đổi thế giới đau khổ hiện tại nên Trời Mới Đất Mới như sách Khải huyền đã tiên báo: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt của họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4).

  1. NGUYỆN CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Sao Chúa lại sinh ra trong thân phận người nghèo? Đói nghèo cực khổ lắm như Chúa đã quá biết : Vừa bị túng thiếu đói khát lại vừa phải sống vất vả nhọc nhằn, và còn bị người khác khinh dể. Thật là thiệt thòi đủ thứ! Chúa chọn sống nghèo như thế làm chi ? Nếu không phải là Chúa, thì thế nào người ta cũng sẽ chê cười và coi Chúa là kẻ khờ dại dở hơi thôi!

– LẠY CHÚA. Chúa đã chúc phúc cho người nghèo không phải để họ tiếp tục sống trong sự bần cùng nghèo khổ. Sứ mệnh của Chúa đến là để thiết lập Nước Trời, một “Trời Mới Đất Mới” công bình và hạnh phúc. Trong đó mọi người yêu thương nhau và chia sẻ tình thương cho nhau. Chúa đến nhằm tái lập “công lý và hòa bình”, để cất đi những sự thiệt thòi bất công mà người nghèo phải gánh chịu. Xin cho chúng con ý thức trách nhiệm của mình là phải sống vị tha, quảng đại chia sẻ cơm bánh vật chất cho người nghèo và làm cho xã hội chúng con đang sống ngày một ấm no hạnh phúc hơn và công bình nhân ái hơn.

X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

 

.

ĐỐI LẬP

Trầm Thiên Thu

Đối lập là tình trạng trái ngược nhau, đối nghịch, bất đồng, mâu thuẫn. Phải có ít nhất hai thứ (người, vật, phe, hướng,…) mới xảy ra tình trạng đối lập, chỉ một thì không thể. Trong mọi lĩnh vực, cụ thể và trừu tượng, đều có nhiều thứ đối lập: cao – thấp, dài – ngắn, vuông – tròn, trắng – đen, đẹp – xấu, tốt – xấu, hay – dở, khôn – dại, yêu – ghét, thiện – ác, phúc – họa, sinh – tử. Và còn nhiều thứ khác…

Một trong các cặp đối lập “nổi bật” liên quan tinh thần là cặp đôi “phúc – họa”, được đề cập trong Gr 17:5-8. Chính Đức Chúa đã tuyên phán: “Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa, và lòng dạ xa rời Đức Chúa!”. Đó là cái họa lớn nhất và nguy hiểm nhất.

Tại sao nguy hiểm? Như một cách giải thích, cũng chính Đức Chúa cho biết: “Người đó sẽ như bụi cây trong hoang địa CHẲNG ĐƯỢC THẤY hạnh phúc bao giờ, hạnh phúc có đến cũng CHẲNG NHÌN RA, nhưng sẽ ở mãi nơi đồng khô cỏ cháy, trong vùng đất mặn không một bóng người”. Người ta nói đó là tình trạng “có mắt mà không tròng” hoặc “có mắt mà như mù”. Thế thì thật nguy hiểm và đáng sợ, vì đó là đại họa!

Ngược với cái họa là cái phúc. Chắc chắn chẳng có phúc nào bằng phúc của Thiên Chúa trao ban: “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương thân. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái”. Thánh Vịnh gia so sánh tín nhân như cây tươi tốt vì đủ nguồn nước để phát triển, rất dễ hiểu và thực tế. Chính Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5).

Thánh Vịnh gia nói tới “hai con đường” liên quan Phúc – Họa: “Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng, nhưng vui thú với lề luật Chúa, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày” (Tv 1:1-2). Cách so sánh cũng rất cụ thể: “Người ấy tựa cây trồng bên dòng nước, cứ đúng mùa là hoa quả trổ sinh, cành lá chẳng khi nào tàn tạ. Người như thế làm chi cũng sẽ thành. Ác nhân đâu được vậy: chúng khác nào vỏ trấu gió thổi bay” (Tv 1:3-4).

Nguyên nhân thế nào thì hệ quả như vậy, chúng ta gọi là nhân – quả. Và hệ lụy là điều tất yếu và minh nhiên: “Vì Chúa hằng che chở nẻo đường người công chính, còn đường lối ác nhân đưa tới chỗ diệt vong” (Tv 1:6). Cái gì Tốt thì Lành, dù cụ thể hay trừu tượng. Vấn đề tâm linh cũng không ngoài quy luật tất yếu như vậy.

Qua trình thuật 1 Cr 15:12, 16-20, Thánh Phaolô đề cập cặp đối lập đặc biệt nhất: Sinh – Tử. Thánh nhân đặt vấn đề: “Nếu chúng tôi rao giảng rằng Đức Kitô đã từ cõi chết trỗi dậy thì sao trong anh em có người lại nói: không có chuyện kẻ chết sống lại?”. Sống hôm nay, chết ngày mai, rồi chấm hết. Nếu chỉ thế thôi thì cũng không hơn gì cây cối và thú vật, người ta không gì phải lo sống tốt hay xấu. Cứ xả láng rồi sáng về sớm cũng chẳng sao.

Thánh Phaolô giải thích: “Vì nếu kẻ chết không trỗi dậy thì Đức Kitô cũng đã không trỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người”. Ôi, tội nghiệp thật. Và chỉ như thế thì chán thật, cũng chẳng có gì để người ta phải cố gắng chi cho mệt.

Nhưng không phải thế! Nhân quả của con người khác hẳn thảo vật và động vật: “Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại”. Đó mới là chuyện đáng nói, đáng nỗ lực không ngừng. Nếu sinh – tử theo kiểu luân hồi thì cũng chẳng đáng quan ngại, vì cứ như vòng tuần hoàn thì không gì phải lo lắng cho nhọc óc, nghĩa là cứ “vô tư”. Thế nhưng không như thế, cho nên cứ “vô tư” thì hóa “đại ngu”, ta tự hại mình!

Trình thuật Lc 6:17, 20-26 (≈ Mt 5:1-12) đề cập một cặp khác cũng đặc biệt: Phúc – Họa. Hôm đó, Đức Giêsu đi xuống cùng với các ông, Ngài dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Ngài, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giuđê, Giêrusalem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đôn. Chúa Giêsu nói hai vấn đề:

Thứ nhất là các MỐI PHÚC (Lc 6:20-23 ≈ Mt 5:3-10). Thánh Mátthêu cho biết đầy đủ chi tiết hơn, gọi là Bát Phúc, còn Thánh Luca tóm tắt thành Tứ Phúc: “Đức Giêsu ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói: PHÚC cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. PHÚC cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. PHÚC cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. PHÚC cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế”.

Thứ nhì là các MỐI HỌA (Lc 6:24-26 ≈ Mt 5:11-12), Thánh Luca phân định thành Tứ Khốn: “KHỐN cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi. KHỐN cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói. KHỐN cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than. KHỐN cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế”.

Cách phân định của Thánh sử Luca tạo thành hai vế đối cân bằng: Tứ Khôn và Tứ Khốn. Phải chịu khốn vì không sống khôn, nếu sống khôn thì tránh được cái khốn – cái họa. Liên quan sự khôn ngoan có truyện “Bán Sự Khôn Ngoan” thế này:

Một ngày nọ, hiền triết Diogène (Hy Lạp) đến giữa chợ Athènes và dựng lên một căn lều với tấm bảng ghi đậm hàng chữ: “Ở đây có bán sự khôn ngoan”.

Một bậc khoa cử tình cờ đi qua căn lều, đọc được lời rao và cười thầm trong bụng. Muốn biết phía sau căn lều ấy có những gì, ông mới sai người đầy tớ cầm tiền để dò la và mua cho được cái mà người bán gọi là sự khôn ngoan.

Người đầy tớ cầm tiền ra đi làm theo lời căn dặn của chủ. Anh ta đưa cho Diogène 3 hào và nói rằng chủ của anh muốn có sự khôn ngoan. Cầm lấy 3 hào bỏ vào túi, hiền triết Diogène vẫn thản nhiên và ôn tồn nói với người đầy tớ: “Anh hãy về đọc lại cho chủ anh nghe câu này: ‘Trong tất cả mọi sự, hãy nghĩ đến Cùng Đích’. Vậy nhé!”.

Vị khoa cử thành Athènes vô cùng thích thú vì lời khôn ngoan này. Ông đã cho viết trước cửa nhà như khuôn vàng thước ngọc để chính ông suy niệm mỗi ngày, và cũng để mọi người đi qua trước nhà ông đều có thể đọc được: “Trong tất cả mọi sự, hãy suy nghĩ đến Cùng Đích”.

Nghĩ đến Cùng Đích là nghĩ đến cái gì? Đó là Cái Chết. Nghĩ đến Cái Chết không phải là ý tưởng tiêu cực, bi quan, chán đời hoặc yếm thế, mà lại chính là CÁCH SỐNG KHÔN NGOAN, với hệ lụy tất yếu: sống Khôn để thoát Khốn. Chính Thiên Chúa cũng đã nhắc nhớ: “Ngươi là bụi đất và sẽ trở về với bụi đất” (St 3:19). Người Latin có thành ngữ: Memento Mori – Hãy Nhớ Mình Sẽ Chết. Nhớ làm gì cái thứ đó? Nhớ để nên khôn bằng cách Luôn Sẵn Sàng – Semper Paratus – Always Ready.

Lạy Thiên Chúa chí minh và chí thiện, Ngài thấu suốt mọi sự, biết cả những gì con chưa nghĩ tới, xin ban Thần Khí soi sáng để con biết việc phải làm cho hợp ý Ngài, biết khôn ngoan chọn những gì đẹp ý Ngài, và cố gắng sống vuông tròn cho tới hơi thở cuối cùng. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ của nhân loại. Amen.

 

.

CHÚA MUỐN CHÚNG TA LÀ NHỮNG NGƯỜI CÓ PHÚC

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Trong Tin mừng thánh Luca hôm nay dìu chúng ta về với các Mối Phúc để sống và các mối họa để mà tránh. Trước khi nói đến phúc thì Chúa Giêsu nói đến họa “Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có!” Quả thật, nghèo khó là trung tâm của Tin Mừng : “Phúc cho những ai có tình thần nghèo khó” là mối phúc đầu tiên trong các mối phúc và là sứ mạng khi Chúa Giêsu tự giới thiệu về mình với dâng làng Nagiaret tại hội đường : “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo, tin vui cho người nghèo”.

Vấn nạn từ mối phúc

Người đời thường coi hạnh phúc bắt nguồn từ giàu sang, no đủ, từ danh thơm tiếng tốt. Khi công bố trong đoạn Tin Mừng (Lc), Chúa Giêsu đưa chúng ta đi vào một thế giới khác, với sự đánh giá khác. Người cho các môn đệ biết rằng: họ là những người có phúc, khi phải chịu nghèo đói, đau khổ, bách hại vì Người, khiến người nghe những mối họa và phúc không khỏi thắc mắc : Thế nào là giàu, thế nào là nghèo ? Phải chăng Đức Giêsu là người cổ hủ, lỗi thời khi cổ súy cái nghèo? Hơn nữa, Người lại còn mời gọi những ai muốn đi theo và làm môn đệ cũng phải sống một cuộc sống bần cùng, cơ cực?

Nếu Chúa Giêsu tuyên bố : “Phúc cho anh em là những người bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng” (Lc 6,21). Vậy ai là người đói khát và ai là người no thỏa ?

Chẳng những Chúa Giêsu từ ngàn xưa đã công bố như thế, mà ngay chính Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong thời hiện đại khi kể chuyện về giây phút cái danh hiệu PHANXICÔ đi vào lòng ngài, ngài diễn tả chương trình hành động của ngài, không phải bằng một lời tuyên bố long trọng, nhưng bằng cách bộc lộ một nỗi khao khát: “Ôi, tôi mong ước biết bao có được một Hội Thánh nghèo và vì người nghèo”. Nhưng khi nghe đến “một Hội Thánh nghèo và vì người nghèo”, có người hỏi : “Thế còn người giàu thì sao?” Phải chăng một “Hội Thánh nghèo” là một Hội Thánh gồm toàn những người nghèo?

Phúc cho kẻ nghèo

Câu chuyện về một vị ẩn tu sống rất nghèo do Đức Cố Hồng Y Carôlô Maria Martini viết trong một cuốn sách, giúp chúng ta hiểu phần nào về người giàu có thể có tâm hồn nghèo khó, người nghèo lại không.

Chuyện kể rằng, vị ẩn sĩ này chỉ có một tấm áo rách trên mình và một cái vò đựng nước đã bể… Một hôm ông hỏi Chúa: “Lạy Chúa, con có phải là người nghèo nhất trên thế gian này chưa?” Chúa sai thiên thần đưa ông đến trước một lâu đài sang trọng và bảo: “Người sống trong lâu đài này mới là người nghèo nhất trên thế gian”. Vị ẩn sĩ rách rưới ngẩn người hỏi Chúa: “ Sao lại như thế được?” Chúa trả lời: “Người sống trong lâu đài sang trọng này có đủ mọi thứ, nhưng lòng không dính bén chút gì, còn con, con dính bén với chính cái áo rách và cái vò đã bể của con”.

Khi tuyên bố: “Phúc cho những kẻ nghèo khó”, Chúa Giêsu không hề có ý muốn biến thế giới thành một thế giới nghèo đói, bần cùng. Của cải vật chất thật cần thiết để cho con người được sống xứng phẩm giá con người; Thiên Chúa đã tạo dựng con người đặt con người làm chủ và hưởng dùng mọi sự trong vũ trụ. Nhưng của cải vật chất là phương tiện, chứ không phải là cứu cánh. Người nghèo là người biết sống cho những giá trị ấy, cho dù giữa những vất vả lo toan, miếng cơm, manh áo, họ vẫn luôn tìm kiếm Nước Trời, họ sẽ là người hạnh phúc nhất, vì biết mình sống để làm gì và sẽ đi về đâu.

Khốn cho người giầu

Tại sao Chúa Giêsu lại nặng lời với những người giầu? Có lẽ vì của cải là ngẫu tượng hấp dẫn, nó cuốn hút chúng ta và đẩy xa Thiên Chúa ra khỏi lòng chúng ta. Chính Chúa Giêsu đã từng tuyên bố : “Anh em không thể làm tôi hai chủ, hoặc ghét chủ này yêu chủ nọ”. Liên hệ trực tiếp, chúng ta chỉ có thể làm tôi Thiên Chúa, hoặc làm tôi tiền của, chứ không thể làm tôi cả hai được. Vì thế, nếu xem tiền của là chủ đời ta, thì tiền của sẽ túm lấy ta, phá vỡ sự hòa hợp giữ con người với nhau, hủy hoại cuộc sống và linh hồn khiến ta không còn yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức và hết trí khôn nữa, và như thế là đối nghịch lại với điều răn thứ nhất là thờ phượng Một Đức Chúa Trời và kính mến người trên hết mọi sự.

Nếu Chúa ban cho ta của cải giàu có thì chính là để trao tặng cho người khác, để nhân danh Chúa làm nhiều điều tốt cho tha nhân. Nhưng của cải có khả năng cám dỗ chúng ta và chúng ta bị sa ngã, trở thành nô lệ của sự giàu có. Đã có lần Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi chúng ta cầu nguyện một tí và hy sinh một tí, không phải cho người nghèo, nhưng cho người giàu. (REI 24/05/2018)

Một Hội Thánh nghèo và vì người nghèo

Một Hội Thánh nghèo không phải là một Hội Thánh gồm toàn người nghèo. Hội Thánh không phải là Bang Hội của Cái Bang (ăn mày). Hội Thánh gồm tất cả những ai tìm kiếm và tin nhận Thiên Chúa là hạnh phúc duy nhất và vĩnh cửu và “Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin” (Dt 12,2). Chính khi kêu gọi các tín hữu quyên góp để chia sẻ với cộng đoàn Giêrusalem đang lâm cảnh khó khăn mà thánh Phaolô nại đến gương Chúa Giêsu: “Quả thật anh em biết Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của minh mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cor 8,9). “Ngài đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân…”(Pl 2,7) để cho chúng ta được trở nên con cái Thiên Chúa. Như vậy, Một Hội Thánh nghèo là một Hội Thánh sống tinh thần nghèo khó của Tin Mừng, không dính bén với của cải vật chất, không chạy theo thói thế gian, không đặt của trọng hơn người.

Sống lời Chúa dạy

Việc đầu tiên phải làm cho người nghèo, là chiến thắng sự lãnh đạm, vô cảm, những viện cớ này khác để xa tránh những con người này, biết quan tâm đến những cảnh ngộ lầm than, đáng thương quanh ta. Giảm thiểu khoảng cách bất công giữa người giầu và người nghèo một vùng miền nào đó.

Chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta trở nên những khí cụ tình thương hải hà của Chúa đối với anh em. Amen.

 

.

MỐI PHÚC THẬT

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Thầy trò xuống núi truyền rao,
Tin mừng giải thoát, ơn cao đổ tràn.
Đám đông dân chúng kêu van,
Chữa lành bệnh tật, ban ngàn ân thiêng.
Dẫn đường mở lối thiêng liêng,
Thực hành Phúc Thật, ơn riêng theo Thầy.
Phúc thay nghèo khó đời này,
Nước Trời chiếm hữu, vui vầy mai sau.
Phúc ai đói khát khổ đau,
Mai ngày vui sướng, no đầy phúc vinh.
Phúc người khóc lóc cực hình,
Vui cười hớn hở, an bình cõi tiên.
Người ta thù ghét sỏ xiên,
Mong rằng hạnh phúc, cõi thiên tìm về.
Bất lương phỉ báng ê chề,
Hân hoan phần thưởng, mọi bề reo vui.
Khốn kẻ giầu có mù đui,
No say đầy đủ, sống chui phận hèn.
Vui cười thỏa mãn đời khen,
Người đời ca tụng, sang hèn chóng qua.

Phúc cho ai đặt niềm tin tưởng nơi Chúa, họ sẽ được hạnh phúc và sẽ gặp may mắn. Mối phúc thật thứ nhất: Phúc cho ai có tinh thần khó nghèo, vì nước trời là của họ. Chúng ta đang sống trong xã hội mà các giá trị của con người đặt trong các kỷ lục thế giới. Trong cuốn Guiness Book of World Records, chúng ta đọc thấy giá trị cuộc sống được đánh giá qua các thành qủa của các môn thể thao, phát minh khoa học và kỹ thuật…và những giá trị trần thế tựa dựa vào sự phát triển và sự giầu sang phú quí. Là Kitô hữu, chúng ta đặt niềm tin nơi Chúa và đi tìm hạnh phúc đích thực cho cuộc đời.

Bài phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu trình bày dẫn vào các mối phúc thật. Chúa nói rằng: Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó. Ai trong chúng ta cũng sợ cái nghèo và cái khổ. Nhiều người coi sự nghèo khó là bất hạnh. Nên ai ai cũng cố gắng kiếm tiền càng nhiều càng tốt. Chúng ta lo làm lụng để có của ăn, của để và một chút vốn liếng phòng thân. Thánh Phaolô nhắc nhở: Nếu ai không muốn làm, thì đừng có ăn. Chúng ta phải cật lực lao động để trang trải cuộc sống và trả các món nợ. Đó là lẽ thường, ‘tay làm hàm nhai.’ Nhưng Chúa Giêsu lại nhắc khéo chúng ta rằng các con chớ áy náy lo lắng các con sẽ ăn gì, mặc gì. Cha các con biết rõ. Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và mọi sự Người sẽ ban thêm cho.

Tiền là ông chủ xấu nhưng là đầy tới tốt. Khi có tiền, chúng ta vẫn có thể sống tinh thần nghèo khó. So với các nhà tỷ phú và triệu phú thì vốn liếng của chúng ta chẳng có là bao. Có bao nhiêu tiền của mới gọi là giầu và người thiếu bao nhiêu, mới gọi là người nghèo. Có người nghèo của cải, nhưng lại giầu lòng từ bi như bà góa bỏ tiền vào thùng khấn. Sống tinh thần nghèo khó sẽ giúp chúng ta trút bỏ được những bận vướng của trần gian.

Truyện kể: Khi xảy ra nạn đói tại Hoa Kỳ, các cơ quan thiện nguyện của chính phủ đi tìm giúp đỡ những người bất hạnh ở vùng núi. Họ tìm đến những nơi nghèo khó để giúp đỡ tiền bạc, sửa chữa nhà cửa và phân phát hạt giống để gieo trồng. Nhân viên cơ quan gặp một người đàn bà sống trong một túp lều nghèo nàn. Cánh cửa thì bể nát và mái lều xiêu vẹo. Người đàn bà chỉ có nơi tạm trú nghèo hèn và thiếu thốn mọi bề. Nhân viên nói với bà rằng nếu chính phủ cho bà 200 đô la, bà sẽ làm gì với nó? Bà trả lời: Tôi sẽ cho người nghèo.

Nghèo về vật chất, đôi khi chúng ta còn có thể phấn đấu và vượt qua. Khi phải khóc lóc vì vu oan giáng họa, bị thù ghét và phỉ báng, tâm hồn chúng ta mới thấy khổ não và buồn phiền. Chúa chúc phúc cho những người phải khóc lóc và bị người ta thù ghét vì danh Chúa. Chúa phán: Hỡi những ai gồng gánh nặng nề, hãy đến với Chúa, Chúa sẽ nâng đỡ bổ sức cho. Trong tất cả mọi sự, chúng ta hãy luôn hướng lòng lên cùng Chúa. Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta.

 

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 6 THƯỜNG NIÊN_C

Lm Giuse Đinh Tất Quý

Kính thưa anh chị em,

Chúng ta vừa nghe một bài Tin Mừng rất hay do Thánh Luca ghi lại. Đây là bài Tin Mừng hơi khó giải thích. Thế nhưng đây lại là bài Tin Mừng hết sức quan trọng vì nó đề cập đến một vấn đề cũng hết sức quan trọng trong cuộc sống của con người. Đó là vấn đề Hạnh Phúc.

Khi bàn về đời sống hạnh phúc, sách Giáo Lý chung ngay từ số đầu tiên (Số 1) đã có những diễn tả hết sức ấn tượng như sau:

“Thiên Chúa, tự bản thể là Đấng vô cùng hoàn hảo và hạnh phúc. Theo ý định hoàn toàn do lòng nhân hậu, Ngài đã tự ý tạo dựng con người, để cho họ được thông phần sự sống hạnh phúc của Ngài. Do đó, trong mọi thời và mọi nơi, Ngài đã đến gần với con người. Thiên Chúa kêu gọi con người, giúp họ tìm kiếm Ngài, nhận biết và đem hết tâm lực yêu mến Ngài. Thiên Chúa triệu tập mọi người, vốn đã bị phân tán vì tội lỗi, để hợp nhất thành gia đình của Ngài là Hội Thánh. Để thực hiện điều này, khi thời gian tới hồi viên mãn, Ngài đã sai Con Ngài đến làm Đấng Chuộc Tội và Cứu Độ. Trong và nhờ Người Con ấy, Thiên Chúa kêu gọi loài người để trong Chúa Thánh Thần, họ trở nên dưỡng tử của Ngài và do đó, được thừa hưởng sự sống hạnh phúc của Ngài.” (Số 1)

Chúng ta hãy nhắc lại một lần nữa để chúng ta thấy được tầm quan trọng của vấn để mà bài Tin Mừng hôm nay đề cập tới như thế nào: “Theo ý định hoàn toàn do lòng nhân hậu, Thiên Chúa đã tự ý tạo dựng con người, để cho họ được thông phần sự sống hạnh phúc của Ngài”+ “Thiên Chúa kêu gọi loài người để trong Chúa Thánh Thần, họ trở nên dưỡng tử của Ngài và do đó, được thừa hưởng sự sống hạnh phúc của Ngài.”

Đúng là Thiên Chúa muốn cho con người được sống hạnh phúc, thế nhưng làm sao con người có thể có được hạnh phúc theo lòng nhân hậu của Thiên Chúa đây?

Có một câu chuyện cổ phát xuất từ Ba Tư là nơi người ta bảo là cái nôi của sự khôn ngoan trên thế giới như sau.

Ngày xưa, tại quảng trường của thành phố nọ có một nhà hiền triết đã xuất hiện và tuyên bố sẽ giải đáp được mọi thắc mắc của bất cứ ai tới vấn kế. Một hôm, giữa lúc mọi người đang say mê lắng nghe lời của nhà hiền triết thì có một người mục tử trên núi cao đi xuống. Nghe tiếng về sự thông thái của nhà hiền triết nên anh muốn chứng kiến tận mắt và nghe tận tai, nhất là để hạ nhục nhà hiền triết giữa đám đông. Anh đến gần nhà hiền triết, trong tay bóp chắc một con chim nhỏ. Anh hỏi:

– Thưa ngài, tôi nghe đồn ngài là một người thông thái khôn ngoan, vì vậy ngài có thể nói cho tôi rõ con chim tôi đang cầm trong tay là con chim sống hay con chim đã chết được không?

Nhà hiền triết biết đây là một cái bẫy mà người mục tử đang giương, nếu ông bảo rằng nó còn sống thì tức khắc người mục tử sẽ bóp cho nó chết, trước khi anh ta mở bàn tay ra. Còn nếu như ông bảo con chim không còn sống thì người mục tử sẽ mở bàn tay để chim bay đi. Sau một hồi thinh lặng trước sự hồi hộp của đám đông, nhà hiền triết trả lời như sau:

– Con chim, mà ngươi đang cầm trong tay đó sống hay chết là tùy ở ngươi. Nếu ngươi muốn cho nó sống thì nó sống, nếu ngươi muốn cho nó chết thì nó sẽ chết.

Hạnh phúc cũng tương tự như thế. Hạnh phúc có được hay không là tuỳ ở mỗi người chúng ta.

Có nhiều người trong chúng ta tưởng hạnh phúc ở chỗ nọ chỗ kia nên đã dốc công đi tìm. Có người tìm ở nơi tiền bạc. Có kẻ đi tìm ở nơi lạc thú. Có kẻ khác đi tìm ở nơi danh vọng nhưng thử hỏi đã có ai thực sự tìm thấy hạnh phúc ở nơi tiền bạc, lạc thú, danh vọng hay chưa thì quả là chưa có ai dám can đảm quả quyết đã tìm thấy.

Hôm đó Đức Thích Ca vào thủ đô của vua Kaniska. Nhà vua đã thân hành ra đón chào Ngài. Nhà vua là bạn thân của thân phụ Đức Thích Ca. Đức Thích Ca nhìn sâu vào đôi mắt nhà vua và nói: “Xin Ngài hãy thành thực nói với tôi: Trong tất cả những thú vui mà Ngài đang có, Ngài có thực sự được một ngày hạnh phúc không?”

Vua Kaniska cúi nhìn xuống đất và giữ thinh lặng.

Nhà vua im lặng vì không có can đảm trả lời là có.

Ermann Coen được mệnh danh là thánh Augustinô của thời đại chúng ta. Ngài là một người Do thái rất giàu có, thời trai trẻ ngài chỉ biết ăn chơi và chạy theo thế gian. Sự nhàm chán cứ đè nặng trên vai ngài. Ngày kia ngài từ chối tất cả và xin vào tu viện. Trong buổi giảng mùa vọng tại đền thờ đức bà ở Balê, ngài nói:

– Tôi đã đi khắp cả mặt đất, tôi đã yêu thế gian. Tôi đã biết thế giới và tôi đã học được một điều: không có hạnh phúc ở trên thế gian này. Tôi đã tìm nó ở những nơi tôi tưởng có nó: ở những nụ cười, ở những cuộc giải trí, ở những ngày lễ, ở những nơi vàng bạc, ở nơi sắc đẹp… Ôi lạy Chúa, điều con mơ ước mọi giờ mọi ngày ở đâu? Và con chỉ tìm được nó trong Chúa và trong tình yêu Chúa mà thôi.

Vua Abder Rahman Đệ Tam Vị vua Hồi giáo nổi tiếng nhất của Tây Ban Nha , đã biến đất nước Tây Ban Nha thành trung tâm khoa học của Âu Châu vào thế kỷ thứ 10  vào cuối đời rằng Ông đã tuyên bố:

– Ta đã ngồi trên ngai vàng 50 năm, đã kinh nghiệm chiến thắng và hòa bình, được thần dân mến phục, kẻ thù sợ hãi, và đồng minh kính nể. Danh lợi, quyền quí và tất cả các thú vui trên trần gian ta đều có cả. Nhưng khi ngồi tính thật kỹ số ngày ta được hoàn toàn hạnh phúc, thì con số đó quá ít ỏi, chỉ vốn vẹn có 14 ngày.

Làm vua một nước lớn, có quyền thế, danh vọng, giàu sang trong tay suốt 50 năm, tức là 18.250 ngày, vậy mà chỉ hương được có 14 ngày hạnh phúc! Nhiều người ngày nay tương rằng danh vọng, giàu có, quyền thế là hạnh phúc, nhưng thật ra những thứ đó đều không thể hoàn toàn đem lại hạnh phúc. Những ngày hạnh phúc do các thứ ấy mang lại rất là ít ỏi.

Xét như vậy thì Hạnh Phúc không phải là thứ mà con người muốn có là có. Muốn có Hạnh Phúc con người phải tìm đến với một nguồn cội khác. Nguồn cội ấy là Thiên Chúa.

Khi hoàng đế Napoléon của Nước Pháp bị đày sang đảo Saint Hélène sau những thất bại thê thảm trên chiến trường và chính trường. Người viết tiểu sử vẫn theo sát bên cạnh ông để ghi lại từng chi tiết của cuộc đời một con người rất nổi tiếng, đã từng chinh phục một phần  khổng lồ của lục địa Châu Âu.

Một hôm, biết ngày tận cùng của Napoléon đã đến gần, người viết tiểu sử mới hỏi ông

– Thưa hoàng đế, xin ngài cho biết trong suốt cuộc đời của ngài, ngày nào là ngày hạnh phúc nhất?

Vị cựu hoàng, lúc ấy đang nằm liệt giường, không vội trả lời ngay. Ông quay đầu ra cửa sổ, nhìn biển xanh thắm một lúc rồi quay lại, nói như một lời tâm sự cuối cùng:

– Ta nhớ, ta nhớ rất rõ, ngày hạnh phúc nhất trong đời ta đã diễn ra cách đây lâu lắm rồi, khi ta còn thơ bé. Đó chính là ngày ta được rước lễ lần đầu!

Đức Cha Fulton Sheen trong tác phẩm bàn về Hạnh Phúc đã có một xác tín rất hay khi Ngài nói: “Cho dầu thế giới này có xa cách Thiên Chúa đi nữa, thì con tim của mỗi người cũng không xa cách Ngài”.

Vâng! Đúng như vậy. Chỉ khi nào con người biết tin vào Chúa xót thương, để rồi cũng xót thương kẻ khác như Chúa xót thương mình, chúng ta mới có được hạnh phúc, một thứ hạnh phúc ngọt ngào, đầy bình an, vượt trên mọi thứ hạnh phúc, mà trần gian tôn vinh tìm kiếm, một thứ hạnh phúc vượt trên không gian và thời gian, hòa nhập vào hạnh phúc của Thiên Chúa Ba Ngôi.Amen.

 

.

HẠNH PHÚC ĐẦY NGHỊC LÝ

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

Lời Chúa của Chúa Nhật này chứa đựng sứ điệp niềm vui và chỉ cho chúng ta con đường tốt nhất để đạt tới hạnh phúc mà con người không ngừng tìm kiếm. Con đường đó không phải là con đường mà người đời nói đến, nhưng là con đường các mối phúc thật của Chúa Giêsu, được thánh Luca trình thuật trong Tin Mừng hôm nay.

1- Tin Mừng cho người nghèo của Thiên Chúa

Theo Luca, các mối phúc là “Tin Mừng,” tin vui dành cho những người “nghèo của Thiên Chúa” để khích lệ niềm hy vọng của họ và đề nghị một sự thay đổi tận căn của con người trong xã hội về bậc thang giá trị cuộc sống. Các mối phúc thiết lập một dạng thức Kinh Thánh về truyền thống ngôn sứ. Theo Mátthêu, có tám mối phúc (x. Mt 5,1-10). Còn theo Luca, chỉ có bốn mối phúc đối lập với bốn mối họa. Khi trình bày các mối phúc đối lại với các mối họa, thánh Luca muốn đề cập đến tám loại người đối nhau: phúc cho anh em là người nghèo khó vì Nước Trời là của họ, và khốn cho các người giàu có vì các ngươi đã được an ủi rồi; phúc cho anh em là những kẻ đang phải đói, và khốn cho các ngươi là những kẻ đang no nê; phúc cho anh em là những người đang phải khóc, và khốn cho các người là những kẻ đang vui cười; phúc cho anh em là những kẻ đang bị oán ghét, và khốn cho các ngươi là những kẻ được mọi người ca tụng…

Theo đó, các mối phúc tiếp tục đường hướng của truyền thống ngôn sứ Kinh Thánh, là xây dựng lược đồ song đối, vì thế, chúng chứa đựng lời loan báo ngôn sứ về một phúc lành mà nó mang lại niềm vui, đồng thời gửi tới một lời “khốn thay,” như là lời cảnh báo, để mời gọi sự tỉnh thức và sự hoán cải.

Cũng theo cách thức này, trong bài đọc I, ngôn sứ Giêrêmia đối lập hai hạng người: hạng thứ nhất đó là phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa và hạng thứ hai là khốn thay kẻ tin ở người đời và lòng dạ xa rời Đức Chúa. Hạng người thứ nhất như cây trồng bên dòng nước. Hạng thứ hai như bụi cây trong hoang địa (x. Gr 17,5-8).

2- Các mối phúc, cuộc canh tân tận căn

Các mối phúc tạo nên một trang Tin Mừng có tính cách mạng lớn nhất. Bởi lẽ, trong đó Chúa Giêsu thiết lập một cuộc thay đổi toàn diện các tiêu chuẩn nhân loại liên quan đến hạnh phúc. Nó trở thành điều kiện mà mỗi người phải có nếu muốn sống hạnh phúc. Vì thế, Đức Giêsu chỉ cho chúng ta cách thức để thoát ra khỏi tiêu chuẩn mà mỗi người quan niệm về hạnh phúc khi cho rằng hạnh phúc là giàu có, tiền bạc, thành công, có địa vị xã hội, an toàn và tình yêu, quyền lực và thống trị, tính dục và hưởng lạc v.v… Chúa Giêsu biết rõ trái tim con người luôn khát khao tìm kiếm hạnh phúc. Với các mối phúc này, Người đề nghị với con người một hành trình chắc chắn để tìm kiếm hạnh phúc đích thực. Đây cũng là hành trình mới mẻ và đầy nghịch lý.

Bởi lẽ, tất cả những gì mà thế gian cho là bất hạnh, thì Chúa Giêsu quả quyết chúng là những mối phúc. Tất cả những ai sống nghèo khó, những ai đói khát, khóc lóc, những ai đang chịu đau khổ, những ai biết thương xót người, những ai có tâm hồn trong sạch, những ai xây dựng hòa bình, những ai chịu bách hại vì đạo, họ sẽ được chúc phúc vì Nước Trời là của họ. Và ngược lại, Chúa cũng loan báo những bất hạnh, đáng thương và những hiểm họa cho những ai giàu có, tự mãn, những kẻ vui cười và những ai được người đời ca tụng.

Trước Chúa Kitô, chưa có một ai đã dám khẳng định như thế. Các mối phúc thực sự rất nghịch lý, mà chỉ có thể hiểu được đối với những ai sống, thực hành nó, như chính Chúa Giêsu, như Đức Maria và thánh Phanxicô Assisi. Chính Chúa Giêsu, nơi con người, đời sống và cách hành xử của Người, thiết lập một chìa khóa tốt nhất để giải thích các mối phúc, một chìa khóa có giá trị hoàn vũ cho mọi thời và mọi nơi để đọc các mối phúc. Người là một người nghèo, người đau khổ, người dấn thân cho hòa bình và hòa giải, bị bách hại và hiến mạng vì công bình và thiện ích chung.

3- Các mối phúc, tóm lược Tin Mừng

Các mối phúc là một tóm lược Tin Mừng Chúa Giêsu, là lời loan báo ngôn sứ về Nước Thiên Chúa, hiện diện và khai mở trong con người Chúa Kitô, là sự công bố những thái độ nền tảng để trở thành môn đệ Chúa Giêsu, là căn cước của những công dân Nước Trời, là chương trình sống và là bản trắc nghiệm mà mỗi người mỗi ngày phải xét mình với tư cách là Kitô hữu.

Bởi vì sự mới mẻ tận căn của các mối phúc, nên có những người cáo buộc rằng chúng là ảo tưởng, là phi logic; một số người khác cho rằng chúng chỉ là một lý tưởng duy tu đức, cao xa không thể vươn tới. Tuy nhiên, khi loan báo các mối phúc, Chúa Giêsu biết rõ ý nghĩa của chúng mà Người giới thiệu và đưa ra cho những ai muốn theo đuổi con đường này. Bởi lẽ, chúng là những thái độ nền tảng để trở thành môn đệ Người, để vào Nước Trời, và đạt tới sự hạnh phúc viên mãn.

Quả thật, các mối phúc không phải là một hình thức duy tu đức, phi nhập thể, một sự thụ động vong ngã hay là một dạng thức ảo tưởng chạy trốn trách nhiệm xây dựng xã hội. Chúa Giêsu cũng không có chủ trương bần cùng hóa con người. Nhưng các mối phúc chứa đựng một nhiệm vụ cá nhân và hiệu lực đối với việc xây dựng đời sống xã hội tốt hơn nhờ sự nghèo khó và hy sinh của con người trong bất kỳ sự diễn tả nào: như sự vô vị lợi và sự cộng tác, chọn lựa sống theo sự tử tế và công bình ngay cả khi có nguy cơ bách hại, dấn thân vì hòa bình và bất bạo động, yêu thương, huynh đệ và đoàn kết giữa loài người.

Tuy nhiên, khi chọn lựa sống theo các mối phúc, có thể chúng ta phải đối diện với những chống đối và thù ghét, bởi vì tinh thần các mối phúc không phù hợp với những tiêu chuẩn của thế gian. Vì thế, chúng tạo nên sự thù ghét. Điều đó thánh Phaolô đã báo trước: “Tất cả những ai muốn sống đạo đức trong Chúa Kitô Giêsu, đều sẽ bị bắt bớ” (2 Tm 3,12). Đó là sự chống đối mà Tin Mừng thánh Gioan đề cập đến, sự chống đối giữa ánh sáng và bóng tối, giữa Chúa Kitô và thế giới thù địch với Thiên Chúa, giữa tin và không tin, giữa tình yêu và ích kỷ, giữa thiện và ác.

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta yêu mến các mối phúc của Chúa Giêsu và sống các mối phúc đó trong đời sống hằng ngày, để chúng ta tìm thấy con đường dẫn tới hạnh phúc đích thực là Nước Trời. Amen

 

.

PHÚC VÀ HỌA

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Chẳng ai biết được phúc thật hay hoạ thật, nhưng người ta tin rằng trong phúc có hoạ và trong hoạ có phúc. Chỉ một điều chắc chắn trong Chúa mới có phúc thật. Thánh Luca sở dĩ trình bày bốn mối phúc và bốn mối hoạ, cũng cho thấy điều này, để giới thiệu về phúc thật từ nơi Chúa.

Trong Thánh Lễ đầu năm Chúa phán bảo với Môi sê, truyền cho Aaron khi cầu nguyện cho dân Chúa: “Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em!” (Ds 6, 24).

Những câu truyện về phúc và hoạ nhiều lắm. Đó là một thực tại cho thấy, chẳng biết đâu hay chẳng biết đâu dở. Người ta vẫn bảo: “Phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí”. Cái hoạ thường hay gặp phải nhưng không phải thật sự là bất hạnh, còn tuỳ theo cách mình nhìn nhận.

Nhà văn Ohenry nói; “Nếu con người tha thiết với cuộc sống thì có thể ung dung đối mặt với khó khăn, thử thách.”. Con người biết xoay chuyển tình thế luôn nhìn thấy những khoảng mở hẹp trong cái hoạ xảy đến.

Nguy hiểm nhất vẫn là tưởng cái phúc trong cái hoạ. Đó là cái tưởng do tâm trí mù tối. Trong cái tội lỗi là cái hoạ mà cứ tưởng là cái phúc trời cho để hưởng thụ. Có rất nhiều hoang tưởng ấy, cho nên sau cuộc vui tàn lại phải kiếm cuộc vui khác, cho đến khi chẳng còn gì, mới tỉnh ngộ thì đã muộn.

Thánh Luca nói đến bốn cái hoạ mà tưởng cái phúc đó. Giàu có, no nê, vui cười, được ca tụng. Bốn cái vui này thuộc về thế gian, nó thuộc về ba điều tham, sân, si. Hậu quả luôn theo sau nếu không tỉnh ngộ biết chuyển hoá sớm.

Lão Tử viết đại ý như: “Biết mình dũng mãnh mà lại luôn nhu hòa, khiêm những, nhẫn nhịn. Biết nhưng giả không biết, không áp đặt cái biết lên người khác, học thêm cái biết ở nơi người. Biết mình ở địa vị cao, vinh hoa phú quý nhưng luôn sống giản dị, gần gũi, giúp đỡ mọi người” (Đạo Đức Kinh).

Hành thiện tích đức.

Ngay sau bốn mối phúc và bốn mối hoạ, Chúa Giêsu dạy: “Yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em”  (Lc 6, 27) và hãy có: “lòng nhân từ như Cha là Đấng nhân từ”  (Lc 6, 36). Với những điều dạy đó khi thực hiện trong đời, mối hoạ luôn sẽ được chuyển hoá thành phúc, và mối phúc này được ngay ở đời này và đời sau.

Xin Chúa ban thêm lòng quả cảm để thắng cái ích kỷ của cái tôi, sống hài hoà với anh em, có lòng nhân từ, bác ái, độ lượng. Sống mối phúc thật mỗi ngày nên hoàn hảo hơn, nhờ ơn Chúa ban không trở nên vô ích.

 

.

HẠNH PHÚC THẬT.

Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm

Nếu chúng ta có chìa khóa của Thánh Phêrô để mở cửa thiên đàng, chúng ta sẽ thấy đầy những người nghèo như “bà góa nghèo đến bỏ tiền vào đền thờ hai đồng kẽm chỉ bằng một phần tư đồng bạc Rôma” (Mc. 12, 42), đầy những kẻ đói khát như anh ăn mày Ladarô mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng nhà giàu (Lc. 16, 20), đầy những người khóc lóc như con thành Giêrusalem đến khóc thương Chúa trên đường vác Thánh giá, đã được Chúa đứng lại yên ủi như Cha yên ủi con trong cơn khóc lóc, hay như Phêrô khóc than vì đã phạm tội chối Thầy ba lần, đầy những người bị oán ghét, khai trừ, nhục mạ và xóa bỏ tên tuổi coi như đồ xấu xa như Đức Giêsu, Gioan tiền hô, các tiên tri và các thánh tử đạo.

Nếu chúng ta có quyền tự lực đập tan cửa hỏa ngục, chúng ta sẽ thấy đầy dẫy những hạng phú hộ ăn chơi, những hạng tham ô, móc ngoặc, những quản lý giết người cướp của, như hạng nhà giàu không thương giúp Ladarô, hạng kinh sư móc hết tài sản các bà góa, hạng tá điền cướp vườn nho (Mc. 12. 1-9, 38-40), đầy những hạng quyền quý sang trọng được tung hô, yến tiệc khao vọng, múa nhẩy, nghiện ngập như Hêrôđê no say còn bày trò chém đầu Gioan tiên hô, đầy hạng vui cười, chế nhạo, oán thù như quân dữ, trưởng tế và luật sĩ nhục mạ Đức Giêsu lúc bị treo trên Thánh giá.

Tại sao những người nghèo khó, đói khát, khóc lóc bị oán ghét lại được Chúa chúc phúc chan chứa vui mừng trong vinh quang nước trời?

Thưa, vì họ bị đàn áp, bóc lột, tước đoạt hết các thứ thuộc về thế gian. Hàng đoàn đám đông dân chúng đó chỉ còn biết trông cậy vào Đức Giêsu. Họ bỏ cả quê hương danh tiếng như Giudêa, Giêrusalem, Tyrô, Siđon để đến theo Chúa. Người đã cứu chữa họ cả xác lẫn hồn. Người vừa chữa cho họ khỏi tật nguyền quỷ ám, vừa giảng cho họ biết đường sống hạnh phúc muôn thuở.

Họ là những người nghèo khó về tiền của như Đức Giêsu không có chỗ tựa đầu, nhưng lại giầu lòng thương người như Đức Giêsu đã cho bao nhiêu người nương tựa. Họ nghèo khó, vì không tham lam, trộm cắp, nhưng lại giầu tinh thần cao quý thanh tao, siêu thoát. Họ nghèo của trần tục, nhưng họ giầu của nước trời. Họ là những người bụng đói của ăn như Ngài, đến nỗi các môn đệ bứt lúa ăn và bị chỉ trích, nhưng họ khao khát công chính và theo Ngài đi rao giảng Tin Mừng nước trời cho muôn dân. Họ đói bánh nuôi cái bụng, nhưng họ thoả dạ an lòng vì siêng năng rước Bánh Hằng sống.

Họ là những người sầu khổ khóc lóc thương xót bao nhiêu cảnh lầm than như Chúa đã khóc thương Ladarô, khóc thương thành Giêrusalem và chịu chết cho con cháu họ. Ít ra, họ là những người như Phêrô biết ăn năn thống hối và trở lại với Thầy để lãnh nhận trách nhiệm cứu giúp muôn dân sa ngã như mình.

Họ là những người hy sinh chịu đau khổ, oan uổng, bất công, biết vác thập giá theo Chúa để cứu nhân độ thế. Họ đã được phần thưởng lớn lao trên nước trời.

Tại sao những kẻ giầu, no nê, vui sướng, vinh quang lại bị chúc dữ?

Thưa, họ là những kẻ ham danh, ham lợi, ham thú vui vật chất phàm tục. Họ cậy vào tiền của vì họ tưởng: “Có tiền mua tiên cũng được”, chẳng cần đến ai. Họ xa lìa Thiên Chúa đi theo các thần tài, thần hoàng, thần nữ, thần thổ địa và các thần tượng. Đó là các tử thần, họ sẽ chết theo chúng.

Lịch sử đã cho thấy, khi con người nghèo đói, túng cực, lam lũ khổ sở, họ sốt sắng chạy đến kêu cầu, trông cậy vào Thiên Chúa. Nhưng khi được ấm no, sung túc thì ăn chơi, lười biếng, cậy mình kiêu ngạo, không cần đến Thiên Chúa nữa. Dân nước Balan trước đây hơn 90% siêng năng đi lễ, cầu nguyện, đoàn kết như một, dưới quyền hướng dẫn của Giáo Hội. Nay được dễ dãi, làm ăn phát đạt, họ lại chia rẽ, khinh thường hàng giáo phẩm và xa lìa Thiên Chúa. Các nước Âu Mỹ cũng thế. Giáo dân Việt Nam cũng không khá gì: trong những năm 1975-1985, đời sống đói khổ, thì ngày thường cũng như Chúa nhật nhà thờ đầy người. Nay, ngày thường chỉ leo teo một số cụ già, con nít, còn thanh niên người lớn có tiền bạc, ăn chơi, rượu chè, hút sách bất tận. Chúa nhật đi lễ hơn một giờ thì thấy lâu, sốt ruột, ngồi ngoài sân, đứng lấp ló xó nọ góc kia, nói chuyện, hút thuốc, mà không biết rằng ai cho cái miệng để ăn nói, ai cho cái mũi để thở, ai cho hơi thở khí mát để sống. Thật vô phúc, vô ơn Thiên Chúa đến chừng nào! Những hạng đó đến bao giờ mới được chúc phúc, Đức Giêsu còn phải chúc dữ đến bao giờ!

Người ta nói: “Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”. Trồng người để có người tốt, có dòng giống con cháu tốt thì mới có việc tốt, nhờ đó xây dựng gia đình, xã hội tốt từ đời này tới đời kia, lâu dài hàng trăm năm. Trồng cây để lấy của hưởng thụ, chỉ được mươi mười năm là hết. Biết rõ như thế, những bậc thánh hiền vĩ nhân luôn luôn quan tâm đặc biệt tới trồng người, dù có phải sống hy sinh kham khổ như Khổng Tử, Đức Phật.

Khổng Tử đã từ chức quan đại thần sống thật thanh bần: “Ăn cơm thô, uống nước lã, co cánh tay gối đầu, lòng đầy hoan lạc. Bất nghĩa mà giầu sang, ta coi như phù vân … Ta thường trọn ngày quên ăn, trọn đêm quên ngủ vì suy tư … lo đạt đạo” (Ln. 7, 15 và 15, 30-31). Đức Phật không thể chịu nỗi cảnh giầu sang, danh vọng của hoàng cung, đã trốn lên rừng tìm đạo để cứu nhân độ thế, thoát khỏi cảnh khổ của hoàng cung phàm trần này mà nhân loại đang trầm luân trong đó. Các vị đó thật giống với cuộc đời thanh bần trong sáng của Đức Kitô: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc. 9, 58). Vậy hạnh phúc muôn thuở của các ngài, không phải giầu sang, quyền quý, mà là siêu thoát để truyền dậy chân lý không mệt.

Lạy Chúa, xin cho con “đừng tựa vào tường vì tường sẽ đổ, đừng tựa vào cây vì cây sẽ gẫy, đừng tựa vào người vì người sẽ chết” mà chỉ lo sống tựa vào lời chúc phúc của Chúa

 

.

HẠNH PHÚC

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Là con người, ai cũng mong muốn hạnh phúc và nỗ lực đi tìm hạnh phúc. Hạnh phúc là khát vọng ngàn đời của mỗi người. Khi con người chiều theo cơn cám dỗ của loài rắn, đó chính là lúc hạt mầm hạnh phúc không còn đủ “thiên thời địa lợi” để đơm hoa kết trái. Bất hạnh và gian dối theo về, ùa vào cuộc đời, chảy xuôi dòng lịch sử. Con người bắt đầu dệt những ước mơ, chắt chiu từng kỷ niệm, hồi tưởng về quá khứ, một quá khứ in đầy dấu chân hạnh phúc. Vậy hạnh phúc là gì giữa đa đoan và trắc trở, giữa bền vững và mong manh, giữa ích kỷ và bao dung?

1. Quan niệm về hạnh phúc.

Có người cho rằng hạnh phúc là có thật nhiều tiền của, nhiều vàng bạc, lúa thóc đầy kho; hạnh phúc là quyền lực, địa vị danh vọng. Có người nghĩ hạnh phúc là có nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con thơ, ruộng vườn thẳng cánh cò bay. Có người lại quan niệm hạnh phúc là sức khoẻ, là sự bình an thư thái của tâm hồn; hạnh phúc là sự hòa hợp giữa thể xác và tâm hồn, giữa cá nhân và cộng đồng xã hội, giữa cái tôi và vũ trụ bao la.

Theo truyền thống Ấn Độ, hạnh phúc là Sukha, đó là trạng thái giống như một bánh xe mà trong đó mọi sự đều ăn khớp với nhau: vành xe, ổ trục và các đũa xe đều tốt và nằm đúng vị trí, hòa hợp với các thành phần khác, do đó mà bánh xe chạy trơn tru. Còn đau khổ là Dukha, đó là tình trạng một bánh xe trục trặc vì có những thành phần hư hỏng hay không ăn khớp với những thành phần khác.

Tần Thuỷ Hoàng cho xây vạn lý trường thành, sai người đi tìm thuốc trường sinh bất tử để mong thỏa ước mơ được hạnh phúc, được sống bất tử. Với Nhà văn Philippe Delerm, hạnh phúc là điều thật đơn giản, là tổng cộng các niềm vui nhỏ gộp lại. Năm phút nằm dài trên bãi cỏ xanh nhìn mây trời lãng đãng trôi, hớp ngụm bia ngon, thưởng thức một bản nhạc hay… đều có thể làm hưng phấn, tạo được niềm vui hạnh phúc. Kim Thánh Thán, nhà phê bình Trung Hoa đã từng có 33 phút vui tinh thần mà ông cho đó là phút giây thực sung sướng trong đời. Thú vui đó là thưởng thức thiên nhiên, dưới ánh trăng non, tay bầu rượu túi thơ, cùng bạn hữu trao đổi kinh sử văn thơ, cùng uống trà để quên đi sự huyên náo của phồn hoa, lòng thấy thanh thản (x. quan niệm về hạnh phúc, nội san chia sẻ số 23). Có muôn lối nhìn về hạnh phúc tuỳ theo quan niệm mỗi người.

2. Đi tìm về hạnh phúc.

Hạnh phúc không như bông hoa có thể dễ dàng hái được ở bên đường, không giống như chiếc áo, chiếc xe đạp hay cái nhà có thể vẽ ra thành hình hài màu sắc có thể mua bán. Hạnh phúc là điều cảm thấy được trong tâm hồn, nó thuộc chiều sâu cõi lòng tuỳ thuộc thái độ sống đối với cuộc đời. Con người phải ra công chăm sóc vun trồng thì cây hạnh phúc mới đơm hoa kết trái.

Hạnh phúc chính là khát khao được sống, được hiện diện, được yêu thương. Đi tìm hạnh phúc cũng là đi tìm sự sống. Sống là tồn tại, có tồn tại mới có yêu thương, có tương quan, có sinh trưởng. Đi tìm hạnh phúc cũng như đi tìm tình yêu. Khi người ta yêu nhau, mọi sự đều trở nên nhẹ nhàng, tốt đẹp “yêu nhau yêu cả đường đi; yêu nhau trăm sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng; yêu nhau mấy núi cũng trèo mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”. Hạnh phúc là tình yêu. Tình yêu nối dài những ước mơ, ước mơ thường hướng con người về hạnh phúc.

Hạnh phúc chính là sự sống và là tình yêu. Tình yêu và sự sống như đôi cánh đưa con người bay vào khung trời hạnh phúc.

3. Tám mối phúc thật.

Đức Phật Thích Ca mở đầu bài thuyết pháp đầu tiên tại Bênarêch bằng câu: Vạn sự vô thường vạn sự thường, nghĩa là mọi sự thay đổi không ngừng nên mọi sự chỉ là khổ. Sinh lão bệnh tử, con người sinh ra để rồi già yếu, bệnh tật và cuối cùng là phải chết. Đời là bể khổ, muốn có hạnh phúc, ra khỏi bể khổ, cần diệt lòng tham sân si. Khổ diệt lòng tham muốn mới thoát khỏi bến mê, khỏi u minh chốn hồng trần.

Đức Kitô trên “Núi Bát Phúc” đã thuyết giảng điệp ca hạnh phúc “Tám mối phúc thật”: Phúc cho ai… (Mt 5, 1-12).

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ. Đức Phật coi đời là bể khổ. Đức Giêsu nhìn thấy màu hồng trong cái thanh bạch của tâm hồn nghèo khó.

LmThiện Cẩm đã nhận định rằng: Người ta đã tốn khá nhiều giấy mực và thời gian, sức lực để nghiên cứu suy tư bàn cãi về hai bài giảng đầu tiên của Đức Phật và của Đức Giêsu. Tuy nhiên, có lẽ chẳng mấy ai hiểu chính xác nội dung ý nghĩa hai bài giảng có tính cách ngôn sứ ấy. Vì thực ra cả Đức Phật và Đức Giêsu đều không chú ý đề ra một lý thuyết về vấn đề hạnh phúc và đau khổ mà chỉ chia sẻ cho anh em nhân loại chính kinh nghiệm sống của mình. Kinh nghiệm của Đức Phật là kinh nghiệm của một người đã đạt tới chân như, vượt ra ngoài thế giới vô thường của những đam mê mù quáng, của sự phân chia đối kháng. Còn kinh nghiệm của Đức Giêsu là kinh nghiệm của một người thấy được cái tồn tại trong cái mất mát, thấy được sự sống trong cái chết.

Điệp ca trên núi của Đức Giêsu đã trở thành Hiến Chương Nước Trời: Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho ai hiền lành. Phúc cho ai… điệp ca vang vọng mãi ở trên núi được nhắc đi nhắc lại nhiều lần cho các môn đệ và cho nhân loại qua muôn thế hệ.

Tất cả Tám Mối Phúc đều có hai vế: vế thứ nhất là nhân, vế thứ hai là quả; vế thứ nhất là gieo, vế thứ hai là gặt; vế thứ nhất là mình vì người khác, vế thứ hai là người khác vì mình; vế thứ nhất là đau khổ, vế thứ hai là hạnh phúc. Các mệnh đề trong vế một phải hiểu ngầm là vì Chúa, vì tha nhân, nghèo vì tha nhân, hiền lành đau khổ vì tha nhân. Nếu không do tự nguyện vì Chúa, vì tha nhân thì sự nghèo, sự hiền lành, sự đau khổ, bách hại ta phải chịu đều là đau khổ chứ không phải là phúc đức. Chẳng hạn, mối phúc thứ nhất là nghèo vì người khác, sống nghèo cho người khác thì mới là phúc thật, còn sống nghèo để dành dụm tiền của ngày càng nhiều thì đó là trọc phú, là hà tiện chứ không phải là sống nghèo theo Tin mừng. Cái nghèo mà Đức Giêsu nói đến là nghèo vì yêu thương tha nhân. Nghèo vì cho đi vì muốn làm lợi ích cho người khác thì cái nghèo đó mới gọi là Đức Khó Nghèo. Vì thế giữa Đức Khó Nghèo và Đức Bác Ái có tương quan với nhau. Khó nghèo để bác ái, khó nghèo mà không bác ái thì trở thành hà tiện. Hà tiện là một trong bảy mối tội đầu. Vì thế tâm hồn nghèo khó của Tin mừng là tâm hồn sẵn sàng chấp nhận mất mát thời giờ, vật chất, sức lực, của cải, tài năng vì yêu thương tha nhân, vì mưu cầu hạnh phúc cho người khác. Một người có tinh thần phục vụ cao, dám hy sinh cho người khác, chắc chắn người đó sẽ được mọi người quý trọng, yêu mến, được tín nhiệm, được giao những trọng trách. Một người như vậy thì Nước Trời trong lòng họ, tinh thần họ luôn bình an, hạnh phúc, tràn đầy niềm vui vì sống cho hạnh phúc của người khác.

Kinh nghiệm trong cuộc sống cho thấy, những người ích kỷ suốt ngày chỉ nghĩ tới mình, tới hạnh phúc hay nỗi đau của mình đều là những người đau khổ nhất. Còn những người có tâm hồn vị tha, chỉ nghĩ đến người khác, đến hạnh phúc và đau khổ của người khác, không còn thời giờ để nghĩ đến mình thì những người ấy luôn luôn hạnh phúc thoải mái trong tâm hồn và thành công trong cuộc đời.

Người Kitô hữu chúng ta cần tập thói quen sống vì Chúa, vì tha nhân và thường xuyên tìm đủ mọi cách để người xung quanh mình được hạnh phúc. Sống như thế không những được hạnh phúc ở đời này mà còn đời sau nữa. Đường lên thiên đàng thì nhỏ và chật hẹp, vất vả hơn đường xuống hỏa ngục đầy thênh thang bóng mát. Chọn lựa theo Chúa Giêsu là đón nhận cho đời mình chính nguồn hạnh phúc chân thật và sự sống phong phú dồi dào.

Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người để giúp con người sống hạnh phúc. Sau khi sống lại, Người mở đường dẫn lối cho chúng ta đi về hạnh phúc viên mãn trong Thiên Chúa Tình Yêu và Sự sống.

 

.

PHÚC CHO NHỮNG AI ĐẶT TRỌN NIỀM TIN VÀO CHÚA

Lm. Anthony Nguyễn Ngọc Dũng

Trong xã hội ngày hôm nay, người ta thường nói: Con cha cháu ông muốn gì được nấy. Hay chúng ta thường nghe ông bà ta nói: “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa.Bao giờ dân nổi can qua, con vua thất thế lại ra quét chùa.” Chúng ta thường cậy dựa vào sức lực và ảnh hưởng của người khác, của những ngưới có quyềnthếvàđịa vịtrong xã hội [hoặc Giáo Hội], để tìm chút lợi danhcho mình và cho người thân. Lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay mời gọi chúng ta đặt lại những giá trị trong cuộc sống và trong xã hội, vì chúng ta là những môn đệ của Ngài, những người thuộc về Ngài chứ không thuộc về thế gian.

Ngôn sứ Giêrêmia trong bài đọc 1 trình bày sự tương phản vềcuộc sống của những người đặt niềm tin vào con người và những người đặt niềm tin vào Đức Chúa. Thật vậy, Đức Chúa, qua ngôn sứ Giêrêmia, khiển trách những kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân làmnơi nương tựa,và lòng dạ xa rời Đức Chúa!” (Gr 17:5). Họ sẽ như bụi cây trong hoang địa chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ,hạnh phúc có đến cũng chẳng nhìn ra,nhưng sẽ ở mãi nơi đồng khô cỏ cháy,trong vùng đất mặn không một bóng người”(Gr 17:6).Còn những người “đặt niềm tin vào Đức Chúa và có Đức Chúa làm chỗ nương thân.Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong,mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi,gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại,và không ngừng trổ sinh hoa trái” (Gr 17:7-8). Hai loại người này sẽ được trình bày cách chi tiết và rõ ràng hơn trong bài Tin Mừng.

Còn trong bài đọc 2, Thánh Phaolô nói đến sự phục sinh của Đức Giêsu Kitôlà trung tâm điểm của niềm tin Kitô giáo: “Vì nếu kẻ chết không trỗi dậy, thì Đức Kitô cũng đã không trỗi dậy.Mà nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em” (1 Cor 15:16-17). Chính niềm tin vào sự phục sinh đã làm cho chúng ta hiểu rằngcuộc sống của chúng ta không kết thúc bởi cái chết, như Thánh Phaolô nói: “Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu” (1 Cor 15:20). Sự kiện Đức Kitô trỗi dậygiúp chúng ta nhận ra rằng, những giá trị đích thật trong đời sống của chúng ta không nằm ở cuộc sống chóng qua ở trần thếnày, nhưng nằm ở cuộc sống mai sau, vì khi chết chúng ta không thể mang theo tiền tài danh vọng xuống nấm mồ. Trong bối cảnh của sự phục sinh của Đức Kitô mà Thánh Phaolô trình bày, chúng ta hiểu bài Tin Mừng hôm naycách rõ ràng hơn vì những lời hứa và hình phạt kèm theo nằm ở “thể tương lại,”tức là ởcuộc sống mai sau. Thật vậy, chỉ trong sự sống phục sinh chúng ta mới hiểu điều Chúa Giêsu nói với các môn đệ về các mối phúc thật.

Bản phúc thật của Thánh Luca trong Tin Mừng hôm naygồm có bốn mối phúc và bốn mối hoạ, thay vì cả tám mối phúc nhưđược tìm thấy trong Tin Mừng Thánh Mátthêu (x. Mt 5:1-12). Qua các mối phúc và hoạ trong bàiTin Mừng,Chúa Giêsu đảo lộn các giátrị mà người đời xemnhư là tiêu chuẩn của thành công hay thất bại để trở thành những giá trị đích thật của cácmôn đệ của Ngài. Nói cách khác, những môn đệ mà Chúa Giêsu gọi là có phúc thì thế gian cho là bất hạnh; còn những môn đệmà Chúa Giêsu gọi là bất hạnh thì thế gian cho là hạnh phúc. Đề tài này tiếp nối đề tài “đáp lại tiếng Chúa Giêsu mời gọi” để trở nên môn đệ của Ngài trong Chúa Nhật tuần trước: Khi đã trở thành môn đệ của Chúa Giêsu, những giá trị trong cuộc đời của chúng ta cũng bị thay đổi. Và Chúa Giêsu đã đưa ra bản giá trị mới này cho chúng ta trong các mối phúc và hoạ. Theo Deissmann, “Những mối phúc [và hoạ] được công bố trong môi trường đầy điện [và có thể tạo nên những cú điện giật chết người]. Chúng không phải là những vì sao thinh lặng, nhưng là những tia chớp của sét kèm theo tiếng sấm đầy kinh ngạc và sửng sốt.”

Trước khi phân tích chi tiết các mối phúc và hoạ, chúng ta cần lưu ý điều này: Như chúng ta đã trình bày ở trên, Chúa Giêsu muốn nói các mối phúc và họa này cho chính các môn đệ [nhóm 12] của Ngài, cho chính mỗi người chúng ta: “Khi ấy, Đức Giêsu ở trên núi xuống cùng với Nhóm Mười Hai, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, có nhiều môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng đến từ khắp miền Giuđê, Giêrusalem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xiđôn…. Thấy vậy, Đức Giêsu ngước mắt nhìn các môn đệ và nói” (Lc 6:17-20). Vì vậy, để lời Chúa hôm nay trở nên “máu thịt” của mình, chúng ta hãy mở rộng con tim và đặt mình trước mặt Chúa Giêsu để nghe Ngài nói những lời đầy thách đố, nhưng cũng đầy an ủi này cho mỗi người chúng ta.

Mối phúc thứ nhất: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em” (Lc 6:20). Khi thế gian xem những người giàu có về của cải vật chất là có phúc thì Chúa Giêsu lại nói chỉ những người nghèo mới có phúc.Cái nghèo mà Chúa Giêsu nói đến ở đây không nhất thiết là cái nghèo về vật chất, nhưng là “thái độ tự do, không làm nô lệ cho vật chất” để chỉ sở hữu mình Thiên Chúa làmgia nghiệp.Chúng ta đã từng chứng kiến việc có những người giàu có về của cải vật chất, nhưng họ sống nghèo vì họ sử dụng của cải của mình để chia sẻ và chuẩn bị cho mình một kho tàng ở trên trời. Ngược lại, có những người nghèo về của cải vật chất, nhưng “giàu có” trước mặt Chúa vì họ chỉ lo đi tìm của cải vật chất để thoả mãn ước mơ có được đời sống tiện nghi để rồiquên mất Chúa.

Mối hoạ thứ nhất: “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi” (Lc 6:24). Như chúng ta đã trình bày, khi thế gian xem giàu có là một ơn phúc, thì Chúa Giêsu lại xem giàu có là một mối hoạ.Tại sao giàu có là mối hoạ? Vì nó dễ dàng làm cho con người ngủyên trong phần an ủi chóng qua của mìnhở đời này mà quên đi hoặc dửng dưng trước những nhu cầu của anh chị em xung quanh. Có câu nói trong đời rằng: Giàu có dễ dàng làm cho chúng ta ngăn cách với người nghèo bằng những bức tường thật cao, những cánh cổng khoá thật chặt. Hơn nữa, giàu có dễ dàng làm cho con người sử dụng tất cả năng lực mình có để càng trở nên giàu có hơn trước mặt người đời mà không lo đến việc chuẩn bị cho mình một khotàng ở trên trời. Chúng ta hãy nhớ rằng: Những gì chúng ta có được về của cải vật chất chỉ là những giá trị của thế gian. Khi sự chết ập đến, khotàng trần thế sẽ để lại cho người khác. Những giá trị của người môn đệ của Chúa Giêsu là: “Hãy đi, bán hết của cải anh [chị] có, cho người nghèo, tích luỹ cho mình một kho tàng ở trên trời, rồi đến và theo Thầy” (x. Mt 19:21).Một lối sống thật thanh thoát với của cải vật chất!

Mối phúc thứ hai: “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói,vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng” (Lc 6:21). Mối phúc này đi theo mối phúc về  nghèo  khó.  Thường những người nghèo khó thì thiếu thốn cái ăn cái mặc nên dễ dàng phải chịu đói chịu khát. Khi thế gian xem những người luôn no đầy là có phúc thì Chúa Giêsu nói phúc cho các môn đệ khi họ phải chịu đói khổ. Tuy nhiên, cái đói mà Chúa Giêsu nói đến ở đây không phải là cái đói đơn giản mang tính vật chất, mà là cái đói và cái khátlời Chúa và sự công chính của Ngài. Chỉ những người đói khát lời Chúa và sự công chính của Ngài mới luôn hướng lòng về Ngài và xem Ngài là tất cả của cuộc đời mình. Khi làm như thế, họ sẽ được Thiên Chúa cho no lòng với tình yêu, sự tha thứ, ủi an và chăm sóc của Ngài.

Mối hoạ thứ hai: “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói” (Lc 6:25).Những người đang no nê ở đây là những người đang tận hưởng những của cải vật chất như mối hoạ thứ nhất nói đến. Họ được no nê về của cải vật chất, nhưng đói khát những giá trị thiêng liêng.Chúng ta chứng kiến trong cuộc sống thường ngày của chúng ta thực tại này là có nhiều người và nhiều gia đình rất no đủ về vật chất, nhưng họ lại rất đói về tình thương, về cảm thông và tha thứ.

Mối phúc thứ ba: “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười” (Lc 6:21). Khi thế gian gọi những người luôn vui cười là hạnh phúc thì Chúa Giêsu lại nói nhưng ai đang phải khóc là được phúc. Tại sao Chúa Giêsu lại nói những người than khóc là có phúc? Theo nghĩa Kinh Thánh, dân Chúa than khóc khi họ phạm tội và cần đến sự tha thứ của Thiên Chúa. Như vậy, những người than khóc là có phúc vì họ than khóc cho tội của mình và của người khác. Đây là sự than khóc của những tâm hồn thống hối ăn năn, của những người khóc cho sự bất công trong xã hội. Nhưng than khóc đó sẽ được Chúa làm cho trở nên vui cười, niềm vui vì được tha thứ và yêu thương.

Mối hoạ thứ ba: “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bâygiờ đang được vui cười vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than” (Lc 6:25).Những người sẽ gặp khốn cùng trong ngày sau hết là những người không bao giờ biết than khóc cho tội của mình và tội của người khác. Những người “cười” trên nỗi đau của đồng loại; những người hưởng lộc, ăn no mặc ấm trong khi anh chị em của mình đói khát và lạnh lẽo.

Mối phúc thứ tư: “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế” (Lc 6:22-23). Khi thế gian cho rằng những người không bị oán ghét, khai trừ, sỉ vả là hạnh phúc, thì Chúa Giêsu lại nói ngược lại. Ai trong chúng ta cũng đã từng bị oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xem như là tên xấu xa. Nhưng thường chúng ta bị đối xử như vậy là vì những việc làm vì mình. Điều đó không làm cho chúng ta được chúc phúc. Chúng ta được phúc chỉ khi chúng ta chịu những điều đó vì danh Chúa Giêsu. Nói cách cụ thể, chúng ta bị loại trừ, oán ghét, sỉ vả, và xem là tên xấu xa khi sống đời sống thật yêu thương, thật tha thứ, thật cảm thông, thật tốt. Tóm lại, là chúng ta sống một lối sống như Chúa Giêsu vậy. Chúng ta trở nên quá khác với những người thời đại là những người cảm thấy khó để yêu thương, để tha thứ, để cảm thông và sống thành thật.

Mối hoạ thứ tư: “Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế” (Lc 6:26). Lối sống giả tạo và chạy theo vẻhào nhoáng bên ngoài luôn là một hấp dẫn và cám dỗ của chúng ta ngày hôm nay. Chúng ta thường làm việc với động lực để được người khác biết đến và khen ngợi, ngay cả những việc “bác ái” đúng ra ngay cả tay phải cũng không biết việc tay trái làm, thì chúng ta lại dùng chúng để tìm vinh danh cho mình thay vì vinh danh cho Thiên Chúa.

Tóm lại, chủ đề chính của lời Chúa trong Chúa Nhật VI Thường Niên hôm nay được trình bày cách tuyệt diệutrong câu Thánh Vịnh Đáp ca: “Phúc thay người đặt tin tưởng nơi Chúa.”Những người đặt niềm tin vào Chúa là những người để cho Chúa hướng dẫn cuộc đời của mìnhtheo cách Ngài muốn chứ không theo cách họ muốn; họlà những người trao cho Chúa trọn con tim của họđể Chúa đổ vào trong đó tình yêu vô điều kiện của Ngài; và cuối cùng, họlà những người luôn sẵn sàng tha thứ và cảm thông cho người phạm đến mình bảy mươi lần bảy trong một ngày.

 

.

ƯỚC GÌ NGHÈO MỘT NGÀY

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Có một sự thật mà ai cũng phải gật đầu thừa nhận rằng trên đời nàychẳng aimuốn mình phải sống trong cảnh nghèo khổ. Nếu như không quá tham vọng một cuộc sống nhung lụa, phú quý thì chí ít con người cũng khao khát cho mình có một gia đình hòa thuận, một cuộc sống đủ ăn, đủ mặc vàmột chút dư thừa.

Và chẳng ai hi vọng mình cứmãi sống trong cái cảnh nghèo túng đâu?Nghèo cũng có đến năm bảy loại nghèo, nhưng chung quy đã nghèo thì chỉ thấy bất hạnh. Nghèo đến độ mà cơm không đủ no, áo không đủ mặc thì quả thực là khốn khổ vô cùng.

Có câu chuyện vui kể rằng : Cuối tháng, Tèo than thở với ông bạn đồng nghiệp:

– Anh biết không, nhiều khi tôi chỉ ước được sống trong cảnh nghèo đói một ngày thôi mà Trời vẫn không cho!

– Trời ạ! – anh đồng nghiệp sửng sốt – Người ta sợ nghèo, sợ đói còn không kịp, cậu lại đi ước ao nghèo.

Tèo thở dài:

– Tôi chỉ ước một ngày thôi, chứ ngày nào cũng đói khổ như hiện tại làm sao mà chịu nổi.

– !!!

Nghèo đói là tai hoạ của kiếp người. Xã hội hôm nay đang cùng nhau nổ lực xoá đói giảm nghèo. Thế mà, phúc âm Chúa Giê-su lại chúc phúc cho anh em khi được đói nghèo: “Phúc cho anh em là những người nghèo khó, phúc cho anh em là những kẻ bây giờ phải đói?”.Không lẽ Chúa Giê-su lại chủ trương một đời sống nghèo nàn, đói khát và lạc hậu sao?

Chúa không chúc phúc cho sự đói nghèo mà Chúa chúc phúc cho các môn đệ của Chúa là những người đã dám bỏ mọi sự mà đi theo Chúa, để rồi chẳng còn gì là của riêng mình.Trước đây, các môn đệ như Phê-rô, An-rê, Gioan, Giacôbê là những ngư phủ khá giả có ghe, có thuyền, có lưới… ngày ngày đánh bắt được tôm cá để nuôi sống gia đình và bản thân. Nay vì theo tiếng gọi của Chúa Giê-su, các ngài từ bỏ ghe thuyền, nhà cửa, nghề nghiệp, bỏ lại cả vợ con, ra đi với hai bàn tay trắng, lên đường phục vụ cho Tin Mừng. Vì thế các ngài là những người trở nên vô gia cư, vô sản vì Tin Mừng và vì Chúa Giê-su. Thế nên các ngài sẽ được Chúa Giê-su trọng thưởng. “Phúc cho anh em là những người nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em”. Lòng quảng đại của Thiên Chúa đâu có thua lòng quảng đại của con người.Thiên Chúa sẽ bù đắp lại cho những gì con người đã làm cho Chúa, Ngài không để cho ai thiệt thòi vì tin mừng.

Hôm nay cũng thế, nếu chúng ta chấp nhận hy sinh vì Chúa, chịu thiệt thòi mất mát vì Chúa, chúng ta sẽ được Chúa ban thưởng dư đầy, bởi vì lòng quảng đại của Thiên Chúa thì triệu lần lớn lao hơn lòng quảng đại của chúng ta. Chúng ta hiến dâng cho Chúa một, Chúa sẽ ban thưởng gấp trăm gấp ngàn những cái chúng ta dâng cho Chúa.

Thiết tưởng đây phải là lối sống mà những kẻ tin theo Chúa cần thể hiện một cách triệt để trong cuộc sống hôm nay. Giữa một thế giới mà lòng ích kỷ, hưởng thụ, khiến nhân loại đang chìm đắm trong bể khổ của ly tán, bất công và bạo lực, người kytô hữu phải sống triệt để tinh thần bác ác, vị tha. Con người hôm nay đang tự đầy đoạ nhau trong những bon chen danh lợi thú, những đam mê bất chính đã đẩy nhận loại đến tận cùng của sự dữ, đến nỗi người ta sẵn sàng chà đạp lên nhau và đẩy nhau đến chỗ diệt vong. Người kytô hữu hơn bao giờ hết cần phải ý thức rằng tất cả chỉ là phù hoa. Trần gian là phù vân. Mọi sự rồi cũng sẽ qua. Thiên đàng mới là bất diệt. Ở nơi đó mới làm thoả mãn mọi ước vọng của con người. Cuộc sống trần gian ngắn ngủi tựa như “bóng câu qua cửa sổ”, còn đời sống thiên quốc mới vĩnh viễn ngàn thu. Đó mới là nơi mà chúng ta phải phấn đấu để đạt lấy triều thiên của vinh quang, của hạnh phúc bất diệt.

Nguỵên xin Chúa Giêsu Thánh Thể, là lương thực trợ giúp chúng ta trên đường về đất hứa xin ban cho chúng ta được no thoả ân tình của Chúa để luôn hạnh phúc với những gì Chúa ban. Amen

 

.

SỐNG DƯỚI ÁNH MẮT CHÚA

Bông hồng nhỏ

Lắng nghe là điều cần thiết và quan trọng. Mỗi ngày, ta không chỉ nghe bằng đôi tai mà còn nghe bằng mắt, bằng miệng, bằng nét mặt và toàn thân.

Đã bao giờ ta nhìn vào ánh mắt của người khác và hiểu được điều mà họ muốn bày tỏ? Hôm nay, ánh mắt Thầy Giêsu đã nhìn vào đôi mắt ta và ngay lúc Thầy nói, lòng ta đã vui lên. Thầy Giêsu ngước mắt nhìn các môn đệ và bắt đầu nói về các mối phúc. “Phúc anh em là…” đó là cách Thầy giảng. Những mối phúc Thầy nhắc đến là nghèo khó, đói, khóc, bị bách hại, bị loại trừ. Đây là những điều mà thế gian đang tìm cách loại trừ, muốn tránh xa thì Thầy lại cho là phúc đang ở trong tầm tay. Vì sao vậy? Chẳng phải vì nghèo khó mà người ta hạnh phúc nhưng nhờ trở nên những người nghèo khó vì Nước Thiên Chúa khiên người ta thực sự hạnh phúc. Tự nguyện trở nên nghèo khó và chấp nhận cái nghèo khó của Tin Mừng, người môn đệ sẽ ở trong Nước Thiên Chúa, được chính Chúa là gia nghiệp. Thánh Têrêsa Avila cũng có kinh nghiệm về việc được Thiên Chúa là được tất cả, chẳng còn thiếu gì nữa. Chỉ trong tình yêu của Chúa, người môn đệ mới sẵn sàng đón nhận cái đói, cái đớn đau của việc loại trừ, bị bách hại, bị chính người thân cận phản bội. Cái đói mà Thầy Giê su muốn nói là cái gì? Có một cái đói, khát mà lương thực không làm cho no thỏa được đó là đói khát sự công chính Thiên Chúa Chân – Thiện – Mỹ, Thầy Giêsu đã khẳng định: “Vì chính Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng” ( Lc 6, 21).

Niềm vui được làm môn đệ Chúa, được trở nên giống Chúa hơn qua từng chọn lựa trong ngày sống là niềm vui không ai lấy mất được. Thiên Chúa là Đấng luôn dõi nhìn đến con cái bằng ánh mắt của người cha nhân lành. Trên Thập giá, đôi tay của Chúa Giêsu dang rộng để ôm lấy tất cả. Vòng tay của người môn đệ có đủ rộng để ôm lấy tất cả mọi người như Chúa đã yêu thương? Phúc cho ai can đảm dang rộng vòng tay yêu thương để đón nhận tất cả mọi người, dù họ có bách hại ta nhưng vì Tin Mừng ta đón nhận tất cả.

Khi nói về các mối phúc, Thầy Giêsu đã chỉ rõ: “Phúc cho anh em” và khi nói về các mối họa, Thầy lại nói: “Khốn cho các ngươi”. Như thế, được trở nên môn đệ Thầy Giêsu là cái phúc lớn nhất. Sống xa Chúa thì thật là bất hạnh. Phúc cho người đặt tin tưởng nơi Đức Chúa nhưng khốn cho người tin tưởng người đời (x. Gr 17, 5-8). Nếu được giàu sang sung túc ở đời này, được no thỏa, được vui cười mà chưa biết Tin Mừng hay được biết Tin Mừng nhưng lại chối bỏ thì thật khốn thay, bất hạnh thay. Đồng khô cỏ cháy không phải là một điều đáng mơ ước. Được sống trong đồng cỏ xanh bên dòng suối mát, mới là hạnh phúc.

Lạy Chúa! Hạnh phúc cho con vì con được đón nhận Tin Mừng của Chúa. Đó là cái phúc con được Chúa ban qua sự quảng đại dấn thân của các nhà truyền giáo, của các môn đệ đã hết lòng rao giảng Tin Mừng. Nay con lại được mời gọi trở nên môn đệ Chúa, tiếp tục sống các mối phúc của người môn đệ để Nước Chúa ngày càng lan rộng. Xin cho con luôn biết sống dưới cái nhìn của Chúa và dấn thân hơn. Amen.

 

.

MỐI PHÚC NƯỚC TRỜI

Anna Cỏ May

Trong từng ngày sống, chúng ta thường được nghe những lời chúc phúc từ người khác và chúng ta cũng trao lời chúc phúc cho mọi người. Người ta thường chúc cho nhau muốn gì được nấy, làm ăn phát tài… Đó là những lời chúc phúc của thế gian, còn mối phúc Nước Trời thì sao?

Hôm nay, Tin Mừng Luca sẽ cho chúng ta biết về mối phúc Nước Trời.

Chúa Giê su ngước mắt nhìn các môn đệ và nói về các mối phúc. Phúc cho những người nghèo khó, phúc cho những ai đang đói, phúc cho ai đang khóc, phúc cho ai bị người ta oán ghét, khai trừ sỉ vả…(x.Lc 17,20-23). Tất cả những mối phúc ấy đi ngược với phúc của thế gian. Phúc thế gian luôn chỉ hướng về bản thân mình, còn phúc Nước Trời đạt đến sự trọn vẹn hoàn thiện cùng với tha nhân. Khi đi sâu vào các mối phúc Nước Trời, chúng ta sẽ thấy sự giàu có trên Nước Trời được thể hiện trong các mối phúc thế nào.

Phúc cho những ai nghèo khó là những người sống tinh thần nghèo khó, ý thức trách nhiệm trong công việc, lắng nghe Lời Chúa với tâm hồn khiêm nhường vì Nước Trời là của họ.

Phúc cho những ai đang phải đói về quyền hành nhưng sẵn sàng phục vụ người khác vì Thiên Chúa sẽ cho được no lòng, no trong tâm hồn no sự bình an.

Phúc cho những ai than khóc là những ai khóc khi thấy sự đổ vỡ và ly tán trong xã hội. Họ than khóc vì những thành kiến, những lo sợ, tội lỗi khiến cho mọi người chia cắt với nhau, và họ ước mong trở nên những người biết chữa lành thương tích để mọi người được vui cười.

Phúc cho ai bị người ta oán ghét khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu là những ai đã cảm nghiệm Lời Chúa trong tâm hồn và được thức tỉnh bởi tình yêu của Thiên Chúa, những ai bị khai trừ khi chia sẻ Tin Mừng với anh em mình; ngày ấy, họ sẽ vui mừng vì được phần thưởng trên trời.

Sống các mối phúc là cách duy nhất để sống tư cách là con Thiên Chúa vì các mối phúc diễn tả lại về cuộc đời của Chúa Giêsu đã sống.

Đối chiếu vào mối phúc của Chúa Giêsu trao ban, chúng ta có đang sống mối phúc trong đời sống mỗi ngày không? Điều gì khiến chúng ta cảm thấy khó khăn khi sống mối phúc? Sống các mối phúc là cách thể hiện tình yêu dành cho Chúa Giêsu. Một khi để cho Chúa Giê su và các mối phúc của Ngài đi vào đời sống chúng ta, thì chúng ta sẽ qua được những thử thách mỗi ngày. Lúc căm hờn, Chúa bảo hãy tha thứ; lúc sợ hãi, Chúa bảo hãy can đảm; lúc ghen ghét, Chúa bảo hãy yêu…những thử thách luôn đi ngược với cuộc sống, với suy nghĩ của chúng ta. Nhưng khi vượt qua các thử thách, chúng ta có thể cảm nghiệm được sự yêu thương tha thứ, chăm sóc không ngơi của Thiên Chúa. Noi gương các thánh, chúng ta cũng chọn cho mình một mối phúc. Vì sống trọn vẹn một mối phúc sẽ chạm và đạt tới các mối phúc khác. Thánh Anê trinh nữ vì làm chứng đức tin của mình, cô đã bị đối xử tàn bạo nhưng cô vẫn bình thản giữa những cực hình. Thánh Têrêxa Calcutta đã sống một đời bên những người nghèo bệnh tật, và đã tận tình phục vụ. Còn rất nhiều vị thánh khác đã sống trọn mối phúc của Chúa Giêsu. Sống các mối phúc là con đường dẫn về Nước Trời.

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã ban cho chúng con con đường về Nước Trời qua các mối phúc. Xin cho mỗi người chúng con biết sống mối phúc của Chúa hằng ngày. Nhờ đó, chúng con được thẳng tiến về Nước Trời. Amen.

 

.

ĐẶT NIỀM TIN VÀO THIÊN CHÚA VÀ CON MỘT NGƯỜI

Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Gr 17:5-8;  1Cr 15:12, 16-20;  Lc 6:17, 20-26)

Sứ vụ rao giảng Tin Mừng cho nhân loại được Thiên Chúa trao ban cho Chúa Giê-su và tất cả chúng ta.  Tuy nhiên việc đón nhận Tin Mừng lại đòi hỏi người ta phải có lòng tin, tin vào Thiên Chúa và tin vào sứ điệp của Người, đồng thời cũng phải tin vào Chúa Giê-su Ki-tô là sự biểu lộ và thể hiện chính Tin Mừng ấy.  Mỗi bài đọc của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay diễn tả niềm tin dưới một khía cạnh đặc biệt.  Bài trích sách Giê-rê-mi-a thì nhấn mạnh đến những hiệu quả của niềm tin vào Thiên Chúa.  Đoạn thư thánh Phao-lô thì lấy sự phục sinh của Chúa Ki-tô làm nền tảng cho niềm tin của chúng ta.  Riêng bài Tin Mừng diễn tả những cách biểu lộ niềm tin của những người được gọi là có phúc, mặc dù hạnh phúc của họ không phải là thứ hạnh phúc theo tiêu chuẩn của trần thế, mà là theo tiêu chuẩn của những người có đức tin.

Trước hết chúng ta xem Thiên Chúa nói với dân Người về niềm tin như thế nào.  Ngôn sứ Giê-rê-mi-a thay Chúa để nói với đồng bào của ông về sự khác biệt giữa “kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa” và “kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa và có Đức Chúa làm chỗ nương thân”.  Ngôn sứ dùng hình ảnh cây để nói lên sự khác biệt.  Cây phải có nước thì mới phát triển được.  Vậy kẻ đặt niềm tin vào người đời giống như “cây trong hoang địa chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ”.  Đúng thế, người đời có cho chúng ta hạnh phúc thì cũng chỉ là thứ hạnh phúc nhất thời.  Duy có Thiên Chúa mới có thể ban cho chúng ta hạnh phúc muôn đời.  Do đó thật thích hợp khi ngôn sứ ví kẻ tin vào Thiên Chúa giống như “cây trồng bên dòng nước”.  Nước mang các chất bổ dưỡng đưa vào rễ để chuyển lên thân cây và cành lá giúp cho cây lớn lên và sinh hoa kết quả.  Cũng thế, người đặt niềm tin vào Chúa giống như cây “đâm rễ sâu vào mạch suối trong”.  Vì Chúa là nguồn ân sủng và hạnh phúc nên họ tha hồ hút lấy nào là sức sống, nào là tiềm năng sinh hoa kết trái, nói tóm lại là tích trữ dần dần sự sống đời đời.  Quả thực, người đặt niềm tin vào Thiên Chúa chắc chắn sẽ được hạnh phúc muôn đời.

Tuy nhiên ai có thể bảo đảm với chúng ta rằng hễ tin vào Thiên Chúa thì sẽ được sống muôn đời?  Trả lời câu hỏi này, thánh Phao-lô diễn giải cho tín hữu Cô-rin-tô hiểu rằng nếu chúng ta tin vào Chúa Ki-tô, chúng ta sẽ được sống đời đời.  Tại sao?  Vì sự phục sinh của Chúa Ki-tô là dấu hiệu bảo đảm Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta hạnh phúc trường sinh:  “Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu”.  Vì sự phục sinh của Chúa Ki-tô là nền tảng cho hạnh phúc muôn đời của chúng ta, nên thánh Phao-lô mới nhấn mạnh đến việc rao giảng rằng Chúa Ki-tô đã từ cõi chết trỗi dậy.  Ngài lý luận rằng nếu Chúa Ki-tô không sống lại từ kẻ chết, thì việc rao giảng của ngài cũng như của các tông đồ là uổng công và đức tin (tức là đức tin vào Chúa Ki-tô không sống lại) của những kẻ đón nhận lời rao giảng chỉ là đức tin hão huyền mà thôi!  Nói khác đi, đức tin của chúng ta vào Chúa Ki-tô không phải là thứ đức tin “đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này”, nhưng là đức tin đặt hy vọng vào Chúa Ki-tô Phục Sinh, sự sống đời đời đích thực của chúng ta.

Tất cả chúng ta đều được kêu gọi hãy đặt niềm tin vào Thiên Chúa để được hạnh phúc đời đời.  Chúa Ki-tô cho chúng ta thấy những tình huống biểu lộ niềm tin của ta vào Thiên Chúa trong bài giảng “Bốn Mối phúc”.  Tại sao vậy?  Vì Tin Mừng Mát-thêu thì trình bày Tám Mối phúc, còn Tin Mừng Lu-ca thuật lại bài giảng của Chúa chỉ gồm bốn mối phúc và thêm vào bốn mối họa.  Giống  như ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Thánh Lu-ca muốn mô tả sự khác biệt giữa những mẫu người tin vào Thiên Chúa và mẫu người tin vào người đời.  Ngài cho chúng ta thấy hiệu quả của niềm tin vào Thiên Chúa khác biệt với hiệu quả của niềm tin vào người đời.  Tin vào Thiên Chúa sinh những hiệu quả đời sau và vĩnh cửu;  còn tin vào người đời chỉ đem lại hiệu quả nhất thời và tạm bợ.  Đúng vậy, Lu-ca thường lập lại từ “bây giờ”.  Nếu bây giờ chúng ta là kẻ nghèo khó, đói khát, khóc lóc và bị bách hại vì lẽ công chính mà vẫn một lòng tin vào Thiên Chúa, thì ngày sau Thiên Chúa sẽ cho ta được giàu có của Nước Thiên Chúa, được no đầy hạnh phúc, được niềm vui và phần thưởng ở trên trời.  Đối với những kẻ đặt niềm tin vào thế gian, vào sự giàu sang họ đang có bây giờ, vào sự no nê họ đang hưởng thụ bây giờ, vào sự vui cười họ đang hả hê bây giờ và hư danh họ đang có bây giờ, thì tất cả chỉ là những gì chóng qua.  Nhưng trong tương lai đời sau, hậu quả muôn đời của niềm tin ấy sẽ là tất cả những gì ngược lại!

Sống sứ điệp Lời Chúa

Chúng ta đều là những người có đức tin, hoặc đức tin mạnh hay đức tin yếu.  Có thể chúng ta giống như các môn đệ bị Chúa Giê-su trách là kém lòng tin.  Cũng có thể chúng ta giống như người cha của đứa bé mắc bệnh động kinh, khẩn khoản xin Chúa:  “Tôi tin!  Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi!” (Mc 9:24).  Nhưng quan trọng hơn cả là vấn đề chúng ta làm thế nào để sống đức tin vào Thiên Chúa và Chúa Giê-su, Con Một Người.  Chúng ta có nhiều phương thức giúp cho lòng tin của chúng ta phát triển như cầu nguyện, đọc và suy niệm Kinh Thánh, lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể.  Trung thành làm những việc đạo đức này sẽ giúp cho mối tương quan với Chúa được nồng nàn và mật thiết hơn!

 

.

THẺ CĂN CƯỚC CỦA KI-TÔ HỮU

JM. Lam Thy

Bài Tin Mừng hôm nay (CN VI TN-C – Lc 6, 17.20-26) trình thuật về những mối phúc dành cho những kẻ tin và theo Chúa, cách riêng là những người được tuyển chọn làm Tông đồ. Họ sẽ được huấn luyện đặc biệt và ở bên cạnh Chúa Giê-su để tập việc. Hơn ai hết, họ cần phải am hiểu giáo lý của Người, để đến lượt họ sẽ phải loan truyền giáo lý ấy cho dân chúng. Giáo lý của Đức Ki-tô có những điểm đặc biệt giúp người nghe căn cứ vào đó mà làm phát triển những gì là đặc sắc nơi con người họ.

Trong bài giảng khai mạc sứ vụ của Chúa Giê-su, những điểm đặc biệt ấy được gọi là những Mối Phúc: Đó là những người nghèo khó, đang phải đói, đang phải khóc, vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. Nói về những mối phúc thì không thể quên thánh sử Mát-thêu trình thuật về Tám Mối Phúc (nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, khát khao nên người công chính, xót thương người, tâm hồn trong sạch, xây dựng hoà bình, bị bách hại vì sống công chính, vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa – Mt 5, 1-12).

Theo Đức cố Giám mục Bar-tô-lô-mê-ô Nguyễn Sơn Lâm (trich trong “Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia”), phải nói rằng cả thánh Lu-ca và thánh Mát-thêu đã ghi lại toàn bộ bài giảng của Đức Giê-su qua trung gian một bản văn đã có trước bản văn của các ngài. Bản văn này ghi 4 điều phúc cho kẻ nghèo, kẻ đói, kẻ khóc, và kẻ bị bắt bớ vì Đạo Chúa. Mát-thêu và Lu-ca cũng chép lại cả 4, nhưng cả hai muốn quảng diễn thêm. Mát-thêu thì thêm vào 4 mối phúc: hiền lành, xót thương người, tâm hồn trong sạch, xây dựng hoà bình. Còn Lu-ca thì thêm vào 4 điều đáng bị lên án (khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, những kẻ bây giờ đang được no nê, đang được vui cười, được mọi người ca tụng). Để được hưởng phúc thì người tín hữu phải thật sự tránh xa những điều đã bị lên án mà trở về với 4 điều phúc thật.

Quảng diễn những mối phúc cho người tín hữu hiểu và thực hành, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đã giảng trong Thánh lễ sáng ngày 6/6/2016 tại Nhà nguyện Thánh Marta. Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Các mối phúc như những “hoa tiêu” chiếu sáng trên con đường của đời sống Ki-tô hữu, như một “chương trình hành động”, như một “giấy căn cước của Ki-tô hữu”. Nếu anh chị em tự hỏi mình làm thế nào tôi có thể trở thành một Ki-tô hữu tốt, thì đây là câu trả lời của Chúa Giê-su, một câu trả lời dẫn đến một thái độ đi ngược lại não trạng con người ngày nay rất nhiều.” Cuối bài giảng, ĐTC kết luận: “Tám Mối Phúc Thật đại diện cho “một chương trình sống” chính Chúa Giê-su đã ban cho chúng ta. Tuy đơn giản nhưng rất cam go. Nếu chúng ta muốn tìm kiếm thêm, Chúa Giê-su còn chỉ cho chúng ta một điều khác đã được viết trong Tin Mừng: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.” (Mt 25, 35-36). Với Tám Mối Phúc Thật – và nói chung, toàn bộ chương 25 sách Tin Mừng theo Thánh Mat-thêu – người ta có thể sống một đời sống Ki-tô hữu thánh thiện.” (nguồn: Vatican.net).

Sống một đời sống thánh thiện để có được “giấy căn cước Ki-tô hữu” đích thực, chính là một ước mơ hạnh phúc mà con người luôn mong ước đạt được cách viên mãn. Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc là một trạng tháicảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí. Hạnh phúc là luôn biết cảm nhận, khám phá những điều mới mẻ từ cuộc sống; là hoài bão sáng tạo nên những giá trị mới; là thực hiện được những điều mình ấp ủ, ước mơ. Hạnh phúc là khi con người tìm ra và trân trọng những niềm vui, những giá trị giản dị từ cuộc sống. Nếu chỉ tìm hiểu về ý nghĩa hạnh phúc thì chỉ cần một động tác nhỏ (mở từ điển) là xong, nhưng để có được hạnh phúc đích thực thì chuyện không còn là đơn giản nữa.

Nói về hạnh phúc thì mỗi người một cách, mỗi người một quan niệm. Có người thì nói: “Tôi hạnh phúc vì tôi có được vợ đẹp con khôn, gia đình êm ấm”; người thì nói: “Tôi hạnh phúc vì tôi có được đầy đủ cả tiền bạc và danh vọng”; cũng có người nói: “Tôi hạnh phúc vì tôi chẳng vướng vòng danh lợi, chẳng lụy chuyện phu thê, ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch.” (“Ngày 3 bữa vỗ bụng rau bình bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no, Đêm 5 canh an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ.” – Nguyễn Công Trứ), Có người thì cho rằng hạnh phúc là sống thụ hưởng, sống hôm nay không cần biết đến ngày mai (Jean Paul Sartre với phong trào hiện sinh “Existentialisme”), lại cũng có người cho hạnh phúc là sống thanh tịnh vô vi, không màng đến thế sự (Lão Tử với thuyết “Vô vi”  無 為 ). Quan niệm về hạnh phúc cũng đa dạng, phong phú lắm, không dễ gì tìm được một điểm chung. Đa số những quan niệm đó đều nhắm vào hiện thực cuộc sống trần thế, và chính những hiện thực cuộc sống ấy đem lại cho chủ thể “trạng thái sung sướng” trong lãnh vực tinh thần. Nói cách cụ thể hơn, cái hạnh phúc hệ tại cuộc sống trần thế có thế đụng chạm, cầm nắm được (vật chất), nhưng khi có được nó rồi thì cảm thấy mãn nguyện, sung sướng (tinh thần).

Vấn đề cần xét tới ở đây là những quy định, những điều kiện được đua ra trong những mối phúc đều là những điều kiện về tinh thần, về phương cách sống (tinh thần nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, khao khát nhân đức, thương người, trong sạch, bị bách hại), và nếu sống được như vậy thì chắc chắn sẽ được phần thưởng. Phần thưởng đó không là giấy khen, bằng khen, hay những món tiền, món quà…; mà là những phần thuởng về tinh thần, về cuộc sống mai hậu. Cho nên có thể nói rằng, để có được “trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện”, thì tiên vàn người môn đệ phải có niềm tin vào Người Thầy của mình chính là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật, là Đấng Cứu Độ trần gian. Nói cách khác, những mối phúc là những cách thế biểu lộ niềm tin, là những con đường sống đức tin, bởi chỉ có đức tin mới là cứu cánh tuyệt đối cho mọi phương cách chiếm hữu Nước Trời.

Sống đức tin ư? Đúng vậy! Chỉ có tin, mới thực hành được Lời Chúa dạy, nhất là những điều thiệt hại nặng nề đến bản thân (“bị sầu khổ, bị bách hại…”). Thánh Phao-lô Tông đồ đã từng nhấn mạnh: “Vậy thì hãnh diện ở chỗ nào? Chẳng còn gì để hãnh diện! Dựa vào luật nào mà hãnh diện? Vào việc làm chăng? Không, nhưng dựa vào lòng tin. Thật vậy, chúng tôi nghĩ rằng: người ta được nên công chính vì tin, chứ không phải vì làm những gì Luật dạy.” (Rm 3, 27-28); ”Tuy nhiên, vì biết rằng con người được nên công chính không phải nhờ làm những gì Luật dạy, nhưng nhờ tin vào Đức Giê-su Ki-tô, nên chúng ta cũng tin vào Đức Ki-tô Giê-su, để được nên công chính, nhờ tin vào Đức Ki-tô, chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy.” (Gl 2, 16).

Một điều hiển nhiên đối với Thánh Phao-lô là khi ngài chưa tin vào Đức Ki-tô thì ngài là người rất năng nổ trong việc lùng bắt những người theo Ki-tô; nhưng sau biến cố Damas, được sáng mắt (nhờ được chính Đức Giê-su Ki-tô chữa lành bệnh mù nội tâm), ngài đã tin vào Đức Ki-tô như lời ngài khẳng định: “Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.” (Gl 2, 20). Tin và thể hiện bằng hành động, bằng chính cuộc sống, đến độ “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2, 20). Thánh nhân đã rất nhiệt thành trong sứ vụ rao giảng Lời Chúa, làm nhân chứng sống cho Tin Mừng cứu độ, để trở nên một tông đồ kiệt xuất như một vì sao Bê-lem đem Ánh Sáng đến cho dân ngoại. Phải chăng chính Thánh Tông đồ dân ngoại đã là một mẫu gương sáng chói cho việc “sống đức tin”? Ấy cũng bởi vì “Đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2, 26).

Nói tóm lại, sống trên đời ai ai cũng mong muốn có hạnh phúc. Ai mà chẳng muốn luôn được sống trong “trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện”. Mà ý nguyện là gì, nếu không phải đó là những mong mỏi, những ao ước, những hy vọng đề ra trong cuộc sống, để con người nỗ lực vươn tới. Sẽ có một phản biện: “Thế những người chủ trương sống thanh tịnh vô vi (không làm, không hành động), hoặc chủ trương sống hôm nay không cần biết đến ngày mai (hiện sinh), họ có nỗ lực chăng?” Câu trả lời luôn luôn là có, bởi “có thực mới vực được Đạo” (có ăn thì mới làm được việc Đạo). Sống thanh tịnh vô vi, nhưng không thể vô thực vô ẩm (không ăn không uống) được, Mà muốn có đồ ăn thức uống, vẫn phải nỗ lực kiếm tìm, chớ không thể “há miệng chờ sung”. Còn những người theo thuyết hiện sinh, sống hôm nay không biết đến ngày mai, nhưng nếu giả thử không có một chút cơm áo gạo tiền, thì liệu có sống thụ hưởng được không? Vì thế, vẫn cần phải có một nỗ lực để sống và nhất là để bảo vệ chủ thuyết mình đã theo.

Người Ki-tô hữu với cuộc sống trần thế cũng không ngoại lệ, cũng phải lo cơm áo gạo tiền để mà sống trước đã, nhiên hậu mới nói đến những ý nguyện, những ước vọng tương lai được xây dựng, được hoài bão bằng một nỗ lực không ngừng. Có thể khẳng định: Sự nỗ lực ấy luôn được thúc đẩy bằng một niềm tin, bởi càng tin tưởng thì lại càng gắng sức, càng hy vọng vào hạnh phúc đích thực lại càng nỗ lực cầu nguyện và hành động, để đạt được ý nguyện. Vâng, muốn chiếm hữu được Nước Trời thì phải nỗ lực, phải không ngừng gắng sức kiến tạo cho mình một chứng minh thư “Hạnh Phúc Thật” – một THẺ CĂN CƯỚC KI-TÔ HỮU – phản ánh trung thực cuộc sống theo Hiến chương Nước Trời với một đức tin vững vàng và một nỗ lực kiên trì vươn tới. Ước được như vậy.

Ôi! “Lạy Chúa, Chúa thích ngự trong những tâm hồn ngay thẳng, xin tuôn đổ hồng ân giúp chúng con ăn ở thế nào, để trở nên đền thờ của Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ CN VI/TN).

 

.

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT 6 TN_C

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật VI Thường Niên năm C ca ngợi những ai đặt trọn niềm tin tưởng vào Thiên Chúa.

Gr 17: 5-8

Ngôn sứ Giê-rê-mi-a đối chiếu đời sống của kẻ gian ác với đời sống của người công chính

1Cr 15: 12, 16-20

Thánh Phao-lô nhấn mạnh đến thực tại phục sinh của thân thể Đức Ki-tô, và ý nghĩa của sự phục sinh ấy đối với người Ki-tô hữu.

Lc 6: 17, 20-26

Thánh Lu-ca đối lập các Mối Phúc với các Mối Họa.

BÀI ĐỌC I (Gr 17: 5-8)

Trong đoạn thơ ngắn, ngôn sứ Giê-rê-mi-a sử dụng hai hình ảnh thiên nhiên đối nghịch nhau để mô tả hai hạng người, hạng người bị nguyền rủa và hạng người được chúc phúc:

  1. Hạng người bị nguyền rủa (17: 5-6)

Hạng người bị nguyền rủa là những kẻ gian ác đặt niềm tin tưởng vào người đời mà xa lìa Thiên Chúa. Họ được sánh ví như bụi cây cằn cỗi mọc trong hoang địa nóng cháy, nơi đồng khô cỏ cháy, trong vùng đất mặn, chẳng bao giờ thấy được hạnh phúc.

  1. Hạng người được chúc phúc (17: 7-8)

Hạng người được chúc phúc là những người công chính đặt niềm tin tưởng vào Thiên Chúa. Họ được sánh ví như cây trồng bên dòng nước, cành lá xanh tươi, trổ sinh hoa trái bốn mùa vì đâm rễ sâu vào mạch nước.

Bài Đọc I chuẩn bị Tin Mừng hôm nay theo Thánh Lu-ca trong đó Đức Giê-su loan báo bốn Mối Phúc đối lập với bốn Mối Họa.

BÀI ĐỌC II (1Cr 15: 12, 16-20)

Có những người tín hữu Cô-rin-tô không tin kẻ chết sống lại. Thánh Phao-lô chứng minh rằng những người chủ trương “không có chuyện kẻ chết sống lại” thật phi lý khi vạch ra những hậu quả của sự từ chối này.

Thứ nhất, nếu không tin kẻ chết sống lại, thì lời rao giảng của Thánh Phao-lô và những thầy dạy của họ về việc Đức Ki-tô đã từ cõi chết sống lại để chúng ta cùng được chết và sống lại với Đức Ki-tô là những lời nói láo. Thứ hai, nếu không tin kẻ chết sống lại, thì cũng sẽ từ chối những thành quả minh nhiên của niềm tin vào Đức Ki-tô sống lại qua những ân huệ dồi dào mà Thần Khí đã ban cho cộng đồng tín hữu Cô-rin-tô. Thứ ba, nếu không tin kẻ chết sống lại, thì niềm tin của những người tín hữu ở đời này thật là hão huyền và đáng thương, đồng thời các thành viên trong cộng đồng của họ đã qua đời phải bị tiêu vong.

Từ lập luận trên, thánh nhân quả quyết rằng Đức Ki-tô thật sự đã sống lại để mở đường cho những ai tin vào Ngài cũng sẽ được sống lại cùng với Ngài.

TIN MỪNG (Lc 6: 17, 20-26)

Hình ảnh Chúa Giê-su xuống núi và đến một chỗ đất bằng, tại đó dân Thiên Chúa tụ tập quanh Người gợi nhớ hình ảnh ông Mô-sê từ trên núi Xi-nai xuống mang theo sứ điệp của Thiên Chúa. Thính giả của Chúa Giê-su đại diện đầy đủ mọi thành phần Dân Thiên Chúa: nhóm Mười Hai, đông đảo môn đệ của Người và đoàn lũ dân chúng từ khắp nơi đến.

Sau khi đã thường xuyên nói Chúa Giê-su giảng dạy, cuối cùng Thánh Lu-ca sắp sửa đưa ra một trong những khuôn mẫu cô đọng nhất của công việc giảng dạy đó. Để làm điều này, Thánh Lu-ca không tham khảo sách Tin Mừng Mác-cô nữa mà tận dụng “Nguồn các lời”. Bài Diễn Từ Trên Cánh Đồng của Thánh Lu-ca phù hợp theo mức độ nào đó với Bài Diễn Từ Trên Núi, một bài trình thuật rộng lớn mà Thánh Mát-thêu ghi lại cho chúng ta từ chương 5 đến chương 7. Trong suốt sứ vụ công khai của Người ở những miền và những thành phố khác nhau của Ít-ra-en, chắc hẳn Đức Giê-su đã rao giảng những điều như vậy trong những dịp khác nhau. Khi sử dụng “Nguồn các lời” này, mỗi thánh ký, dưới ơn linh hứng của Chúa Thánh Thần, đã sẽ chọn tường thuật những lời mà các ngài cho là hữu ích nhất trong việc giảng dạy cho độc giả đương thời của các ngài: người Ki-tô hữu gốc Do thái trong trường hợp Thánh Mát-thêu, người Ki-tô hữu gốc lương dân trong trường hợp Thánh Lu-ca.

Trước khi Chúa Giê-su công bố các Mối Phúc và các Mối Họa, Thánh Lu-ca ghi nhận: “Đức Giê-su ngước mắt nhìn lên các môn đệ” (6: 20). Tại sao Thánh Lu-ca lại ghi nhận cái nhìn của Đức Giê-su như thế? Đức Giê-su là Thiên Chúa làm người để gặp con người, chứ không phải là một đạo sư truyền bá một đạo lý hay một giáo thuyết. Ánh mắt của Người, cũng chính là cái nhìn của Thiên Chúa, đang rọi xuống trên những con người đang hiện diện trước mặt Người. Nơi những con người mà Người đang đưa mắt nhìn, Đức Giê-su thấy những người con được Chúa Cha tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa; vì thế, Người mặc khải cho họ biết họ là ai và làm cách nào để sống cho xứng đáng là những người con đích thật của Chúa Cha.

  1. Cách trình bày các Mối Phúc và các Mối Họa theo Tin Mừng Lu-ca

Thánh Lu-ca đã tóm gọn Tám Mối Phúc của Thánh Mát-thêu (Mt 5: 3-12) vào trong Bốn Mối Phúc, nhưng thêm Bốn Mối Họa đối lập. Quả thật, bốn Mối Phúc của Tin Mừng Lu-ca được phát biểu cách trực tiếp và cô đọng hơn tám Mối Phúc của Tin Mừng Mát-thêu: ví dụ trong Tin Mừng Lu-ca, Mối Phúc thứ nhất phát biểu cách trực tiếp và đơn giản “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, trong khi trong Tin Mừng Mát-thêu chúng ta đọc thấy “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, rõ ràng Mối Phúc này được phát biểu cách gián tiếp và chứa đựng một lời giải thích ngắn về ý nghĩa của đức nghèo khó. Thánh Lu-ca đặt hai nhóm người và hai mẫu tình huống tương phản một cách có hệ thống.

Bốn Mối Phúc là bốn Mối Họa đảo ngược:

“Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó” “Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có”
“Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói” “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê”
“Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc” “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười”
“Phúc cho anh em, khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét,khai trừ, sĩ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa” “Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng”

Những lý do nêu ra cũng ở thế đối lập với nhau:

“Vì Nước Thiên Chúa là của anh em” “Vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi”
“Vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng”  “Vì các ngươi sẽ phải đói”
 “Vì anh em sẽ được vui cười”  “Vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than”
 “Vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao”  “Vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế”               .

Ba cặp Phúc – Họa đầu tiên được cấu trúc rất đối xứng: những kẻ nghèo khó, đang phải đói và khóc lóc ám chỉ cùng một nhóm người như nhau; những kẻ giàu có, đang được no nê và vui cười cũng vậy. Sáu từ ngữ thực tế chỉ hai loại người trong xã hội. Cặp Phúc – Họa thứ tư là cặp cuối cùng được cấu trúc hoàn toàn khác và được khai triển thành ba phần: trước hết, những thử thách phải chịu trong hiện tại: “bị oán ghét”“bị khai trừ” và “bị sỉ vả” (6: 22) đối lập với việc “được mọi người ca tụng” (6: 26); tiếp đó, lời mời gọi hãy vui mừng, không phải trong tương lai nhưng hiện nay với sự bách hại, vì được bảo đảm rằng họ sẽ nhận được phần thưởng lớn lao: ơn cứu độ và sự sống ngay giữa cơn gian nan thử thách (6: 23a-b); sau hết, người bị bách hại được đồng hóa với các ngôn sứ Cựu Ước: “Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế”. Sự kiện này thật đáng lưu ý: nếu người giàu đối lập với người nghèo, thì ở đây những người bách hại không phải đối lập với những người bị bách hại, mà là những kẻ được ca tụng, tức là bị đồng hóa với các ngôn sứ giả.

Trong bản văn đối xứng của mình, Thánh Lu-ca công bố một sự đảo ngược của các tình cảnh hiện nay vào thời cánh chung; thực ra thời cánh chung đã khởi sự rồi. Trong cặp Mối Phúc thứ hai và thứ ba, “bây giờ” và “thời sẽ đến” đối kháng với nhau rõ ràng (6: 21). Ngược lại, trong Mối Phúc thứ nhất, điều kiện của việc đảo ngược đã được hiện thực rồi: “Nước Thiên Chúa là của anh em”. Mối Phúc cuối cùng cũng tương tự như thế: “Vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao”. Một sự đảo ngược giữa các tình cảnh như vậy là một đề tài được thánh Lu-ca ưa chuộng. Chúng ta đã gặp thấy cấu trúc này trong bài ca “Ngợi Khen” (1: 51-53) cũng như sau này trong một bản văn khác riêng của Thánh Lu-ca: dụ ngôn ông phú hộ và anh La-da-rô nghèo khó (16: 19-31).

  1. Nghèo khó trong khiêm tốn

Ở đây, trên môi miệng của Đức Giê-su Na-da-rét, từ ngữ “những kẻ nghèo khó”phải được hiểu ưu tiên theo chiều kích kinh tế và xã hội; thuật ngữ này chỉ những người không được bảo vệ và không có quyền lợi, bị khinh dể, họ trông chờ ơn cứu độ chỉ ở nơi một mình Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đứng ra bênh vực quyền lợi của họ, vì vậy Ngài phải nắm trọn chủ quyền (“Xin cho triều đại Chúa mau đến!”: 11: 2). Hành động giải phóng của Chúa Giê-su đã là dấu chỉ hữu hiệu cho thấy Thiên Chúa ra tay hành động. Chính nơi bản thân của Đức Giê-su và công việc của Người mà hoạt động cánh chung của Thiên Chúa và “triều đại” của Ngài được bày tỏ.

Vì vậy, dường như Thánh Lu-ca cũng không thỏa mãn hơn chúng ta trước những Mối Phúc của Chúa. Nếu vấn đề của cải được nêu rõ trong Tin Mừng Lu-ca và sách Công Vụ, chính vì giữa lòng Giáo Hội vào thời Thánh Lu-ca có những người túng thiếu và những người giàu có. Như vậy đâu là tính thời sự của Tin Mừng? Thánh Lu-ca hiểu thế nào về người nghèo khó mà Chúa Giê-su nói ở đây?

Nếu người ta tách riêng những Mối Phúc và những Mối Họa ra khỏi tác phẩm của Thánh Lu-ca, người ta sẽ phạm phải sai lầm lớn trong công việc giải thích. Trong trường hợp đó, sự đối kháng rõ rệt và được lập đi lập lại giữa “bây giờ” và “thời sẽ đến” đề xuất cuộc đảo lộn các giá trị sau này. Người nghèo sẽ được khuyến khích tự an ủi về hiện trạng khốn khó khi nghĩ đến một tương lai huy hoàng… trong lúc đó, người giàu có thể tiếp tục chè chén say sưa mà không sợ người nghèo La-da-rô tìm cách lật đổ hiện trạng của mình (x. 16: 17-31). Như vậy, Thánh Lu-ca sẽ chuốc lấy lời phê phán của Karl Marx khi triết gia này phê phán tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng.

Các Mối Phúc đòi hỏi phải được đọc dưới ánh sáng phần còn lại của sách Tin Mừng Lu-ca và sách Công Vụ Tông Đồ. Nếu Thánh Lu-ca có thể nhắc lại các Mối Phúc chính vì thánh ký diễn tả Giáo Hội lý tưởng là một cộng đoàn nơi đó “không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự điều là của chung… Trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất, nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tùy theo nhu cầu” (Cv 4: 32-35). Những bản văn khác sẽ cho chúng ta thấy việc chia sẻ với người nghèo, tuy khiêm tốn hơn, phải được thực hành ngay ngày hôm nay, trong cộng đoàn Giáo Hội. Nếu không, cộng đoàn sẽ không có khả năng loan báo các Mối Phúc và chứng thực thực tại của ơn cứu độ đã khởi sự.

  1. Khó nghèo theo Tin Mừng

Ngay vào thời Thánh Âu-gút-ti-nô, có nhiều người không thể hiểu đúng người nghèo và người giàu; họ lập luận như sau: “Nước Trời thuộc về người nghèo, ông La-da-rô đói khát của cải thế giới này; mọi người giàu thì xấu xa, như ông phú hộ này”. Cách suy nghĩ này đã khiến Thánh Âu-gút-ti-nô giải thích ý nghĩa sâu xa của sự giàu có và sự nghèo khó theo tinh thần của Tin Mừng: “Hỡi người nghèo, hãy lắng nghe tôi giải thích những lời của bạn. Khi bạn tự cho mình là anh La-da-rô, một thánh nhân ung nhọt đầy mình, tôi sợ là niềm tự phụ của bạn làm cho bạn mô tả mình không đúng. Đừng khinh bỉ những người giàu đầy lòng từ bi nhân ái và khiêm hạ: hay nói một cách ngắn gọn, đừng khinh bỉ những người giàu mà nghèo. Hỡi người nghèo! Chính bạn hãy là nghèo; nghèo, có nghĩa khiêm tốn… Vì thế, hãy lắng nghe tôi. Hãy thật sự nghèo, phải là chân thành, phải là khiêm tốn; nếu bạn tự phụ về sự nghèo khổ rách rưới và mụn nhọt đầy người của bạn, nếu bạn tự phụ là mình giống như người ăn xin đó nằm ở ngưỡng cửa của người giàu, lúc đó bạn đang ghi nhận sự nghèo khổ của anh ta chứ không gì khác. Bạn hỏi, điều gì tôi nên ghi nhận? Hãy đọc Kinh Thánh rồi bạn sẽ hiểu điều tôi muốn nói. Anh La-da-rô là một người nghèo, nhưng anh được đưa vào lòng của một người giàu. Kinh Thánh viết: ‘Thế rồi người nghèo này chết và được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham’. Vào đâu? Vào lòng của ông Áp-ra-ham hay, hãy để tôi nói, vào nơi mầu nhiệm ở đó ông Áp-ra-ham đang yên nghỉ. Hãy đọc… và hãy nhớ rằng ông Áp-ra-ham là một người rất giàu khi còn sống trên cõi thế này: ông giàu có tiền bạc, một gia đình rộng lớn, súc vật đầy đồng, ruộng vườn; tuy nhiên người giàu này thì nghèo, vì ông khiêm hạ. ‘Ông Áp-ra-ham tin vào Thiên Chúa và được xem là công chính’… Ông đã là trung thành, ông đã làm điều tốt, ông đã đón nhận mệnh lệnh hiến tế người con trai của ông, và ông đã không từ chối dâng hiến những gì ông đã nhận được cho Đấng từ Ngài ông đã nhận được. Ông đã được chấp nhận trong thánh nhan Thiên Chúa và phô bày trước chúng ta một mẫu gương đức tin” (Sermon 14).

Tóm lại, đức nghèo khó không cốt ở nơi điều gì đó thuần túy bên ngoài, ở nơi việc có hay không có những của cải, nhưng ở nơi điều gì đó còn sâu xa hơn, tác động đến tấm lòng và tâm hồn của một con người; nó cốt là có một thái độ khiêm tốn trước Thiên Chúa, là lòng mộ đạo, là một niềm tin tròn đầy. Nếu một người Ki-tô hữu có những đức tính này và cũng có những của cải dư đầy, người ấy phải siêu thoát khỏi sự giàu có của mình và hành xử bác ái đối với tha nhân, thì mới thật sự làm đẹp lòng Thiên Chúa. Mặt khác, nếu ai không được sung túc, không vì thế mà người ấy được công chính trước Thiên Chúa, nếu như người ấy không nỗ lực đạt được những đức tính mà đức nghèo khó đích thật đòi hỏi. “Điều nên chú ý là: không phải tự thân, sự nghèo nàn và khổ sở là hạnh phúc, nhưng chúng mang lại hạnh phúc vì chúng giúp người ta không dính bén với trần gian để hướng lòng về Chúa. Cũng không phải tự thân, sự giàu có sung sướng là xấu, nhưng chúng có thể trở thành nguồn bất hạnh khi chúng trói buộc lòng con người vào thế giới vật chất đời này” (“Hạt Giống Nẩy Mầm”).

 

.

KHỔ ĐAU VÀ HẠNH PHÚC

Lm. DĐH.

Con người sẽ phải chịu trách nhiệm về những lời nói việc làm của mình, ít là trong các mối liên hệ, đó là công bằng. Mọi người có thể vô tư sống theo lý tưởng riêng của mình, nhưng không có nghĩa là được tự do muốn làm gì tuỳ ý, đó là nghịch lý ở đời. Gặp chuyện không như ý người ta buồn chán, người ta than thở, được tuyên dương khen thưởng, người ta sung sướng phấn khởi, đó không phải là chuyện lạ. Hao tốn công sức tiền của mà nhà tan, sự nghiệp đổ, đó mới là điều khó hiểu ! Không tài giỏi, không bằng cấp, nhưng mọi thành viên gia đình vui khoẻ sống hạnh phúc, những trường hợp như thế, xã hội vẫn xem đó là hiện tượng bất thường.

Có làm thì mới có ăn, có đầu tư công sức bằng mồ hôi nước mắt của mình, người ta sẽ đủ cảm nhận thế nào là giá trị của lao động, là đồng tiền bát gạo được đặt để cho thành quả ở phía trước. Đức Giêsu thu hút được đám đông bởi khả năng giảng dạy có chất, có hồn, Đức Giêsu nổi tiếng do Ngài chữa được bệnh tật xác hồn, thoáng nghe, nhiều người cho rằng sứ mạng của Đức Giêsu “quá dễ”, vì Ngài là Chúa. Nếu có đôi mắt tinh thông, người ta có thể nhìn xa trông rộng, nếu đầu óc thông thái, người ta có thể suy tư và nhận định sự việc tốt xấu, đúng sai. Nếu có đức tin người sẽ không ngạc nhiên tại sao Đức Giêsu phải qua đau khổ thập giá, rồi mới tới vinh quang phục sinh. Nếu thuộc về Đức Kitô, là môn đệ của Ngài, chúng ta sẽ không phải “lăn tăn” khi nghe Đức Giêsu nói: “phúc cho anh chị em là những kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của anh chị em”.

Người xưa nói rằng: đau khổ là cơ hội tốt để ta rèn luyện nhân cách và lớn lên ; vượt qua được khổ đau người ta mới mạnh mẽ trưởng thành. Bậc cha mẹ nuôi dạy và gieo trồng nơi con cháu bằng tình yêu thương, các ngài ước muốn bằng mọi cách để lại phúc đức cho con cháu, tuy nhiên các ngài vẫn khích lệ: đau khổ chính là cơ hội tốt mà mỗi người phải vượt qua. Đức Giêsu trong tư cách là Thầy, là Chúa, và là người thật, Ngài thương yêu các học trò, yêu thương cả nhân loại tội lỗi. Bằng đức tin, bằng hành động, Ngài đã nói: “phúc cho các con, nếu vì Con Người mà người ta thù ghét, trục xuất, phỉ báng, và loại trừ các con như kẻ bất lương ; các con hãy hân hoan vui mừng, vì phần thưởng các con sẽ bội hậu trên trời”.

Tiền nhân chúng ta cũng có câu: sông có khúc, người có lúc, đại ý làm người có thăng trầm, có vui buồn, có sướng khổ, nên hãy kiên nhẫn mà sống sao cho phù hợp đạo làm người. Giáo lý nhà Phật cũng nói đến luật nhân quả báo ứng, sướng trước sẽ khổ sau, hoặc khổ đau trước sẽ hạnh phúc sau. Đức Giêsu hôm nay đã nói như thế nào về đau khổ và hạnh phúc ? Đúng là phải đủ niềm tin, người môn đệ của Ngài mới hiểu: không khi nào Thiên Chúa lại muốn con cái của Ngài phải nghèo đói, phải khóc lóc, phải bị người ta ghét bỏ ! Có chăng, những đau khổ túng thiếu mà ta gặp ở hiện tại là do ta không sống theo đường lối của thế gian, là vì ta thuộc về Chúa, vì ta tìm kiếm hạnh phúc ở trong Chúa.

Nghèo nàn, đói khát, bây giờ phải khóc lóc, bị thế gian loại trừ, chắc chắn không phải do tội lỗi của cha mẹ như người ta vẫn châm biếm: đời cha ăn mặn đời con khát nước. Đau khổ cũng không phải do ta hèn kém thua mưu yếu thế, vì trâu chậm uống nước đục ; hạnh phúc cũng không hệ tại do ta tài trí hơn người, hoặc vì “ba phải”, đúng sai đều đồng ý chịu vậy. Đức Giêsu xem những khổ đau ở hiện tại chính là cơ may cho tương lai, khi mà người ta biết đón nhận, biết cậy nhờ tình yêu Chúa để thắng vượt khó khăn. Các mối phúc và các mối hoạ đến trước hay đến sau đều đáng sợ, giầu nghèo, đói no, bị trục xuất hay được “trải thảm đón chào”, chính là quy luật chung cho những ai biết thắng mình, thắng cái tôi ích kỷ để mãi có Chúa là nguồn vui hạnh phúc. Đức Giêsu đưa ra hình ảnh đau khổ và hạnh phúc ở đời này đời sau, không có ý khích lệ tinh thần người thuộc về Chúa hay hù doạ người giầu, người no nê, người vui cười, nhưng chắc chắn Ngài muốn nói là có hạnh phúc thật ở nước trời mai sau.

Tiền nhân chúng ta khẳng định rằng: người ta không thể nói cho cùng về Thượng Đế, cũng như không thể nói đủ về người mẹ. Người ta không thể nói rõ ràng về đau khổ, cũng không bao giờ diễn tả đủ về ý nghĩa của hạnh phúc. Kitô giáo không lấy đau khổ, đói rách nghèo nàn, bị bắt bớ bị loại trừ, làm định mức hạnh phúc, nhưng trân trọng giá trị của tình yêu, ơn ban và sức mạnh nơi Đức Kitô, hầu biết sống và sống trọn vẹn niềm tin ta đang có. Nếu như thương trường và chiến trường không thích hợp với những ai rụt rè, nhút nhát, an phận. Người học trò thật của Đức Kitô, không thể là người sống lý thuyết hời hợt, sống giả nhân giả nghĩa, nhưng phải thực sự là người có tình Chúa, tình người trong các tương quan huynh đệ. Amen.

 

.

PHÚC THẬT

Lm Vũđình Tường

Sau khi dùng thuyền của Phêrô rao giảng, Đức Kitô nói với Phêrô chèo thuyên ra biển khơi thả lưới. Phêrô mạnh dạn nói thẳng với Đức Kitô. Ngài biết đó chúng tôi vất vả suốt đêm , vào bờ tay trắng, đang giặt lưới thì gặp Ngài. Tuy nhiên vâng lời Ngài, chúng tôi cố gắng. Các ông rất đỗi kinh ngạc mẻ lưới đầy cá, hai thuyền đầy gần chìm. Mẻ lưới đầy cá, các ông rất đỗi vui mừng và khi thuyền vào bờ các ông từ bỏ tất cả đi theo Đức Kitô. Các ông trở thành những tâm hồn hạnh phúc bởi trước khi gặp Đức Kitô các ông tin tưởng của cải, vật chất mang lại hạnh phúc. Đúng thế khi lưới dính cá thì có tiếng cười, khi lưới rách, trắng tay chỉ thấy vất vả, lao nhọc mà không được gì. Sau khi gặp Đức Kitô lòng các ông dạt dào niềm vui vì thế các ông nhận ra hạnh phúc thật không phải do của cải, vật chất ban phát. Hạnh phúc thật chính là không bị của cải hành hạ, không bị vật chất lôi cuốn. Muốn thế, bỏ chúng đi và các ông đã từ bỏ chúng. Đi theo Đức Kitô các ông nghèo vật chất, giầu tinh thần và giầu tinh thần chính là hạnh phúc thật. Hạnh phúc thật có được bởi các ông từ bỏ của cải, vật chất và thay vào đó là lòng tin, lòng mến các ông dành cho Đức Kitô. Nói vắn gọn, chính Đức Kitô là nguồn hạnh phúc các ông cảm nhận và vui sống với nguồn hạnh phúc đó. Các ông từ bỏ nghề chài lưới cá, trở thành kẻ chài lưới các tâm hồn bằng cách sống, rao giảng nguồn hạnh phúc thật các ông nhận được từ Đức Kitô. Chài cá các ông cần thuyền, cần lưới; chài các linh hồn các ông cần lòng tin và niềm vui từ trong tâm hồn.

Tin theo Đức Kitô, các tông đồ trở thành tay trắng, nghèo trong xã hội các ông đang sống nhưng giầu tình thương, lòng nhân ái, giầu tình yêu Chúa và ân sủng Ngài. Các ông trở thành người hạnh phúc bởi nói theo ngôn ngữ của Andre, các ông tìm được điều các ông ước ao, tìm kiếm khi Andre lòng vui dạt dào, nói với Phêrô: ‘Chúng tôi đã gặp được Đấng Cứu Thế’ Jn 1,41. Các ông hạnh phúc bởi các ông gặp được Đấng Thánh của Thiên Chúa, Người thật sự làm con tim các ông rung động và đời sống các ông hoàn toàn thay đổi. Các ông trở thành người hạnh phúc bởi từ đây sinh hoạt cuộc sống của các ông không còn tình trạng ‘đi không lại cũng về không’ bởi có Đức Kitô cùng đồng hành, hướng dẫn và cùng sinh hoạt với các ông. Các ông trở thành con người hạnh phúc bởi phần thưởng của các ông mối mọt không cắn rỉa, trộm cắp không thể lấy Mt 6,20. Các ông thật sự hạnh phúc bởi khi hoàn tất hành trình trần thế các ông hưởng gia nghiệp Thiên Quốc. Xã hội chúng sống cho là giầu sang, quyền lực, là dấu chỉ của hạnh phúc. Họ đâu biết có của phải lo giữ của, có quyền ngày đêm lo bảo vệ quyền, nếu không sẽ mất hết. Tiền bạc, của cải mang lại nhiều lo âu, phiền muộn hơn là niềm vui, hạnh phúc. Các tông đồ chọn nghèo vật chất, giầu tinh thần, giầu lòng mến và Đức Kitô khen các ông là khôn ngoan, chọn niềm vui thật, hạnh phúc vĩnh cửu. Của cải, vật chất thực ra chúng tạo cho con người niềm vui và sự an toàn giả tạo. Tiền bạc mở được hầu như tất cả các cửa nơi trần gian, ngoại trừ của mồ. Khi bệnh tật đến, tuổi già đến, tiền bạc đi ra nhanh hơn lúc chúng đi vào và cuối cùng sổ ngân hàng cũng trống rỗng và nỗi lo đã không giảm mà còn tăng thêm. Cuối đời mới nhận biết sau bao năm vất vả, khó nhọc giờ lại trắng tay. Nhận ra điều đó ở tuổi già là quá trễ, sức không còn để tái tạo, lực không còn để gánh vác. Người ta thích của cải, nhưng của cải không thích ai. Người ta trung thành với vật chất nhưng vật chất không trung thành với ai. Ai trung tín trong Đức Kitô kẻ đó tìm được niềm vui thật, hạnh phúc thật bởi Đức Kitô luôn trung tín trong lời Ngài hứa. Việc Ngài hứa Ngài sẽ thực hiện. Con người có thể lạc đường, sai lối. Đức Kitô luôn tha thứ, yêu thương. Người nghèo khổ, đói hèn là người khôn ngoan bởi họ chọn sống trung tín với niềm tin Kitô. Họ không tin vào con người trần thế và hệ thống luật pháp của con người nhưng tin vào tình yêu Chúa, lòng nhân ái của Đức Kitô và vì thế họ là người khôn ngoan. Thiên Chúa là Đấng duy nhất họ tin tưởng. Họ không tìm khôn ngoan nơi loài người. Đức Kitô là nguồn sống, nguồn an bình họ luôn tin tưởng, cậy trông. Đó là ơn khôn ngoan. Sống khôn ngoan là sống hạnh phúc.

 

.

KHỐN CHO KẺ CHỈ BIẾT CẬY DỰA VÀO

TIỀN BẠC VÀ NGƯỜI ĐỜI

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Những ngày giáp tết vừa qua, tại thành phố HCM hàng loạt cán bộ một thời quyền lực đã bị bắt vì liên quan đến tham nhũng các dự án ngàn tỷ. Tại Thanh Hóa một trưởng công an huyện, đại diện cho pháp luật và quyền lực xã hội, cũng bị tước quân tịch vì liên quan đến việc chạy án. Ngày 29 tháng 01, tòa án Hà Nội đưa ra xét xử năm bị cáo là cán bộ cấp cao của Bộ Công an, trong đó có “Vũ nhôm” và hai người nguyên là thứ trưởng. Họ là những con người một thời sống trên tiền bạc, quyền lực, những người này dùng tiền để mua quyền lực và chi phối quyền lực, sau đó lại dùng quyền lực để kiếm thật nhiều tiền. Có điều trớ trêu là, những con người này dư thừa tiền và quyền, nay trở thành những tên tội phạm, khi sa cơ thất thế thì quyền và tiền lại trở thành bản án cho họ. Tiền bạc và thế lực không phải là giá trị vĩnh cửu trường tồn, nó chỉ là những phần phụ thêm trong cuộc sống. Tuy nhiên, có nhiều người lại biến nó thành nền tảng, tiêu chuẩn hoặc giá trị cho cuộc đời của mình, họ mải mê tìm kiếm tiền bạc và quyền lực mà quên rằng nó không phải là những giá trị bền vững. Tiền bạc và quyền lực nay đến, mai đi, nay còn mai mất, nay trong tay mình, mai lại chuyển qua tay người khác. Vì thế, ai đặt mục tiêu cuộc đời mình trên nó, sẽ cùng chịu chung số phận với nó.

Tiên tri Giêrêmia cho thấy sự sự khác biệt của người cậy dựa vào Thiên Chúa với người cậy dựa vào người đời: “Khốn thay kẻ cậy dựa ở người đời, lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa và lòng xa rời Đức Chúa. Người đó sẽ như bụi cây trong hoang địa, chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ… Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Chúa, có Đức Chúa làm chốn nương thân. Người ấy như cây trồng bên suối nước, đâm rễ sâu và cành lá xanh tươi”.Qua hình ảnh rất cụ thể, Giêrêmia cho thấy, những kẻ cậy dựa vào thế lực của người đời và tiền bạc, địa vị thì giống như bụi cây trong hoang địa. Đó là những tâm hồn khô cằn gai góc, không có sức sống và không thể trổ sinh hoa trái, bởi vì nó không hút được dòng nước trong lành nuôi sống nó. Trái lại, những người cậy dựa và đặt niềm tin nơi Chúa thì giống như những cây trái xum xuê cành lá, hoa quả tốt tươi, vì rễ nó đâm sâu vào dòng nước và hút được chất dinh dưỡng từ nơi dòng suối. Những cây này cho dù có phải trải qua những mùa nắng hạn thử thách thì vẫn không khô héo vì luôn được dòng suối cung cấp nước.

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy sự tương phản trong cách nhìn của Thiên Chúa và của con người. Trong khi con người tìm kiếm sự giàu có thì Chúa chúc phúc cho những người nghèo khó; Trong khi con người tìm kiếm để thỏa mãn cái ăn uống hưởng thụ, thì Chúa lại chúc phúc cho những kẻ đói; Trong khi con người lo tìm kiếm những cuộc vui thì Thiên Chúa chúc phúc cho những ai sầu khổ, than khóc; Trong khi người đời tìm kiếm danh vọng địa vị, tìm kiếm lời khen, thì Chúa Giêsu lại chúc phúc cho những kẻ đang phải khóc lóc. Khi chúc phúc cho những kẻ khó nghèo, Chúa Giêsu không cổ vũ cho một cuộc sống túng thiếu nghèo đói, cũng không ru ngủ những người kém may mắn, nhưng Ngài chúc phúc cho những người dám chọn cho mình một lối sống khác với dòng chảy cuộc đời. Những lời chúc phúc và những lời chúc dữ “khốn thay” Chúa Giêsu dùng hôm nay không nhắm đến nghĩa đen của từ ngữ, nhưng muốn nhắm đến những ý nghĩa thiêng liêng sâu xa hơn.

Người giàu có tiền bạc, quyền lực thì trở nên nô lệ cho tiền bạc vật chất, họ sẽ phải tốn công tốn sức để tìm kiếm tiền bạc và phải giành giật để có được quyền lực. Khi có rồi, lại phải lo lắng để gìn giữ bảo vệ của cải và quyền lực của mình khỏi sự chiếm đoạt của người khác. Ví dụ những người đang cầm quyền hiện nay, những người giàu có chắc gì họ đã được tự do, được ngủ ngon. Thật là dại dột cho những người đã biến tiền bạc trở thành cùng đích của cuộc đời, biến địa vị chức tước như là mục tiêu cuối cùng và là thần linh của họ.

Người nghèo khó được chúc phúc không phải vì sự nghèo khó của họ, nhưng vì những người nghèo thường không có gì để cậy dựa, không tiền bạc, không địa vị, họ chỉ biết cậy trông và đặt trọn tương lai vào Chúa. Người được chúc phúc là người có tâm hồn nghèo khó, tức là có một tâm hồn thanh thoát, không bị dính bén vào vật chất, không ham mê của cải địa vị cách mù quáng. Người nghèo khó là người khiêm nhường, biết đặt mình dưới sự quan phòng, trợ giúp của Thiên Chúa và họ dám phó thác tương lai cuộc đời cho Chúa. Lời chúc phúc hôm nay, theo Luca, Chúa nhắm trước tiên vào các tông đồ và nói với họ: Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em.Các tông đồ thực sự là những người nghèo về vật chất nhưng đã hoàn toàn tin tưởng từ bỏ tất cả để bước theo Chúa nên họ lại là những kẻ giàu có ân sủng trong tâm hồn. Vì thế, Chúa Giêsu đã chúc phúc cho họ và còn hứa ban Nước trời cho họ.

Phúc cho anh em bây giờ đang phải đói, vì Chúa sẽ cho anh em được no thỏa. Chắc chắn, Chúa không muốn những kẻ theo Chúa toàn là những người đói khổ, nhưng sự đói khát Chúa nói đến, là sự khao khát trong tâm hồn. Các tông đồ là những người đầu tiên đáp lại lời mời gọi của Chúa. Họ dám bỏ lại đằng sau cuộc sống yên ổn, công việc và gia đình để bước theo Chúa. Chắc chắn các tông đồ không phải là những người thiếu đói, nhưng các ông đang khao khát tìm kiếm điều gì đó cao quý hơn cơm bánh. Khi gặp được Thầy Giêsu, các ông tìm thấy nơi Ngài là nguồn lương thực, nguồn sức sống, nguồn hạnh phúc có thể đáp ứng được khao khát sâu thẳm trong tâm hồn, vì thế các ông đã bước theo Ngài. Những người bị chúc dữ là những kẻ bây giờ các ngươi đang được no nê, các ngươi sẽ phải đói. Những người này là những kẻ chỉ biết tìm kiếm sự thỏa mãn, hưởng thụ vật chất, chúa tể của họ là cái bụng, họ quan tâm đến cái bụng hơn là tìm kiếm Thiên Chúa. Cuộc sống và mục đích cuộc đời của họ chỉ là cơm bánh, vì thế họ biến mình trở thành những kẻ nô lệ, chỉ biết cắm đầu làm việc mà không biết cậy dựa và tìm kiếm sự trợ giúp của Thiên Chúa. Họ sẽ phải đói khát triền miên vì chắc chắn cơm bánh chỉ có thể cho con người no bụng chứ không thể giúp con người thỏa lòng và không thể đáp ứng lại khát khao hạnh phúc và bất tử nơi sâu thẳm con người.

Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. Giọt nước mắt có chung một vị mặn, nhưng lại hoàn toàn khác nhau về cảm xúc. Có người khóc vì chồng vì vợ, người khác khóc vì gia đình, vì con cái, song cũng có nhiều người khóc vì hạnh phúc sung sướng và vì biết mình được yêu thương. Chúa Giêsu chúc phúc cho những người biết khóc vì quá khứ xấu xa tội lỗi của mình trước tình yêu thương vô vàn của Chúa. Phúc cho những người vì tin theo Chúa Kitô mà phải chịu đau khổ bị bắt bớ loại trừ, vì Thiên Chúa sẽ trả lại cho họ niềm vui và hạnh phúc đời đời trong Nước của Ngài. Thánh Phaolô, các tông đồ và biết bao vị thánh cũng đã từng bị loại trừ và từng phải khóc như thế. Chúa chúc dữ cho những người bây giờ đang được vui cười, những người chỉ lo tìm kiếm sự ca tụng của người đời. Những người này chỉ biết bám víu vào những cái mau qua giả tạo của thế gian, những người sống ảo, sống hời hợt bên ngoài mà không lo vun đắp những giá trị tốt đẹp bền vững cũng không chăm lo cho đời sống thiêng liêng của linh hồn.

Lời Chúa hôm nay khiến chúng giật mình nhìn lại bản thân: Ta đang là những người được chúc phúc hay bị Thiên Chúa chúc dữ? Ta đang tìm kiếm gì trong cuộc sống trần thế này? Ta đang sống để tìm kiếm Nước trời hay là sống ảo theo dòng chảy của thế gian này? Tiền bạc, của cải là điều cần cho cuộc sống, nhưng không phải là tuyệt đối và không phải là mục tiêu đích thực của con người. Khi chúng ta đặt sai mục tiêu sống, chúng ta sẽ đi lạc đường; nếu chúng ta chỉ biết tìm kiếm và thỏa mãn những điều trước mặt và tạm bợ của thế gian này, chúng ta sẽ đánh mất hạnh phúc nước trời và phần rỗi linh hồn. Cuộc sống luôn buộc chúng ta phải chọn lựa, cuộc sống của người tín hữu lại càng đòi ta phải biết chọn lựa khôn ngoan để được Thiên Chúa chúc phúc. Xin cho chúng ta luôn tin tưởng cậy dựa vào Thiên Chúa với niềm xác tín rằng: Chỉ có Thiên Chúa mới là nguồn sức mạnh, sức sống và là nguồn hạnh phúc đích thực của chúng ta. Amen

 

.

ĐÚNG ĐỊA CHỈ

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Kitô hữu chúng ta không xa lạ gì với kinh Tám Mối Phúc Thật. Giáo Hội lại khẳng định bát phúc chính là bản Hiến Chương Nước Trời. Thế nhưng để hiểu nội dung, ý nghĩa của tám mối phúc thì không hẳn dễ dàng. Quả thật đã có biết bao giấy mực xưa nay nói về các mối phúc ấy. Tám mối phúc như Tin Mừng thánh Matthêu tường thuật hay là chỉ có bốn mối phúc theo Tin Mừng thánh Luca? Vì sao nghèo khó, sầu khổ, khóc than, bị oán ghét, sỉ vả mà lại là có phúc? Một cuộc cách mạng về bậc thang giá trị hay là những thách thức với quan niệm của người đời xưa nay?

Không sợ sai lầm để khẳng định rằng sự khổ hay cái nghèo tự chúng không phải là mối phúc. Nhưng chính người nghèo, người đau khổ là những đối tượng được chúc phúc. Họ được chúc phúc vì họ đang còn biết mong chờ, biết hy vọng một điều gì đó tốt lành hơn đến từ trên cao. Bởi chưng họ đã như vô phương tự cứu mình và cũng chẳng còn có thể cậy dựa vào các nguồn lực ở dưới trần gian này. Và khi Đấng cứu độ đến thi ân giáng phúc, thì họ là những người biết mở rộng tâm hồn để đón nhận.

Chúng ta có thể hiểu điều này khi Chúa Giêsu sau khi chúc phúc cho những người nghèo, người bất hạnh, khốn khổ, thì Người đã báo họa những người bây giờ đang giàu có, vui cười, sung sướng, đang được mọi người ca tụng. Cái khốn của họ là ở thái độ tự thỏa mãn trong tình trạng đủ đầy sự may lành trần gian hiện có. Đã thỏa mãn thì sẽ chẳng khát khao điều gì hơn nữa. Cái khốn của họ còn thể hiện nơi việc họ đặt niềm tin cậy vào những thiện hảo chóng qua đời này, vào quyền lực của thế gian này, khi cho rằng chúng chính là hạnh phúc thật, là nguồn bảo đảm hạnh phúc thật.

Ngôn sứ Giêrêmia đã thẳng thừng: “Đức Chúa phán như sau: Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân là nơi nương tựa, và lòng dạ xa rời Đức Chúa! Người đó sẽ như bụi cây trong hoang địa chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ…”(Gr 17,5-6).

Đã là hạnh phúc thật thì phải mãi mãi thường tồn. Những thực tại tốt đẹp ở trần gian này như của cải, chức quyền, bổng lộc…dù quý giá đến mấy thì cũng chỉ là những kho tàng “có thể bị ten sét, bị mối mọt đục khoét, bị mất trộm, mất cướp”(x.Mt 6,19-21). Cái hữu hạn thì không thể đem lại hạnh phúc đích thật. Chỉ có Thiên Chúa, Đấng là nguồn mọi thiện hảo, là Đấng vô thủy vô chung, không hề đổi thay, mới là nguồn của hạnh phúc thật.

Bỏ hình để bắt bóng là một trong những chước cám dỗ muôn đời với con người, nhất là với những người vốn có chút của tiền, danh vọng hay quyền lực trong tay. Có thể nói nhiều luật sĩ, biệt phái, thượng tế thời Chúa Giêsu đã rơi vào chước cám dỗ này. Họ tự hào về lòng đạo đức qua việc giữ luật tỉ mỉ cách bên ngoài của mình. Họ tự cao về sự hiểu biết, về vị thế của mình trước mặt đám đông dân chúng. Họ tự mãn về của cải vật chất và chức quyền đang có trong tay. Chính vì thế khi Chúa Cứu Thế đến thì họ chối từ. Đã không tiếp nhận, họ lại còn tìm cách loại bỏ Đấng là nguồn của hạnh phúc thật.

Hạnh phúc thật sẽ đến với những ai biết đặt niềm tin cậy vào Thiên Chúa. Giêrêmia còn khẳng định: “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương thân. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái” (Gr 17,7-8).

Như thế khi chúc phúc cho người nghèo, người khốn khổ, bất hạnh…Chúa Giêsu xác nhận rằng họ đã biết đặt niềm tin cậy đúng địa chỉ, đó là vào chính Người, Đấng đang phán dạy họ. Tác giả Thánh Vịnh đã từng cảm nghiệm: “Ẩn thân bên cạnh Chúa Trời, thì hơn tin cậy ở người trần gian…”(Tv 118,8). Vậy thử hỏi thế nào là biết đặt niềm tin cậy vào Thiên Chúa? Khi đặt niềm tin cậy vào một ai đó thì chúng ta hoàn toàn giao phó cuộc đời của mình, tương lai của mình, số phận đời đời của mình cho người ấy. Động thái giao phó đời mình được biểu hiện bằng việc đi theo bước chân người mình tin cậy và sống theo lời người ấy chỉ dạy.

Đấng mà chúng ta tự nguyện đặt niềm tin cậy, tức là gắn bó và sống theo lời Người chỉ dạy đó là Giêsu Kitô. Chúa Kitô không chỉ là người có quyền năng trong lời nói và hành động mà Người còn bảy tỏ uy quyền tối thượng của Người bằng việc chiến thắng sự chết. Mầu nhiệm Chúa Phục Sinh là nền tảng để chúng ta đặt niềm tin cậy vào Người. Thánh Tông đồ dân ngoại khẳng định: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em…Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1Cr 15,17-19).

Đã là người thì ai cũng mong muốn và luôn kiếm tìm hạnh phúc. Tuy nhiên vẫn có nhiều người lầm tưởng tình trạng hạnh phúc là khi có đủ đầy tiện nghi vật chất, chức quyền, danh vọng hay được thỏa mãn một số nhu cầu nào đó. Cái ảo tưởng này sẽ tan vỡ, khi họ đối diện với những biến cố không may trong cuộc đời mà ít ai tránh được và nhất là khi đối diện với cái chết không ai thoát được. Hạnh phúc đích thật của con người là tình trạng được hiệp thông với Đấng đã cho con người từ hư vô được hiện hữu. Có thể nói đây là cái cảm nghiệm của các thánh nhân khi cận kề với giờ sinh ly tử biệt mà dân gian quen gọi là “sống thánh – chết lành”.

Với cái nhìn của lý trí, người ta cũng đã thoáng nhận ra những mối họa nhãn tiền trên số phận những người đặt niềm tin cậy vào những sự chóng qua đời này khi đồng thuận với nhau rằng sắc đẹp không qua khỏi làn da, vinh hoa phú quý không theo chúng ta đi vào nấm mộ lạnh. Ứớc gì với cái nhìn của đức tin, chúng ta thêm xác tín đâu là hạnh phúc thật để rồi biết đặt niềm tin cậy đúng địa chỉ.

 

.

BỐN MỐI PHÚC VÀ BỐN MỐI HỌA

P.Trần Đình Phan Tiến

Vâng, thưa quý vị, thưa các bạn, tục ngữ Việt Nam có câu “ Họa vô đơn chí,phước bất trùng lai “. Câu nầy có nghĩa “họa” đến với con người nhiều hơn “phúc “, vì họa không đi một mình, mà kéo theo dây chuyền. Đó là triết lý mà cổ nhân Việt đã để lại cho chúng ta, hầu răn dạy thế hệ sau. Khi “họa “ đến thì có dây chuyền, nhưng khi “ phước “ đã qua, thì không trở lại. Vâng, đó là theo sự “đúc kết” của dân gian Việt Nam về triết lý sống, mà nhiều lúc chúng ta chứng kiến thật không sai. Và , nhiều trường hợp khi sự đau khổ, bất hạnh ập xuống cho một người, một gia đình, hay một dân tộc nhiều lần, như một chuỗi “ bất hạnh”.

Vâng, hôm nay, qua thánh sử Luca, Chúa Giêsu cho chúng ta một sự thật rõ ràng là :” Có bốn mối phúc, thì cũng có bốn mối họa”. Tục ngữ Việt Nam cũng có câu “ Họa phúc khôn lường”, có nghĩa là không ai có thể “ biết trước” họa , phúc của mình. Nếu mình sống có đức, mặc nhiên sẽ có phúc,nếu ngược lại chắc chắn sẽ mang họa. Nhưng, những ai bước theo Chúa Giêsu, thì Lời Chúa hôm nay giáo huấn cho chúng ta một chân lý rõ ràng vì :” Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em” .

Điều sự thật nầy cho chúng ta biết “ Nước Trời không nghèo”, bởi vì, đời nầy nếu ai chịu thiếu thốn vì chân lý Tin Mừng, thì chắc chắn họ sẽ có một kho tàng trên Trời. Mối phúc thứ nhất mà Chúa Giêsu nói, đó là sự nghèo khó của thế gian. Nếu thế gian chịu nghèo, mà lên Nước Trời cũng nghèo tất , thì dại gì mà lên. Điều ấy là chân lý, vì cái nghèo không phải là cái được chúc phúc, mà là cái phần thưởng trên Nước Trời. Sống trên trần gian chấp nhận sống nghèo, vì không gian tham, trộm cướp, hà hiếp kẻ thế cô, không bóc lột, không nhận lối lộ, tham nhũng, vặn cân, sửa móc, biển lận của công, làm hàng gian, hàng giả, thêm số, bớt dấu. v.v… Đó là những thứ giàu có bất chính, thì chắc chắn không thể vào Nước Trời, nơi giàu có vĩnh cửu được.

Chúa Giêsu không chúc phúc cho sự nghèo khó, nếu lười biếng lao động, tìm sinh kế, hay ngửa miệng chờ sung rụng, mà là trong hoàn cảnh sống trên trần thế biết vì Tin Mừng Nước Trời, mặc nhiên sự hy sinh đó được đánh đổi. Thiên Chúa yêu thương loài người hết mức, thì nơi Thiên Chúa không có sự nghèo khó. Chắc chắn Nước Trời không nghèo. “ Vì Nước Thiên Chúa là của anh em. Vâng, chúng ta thấy, rõ ràng đây là sự đánh đổi của Tin Mừng. Nếu ở trần gian, cùng với việc phụng thờ Thiên Chúa và lao động sinh kế cách công chính, cùng thời gian, sức khỏe Thiên Chúa ban cho, mình có thể có một thành quả lao động no đủ và dư dôi, biết chia sẻ với tha nhân và người thiếu thốn, chắc chắn, mình đang góp phầnlàm giàu trên Nước Trời.

Còn nếu tôi quá dư thừa, lại còn tham lam, sống ích kỷ, không theo đúng giá trị Lời Chúa và lương tâm ngay thẳng, chắc chắn mình sẽ nhận “ mối họa” mà Chúa Giêsu nói. Vì , mỗi mối phúc , luôn đi kèm với mối họa.

Bốn mối” Phúc , họa” thật ra là một ý nghĩa, sống trên đời nếu kinh nghiệm dân gian cho biết “ họa, phúc khôn lường”. thì Lời Chúa hôm nay phân định rõ ràng phúc, họa. Vâng, “ Phúc, họa” theo Kitô giáo không phải là mơ hồ,hoang tưởng, phù phiếm, mà là một sự mà là một sự “ trả lẽ” rạch ròi không thể lẫn lộn, như một sự công bằng không thiên vị.

Mối phúc thứ tư (câu 22-23) là một mối phúc vì Đức Giêsu, rõ ràng xuất phát từ sự công bằng , sự trả lẽ minh bạch. Nếu ai vì Người mà chịu sỉ nhục, tất nhiên phần thưởng của họ trên Nước Trời vô cùng lớn lao. Vì , nguyên lý Nước Trời là phần thưởng phạt công minh, phần thưởng lúc nào cũng bội thu, phần nhận lại lúc nào cũng nhiều hơn phần cho đi. Vì, Thiên Chúa luôn đong đầy, Người vửa đong, vừa lắc cho cân xứng, bởi vì, không ông chủ nào công bằng, và đại lượng với chúng ta bằng Thiên Chúa, Đấng vì chúng ta mà trao ban chính mình Người.

Tuy Đoạn Lời Chúa hôm nay không ngắn, nhưng thật dễ hiểu, chỉ có một triết lý, một ý nghĩa duy nhất, đó là :” Nếu các ngươi đong cho anh em mình đấu nào, thì Ta sẽ lấy chính đấu đó mà đong cho các ngươi…” (Lc 6, 38)

Vâng, thưa quý vị, thưa các bạn, những điều nầy có thể nói là “ công thức nên thánh”, Tin Mừng Mat-thêu, thì gọi là : ” Hiến Chương Nước Trời”. Vì, biết bao thế hệ bước theo Đức Kitô đều noi theo công thức nầy để nên thánh. Vì :” Các ngươi đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác các ngươi, nhưng , các ngươi hãy sợ Đấng có thể ném cả xác và hồn các ngươi vào lửa không hề tắt” (Mt 10, 28).

Qua đó, nếu chúng ta chịu đau khổ vì Đức Kitô, thì chúng ta sẽ được phần thưởng lớn lao vì Người. Bởi vì, không ai có thể “ đụng chạm “ đến Thiên Chúa, Vì Thiên Chúa Ngàn Trùng Chí Thánh, là Đấng Toàn Năng, Đấng Tạo Thành, vô biên, siêu nhiên vô hình, thì không thể loài thụ tạo nào có thể được “ đụng chạm” đến Ngài, chính vì chân lý nầy, mà có nhiều “ tôn giáo” vô thần là như vậy. Nhưng, Đạo Công giáo là “Đạo chung” cho mọi người không phân biệt, tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất, gọi là ” Độc Thần”, ( không phải là thần độc), mà là một Thiên Chúa duy nhất. nhờ Đức Giêsu, Ngôi Vị Thiên Chúa làm Người, tức sự Hữu Hình được mặc khải, vì thế, chúng ta được “ đụng chạm” vào Thiên Chúa.  Như vậy, Đức Kitô đã chịu đau khổ vì chúng ta, Người đã chịu khổ hình để cứu độ chúng ta, vì thế, khi chúng ta chịu đau khổ là chúng ta “ được đụng chạm “ vào một Ngôi Vị Thiên Chúa Hữu Hình (làm Người) như con người. Theo đó, giá trị đau khổ của người Kitô hữu khi họ mang lấy vì Danh Người, là họ được “ tháp nhập” vào với người, lúc đó, họ được vinh dự “ đụng chạm” vào một Ngôi Vị Thiên Chúa Hữu Hình là như vậy.

Như vậy, đau khổ của người tín hữu Công giáo là một “ Hồng ân” chứ không phải “ án phạt”. Án phạt, khi họ tách rời Đức Giêsu- Kitô, nghĩa là khi họ sống mà không thực thi Lời dạy của Người.

Vâng, “sự đau khổ” của thế gian, khác với “ sự đau khổ” vì Nước Trời là Đức Giêsu – Kitô.

Lạy Chúa Giêsu ,Chúa đã dạy chúng con chịu đau khổ vì Chúa, với Chúa, thì sẽ được ở trong Chúa. Xin cho chúng con nhận thức, trung tín đáp trả, vâng theo vì Chúa và xứng đáng lãnh nhận phần thưởng muôn đời trong Nước Trời ./. Amen

 

.

MỐI PHÚC

Lm Trầm Phúc

Chúng ta nghe Chúa chúc phúc. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào Tin Mừng, chúng ta thấy có hai lời chúc phúc. Lời chúc phúc mà chúng ta quen thuộc hơn mà chúng ta gọi là bát phúc hay là tám mối phúc thật do thánh Matthêu ghi lại. Đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe là những lời chúc phúc do thánh Luca ghi lại, khác về số lượng nhưng cũng cùng một nội dung. Thánh Luca còn thêm những lời than vãn đang lúc thánh Matthêu không có lời than vãn. Tại sao có những khác biệt như thế ? Vì các thánh sử viết lại những gì các ngài đã nghiên cứu tùy theo nguồn tài liệu họ có được, và các ngài cũng tùy theo người đọc, và các ngài cũng muốn nhắm đến một hướng riêng nào đó. Thánh Matthêu viết cho người Do thái, là những người hiểu biết Kinh thánh khá nhiều. Thánh Luca viết cho người Hy lạp là những người mới theo đạo.

Chúng ta biết sơ lược như thế để thấy rõ tại sao có hai tường thuật về những mối phúc của Chúa. Giờ đây chúng ta tìm hiểu ý tưởng của thánh Luca.

Những lời chúc phúc của con người chỉ là một lời nói không mang lại kết quả. Nhưng đây là những lời chúc phúc của Thiên Chúa. Nếu chúng ta thi hành đúng sẽ mang lại kết quả vì nó kèm theo những hồng ân cho người thi hành. Những lời chúc phúc là những lời hứa mà chính Thiên Chúa bảo đảm chứ không chỉ là những lời nói suông.

Chúa chúc phúc cho ai ? Không phải cho những người thành đạt, giàu có ở đời nầy mà cho những con người nghèo hèn, đói khát, những người khóc than, những người bị bách hại vì Con Người, nghĩa là những người chịu mọi thiệt thòi ở đời. Họ sẽ được hạnh phúc với Chúa. Điều nầy cho thấy lòng nhân từ của Chúa đồng thời cũng cho thấy sự công bằng của Chúa. Chúa không để ai thiệt thòi mà không bồi đắp cho họ. Sự bồi đắp nầy không nhất thiết là ngay bây giờ, trong hiện tại mà là tương lai. Nhưng trong hiện tại, nếu chúng ta tin vào Chúa, sự nghèo đói, đau khổ vì danh Chúa không là một tai họa mà là một niềm cậy trông, vì những người nghèo đói ở đây là những người dám phó thác mọi sự cho Chúa, chỉ cậy trông nơi Chúa thôi. Họ không có gì để cậy trông ở người đời. Họ không nuôi một tham vọng trần thế nào. Chúa là gia nghiệp của họ. Nước Trời là chọn Chúa làm gia nghiệp. Thánh Phanxicô Assisi là người giàu có nhất thành phố đã tự nguyện từ bỏ mọi sự để theo Chúa và ngài không ân hận, trái lại ngài trở thành con người hạnh phúc nhất đời với một cái áo duy nhất dính da. Thánh Anphongsô là một luật sự đầy tham vọng, đã từ bỏ tương lai sáng lạn và theo Chúa, chấp nhận sống một đời sống khắc khổ. Những người đó đã biết giá trị của sự nghèo khó và đã chọn Chúa làm gia nghiệp.

Ngược lại, Chúa không nương tay với những người giàu có sung túc. Ngài không chúc dữ mà đây là một cách nói của người Do thái. “ Khốn cho các ngươi là những người giàu có”. Đó là những lời than vãn chứ không là nguyền rủa hay chúc dữ. Số phận của người giàu có no nê ở đời nầy sẽ không mang lại hạnh phúc cho họ. Họ chỉ được hưởng sung sướng trong hiện tại, nhưng tương lai của họ không hứa hẹn điều gì tốt đẹp cả, đang lúc những kẻ bị thiệt thòi ở đời nầy sẽ được Chúa đoái thương. Đó mới là hạnh phúc thật và gia sản của họ không phải là tiền bạc hay của cải đời nầy mà là chính Thiên Chúa mới là hạnh phúc của họ.

Chúa không nói rõ người nghèo nào sẽ được hạnh phúc và người giàu nào sẽ bị bỏ rơi. Chúa chỉ đưa ra hai con đường để chúng ta chọn. Nếu chọn Chúa làm gia nghiệp thì sống nghèo và chấp nhận những thiệt thòi ở đời. Nếu chọn thế gian thì hậu quả là mất đi hạnh phúc đời đời.

Chúa Giêsu đến trong trần gian. Ngài đã sống nghèo, chịu bách hại để cho chúng ta thấy Ngài không cần những tiện nghi vật chất mà chỉ để vâng theo ý Chúa Cha, mưu tìm hạnh phúc cho chúng ta mà thôi. Hạnh phúc đó chỉ có thể tìm được nơi Chúa mà thôi. Con đường hạnh phúc chính là chấp nhận sống như Ngài, yêu thương như Ngài, nghèo khó như Ngài. Muốn như thế, chúng ta hãy đến với Ngài, nơi bàn tiệc yêu thương của NgàiạnHHHHH, ăn lấy Ngài để cùng sống với Ngài những ngày sống trần gian của chúng ta. Chính Ngài sẽ chỉ cho chúng ta biết phải làm gì.

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *