Bài hát và suy niệm (20.01.2019 – Chúa Nhật Tuần II Mùa Thường Niên Năm C)

 

NL: DẪN BƯỚC CON ĐI (cau 1,3)

ĐC: THÁNH VỊNH 95

Hãy kính tặng Thiên Chúa quyền thế với vinh quang.

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Thiên Chúa đã dùng Tin Mừng mà kêu gọi chúng ta, để chúng ta được hưởng vinh quang của Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô. Ha-lê-lui-a.

DL: DÂNG NGÀI

HL: TÌNH CA VÔ TẬN

KL: KHÚC HÁT TẠ ƠN

Lời Chúa: Is 62, 1-5; 1Cr 12, 4-11; Ga 2, 1-11

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an

1 Khi ấy, có tiệc cưới tại Ca-na miền Ga-li-lê. Trong tiệc cưới có thân mẫu Đức Giê-su. 2 Đức Giê-su và các môn đệ cũng được mời tham dự. 3 Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giê-su nói với Người : “Họ hết rượu rồi.” 4 Đức Giê-su đáp : “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi ? Giờ của tôi chưa đến.” 5 Thân mẫu Người nói với gia nhân : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.”

6 Ở đó có đặt sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do-thái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước. 7 Đức Giê-su bảo họ : “Các anh đổ đầy nước vào chum đi !” Và họ đổ đầy tới miệng. 8 Rồi Người nói với họ : “Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc.” Họ liền đem cho ông. 9 Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hoá thành rượu (mà không biết rượu từ đâu ra, còn gia nhân đã múc nước thì biết), ông mới gọi tân lang lại 10 và nói : “Ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ.” 11 Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na miền Ga-li-lê và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người.

Dấu Lạ Đầu Tiên

Đức Giêsu và Mẹ Người đi dự tiệc cưới tại miền Cana. Xảy ra là tiệc đang vui bỗng bị hết rượu, thiết tưởng giống như buổi tối lễ hội đang tưng bừng bỗng bị cúp điện tối sầm. Bởi tiệc cưới của người Do Thái nếu hết rượu là một sự cố buồn lớn, là rủi ro, bất hạnh cho đôi hôn nhân trong ngày cưới.

Đức Maria đi tham dự tiệc cưới không chỉ là đến để ăn tiệc, nhưng với tình yêu thương, Mẹ quan tâm, để ý cặn kẽ và nhạy bén trước khó khăn của người khác để tìm giúp tha nhân, để nhận biết tình cảnh hết rượu của nhà đám. Mẹ đem nỗi lo của họ đến với Con mình: “Họ hết rượu rồi”. Đức Giêsu chưa một lần làm phép lạ, xem ra phép lạ hôm nay chưa đúng lúc và ngoài ý muốn của Người, nên Người trả lời cách ngó lơ: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? giờ của tôi chưa đến”. (Ga 2, 4). Nghe làm vậy mà Mẹ không nản chí, vẫn chỉ dạy gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ làm theo”, nghĩa là hãy nghe và thực hành Lời Chúa. Giờ chưa đến nhưng nhờ sự can thiệp của Mẹ nên Người cho “đã đến”. Đây là bài học của lòng tin cậy, nhờ Mẹ, với Mẹ đến với Chúa và lòng tin yêu phó thác trong bàn tay Chúa yêu thương quan phòng.

Họ làm theo Lời Chúa và dấu lạ đầu tiên đã xảy ra: sáu chum nước đầy tới miệng đã hóa thành rượu ngon, niềm vui bừng sáng trong cả tiệc cưới đang buồn bã mất vui ấy.

“Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Cana…” (Ga 2,1a). “Ngày thứ ba” là ngày mang ý nghĩa đặc biệt của Thiên Chúa: mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi; ngày thứ ba Chúa sống lại, đem niềm vui ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại; ngày thứ ba Chúa thực hiện dấu lạ đầu tiên “cứu” cô dâu chú rể và toàn gia trong ngày đại lễ, khai mở cho mọi phép lạ trong cuộc đời công khai của Chúa.

“Cana” tiếng Do Thái nghĩa là “tổ ấm”. Đức Giêsu bắt đầu cuộc đời nhập thể nơi một tổ ấm tại Bêlem, tại Nazaret và bước vào đời công khai, dấu lạ đầu tiên hôm nay được thực hiện tại tổ ấm Cana. Nơi đâu có Chúa và Mẹ, nơi đó trở thành tổ ấm tràn đầy niềm vui yêu thương. Hình ảnh nước lã hóa thành rượu ngon còn tượng trưng sau này rượu nho sẽ hóa thành Máu Thánh Chúa.

Thiên Chúa là tình yêu. Ở đâu có Chúa, niềm vui hạnh phúc ngập tràn như hôn lễ tiệc cưới. Khi sống mối tương quan đậm đà mật thiết trong Chúa, chúng con sẽ có niềm vui hạnh phúc đầy tràn, như ngôn sứ Isaia mô tả trong bài đọc I: “Vì ngươi sẽ được Đức Chúa đem lòng sủng ái, và Chúa lập hôn ước cùng sứ sở ngươi. Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ.” (Is 62,4b-5).

   Lạy Chúa! xin cho mỗi chúng con và các gia đình trẻ luôn vững lòng tin, cậy, kính mến, mở rộng tâm lòng để cùng Mẹ, nhờ Mẹ đón Chúa vào cuộc đời và ở với gia đình chúng con. Ước chi mỗi gia đình chúng con đều trở thành một tổ ấm yêu thương, tràn đầy hạnh phúc, vì khi có Chúa mọi sự sẽ trở nên tốt đẹp. Amen.

 Én Nhỏ

***

Mục lục

 

1. Chiêm ngưỡng vinh quang và tin vào Chúa (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Hãy mời Chúa đến nhà bạn (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)

3. Sự tế nhị của Mẹ Maria (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

4. Hóa rượu  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

5. Vị trí của Đức Mẹ  (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)

6. Tiệc cưới Cana  (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

7. Phép lạ đầu tiên  (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

8. Suy niệm Chúa Nhật 2 Thường niên_C  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

9. Đồng cảm  (Trầm Thiên Thu)

10. Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo  (Fx. Đỗ Công Minh)

11. Cùng Mẹ vững tin vào tình thương của Chúa  (Lm. Đan Vinh)

12. Được vinh dự (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

13. Noi gương Đức Mẹ vững tin vào Chúa (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

14. Rượu mới bình mới  (JM. Lam Thy, ĐVD)

15. Có Chúa là có niềm vui  (Lm. Giuse Nguyễn)

16. Có Chúa ta được biến đổi nên thánh  (Lm. Giuse Lê Danh Tường)

17. Rượu nồng được thiết đãi bởi Đấng Mêssia  (Lm. Phêrô Võ Tá Toàn)

18. Niềm vui của hôn ước mới  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

19. Suy niệm chú giải Lời Chúa – Chúa Nhật 2 Thường niên_C (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

20. Làm theo lời Người (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

21. Giờ của Chúa (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

22. Gia đình có Mẹ  (Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn)

23. Để cho tình mãi mặn nồng  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

 

.

CHIÊM NGƯỠNG VINH QUANG VÀ TIN VÀO CHÚA

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Phụng vụ Công giáo nối liền ba sự kiện trong Tân ước với nhau và “đọc” thấy ở đó cùng một thông điệp: Thiên Chúa tỏ bày vinh quang của Ngài cho nhân loại. Ba sự kiện ấy là việc Chúa Giêsu tỏ mình cho ba nhà đạo sĩ đến từ phương Đông; Chúa Giêsu chịu phép rửa trong dòng nước sông Giođan; Chúa Giêsu làm dấu lạ đầu tiên tại Cana. Cả ba đều được diễn tả như những cuộc “thần hiện”, tức là việc Thiên Chúa hiển linh cho con người thấy vinh quang của Ngài, để nhờ đó mà tin vào Ngài. Trong trình thuật về dấu lạ tại Cana mà chúng ta vừa nghe, Thánh Gioan hôm nay cũng kết luận: “Chúa Giêsu đã làm phép lạ đầu tiên này tại Cana xứ Galilêa, và đã tỏ vinh quang Người và các môn đệ Người tin Người” (câu 11).

Thực ra, trọn vẹn cuộc đời dương thế của Đức Giêsu là một cuộc “hiển linh”, bởi vì Người đã trút bỏ vinh quang và địa vị cao sang để mặc lấy thân phận con người như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Tuy vậy, qua những sự kiện vừa nhắc đến trên đây, Chúa chứng minh thân phận thiên linh của Người. Thân phận ấy được “ẩn giấu” trong cuộc đời dương thế. Những phép lạ mà Chúa đã làm không nhằm mục đích tạo ấn tượng và đáp ứng trí tò mò của con người, nhưng để khẳng định vai trò thiên sai của Người và để dân chúng tin vào Người.

Trở lại với dấu lạ ở Cana, tác giả Gioan muốn khẳng định với chúng ta: Qua Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa thực hiện một cuộc sáng tạo mới. Với Chúa Giêsu, lịch sử đã sang trang. Đây cũng là khởi đầu của kế hoạch mới mà Thiên Chúa muốn thực hiện vì tình yêu mến dành cho con người. Thiên Chúa từ nay không còn xa vời đối với con người, nhưng trở nên gần gũi với họ. Thời Thiên sai được khai mở, nồng ấm và vui tươi như rượu mới, thay thế nước lã vô vị đã trở nên lỗi thời. Đức Giêsu hiện diện ở một đám cưới là một hình ảnh rất mới lạ mà một cách diễn tả “táo bạo” về Thiên Chúa. Giáo lý Kitô giáo nhận ra qua sự hiện diện này một Thiên Chúa dấn thân nơi mọi biến cố vui buồn của cuộc sống, đồng thời chúc lành và thánh hóa tình yêu hôn nhân. Nếu trình thuật Chúa Giêsu chịu phép rửa muốn giới thiệu hình ảnh Người hòa mình vào dòng người đang chờ đợi xin Ông Gioan làm phép rửa, thì trình thuật tiệc cưới Cana lại muốn diễn tả một Thiên Chúa “vào đời” để gần gũi cảm thông với con người. Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Người hiện diện giữa nhân loại như chàng rể. Nhân loại đón chờ Người như chờ đón chàng rể của hôn lễ (x Dụ ngôn mười trinh nữ, Mt 25,1-13). Hình ảnh tiệc cưới cũng được dùng trong Cựu ước để diễn tả niềm vui của dân tộc Do Thái vì có Chúa hiện diện (Bài đọc I). Đây cũng là viễn cảnh tương lai, khi lịch sử nhân loại đến hồi kết thúc, nhường chỗ cho trời mới đất mới, được diễn tả như tiệc cưới của Chiên Con, lúc đó, vinh quang Chúa sẽ bao trùm tất cả, niềm hân hoan sẽ tràn ngập vũ trụ (x Kh 19,1-7).

Ở đây ta thấy vai trò của Đức Trinh nữ Maria. Mẹ cũng được mời tham dự đám cưới. Vai trò của Mẹ, vừa mang tính tế nhị của một người phụ nữ, vừa tỏ bày quyền thế đối với Đức Giêsu. Là một người tinh tế, Mẹ nhận ra nỗi lo của chủ tiệc; như một người quyền thế, Mẹ chỉ nói với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi!”. Đây vừa là một lời van xin, vừa là một mệnh lệnh. Chức năng trung gian của Mẹ được thể hiện một cách rất rõ ràng: Mẹ vừa nói với Chúa Giêsu về  sự kiện xảy ra; Mẹ vừa dặn dò những người giúp việc: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo!”. Phép lạ đã xảy đến do quyền năng của Thiên Chúa, nhờ lời cầu bầu của Đức Mẹ, và do sự vâng lời của con người.

Chúng ta đã được nhìn thấy vinh quang Thiên Chúa. Đó là lời khẳng định của Thánh Gioan Tông đồ trong lễ Giáng Sinh (x. Ga 1,14). Việc chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa phải giúp chúng ta tin vào người. Có người sẽ phản ứng: chúng tôi có thấy gì đâu, ngoài hình hài một trẻ sơ sinh đặt trong máng cỏ ở hang đá Giáng sinh! Vâng, các nhà đạo sĩ cũng thấy như chúng ta, nhưng họ đã thờ lạy và tôn nhận Hài nhi là Vua của các vua và là Chúa của các chúa. Sau này, Đấng Phục sinh khẳng định với Tông đồ Tôma: “Phúc cho ai không thấy mà có lòng tin” (x. Ga 20,29).

Thiên Chúa vẫn đang tỏ bày vinh quang của Ngài bằng nhiều cách thế khác nhau. Vũ trụ là cuốn sách kể lại với chúng ta về vinh quang Thiên Chúa: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Ngài làm” (Tv 18,2). Ngay giữa cộng đoàn đức tin, Chúa cũng đã san sẻ vinh quang của Ngài cho các tín hữu, nhờ đó họ có thể đón nhận những khả năng khác nhau để cùng loan truyền Danh Chúa. Thánh Phaolô đã liệt kê các ơn của Chúa Thánh Thần: Khôn ngoan, Thông minh. Chữa bệnh, Làm phép lạ, Ơn tiên tri, Ơn ngôn ngữ (Bài đọc II). Dù được ơn gì và dù ở địa vị nào, tất cả những ơn ban trên đây đều nhằm phục vụ Giáo Hội là Thân thể của Đức Kitô, để rồi vinh quang của Người tiếp tục tỏ hiện.

“Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo“. Ngày hôm nay, Đức Maria vẫn đang khuyên chúng ta như thế. Thực hành Lời Chúa dạy là phương thế giúp chúng ta nên thánh, nhờ đó mà Chúa thực hiện những điều lạ lùng giữa cuộc sống chúng ta

 

.

HÃY MỜI CHÚA ĐẾN NHÀ BẠN

Lm. Jos Tạ duy Tuyền

Cuộc sống giống như một ly trà, bất luận đầy hay vơi, nóng hay lạnh, nồng hay nhạt, cũng đều có dư vị riêng của nó. Con người cũng vậy, chẳng ai giống ai, mỗi người có một lý tưởng, một cách sống riêng, có người ôm giấc mộng giàu sang, có người mong được sống an nhàn, có người lại chỉ cần một tâm hồn thư thái…

Nhưng giữa cuộc sống đầy bon chen này, con người rất khó giữ được trạng thái vô lo vô nghĩ, không ưu phiền vấn vương. Đólà điều khiến cho cuộc đời con người luôn đầy lắng lo, khổ đau và bất hạnh.

Kỳ thực, cuộc sống chỉđơn giản làđượcbình an và bình an là không đòi hỏi cái ngoài ý muốn, bình an là chấp nhận những gì đang xảy đến với mình. Thế nên, có người nói rằng:

“Sống một kiếp người, bình an là được

2 bánh 4 bánh, chạy được là được

Tiền ít tiền nhiều, đủ ăn là được

Người xấu người đẹp, dễ coi là được”

Nói thì dễ nhưng chấp nhận chẳng dễ chút nào! Cuộc đời luôn đưa đến những điều chẳng bao giờ vừa ý. Mình cầu điều này nhưng lại chẳng mấy khi được theo ý cầu xin. Thế nên, con người luôn cầu có một phép màu để được theo ý mình, để đổi đời, để sống tốt hơn, .  . .

Nói chung là con người thường mong Chúa làm phép lạ. Ai cũng muốn nhìn thấy phép lạ. Kẻ cần phép lạ để tin. Kẻ muốn có phép lạ để củng cố lòng tin. Xem ra phép lạ đối với phần đông nhân loại là chứngkiến những chuyện khác thường, những chuyện kinh thiên động địa. Phép lạ là những biến cố xảy ra ngoài tự nhiên tựa như con lừa của Baal biết nói tiếng người. Con gà mái gáy giữa ban ngày. Xem ra phần đông nhân loại đang cần những phép lạ tương tự như vậy rồi mới có thể tin vào sự hiện diện của Chúa.

Thực ra, Thiên Chúa không làm phép lạ để những sự kiện xảy ra ngoài quy luật tự nhiên. Phép lạ đúng nghĩa là không đảo lộn tự nhiên, không đi ngoài quy luật. Thiên Chúa làm phép lạ để cho những sự kiện được diễn ra bình thường, không gây xáo trộn, đi sai tới quy luật tự nhiên.

Nếu mọi sự trong cuộc sống chúng ta vẫn diễn ra bình lặng, êm xuôi là chúng ta đang được Chúa làm phép lạ để giữ cho thăng bằng. Vì dòng đời đâu mấy khi bình an, mà lại luôn có sóng gió nghi nan.

Hôm nay trong tiệc cưới Cana, tiệc rượu đang diễn ra êm xuôi. Mọi người đều vui vẻ với chén rượu, với nụ cười hân hoan. Nhưng nếu rượu lại hết. Tiệc sẽ dở dang và niềm vui sẽ không trọn vẹn. Chúa đã làm phép lạ để tiệc không bị gián đoạn bởi thiếu rượu. Chúa đã làm phép lạ để tiệc vui được tiếp diễn đến nỗi người quản tiệc cũng không hay biết. Khách dự tiệc vẫn tiếp tục cuộc vui. Xem ra ai cũng thoả mãn với chén rượu nồng nàn. Đôi tân hôn hôm ấy đã có một niềm vui trọn vẹn. Ngày hôn lễ được diễn ra một cách êm xuôi. Gia đình họ thật hạnh phúc. Hạnh phúc vì nhờ lời cầu bầu của Mẹ Maria mà Chúa đã ban cho gia đình một niềm vui trọn vẹn trong ngày thành hôn.

Ngày hôm nay nhiều gia đình đang đổ vỡ. Có biết bao gia đình đang bị xáo trộn bởi cơm chẳng lành,canh chẳng ngọt. Có biết bao gia đình đang ly tán bởi “ông ăn chả, bà ăn nem”. Có biết bao gia đình rượu ngon đã cạn chỉ còn đọng lại một chút rượu lạnh nhạt và chua cay. Thiếu rượu nồng của tình yêu nên dẫn đến đổ vỡ, nghi kỵ, hiểu lầm và ghen tương. Ngày hôm nay nhiều gia đình đang bất hoà vì đói nghèo, túng cực. Nhiều gia đình đang thất vọng bởi công việc làm ăn chẳng thuận buồm xuôi gió. Nhiều gia đình đang thiếu tình yêu, thiếu thốn tiền bạc, thiếu cả sự cảm thông và tha thứ đã gây nên biết bao xáo trộn trong các gia đình.

Ước gì mỗi gia đình trong giáo xứ chúng ta cũng biết mời Chúa đến trong gia đình của mình. Hãy dành cho Chúa một vị trí xứng đáng trong gia đình chúng ta. Hãy dâng gia đình cho Chúa. Nếu có Chúa hiện diện, Ngài sẽ tiếp tục gìn giữ gia đình chúng ta trong an bình hạnh phúc. Và trên hết mọi sự, hãy biết sống theo lời dặn của Mẹ Maria: “Người bảo gì anh em hãy làm như thế”. Sống theo lời Chúa, gia đình sẽ không thiếu niềm vui, không thiếu rượu ngon của hạnh phúc yêu thương. Nguyện xin Mẹ Maria cầu bầu cùng Chúa cho các gia đình trong giáo xứ chúng ta luôn bình an và ngập tràn niềm vui trong tình thương quan phòng của Chúa. Amen

 

.

SỰ TẾ NHỊ CỦA MẸ MARIA

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Sống ở quê hương Nagiarét, Chúa Giêsu cũng chia sẻ với những niềm vui, nỗi buồn của mọi người.Do đó, mọi biến cố xẩy ra xung quanh, nơi làng, nơi những người hàng xóm. Chúa Giêsu đều cảm thông với mọi người để chung chia kiếp sống với con người.Hôm nay, Chúa Giêsu, Mẹ Maria và các môn đệ có mặt trong một đám cưới ở làng quê Cana. Trong tiệc cưới này, nhà đám đã dự liệu rượu cho những ngày ăn tiệc, nhưng nỗi khổ là rượu hết. Chúa Giêsu đã trả lại niềm vui cho gia đình nhà đám và không để họ phải xấu hổ đối với các khách mời.

Vâng, đoạn Tin Mừng của thánh Gioan hôm nay là nét rất đẹp của ngòi bút thánh sử thuật lại.Thánh Gioan đã vén mở cho chúng ta thấy con người của Chúa Giêsu.Nên, Tin Mừng của Ngài luôn có ý nghĩa sâu sắc, mặc khải mầu nhiệm  con người của Chúa Giêsu. Chẳng hạn, Chúa chữa cho người mù từ thuở bình sinh, nói lên Chúa là ánh sáng thật. Chúa là Bánh hằng sống khi Người làm cho bánh và cá hóa nên nhiều để nuôi sống nhiều ngàn người ăn. Phép lạ Chúa làm cho Lazarô em của Matta và Maria sống lại nói lên Người là Sự Sống. Nước Chúa làm cho trở nên rượu ngon cũng có ý nghĩa nước thanh tẩy, nước tẩy uế và nước từ cạnh sườn của Chúa đổ ra. Sự tế nhị của Mẹ Maria khi thấy nhà đám hết rượu, Mẹ đã can thiệp và can đảm, mạnh dạn thưa với Chúa “ Họ hết rượu rồi “ ( Ga 2,3 ). Câu trả lời của Chúa Giêsu làm chúng ta hết sức ngạc nhiên, sửng sốt  “…Giờ tôi chưa đến “ (Ga,2,4 ). Mẹ của Chúa, chắc chắn chưa hiểu được ý Con của Mẹ. Tuy nhiên, Mẹ luôn tin tưởng Con của Mẹ sẽ làm một cái gì theo lời tế nhi van xin kín đáo của Mẹ. Mẹ đã nói với những người giúp việc :” Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo “( Ga 2,5).Qua sự can thiệp của Mẹ, Chúa làm phép lạ đầu tiên trong sứ vụ công khai rao giảng Nước Trời của Ngài. Chúa Giêsu đã tỏ vinh  quang của Ngài dù giờ tử nạn và phục sinh chưa đến, nhưng Ngài biểu lộ uy quyền để các môn đệ thấy và tin vào Ngài ( Ga 2, 11).Thực vậy, Chúa đã củng cố niềm tin các môn đệ trên cuộc hành trình đi theo Ngài. Đức Giêsu đã hoàn tất những điều Cựu Ước loan báo. Ngài thiết lập thời đại mới, thời Thiên Sai, thời Cứu Thế…Ngài đã làm cho gia đình nhà đám niềm vui trọn vẹn. Với sự tế nhị của Mẹ Maria, những chum nước lã đã được Chúa cho hóa thành rượu ngon,và như thế, niềm vui của mọi người nồng thắm ngọt ngào tình yêu. Ai cũng vui lòng, nhà đám càng được hãnh diện và được nâng cao vị thế trong xã hội.

Lời của Mẹ Maria, chắc chắn ngày nay vẫn nhỏ nhẹ bên tai Chúa Giêsu :” Họ hết rượu rồi “. Chúa luôn yêu thương Mẹ và đồng thời cũng yêu thương mọi người, hằng quan tâm đến mọi người.Chính vì thế, Ngài đã làm cho nhiều mảnh đời nồng ấm trở lại sau những ngày, những tháng, những năm bị thử thách gian nan. Ngài đã làm nóng lên những hoàn cảnh tang thương, những gia đình hầu như sắp đổ vỡ để tất cả những người này trở nên tin yêu hơn, trở nên nồng thắm hơn. Chúa đã làm cho nhiều tâm hồn tan nát, trở lại vững tin hơn, dạt dào yêu thương hơn.

Chúa luôn hiện diện và có mặt trong mọi biến cố của thế giới, của mỗi người.Xưa, Chúa đã hóa nước thành rượu ngon, làm nồng ấm, trả lại sự tươi vui cho nhà đám.Ngày nay, Chúa luôn can thiệp và giúp đỡ con người, đem lại tình thương, sự ấm áp cho thế giới, cho con người, nếu con người biết bám lấy Ngài, biết hướng về Ngài…Thế giới sẽ đẹp, con người sẽ đẹp nếu mọi người cùng chung tay,xây dựng thế giới này thành thế giới biết yêu thương, chân thật và an bình.

Lạy Chúa Giêsu,Chúa đã làm cho nước lã biến thành rượu ngon đem lại sự bình an, vinh dự cho nhà đám và trả lại sự vui tươi cho mọi người.Xin tiếp tục biến đổi tâm hồn mỗi người chúng con để chúng con luôn giữ vững niềm tin và hy vọng.Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Chúa Giêsu đã làm phép lạ biến nước thành rượu ngon tại đâu ?

2.Tại sao Chúa lại trả lời với Mẹ : ”Giờ tôi chưa đến ? “.

3.Giờ Chúa nói đây là giờ nào ?

4.”Họ hết rượu rồi”. Đây là lời xin hay là lệnh truyền ?

5.Làm phép lạ cho nước hóa thành rượu ngon, Chúa Giêsu muốn nói lên điều gì ?

 

.

HÓA RƯỢU

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Ca-na tiệc cưới đông người,
Nửa vời thiếu rượu, thói đời khen chê.
Khách mời dự tiệc đang phê,
Rượu ngon chóng cạn, đôi bề khó khăn.
Chúa cùng môn đệ mời ăn,
Ma-ry Mẹ Chúa, giữ danh gia đình.
Tinh vi quan sát tình hình,
Sáu chum hết rượu, thật tình đáng thương.
Cảm thông lòng mẹ vấn vương,
Ghé tai bên Chúa, xin thương giúp người.
Can chi mọi việc trong đời,
Giờ Con chưa đến, nói lời xin vâng.
Mẹ rằng cứu giúp đỡ nâng,
Sáu chum đầy nước, trào dâng phúc lành.
Rượu ngon biến đổi đã thành,
Ngạc nhiên quản tiệc, ơn lành trời ban.
Nếm xem rượu mới nếp than,
Lòng người hoan hỉ, chứa chan ân tình.
Lần đầu phép lạ tỏ mình,
Giê-su Chúa Cả, giáng sinh làm người.

Chúa Giêsu cùng mẹ Maria và các môn đệ dự tiệc cưới tại Cana, xứ Galilêa. Câu chuyện xảy ra một cách hy hữu. Trong lúc tiệc cưới đang vui, qua sự quan sát tế nhị, mẹ Maria biết gia đình thân chủ đang bối rối và lo lắng vì thiếu rượu. Đúng là uống chưa say, chất cay đã hết. Đức Mẹ tự ý đến nói nhỏ với Chúa một cách ý nhị: Họ hết rượu rồi. Mẹ rất tế nhị và cảm nhận được nhu cầu cần thiết của gia đình. Nhìn vào cuộc sống gia đình, nếu một đám cưới mà thiếu rượu nửa chừng có lẽ sẽ có nhiều truyện xảy ra không hay sau này.

Qua lời thủ thỉ của Đức Mẹ, Chúa Giêsu hiểu được sự khó khăn của gia đình. Chúa đã hóa nước thành rượu ngon. Chúa đã sai các người giúp việc múc nước đổ đầy các chum. Rồi Chúa Giêsu bảo họ: Bây giờ hãy múc đem cho người quản tiệc. Người quản tiệc nếm thử nước đã trở thành rượu. Đây là phép lạ đầu tiên Chúa đã làm.

Chúng ta biết rượu chính là mối hoan lạc. Tự nó, rượu không tốt, không xấu, nhưng biết dùng đúng mức nó sẽ trở thành nguồn vui. Chúa dùng nuớc biến thành rượu cho lòng người hoan hỉ. Sau này, chính Chúa Giêsu lại dùng rượu biến đổi trở thành Máu của Ngài để nuôi dưỡng linh hồn chúng ta. Trong mỗi thánh lễ, Chúa tiếp tục làm sự lạ hóa bánh rượu trở thành Thịt Máu của Chúa. Trước mắt người phàm, chúng ta hoàn toàn không thấy gì thay đổi, bánh vẫn là bánh, rượu vẫn hoàn rượu, nhưng bản thể của bánh rượu đã biến đổi trở nên Thánh Thể Chúa.

Truyện kể trong cuộc họp báo, một giáo sư vô thần chứng minh Chúa Kitô chỉ là một anh phù thủy. Ông có một ly nước trước mặt. Ông bỏ vào một thứ bột hóa học và nước liền ra đỏ và ông nói đó là phép lạ. Đức Kitô đã giấu trong tay áo một thứ bột giống như bột này. Và Ngài đã làm phép lạ khi biến nước thành rượu theo cách này. Hãy xem tôi còn làm những chuyện lạ hơn Đức Kitô nữa. Tôi có thể biến rượu thành nước lã. Rồi ông đổ một thứ bột khác vào nước, nước đổi ra mầu trắng và rồi lại đổi ra mầu đỏ. Có một anh Công Giáo đứng dậy nói: Thưa giáo sư, giáo sư rất giỏi, nhưng xin giáo sư hãy uống thứ rượu đó. Ông giáo sư không dám uống, vì đó là chất hóa học độc hại. Người thanh niên nói: Thưa qúi vị, đó là sự khác biệt giữa Chúa Kitô và vị giáo sư này.

Chúa Giêsu đã dự tiệc cưới và chúc lành cho đôi hôn phối bởi chính nguồn rượu hoan lạc. Sự hiện diện của Chúa và Đức Maria đã giúp cho đôi tân hôn khỏi sự tủi hổ. Chúa dùng quyền năng biến đổi nước thành rượu. Chúng ta xin Chúa và Mẹ đồng hành trong đời sống gia đình và giúp hoán cải đời sống của chúng ta.

 

.

VỊ TRÍ CỦA ĐỨC MẸ

Lm JB Nguyễn Minh Hùng

Chỉ có hai lần Đức Maria xuất hiện trong Tin Mừng thứ Tư, đó là trình thuật Tiệc cưới tại Cana và trình thuật Thương Khó. Nhưng cả hai lần, thánh Gioan đều không gọi bằng tên Đức Mẹ cách đích danh. Thay vào đó, thánh nhân đã “đổi” tên Đức Mẹ thành “Mẹ của Chúa Giêsu”. Đó là một trong những điểm thần học làm cho Tin Mừng Goan khác biệt các Tin Mừng khác.

Bởi tất cả những gì thánh thánh Gioan trình bày trong Tìn Mừng của mình, không chỉ là ghi lại những biến cố, những sự việc, nhưng là chắt lọc từ những suy tư đã được ôm ấp, được nghiền ngẫm về cuộc đời của Chúa Cứu Thế và về tất cả những gì có liên quan đến Người.

Qua tất cả những suy tư bằng trọn một chiều sâu đã chín mùi ấy, thánh Gioan như muốn nói rằng, những gì đã xảy ra trong đời sống của Chúa Kitô, cũng được và cũng cần được diễn ra trong Hội Thánh hiện tại.

Đặc biệt, Hội Thánh cần noi gương Chúa Kitô, để Đầu nêu gương thánh thiện, thì thân mình cũng phải thánh thiện. Vì thế, từ những kỷ niệm mang tính lịch sử và cứu độ xuất phát từ Chúa Kitô, được sức mạnh của Thánh Thần linh hứng, Tin Mừng theo thánh Gioan đã diễn tả xuyên qua những câu chuyện lịch sử ấy, ý nghĩa thần học thật phong phú, để Hội Thánh sống và sống dồi dào.

Cũng vậy, với ý nghĩa thần học, Đức Maria trong Tin Mừng theo thánh Gioan, có một chỗ đứng hết sức trang trọng. Người không chỉ đơn giản là “Bà Maria”, không đơn giản là phụ nữ làng Nagiaret. Nhưng Đức Maria phải là và đích thật là “Mẹ của Chúa Giêsu”, Mẹ của Đấng Cứu Thế. “Mẹ của Chúa Giêsu” còn có vai trò lớn trong công trình cứu độ của Chúa Cha ngang qua Chúa Giêsu.

Đặc biệt, với trình thuật phép lạ tại tiệc cưới Cana, tác giả Tin Mừng thứ Tư còn cho thấy chỗ đứng quan trọng vô cùng của Đức Maria: Đức Maria có sức mạnh chuyển cầu.

Tin mừng thánh Gioan kể lại sự kiện đã trở nên rất quen thuộc với mọi Kitô hữu: Có một đám cưới ở làng Cana, có cả Chúa Giêsu, Đức Maria và các môn đệ của Chúa được mời đến dự. Tiệc đang giữa chừng thì rượu hết. Tưởng rằng gia đình nhà đám sẽ bối rối vô cùng. Chắc chắn cô dâu chú rể sẽ xấu hổ nhiều.

Đức Mẹ nhìn thấy nỗi lòng của họ, Người hiểu rõ tâm trạng khó xử của họ. Đức Mẹ đã lên tiếng, đã nói với Con mình: “Họ hết rượu rồi”. Lời nói này, đúng hơn chỉ là lời đề nghị, một cách nhắc nhở khéo, tế nhị chứ chưa hẳn là một lời cầu xin, một tiếng van nài.

Sau lời đề nghị của Đức Maria, Chúa Giêsu trả lời: “Tôi với Bà có can chi đâu, giờ tôi chưa đến”. Chúng ta thử diễn lại câu nói này:

– “Tôi với Bà có can chi đâu”: Chuyện họ hết rượu đâu có liên quan gì đến Con và Mẹ. Như mọi người, Con và Mẹ cũng chỉ là khách.
– Và điều quan trọng hơn: “Giờ của Con chưa đến”: Chưa phải là lúc Con làm phép lạ. Chưa phải là lúc Con chứng minh quyền năng Thiên Chúa của mình.

Một câu trả lời với hai lý do chắc như đinh đóng cột, rõ ràng là một lời từ chối. Và cũng rất rõ ràng, phép lạ sẽ không xảy ra. Nếu Chúa Giêsu dứt khoát khẳng định: “Giờ của con chưa đến”, làm sao phép lạ lại có thể có được?

Nhưng trước câu trả lời xem ra quá phủ phàng của Chúa Giêsu, thái độ của Đức Mẹ như thế nào? lúng túng chăng? Hay ngơ ngác vì không hiểu lời con mình? Hay Người bực bội vì trước mặt mọi người, con mình trả lời với mẹ bằng những lời cứng cỏi như thế?

Không đúng! Thái độ của Đức Maria rất lạ thường, đó là thái độ của một đức tin lớn: Đức Mẹ thật tự tin vào mình. Người như không quan tâm đến lời chối từ của Chúa. Nói cho đúng, thái độ của Đức Maria cũng mạnh không kém câu trả lời của Chúa: Đức Mẹ muốn cho thấy chức năng làm Mẹ của mình. Người không đôi co, thậm chí không nói với Chúa một câu nào nữa.

Nhưng liền sau câu nói của Chúa Giêsu, cũng chính là lúc Đức Mẹ quay sang những người giúp việc và nói với họ: “Hễ Người bảo gì thì phải làm theo”. Và câu nói này, một lần nữa cho thấy sự khôn ngoan của Đức Mẹ: Người thừa biết khả năng của Con. Và hình như Đức Mẹ còn đoán trước được Chúa sẽ phải làm gì. Chúa sẽ nghe lời Đức Mẹ. Chắc chắn, Chúa không để lời cầu nguyện của Người Mẹ mà mình hằng kính yêu phải rơi vào quên lãng, phải mất mọi giá trị.

Đức Mẹ có thế giá trong lời chuyển cầu của Người. Nói cách khác, bên cạnh Chúa Giêsu, Đức Mẹ là tiếng nói cho sự hữu hạn của con người. Sự lên tiếng của Đức Mẹ, không đơn thuần là sự cuộc nói chuyện giữa Mẹ và Con, nhưng còn là cuộc nói chuyện giữa Mẹ Nhân loại và Thiên Chúa: đại diện cho cả nhân loại, thấu hiểu nỗi lòng của người trần thế, để rồi đảm nhận vai trò trung gian, tiến cử cho trần thế trước tòa cao cả của Vua Trời.

Hình ảnh của Đức Mẹ sát bên nhân loại làm cho Người như Evà mới. Người là mẹ toàn thể nhân loại và là mẹ của từng người. Từ đó, Đức Mẹ cũng cho thấy mình bất lực trong và trước nỗi đau của con người. Dù giới hạn, nhưng đầy lòng tin, Đức Mẹ đã dâng lời cầu nguyện.

Bằng tấm gương của mình, Đức Mẹ dạy chúng ta hãy luôn trông cậy vào Chúa. Chúng ta hãy để Chúa thấu hiểu và làm chủ cả cuộc đời mình. Hãy chỉ có trong lòng ta một mình Chúa là lẽ sống, là sự cậy trông, là niềm tín thác mà thôi.

 

.

TIỆC CƯỚI CANA

Lm Giuse Đinh lập Liễm

A. DẪN NHẬP.

Chúa nhật hôm nay có liên quan đến lễ Hiển linh và lễ Đức Giêsu chịu phép rửa vì trong cả ba lễ đó, Đức Giêsu đều tỏ vinh quang của mình ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Chúa nhật 2 thường niên hôm nay thuật lại việc Đức Giêsu làm phép lạ biến nước thành rượu là có ý hé mở cho các môn đệ một chút vinh quang của Ngài, mặc dầu giờ của Ngài chưa tới, để củng cố niềm tin cho những môn đệ mới được kêu gọi. Đồng thời cũng loan báo cho mọi người biết, qua việc thiếu rượu và biến nước thành rượu, Ngài sẽ lập một đạo mới thay thế cho đạo cũ không còn hợp thời.

Ngoài ra, việc Đức Giêsu đến dự tiệc cưới vào những ngày đầu sứ vụ công khai minh chứng rằng Ngài rất quan tâm đến đời sống hôn nhân gia đình và Ngài sẽ lập bí tích hôn phối.

Sự hiện diện của Đức Mẹ trong tiệc cưới này cũng nói lên vai trò rất đắc lực trong việc cầu bầu cho chúng ta trước mặt Thiên Chúa. Hãy sống theo phương châm :”Per Mariam ad Jesum”.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

          +  Bài đọc 1 : Is 62,1-5.

Sau khi đi lưu đầy về, tiên tri Isaia ca ngợi vinh quang của Giêrusalem và đất thánh. Nhìn ngược về quá khứ, ta thấy Israel đã được Thiên Chúa yêu thương, được coi như hôn thê của Ngài, nhưng Israel đã bất trung, phải đi lưu đầy vì những lầm lỗi, Giêrusalem trở nên hoang tàn. Tuy vậy, Thiên Chúa vẫn không ngớt yêu thương và tha thứ.  Nay Thiên Chúa đưa Israel trở về, không còn bị người ta chế diễu là “đồ bị ruồng bỏ” và xứ sở không còn mang tiếng là “phận bạc duyên đơn”.

Bây giờ Giêrusalem hoan hỉ tưng bừng vì được thay đổi số phận, được Chúa yêu thương như người chồng rất mực yêu thương người vợ mới cưới, như tiên tri Isaia mô tả:”Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo nên ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui của chú rể, ngươi cũng là niềm vui của Thiên Chúa ngươi thờ (Is 62,5).

Lời tiên tri ấy đã được hoàn thành trong Đức Giêsu, Đấng đã thay thế trật tự cũ bằng trật tự mới. Điều này được tượng trưng bằng sự biến đổi nước thành rượu (Tin mừng).

          + Bài đọc 2 : 1Cr 12,7-11.

Thánh Phaolô thấy giáo đoàn Côrintô có sự chia rẽ, Ngài phải viết thư nhắc nhở họ.  Trong đoạn thư hôm nay, thánh Phaolô nhắc lại cho họ ba điểm :

1) Những ân huệ, những tài năng, những chức vụ thì đa dạng, nhưng tất cả đều do Chúa Thánh Thần ban.

2) Những ân huệ do Thánh Thần ban thì khác nhau nơi từng người, người được ơn này, người được ơn khác.

3) Nhưng tất cả những ân ban đó đều nhằm mục đích chung của Hội thánh là để phục vụ.  Việc Chúa ban cho Hội thánh nhiều ân sủng  chứng tỏ rằng Chúa hằng trung tín với Hội thánh, là hiền thê của Ngài.

          + Bài Tin mừng : Ga 2,1-11.

Bài Tin mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giêsu làm nước hoá thành rượu tại tiệc cưới Cana. Bài tường thật này không nhằm mô tả phép lạ hoá nước thành rượu mà nói lên “một dấu chỉ đầu tiên” qua đó, Đức Giêsu bầy tỏ vinh quang của Ngài để các môn đệ tin vào Ngài.

a) Đức Giêsu cho thấy Ngài là Đấng Thiên sai khai mở một thời kỳ hoan lạc mới cho nhân loại. Thánh kinh thường hay dùng hình ảnh tiệc cưới để chỉ thời hoan lạc Messia, và hình ảnh chú rể để chỉ Đấng Cứu thế, và hình ảnh chú rể để chỉ Đấng Messia. Theo nghi lễ, hôn phu phải cung cấp rượu (c. 10), trong trường hợp này, hôn phu bước đi và Đức Giêsu một cách kín đáo để thay thế ông. Với tư cách là hôn phu của nhân loại, chính Ngài cung cấp rượu.

b) Đạo cũ của người Do thái đã lỗi thời không còn thích hợp , Ngài đến thiết lập một đạo mới thay thế cho đạo cũ. Việc thiết lập đạo mới này được tượng trưng bằng việc biến sáu chum nước thành sáu chum rượu ngon. Rượu ngon mới này ám chỉ rằng tín ngưỡng cũ quá bám víu vào hình thức bề ngoài, nay không thích hợp nữa.

c) Tuy giờ vinh quang của Đức Giêsu chưa tới, nghĩa là vinh quang ấy chỉ được biểu lộ trên thập giá, nhưng vì có lới yêu cầu của Đức Maria, nên Ngài đã tỏ chút vinh quang cho các môn đệ thấy và người ta thấy trước qua việc Ngài làm phép lạ cho nước hóa thành rượu.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

I. TIỆC CƯỚI TẠI CANA.

  1. Diễn tiến tiệc cưới.

Vào ngày thứ ba tính từ khi rời Nazareth đến Galilê, tức là vào tuần đầu  đời công khai của Đức Giêsu, có một tiệc cưới ở Cana. Có lẽ tiệc cưới này là của bà con thân thuộc gì đó. Mẹ Đức Giêsu cũng được mời và đã đến đó trước rồi. Đức Giêsu và các môn đệ đầu tiên cũng được mời dự tiệc cưới đó.

Theo phong tục của người Do thái, có rất nhiều nghi lễ và cuộc vui kéo dài từ 3 đến một tuần lễ, tùy theo tài sản của đôi bên, và cuộc lễ thường đuợc tổ chức vào ban đêm. Trường hợp của bà goá tái giá thì chỉ trong ba ngày. Đám cưới này chắc hẳn của đôi tân hôn còn trẻ .

Đám cưới mà Đức Giêsu đến dự có lẽ là của một bậc khá giả vì cần nhiều nước dự trữ để làm lễ tẩy, lại thêm một viên quản tiệc tức là ngưới đứng đầu trông nom cỗ bàn. Thường thường thì người Do thái rất tiết kiệm, nhưng trong những dịp vui này người ta không ngại tốn kém, tổ chức cho linh đình để lấy tiếng cho gia đình mình. Trong tiệc vui như thế này người ta không ăn uống bình thường như mọi ngày mà có thể nói được người ta “nhậu nhẹt”, chén tạc chén thù, có thể đi đến say sưa. Có lẽ chính vì đó mà xẩy ra cảnh “hết rượu”. Chủ nhà đó đã tính hụt. Điều này làm cho gia chủ và những người phục vụ rất lo lắng vì đang bữa tiệc mà hết rượu thì cả là một sự xấu hổ và nhục nhã cho gia đình.

Đứng trước cảnh lúng túng của gia chủ, Đức Maria đã có cách tháo gỡ thế bí cho gia chủ : Ngài nhờ Đức Giêsu giúp đỡ. Ngài âm thầm từ dưới bếp đi lên, ghé vào tai Đức Giêsu mà nói nhỏ :”Họ hết rượu rồi”. Một lời gợi ý có tính cách van xin và đầy tin tưởng.

Đức Giêsu có phản ứng ngay và có tính cách lạnh nhạt:”Tôi với bà có can chi đâu, giờ tôi chưa đến”. Tiếng Việt nam và thói tục Việt nam nói như thế không có gì khó nghe cả. Những chàng thanh niên nhất là có địa vị, hay khi đã có gia đình và có con, khi nói với mẹ mình trước mặt một số người thường cũng hay dùng chữ “bà” với chữ “tôi”. Đối với người Việt nam, dùng chữ “bà” và “tôi” cũng vẫn thân mật. Tuy câu trả lời của Đức Giêsu có vẻ từ chối nhưng thực tế ai cũng hiểu lời ấy vẫn ngầm chứa sự đồng ý.

Giờ của Chúa tuy chưa tới, nhưng trước lời cầu xin của Đức Mẹ thì việc làm phép lạ phải đến trước “giờ” : 6 chum nước chứa được từ 800 đến 1200 lít  đã biến thành rượu ngon. Đức Giêsu đã làm phép lạ đầu tiên để cứu đôi tân hôn khỏi khổ nguy trong ngày đầu hết đời sống hôn nhân, dầu chưa đến giờ của Ngài. Điều đó chứng tỏ Đức Giêsu rất quan tâm đến đời sống hạnh phúc của hôn nhân.

  1. Ý nghĩa tiệc cưới.

Phép lạ ở Cana liên kết Chúa nhật này với ngày lễ Hiển linh và lễ Đức Giêsu chịu phép rửa – tất cả là sự biểu lộ vinh quang của Ngài. Nếu chúng ta hiểu phép lạ ở Cana theo nghĩa đen, chúng ta sẽ giản lược nó thành một điều kỳ diệu chỉ trong nháy mắt là xong và giới hạn ý nghĩa của nó.

Thánh Gioan đã có dụng ý dùng từ “dấu lạ đầu tiên” để chỉ ý nghĩa sâu xa của nó và nó có giá trị trong mọi thời đại. Trong nỗ lực mô tả mối quan hệ giữa Thiên Chúa với dân Người, Kinh thánh dùng hình ảnh của hôn phu và hôn thê. Và để mô tả niềm vui mà Thiên Chúa tìm thấy ở giữa dân Người, Thiên Chúa dùng hình ảnh tiệc cưới.

Bài đọc 1 gợi lên cho chúng ta ý tưởng : dân Israel là hôn thê của Thiên Chúa đã bất trung, phải bị lưu đày, nhưng hôn phu của nàng là Thiên Chúa đã không quên nàng. Sẽ có một tiệc cưới mới. Thiên Chúa sẽ phục hưng dân Ngài.  Lời hứa này đã được thực hiện khi dân chúng trở về từ chốn lưu đầy, nhưng đặc biệt hơn khi Đức Giêsu đến. Người ta không ngạc nhiên khi thấy Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ công khai ở một tiệc cưới. Ở tiệc cưới ấy, người ta thiếu rượu. Cách nói này muốn ám chỉ tôn giáo cũ, giao ước cũ vẫn còn thiếu sót. Đã đến lúc mọi lời hứa phải đuợc thực hiện, cũng là thời kỳ của luật mới và tinh thần mới.  Điều Đức Giêsu đã thực hiện ở Cana không phải là một việc làm hời hợt, nó nói lên điều phải xẩy ra trong suốt sứ vụ của Ngài. Hoá nước thành rượu là một biểu tượng của việc Ngài cần phải thực hiện.  Bất cứ nơi nào Ngài đến, cái cũ được trở thành cái mới (McCarthy).

Đức Giêsu hiện diện trong tiệc cưới để cùng cảm thông niềm vui của con người, đồng thời cũng là dịp để Chúa thu phục niềm tin của các môn đệ mới theo Ngài.

Đối với việc Đức Giêsu và Đức Maria đi ăn cưới thì điều này rất bình thường trong cuộc sống của con người. Nhưng lần này khi đến tham dự tiệc cưới và thực hiện phép lạ hoá nước thành rượu, Đức Giêsu muốn nói lên mối quan tâm của Ngài đối với gia đình. Trong tiệc cưới này Ngài đã cứu cho gia đình nhà chủ tiệc một bàn thua hết rượu và để cho cuộc vui không bị gián đoạn. Như vậy, Đức Giêsu đặc biệt quan tâm đến đời sống gia đình. Ngài muốn làm nổi bật về vai trò của gia đình, nhất là tính bền vững của gia đình Công giáo. Đứng trước những khó khăn của cuộc sống gia đình, Chúa vạch ra một đuờng lối để cho gia đình luôn được êm ấm, hạnh phúc.

II. TIỆC CƯỚI VÀ HÔN NHÂN.

  1. Đức Giêsu lập bí tích hôn nhân.

Đức Giêsu đến dự tiệc cưới Cana là dấu chỉ Ngài sẽ lập bí tích hôn nhân sau này, Ngài quan tâm đến đời sống gia đình và chúc phúc cho hôn nhân.

Tại sao lại có hôn nhân ? Thánh Gioan Tông đồ nói:”Thiên Chúa là tình yêu”. Ngài là nguồn gốc của tình yêu, Ngài san sẻ tình yêu cho con người để họ yêu Ngài và yêu nhau. Vì thế ai cũng có tình yêu : trẻ con thì yêu cha mẹ, anh chị em, lớn lên thì có tình yêu nam nữ. Tình yêu luôn hướng đến sự kết hợp. Do đó, tình yêu nam nữ dẫn đến hôn nhân.

Hôn nhân là một hành vi tự nhiên và có tính cách nhân linh. Sở dĩ nói hôn nhân có tính cách nhân linh là vì con người không chỉ đến kết hợp với nhau do bản năng mà còn do sự suy nghĩ lựa chọn , tự do : tự đặt câu hỏi có nên kết hôn chăng, kết hôn với ai, vào lúc nào…

Mọi cuộc hôn nhân không phải phát xuất từ con người mà từ Thiên Chúa. Nói cách khác, Thiên Chúa đã tạo dựng con người có nam có nữ và cho họ kết hợp với nhau. Chính Đức Giêsu đã nói:”Vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”(Mc 10,8-9).

Ta cần phân biệt hai loại hôn nhân : hôn nhân tự nhiên và hôn nhân theo bí tích .  Những người ngoại giáo lấy nhau theo hôn nhân tự nhiên, đó là điều tốt và Chúa chúc lành cho họ. Chúng ta là những người công giáo, phải ý thức rằng Đức Kitô đã thiết lập bí tích hôn nhân, nên ngoài hôn nhân tự nhiên ra, chúng ta còn phải cử hành bí tích hôn phối theo bí tích để chính thức nên vợ nên chồng.

Hôn nhân theo bí tích có hai đặc tính : đơn hôn và vĩnh hôn. Đơn hôn là hôn phối một vợ một chồng, không chấp nhận chế độ đa thê hay đa phu. Còn vĩnh hôn là không được ly dị. Hai đặc tính này được trích ra từ Lời Chúa:”Cả hai sẽ thành một xương một thịt”(Mc 10,8) và “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”(Mc 10,9)

  1. Nền tảng của hôn nhân.

Chúng ta phải khẳng định rằng tình yêu la ønền tảng của hôn nhân. Chúng ta không thể xây dựng hôn nhân trên nền tảng khác như chức quyền, danh vọng, tiền của, sắc dục, những thứ đó dễ bị mai một và nếu không còn những thứ đó thì hôn nhân sẽ ra sao ? Vì thế, muốn đi đến hôn nhân phải có tình yêu trước đã. Đây là điều kiện tiên quyết “sine qua non”(không có không được), đúng như ông Alphonse Karr nói:”Hôn nhân không có tình yêu là ngày không có rạng đông”. Nếu mới gặp nhau lần đầu, anh A đã yêu chị B một cách say đắm. Anh không còn tìm hiểu làm gì, anh nói với cha mẹ cho cưới chị B. Anh cho là hai người tâm đầu ý hợp. Đấy chưa hẳn là tình yêu có nền tảng mà chỉ là “tiếng sét ái tình”.

Hoặc một anh tỷ phú muốn chọn cho mình một người vợ lý tưởng. Anh ta dùng máy móc để đo vòng ngực, vòng eo và vòng mông đúng tiêu chuẩn. Thêm vào một chút là cái mũi dọc dừa hơi cao, tóc mầu hung, con mắt lá răm, lông mày lá liễu… Anh coi vậy là người yêu lý tưởng ! Nhưng đấy đâu phải là người yêu mà chỉ là một con “robot”.

Muốn trở thành người yêu còn phải tìm hiểu tính tình, ước vọng, nghề nghiệp, sở trường sở đoản, gia đình của cô ta vì “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Sau đó, anh còn phải quyết định xem có nên lấy cô ấy không vì chưa nắm vững tương lai. Khi đã có một quyết định đứng đắn và dứt khoát thì phải nói đến sự  “dấn thân” (engagement). Khi đã nói đến dấn thân thì luôn ngầm chứa một chút “liều” trong đó :

Một liều ba bảy cũng liều

Cầm bằng con trẻ chơi diều đứt dây.

(Ca dao)

Khi đã kết hôn thì vợ chồng phải thương yêu nhau tha thiết. Tình yêu vợ chồng phải noi theo và nắm giữ là theo mô hình của tình yêu giữa Chúa Giêsu và Hội thánh:”Nguời làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô thương yêu Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh”(Ep 5,25).

  1. Hạnh phúc của hôn nhân.

Con người từ bẩm sinh, ai cũng muốn được hạnh phúc, kể cả người tự tử (theo Pascal). Nhưng hạnh phúc không phải là một cái gì tiền chế có sẵn đấy, muốn chọn bao nhiêu hay muốn mua bao nhiêu thì mua, nhưng hạnh phúc phải là cái gì do con người tạo ra. Hôn nhân thực ra chỉ là một cái hộp rỗng, chưa có hạnh phúc, phải bỏ gì vào đấy rồi mới lấy ra được vì nếu không bỏ hạnh phúc vào thì có gì mà lấy ra ? Hạnh phúc không phải tự nhiên mà có hay do người khác tặng cho mà hạnh phúc phải được trả bằng giá đắt.

Có nhiều cách để đạt tới hạnh phúc. Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến 3 phương cách tạo ra hạnh phúc : hy sinh,  nhẫn nhục và thánh thiện.

a) Tinh thần hy sinh.

Không có tình yêu nào chỉ toàn mầu hồng, bay lượn trên không, mà tình yêu phải được dệt bằng hy sinh, đau khổ , gian nan , thử thách vì không có hoa hồng nào mà không có gai. Càng hy sinh nhiều, tình yêu càng sâu đậm, và hy sinh tỷ lệ thuận với hạnh phúc. Ông Chamfort nói:”Muốn thử nghiệm tình yêu, hãy bỏ tình yêu vào máy ép, nếu nó tiết ra chất nước hy sinh vô vị lợi, thì đó là tình yêu thật”. Một người vợ dấn thân theo chồng đã hy sinh tất cả để mưu cầu hạnh phúc cho gia đình, đã tâm sự :

Một ngày ba bận trèo non,

Lấy gì mà dòn mà đẹp hỡi anh.

Một ngày ba bận trèo đèo

Vì ai vú xếch, lưng eo hỡi chàng ?

(Ca dao)

b) Nhẫn nhục chịu đựng.

Bà De Scudéry nói:”Bắt đầu yêu là bắt đầu sống”, nhưng có người nói ngược lại : Bắt đầu yêu là bắt đầu chết. Vậy yêu là sống hay là chết ? Có lẽ chúng ta phải nói : yêu vừa là sống vừa là chết.  Nhưng muốn cho tình yêu được trọn vẹn, bao giờ cũng phải nhịn nhục chịu đựng. Tại sao?

* Đã yêu thì phải chết :

“Yêu là chết trong lòng một ít” (Xuân Diệu)

Đã yêu thì phải chết, không chết trước thì chết sau :

– Chết trước : chết trước là phải nhẫn nại chờ đợi cho đến ngày kết hôn, phải giữ mình được trinh tiết :

Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ,

Đôi ta trinh tiết để chờ lấy nhau.

(Ca dao)

– Chết sau : Trong cuộc sống gia đình sẽ có sự lộn xộn, xích mích , va chạm, bất hòa, không thể nào tránh được cảnh “cơm chẳng lành canh chẳng ngọt”. Bao nhiêu sự khó khăn xẩy đến cho gia đình mà hai người phải kiên trì chịu đựng.

* Đã yêu thì phải nhẫn nhục :

Chúng ta có thể nói về tình yêu thật :

Đã yêu thì nhẫn

Đã nhẫn thì nhục

Vì thế mới có Nhẫn nhục.

Chữ nhẫn ở đây không phải là nhẫn vàng hay kim cương mà là nhẫn nại chịu đựng. Chúng ta phải chấp nhận sự nhẫn nại, đã nhẫn thì phải nhục, nhưng chắc chắn sẽ đi đến kết quả tốt:”Ai kiên nhẫn đến cùng thì sẽ được rỗi”(Mt 10,22).

Vì thế văn hào Hypolite Taine nói một cách mỉa mai :

“Người ta tìm hiểu nhau ba tuần

Yêu nhau ba tháng

Cãi nhau ba năm

Rồi chịu đựng 30 năm… để con cái lại trở về cái vòng luẩn quẩn”.

c) Đời sống thánh thiện.

Chìa khoá mở cửa vào chốn hạnh phúc là sự thánh thiện. Nếu vợ chồng yêu thương nhau như mối tình giữa Chúa Kitô và Hội thánh thì chắc chắn phải có đời sống thánh thiện.  Phải rước Chúa vào trong đời sống gia đình. Bài Tin mừng hôm nay chứng tỏ chính nhờ Chúa mà gia đình ở Cana này không vỡ mộng hạnh phúc. Không có Chúa, làm sao gia đình tránh khỏi sự đau khổ phiền muộn lúc ban đầu.

Nhà nào có Chúa ngự trong gia đình thì nhà ấy có hạnh phúc. Kinh nghiệm cho hay những gia đình nào hay đi dự lễ, buổi tối đọc kinh trong gia đình thì gia đình ấy thường là sống yêu thương, nhường nhịn, thuận hoà, giúp đỡ nhau, họ vẫn cảm thấy hạnh phúc ngay khi gặp những khó khăn trong gia đình. Một trong các tiêu chuẩn hàng đầu phải có trong khi chọn người yêu để lập gia đình là sự thánh thiện, hay ít ra có đời sống đạo đức bình thường.

Truyện :  Sẩy hết.

Có một chị kia muốn lập gia đình với một anh thanh niên trong xứ. Muốn hỏi ý kiến cha xứ xem chị ta có nên lấy anh ấy không.

Cha hỏi :

– Anh ấy thế nào ?

Chị thưa :

– Anh ấy có bằng Thạc sĩ, cha ạ.

Cha xứ trả lời :

– Hết sẩy. Còn gì nữa ?

– Anh ấy chơi dương cầm hay lắm.

– Hết sẩy.

– Anh ấy là hoạ sĩ nữa.

– Hết sẩy !

– Anh ấy lại có tài ngoại giao nữa.

– Hết sẩy !

– Anh ấy lại là con nhà giầu nữa .

– Hết sẩy.

– Nhưng còn một điều con hơi thắc mắc, đó là anh ta khô khan, không xưng tội rước lễ !.

Cha xứ trợn mắt, lắc đầu :

– Ồ ! SẨY HẾT.

III.  TIỆC CƯỚI VÀ ĐỨC MARIA.

“Người bảo gì thì cứ làm theo”. Mặc dầu câu trả lời của Đức Giêsu có vẻ từ chối:”Giờ con chưa đến”, nhưng Mẹ Maria cứ tin rằng, Con mình sẽ thực hiện theo lời yêu cầu của mình nên đã nói với gia nhân :”Người bảo gì cứ làm theo”. Đức Mẹ biết Con mình rất hiếu thảo, không bao giờ làm buồn lòng cha mẹ. Do đó, khi đề xuất việc hết rượu với Con mình, Đức Mẹ tin chắc Con mình sẽ can thiệp, dĩ nhiên bằng phép lạ, dù trước đó Ngài chưa từng làm.

Điều này cũng nói lên giá trị thật sự trong lời bầu cử của Đức Mẹ đối với Con mình. Nói đến việc con cái hiếu thảo đối với cha mẹ, chúng ta liên tưởng đến một người con rất hiếu thảo, qúi trọng mẹ mình, không bao giờ muốn làm buồn lòng mẹ mình, đó là vua Salomôn trong Cựu ước. Trong sách Các vua có thuật lại khi mẹ của Salomon đi gặp ông, ông đi ra đón và sấp mình chào bà ; đoạn ông ngồi trên ngai, đồng thời truyền đặt một ngai cho bà ngồi bên hữu, và nói:”Thưa mẹ, mẹ cần gì cứ nói, con không từ chối mẹ điều gì”( 1V 2,19-20).

Mẹ Maria có mặt trong tiệc cưới không phải là sự ngẫu nhiên mà do sự quan phòng của Thiên Chúa. Ngày nay Mẹ đang có mặt trong cuộc sống gia đình chúng ta. Mẹ cùng chia sẻ nỗi lo với mọi người chúng ta. Mẹ biết những khó khăn mà gia đình chúng ta đang gặp phải. Mẹ hiểu gia đình chúng ta đang thiếu những gì và cần gì. Mẹ đón nhận cái khổ của các gia đình như là cái khổ của mình. Chính vì thế khi cuộc sống gia đình gặp sóng gió, chúng ta tìm đến với Mẹ Maria. Mẹ sẵn sàng làm những gì có thể để giúp gia đình chúng ta như năm xưa Mẹ đã báo cho Chúa biết việc hết rượu.  Nhờ Mẹ cầu bầu, Chúa lại sẽ làm phép lạ để cho rượu yêu thương trong hũ của gia đình chúng ta được đầy tràn (JKN).

Truyện :  Xin tài trợ.

Linh mục Sylvano và mục sư Tin lành Henri cùng nhau đến lâu đài Pa-xi-an để xin hoàng tử trợ giúp tài chính cho dự án của mình.

Linh mục Sylvano có ý định xin tiền để xây nhà thờ. Còn mục sư Henri thì xin tiền để xây trường học.

Đến nơi, họ được hoàng tử Auguste tiếp kiến riêng từng người một. Người được vào trước là mục sư Henri. Nhưng chỉ vài phút sau người ta thấy mục sự bước ra với vẻ mặt buồn thiu, vì dự án không được hoàng tử chấp nhận.

Mục sư ngồi lại chờ linh mục Sylvano để cùng về chung. Ông hết sức ngạc nhiên khi thấy linh mục bước ra khỏi phòng tiếp kiến của hoàng tử, vẻ mặt hớn hở, tay xách một túi tiền khá nặng. Mục sự Henri liền thắc mắc hỏi :

– Tại sao linh mục lại được tài trợ như thế ?

Linh mục Sylvano trả lời :

– Dĩ nhiên đúng như vậy. Thoạt đầu hoàng tử chối từ lời xin của tôi. Nhưng khi nhìn qua bên cạnh thấy có hoàng thái hậu, tôi liền đến trước hoàng thái hậu để xin  ngài bầu cử cho. Và hoàng tử đã đổi ý kiến, nghe lời khẩn cầu của hoàng thái hậu mà tài trợ cho dự án của tôi. Hoàng tử đã thưa với mẹ:”Mẹ đồng ý thì con cũng đồng ý”(D. Wahrheit, Món quà giáng sinh, 79-80).

“Mẹ đồng ý thì con cũng đồng ý”. Đó là điều mà câu chuyện trên đây muốn nhắc nhở.

Người công giáo chúng ta có lòng tôn sùng Đức Mẹ Maria. Chúng ta đến với Chúa Giêsu qua Mẹ Maria. Mẹ khẩn cầu cho chúng ta và cùng với chúng ta thì làm sao Chúa Giêsu có thể từ chối.

 

.

PHÉP LẠ ĐẦU TIÊN

Lm, Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

Thưa anh chị em,

Trong những ngày đầu tiên thi hành sứ vụ rao giảng Tin mừng, có đôi tân hôn đã mời Đức Giêsu và các môn đệ của Ngài đi dự tiệc cưới ở thành Cana. Việc cưới hỏi thời Đức Giêsu là một việc hệ trọng, và niềm vui tiệc cưới kéo dài có khi đến cả tuần lễ, nên việc thiếu rượu thì cũng dễ hiểu thôi.

Thực tế mà nói, mỗi đôi vợ chồng thường thiếu một cái gì đó vào một lúc nào đó trong đời sống gia đình. Chẳng hạn như:  thiếu kiên nhẫn, thiếu tha thứ, thiếu thông cảm… và đôi khi thiếu ngay cả tình yêu, như giữa bữa tiệc thiếu rượu vậy. Thực ra tình trạng thiếu thốn, khiếm khuyết là thực tại về thân phận con người nhân vô thập toàn, nhưng điều quan trọng là chúng ta giải quyết vấn đề đó như thế nào thôi.

Sai lầm mà các đôi vợ chồng thường hay mắc phải là không cầu xin Chúa giúp giải quyết vấn đề, mà cứ giải quyết theo chủ quan của mình, thường thì không đem lại kết quả gì. Một vị Giám mục hỏi các bạn trẻ: “Chúng con có biết điều thiếu sót mà đôi tân hôn đã thiếu đó là gì không? Và Ngài trả lời: Đó là khi tổ chức tiệc cưới, đôi tân hôn mời tất cả nào là bà con hai họ, mời bạn bè thân hữu xa gần, mời luôn dàn nhạc, mời đủ mọi thành phần, chỉ trừ Chúa Giêsu là không có trong danh sách được mời, đó là điều thiếu sót lớn của đôi tân hôn”.

Nếu không mời Chúa đến hiện diện trong gia đình, thì đời sống vợ chồng khó lòng trung thành với nhau trọn tình vẹn nghĩa thủy chung được, nhất là khi rượu tình đã vơi cạn.

Ngày hôm nay, người ta dạy nhiều kỹ năng xây dựng hạnh phúc gia đình, nào là làm sao cho hấp dẫn được chồng mình, nào là kỹ thuật làm sao cho nhà mình lúc nào cũng cảm thấy ấm áp…. nhưng rất tiếc người trẻ ngày nay họ quan niệm một thứ tình yêu được đồng hoá với cảm súc, nó nồng nàn, dạt dào hấp dẫn lắm, nhưng rồi cũng chóng tàn. Bởi vì tình yêu được đồng hoá với hưởng thụ, khi họ cảm thấy nhàm chán thì bảo là không hợp tính nhau, tình đã cạn sau đó dẫn đến chia tay.

Vậy, nếu muốn chum rượu tình yêu luôn đong đầy hạnh phúc, thì cần có cố vấn và cần có ơn Chúa. Bởi vì, đâu phải lúc nào ta cũng sáng suốt, nhất là khi gặp vấn đề. Tục ngữ có câu: “Việc người thì sáng, việc mình thì quáng”. Đôi tân hôn trong Tin mừng hôm nay đang nhởn nhơ vui say, đâu biết tai họa xảy ra là hết rượu, nhưng nhờ sự hiện diện của Mẹ Maria. Mẹ là người cố vấn tuyệt vời, vừa tinh tế vừa kín đáo và hữu hiệu, đã cứu được đôi tân hôn khỏi chuyện không may xảy ra.

Mẹ Maria đúng là người Mẹ của lòng thương xót, với ánh mắt quan tâm và tình mẫu tử nhạy bén trước nhu cầu của người khác. Mẹ thấy nhà đám lo lắng vì thiếu rượu, Mẹ tin rằng Con của Mẹ sẽ làm được việc này nên đến ngỏ lời với Đức Giêsu: “Con ơi! Nhà này hết rượu rồi”. Mặc dù giờ của Ngài chưa đến, nhưng Đức Giêsu đã chiều theo ý Mẹ Ngài, tỏ hiện vinh quang của Ngài để các môn đệ tin. Giờ mà Đức Giêsu muốn tỏ ra chính là giờ thi hành thánh ý Chúa Cha, khi Ngài treo trên cây Thập giá, chấp nhận cái chết đau thương và sự sống lại vinh hiển.

Nhờ sự quan tâm của Đức Mẹ mà sáu chum nước lã đã biến thành rượu ngon, để niềm vui của đôi tân hôn và khách dự tiệc được trọn vẹn. Như vậy, trong đời sống gia đình cần có những cố vấn khôn ngoan tế nhị và kín đáo như Mẹ Maria.

Tiếp đến cần có ơn Chúa. Dù gia nhân có múc nước, dù Đức Mẹ có tận tình khuyên nhủ, nhưng nếu Chúa Giêsu không can thiệp, nước lã không thể biến thành rượu ngon.

Cũng thế, đời sống gia đình dù có cố gắng sống đẹp lòng nhau, dù có nhiều thân nhân bạn bè giúp đỡ, gia đình cũng khó giữ được hạnh phúc nếu không có ơn Chúa giúp.

Phép lạ nước lã hóa thành rượu ngon hôm nay, dạy chúng ta cách giữ hạnh phúc gia đình. Trước hết, phải cầu nguyện. Đức Mẹ đã thay đôi tân hôn cầu nguyện với Chúa để xin Ngài thương giúp.

Giáo dân Châu Âu xưa kia có câu tục ngữ: “Nếu bạn đi du lịch bằng đường bộ, bạn hãy đọc một kinh Kính Mừng. Nếu bạn đi du lịch bằng đường biển, bạn hãy đọc hai kinh Kính Mừng, nhưng nếu bạn đi cưới vợ, lấy chồng, bạn hãy đọc một trăm kinh Kính Mừng”. Phải, đời sống hôn nhân gia đình đâu phải là một chuyến du lịch mà là cả một cuộc hành trình đến mãn đời.

Anh chị em thân mến,

Nơi tiệc cưới Cana, Đức Mẹ chẳng những nêu gương cho chúng ta trong đời sống cầu nguyện, nhưng còn dạy chúng ta tin vào quyền năng Chúa nữa.

Mẹ dạy chúng ta hãy tin thật Chúa Giêsu ngự trong Bí tích Thánh Thể, như xưa nghe lời thiên thần truyền, thì Mẹ tin bào thai trong lòng mình là con Thiên Chúa.

Mẹ bảo chúng ta hãy làm điều Chúa dạy. Như xưa tại tiệc cưới Cana, Mẹ bảo các gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ làm theo”. Đức Giêsu bảo họ: “Hãy đổ nước đầy các chum”. Nhờ họ làm theo điều Chúa dạy, mà Chúa làm phép lạ hoá nước thành rượu ngon.

Ngày nay, Mẹ nói với mỗi người chúng ta: Lời Chúa đã dạy: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Thì mỗi lần cử hành Bí tích Thánh Thể. Hãy vững tin vào quyền năng Chúa, Đấng đã biến nước lã thành rượu ngon, thì cũng biến bánh và rượu trở nên thịt máu Ngài nuôi dưỡng linh hồn chúng ta. Amen.

 

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN_C

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

Kính thưa anh chị em

Trong suốt mấy Chúa nhật liên tiếp vừa qua tôi đã nói với anh chị em rất nhiều về Chúa Giêsu. Hôm nay tôi muốn anh chị em nhìn vào Đức Giêsu như một Đấng có uy quyền.

A. TRÌNH BÀY SỰ KIỆN

Khung cảnh Chúa chọn để biểu lộ uy quyền của Người ra hôm nay là một khung cảnh có tính cách xã hội loài người: Một bữa tiệc cưới. Đám cưới mà Tin Mừng ghi lại hôm nay xẩy ra tại Cana, cách quê hương Nagiareth của Chúa khoảng 14 cây số.

Chúa Giêsu và Đức Mẹ đều có mặt trong tiệc cưới này.

Đám cưới của người Do Thái thường kéo dài 3-4 ngày. Có khi kéo dài cả một tuần.

Vì là một xứ trồng nho nên người Do thái có nhiều rượu nho. Trong các bữa tiệc và đặc biệt là trong những bữa tiệc có tính cách quan trọng như tiệc cưới thì rượu là một thứ bắt buộc phải có và có một cách dồi dào.

Chúng ta không biết đám cưới bài Tin Mừng hôm nay kể lại đã chuẩn bị như thế nào nhưng chỉ biết là bữa tiệc vui đang nửa chừng thì hết rượu. Mà hết rượu giữa một bữa tiệc vui như thế đối với người Do thái là một điều ô nhục không thể tha thứ được.

Tin Mừng không cho chúng ta biết cô dâu và chú dể có biết sự việc này hay không nhưng Tin Mừng cho chúng ta biết thật rõ sự can thiệp của Đức Mẹ.

Khi khám phá ra sự việc có thể gây nên sự ô nhục cho đôi tân hôn giữa ngày vui của họ như thế, Đức Mẹ đã đến ngay với Chúa Giêsu. Chỉ bằng một vài lời Đức Mẹ đã cho Chúa biết sự việc đang diễn ra rất xấu cho đôi tân hôn.

Thoạt đầu thái độ của Chúa xem ra có vẻ thật lạnh nhạt. Thế nhưng hình như Đức Mẹ không để ý đến điều đó.

Thời giờ không cho phép trần chừ. Đức Mẹ ra lệnh cho những người giúp việc: “Người bảo gì thỉ phải làm theo”

Và quả thực Chúa đã ra lệnh. Nước được đổ đầy các chum – và khi múc nước đưa cho người quản tiệc – nước đã hóa thành rượu. Thật là tuyệt vời.

Và thánh Gioan tác giả của bài Tin mừng hôm nay không quên ghi chú cho chúng ta biết một chi tiết rất nhỏ nhưng cũng rất đặc biệt này: Đây là Pháp lạ đầu tiên Chúa Giêsu đã làm tại Cana xứ Galilêa và các môn đệ Người đã tin Người. Đây không phải là một ghi chú có tính cách ngẫu nhiên nhưng là một ghi chú có dụng ý như tôi sẽ trình bày cùng anh chị em sau đây.

B- BÀI HỌC

Bài học có nhiều nhưng tôi chỉ xin được chia sẻ với anh chị em hai bài học này:

1. Các nhà chú giải Kinh Thánh cho rằng với Phép lạ Chúa thực hiện vào lúc khởi đầu cuộc đời công khai của Người hôm nay Chúa có ý muốn chuẩn bị xa cho một Phép lạ còn vĩ đại hơn mà Chúa sẽ làm sau này vào cuối cuộc đời công khai của Ngài. Chắc anh chị em đã biết đó là Phép lạ nào. Đó là Bí tích Thánh thể.

Hôm nay trong bữa tiệc Chúa làm cho nước trở thành rượu.

Vào ngày thứ năm tuần thánh cũng trong một bữa tiệc Chúa làm cho bánh trở thành mình và rượu trở thành máu Ngài

Việc làm cho nước trở thành rượu trong bài Tin Mừng hôm nay quả là một bước nhảy vọt. Chỉ cần bằng một lệnh truyền Chúa làm cho nước lập tức trở thành rượu không cần phải qua bất cứ một trung gian hay một chất xúc tác nào. Hôm nay thì như vậy, mai sau cũng như thế. Cũng bằng một lệnh truyền Chúa làm cho bánh rượu trở thành Mình và Máu thánh Chúa cũng không qua bất cứ một trong gian và không cần qua một chất xúc tác nào. Đây quả là một bước nhảy vọt phải được hiểu bằng niềm tin chứ không thể hiểu được bằng lý trí thông thường của con người.

Chúng ta hãy cám ơn Chúa. Nhưng việc Chúa làm thật lạ lùng, …thật khó hiểu nhưng nhưng lại rất thật cho những ai biết tin tưởng vào Người. Hôm nay trong thánh lễ: cũng lại là một bữa tiệc. Bữa tiệc nước trời. Đi dự tiệc mà không ăn không uống thì có lẽ việc đó không bình thường. Chúng ta hãy đến với Chúa. Chúa chính là lương thực cho chúng ta.

2.  Bài học thứ hai: Vai trò và địa vị của Đức Mẹ trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Ở đầu Lịch sử của loài người trong Sáng Thế Ký chúng ta đã thấy hình ảnh của một người phụ nữ xuất hiện và rồi trong Khải Huyền cuốn sách cuối cùng trong bộ Kinh Thánh chúng ta lại thấy Mẹ có mặt nhưng không phải trong dáng vẻ khổ đau mà như một hoàng hậu mặc áo mặt trời chân đạp vầng trăng đầu đội triều thiên 12 ngôi sao. Từ sự việc dó chúng ta có thể đi đến một hệ luận: Đức Mẹ luôn có mặt trong toàn bộ lịch sử của loài người và uy quyền của Đức Mẹ thật lớn lao: Đạp dập đầu con rắn tức là Satan để cùng với con của Mẹ đưa Lịch sử ơn cứu độ đến chỗ toàn thắng vinh quang.

Cha J.B Bonsoli người Italia sang Ấn độ để truyền giáo. Suốt 20 năm Ngài đã rửa tội cho 20.000 người. Trong một chứng từ viết năm 1975 Ngài có kể lại một sự kiện như sau: Hôm đó tôi rời cứ điểm truyền giáo Đam-ma để đi một vòng bằng xe đạp. Khi đi được khoảng 30Km thì tôi bị lạc vào một khu rừng. Càng đi vô thì cây cối càng rậm rạp.Tôi vừa đi vừa sợ nhất là khi nghe thấy những tiếng hú của những con báo.

Trời đã gần tối tôi thầm cần nguyện xin Đức Mẹ giúp tôi. Đi thêm khoảng 5Km nữa thì tôi thấy có một con đường nhỏ, tôi liền rẽ vào con đường này. Đi được khoảng vài trăm mét thì tôi thấy có một ngôi nhà lụp xụp, tồi tàn.

Tôi cho xe dừng xe lại, dựng xe bên cạnh một gốc cây rồi lên tiếng hỏi: “Có ai trong nhà không? “

Có tiếng nói từ trong nhà nói vọng ra: “Có nhưng xin ông đừng bước vào vì tôi bị bệnh hủi”

Mặc dầu biết như vậy nhưng tôi vẫn bước vào. Trước mặt tôi là một người đàn ông đang nằm co quắp lại vì đau đớn. Hỏi ra mới biết trước kia người này là một ông thầy cúng. Rồi trong sự thân tình hiếm có người này nói với tôi về phép Rửa tội. Ông còn quả quyết: “Con biết là con phải lãnh Bí tích Rửa tội.”

– Làm sao mà ông biết được điều đó? Ai đã nói với ông như vậy? Có phải là một giáo lý viên không?” Tôi hỏi lại.

Ông đáp :”Cách đây hai tháng có một bà mặc áo đẹp lắm vào căn nhà này và nói với con: Con chịu đau khổ nhiều nhưng con đừng nản. Ta sẽ sai một người đến thăm con và đổ nước rửa tâm hồn con và ta sẽ đem con về trời”

Tôi đưa tay vào túi áo rút mẫu ảnh Đức Mẹ phù hộ ra đưa cho ông ấy xem. Vừa nhìn thấy ông đã kêu lên: “Đúng rồi. Đúng là bà này. Chính bà đã đến thăm con hai tháng trước đây”

Chắc chúng ta đã biết được câu truyện kết thúc đẹp như thế nào.

3. Khi nói về người mẹ thi hào Tagore đã viết: con là vầng trăng mẹ là mây. Mây ôm lấy cả vầng trăng. Con như bờ cát, mẹ là sóng nước. Sóng nước trào lên làm mát bãi cát trong nắng khô.

Chúng ta hãy dành cho Đức Mẹ một chỗ trong cuộc đời của ta. Có Đức Mẹ thì sẽ có Phép lạ.

Cuộc đời sẽ có lúc vui như ngày cưới: Hãy dành cho Đức Mẹ một chỗ ở đó.

Cuộc đời có những lúc thảm bại như ở đỉnh đồi Golgotha.

Cũng hãy dành cho Đức Mẹ một chỗ ở đó.

Lạy Mẹ Maria, khi đọc Phúc Âm,

Có Đức Mẹ ở cùng thì niềm vui sẽ trọn vẹn.

Có Đức Mẹ bên cạnh thì cô đơn sẽ lùi xa.

Có Đức Mẹ chỉ đường thì sẽ không sợ lạc lối.

Có Đức Mẹ ở bên thì chắc sẽ thành công.

 

.

ĐỒNG CẢM

Trầm Thiên Thu

Khả năng thấu hiểu cần thiết để khả dĩ đồng cảm với người khác, nghĩa là có thể cảm xúc và xử sự như người khác trong hoàn cảnh nào đó. Đồng cảm là tự đặt mình vào vị trí của người khác để có thể hành xử như họ, Người Anh có thành ngữ “put yourself in somebody’s shoes/place”. Đồng cảm không đồng nghĩa với thông cảm (cảm thông), ý nghĩa gần giống nhau nhưng vẫn khác nhau. Đồng cảm liên quan khả năng THẤU HIỂU và CẢM NHẬN được cảm xúc của người khác, còn thông cảm chỉ đơn giản là cảm thông với người khác mà KHÔNG nhất thiết phải biết cảm giác của họ thế nào. Đồng cảm thâm thúy hơn thông cảm.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng có những sự việc chúng ta tận mắt nhìn thấy nhưng lại không như chúng ta suy luận. Đồng cảm rất cần thiết trong cuộc sống vì có liên quan lòng trắc ẩn và lòng thương xót. Đó là dạng biết quan tâm, yêu thương và chia sẻ với người khác.

Ngày xưa, Chúa Giêsu đã đồng cảm với những con người đau khổ (thể lý và tinh thần) chứ không chỉ thông cảm với họ, thế nên Ngài mới “chạnh lòng thương” họ – những con người khốn khổ mà Ngài gặp ở bất cứ nơi nào (x. Mt 9:36; Mt 14:14; Mt 15:32; Mt 18:27; Mt 20:34; Mc 1:41; Mc 9:22; Lc 7:13), đến nỗi hạ mình xuống trần mặc xác phàm để chia vui sẻ buồn với con người, nhưng Ngài cũng truyền dạy chúng ta phải yêu thương như người Samari mà biết xót thương tha nhân (x. Lc 10:29-37), dù họ là ai.

Đồng cảm là thiện cử, liên đới với các nhân đức và các đức tính khác, đặc biệt là đức ái. Như vậy, người đồng cảm với tha nhân là người của Thiên Chúa, vì con người đó noi gương Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương (x. Is 49:10; Is 54:10), là Đấng từ bi và nhân hậu (x. 2 Sb 30:9; Tv 103:1 & 8; Tv 111:4; Tv 145:8; Gc 5:11).

Thánh Phanxicô Xaviê lý luận: “Cần đốt lên lửa yêu thương, bởi vì có yêu thương thì tự nhiên sẽ đối đãi tốt với mọi người, luôn nói những lời yêu thương, và tâm hồn sẽ tự nhiên thu hoạch được rất nhiều kết quả”. Thánh Gioan phân tích: “Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình thì vẫn còn ở trong bóng tối” (1 Ga 2:9).

ĐỒNG CẢM LÀ YÊU THƯƠNG

Không thông cảm không thể đồng cảm, không đồng cảm không thể quý mến, không quý mến không thể yêu thương. Chân thành bộc bạch, ngôn sứ Isaia cho biết: “Vì lòng mến Sion, tôi sẽ không nín lặng, vì lòng mến Giêrusalem, tôi nghỉ yên sao đành, tới ngày đức công chính xuất hiện tựa hừng đông, ơn cứu độ của thành rực lên như ngọn đuốc” (Is 62:1). Rồi ông cho biết rằng “muôn dân sẽ được chiêm ngưỡng đức công chính, mọi đế vương sẽ được ngắm nhìn vinh quang ngươi tỏ rạng. Người ta sẽ gọi bằng tên mới là tên miệng Đức Chúa đặt cho” (Is 62:2). Sự chuyển hóa kỳ diệu lắm, bởi vì Thiên Chúa đã thay tên đổi họ để người ta trở thành con người hoàn toàn mới.

Ôi, thật là hạnh phúc vì được chính Thiên Chúa đồng cảm số phận bọt bèo mà thương xót, đồng thời còn được là “ngọc miện huy hoàng trong lòng bàn tay Đức Chúa, là mũ triều thiên vương giả Thiên Chúa cầm ở tay” (Is 62:3). Vì thế, chẳng ai còn dám tru tréo là “đồ bị ruồng bỏ!”, ngay cả xứ sở cũng không còn bị tiếng là “phận bạc duyên đơn”. Nhưng lại được ưu ái gọi: “Ái khanh lòng Ta hỡi! Xứ sở ngươi nức tiếng là duyên thắm chỉ hồng” (Is 62:4). Tại sao? Vì người đó được Đức Chúa đem lòng sủng ái, và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở người đó. Kinh thánh ví “như tài trai sánh duyên cùng thục nữ” khi Đấng tác tạo sẽ cưới người đó về, và “như cô dâu là niềm vui cho chú rể”, người đó cũng là niềm vui cho Thiên Chúa (Is 62:5).

Thế thì chắc chắn chẳng còn niềm vui nào lớn lao hơn và lên tới tột đỉnh như vậy. Như vậy làm sao im lặng được? Do đó, chúng ta phải “hát lên mừng Chúa một bài ca mới, hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu! Hát lên mừng Chúa, chúc tụng Thánh Danh! Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ, kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển, cho mọi nước hay những kỳ công của Người” (Tv 96:1-3). Đó là kinh nghiệm minh nhiên được Thánh Vịnh gia chia sẻ.

Con người có chúc tụng và tôn vinh như vậy cũng chưa đủ, bởi vì lời nói phải đi đôi với việc làm. Thánh Vịnh gia kêu gọi: “Hãy dâng Chúa, hỡi các dân các nước, dâng Chúa quyền lực và vinh quang, hãy dâng Chúa vinh quang xứng danh Người. Hãy bưng lễ vật, bước vào tiền đình Chúa, và thờ lạy Chúa uy nghiêm thánh thiện, toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước Thánh Nhan”(Tv 96:7-9). Sau đó còn phải loan truyền cho người khác cùng hưởng niềm vui có Chúa: “Hãy nói với chư dân: Chúa là Vua hiển trị, Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu chẳng chuyển lay, Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng” (Tv 96:10). Chia sẻ là một dạng đồng cảm, vì thấy người khác thiếu thốn nên muốn chia sẻ với tình yêu thương.

Là Kitô hữu, ai cũng biết rằng làm bất cứ việc gì đều phải nhờ ơn Chúa – dù là điều nhỏ bé, bởi vì chính Đức Kitô đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Nhưng có nhiều loại ơn, không phải muốn là được, mà mỗi người được nhận theo khả năng của mình: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung” (1 Cr 12:4-7). Vấn đề là “vì công ích” (ích lợi chung của cộng đồng). Vì thế, khi chúng ta được ơn này mà người kia không có thì đừng tưởng mình “ngon” – giỏi hơn, siêu hơn, khéo hơn,.. Chúa tác tạo nên chúng ta nên Ngài biết ai có khả năng gì. Nhưng nhận được ơn gì đó là để phục vụ chứ không phải để hãnh diện mà kiêu căng, trách nhiệm tỷ lệ thuận với số ơn nhận được: “Hễ ai đã ĐƯỢC CHO nhiều thì sẽ BỊ ĐÒI nhiều, và ai ĐƯỢC GIAO PHÓ nhiều thì sẽ BỊ ĐÒI HỎI nhiều hơn” (Lc 12:48). Đừng đùa đấy! Và ngược lại, nếu mình không được ơn mà người khác được thì đừng ghen tỵ mà sinh lòng đố kỵ. Phải tỉnh táo để có thể khiêm nhường mà đồng cảm.

Rất rạch ròi với cách phân tích của Thánh Phaolô: “Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ” (1 Cr 12:8-10). Tất cả đồng quy về một mối: “Nhưng chính THẦN KHÍ DUY NHẤT ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người” (1 Cr 12:11).

Như vậy thì chẳng ai có lý do gì để mà vênh vang tự đắc hoặc biện hộ cho mình. Người nào cũng có bổn phận riêng theo ơn mình đã lãnh nhận từ Thiên Chúa. Mười nén, năm nén hay một nén không là “cớ” để kèn cựa nhau, mà là để nâng đỡ nhau, thông cảm và xót thương nhau theo gương Đại Sư Giêsu. Thánh Phaolô cảnh báo: “Đừng ai viện cớ ‘khiêm nhường’ và ‘sùng kính các thiên thần’ mà làm cho anh em mất phần thưởng chiến thắng; họ chìm đắm trong những thị kiến của mình, vênh váo vì những suy tưởng theo lối người phàm” (Cl 2:18). Thật đáng quan ngại lắm!

ĐỒNG CẢM LÀ QUÊN MÌNH

Đồng cảm là yêu thương, yêu thương là quên mình – dấn thân, không quên mình chắc chắn không thể đồng cảm để có thể quên mình hoặc dấn thân mà phục vụ. Phục vụ ai? Phục vụ Thiên Chúa, phục vụ Giáo hội, và phục vụ tha nhân. Khi dạy về bài học phục vụ, chính Chúa Giêsu xác định: “Con Người đến KHÔNG phải để ĐƯỢC người ta phục vụ, nhưng là để PHỤC VỤ và HIẾN DÂNG MẠNG SỐNG làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28). Phục vụ là chấp nhận “chịu thiệt”, vậy mới khó, chứ ai cũng muốn “chỉ tay năm ngón” thì mọi thứ đảo lộn hết trơn. Người có tài điều khiển khéo léo (cũng ổn), người kém tài điều khiển vụng về (gây rối), nhưng ai cũng muốn chứng tỏ “bản lĩnh” (thật ra là “cái tôi”) nên khoái “ra lệnh”, thích “sai bảo”. Ai cũng muốn mình nổi bật (chứ chẳng “nổi trội” chi), không muốn “quên mình” chi cả. Phiền toái chẳng ngại phiền hà!

Trình thuật Ga 2:1-12 nói về một tiệc cưới tại Cana, miền Galilê. Hôm đó, Đức Giêsu và Thân Mẫu được mời dự tiệc cưới, các môn đệ cũng được mời. Tiệc đang “nóng”, khách đang “hưng phấn” thì rượu bia hết trơn. Thế thì “căng” rồi đây! Đi mua thì không kịp, vì thời đó phải đi bộ xa lắm, phương tiện liên lạc hiếm hoi. Nếu như ngày nay, người ta chỉ cần phóng xe đi trong vòng vài phút hoặc nhấn nút rồi a-lô là xong ngay, khỏi cần tính toán chi cho nhức đầu. Nhưng cái khó ló cái khôn, xui cái này may cái khác.

Nghe nói đám tiệc thiếu rượu đãi khách, Đức Mẹ đồng cảm với gia chủ và cảm thấy thương họ, thế nên Mẹ liền rỉ tai Con Trai: “Họ hết rượu rồi, con ơi!”. Con Trai thản nhiên đáp: “Mẹ ơi, chuyện đó can gì đến mẹ con mình? Giờ của con chưa đến”. Nghe là nghe vậy thôi, chứ Mẹ biết Con Trai thế nào, và Mẹ vẫn đi nói với gia nhân: “Con Trai tôi bảo gì thì các anh cứ việc làm theo nhé!”. Con nói gì thì nói, Mẹ cứ bảo người ta theo ý Mẹ. Điều đó chứng tỏ Mẹ Con rất đồng cảm và hiểu rõ lòng nhau, luôn “ăn ý” với nhau, đồng thời cũng chứng tỏ đức tin của Mẹ rất mạnh mẽ và vững vàng. Chắc chắn Mẹ biết Con Trai sẽ giúp họ nên mới đi “nói nhỏ” với người nấu đám hôm đó. Trên cả tuyệt vời!

Thánh Gioan cho biết rằng ở đó có đặt sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do Thái, mỗi chum chứa được khoảng 80 hoặc 120 lít nước. Nói “không liên can” nhưng Đức Giêsu vẫn ra phía sau và bảo họ: “Các anh đổ đầy nước vào chum đi!” (Ga 2:7). Được Đức Mẹ “thông báo” trước, họ liền lấy nước lã đổ đầy tới miệng các chum. Rồi Ngài lại nói với họ: “Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc”. Họ cấp tốc múc nước trong chum đem cho người quản tiệc mà cũng không hề thắc mắc chi cả. Họ có vẻ thản nhiên, nhưng điều bất ngờ xảy ra…

Thật vậy, khi người quản tiệc nếm thử thì thấy là rượu. Lạ dữ nghen! Rượu ở đâu ra mà ngon chi lạ! Tất cả các chum đổ đầy nước mà giờ hoá thành rượu. Lạ lùng và kỳ diệu ghê đi! Không ai biết rượu từ đâu ra, chỉ có gia nhân đã múc nước thì biết. Mà không phải rượu thường, đó lại là thứ rượu hảo hạng, vừa ngon và vừa mạnh. Ôi chao, cứ đổ đồng mỗi chum là 100 lít, vị chi là 600 lít. Dân bán rượu chắc gì trữ nhiều rượu như thế? Lượng rượu này vừa bán vừa cho chứ uống gì hết! Ông quản tiệc “đau cái điền” vì chả hiểu ất giáp chi ráo trọi. Rồi ông gọi tân lang lại và nói: “Này, ai cũng thết rượu ngon trước, khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ” (Ga 2:10). Ông ta không thể hiểu nổi, còn chú rể cũng lắc đầu, bó tay, thế nhưng chắc hẳn anh là chàng rể may mắn và hạnh phúc nhất thế gian này.

Và Thánh sử Gioan cho biết rằng đây là DẤU LẠ ĐẦU TIÊN mà Đức Giêsu đã làm để bày tỏ vinh quang Thiên Chúa. Các môn đệ quá đỗi ngạc nhiên, nhưng nhờ vậy mà các đệ tử đã tin vào Đại Sư của mình. Thật là hạnh phúc thay!

Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin giúp chúng con nhạy cảm qua việc đồng cảm để yêu mến Ngài bằng cách thật lòng yêu thương mọi người, nhất là những con người khốn khổ nhất, nhờ vậy mà chúng con xứng đáng được Ngài xót thương. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên-Chúa-Làm-Người và Đấng Cứu Độ của nhân loại. Amen.

 

.

NGƯỜI BẢO GÌ, CÁC ANH CỨ VIỆC LÀM THEO

  Fx Đỗ Công Minh

Bài Tin Mừng hôm nay Thánh Luca kể cho chúng con nghe một câu chuyện vui những ngày ở tại miền Cana, xứ Galilea. Chúa Giêsu và Mẹ Maria đến dự tiệc cưới của người thân trong vùng. Chính tại nơi đây, Chúa đã chia sẻ niềm vui với gia đình có con thành hôn, và hơn thế nữa  chung niềm vui với mọi người tham dự. Đó là những người trong họ hàng, rồi những người láng giềng và rộng ra là khách từ nơi khác đến. Chính trong tiệc cưới này, Chúa đã thực hiện một dấu lạ. Đây là dấu lạ đầu tiên trong cuộc đời rao giảng của Đức Giêsu, có sự cộng tác của Mẹ Maria. Mẹ là đấng trung gian giữa Chúa Giêsu, con Mẹ và nhân lọai.

Mẹ Maria là một con người như chúng con, được Thiên Chúa tuyển chọn để trở thành Đấng hiệp công cứu chuộc. Mẹ gần gũi con người, thấu hiểu những lắng lo của con người và sẵn sàng ra tay cứu giúp những ai gặp cơn nguy khốn, họan nạn. Đi bên cạnh cuộc đời rao giảng của Đức Giêsu, Mẹ luôn hiện diện lúc xa xa, lúc gần kề. Không chỉ gắn bó với người con yêu dấu của mình, Mẹ còn luôn kề bên những người theo Chúa, đồng hành với con người trong mọi hòan cảnh. Mẹ đã căn dặn những người giúp việc trong tiệc cưới : “Người bảo gì các anh cứ việc làm theo”. Lời ấy cũng là nhắn gửi mỗi người chúng con,

Việc Chúa làm phép lạ mà Tin mừng thuật lại hôm nay, cho thấy Đức Giêsu muốn bày tỏ tình yêu thương con người và mong muốn mọi người biết yêu thương nhau nhiều hơn. Đến với nhau trong mọi hoàn cảnh, vui buồn có nhau là tốt. Nhưng còn phải hơn thế nữa, là cần biết quan tâm đến nhau, giúp nhau giải quyết những khó khăn gặp phải trong cuộc sống. Không phải với tư cách của một người đứng trên thương hại, hay người bên ngòai  bố thí. Chúa làm phép lạ tại Cana không phải để mua danh, để tỏ ra có quyền bính mà chính là xuất phát từ tình yêu trong trái tim nhân hậu của Người.

Nếu trong cuộc sống hôm nay, con cũng biết để ý đến những nhu cầu, những lo toan, băn khoăn của anh chị em đang sống bên con và thực tâm tìm cách giúp đỡ họ cách nào đó, chính là con cũng đang thực hiện những” phép lạ “ trong cuộc đời.

Xin cho con luôn có đôi tai lắng nghe, đôi môi mở lời, đôi tay mở rộng, đôi chân bước đi, con tim rung động như Mẹ Maria đã thực hiện trong cuộc đời mình, âm thầm phục vụ hầu giới thiệu Đức Giêsu Kitô với những người đang sống bên con .

Xin cho con tinh thần phục vụ như những người giúp việc ngày xưa, nghe lời Chúa dạy và tin tưởng tuyệt đối vào mệnh lệnh Chúa truyền, khi đổ nước đầy các chum và đem nước ấy cho người quản tiệc với thái độ tín thác, Sống tinh thần ấy, Chúa sẽ thực hiện nơi con những điều Người muốn. Con tin rằng khi từ giã thế giới này, con sẽ được vào hưởng tiệc cưới vĩnh cửu trên nước Trời. AMEN.

 

.

CÙNG MẸ VỮNG TIN VÀO TÌNH THƯƠNG CỦA CHÚA

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Ga 2,1-11

(1) Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Ca-na miền Ga-li-lê. Trong tiệc cưới, có thân mẫu Đức  Giê-su. (2) Đức Giê-su và các môn đệ cũng được mời tham dự. (3) Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giê-su nói với Người : “Họ hết rượu rồi”. (4) Đức Giê-su đáp : “Thưa Bà, chuyện đó can gì đến Bà và Con? Giờ của Con chưa đến. (5) Thân mẫu Người nói với gia nhân : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. (6) Ở đó có đặt sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do thái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước. (7) Đức Giê-su bảo họ : “Các anh đổ đầy nước vào chum đi !” và họ đổ đầy tới miệng. (8) Rồi Người nói với họ : “Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc”. Họ liền đem cho ông. (9) Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hóa thành rượu (mà không biết rượu từ đâu ra, còn gia nhân đã múc nước thì biết), ông mới gọi tân lang lại (10) và nói : “Ai ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon cho đến mãi bây giờ”. (11) Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na miền Ga-li-lê, và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người.

  1. Ý CHÍNH:

Đức Giê-su và các môn đệ đã cùng với Mẹ Ma-ri-a đến tham dự một bữa tiệc cưới tại thành Ca-na miền Ga-li-lê. Bữa tiệc mới được nửa chừng thì rượu sắp hết. Mặc dù chưa tới Giờ hành động, nhưng do lời Mẹ Ma-ri-a cầu bầu mà Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên biến nước lã thành rượu ngon. Qua dấu lạ cảm thông và giàu lòng thương xót này mà các môn đệ của Đức Giê-su đã tin Người thực là Đấng Thiên Sai của Thiên Chúa.

  1. CHÚ THÍCH:          

-C 1-2: +Có thân mẫu Đức Giê-su: Tin mừng Gioan 2 lần nhắc đến sự hiện diện của Mẹ Ma-ri-a trong thời gian Đức Giê-su ra giảng đạo: Lần đầu khi Đức Giê-su bắt đầu đi thi hành sứ mệnh Thiên Sai, Mẹ Ma-ri-a đã hiện diện trong bữa tiệc cưới tại thành Ca-na và đã can thiệp xin Đức Giê-su làm phép lạ biến nước lã thành rượu ngon, dù chưa đến Giờ của Người. Lần hai nhắc đến việc Mẹ Ma-ri-a đứng dưới chân thập giá trong cuộc tử nạn của Đức Giê-su, để hiệp công với Người cứu độ loài người.

-C 3-5: +Thiếu rượu: Người Do thái vẫn thường ăn uống tiết độ. Nhưng trong dịp cưới xin, họ lại hay uống quá chén. Vì thế bữa tiệc cưới này mới nửa chừng đã bị hết rượu. +Thân mẫu Đức Giê-su nói với Người: “Họ hết rượu rồi”: Mẹ Ma-ri-a tỏ ra nhạy cảm trước nhu cầu của đôi tân hôn, nên đã nói nhỏ với Đức Giê-su rằng: “Họ hết rượu rồi” với hy vọng Người sẽ giúp đôi tân hôn. +Thưa Bà: Ở đây và trên cây thập giá (x Ga 19,26), Đức Giê-su đều dùng từ “Bà” (gune) để gọi thân mẫu của Người, giống như bà E-và xưa cũng đã được gọi là “Bà” (x. St 3,15.20). Điều này ngầm ám chỉ Mẹ Ma-ri-a là “E-và Mới” thời Tân ước, là Mẹ của “nhân loại mới” được cứu độ. +Chuyện đó can gì đến Bà và Con?: Đây là một kiểu nói Do thái nhằm từ chối một sự can thiệp không đúng lúc (x. 2 Sm 16,10). +Giờ của Con chưa đến: Đức Giê-su không làm gì trước Giờ của Người (x. Ga 7,30). Ở đây có ý nói rằng: tuy Giờ được tôn vinh chưa đến, vì Người chưa trải qua cuộc tử nạn và phục sinh, nhưng ngay bây giờ Người muốn biểu lộ Giờ ấy cho các môn đệ thấy hầu họ tin vào Người, khi họ thấy dấu lạ Người sắp thực hiện. +“Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”: Trực giác khiến Mẹ Ma-ri-a tin chắc Đức Giê-su sẽ can thiệp, nên đã căn dặn gia nhân hãy làm theo lệnh Người truyền. Câu này nhắc lại lời Pha-ra-on vua Ai Cập thời tổ phụ Gia-cóp và Giu-se xưa: “Cứ đến với Giu-se. Ông bảo gì, các ngươi hãy làm theo” (St 41,55).

-C 6-8: +Sáu cái chum đá dùng vào việc thanh tẩy: Theo phong tục Do thái, người ta thường để những cái chum đựng nước trong sân trước hay sân sau nhà mỗi khi có đám tiệc, để khách mới đến có thể rửa tay rửa mặt theo tục lệ rửa tay trước khi dùng bữa (x. Mt 15,2). Ở đây có 6 chum đá, mỗi chum chứa được hai hay ba thùng 40 lít, tức vào khỏang từ 80 đến 120 lít nước ! +“Các anh đổ đầy nước vào chum đi !” và họ đổ đầy tới miệng: Đức Giê-su ra lệnh cho gia nhân đổ đầy nước vào sáu cái chum đá. “Đổ đầy tới miệng” cho thấy ơn Chúa được ban cho đôi tân hôn cách dư đầy. Với khoảng 600 lít rượu thì cả làng sẽ được uống rượu thỏa thích!

-C 9-11: +Dấu lạ đầu tiên: Dấu lạ là một việc làm khác thường, diễn tả một điều thiêng liêng đang ẩn dấu. Dấu lạ đầu tiên tại tiệc cưới Ca-na này để tỏ bày vinh quang và quyền năng của Đức Giê-su trước nặt các môn đệ (c 11b), giúp các ông vững tin vào Người là Đấng Thiên Sai (x. Ga 2,11c).

4.CÂU HỎI: 1) Qua việc nhắc đến Mẹ Ma-ri-a vào lúc đầu và cuối thời gian rao giảng Tin mừng của Đức Giê-su, thánh Gio-an muốn nói gì về vai trò của Đức Giê-su và thân mẫu Người trong công trình cứu độ? 2) Tại sao Đức Giê-su lại dùng tiếng “Bà” khi thưa chuyện với Mẹ Ma-ri-a? 3) Qua câu “Giờ Con chưa đến”, Đức Giê-su muốn nói gì về sứ mệnh Thiên Sai của Người? 4) Tại sao Mẹ Ma-ri-a lại dạy gia nhân làm theo lệnh truyền của Đức Giê-su? 5) Đức Giê-su làm phép lạ đầu tiên này tại tiệc cưới Ca-na nhằm mục đích gì?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5)

2. CÂU CHUYỆN:

1) SỰ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA THÁNH HÓA GIA ĐÌNH:

Cách đây ít lâu, có một phụ nữ đã kể lại câu chuyện xảy ra trong gia đình bà như sau : “Từ trước đến nay hai vợ chồng tôi luôn nhất trí trong việc mua sắm và trang trí nhà cửa. Tuy nhiên, gần đây, chồng tôi tự nhiên mang về một khung ảnh Thánh Tâm Chúa Giê-su bằng kiếng, có kích thước 40×50 cm, bên trong có thiết kế ánh sáng đèn điện. Mỗi khi đèn sáng thì hình Thánh Tâm Chúa lại sáng lên trông rất đẹp mắt. Ông chồng tôi đòi treo bức ảnh này ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách. Theo ý tôi thì không nên treo tại phòng khách vì nhà chúng tôi có nhiều khách lạ thường hay lui tới. Nhưng lần này chồng tôi quyết tâm bảo thủ ý muốn của mình. Trong lúc tranh cãi, tự nhiên lời Chúa xuất hiện trong tâm trí tôi : “Ai nhìn nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10,32). Cuối cùng tôi đã thuận theo ý của chồng tôi. Giờ đây sau thời gian mấy năm, tôi thực sự không hối tiếc gì về việc đã chiều theo ý muốn của chồng. Vì bức ảnh Thánh Tâm Chúa đã phát sinh hiệu quả tốt trên gia đình chúng tôi và các khách đến thăm nhà chúng tôi. Ngày nọ, có một ông khách, sau khi chăm chú nhìn vào bức hình, đã phát biểu suy nghĩ của ông như sau: “Bà biết không? Khi nhìn vào khuôn mặt Đức Giê-su trên bức hình này, tôi có cảm tưởng như Người đang nhìn thấu qua tâm hồn tôi !”. Rồi vào một buổi tối kia, một bà bạn sau khi ngắm bức hình khá lâu cũng đã thốt lên : “Mỗi lần đến đây, tôi luôn cảm thấy trong nhà chị chan chứa bình an”… Nói chung, khi nhìn vào hình Chúa Giê-su, thì tâm hồn của khách dến chơi đều được nâng cao ! Có thể mọi người sẽ cười nhạo những nhận xét này của tôi, nhưng tôi không quan tâm. Theo thiển ý của tôi: Một khi bạn mời Chúa vào nhà, chắc chắn bạn sẽ được ơn biến đổi nên tốt hơn, không giống như lúc trước nữa !”.

 2) GIÁ TRỊ LỜI CẦU BẦU CỦA MỘT BÀ MẸ:

Linh mục Syl-va-no và mục sư Tin lành Hen-ri cùng nhau đến lâu đài Pa-xi-an để xin hoàng tử trợ giúp tài chính cho dự án của mình. Linh mục Syl-va-no có ý định xin tiền để xây nhà thờ. Còn mục sư Hen-ri thì xin tiền để xây trường học.

Đến nơi, họ được hoàng tử Au-gus-te tiếp kiến riêng từng người một. Người được vào trước là mục sư Hen-ri. Nhưng chỉ vài phút sau người ta thấy mục sự bước ra với vẻ mặt buồn thiu, vì dự án đã không được hoàng tử chấp nhận.

Mục sư ngồi lại chờ linh mục Syl-va-no cùng về chung. Ông hết sức ngạc nhiên khi thấy linh mục bước ra khỏi phòng tiếp kiến của hoàng tử, vẻ mặt hớn hở, tay xách một túi tiền khá nặng. Mục sự Hen-ri liền thắc mắc hỏi :

– Tại sao linh mục lại được tài trợ như thế ?

Linh mục Syl-va-no trả lời :

– Dĩ nhiên là như vậy. Thoạt đầu hoàng tử chối từ lời xin của tôi. Nhưng khi nhìn sang bên cạnh thấy có hoàng thái hậu, tôi liền đến trước hoàng thái hậu để xin  ngài bầu cử cho. Và hoàng tử đã đổi ý kiến, khi nghe lời khẩn cầu của hoàng thái hậu nên đã đồng ý tài trợ cho dự án của tôi. Hoàng tử đã thưa với mẹ: ”Nếu mẹ đã đồng ý thì con cũng đồng ý thôi”

(D. Wahrheit, Món quà giáng sinh, 79-80).

3) MỘT BỆNH NHÂN ĐƯỢC ĐỨC MẸ GIÚP ĐÓN NHẬN ĐỨC TIN:

Cha J.B BONSOLI người nước Ý đã đi truyền giáo bên Ấn độ. Suốt 20 năm Ngài đã rửa tội cho 20.000 người. Ngài đã kể lại câu chuyện như sau:

“Hôm đó tôi rời địa điểm truyền giáo Đam-ma để đi một vòng bằng xe đạp. Khi đi được khoảng 30 Km thì tôi bị lạc vào một khu rừng. Càng đi vô thì cây cối càng rậm rạp.Tôi vừa đi vừa sợ khi nghe thấy những tiếng hú của những con báo trong đó.

Trời đã gần tối tôi thầm cần nguyện xin Đức Mẹ giúp tôi. Đi thêm khoảng 5 cây số nữa thì tôi rẽ vào con đường nhỏ và tôi thấy một ngôi nhà lụp xụp, tồi tàn. Tôi dừng xe lại, dựng bên cạnh một gốc cây rồi lên tiếng hỏi: “Có ai trong nhà không? “

Có tiếng nói từ trong nhà vọng ra: “Có. Nhưng xin ông đừng vào nhà vì tôi bị cùi”.

Dù biết như vậy nhưng tôi vẫn mở cửa bước vào trong nhà. Trước mặt tôi là một người đàn ông đang nằm co quắp vì đau đớn trên giường. Hỏi ra mới biết trước kia người này là một ông thầy cúng. Rồi trong cuộc nói chuyện sau đó, ông ta nói: “Con biết là con sẽ được Rửa tội.”

– Làm sao ông biết điều đó? Ai đã nói với ông? Có phải là một giáo lý viên không?” Tôi hỏi lại.

Ông đáp :”Cách đây hai tháng có một bà mặc áo đẹp lắm vào căn nhà này và nói với con: “Con chịu đau khổ nhiều nhưng con đừng nản lòng. Ta sẽ sai một linh mục đến thăm viếng và đổ nước thanh tẩy tâm hồn con, rồi ta sẽ đến đưa con lên thiên đàng”.

Tôi đưa tay vào túi áo lấy ra mẫu ảnh “Đức Mẹ phù hộ các giáo hữu” và đưa cho ông ta xem. Vừa thấy bức ảnh ông đã kêu lên: “Đúng rồi. Đúng là bà này. Chính bà đã đến thăm con khoảng hai tháng trước”. Sau đó tôi đã dạy ông các điều căn bản về đức tin trước khi ban phép rửa tội theo ý nguyện của ông.

Mỗi người chúng ta hãy dành cho Mẹ Ma-ri-a một vị trí quan trọng trong cuộc đời chúng ta:

Trong niềm vui ngày cưới hay lễ kỷ niệm của gia đình: Hãy mời Mẹ đến chung vui với chúng ta.

Khi bị sầu buồn vì mất người thân. Nếu được Mẹ an ủi, chắc chắn nỗi buồn sẽ qua mau.

Chúng ta sẽ không còn cô đơn, nếu có Mẹ ở bên.

Khi có Mẹ dẫn đường, chắc chúng ta sẽ không bị lạc lối.

Nếu được Mẹ trợ giúp, mọi việc sẽ thành công.

  1. THẢO LUẬN:

Một người kia có dịp nghỉ hè tại nhà một anh bạn thân. Sau kỳ nghỉ anh ta đã viết thư cám ơn bạn ấy. Trong thư anh nhận xét về gia đình của bạn như sau: “Tôi cảm thấy gia đình bạn là một gia đình công giáo đạo đức thực sự: Cách bài trí trong nhà của bạn thật ấn tượng với những tranh ảnh đạo, được treo trên tường thay vì những tranh lịch người mẫu ăn mặc hở hang. Tôi không quên được những lời cầu nguyện sốt sắng của các thành viên trong gia đình bạn trước các bữa ăn. Tôi cảm thấy một bầu khí đầm ấm yêu thương và bình an chan hòa trong ngôi nhà của bạn: Mọi người đều quan tâm săn sóc nhau. Tôi chưa bao giờ nghe thấy có tiếng tranh cãi to tiếng, những lời tục tĩu, hay những lời chỉ trích người vắng mặt trong ngôi nhà của bạn”… Còn gia đình của mỗi người chúng ta hiện nay ra sao? Gia đình chúng ta có những phẩm chất đạo đức giống như gia đình trong câu chuyện nói trên hay không?

  1. SUY NIỆM:

1) VỮNG TIN VÀO CHÚA:

Khi biết tiệc cưới nửa chừng sắp hết rượu, Mẹ Ma-ri-a đã nói với Chúa Giê-su: “Họ hết rượu rồi”. Dù nghe Chúa trả lời: “Thưa Bà, chuyện đó can gì đến Bà và Con ? Giờ Con chưa đến”, nhưng Mẹ vẫn vững tin vào tình thương cứu độ của Chúa nên đã mạnh dạn nói với những người giúp việc: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”.

Ngày nay, Mẹ cũng nói với Chúa: “Họ hết rượu rồi” để bao tình yêu vợ chồng đã nhạt phai được nồng thắm lại; Để bao gia đình đang thiếu vắng tình yêu được trên thuận dưới hòa; Để bao tâm hồn đang chao đảo lấy lại được niềm tin yêu.

Người ta tính trung bình hiện nay trên thế giới, cứ mỗi tiếng đồng hồ lại có cả trăm đôi vợ chồng đưa nhau ra tòa xin ly hôn. Con số các đôi vợ chồng ly hôn lại còn tăng mạnh hơn tới 50% tại các nước phương Tây, nghĩa là cứ hai cặp vợ chồng kết hôn, thì có một cặp bị thất bại chỉ sau một thời gian chung sống.

Nếu ngày xưa Chúa Giê-su đã biến Luật Mô-sê đã bị nhạt như nước lã, trở thành Tin Mừng yêu thương thắm đỏ như rượu nồng; thì ngày nay, Người cũng muốn các gia đình chúng ta biến đổi cuộc đời lạt lẽo vô vị trở nên hạnh phúc chứa chan tình “mến Chúa, yêu người”.

2) HỌC SỐNG LỜI CHÚA:

Cuộc sống của mỗi gia đình chúng ta hôm nay cũng không thiếu những sự cố bất ngờ. Tuy nhiên, nếu biết tin vào tình thương cầu bầu của Mẹ Ma-ri-a thì chắc chúng ta sẽ vượt qua được mọi khó khăn, với điều kiện theo lời Mẹ dạy: “Giê-su bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5).

Mỗi gia đình tín hữu hãy mời Chúa và Mẹ đến nhà bằng việc lập bàn thờ Chúa tại phòng khách và tổ chức đọc kinh tối gia đình hằng ngày hay ít là hằng tuần. Trong giờ kinh tối, các thành viên cùng nghe Lời Chúa và cầu nguyện cho nhau, luôn ứng xử với nhau cách lịch sự tế nhị và sẵn sàng cảm thông tha thứ lỗi lầm cho nhau như lời thánh Phao-lô: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Col 3,12-13).

3) MỜI CHÚA ĐẾN NHÀ:

Trong Tin mừng, những ai đón Đức Giê-su đến nhà đều được Người ban ơn lành. Chẳng hạn:

– Si-mon đón Đức Giê-su đến nhà và Người đã cho nhạc mẫu ông khỏi bệnh (x. Mt 1,29.31);

– Người cũng đến nhà ông Giai-a để phục sinh con gái ông mới chết (x. Mc 5,22.38-43);

– Người đến nhà viên thủ lãnh nhóm Pha-ri-sêu dự tiệc và chữa lành một bệnh nhân phù thũng (x. Lc 14,1-4);

– Người đến ở trọ nhà viên trưởng thu thuế Gia-kêu và biến ông từ một kẻ tham lam thành người lương thiện, trở lại làm con cháu của tổ phụ Áp-ra-ham (x. Lc 19,8-10);

– Người vào ở trọ nhà hai môn đệ làng Em-mau để giúp hai ông nhận ra Người đã từ cõi chết sống lại qua nghi thức “bẻ bánh” khi đồng bàn với các ông (x. Lc 24,13-32)…

Tin mừng hôm nay cũng cho thấy đôi tân hôn đã mời Đức Giê-su và Mẹ Ma-ri-a đến nhà dự tiệc cưới và nhờ lời Mẹ cầu bầu, Đức Giê-su đã làm phép lạ đầu tiên biến nước lã thành rượu ngon giúp cho đôi tân hôn. Nhờ đó, các môn đệ đã tin Người là Đấng Thiên Sai.

4) “NÀY, TA ĐỨNG NGOÀI CỬA MÀ GÕ”:

Ðức Giê-su đã đến dự tiệc cưới ở thành Ca-na để chia sẻ niềm vui với đôi tân hôn. Đừng để Người đứng ngoài hạnh phúc của chúng ta. Nếu chúng ta nghe lời Người dạy để đổ nước tin yêu vào các chum rỗng tâm hồn, thì chắc chắn chúng ta sẽ được Chúa ban tràn đầy niềm vui ơn cứu độ.

Ngày nay Đức Giê-su vẫn đang đứng ngòai cửa linh hồn chúng ta và gõ. Những ai mở cửa đón Người vào nhà, Người sẽ vào và dùng bữa tối với kẻ ấy, và kẻ ấy sẽ dùng bữa với Người (x Kh 3,20). Vậy chúng ta có sẵn sàng mở cửa lòng đón Chúa Giê-su và Mẹ Ma-ri-a vào nhà linh hồn mình, hầu nhận được ơn cứu độ Người ban hay không? Chúng ta có sẵn lòng cảm thông với những nỗi đau của các gia đình bất hạnh và giúp họ vượt qua hoàn cảnh khó khăn không?

  1. NGUYỆN CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin hãy đến chúc phúc cho gia đình chúng con. Ước chi cánh cửa nhà chúng con luôn rộng mở để tiếp đón những kẻ không nhà. Xin chúc lành cho ngôi nhà của chúng con được luôn có Chúa hiện diện, qua việc trưng bày tượng ảnh trên bàn thờ gia đình, nhất là qua cách ứng xử lịch sự yêu thương giữa các thành viên trong gia đình. Xin cho chúng con biết hiệp cùng Mẹ Ma-ri-a mở tai lắng nghe Lời Chúa trong giờ kinh gia đình và quyết tâm thực hành Lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày.

– LẠY CHÚA. Xin cho đôi tay chúng con luôn rộng mở để chia sẻ cơm áo cho những kẻ nghèo đói bệnh tật và bất hạnh. Xin cho trái tim chúng con luôn hướng về Chúa là nguồn sống và là hạnh phúc của chúng con. Nhờ đó, chúng con sẽ chu toàn sứ mệnh làm chứng cho Chúa giữa  lòng xã hội chúng con đang sống hôm nay.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

 

.

ĐƯỢC VINH DỰ

Lm. Jos. DĐH.

Gặp may lành trong việc làm ăn, mừng vui vì được thăng quan tiến chức, phấn khởi vì thấy con cháu thành đạt, nên người hữu ích, thiên hạ vẫn xem đó là một phần thưởng. Cứ sự thường thì nhu cầu nơi con người là muốn được, và sợ nói đến chuyện mất, cho dù được và mất là quy luật: sinh tử, khóc cười, có chăm chỉ học tập, làm việc, cũng có cơ hội thành danh, thành tài. Được thuận buồm xuôi gió trên đường tiến thân, có ý chí để làm quan hay có gan để làm giầu, vẫn chỉ là mơ tưởng đến hạnh phúc ở đời, tìm kiếm vinh dự bằng mắt thấy tai nghe. Hoàn cảnh xã hội hôm nay, bằng nhiều công cụ hiện đại, người ta có thể cân đo đong đếm về khả năng, tài đức, thành quả, mức độ đẹp, bền vững. Do đó, dù hiểu theo nghĩa đen hay nghĩa bóng, con người vẫn đang hướng tới vinh dự thật, hạnh phúc thật, niềm vui thật, chỉ khác một điều là người ta thao thức, cách tìm kiếm chưa giống nhau.

Có con khôn lớn lấy vợ, có con ngoan hiền gả chồng, nhận được thiệp mời ăn cưới, tổ chức đám cười đám khóc, đó là sự việc thông thường ở đời này, trải nghiệm âu lo lẫn vui mừng, chúng ta từng đối diện. Tiệc cưới lịch sử tại Cana được nhắc tới hôm nay, hẳn vẫn còn tính thời sự đối với nhân loại nói chung và kitô giáo nói riêng. Vinh dự sẽ lớn hơn cho những ai có thượng khách đến tham dự tiệc cưới, chúc lành cho đôi bạn trẻ, cho gia đình dòng tộc. Đôi bạn trẻ sẽ hạnh phúc biết bao, khi họ đặt tình yêu thương làm “gia vị” cho cuộc hôn nhân gia đình của họ, vì ai gieo yêu thương, người ấy sẽ gặt yêu thương.

Theo phép lịch sự, đám cưới giầu hay nghèo, chủ nhà đều phải có lời mời, dù họ không là đại gia, không là thượng khách, họ vẫn xứng đáng được trân trọng: ăn có mời, làm có khiến. Tiệc cưới năm xưa, có sự hiện diện của Đức Maria, Đức Giêsu, các môn đệ, và tất nhiên là có nhiều khách quý, nhiều thành phần xã hội. Được đông đủ khách mời đến tham dự, bao giờ cũng là vinh dự cho gia chủ rồi. Tuy nhiên tiệc hôm đó, đã xảy ra sự cố thiếu rượu, nếu không phải vì tấm lòng ưu ái, Đức Maria cũng chẳng lên tiếng với Đức Giêsu về trục trặc “họ hết rượu rồi”. Nếu không uy tín, Đức Maria cũng không thể thuyết phục được người giúp việc: “hễ Người bảo gì, hãy làm theo”. Nếu không vì yêu thương, Đức Giêsu cũng chẳng biến nước lã thành rượu ngon.

Phép lạ được thực hiện, người quản tiệc nhận biết điều kỳ diệu, kẻ giúp việc rất vui, gia chủ chỉ có thể nói lời cám ơn, biết ơn, khách mời thật mãn nguyện, đôi bạn trẻ đã trọn vẹn hạnh phúc hơn nữa, và vinh dự đến với tất cả những ai hiện diện hôm đó. Sáu chum nước trở thành sáu chum rượu ngon đã nói lên: có tiền có vàng cũng không nhanh chóng mua, không thể tìm đâu ra số rượu cho buổi tiệc, nhưng có tình, tình Giêsu đã giải nguy cho tiệc cưới không gián đoạn. Được yêu thương, được phép lạ, được vinh dự nhìn xem và quan sát: cỗ bàn ngon không thể thiếu rượu, niềm vui hạnh phúc trọn vẹn không thể thiếu tình yêu, không thể thiếu sự hiện diện của Đức Giêsu. Đức Maria tại tiệc cưới hôm đó, đúng là cầu nối với phép lạ, là nhịp nối tình Chúa với tình người, nối kết những ai tin Mẹ Maria, cậy trông, hiệp nhất yêu thương.

Được vinh dự đối với người kitô hữu chúng ta lúc này, chắc chắn không phải là được tiền bạc, không phải là được ăn trên ngồi trốc, mà là có Đức Giêsu, có sự hiện diện của tình yêu Chúa trong tương quan hàng ngày. Được vinh dự cũng không phải là được phép lạ, được hết khổ đau ở đời này. Được vinh dự theo tinh thần của Chúa phải là được bình an, được biết cách nghe hiểu và sống thánh ý Chúa. Đức Giêsu đến tham dự tiệc cưới Cana không phải là để biểu dương quyền lực, để nhìn xem buổi tiệc thiếu thứ gì thì làm phép lạ bổ túc ! Sự hiện diện của Chúa là biểu lộ tình yêu thương, là chúc lành cho gia đình, cho đôi bạn trẻ, cho đám đông, và cả nhân loại chúng ta hôm nay nữa. Tin Chúa Giêsu, theo Chúa, là môn đệ của Chúa, luôn luôn là một vinh dự, là bình an, và là cơ hội để đạt tới hạnh phúc hôm nay và mai sau.

Được vinh dự ở đời này, mỗi người phải nỗ lực cố gắng, mới gặp mới thấy, được vinh dự trong hiện tại và tương lai, luôn phải có Chúa đồng hành, phải có tình yêu Chúa dẫn dắt. Được vinh dự trong tâm hồn, được vinh dự tín thác sống ơn gọi riêng, sống nén bạc và ơn ban, luôn là sự quan tâm yêu thương, tôn trọng nhau. Câu chuyện của giới ăn nhậu vẫn nói rằng: tiệc không rượu như đi kiệu không Đức Bà, đúng là không chỉ nói vui, sâu xa hơn, mỗi người phải ý thức không thể sống thiếu tình yêu, dù là linh mục tu sĩ, dù là người gia trưởng hiền mẫu nhà quê, đều cần Chúa chúc lành. Câu chuyện về một số người hôm xưa được vinh dự nhìn xem phép lạ, cũng mãi là câu chuyện của người thời nay, bàn tiệc trần gian, bàn tiệc lời Chúa, bàn tiệc Thánh Thể, tất cả đều có ý đưa dẫn con người tới bàn tiệc Thiên Quốc. Xin tình yêu Chúa tiếp tục hiện diện đồng hành và thánh hoá những bất toàn của đoàn con, Chúa ôi. Amen.

 

.

NOI GƯƠNG ĐỨC MẸ VỮNG TIN VÀO CHÚA

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Tin Mừng thánh Gioan thuật lại tiệc cưới tại Cana diễn ra vào “ngày thứ ba”, nghĩa là sau khi Chúa Giêsu thu nhận các môn đệ xong, cả thầy lẫn trò cùng nhau dự tiệc cưới : “Ba ngày sau, có tiệc cưới tại Cana xứ Galilêa. Và có mẹ của Chúa Giêsu ở đó. Chúa Giêsu và các môn đệ Người cũng được mời dự tiệc cưới” (Ga 2,1-2).

Ít nhiều, ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về tiệc cưới. Không phải tiệc cưới của mình, người thân gia đình, thì tiệc cưới của người khác! Nhất là của những người thân quen hay bè bạn, mà chúng ta được mời tới dự. Nên chúng ta dễ dàng hình dung ra cảnh tiệc cưới.

Nhìn vào đám cưới tại Cana trong Tin Mừng hôm nay, ngẫm về những tác động hữu ích do sự hiện diện của Chúa Giêsu và Đức Maria, Mẹ Người, trong các hoạt động đời thường của con người chúng ta. Chúa Giêsu và Đức Maria, với địa vị khác nhau, mang theo sự hiện diện của Thiên Chúa mọi lúc mọi nơi. Chúa là chân, thiện, mỹ, Ngài ở đâu, thì có tình yêu, ân sủng và phép lạ ở đó. Như mặt trời chiếu tỏa ánh hào quang, trái đất được có ánh nắng sưởi ấm, vận vật cỏ cây sẽ đơm hoa kết trái. Đồng nghĩa với việc, khi chúng ta để cho Thiên Chúa đến gần chúng ta, sự tốt lành, bình an và hạnh phúc của Thiên Chúa sẽ lớn lên trong chúng ta.

Phương tiện mà Thiên Chúa chọn để hiện diện giữa loài người và tiếp xúc với loài người là Chúa Giêsu Kitô, Con Một Chúa. Công việc của Thiên Chúa ở giữa thế gian là bản tính con người của Chúa Giêsu và sự hiện diện của Đức Maria. Cô dâu và chú rể tại Cana đã không nghi ngờ gì khi mời Chúa Giêsu và Đức Maria đến dự cưới! Lời mời này có lẽ là do tình thân huyết tộc nào đó.

Chúa Giêsu đã nhận lời mời đến dự tự cưới, vì Chúa ủng hộ mối quan hệ con rất tình người và chân thành của họ. Tính trung thực và tốt lành của gia đình này đã lôi cuốn Chúa. Vì thế, Chúa Giêsu đã làm cho Thiên Chúa hiện diện trong ngày cưới của họ. “Đây là phép lạ đầu tiên này tại Cana xứ Galilêa, và đã tỏ vinh quang Người và các môn đệ Người tin Người” (Ga 2,11). Chính tại Cana xứ Galilêa, Chúa Giêsu đã bắt đầu thực hiện các phép lạ phi thường của mình, và ở đó, Đấng Thiên Sai đã mở rộng tâm hồn các môn đệ và thông ban cho họ ơn đức tin qua sự can thiệp từ mẫu của Đức Maria, người tín hữu đầu tiên.

Và nếu Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa đã đi ăn cưới, và với sự hiện diện của mình, Người đã thánh hóa mối tình của đôi tân hôn bằng việc hóa nước thành rượu. Người đến đám cưới, không phải đến để ăn một bữa tiệc cho vui như bao nhiêu bữa tiệc khác. Người đến để mạc khải một sự diệu kỳ, đầy ngưỡng mộ. Người đến dự tiệc cưới, không phải để uống rượu, nhưng để trao ban cho gia nhân rượu ngon nồng. Thì sự hiện diện của Đức Maria và của các môn đệ Chúa Giêsu cũng hết sức đặc biệt. Trong tiệc cưới, Đức Maria đã hiện diện không như khách, nhưng như thành viên đóng góp vào biến cố niềm vui. Vì thế Mẹ biết rõ tình trạng thiếu rượu. Hết rượu là mất vui, là đụng chạm đến ý nghĩa của đám cưới. Vì rượu không chỉ cần cho bữa tiệc, nhưng còn tượng trưng cho niềm vui gặp gỡ. Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giêsu nói với Người: “Họ hết rượu rồi!” (Ga 2,3) Trước sự cố này, Đức Giêsu có vẻ không vui khi nói : “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến” (Ga 2,4).

Tuy vậy, Mẹ vẫn tin tưởng vào Con Mẹ. Giờ của chưa tới, nhưng Mẹ tin rằng, Người có thể “chỉnh giờ” lại. Quả thực, Chúa Giêsu đã hành động : vừa đáp lại lời cầu bầu của Đức Maria để cứu bữa tiệc, vừa mở rộng ý nghĩa của hành động này. Sáu chum nước lớn, vốn dùng để thanh tẩy theo Luật cũ và đức công chính cũ, Người đã làm cho trở nên viên mãn khi hóa nước thành rượu, tượng trưng cho ơn tha thứ, hòa giải và niềm vui, cho đức công chính của Đức Giêsu, mà Thiên Chúa trao ban nhưng không cho loài người và cho mỗi người chúng ta.

Hình ảnh nước biến thành rượu do quyền năng của Chúa Giêsu và sự can thiệp của Đức Maria rất phù hợp với con người và cuộc đời của chúng ta. Hình ảnh “đổ đầy tới miệng” diễn tả sự trọn vẹn và dư tràn. Thực vậy, trong đời ta, trên hành trình theo Chúa trong ơn gọi, có thể có niềm vui đứt đoạn ; hành trình nhạt nhẽo : xin Mẹ để ý nhìn xem, quan tâm nâng đỡ phù hộ, và xin Chúa ban niềm vui làm cho thơm ngon như rượu mới tại tiệc cưới Cana.

“Người bảo gì các anh cứ làm theo” (Ga 2,5). Đây là lời nói cuối cùng của Đức Maria, không chỉ dành cho những người phục vụ tiệc cưới, nhưng còn cho người môn đệ Chúa Giêsu, nam cũng như nữ, thuộc mọi thời, trong đó có chúng ta hôm nay. Hãy tin tưởng vào quyền năng trong mọi biến cố cuộc đời. Thiên Chúa có chương trình cho mỗi người chúng ta. Điều quan trọng không phải là chúng ta bắt Thiên Chúa làm theo ý chúng ta, để rồi khi không được như ý nguyện, chúng ta tỏ ra buồn phiền, than trách Chúa. Trái lại, hãy đặt hết tất cả lòng tin vào Chúa, phó thác cuộc đời chúng ta cho Ngài, như lời Đức Mẹ khuyên : “Hễ người bảo gì thì hãy làm theo” (Ga 2,5). Nước kia lên rượu thơm nồng, ngất ngây trong tiệc cưới tưng bừng. Lời Mẹ dạy dỗ mãi khắc ghi. Nguyện Mẹ dìu dắt mỗi bước đi. Thiên ý xa vời, Mẹ hỡi hãy luôn phù trì.

Thứ hai thì ngắm, Đức Chúa Giêsu làm phép lạ tại tiệc cưới Canna, ta hãy xin cho được noi gương Đức Mẹ mà vững tin vào Chúa. Amen.

 

.

RƯỢU MỚI BÌNH MỚI

JM. Lam Thy

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay có liên quan đến lễ Hiển linh và lễ Đức Giê-su chịu Phép rửa, vì trong cả ba lễ này, Đức Giê-su đều tỏ vinh quang của Người ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau: Chúa Nhật lễ Hiển linh, Đức Giê-su tỏ mình ra cho dân ngoại qua ba Đạo sĩ nơi ngôi sao lạ, để loan báo ơn cứu độ phổ quát cho muôn dân; Chúa Nhật lễ Đức Giê-su chịu Phép rửa, Thiên Chúa Cha giới thiệu Người là Con Yêu Dấu và được Chúa Thánh Thần tấn phong, đây là một cuộc mạc khải về thiên tính và sứ vụ của Đức Giê-su; Chúa Nhật hôm nay (CN II/TN), Đức Giê-su tỏ vinh quang của Người cho mọi người dự tiệc cưới qua dấu lạ đầu tiên, đó là “phép lạ biến nước lã thành rượu ngon”.

Câu mở đầu bài Tin Mừng hôm nay (“Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Ca-na miền Ga-li-lê” – Ga 2, 1) khiến người đọc nảy sinh thắc mắc không hiểu tại sao thánh sử Gio-an lại viết như vậy. Nếu theo trình tự sách Tin Mừng theo thánh Gio-an thì Chương I, sau “I- LỜI TỰA”, tác giả bắt đầu trình thuật về “II- SỨ VỤ CỦA ĐÚC GIÊ-SU: 1. LOAN BÁO NHIỆM CỤC MỚI” với mục “A. Tuần lễ khai mac”, phần mở đầu là “Lời chứng của ông Gio-an”, tiếp theo là phần trình thuật Đức Giê-su thu nhận “Các môn đệ đầu tiên”. Cuối phần này, kể chuyện ông Na-tha-na-en tới gặp Đức Giê-su và tuyên xưng “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua It-ra-en!” và đã được Người hứa: “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các Thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống nơi Con Người.” (Ga 1, 49-51). Sang đến Chương II, thì mở đầu bằng “Tiệc cưới Ca-na”. Tiệc cưới này xảy ra vào ngày thứ ba tính từ khi Đức Giê-su gặp ông Na-tha-na-en.

Như vậy là đã rõ, tại sao tác giả Gio-an lại viết “Ngày thứ ba”. Tuy nhiên, ở đây, cần  phải hiểu sâu hơn về cụm từ “Ngày thứ ba”: Trong tất cả các sách Tin Mừng, cụm từ ấy luôn luôn dành để loan báo việc Chúa Giê-su sống lại vào ngày thứ ba sau khi tử nạn. Điều đó cho thấy thánh Gio-an có chủ ý muốn kể câu chuyện tiệc cưới Cana trong ánh sáng và bầu khí Phục Sinh. Thật là ý nghĩa khi mở đầu cho sứ vụ cao trọng “Cứu độ nhân loại” là việc Chúa tỏ mình ra trong một tiệc cưới, và tiệc cưới ấy lại xảy ra vào ngày thứ ba là ngày tiên báo Người hoàn tất sứ vụ bằng mầu nhiệm Phục Sinh vinh hiển. Rõ ràng thánh sử Gio-an muốn đặt câu chuyện tiệc cưới vào trong bối cảnh Tin Mừng Phục Sinh, sâu xa hơn nữa là bối cảnh “tiệc cưới cánh chung” (ngày tận thế).

Thật vậy, mở đầu cho sứ vụ của Đức Giê-su là phép lạ ở một tiệc cưới, cũng như mở đầu cho sự sống nhân loại là tiệc cưới Nguyên tổ (“Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra.” Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.” – St 2, 23-24). Và khi hoàn tất sứ vụ cứu độ nhân loại là tiệc cưới Phục Sinh, thì khi chấm dứt lịch sử loài người là tiệc cưới cánh chung (xc. “Dụ ngôn tiệc cưới” – Mt 22, 1-14; Lc 14, 15-24). Như vậy cũng có thể nói tất cả các dữ kiện về tiệc cưới đều nhằm nói lên một cuộc hôn nhân giữa Thiên Chúa và oài người từ khởi nguyên (Alpha) cho đến tận cùng (Omega).

Vì thế, người ta không ngạc nhiên khi thấy Đức Giê-su khởi đầu sứ vụ của Người nơi một tiệc cưới. Ở tiệc cưới ấy, người ta thiếu rượu. Quả thật là trong mọi tịêc cưới của loài người vẫn cứ luôn luôn và mãi mãi thiếu rượu, nên đã khỉến không biết bao nhiêu cuộc hôn nhân trở thành trò mua bán, thứ lừa đảo, rồi “tuần trăng mật” biến thành “tuần vỡ mật”, “trăm năm hạnh phúc” trở thành “ngàn năm ôm hận”, đĩa bay, bát bay ì xèo, thậm chí hôn phu và hôn thê lâm cảnh “Anh đi đường anh, tôi đường tôi, Tình nghĩa đôi ta có thế thôi!” (Thế Lữ)… Thứ rượu thiếu ấy không phải và không thể là những thứ Whisky, XO, Seven Crown, Half and Half, Baileys, Royal Salutte, hay Hồng Tửu, Bách Nhật Tửu v.v… và v.v…, mà là thứ “Bác Ái Tửu” Thiên Chúa đã ban tặng ngay từ cuộc hôn nhân đầu tiên của loài người. Chỉ tiếc một điều, con người đã không nhận ra, mà đi kiếm đủ thứ rượu tạp nham để rồi thì “không say không về” đến độ say khướt chìm đắm trong vũng lầy tội lỗi.

Như vậy phép lạ biến nước thành rượu ở tiệc cưới Cana mang một ý nghĩa vô cùng thâm thuý và rất quan trọng. Một cách cụ thể là Đức Giê-su Thiên Chúa – vị hôn phu mẫu mực và tuyệt đối trung thành của nhân loại – hiểu rất rõ tình trạng “thiếu rượu” trong hôn nhân giữa loài người với nhau và với Thiên Chúa, nên Người muốn canh tân thành “rượu mới bình mới’ (Lc 5, 37) cho đúng với tinh thần Giao Ước Mới. Nói cách khác, Người muốn mở một kỷ nguyên mới, lập một trang sử mới cho chế độ hôn nhân Ki-tô Giáo bằng một Bí tích nhiệm mầu là thứ rượu mà Người khẳng định trong bữa Tiệc ly: “Đây là chén Máu Thầy, Máu Giao Ước mới, Giao Ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26, 27-28). Đó mới thực sự là Rượu Tình Yêu – Bác Ái Tửu – dành cho cuộc hôn nhân vĩnh cửu giữa Thiên Chúa và loài người. Và vì thế, nên phải coi tiệc cưới Cana là lễ hôn phối đầu tiên trong Đạo Mới đã được chính Đức Giê-su Thiên Chúa làm phép cuới trước sự chứng kiến của Mẹ Maria, các Tông đồ và đông đảo dân chúng. Và kể từ nay, hôn nhân phải “một vợ một chồng, bất khả phân ly, tràn đầy ân sủng, muôn đời hạnh phúc” trong Thiên Chúa Tình Yêu.

Ngoài ra, như thánh Gio-an ghi nhận: “Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Ga-li-lê để bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người.” (Ga 2, 11), phép lạ Chúa Giê-su làm tại tiệc cưới Cana được coi là phép lạ dành riêng cho các môn đệ và đám đông dân chúng đến dự tịêc. Tại sao vậy? Vì các môn đệ mới được thu nhận rất cần được củng cố niềm tin vào Người Thầy Chí Thánh của mình. Còn đối với dân chúng, mới chỉ biết ông Giê-su Na-da-ret là con bác thợ mộc Giu-se và bà Maria hiền lành, nên lại càng cần phải cho họ hiểu “Người là ai?” Đó phải chăng là một trong 4 lần tỏ mình của Chúa Giê-su. Ba lần kia là: 1- Người tỏ mình cho các mục đồng, những con người nghèo khó; 2- Người tỏ mình cho 3 đạo sĩ đại diện cho dân ngoại; 3- Người chịu phép rửa trên sông Gio-đan. Và lần thứ tư là tại tịêc cưới Cana được sắp xếp vào tuần Phụng vụ thứ hai của mùa Thường Niên như để định hướng cho cuộc đời của người tín hữu Ki-tô.

Cuối cùng, còn phải lưu ý một điều là ở tịêc cưới Cana, thì sự hiện diện của Đức Maria thật vô cùng ý nghĩa, bởi chính Mẹ là nhịp cầu nối liền giữa Thiên Chúa với loài người. Thiên Chúa luôn mong muốn đến với con người, nhưng con người hầu như không muốn đến với Thiên Chúa (bằng sự “tai điếc mắt ngơ, thờ ơ lãnh cảm”). Nhịp cầu nối thánh thiện nhất chính là Mẹ Maria: Mẹ đã “xin vâng” cưu mang Đấng Cứu Độ đem đến cho nhân loại an binh và hoà giải, đồng thời trong suốt cuộc đời trần thế, Mẹ luôn cầu bầu cùng Thiên Chúa giảm cơn thịnh nộ, thương ban cho con cái “Rượu Tình Yêu” như Lời Người đã hứa. Chỉ cần một câu ngắn gọn “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2, 5) đã đủ nói lên tất cả tấm lòng thương yêu của Mẹ đối với con cái, đồng thời biểu hiện rõ ràng tâm tình của Mẹ đối với Thiên Chúa mà Mẹ cũng rất muốn truyền lại cho con cái trần gian, đó là hai tiếng “xin vâng”.

Vai trò người Mẹ trong tiệc cưới lại càng sáng tỏ hơn dưới chân thập tự: Mẹ được trao quyền làm Mẹ Giáo hội, mà Giáo hội đã được coi là hiền thê của Đức Giê-su (Hs 2, 21; Is 54, 5-8; Is 62, 5; Ep 5, 21-33; 2Cr 11, 2); vậy thì có khác gì đây cũng là một tiệc cưới giữa hôn phu là Người Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ, với hiền thê là Giáo hội lữ hành, mà Mẹ đang đại diện Thiên Chúa Cha đứng làm chủ hôn? Mẫu tính thiêng liêng của một người Mẹ, làm chúng ta tin tưởng tuyệt đối rằng, Mẹ Maria vẫn luôn theo dõi từng bước đi của Giáo hội, của từng Ki-tô hữu. Mẹ sẽ âm thầm cầu bầu, che chở cho chính chúng ta trước những phong ba thử thách vượt quá sức chịu đựng của con người. Những lúc mà chúng ta “hết rượu” như chú rể, cô dâu trong tiệc cưới Cana năm xưa, thì Mẹ lại ẩn mình dưới nhiều hình thức khác nhau để giúp con mình được Trưởng Tử Giê-su thương đoái. Lúc đó, bình rượu mỗi người không chỉ được đầy mà còn là “rượu ngon”, bởi chính đó là “Đệ nhất Bác Ái Tửu: Rượu Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô.”

Từ tiệc cưới Cana, người Ki-tô hữu cần rút ra được bài học là chính trong Hội Thánh và nơi Thánh Thể mà chúng ta thấy kết tinh kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Ở đây rõ ràng có tiệc cưới Con Chiên. Rượu sẽ hóa thành Máu và Máu sẽ ban Thánh Thần cho những ai lãnh nhận để một Thần Khí Thiên Chúa sinh hoạt nơi mọi phần tử trong Giáo hội. Tham dự thánh lễ Chúa nhật II/TN-C (được tham dự “Tiệc cưới Cana”), chúng ta phải kết hiệp với Thánh Linh; rồi phải sống như mình thực sự là một chi thể trong một thân thể duy nhất. Phải đem hết khả năng thi hành nhiệm vụ riêng để phục vụ cộng đoàn. Lúc ấy Hội Thánh mới tỏ ra thực là một thân thể, có Đầu là Đức Giê-su và Thần Khí là hệ tuần hoàn nuôi dưỡng toàn thân, minh chứng Thiên Chúa luôn kết hiệp với dân Người, thể hiện mọi lời tiên tri về hôn nhân. Người Ki-tô hữu muốn được vậy, hãy chạy đến cùng Mẹ. Chỉ có Mẹ và nhờ Mẹ, chúng ta mới sống một cuộc sống hôn nhân không bao giờ sợ thiếu rượu và chứa chan hạnh phúc đến muôn đời.

Ôi! Lạy Mẹ Maria, cuộc sống hôn nhân trong gia đình của chúng con cũng đã không ít lần hết rượu ở quá khứ và Mẹ đã âm thầm giúp đỡ để chúng con vượt qua. Trong tương lai chắc chúng con cũng sẽ còn phải đối đầu trong nhiều lần hết rượu khác nữa. Cúi xin Mẹ cho chúng con biết tín thác vào Mẹ và hiểu rằng Mẹ vẫn luôn sẵn sàng tiếp thêm rượu cho chúng con vào những lúc cuộc sống hôn nhân gia đình của chúng con bế tắc vì thiếu rượu Giao Ước Mới. Ôi! “Lạy Nữ Vương Gia Đình, Mẹ ở đây với chúng con, vui buồn sướng khổ, Mẹ con cùng nhau chia sẻ. Xa Mẹ, chúng con biết cậy trông ai. Đời chúng con gian nan khổ sở lắm. Gia đình chúng con long đong tối ngày. Nhưng có Mẹ ở bên chúng con, chúng con sẽ quên hết ưu phiền, vui sống qua kiếp lưu đầy. Mong ngày sau sung sướng cùng Mẹ trên Thiên Đàng. Amen.” (Kinh “Nữ Vương Gia Đình”).

 

.

CÓ CHÚA LÀ CÓ NIỀM VUI

Lm. Giuse Nguyễn

Năm thứ nhất triều đại Giáo hoàng của mình, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng” (Evangelii Gaudium) vào ngày 24.11.2013. Ba năm sau, Ngài tiếp tục ban hành Tông huấn thứ hai: “Niềm vui của tình yêu” (Amoris Laetitia) vào ngày 19.03.2016. Gần đây nhất, ngày 19.03.2018, năm thứ sáu triều đại Giáo hoàng của Ngài, Ngài tiếp tục ban hành Tông huấn thứ ba mang tên: “Vui mừng và hân hoan” (Gaudete et Exsultate) về việc nên thánh trong thế giới hôm nay. Trong cả 3 Tông huấn đều có dáng vẻ của niềm vui. Đó cũng là sứ điệp của Tin Mừng mà Đức Giêsu mang đến cho nhân loại chúng ta.

Tiên tri Isaia trong bài đọc thứ nhất loan báo sự xuất hiện của “Đấng Công Chính”, “Vị Cứu Tinh” sẽ đem đến niềm vui cho toàn thể con cái Israel. Sự xuất hiện đó mang đến một giá trị mới cho họ. Từ đây họ sẽ được trân quý như vàng ròng, như kim cương. Họ không còn là nô lệ, là thứ bị lạm dụng… nhưng sẽ là người vợ rất yêu quý, là tân nương được Tân Lang hết lòng sủng ái… Điều mới mẻ trong sứ điệp của Isaia là thay vì Thiên Chúa là niềm vui cho dân thì ngược lại dân cũng là niềm vui cho Thiên Chúa: “Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 62, 5b). Để từ đây dân chúng thấy rõ ràng giá trị của mình. Kết luận: Thiên Chúa và con người là niềm vui cho nhau. Con người thực sự hạnh phúc khi khám phá ra sự thật đó.

Thánh kinh dùng hình ảnh của rượu là dấu chỉ của niềm vui khi Thiên Chúa thiết đãi dân bữa tiệc có rượu: “Ngày ấy, Chúa các đạo binh sẽ thết tất cả các dân trên núi này một bữa tiệc đầy thịt rượu, thịt thì béo, rượu thì ngon…” (Is 25, 6). Thánh Thi giờ Kinh Sáng Thứ Hai tuần VII Thường niên cũng nhắc đến vai trò của rượu: “Rượu ngon tiết độ Thần Khí Chúa, say ngất hồn thiêng mới đã thèm.” Vì thế rượu còn là biểu tượng của sự ngất ngây trong men tình với Thiên Chúa.

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay cho thấy rõ ràng rượu là dấu chỉ của niềm vui, thiếu rượu là thiếu niềm vui. Đức Mẹ đã thay mặt gia đình để trình bày trước với Đức Giêsu về khó khăn đó: “Họ hết rượu rồi!” (Ga 2, 3). Mẹ đã quan sát và biết chắc việc đó sẽ xảy ra, Mẹ không muốn gia đình này thiếu vắng niềm vui do việc hết rượu, và Mẹ biết chỉ có quyền năng của con mình mới can thiệp được việc này. Và Đức Giêsu đã làm phép lạ đầu tiên hóa nước thành rượu trong một tiệc cưới tại Cana. Điều đó cho thấy Chúa đã quan tâm đến đời sống hôn nhân gia đình của nhân loại, và sẵn sàng can thiệp khi họ gặp khó khăn.

Có rượu là có niềm vui. Hơn thế nữa, rượu này là rượu ngon. Gia đình đã chuẩn bị rượu và rượu của họ vừa thiếu, lại vừa là rượu xoàng (theo lời của ông quản tiệc). Còn Đức Giêsu đã ban cho họ thứ rượu vừa nhiều lại vừa ngon, cũng theo lời ông quản tiệc: “Ai cũng thết rượu ngon trước. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ” (Ga 2, 10).

Như vậy qua phụng vụ Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy Thiên Chúa mang đến niềm vui cho con người và đó là niềm vui sâu xa, đích thực vượt lên trên mọi niềm vui ở thế gian này. Nó là thứ rượu do Đức Giêsu làm chứ không phải do con người làm.

Phụng vụ lời Chúa hôm nay thật thích hợp trong Năm Gia Đình 2019: Đồng hành với những gia đình gặp khó khăn. Ngay từ đầu Thiên Chúa đã thiết lập định chế Hôn nhân và Gia đình và họ đã thực sự hạnh phúc trong vườn địa đàng. Thế nhưng họ đã thực sự gặp khó khăn khi muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời của mình. Và hôm nay đây, khi xuống thế làm người, Đức Giêsu đã muốn định chế hôn nhân đó được tái lập lại ở sự kiện công khai xuất hiện đầu tiên của Ngài tại tiếc cưới Cana chứ không phải nơi nào khác. Ngài đã giúp cho gia đình này vượt qua hoàn cảnh khó khăn trong tình thế hết rượu bằng phép lạ đầu tay của Ngài. Như vậy, một lần nữa Ngài khẳng định: có Chúa là có niềm vui, có Chúa gia đình sẽ vượt qua mọi khó khăn.

Khó khăn thực sự của các gia đình hôm nay là không có Chúa, hay nói cách khác Chúa vẫn hiện diện trong gia đình của họ như trong vườn địa đàng thuở ban đầu, như trong tiệc cưới tại Cana, nhưng vì họ muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi gia đình mình hoặc không cần đến thứ rượu của Đức Giêsu.

Họ loại trừ Thiên Chúa như bà Eva vì bị cám dỗ để không còn lệ thuộc vào Chúa nữa. Gia đình gặp khó khăn khi không muốn thờ phượng Chúa vì mất giờ, vì theo đạo Chúa phiền phức quá, vì có một vị thần nào đó hấp dẫn hơn Chúa… Hãy nhớ bà Eva đã bị ma quỷ cám dỗ để bỏ Chúa, trong khi Chúa là Cha đích thực của bà.

Họ không cần đến thứ rượu của Đức Giêsu vì họ đang say trong men rượu do con người làm ra. Rượu đó là rượu của tiền bạc, của ái tình của nhục dục… Còn rượu của Đức Giêsu chính là tình yêu. Gia đình gặp khủng hoảng khi họ không còn yêu thương nhau, mà chỉ lo chuyện tiền bạc, tìm kiếm khoái lạc trong những thỏa mãn thú vui xác thịt, đôi khi dẫn đến công khai thách thức cả gia đình và người bạn đời.

Giáo hội đồng hành với những gia đình gặp khó khăn để mời gọi họ nhớ rằng dù họ có chối từ thì Thiên Chúa vẫn là Cha của họ. Dù họ có đi đâu làm gì, thì ấn tích của Bí tích Rửa tội cũng không phai mờ nơi họ. Thiên Chúa vẫn không bỏ họ. Và để giải quyết khó khăn này, chỉ có cách họ quay trở về với Thiên Chúa là Cha yêu thương. Và mời gọi những ai đang tìm kiếm những men say từ thứ rượu khác hãy từ bỏ ngay mà trở về với thứ rượu do Thiên Chúa làm, vì nếu họ cứ mãi mê với những thứ rượu do con người làm họ sẽ bị say xỉn không biết đường về hoặc sẽ bị ngộ độc. Chỉ có “rượu ngon tiết độ Thần Khí Chúa, say ngất hồn thiêng mới đã thèm” mà thôi.

Lạy Chúa, xin cho những gia đình gặp khó khăn biết rằng Chúa vẫn hiện diện trong gia đình họ. Và xin cho những gia đình đó biết tìm đến với sự ân cần, tế nhị của Đức Mẹ, vì chắc chắn Mẹ biết và sẽ trình bày tất cả với Đức Giêsu con của Mẹ.

 

.

CÓ CHÚA TA ĐƯỢC BIẾN ĐỔI NÊN THÁNH

Lm. Giuse Lê Danh Tường

Suốt mùa Thường niên, Phụng vụ Giáo hội mời gọi các tín hữu dõi theo hành trình rao giảng của Chúa Giê-su trên dương thế. Lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa trong Chúa nhật tuần trước là khởi đầu của mùa Thường niên. Và biến cố ấy là ngày Chúa Giê-su khởi sự sứ vụ công khai rao giảng Nước Trời. Trong Chúa nhật thứ hai này, Phụng vụ trình bày về sự biến đổi từ hoang tàn tới phồn thịnh, từ nước thành rượu, từ chia rẽ tới hiệp nhất. Sự biến đổi ấy có được là bởi có sự hiện diện của Chúa.

Lời tiên báo năm xưa 

Trong bài đọc thứ nhất, tiên tri Isaia đã khơi lên trong tâm hồn những người Do Thái một hy vọng đầy tươi sáng. Dân Do Thái khi ấy mới trở về Giê-ru-sa-lem sau những năm lưu đầy tại Babylon. Trước mắt họ là cảnh hoang tàn của thành thánh đã bị thiêu đốt. Nhóm dân ít ỏi rơi vào tâm trạng chán nản, thất vọng.

Tiên tri Isaia đã quả quyết về sự xuất hiện của Đấng công chính. Thiên Chúa sẽ làm cho Giê-ru-sa-lem trở nên huy hoàng: “ngươi sẽ không còn gọi là kẻ bị ruồng bỏ, và đất ngươi sẽ không còn gọi là chốn hoang vu. Ngươi sẽ được gọi là “kẻ Ta ưa thích”, và đất ngươi sẽ được gọi là đất có dân cư”. Sự hiện diện của Thiên Chúa sẽ làm cho dân được biến đổi từ tình trạng u buồn của “kẻ bị ruồng bỏ” sang tình trạng vui mừng trong lòng bàn tay Chúa “như thanh niên ở cùng trinh nữ, con cái ngươi sẽ ở trong ngươi; như người chồng sẽ vui mừng vì vợ, Thiên Chúa ngươi sẽ vui mừng vì ngươi”.

Chứng kiến niềm vui có Chúa

Viễn cảnh mà tiên tri Isaia loan báo ấy được hiển lộ trong bài Tin mừng mà thánh sử Gioan tường thuật tại tiệc cưới Cana. Chính sự hiện diện của Chúa Giê-su trong tiệc cưới đã đem lại niềm vui trọn vẹn cho cô dâu chú rể. Chính cái đụng chạm của Thiên Chúa đã làm cho nước lã trở thành rượu ngon.

Nếu cô dâu chú rể không mời Chúa Giê-su thì họ đã không có sự hiện diện của Ngài trong cuộc đời hôn ước. Họ không đủ rượu cho khách chứng tỏ họ nghèo. Và cái nghèo ấy cộng với sự vắng bóng của Thiên Chúa ắt hẳn sẽ khiến cho ngày cưới trở nên nhàm chán vì thiếu rượu, đời hôn nhân sẽ mãi nhạt nhẽo như nước lã.

Nhưng họ đã có sự hiện diện của Chúa trong đời mình. Họ đã lắng nghe và làm theo lời Chúa chỉ dạy. Bởi thế mà tình trạng thiếu thốn của họ đã trở nên dư dả, tình trạng nhạt nhẽo như nước lã đã trở nên nồng nàn như rượu quý. Họ đã được biến đổi thực sự nhờ có Chúa hiện diện cùng họ.

Việc làm đầu tiên mà Chúa Giê-su thực hiện công khai trước bàn dân thiên hạ đã diễn ra trong khung cảnh một đám cưới. Sự xuất hiện của Chúa giữa cuộc đời đã đem lại niềm vui cho con người. Niềm vui tươi mới mà tiên tri Isaia loan báo khi xưa đã thực sự diễn ra: niềm vui của thanh niên bên thiếu nữ, niềm vui của người chồng bên người vợ. Thiên hạ tưng bừng trong tiệc cưới với rượu ngon.

Những khác biệt trở nên một trong Thần Khí

Đón nhận Chúa và chấp nhận để cho Chúa hoạt động trong con người của mình thì mọi khác biệt cũng trở nên hiệp nhất. Thánh Phaolo đã đưa ra một loạt những minh họa cụ thể trong thư Ngài gửi tín hữu thành Cô-rin-tô: “có những hồng ân khác nhau, nhưng vẫn là một Thánh Thần”.

Xã hội bao gồm những con người khác biệt. Đón nhận Chúa, mỗi người đều được biến đổi trong ơn thánh Chúa. Sự biến đổi ấy không làm cho mọi người trở nên giống nhau, nhưng làm cho mỗi người trở nên chính mình. Một giáo sư sẽ trở nên một giáo sư thánh, một nông dân sẽ trở nên một nông dân thánh, một chính trị gia sẽ trở nên một nhà chính trị thánh, một linh mục sẽ trở nên một linh mục thánh, một công nhân sẽ trở nên một công nhân thánh, một người giúp việc sẽ trở nên một gia nhân thánh… Nhưng dù là ai thì tất cả đều trở nên thánh bởi “cùng một Thánh Thần duy nhất thực hiện tất cả những điều đó”.

Năm xưa nước đã biến đổi thành rượu nhờ sự hiện diện của Chúa Giê-su; ngày nay trên bàn thờ tế lễ, Chúa Giê-su tiếp tục hiện diện qua thánh chức linh mục để biến đổi rượu và bánh thành huyết nhục Chúa. Mỗi người được mời gọi tiến tới đón nhận Chúa Giê-su vào trong lòng mình. Chính Chúa sẽ biến đổi, sẽ kéo con người ra khỏi những tăm tối để bước vào miền ánh sáng. Chính Chúa sẽ biến đổi tình trạng nhạt nhẽo của gia đình, của tâm hồn trở nên nồng nàn như rượu mới ngày tân hôn.

Lạy Chúa, con xin mời Chúa đến với con, đến với gia đình con. Con tin thật sự hiện diện của Chúa trong đời con. Có Chúa con sẽ được biến đổi, sẽ trở nên tươi mới, sẽ luôn được hưởng nếm rượu ngon của tiệc cưới Nước Trời.

 

.

RƯỢU NỒNG ĐƯỢC THIẾT ĐÃI BỞI ĐẤNG MÊSSIA

Lm. Phêrô Võ Tá Toàn

Có một lần tôi đi dự tiệc tại một gia đình nọ, tôi được ngồi bàn chung của những người lớn, buổi tiệc thì có rượu bia, trong bữa tiệc đó có một người vô thần, có nói đến bữa tiệc cưới  cana. Ông ta khen người do thái khi xưa thật giỏi, họ chế được hóa chất bỏ vào nước thì hóa thành rượu như ngày hôm nay có nhiều người bỏ hóa chất trung quốc vào trong thùng nước và nước này trở thành rượu. Nhưng vì đông người lớn và cũng không tranh cãi để làm mất vui nên tôi đành im lặng cho xong. Bởi vì tôi định hỏi nếu hóa chất của trung quốc sản xuất bỏ vào trong nước thành rượu đấy, nhưng chú có dám uống không?. Chẳng qua một khi từ chối Thiên Chúa thì người ta cũng ngụy biến mọi cách để từ chối luôn sự mách bảo của tiếng lương tâm là có Thiên Chúa, và cũng cố giản lược những phép lạ Chúa Giêsu làm thành những vấn đề về khoa học, để qua đó họ không còn bị cắn rứt lương tâm khi không tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa, cũng như những việc xấu mà họ làm.

Nhưng ngược lại, rượu tại tiệc cưới cana lại là một thứ rượu ngon tuyệt mà chính Gioan đã chứng kiến, và ai nấy uống đều khen ngon đến nỗi người quản tiệc cũng phải lên tiếng: “Ai cũng thết đãi rượu ngon trước, và khi khách ngà ngà thì mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi đến bây giờ”. Đó chính là sự khác biệt giữa rượu giả làm từ hóa chất trung quốc và phép lạ hóa nước thành rượu của Chúa Giêsu. Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, đến để đem lại niềm vui và ơn giải thoát cho con người. Ngài đến để tiêu diệt tội lỗi và các kẻ gây ra tội lỗi. Ngài còn khôi phục lại sự thánh thiện của con người, làm cho họ xứng đáng được hưởng nhan thánh Chúa. Không những thế, Ngài vẫn luôn đồng cảm với những khó khăn, những đau khổ của con người, vì Người chính và vị Thiên Chúa quyền năng và yêu thương. Câu chuyện Chúa làm phép lạ biến nước thành rượu tại tiệc cưới Cana đã minh chứng điều đó.

Đám cưới là một trong những ngày vui, ngày đại hỷ, ngày trọng đại của đôi tân hôn. Việc bất ngờ không lường trước được đã xảy ra cho đôi tân hôn đó là tiệc chưa tàn mà rượu đã hết. Việc này quả thực là một điều hết sức xấu hổ cho gia đình Do Thái. Nhưng thật là may mắn cho đôi tân hôn này vì hôm nay, họ đã mời Chúa Giêsu, Mẹ Maria và các môn đệ đã hiện diện trong bữa tiệc cưới của họ. Mẹ Maria hiện diện không như là khách, nhưng như là người trong gia đình, vì vậy Mẹ đã khám phá ra nhà đã hết rượu. Với tấm lòng quảng đại của người Mẹ trước nỗi khó khăn của gia chủ, Mẹ đã gợi ý với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi”. Mẹ tin chắc chắn với sự quan tâm và lòng thương xót của Con Mẹ, Con của Mẹ sẽ ra tay để cứu gia đình tân hôn này. Vì vậy, Mẹ tin tưởng nói với các gia nhân: “Hễ Người bảo gì thì hãy làm theo”. Quả thật, Đức tin của Mẹ thật tuyệt vời, Mẹ tin vào Con của Mẹ trước khi phép lạ nước hóa thành rượu xảy ra, trong khi đó các môn đệ thì tin sau: “Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na miền Ga-li-lê và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người”.

Dù chưa đến giờ Chúa Giêsu thể hiện quyền năng, giờ Ngài được giương cao trên thập giá, giờ Ngài được tôn vinh, giờ mà tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ tận mức ở nơi cái chết của Người Con Một Thiên Chúa. Rõ ràng, ở tiệc cưới Ca-na, giờ đó chưa đến. Nhưng vâng lời Mẹ, Chúa Giêsu đã ra lệnh: Hãy đổ nước đầy vào chum. Họ đổ đầy sáu chum. Ngài bảo họ: Hãy múc rượu lên cho quản tiệc. Khi quản tiệc nếm thử thì nước đã biến thành rượu ngon khiến cho mọi người thắc mắc : Tại sao ông lại giữ rượu ngon đến giờ này?

Thứ nước mà Chúa Giêsu làm phép lạ là thứ nước dùng cho nghi thức tẩy uế của Do Thái giáo, Chúa Giêsu biến nó thành rượu ngon, một lượng rượu khổng lồ vượt quá mức đòi hỏi. Việc nước thanh tẩy của Cựu Ước biến thành rượu Mê-si-a báo hiệu “Cái cũ đã qua đi, và cái mới đã có ở đây rồi”.

Thời đại Mê-si-a đã đến. Từ nay, nước thanh tẩy không còn có ích nữa, luật cũ, nếp sống cũ và các việc tế tự cũ, chúng không đem lại cho con người sự công chính cũng như sự sống hạnh phúc viên mãn, nên cần phải được thay thế bởi rượu bình mình của kỷ nguyên Mê-si-a, dấu chỉ của ơn cứu độ. Như thế Chúa Giêsu đã mở ra một thời đại mới, thời đại thiên sai, chan chứa niềm vui cứu độ. Vì vậy, phép lạ Ca-na là một dấu chỉ thời Mê-si-a.

Mặt khác, rượu là dấu chỉ, là biểu tượng của niềm vui thời Mê-si-a, tiên trưng niềm vui vĩnh cữu, thường được biểu thị bởi bàn tiệc trong Nước Thiên Chúa, “bàn tiệc cánh chung”.

Và hôm nay, Chúa Giêsu ban tặng Rượu mới cho nhân loại không như rượu đế, hay như hóa chất Trung Quốc bỏ vào nước hóa thành rượu uống say lăng quay ra rồi chết vì ngộ độc thực phẩm, ngộ độc Metalnol. Nhưng đó là rượu của tình yêu, rượu ân sủng là rượu Thánh Thần. Chúa Giêsu chính là tân lang mới. Ngài sẽ thiết đãi nhân loại này bữa tiệc Nước Trời, mọi người sẽ không còn uống rượu đế, rượu hóa chất trung quốc nhưng là rượu Nước Trời.

Tiên tri Isai đã nhìn thấy trước bữa tiệc của Đấng Mesia, bữa tiệc cưới của Con Thiên Chúa và nhân loại: “Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về”. Tiệc cưới này không bao giờ tàn, rượu ngon sẽ không bao giờ cạn.
Trong tiệc cưới ấy, Thánh Thần chính là rượu mới mà Chúa Giêsu ban cho nhân loại, đặc biệt cho mỗi Kitô hữu đó là sự phục vụ và yêu thương. Và mỗi người sẽ được nếm hưởng rượu của Thánh Thần cách khác nhau: “có nhiều đặc sủng khác nhau, nhiều việc phục vụ khác nhau, nhiều hoạt động khác nhau, nhưng chỉ có một Thánh Thần duy nhất”.

Kính thưa cộng đoàn:
Tình trạng hết rượu trong tiệc cưới cũng là tình trạng của không ít các các gia đình hôm nay. Rượu thiêng liêng thì hết, nhưng rượu đế lại đầy dư, bia bọt thì đầy ứ, ngày ngày tốn tiền uống miết, mà Rượu Thánh Thể được chính Chúa Giêsu thiết đãi thì không màn đến, vì vậy mà niềm vui gia đinh đã vơi, tình yêu gia đình đã cạn, cuộc sống gia đình trở nên đơn điệu nhàm chán, mỗi người chỉ tìm thú vui riêng cho mình. Để tìm lại được niềm vui của ngày thành hôn, chúng ta cần mời Chúa Giêsu và Mẹ Maria vào ăn cơm chung và sinh hoạt với gia đình mình, mời Chúa hiện diện trong các giờ kinh tối, kinh sáng và trong các công việc của gia đình. Với sự nhạy bén và tình yêu của một người mẹ, Mẹ Maria sẽ chỉ cho chúng ta thấy những điều đang thiếu trong gia đình và nhất là Mẹ sẽ cầu xin với Chúa ra tay can thiệp cho gia đình chúng ta vượt qua những khi gặp khó khăn, thử thách, cũng như Chúa Giêsu đã cứu một bàn thua trông thấy cho gia đình đôi tân hôn cana. Amen.

 

.

NIỀM VUI CỦA HÔN ƯỚC MỚI

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

Tin Mừng hôm nay trình thuật lại sự kiện Chúa Giêsu đến dự lễ cưới của một người thân ở Cana và phép lạ Chúa hóa nước thành rượu. Đây là dấu lạ đầu tiên trong bảy dấu lạ mà Chúa Giêsu thực hiện để bày tỏ vinh quang của Người cho các Tông Đồ. Theo Gioan, các dấu lạ này là những dụ ngôn bằng hành động giúp khám ý nghĩa về mầu nhiệm Con Thiên Chúa. Có hai hình ảnh lôi kéo sự chú ý của chúng ta: đó là tiệc cưới và nước lã hóa thành rượu. Chúng ta tìm hiểu ý nghĩa của chúng.

1- Từ hôn phối tự nhiên đến “hôn phối thiêng liêng”

Đối với Chúa Giêsu, hôn phối giữa người nam và người nữ là điều rất tốt đẹp, cao trọng, được Thiên Chúa mong muốn và chúc phúc. Người tỏ ra rất trân trọng cuộc tình tự nhiên này, nên đã đến để tham dự tiệc cưới và chia sẻ niềm vui với họ trong ngày cưới. Hơn nữa, Người còn can thiệp khi họ hết rượu bằng cách làm phép lạ hóa nước lã thành rượu ngon để niềm vui tiệc cưới được nên trọn vẹn. Từ nguyên thủy, Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ, để họ kết hợp nên vợ chồng, yêu thương nhau và để nối dõi tông đường. Chúa Giêsu thiết lập hôn phối tự nhiên này thành một bí tích trong bảy bí tích.

Tuy nhiên, từ sự hiện diện của Chúa Giêsu trong cuộc hôn phối này, thánh Gioan muốn ám chỉ đến một cuộc hôn phối thiêng liêng khác giữa Thiên Chúa và loài người, được các ngôn sứ loan báo từ xưa, nay đã được thực hiện và thành toàn nhờ Chúa Giêsu Kitô.

Quả thế, Cựu Ước đã diễn tả giao ước hôn phối giữa Thiên Chúa và loài người bằng nhiều cách thế khác nhau. Trích đoạn trong Bài đọc I của Is 62,1-5 là một minh họa lý thú về mối tình này: “Vì ngươi sẽ được Chúa đem lòng sủng ái, và Chúa thiết lập hôn ước cùng xứ sở ngươi. Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ.”

Trong sách Hôsê, chúng ta tìm thấy một minh họa khác về chủ đề này: “Ta sẽ thiết lập hôn ước với ngươi vĩnh cửu, Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong công minh và chính trực, trong ân tình và xót thương; Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong tín thành, và ngươi sẽ được biết Đức Chúa” (Hs 2,21-22).

Nhưng phải đợi đến sự xuất hiện của Con Thiên Chúa, lời hứa về “giao ước mới và vĩnh cửu” được thực hiện. Tại Cana, biểu tượng và thực tại gặp gỡ nhau: hôn phối nhân loại của hai người trẻ là cơ hội để biểu thị hôn phối giữa Chúa Kitô và Hội Thánh, mà nó sẽ được thành toàn trong “giờ của Người” ở trên thập giá. Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, được sai đến trong thế gian để ký kết giao ước hôn phối với loài người qua mầu nhiệm nhập thể, tử nạn và phục sinh.

Trong ý nghĩa này, thánh Phaolô có những lời rất ý nghĩa: “Người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh” (Ep 5,31-32). Chính Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh và đã hiến mình cho Hội Thánh. Người đã thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để có một Hội Thánh xinh đẹp và lộng lẫy, không tỳ ố (x. Ep 5,26-27).

Bởi thế, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Lumen Gentium, số 6, trình bày Hội Thánh như là Hiền Thê của Đức Kitô và là Nhiệm Thể của Người: “Hội Thánh được mô tả như Hiền Thê tinh tuyền của Con Thiên Chúa… Sau khi thanh tẩy Hiền Thê, Chúa Kitô muốn Hiền Thê ấy kết hợp và vâng phục mình trong tình yêu và trung tín.”

Như thế, từ hôn phối tự nhiên này, thánh Gioan muốn đưa chúng ta tới giao ước hôn phối giữa Thiên Chúa và loài người qua đại diện “hai họ” là Chúa Giêsu như là tân lang và Giáo Hội như tân nương của giao ước mới.

2- Rượu cũ và rượu mới

Chúng ta trở lại với hình ảnh nổi bật thứ hai đó là rượu cưới. Một sự cố không may xảy ra cho hôn lễ là hết rượu khi tiệc cưới chưa kết thúc. Đức Maria đã nhạy bén phát hiện ra điều đó và thưa với Chúa: “Họ hết rượu rồi.” Từ sự kiện không ai muốn Chúa đưa tới sự lành. Chúa truyền người ta đổ nước vào 6 chum. Rồi người làm phép lạ hóa nước thành rượu ngon. Người quản tiệc bất ngờ và thắc mắc: “Ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến giờ này” (Ga 2,10). Nước hóa thành rượu ngon làm vui lòng khách mời. Vậy, hình ảnh rượu được dùng ở đây để ám chỉ điều gì?

Theo truyền thống Kinh Thánh, rượu, thịt và sữa được dùng trong bữa tiệc do Thiên Chúa thiết đãi dân Người. “Thịt thì béo, rượu thì ngon” (Is 25,6). Rượu mang lại sự vui mừng cho những tâm hồn, vì rượu làm hoan hỷ lòng người (x. Is 55). Rượu cũng là biểu tượng của Luật Chúa (Torah). Ai đào sâu và suy gẫm Luật Chúa thì được ví như người “giặt áo mình trong rượu” (St 49,11). Tin Mừng Nhất Lãm ví giáo huấn của Đấng Mêsia với rượu mới, tượng trưng cho Tin Mừng của Người. Rượu này nguyên chất, hảo hạng, ngon hơn so với “rượu cũ” của Do Thái giáo (Mt 9,14-17; Mc 2,18-22; Lc 5,33-39). Tại Cana, rượu cũ không còn nữa, người ta cần một thứ rượu mới. Đức Kitô cung cấp thứ rượu mới này được lấy từ “nước” của Do Thái giáo và thay thế cho thứ rượu bị thiếu. Như thế, Lời Đức Kitô vượt quá Luật Môsê cả chất lượng lẫn số lượng.

Nhưng, rượu mới này còn là hình ảnh ám chỉ về Chúa Thánh Thần mà Đấng Phục Sinh sẽ ban cho Giáo Hội trong ngày Lễ Hiện Xuống. Nếu rượu mang lại niềm vui và sự hoan hỷ cho khách dự tiệc, thì Chúa Thánh Thần chính là niềm vui, niềm hoan lạc và tình yêu của Thiên Chúa được đổ vào lòng chúng ta như thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần và Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5). “Thần Khí làm cho cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta kêu lên: Abba! Cha ơi!” (Rm 8,15). Thánh Thần được ban trong giao ước mới một cách dồi dào và phong phú. Nếu đời sống Giáo Hội không có Chúa Thánh Thần thì chẳng khác gì tiệc cưới không có rượu. Không có Chúa Thánh Thần có nghĩa là hết tình yêu, hết niềm vui, hết sự nhiệt thành. Nhờ Thánh Thần, các Tông Đồ đã hăng hái rao giảng Tin Mừng, nói được tiếng lạ, chữa lành bệnh tật (x. Cv 2,1-11).

3- Kitô hữu kết duyên với Đức Kitô

Khi được rửa tội, chúng ta ký kết giao ước với Thiên Chúa, được tháp nhập vào Hội Thánh, Thân Thể và Hiền Thê của Chúa Kitô. Nhờ đó, chúng ta được nên một với Thiên Chúa. Trở thành Kitô hữu không phải là một chọn lựa luân lý, nhưng là một cuộc gặp gỡ và gắn bó đích thực với một con Người, chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng ban cho cuộc sống một chân trời mới để bước đi.

Trong truyền thống tu đức, các Giáo Phụ và các bậc thầy tu đức gọi đời sống kết hợp với Thiên Chúa chính là “cuộc hôn phối thiêng liêng” giữa Thiên Chúa và chúng ta (x. Gioan Thánh Giá, Linh Ca). Trở thành Kitô hữu chính là thuộc về Thiên Chúa, sống yêu mến và kết hợp nên một với Người như là đối tượng lớn nhất của đời mình. Không có gì trong đời ta mà không thuộc về Chúa Kitô. Như thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã yêu mến Chúa với tình yêu nồng nàn như một cặp tình nhân yêu nhau. Ngài yêu Chúa với tất cả tâm hồn mình, đến nỗi bất luận ở đâu cũng được, miễn là ở đó mình được yêu Chúa. Chân Phước Êlisabét Chúa Ba Ngôi diễn tả hôn ước này trong một lá thư gửi cho mẹ ngài: “Tân nương thuộc về tân lang; tân lang của con đã cưới con; Ngài muốn con thêm cho Ngài một nhân tính.”

Chúng ta chỉ có thể yêu mến Thiên Chúa khi chúng ta biết đón nhận thứ rượu mới là Lời Chúa bằng việc suy gẫm và thực hành Lời đó mỗi ngày. Chúng ta chỉ có thể yêu mến Thiên Chúa khi chúng ta có Chúa Thánh Thần. Vì chỉ có Người mới liên kết chúng ta nên một với Thiên Chúa trong Đức Kitô. Chính Chúa Thánh Thần sẽ dẫn chúng ta tới dự tiệc cưới Con Chiên trong ngày cánh chung. Amen!

 

.

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN_C

Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật II Thường Niên năm C này nêu bật dấu lạ đầu tiên Đức Giê-su thực hiện ở tiệc cưới Ca-na.

Theo truyền thống của các Giáo Hội Đông Phương, ba biến cố: các nhà chiêm tinh thờ lạy Hài Nhi Giê-su, phép rửa của Đức Giê-su và dấu lạ đầu tiên ở tiệc cưới Ca-na, hình thành nên ba biến cố Chúa Hiển Linh và được cử hành cùng nhau. Theo truyền thống Tây Phương, năm C là năm duy nhất trong ba năm phụng vụ, tưởng niệm việc Chúa Giê-su bày tỏ vinh quang của Ngài ở tiệc cưới Ca-na, sau phép rửa của Đức Ki-tô và việc các nhà chiêm tinh thờ lạy Hài Nhi Giê-su, như vậy duy trì mối liên hệ giữa ba cuộc hiển linh đầu tiên mở ra mầu nhiệm của Đức Giê-su là Vua, Con Thiên Chúa và Đấng Ki-tô.

Is 62: 1-5

Chủ đề của Bài Đọc I là cuộc phục hưng Giê-ru-sa-lem trong tương lai được diển tả bằng ngôn ngữ hôn ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Với từ hôn ước này, Thiên Chúa sắp hoàn lại tước vị “Hiền Thê” cho dân Ngài.

1Cr 12: 4-11

Thánh Phao-lô nhắc nhở các tín hữu Cô-rin-tô rằng muôn vàn ân sủng mà họ hưởng được đều phát xuất từ một Thần Khí duy nhất, Đấng tỏ mình ra nơi mỗi người mỗi cách vì lợi ích của cộng đoàn.

Ga 2: 1-12

Nhân tiệc cưới ở Ca-na, Chúa Giê-su thực hiện dấu lạ đầu tiên: dấu lạ hóa nước thành rượu tiên trưng dấu lạ hóa rượu thành máu của Ngài, đó sẽ là dấu chỉ Giao Ước Mới giữa Thiên Chúa và nhân loại.

BÀI ĐỌC I (Is 62: 1-5)

Bài thánh thi này ca ngợi cuộc phục hưng sắp đến của Giê-ru-sa-lem vào giờ phút khiến lòng người phải nghi ngờ. Sau khi trở về từ Ba-by-lon, những người lưu đày gặp lại thành thánh nghèo nàn, dân cư thưa thớt, đền thờ hoang tàn đổ nát, suốt năm mươi năm qua dưới ách thống trị của ngoại bang. Trước tiên họ bắt tay tái thiết đền thờ, nhưng công việc đã phải bị bỏ dỡ vì thiếu tài chánh và vì những chống đối khác nhau. Họ thất vọng vì công việc quá lớn lao và những khó khăn gặp phải. Trong bầu khí chán chường thất vọng, một ngôn sứ vô danh, được gọi dưới biệt danh là I-sai-a đệ tam, môn đệ của I-sai-a đệ nhị, công bố rằng Giê-ru-sa-lem sắp được phục hưng và tìm lại vinh quang của mình.

  1. Cuộc phục hưng huy hoàng sắp đến

Phải chăng đây chính là lời loan báo của vị ngôn sứ hay lời hứa của Thiên Chúa được đặt trên môi miệng của vị ngôn sứ? Thật khó phân định điều này; một sự luân phiên giữa giọng nói của vị ngôn sứ và giọng nói của Thiên Chúa là một trong những nét đặc trưng của bài thánh thi này. Chung chung, vị ngôn sứ không bao giờ nói ở ngôi thứ nhất, trừ một lần, khi ông biện minh sứ vụ của mình. Qua những gì xảy ra trước đó, chúng ta biết rằng những người hồi hương luôn luôn phàn nàn về việc Thiên Chúa trì hoãn phục hưng Thành Thánh và Đền Thờ của Ngài.

Thật kỳ lạ biết bao khi vị ngôn sứ vặn lại, sự chậm trễ không đến từ Thiên Chúa nhưng từ tội lỗi của các ngươi, vì tấm lòng ưu ái của Thiên Chúa đối với dân Ngài vẫn thường hằng. Đó là ý nghĩa của câu thứ nhất mà người ta toan tính gán cho chính Đức Chúa:

“Vì lòng mến Xi-on, tôi sẽ không nín lặng, 
vì lòng mến Giê-ru-sa-lem, tôi nghỉ yên sao đành, 
tới ngày đức công chính xuất hiện tựa hừng đông, 
ơn cứu độ của thành rực lên như ngọn đuốc” (Is 62: 1).

Giê-ru-sa lem phải được tái thiết trong đức công chính của nó, trong ơn cứu độ của nó. Ở đây “đức công chính” và “ơn cứu độ” thì tương đồng rất rõ nét. Vị ngôn sứ ngỏ lời với Thành Thánh, ông loan báo rằng Thành Thánh sẽ được phục hưng trong huy hoàng rạng rỡ; những quốc gia và những vua chúa đã áp bức Thành Thánh rồi sẽ thấy vinh quang của nó, ơn cứu độ của Giê-ru-sa-lem sẽ “rực lên như ngọn đuốc”.

Người ta thường nhận ra trong tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ tam, một ý tưởng đắc thắng. Dân Thiên Chúa sẽ hả dạ vì những nhục nhã họ đã phải chịu:

“Rồi muôn dân sẽ được chiêm ngưỡng đức công chính của ngươi, 
mọi đế vương sẽ được ngắm nhìn vinh quang ngươi tỏ rạng” (Is 62: 2).

  1. Hôn ước giữa Đức Chúa và dân Ngài

Phần cuối của sấm ngôn này lấy lại hình ảnh về hôn ước giữa Đức Chúa và dân Ngài, hình ảnh này đã trở thành kinh điển kể từ ngôn sứ Hô-sê, rồi đến ngôn sứ Giê-rê-mi-a, ngôn sứ Ê-dê-ki-en, ngôn sứ I-sai-a đệ nhị. Giao Ước được diễn tả bằng ngôn ngữ tình yêu: dân Chúa là Hôn Thê tưởng rằng mình bị thất sủng nay gặp lại tấm lòng sủng ái của Đức Chúa là Hôn Phu của mình.

Nhưng để Giao Ước có thể được tái lập, quá khứ tội lỗi phải được thanh tẩy. Dấu hiệu đầu tiên là gán tên mới cho Giê-ru-sa-lem. Một tên mới tạo nên một căn tính mới. Chúng ta biết tầm quan trọng của tên theo truyền thống Kinh Thánh. Tên diễn tả bản chất sâu xa của một người hay vận mệnh của người mang tên ấy. Giê-ru-sa-lem sẽ không còn được gọi “Đồ bị ruồng bỏ” nhưng “Ái khanh lòng Ta hỡi”. Xứ sở của nó sẽ không còn là “Phận bạc duyên đơn”, nhưng “Duyên thắm chỉ hồng”.

Còn hơn thế nữa, Giê-ru-sa-lem sẽ được Đấng tác thành mình lập hôn ước “như trai tài sánh duyên cùng thục nữ”, nghĩa là, mọi tội lỗi, bất trung, thờ ngẫu tượng của dân thành mà các ngôn sứ đã nhiều lần gọi “con điếm” vì đã chạy theo các thần minh khác, nay được phục hồi sự trinh khiết của mình: tình yêu của Thiên Chúa đã thanh tẩy Thành Thánh. Sau này sách Khải Huyền sẽ gợi lên hôn lễ của Con Chiên với thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc:

“Vì nay đã tới ngày cử hành hôn lễ của Con Chiên, 
và Hiền Thê của Người đã trang điểm sẵn sàng, 
nàng đã được mặc áo vải gai sáng chói và tinh tuyền” (Kh 19: 8).

Ngôn sứ I-sai-a đệ tam chắc chắn nhớ lại bản văn của vị tiền nhiệm mình, I-sai-a đệ nhị, vị ngôn sứ đã mô tả cho những người lưu đày thấy những rực rỡ của Thành Thánh Giê-ru-sa-lem tương lai và báo trước cho Thành Thánh:

“Đừng sợ chi: ngươi sẽ không phải xấu hổ, 
chớ e thẹn: ngươi sẽ không phải nhục nhằn. 
Thật vậy, ngươi sẽ quên hết nỗi hổ thẹn tuổi thanh xuân 
và không còn nhớ bao nhục nhằn thời góa bụa. 
Quả thế, Đấng cùng ngươi sánh duyên cầm sắt 
chính là Đấng đã tác thành ngươi, 
tôn danh Người là Chúa các đạo binh; 
Đấng chuộc ngươi về, chính là Đức Thánh của Ít-ra-en, 
tước hiệu Người là Thiên Chúa toàn cõi đất” (Is 54: 4-5).

  1. Niềm vui hôn ước và niềm vui thời Mê-si-a

“Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, 
ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 62: 6).

Niềm vui của Giáo Ước được làm mới lại giữa Thiên Chúa và dân Ngài, tiên báo niềm vui thời Mê-si-a, niềm vui mà rược dồi dào của tiệc cưới Ca-na loan báo theo cách khác.

BÀI ĐỌC II (1Cr 12: 4-11)

Trong năm Chúa Nhật liên tiếp, Phụng Vụ đề nghị cho chúng ta đọc những đoạn trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô, từ chương 12 đến chương 15.

  1. Bối cảnh

Thánh Phao-lô đã thành lập Giáo Đoàn Cô-rin-tô vào những năm 50-52. Thánh nhân đã lưu lại thành phố này khoảng mười tám tháng và đã để lại một cộng đoàn Ki-tô hữu rất sinh động nhưng cũng gây nên nhiều nỗi bận lòng cho thánh nhân.

Thánh Phao-lô đã viết ít nhất bốn bức thư cho các tín hữu Cô-rin-tô, thư thứ nhất và thư thứ ba đã thất lạc; bức thư mà chúng ta gọi thư thứ nhất thực ra là thư thứ hai. Thánh Phao-lô đã viết thư này từ Ê-phê-xô (có lẽ vào mùa xuân năm 55). Sau khi đã nhắc nhở trật tự trong cộng đoàn, tiếp đó, bàn đến nhiều vấn đề nhất định, thánh nhân bắt đầu tranh luận: toàn thể cộng đoàn Ki-tô hữu đều phải ở dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ gìn giữ cộng đoàn trong sự hiệp nhất và sẽ giúp cho cộng đoàn biết biện phân những hoạt động vì lợi ích chung của Cộng Đoàn.

  1. Lương dân và người Ki-tô hữu

Các tín hữu Cô-rin-tô sống trong bối cảnh ngoại giáo khá đặc biệt. Thành phố Cô-rin-tô là một đô thị lớn thuộc miền duyên hải và gồm nhiều dân tứ xứ, mở rộng cửa đón nhận thế giới bên ngoài. Chịu ảnh hưởng từ miền Cận Đông, các tôn giáo cổ truyền nhường chỗ cho những khát vọng huyền bí, trong khi những tôn giáo mầu nhiệm tràn lan với những nghi lễ khai tâm và thực tiễn hướng đến niềm hưng phấn và xuất thần. Những thái độ này có thể rất gần với những đặc sủng mà các Ki-tô hữu được hưởng. Cần phải nêu lên tất cả cái lập lờ này. Trong cộng đoàn Ki-tô hữu, những ân huệ nhận được có nguồn gốc siêu nhiên; nguồn mạch duy nhất của mọi ân huệ này là Thiên Chúa Ba Ngôi.

  1. Dấu chỉ Ba Ngôi

Lưu ý rằng thánh Phao-lô đặt những đặc sủng và những hoạt động Ki-tô giáo dưới dấu hiệu của Thiên Chúa Ba Ngôi, khởi đi từ Chúa Thánh Thần:

– Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí.

– Có nhiều công việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa (Đức Ki-tô).

– Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng chỉ có một Thiên Chúa, Đấng làm mọi sự trong mọi người (Chúa Cha).

Đoạn, thánh nhân liệt kê một loạt những ân huệ khác nhau, đều là hoa trái của Chúa Thánh Thần. Giáo Hội tiên khởi chắc chắn đã hưởng được nhiều cách thế bày tỏ đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Thánh Lu-ca đã nêu lên nhiều ví dụ trong sách Công Vụ Tông Đồ, đến mức sách này được gọi “Tin Mừng của Chúa Thánh Thần”.

Những ân huệ dồi dào và tự phát như thế bổ túc cho việc thiếu cơ cấu tổ chức. Nhưng thánh Phao-lô muốn tránh tình trạng hỗn loạn; vì thế thánh nhân nhấn mạnh sự duy nhất cơ bản của mọi ân huệ này: “Chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người”.

TIN MỪNG (Ga 2: 1-12)

Theo Tin Mừng Gioan, Đức Giê-su khai mạc sứ vụ của Ngài qua dấu lạ tiệc cưới Ca-na: “Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na miền Ga-li-lê”. Vậy từ “dấu lạ” muốn nói lên điều gì? Như thường hằng trong Tin Mừng Gioan, vấn đề “dấu lạ” có rất nhiều nghĩa, nhưng được tập trung vào một nghĩa cơ bản: thời đại Mê-si-a đến ở nơi sự hiện diện của Đức Giê-su.

  1. Ý nghĩa phong phú của dấu lạ Ca-na

Bài tường thuật về dấu lạ đầu tiên này trình bày một loạt những đối chiếu với giai đoạn cuối cùng sứ vụ trần thế của Đức Giê-su.

– Đây là “ngày thứ ba”  Đức Giê-su “bày tỏ vinh quang của Người và các môn đệ đã tin vào Người”. Biến cố Phục Sinh ẩn hiện ở nơi dấu lạ đầu tiên này.

– Dấu lạ đầu tiên Đức Giê-su thực hiện cốt là hóa nước thành rượu; dấu lạ sau cùng của Ngài cốt là hóa rượu thành máu của Ngài.

– Dấu lạ đầu tiên này được thực hiện để cử hành tiệc cưới nhân loại; dấu lạ sau cùng để cử hành Giao Ước Mới, tiệc cưới của Thiên Chúa với nhân loại.

– Ở tiệc cưới Ca-na, Thân Mẫu Đức Giê-su được thánh ký kể ra lần đầu tiên; Mẹ Ngài sẽ chỉ được thánh ký kể ra lần thứ hai và lần sau cùng dưới chân thập giá, ở đó Đức Giê-su sẽ thân thưa với Mẹ Ngài cũng bằng cách xưng hô như ở tại tiệc cưới Ca-na: “Thưa bà”. Có những bí ẩn hòa điệu giữa hai biến cố này.

– Ở tiệc cưới Ca-na, Chúa Giê-su lần đầu tiên nói về “giờ của Ngài”. Giờ này sẽ là giờ Tử Nạn và Vinh Quang của Ngài. Khi viết: “Đức Giê-su biết giờ của Ngài đã đến” (Ga 13: 1), thánh ký sẽ nói về lễ Vượt Qua gần đến và về bữa ăn sau cùng của Đức Giê-su với các môn đệ Ngài. Bữa ăn đầu tiên, tiệc cưới Ca-na, cũng được định vị vài ngày trước lễ Vượt Qua.

Những đối chiếu đa dạng như trên giúp chúng ta hiểu sâu xa những ý nghĩa phong phú của dấu lạ tiệc cưới Ca-na.

  1. “Ngày thứ ba”

Thánh Gioan xây dựng bài tường thuật của mình về những khởi đầu cuộc đời công khai của Đức Giê-su theo cùng một cách với bài tường thuật về giai đoạn sau cùng của Ngài, với thời gian đặc thù và biểu tượng: các biến cố được cô động thành một tuần lễ, ngầm tham chiếu đến bảy ngày của công trình sáng tạo. Chính “vào ngày thứ bảy” của tuần lễ khai mạc mà tiệc cưới Ca-na, dấu chỉ của ơn cứu độ thời Mê-si-a, được định vị: một cuộc sáng tạo mới. Nhưng đây cũng là “ngày thứ ba”  khởi đi từ việc Đức Giê-su ra khỏi miền Giu-đê. Việc Đức Giê-su tham dự tiệc cưới Ca-na được đặt vào ngày thứ ba sau lời hứa của Ngài cho ông Na-tha-na-en, một trong những môn đệ đầu tiên của Ngài: “Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa” (Ga 1: 50).

Ca-na là một thị trấn nhỏ thuộc miền Ga-li-lê không xa làng Na-da-rét. Đức Ma-ri-a đến Ca-na, chắc chắn từ Na-da-rét; Mẹ đến một mình; chắc hẳn thánh Giu-se đã qua đời. Còn Đức Giê-su đến từ miền Giu-đê với các môn đệ Ngài; Ngài gặp lại Mẹ Ngài ở tiệc cưới này. Người ta đã nghĩ rằng chú rể và cô dâu thuộc gia tộc của Đức Ma-ri-a, vì Mẹ xử sự gần như gia chủ khi căn dặn gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. Dù thế nào, gia đình nầy thuộc tầng lớp hạ lưu, vì tại những gia đình giàu có rượu không thể thiếu. Những người được hưởng dấu lạ đầu tiên của Chúa Giê-su thuộc gia đình nghèo. Điều này chẳng có gì phải ngạc nhiên cả.

  1. Dấu chỉ của rượu

“Ở đó có đặt sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do thái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước”. Những chum đựng nước này được dùng cho các khách rửa tay trước khi dự tiệc, đây là nghi thức thanh tẩy theo luật định. Một trong số chum đá này chắc chắn được dùng để thanh tẩy các vật dụng được dùng trong bữa ăn như thánh Mác-cô ghi nhận: “Thật vậy, người Pha-ri-sêu cũng như mọi người Do thái đều nắm giữ truyền thống của các tiền nhân: họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận; thức gì mua ngoài chợ về, cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn; họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng” (Mc 7: 3-4). Sau khi dùng, những chum này cạn nước. Đức Giê-su bảo đổ đầy nước vào các chum cho tới miệng. Như vậy, rượu mà Ngài sẽ ban thật dồi dào và thậm chí dư dật, như đối với phép lạ hóa bánh ra nhiều. Ấy vậy, rượu dư dật đến như thế là hình tượng mà các ngôn sứ thường sử dụng để loan báo buổi bình mình của kỷ nguyên Mê-si-a (Am 9: 13; I s 49: 10; 55: 1-3; Ge 4: 18; Tv 78: 24-27; 132: 15). Phép lạ Ca-na là một dấu chỉ thời Mê-si-a.

Mặt khác, rượu là dấu chỉ của niềm vui; nói một cách chính xác, rượu biểu tượng niềm vui thời Mê-si-a, tiên trưng niềm vui vĩnh cửu, thường được biểu thị bởi bàn tiệc trong Nước Thiên Chúa, “bàn tiệc cánh chung”. Đức Giê-su ám chỉ đến điều này vào bữa Tiệc Ly: “Từ nay, Thầy sẽ không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Mt 26: 29; Mc 14: 25 và Lc 22: 18).

Nước mà Đức Giê-su hóa thành rượu không phải bất kỳ nước nào: chính là nước được dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục của người Do thái. Đối với tác giả Tin Mừng Gioan, việc nước thanh tẩy của Cựu Ước hóa thành rượu Mê-si-a báo hiệu “Cái cũ đã qua đi, và cái mới đã có ở đây rồi” (2Cr 5: 17). Thời đại Mê-si-a đã đến. Từ nay, nước thanh tẩy không còn có ích nữa, bị hủy bỏ và được thay thế bởi rượu, dấu chỉ của ơn cứu độ. Trong bối cảnh phụng vụ của Giáo Hội tiên khởi, rượu tiệc cưới Ca-na rất dễ gợi lên trong tâm trí của các tín hữu Rượu Thánh Thể, đặc biệt khi thánh ký nói với chúng ta Đức Giê-su hóa nước thành rượu xảy ra trước lễ Vượt Qua (2: 13), cùng một thời điểm mà ba năm sau này Đức Giê-su sẽ hóa rượu thành máu của Ngài cho muôn người được tha tội (Mt 26: 28).

  1. Dấu hiệu Giao Ước

Sự hiện diện của Đức Giê-su ở tiệc cưới Ca-na là một cử chỉ của tình bạn. Vì tình bạn, Đức Giê-su thực hiện dấu lạ này để tránh cho gia đình này khỏi bẽ mặt; nhưng đồng thời Ngài đem đến một sự bảo lãnh – một sự bảo lãnh thần linh – cho tính chất linh thánh của hôn nhân. Ngoài ra, cử chỉ của Ngài mặc lấy một chiều kích thần học: chính bằng ngôn từ tình yêu hôn nhân mà các ngôn sứ đã dùng để diễn tả Giao Ước của Thiên Chúa với dân Ngài như Hôn Ước.

Trong bài tường thuật, người quản tiệc nói với tân lang: “Ai ai cũng thiết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ”. Ấy vậy, người đãi rượu ngon không phải là tân lang mà là Đức Giê-su. Thật vậy, trong Tin Mừng Gioan, tân lang thường tượng trưng cho Đức Giê-su (Ga 3: 29). Sau này, khi ban cho các môn đệ Rượu Thánh Thể, Ngài sẽ công bố rượu này là dấu chỉ Giao Ước Mới. Thánh Phao-lô cũng sẽ sử dụng ngôn từ tình yêu vợ chồng để nói về sự hiệp nhất của Đức Giê-su với Giáo Hội của Ngài; và sách Khải Huyền sẽ cử hành tiệc cưới muôn đời của Con Chiên với dân Thiên Chúa được biểu thị bởi Thành Thánh Giê-ru-sa-lem Thiên Quốc.

Ở tiệc cưới Ca-na, Đức Giê-su khai mạc mầu nhiệm tình yêu và hiệp nhất của Thiên Chúa với nhân loại.

  1. “Thưa Bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi?”

Tác giả Tin Mừng Gioan không bao giờ gọi đích danh “Ma-ri-a”, nhưng luôn luôn “Thân Mẫu Đức Giê-su”, bốn lần trong bài tường thuật này (2: 1, 3, 5, 12), cũng là bốn lần trong bài trình thuật về cuộc Thương Khó (19: 25-26), để tỏ lòng tôn kính đối với Đức Mẹ, Mẹ đã sống những năm cuối đời của Mẹ tại nhà thánh nhân và đã qua đời trong tình con thảo của thánh nhân. Chắc chắn đây cũng là tước hiệu tôn kính mà người Ki-tô hữu tiên khởi dành cho Thân Mẫu của Chúa mình.

Lời thỉnh cầu kín đáo của Đức Ma-ri-a: “Họ hết rượu rồi”, nhắn gởi cho Đức Giê-su, Con Mẹ, diễn tả độ nhạy bén của Mẹ trước nhu cầu của tha nhân. Nhưng câu trả lời của người con cho mẹ mình: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi?”  thật đáng ngạc nhiên, như thử muốn nói rằng: “Đây không phải là công việc của mẹ. Xin đừng can dự vào”.

Trước tiên, cách xưng hô “Thưa bà”  không nói lên một sự bất kính, nhưng diễn tả cái khoảng cách. Chúa Giê-su xưng hô như thế với người phụ nữ Sa-ma-ri (Ga 4: 21), với người đàn bà Ca-na-an (Mt 15: 28), với người phụ nữ còng lưng (Lc 13: 12), với bà Ma-ri-a Mác-đa-la (Ga 20: 15). Cái khoảng cách này được tăng cường bởi những lời tiếp theo sau: “Chuyện đó can gì đến bà và tôi?”. Đây là cách nói mang đậm nét Do thái khá thông dụng trong Cựu Ước (x. Tl 11: 12; 2Sm 16: 10; 1V 17: 18). Tại các sách Tin Mừng Nhất Lãm kiểu nói này được đặt trên môi miệng của hai người bị quỷ ám: “Chuyện chúng tôi can gì đến ông?” (Mt 8: 29).

Cách xưng hô của Đức Giê-su với Mẹ Ngài ở tiệc cưới Ca-na tái xuất hiện ở hoạt cảnh Thập Giá, ở đó Ngài thân thưa với Mẹ Ngài: “Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga 19: 26). Trong hoạt cảnh sau cùng này, tình mẫu tử của Đức Ma-ri-a không bị bác bỏ, vì Đức Giê-su ban cho Mẹ Ngài người môn đệ yêu mến, khuôn mẫu của người Ki-tô hữu hoàn thiện, làm con của Mẹ. Như vậy, với cách xưng hô lạ lùng ở tiệc cưới Ca-na, Đức Giê-su đòi hỏi Mẹ của Ngài mở rộng tình mẫu tử của Mẹ, biến đổi tình mẫu tử riêng tư giữa Mẹ và Con thành tình mẫu tử của một Người Mẹ ân cần săn sóc những môn đệ của Ngài, tức Giáo Hội của Ngài, Thân Thể mầu nhiệm của Ngài.

  1. “Giờ tôi chưa đến”

Trong Tin Mừng Gioan, “giờ của Chúa Giê-su” là giờ Ngài được giương cao trên thập giá, giờ Ngài được tôn vinh (Ga 3: 14-15; 8: 28), giờ mà tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ tận mức ở nơi cái chết của người Con Một Thiên Chúa. Rõ ràng, ở tiệc cưới Ca-na, giờ đó chưa đến.

Nếu chúng ta đọc lại tình tiết về người phụ nữ Ca-na-an, người ta sẽ gặp lại cũng một thái độ như thế của Đức Giê-su. Trước hết, Ngài không đáp một lời, đoạn từ chối, để thử thách niềm tin của người phụ nữ này. Người phụ nữ không chùn bước. Lúc đó, Chúa Giê-su thán phục niềm tin kiên vững của bà và cho bà được toại nguyện: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được như vậy” (Mt 15: 28).

Đức Ma-ri-a trải qua một thử thách tương tự. Trước thái độ ngập ngừng của Con Mẹ, Mẹ trả lời bởi một hành vi đức tin kiên vững vào Ngài: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. Đức Mẹ đã tin vào Con Mẹ trước khi phép lạ xảy ra, trong khi các môn đệ Ngài tin vào Ngài sau khi phép lạ xảy ra. Lúc đó, Chúa Giê-su nghiêng mình trước đức tin đáng thán phục của Mẹ Ngài.

Trong bối cảnh Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na miền Ga-li-lê để bày tỏ vinh quang của Ngài và để các môn đệ tin vào Ngài, thì lời căn dặn của Mẹ:“Người bảo gì các anh cứ làm theo” thật có ý nghĩa biết bao trong việc huấn luyện người môn đệ lý tưởng. Dù thế nào, chúng ta ghi nhận rằng thành quả của dấu lạ đầu tiên được thực hiện nhờ sự can thiệp của Đức Ma-ri-a và dẫn đến niềm tin của các môn đệ. Vì thế, truyền thống Ki-tô giáo đã nhấn mạnh quyền năng cầu bầu của Đức Ma-ri-a, sự hiện diện ân cần của Mẹ, nỗi bận lòng của tình mẫu tử đối với tha nhân: “Xưa nay chưa từng ai đến cùng Mẹ mà Mẹ từ bỏ chẳng nhậm lời”. Trang Tin Mừng này không chỉ mang chiều kích Ki-tô học, nhưng còn mang chiều kích Thánh Mẫu học.

 

.

LÀM THEO LỜI NGƯỜI

Bông hồng nhỏ

“Đám cưới, đám cưới về trên thành đô.  Cô dâu đôi má hồng về nhà chồng” (Đám cưới trên đường quê).

Lời ca vang lên làm cho lòng người vui mừng và phấn khởi. Chuyện dựng vợ, gả chồng là chuyện rất quan trọng và được mong chờ nhất trong đời người. Đám cưới là ngày hạnh phúc, là khởi đầu một chặng đường mới, là một hành trình xây dựng tổ ấm của đôi bạn và duy trì nòi giống.

Hôm nay, theo chân Thầy Giê-su và Mẹ Maria, ta cũng về Cana miền Galilê để dự lễ cưới. Ai cũng mừng cho đôi tân hôn, mừng cho gia đình hai họ. Khách khứa tấp nập, tiệc dọn ra thiết đãi quan khách. Đang lúc mọi người vui vẻ, Mẹ Maria nhận ra nét mặt bối rối của người quản tiệc. Mẹ đi vào bếp rồi trở ra. Mẹ đến gần Giê-su và nói khẽ: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2, 3). Ta cũng đứng gần Giê-su nên nghe lời Mẹ nói. Sao Mẹ biết họ hết rượu nhỉ? Phải là người nhạy bén, quan tâm lắm Mẹ mới có thể nhận ra điều mà mọi người không để ý tới. Mẹ cũng rất tế nhị, giữ ý cho chủ tiệc nên chỉ nói nhỏ với Giê-su. Mẹ biết con của Mẹ có cách gỡ rối giúp đôi tân hôn để niềm vui của đôi bạn được trọn vẹn. Nghe Mẹ nói thế, bằng giọng rất từ tốn và khẽ khàng, Chúa Giê-su đáp: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi, giờ của tôi chưa đến” (Ga 2, 4). Lạ thay, Mẹ Maria nghe con nói mà không giận, cũng chẳng buồn lòng. Nếu ta là Mẹ, ta đã buồn vì bị trách là “nhiều chuyện”. Mẹ đi ra bảo với gia nhân: “Người bảo gì các anh cứ việc làm theo” (Ga 2, 5). Ta cũng hồi hộp chờ đợi phản ứng của Thầy Giê-su. Trong tình cảnh bất trắc này, Thầy Giê-su sẽ làm gì?

Rượu ngon hảo hạng được múc ra cho ông quản tiệc khiến ông phải gọi tân lang lại mà nói: “Ai ai cũng thiết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ” (Ga 2, 10). Tân lang đâu có rượu ngon mà cất giữ nhưng chính tình yêu của Thiên Chúa bây giờ mới được tỏ hiện. Chúa Giê-su đã mang rượu ướp nồng tình yêu mà thiết đãi mọi người, rượu ướp nồng tình yêu của Thiên Chúa cho nhân loại hưởng nếm, rượu ướp nồng tình yêu dịu dàng của Mẹ Maria, rượu ướp cho duyên tình của đôi tân hôn thêm mặn mà, nồng thắm. Chính Mẹ Maria đã gieo niềm tin cho các gia nhân, cho đôi tân hôn và cả các môn đệ, niềm tin vào quyền năng và tình thương của Chúa Giê-su. Mẹ trình bày cho Chúa Giê-su biết tình trạng thiếu thốn của con cái, Mẹ lại dẫn con cái đến chỗ biết lắng nghe và thi hành Ý Chúa. Như thế, Mẹ là trung gian tuyệt vời. Có Mẹ, con cái được biết Chúa, được đến với Chúa, được tin vào Chúa. Điều quan trọng là Mẹ thấu hiểu trái tim nhân ái của Chúa Giê-su. Mẹ thao thức với những thiếu thốn của con cái loài người và hơn hết vì Mẹ là Mẹ nhân loại.

Lạy Chúa Giê-su yêu mến! Cảm tạ Chúa đã luôn yêu thương và đong đầy ân sủng trong tâm hồn con. Chúa đã làm phép lạ biến nước thành rượu ngon để niềm vui của đôi tân hôn được trọn vẹn. Nơi bàn thiệc Thánh Thể, Chúa lại tiếp tục biến bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa cho nhân loại. Ước chi cuộc đời mỗi chúng con cũng trở thành trung gian của Chúa để dẫn người anh chị em đến với Chúa, để họ biết Chúa, tin vào Người và làm theo lời Người dạy. Amen.

 

.

GIỜ CỦA CHÚA

Anna Cỏ May

Hôm nay Tin Mừng Luca cho chúng ta chiêm ngắm một tiệc cưới có Mẹ và Chúa Giê-su dự. Trong tiệc cưới, Mẹ và Chúa Giê-su đã tham dự như thế nào?

Mọi người đang ăn uống vui say, Mẹ cũng ngồi chung với họ. Chung vui, nhưng Mẹ đã nhìn thấy sự lo âu của người phục vụ. Mẹ liền nói với Chúa Giê-su: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2, 3). Lời nói của Mẹ là lời thân thưa, gợi mở, không có sự gò bó, phán quyết hay ra lệnh với Chúa Giê-su. Thế nhưng Chúa Giê-su đã hiểu rõ lời Mẹ, Ngài thưa: “Chuyện đó can gì đến tôi và bà, giờ của tôi chưa đến” (Ga 2, 4). Nếu như chỉ dừng lại ở câu nói này sẽ khiến cho chúng ta có cái nhìn về Chúa Giê-su khác lạ. Chúng ta sẽ cho Ngài là một con người thờ ơ, vô cảm hay quá khắt khe với giờ giấc, trái ngược với những gì chúng ta nghe và đã nói: “Chúa là Đấng giàu lòng thương xót”. Khi dõi theo tiếp Tin Mừng, chúng ta lại thấy Ngài đã làm hơn những gì Ngài nói. Bởi đó, Mẹ đã nói với các gia nhân: “Người bảo gì các anh cứ việc làm theo” (Ga 2, 5). Câu trả lời của Chúa Giê-su với Mẹ không hẳn là câu trả lời không làm, nhưng là giờ của Ngài chưa đến. Giờ để mọi người thấy được vinh quang của Ngài, giờ để con người được cộng tác với Ngài. Các gia nhân làm theo lời Chúa Giê-su là đổ nước vào các chum. Sau đó, các ông lại múc ra cho mọi người tiếp tục thưởng thức niềm vui hạnh phúc. Hành động làm theo của các gia nhân là múc nước vào và múc nước ra chính là đã cộng tác vào việc tôn vinh, tỏ lộ vinh quang Chúa Giê-su. Giờ của Chúa Giê-su là giờ con người được cộng tác, được thấy vinh quang, được hưởng hạnh phúc trong Ngài. Giả như các gia nhân không làm như Ngài bảo thì sao? Lúc ấy, tiệc cưới chẳng còn gì, niềm vui cũng chẳng trọn vẹn. Không, niềm vui vẫn trọn vẹn vì Chúa Giê-su sẽ có cách đem lại niềm vui cho mọi người. Đối với Ngài không có gì là không thể làm được, trừ tự do của con người.

Ngày nay, Chúa Giê-su vẫn tiếp tục làm phép lạ để đem lại hạnh phúc, niềm vui cho mọi người. Thế nhưng, mỗi người có thể nhận ra hay không thì đó chính là phép lạ. Khi gặp khó khăn, nếu vượt qua được thì chúng ta dễ cho là do nình cố gắng, do sức mình hay do cách ăn ở của mình. Tuy nhiên, sự cố gắng ấy luôn có sự tác động hay hỗ trợ từ bên ngoài là anh em, mọi người xung quanh. Chúa Giê-su dõi theo và gửi đến cho chúng ta những người bên cạnh, trước mặt hay sau lưng chúng ta để giúp chúng ta. Ước gì mỗi người chúng ta có thể nói: “Tôi có là gì cũng là nhờ ơn Chúa”.

Lạy Chúa, Chúa luôn đồng hành với chúng con trong lúc vui, lúc buồn của cuộc sống nhân sinh. Xin cho chúng con biết nhận ra hồng ân Chúa ban qua những nhận vật trung gian Ngài gửi tới. Nhờ đó, chúng con biết nhạy bén trước nhu cầu của tha nhân như Mẹ Maria. Amen.

 

.

GIA ĐÌNH CÓ MẸ

Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

Trời có lúc mưa lúc nắng, lúc trong lúc mờ. Đời có lúc thăng lúc trầm, lúc buồn lúc vui. Tình có lúc nồng lúc nhạt, lúc thắm lúc phai.

Nghe sao có vẻ cải lương quá! Ấy thế mà tính chất cải lương kia lại cứ xuất hiện trong cuộc sống con người, nhất là trong cuộc đời hôn nhân. Không hiểu sao người ta hay ngâm nga: “Tình chỉ đẹp khi tình còn dang dở. Đời mất vui khi đã vẹn câu thề.” Phải chăng bắt đầu thề ước là bắt đầu xót xa? Ngày lên xe hoa thì cũng chính là ngày ra chiến trận? Mà trong trận chiến này, nếu không khéo, có ngày sẽ bị thương vong.

Đám cưới tại làng Cana mới bắt đầu mà đã có chuyện. Tiệc chưa tàn nhưng rượu lại hết. Nguy quá! Thế thì còn đâu mặt mũi tân gia. Không chừng cô dâu chú rể sẽ phải lục đục với nhau vì nhà anh đã không khéo chuẩn bị, còn nhà em thì cứ mời cho đông vào mà không cho biết trước. Không chừng vết thương trong ngày thành hôn sẽ để lại cơn đau khó tàn cho đôi uyên ương.

Thiếu rượu thì mất vui. Đám cưới mà không vui thì có hơn gì đám ma. Với lại truyền thống xưa nay của dân tộc là “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi.” Vậy mà khi khách chưa say, chất cay đã cạn. Bao nhiêu choé rượu sắm sẵn đều hết sạch. Bẽ mặt mất thôi! Chắc hẳn gia chủ lẫn tân lang và tân nương đang trải qua một phen bối rối, hốt hoảng ghê lắm. Biết tìm đâu ra rượu bây giờ?

Thấy được tình cảnh oái oăm của tân gia, Mẹ Maria đến gặp Con mình và nói: “Họ hết rượu rồi.” Đây là lời cầu cứu hay câu mẹ trách con vì đã đem theo mấy ông môn đệ nên mới làm cho người ta hết rượu? Nhưng nếu là câu trách thì tại sao Mẹ lại bảo các người hầu: “Ngài có bảo gì, hãy làm theo”? Câu này hàm chứa một cái nhìn tiên tri là Chúa Giêsu sẽ ra tay để làm một điều gì đó.

Chắc rằng trong suốt 30 năm sống bên Đức Giêsu, Mẹ đã thấy rõ quyền năng và tình nhân ái bao la của con mình đối với những kẻ sa cơ hoạn nạn. Thế nên hôm nay, khi thấy gia đình tân hôn bị rơi vào trường hợp éo le nan giải, Mẹ đã tìm đến với Chúa để xin Ngài ra tay. Nhưng, có một vấn đề khác: nếu như trước đó Đức Giêsu đã từng cứu giúp những người khốn khó thì tại sao vị Thánh Sử lại bảo đây là “dấu lạ đầu tiên”?

Theo văn mạch của Thánh Gioan thì đó là phép lạ đầu tiên mà “Chúa Giêsu đã làm tại Cana xứ Galilê.” Thế ra, có thể Ngài đã từng làm dấu lạ ở nơi khác, ví dụ như tại Nazaret, nhưng tại Cana thì đó là lần đầu. Ngoài ra Thánh sử Gioan cũng nhấn mạnh trong câu kết luận rằng Chúa Giêsu đã làm dấu lạ này “để tỏ vinh quang của Ngài cho các môn đệ,” những người vừa mới đáp trả lời mời gọi bước theo Ngài được mấy hôm.

Như vậy trước đó, có thể Đức Giêsu đã từng làm dấu lạ, không phải để tỏ vinh quang, nhưng chắc là âm thầm và qua tay Mẹ Maria. Phải chăng Chúa Giêsu đã từng nhờ Đức Mẹ làm trung gian để đem cái này, chuyển cái kia cho những người cùng khốn gian nan, nên Mẹ biết rõ quyền năng và tình thương của Chúa mà chạy đến cầu cứu? Phải chăng, dù là mẹ, Đức Maria vẫn từng làm theo ý Con, và đã thấy người ta nhận được biết bao ân phúc phi thường.

Cho nên trong giờ phút cam go của gia đình có đám, Mẹ đã kêu cầu Đức Giêsu. Và sau đó, Mẹ đã nhắn nhủ các lời khuyên phát xuất từ một lòng tin tưởng vững vàng vào tình yêu tha nhân nơi Con mình. Ngài không thể không chạnh lòng thương xót trước nỗi thống khổ của con người. Và đây cũng là lời nhắn nhủ đầy kinh nghiệm của Đức Maria, người đã từng làm theo lời Chúa và thấy bao kết quả tươi đẹp trong đời.

Ngài có bảo gì thì cứ làm theo. Lời nói biểu lộ lòng xác tín Đức Giêsu sẽ ra tay can thiệp. Mẹ Maria biết chắc Ngài sẽ đáp lời Mẹ xin. Thế mới thấy quyền phép nơi lời cầu bầu của Đức Mẹ hiệu năng dường nào. Không phải là Chúa Giêsu đã từng nói: “Giờ con chưa đến” sao? Vậy mà “Giờ con đã đến” vì lời Mẹ xin. Giáo hội đã có lý khi đưa vào kinh Cầu Đức Bà lời nguyện: “Đức Bà có tài có phép. Cầu cho chúng con” là vậy.

Các Thánh cũng công nhận rằng chẳng có sự gì Mẹ xin cùng Thiên Chúa mà không được. Thánh Antôn từng nói: “Vì Đức Maria là Mẹ, nên lời cầu xin như có sức truyền dạy trước toà Chúa Giêsu. Do đó, khi Mẹ xin gì thì không lẽ Chúa Giêsu lại không nhậm lời.” Thánh Ricarđê viết rằng: “Hễ Con quyền phép vô cùng thì Con cũng làm cho Mẹ vô cùng quyền phép. Đó là lẽ đương nhiên. Nhưng Con của Mẹ quyền phép vì bản tính Ngài là Thiên Chúa. Còn Đức Mẹ có quyền phép là nhờ ơn Chúa ban; nghĩa là Thiên Chúa quyền phép vô cùng, phán một lời liền có hết mọi sự. Còn Đức Mẹ quyền phép vô cùng, xin một tiếng liền được hết mọi sự.”

Nhờ có Mẹ can thiệp mà Chúa Giêsu đã cứu tiệc cưới tại làng Cana khỏi cảnh bẽ mặt ê chề. Nhờ lời cầu xin của Đức Mẹ mà giờ giải cứu con người khỏi kiếp khổ đau của Chúa Giêsu đã điểm. Nhờ sự khích lệ bảo ban của Mẹ mà con người biết cộng tác với Con Thiên Chúa để mang lại niềm vui của ơn phúc đầy tràn đến muôn tâm hồn.

Hôm nay, giữa trần thế, có biết bao gia đình “sắp hết rượu.” Lắm cõi lòng đã mất hẳn niềm vui. Nhiều cuộc tình đã rơi vào bế tắc. “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” không còn nữa. Làm sao cứu vãn đây?

Nếu đời có Mẹ, người ta sẽ gặp được ơn Chúa. Mời Mẹ đến với gia đình, chẳng bao giờ Mẹ để cho rượu nồng tình thắm bị cạn khô.

Thế nên, hỡi tất cả các gia đình, mới hay cũ, đang an hoà hạnh phúc hay trắc trở lao đao, hãy cậy nhờ và phó thác cho Mẹ Maria. Chắc chắn với Mẹ và qua Mẹ, Chúa Giêsu sẽ tỏ mình ra nơi gia đình anh chị em.

Không phải tình cờ mà Đấng Cứu Thế lại tỏ vinh quang của mình trong một cuộc hôn nhân. Không phải tình cờ mà vinh quang đó lại liên kết âm hưởng với sự hiện diện của Đức Maria. Trái lại, tất cả đã diễn ra trong cùng một mạc khải của Tin Mừng: gia đình có Mẹ là gia đình có Chúa; gia đình có Chúa là gia đình luôn có tình yêu tràn đầy và niềm vui dạt dào.

 

.

ĐỂ CHO TÌNH MÃI MẶN NỒNG

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Trăm năm hạnh phúc là lời chúc không thể thiếu trong các tiệc cưới. Tình duyên mãi sắt son và mặn nồng là điều ai cũng ước mong khi bước vào đời sống hôn nhân – gia đình. Nói về chữ tình thì có lẽ tình hôn nhân đứng hàng đầu so với các thứ tình nhân loại khác như tình mẫu tử, phụ tử, bằng hữu… Đức Bênêđictô XVI đã nhận định: “Tình yêu này, tình yêu giữa người nam và người nữ, trong đó hồn xác kết hợp bất khả phân ly và mở ra cho con người một lời hứa hạnh phúc dường như không cưỡng lại được, có vẻ là kiểu mẫu của tình yêu; bên cạnh tình yêu này, thoạt nhìn mọi hình thức khác của tình yêu hầu như mờ nhạt đi” (TĐ Thiên Chúa Là Tình Yêu số 2).

Tình yêu hôn nhân được đề cao không nguyên chỉ vì người ta thoáng nhận ra nét đẹp là sự hết lòng và tính vô cầu nơi tình yêu này mà còn thấy được tầm quan trọng của nó là làm nên gia đình vốn là tế bào của xã hội. Quả thật lịch sử minh chứng rằng ở đâu mà tình yêu hôn nhân bị hạ giá thì ở đó đời sống xã hội dễ bị xuống cấp, bất ổn và nền đạo đức dễ bị băng hoại. Thánh Tông đồ dân ngoại đã dùng tình yêu đôi lứa làm dấu chỉ cho tình yêu của Đức Kitô dành cho Hội Thánh. Nhiều Ngôn sứ như Hôsê, Isaia cũng dùng hình ảnh tình yêu hôn nhân để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa dành cho dân Người. “Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo người sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Chúa ngươi thờ” (Is 62,5).

Con Thiên Chúa đã làm người, chào đời trong một mái gia đình. Khởi đầu công cuộc rao giảng Tin Mừng và trong lần đầu tiên thể hiện quyền năng, Chúa Giêsu đã cứu giúp một đôi tân hôn khỏi bẽ mặt trước quan khách trong một tiệc cưới. Qua bài tường thuật của tin mừng thánh Gioan về phép lạ hóa nước thành rượu ngon của Chúa Giêsu tại tiệc cưới Cana chúng ta có thể rút ra đôi điều nhận định về đời sống hôn nhân gia đình:

– Luôn có đó nhiều sự kiện hay biến cố dù không mong vẫn cứ đến, dù chẳng muốn vẫn cứ xảy ra. Đã tổ chức tiệc cưới thì việc chuẩn bị rượu cách đủ đầy và có dư là điều như tất yếu. Với người Do Thái thời bấy giờ thì đây là chuyện hẳn nhiên, vì theo phong tục tập quán thì tiệc cưới có thể kéo dài từ ba đến bảy ngày. Tiệc cưới tại Cana có thể nói là đám tiệc không nhỏ. Chúng ta có thể luận suy điều này vì có người quản tiệc và số lượng chum nước dùng cho việc thanh tẩy (sáu chum nước, mỗi chum khoảng từ 80 dến 120 lít nước). Tiệc lớn, ắt gia đình phải khá giả. Nhà khá giả thì chuyện chuẩn bị rượu cho khách không phải là chuyện quá sức và dĩ nhiên ít khi bị xao lãng. Thế mà tiệc chưa tàn thì rượu đã hết!

Từng hỏi nhiều đôi hôn nhân chung sống từ muời, hai muơi năm trở lên rằng các bạn đã bất hòa với nhau bao nhiêu lần, thì được câu trả lời là đếm không hết. Lại hỏi tần suất những lần mà những chuyện không như ý lớn nhỏ xảy ra là bao nhiêu, thì được trả lời là khoảng trên dưới một tháng một lần, có khi nhiều hơn. Quả thật khi đã chung sống, chung mâm, chung nhà, chung… thì khó tránh được sự “chung đụng” do nhiều nguyên nhân khách quan hay chủ quan từ phía này hoặc phía kia. Nhìn nhận hiện thực cuộc sống để rồi chủ động tìm cách giải quyết, khắc phục, nghĩa là để duy trì và phát triển sự mặn nồng của tình yêu.

– Ngoài nỗ lực của bản thân người trong cuộc là đôi bạn thì rất cần đến sự giúp đỡ của người thân và cả những người hữu quan miễn là họ vốn có tấm lòng và sự bén nhạy với các tình huống. Tấm lòng và sự nhạy bén của Mẹ Maria trong tiệc cưới Cana thì chúng ta đã rõ. Không kể Chúa Giêsu, có lẽ khách dự tiệc hôm ấy đang ở cao trào của tiệc vui vì tình trạng “ngà ngà say”, nên dường như chẳng có ai phát hiện sự cố thiếu rượu. Với tấm lòng nhạy bén, Mẹ Maria đã nhận ra sự cố này để rồi đến xin Chúa Giêsu ra tay can thiệp, cứu giúp.

“Chuyện mình thì quáng, chuyện người thì sáng”. Sự thường người ngoài cuộc thì dễ có sự bình tâm để nhìn nhận vấn đề hơn. Tuy nhiên người ở ngoài này phải có cái tâm, cái tình và cái nhìn cách nào đó như tình người trong cuộc, nghĩa là xem chuyện người như chuyện của mình. Để cho tình yêu hôn nhân vững vàng trước những sóng gió bể đời, thì sự góp phần của mẹ cha, ông bà, thân bằng quyến thuộc là điều đáng trân trọng và đáng cầu mong. Xin đừng quên vai trò thiết yếu và hữu hiệu của người Mẹ đã nhận nhân loại chúng ta làm con khi Người đứng dưới chân thập giá năm nào (x.Ga 19,26-27). Đến với Mẹ thì chắc chắn chúng ta sẽ được Mẹ dẫn đến với Giêsu, Con của Mẹ là Đấng mà không có sự gì là không thể làm được.

– Đã yêu thì không chờ cơ hội cũng chẳng đợi đến thời đến buổi. Dù chưa đến giờ bày tỏ vinh quang, nhưng vì yêu thương Chúa Giêsu đã ra tay giáng phúc cho đôi tân hôn hôm ấy. Dù đã cùng với các môn đệ lánh riêng một nơi để nghỉ ngơi thế mà trước đoàn lũ dân chúng đông đảo như chiên không người chăn thì Chúa Giêsu đã tiếp tục giảng dạy họ nhiều điều (x.Mc 6,30-34). Tình yêu đòi hỏi chúng ta phải làm ngay hôm nay những gì ở trong tầm tay. Thiên Chúa là Tình Yêu và với Người thì mọi sự đều là hiện tại. Đã yêu hay sẽ yêu thì chưa hẳn là yêu. Động từ yêu cần phải luôn ở trong thì hiện tại.

– Sự kiện Chúa Giêsu làm cho sáu chum nước tức là khoảng sáu đến bảy trăm lít nước lã hóa thành rượu ngon hảo hạng khiến chúng ta nhận ra một quy luật của tình yêu đó là phải nhiều và mặn nồng hơn mãi. Có lẽ nhiều đôi bạn như chưa nhận thức đủ quy luật này. Tương tự như sự học, chuyện tình yêu như con thuyền đi dòng nước ngược. Không tiến thì ắt lùi.

– Để mặn nồng trong tình yêu thì lời căn dặn của Mẹ Maria quả là rất đáng lắng nghe và tuân giữ: “Người bảo gì thì hãy làm theo”. Thực thi lời Chúa dạy là điều tất yếu, nếu muốn vẹn chữ tình. Xin chớ dong dài luận lý trước mệnh lệnh Chúa truyền nếu chúng ta đã tin nhận Người là Đấng toàn tri và nhân hậu vô cùng. Vẫn có đó nhiều lứa đôi than vãn rằng con cầu xin mãi mà Chúa chưa ban cho gia đình ấm êm, thuận hòa. Trong nhiều lý do thì thường có lý do này là họ vẫn mãi cố chấp biện minh cho mình mà không thực thi điều Chúa phán trong lương tâm hay qua sự hướng dẫn của các mục tử hay qua sự khuyên bảo của những người khôn ngoan và đầy thiện ý.

– “Hãy đổ nước đầy các chum!” Đây là nước dùng cho việc thanh tẩy theo tục lệ của người Do Thái thời bấy giờ. Tập tục lúc bấy giờ, khi dùng bữa người Do Thái không ngồi trên ghế mà nằm nghiêng giữa sàn nhà. Vì thế việc rửa chân tay không chỉ mang tính lễ nghi thanh tẩy theo truyền thống mà còn để giữ vệ sinh cho sàn nhà, nơi các thực khách nằm mà dùng bữa. Để giữ sự mặn nồng tình yêu thì Chúa Giêsu lại ra lệnh làm một việc của sự thanh tẩy. Điều này nhắc nhớ chúng ta sự thật này: những bất hòa, bất ổn trong tình yêu hôn nhân gia đình thường có nguyên nhân là lỗi hay tội của ai đó hay của cả đôi bên. Thanh tẩy tâm hồn là điều cần thực hiện liên lĩ. Thanh tẩy không nguyên chỉ để cho tâm hồn mình trong sáng, tinh sạch mà còn vì hạnh phúc của người mình yêu thương.

Tu thân -Tề gia – Trị quốc – Bình thiên hạ. Cái nhìn của người xưa vẫn chưa hề lỗi vậy.

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *