TRANG CHỦ / TÀI LIỆU / Thông Điệp Chúa Cha

Thông Điệp Chúa Cha

Nội dung:

  1. Lời nói đầu
  2. Mẹ Eugenia là ai?
  3. Thông điệp của Chúa Cha – phần I
  4. Với Ðức Giáo Hoàng
  5. Với Ðức Giám Mục
  6. Thông điệp của Chúa Cha – phần II
  7. Tuần chín ngày
  8. Chứng từ của Ðức Cha Caillot

Chúa Cha phán dạy con cái của Ngài

Nguyên tác: Got The Father Speaks To His Children

Mẹ Eugenia ElisabetCha Ravasio

Dòng Ðức Mẹ Các Tông Ðồ – 1989

+++

Phải chăng chúng ta có một người Cha bị bỏ quên?

  1. Lời nói đầu

“Thiên Chúa là Cha tôi” Tiếng kêu này trên thế giới ngày nay đang được nghe đến ngày càng thường xuyên hơn: Người ta đang nhận ra Thiên Chúa thực sự là Người Cha của họ.

Vì thế, chúng tôi cảm thấy có nhiệm vụ phải phát hành một bức thông điệp đã được Chúa Cha ban cho thế giới, qua một thụ tạo hết lòng yêu mến Người, đó là nữ tu Eugenia ElisabetCha Ravasio, và đã được Giáo Hội công nhận là xác thực.

Khi giới thiệu tài liệu này, chúng tôi nhận thấy nên trích lại tuyên ngôn chứng nhận của Ðức cha Alexandre Caillot, nguyên Giám mục giáo phận Grenobe. Năm 1935, ngài đã thành lập một ủy ban gồm chuyên viên từ nhiều miền khác nhau của nước Pháp, để tiến hành cuộc điều tra cấp giáo phận kéo dài 10 năm.

Thành viên trong ủy ban, gồm Ðức Cha Guerry, thần học gia, tổng đại diện của giám mục giáo phận Grenobe, hai linh mục Dòng Tên là cha Albert và cha Auguste Valencin-Amos, những vị có uy tín hàng đầu trong lãnh vực triết học, thần học và là chuyên gia thẩm định những trường hợp như thế, hai bác sĩ y khoa, trong đó một vị là chuyên gia thần kinh. Chúng tôi tin chắc thông điệp này sẽ giúp mọi người hiểu được Tình Hiền Phụ sâu đậm Chúa Cha dành cho từng người chúng ta, và chúng tôi hy vọng bức thông điệp sẽ được phổ biến rộng rãi hết sức có thể.

Linh Muc Andrea D’Ascanio, OPM Cap.

  1. Mẹ Eugenia ElisabetCha Ravasio là ai?

Mẹ Eugenia, người đã được Chúa Cha gọi là “Ái nữ của Cha” và “Cây nhỏ của Cha” là ai?

Theo ý kiến chúng tôi, Mẹ Eugenia là một trong những ngọn đèn rạng rỡ nhất trong thời đại chúng ta, vị ngôn sứ nhỏ của Giáo Hội mới, trong đó Chúa Cha là tâm điểm và là chóp đỉnh của toàn thể nhân loại, và sự hợp nhất là lý tưởng linh đạo cao cả nhất. Mẹ Eugenia là ngọn đèn Chúa Cha ban cho thế giới trong thời đại nhiễu nhương và tăm tối này, giúp chúng ta có thể nhìn thấy con đường để dấn bước.

Mẹ chào đời vào ngày 4 tháng 9 năm 1907, tại San Gervasio d’Adda (nay là Capriato San Gervasio) một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh Bergamo, nước Ý, trong một gia đình thuộc lớp nông dân.

Eugenia chỉ học đến trình độ tiểu học. Sau vài năm làm việc tại một xưởng máy, Eugenia đã gia nhập Dòng Ðức Mẹ các Tông Đồ vào năm 20 tuổi. Chính tại đây tư cách đoàn sủng cao vời của nữ tu Eugenia đã phát triển, đưa đến việc được bầu vào chức vụ bề trên tổng quyền của hội dòng khi mới 25 tuổi.

Đừng kể những phẩm chất tinh thần, chỉ những công việc của Mẹ Eugenia trong lãnh vực xã hội cũng đủ đảm bảo cho Mẹ một vị trí trong lịch sử. Trong 12 năm hoạt động truyền giáo, Mẹ đã khai mở hơn 70 trung tâm, mỗi trung tâm đều có bệnh xá, trường học, nhà thờ, tại những vùng heo hút nhất ở Phi châu, Á châu, và Âu châu.

Mẹ Eugenia là người đã tìm ra loại thuốc để chữa bệnh phong cùi đầu tiên, chiết xuất từ hạt của một giống cây nhiệt đới. Loại thuốc này về sau đã được nghiên cứu và phát triển hơn nữa tại viện Pasteur ở Paris. Mẹ Eugenia đã cổ động công việc tông đồ của Raoul Follereau, người theo bước Mẹ và khuếch triển những cơ sở Mẹ đã thiết lập, và được coi là vị tông đồ của người cùi.

Trong giai đoạn 1939-1941, Mẹ đã khai sáng hoạch định và đem đến thành công dự án về một “Thành phố cho Bệnh Nhân Phong Cùi” tại Azopte (nước Bờ Biển Ngà, Phi Châu). Đây là một trung tâm có tầm cỡ, trải rộng trên một khu vực 200,000 mét vuông. Cho đến nay, trung tâm này vẫn là trung tâm hàng đầu của Phi Châu và thế giới dành cho bệnh nhân phong cùi.

Để tôn vinh thành tựu ấy, nước Pháp đã trao tặng vinh dự quốc gia cao cấp nhất về công cuộc xã hội cho Dòng Nữ Tu Thừa Sai Ðức Mẹ các Tông Đồ, hội dòng có Mẹ Eugenia làm bề trên tổng quyền trong thời gian từ 1935-1947. Mẹ Eugenia đã trở về Nhà Cha vào ngày 10 tháng 8 năm 1990. Di sản quan trọng nhất Mẹ Eugenia để lại cho chúng ta là Bức Thông Điệp của Chúa Cha. ‘Mặc khải tư’ duy nhất do chính Chúa Cha thực hiện, và tính xác thực của nó đã được Giáo Hội công nhận sau 10 năm cứu xét rất kỹ lưỡng. Trước khi vào phần bản văn, chúng tôi cho in lại tuyên ngôn của Ðức cha Alexandre Caillot, giám mục giáo phận Grenoble, đã công bố sau cuộc điều tra. Đáng chú ý là Chúa Cha (năm 1932) đã đọc thông điệp này cho Mẹ Eugenia bằng tiếng La Tinh, một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ đối với Mẹ. Năm 1981, chúng tôi mới được nghe biết về bức thông điệp này, và năm 1982, nhân dịp kỷ niệm 50 năm, chúng tôi đã ấn hành thông điệp này tại Ý.

Nhiều phép lạ ơn thánh được thực hiện nhờ thông điệp này, đã đưa chúng tôi đến việc phổ biến miễn phí, đặc biệt cho các nhà tù, doanh trại quân đội, và bệnh viện. Ngoài bản tiếng Anh, hiện nay thông điệp này cũng đã có các bản bằng tiếng Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Ðức, Việt Nam v.v…

  1. Thông điệp của Chúa Cha – phần I

Ngày 1 tháng 7 năm 1932

Đại lễ kính Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô

Sau cùng, đây là ngày hồng phúc muôn đời, ngày Chúa Cha trên trời đã phán hứa!

Hôm nay, những ngày dài chuẩn bị đã qua, tôi cảm thấy rất gần, sát gần cuộc ngự đến của Cha tôi và là Cha của mọi người. Một vài phút cầu nguyện, và rồi những niềm vui thiêng liêng dạt dào. Tôi rạo rực vì khát khao được nhìn thấy Người và lắng nghe lời Người. Bừng cháy tình yêu, tâm hồn tôi mở toang trong niềm tín cẩn lớn lao, đến độ tôi nhận ra, cho đến lúc ấy, tôi chưa tin tưởng vào ai như thế bao giờ.

Có thể nói, việc tưởng nghĩ về Chúa Cha đã làm tôi hạnh phúc đến ngây dại. Sau cùng, tôi cất tiếng hát. Các thiên thần đã đến loan báo cuộc ngự đến đầy hoan lạc. Những ca khúc của các ngài du dương đến nỗi tôi đã quyết định ghi lại càng sớm càng tốt. Bản hợp ca vừa chấm dứt, thì kìa, tiếp đến là đoàn cung nghinh của cộng đoàn các thánh, các thần Kêrubim và Xêraphim hộ giá Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, và là Hiền Phụ của chúng ta. Phủ phục sát đất, dìm mình trong sự hư vô của mình, tôi đã cất lên bài Magnificat. Liền sau đó, Chúa Cha truyền cho tôi hãy ngồi sát bên Ngài và ghi chép những điều Ngài quyết định phán dạy cho nhân loại.

Toàn thể triều đình thiên quốc đồng hành với Chúa Cha đều biến đi. Chỉ còn một mình Chúa Cha ở lại với tôi, trước khi ngồi xuống, Người phán: “Cha đã nói rồi, và giờ đây, Cha lại nói với các con: “Cha không thể ban Người Con Dấu Yêu của Cha cho các con một lần nữa, để chứng tỏ tình yêu của Cha dành cho nhân loại! Giờ đây, Cha đến với họ, mặc lấy hình thể và sự nghèo nàn của họ, để yêu thương và làm cho họ nhận biết tình yêu thương ấy. Này giờ đây, Cha còn bỏ triều thiên và tất cả vinh quang của Cha để mặc lấy hình thể của một con người bình thường”.

Sau khi đã mặc hình dạng của một người bình thường, bằng cách đặt triều thiên và vinh quang của Người dưới chân, Chúa Cha cầm lấy quả địa cầu, dùng tay trái nâng lên và áp vào lòng Người. Sau đó Người ngồi sát bên tôi.

Tôi chỉ nói được vài lời về cuộc ngự đến và hình dạng Ngài đã đoái thương mặc lấy, cũng như về tình yêu của Ngài! Nhưng vì ngu dốt, tôi không có ngôn từ để diễn tả những điều Ngài đã mặc khải cho tôi.

Chúa phán: “Bình an và ơn cứu độ cho nhà này và cho toàn thể thế giới! Ước chi quyền năng, tình yêu và Thánh Thần của Cha đánh động những con tim nhân loại, để toàn thể nhân loại quay về với ơn cứu độ và người Cha của họ!

Đại diện của Cha là Pius XI hãy hiểu biết đây là những ngày cứu độ và phúc lành. Ngài đừng bỏ lỡ cơ hội này để kêu gọi con cái lưu tâm đến người Cha của họ, Đấng đến để cứu giúp họ trong cuộc đời này và chuẩn bị hạnh phúc muôn đời cho họ.

Cha đã chọn ngày này để khởi sự công cuộc của Cha giữa nhân loại, bởi vì hôm nay là ngày lễ kính thờ Máu Thánh Con Cha là Chúa Giêsu. Cha muốn tưới gội công cuộc của Cha đang khởi sự trong Máu Thánh này, để nó trổ sinh hoa trái phong phú nơi toàn thể nhân loại.

Đây là mục đích của việc Cha đến:

1/ Cha đến để làm tiêu tan nỗi sợ hãi quá đáng nơi các thụ tạo đối với Cha, và tỏ cho họ biết rằng: Sự vui mừng của Cha là được các con nhận biết và yêu mến Cha. Các con ấy là toàn thể nhân loại hiện tại cũng như tương lai.

2/ Cha đến để đem lại hy vọng cho mọi người và mọi dân tộc. Biết bao người, biết bao dân tộc từ lâu nay đã mất hy vọng! Niềm hy vọng này sẽ cho họ sống trong bình an và yên vui, góp phần đem lại ơn cứu độ cho họ.

3/ Cha đến để làm cho mọi người nhận biết cho đúng cho phải về Cha, ngõ hầu lòng tín thác cũng như tình yêu của nhân loại dành cho Cha là Cha của họ được gia tăng. Cha chỉ có một bận tâm duy nhất là chăm sóc tất cả mọi người, là yêu thương họ như con.

Người họa sĩ tìm vui thích khi ngắm nhìn bức tranh mình đã thực hiện thế nào, thì niềm hoan lạc và vui sướng của Cha là đến với nhân loại, kiệt tác trong công trình sáng tạo của Cha, cũng như vậy.

Thời gian cấp bách. Cha ước gì mọi người được nhận biết thật sớm rằng: Cha yêu thương họ và Cha coi hạnh phúc lớn nhất của Cha là được ở với họ và trò chuyện với họ như một người Cha với con mình.

Cha là Đấng Hằng Hữu, vào thời Cha chỉ có một mình, Cha đã quyết định dùng quyền năng tuyệt đối của Cha để tạo dựng con người theo hình ảnh Cha. Nhưng trước đó cần phải tạo dựng vật chất, cho con người có đủ điều kiện để sinh sống. Thế rồi Cha đã tạo dựng thế giới, Cha đổ đầy cho nó tất cả những gì Cha biết sẽ cần thiết cho con người: Không khí, nắng, mưa và nhiều thứ khác mà Cha biết là cần thiết cho đời sống con người.

Cuối cùng, nhân loại đã được tạo thành! Cha lấy làm vui mừng với công trình tay Cha thực hiện. Con người phạm tội, nhưng chính lúc ấy lòng nhân từ vô biên của Cha càng tỏ hiện hơn.

Để sống giữa loài người Cha tạo dựng, trong thời Cựu Ước, Cha đã tuyển chọn những ngôn sứ. Cha đã thổ lộ những ước muốn, những nỗi buồn và niềm vui của Cha cho họ, để họ truyền đạt lại cho mọi người.

Sự dữ càng bành trướng thì lòng nhân từ càng thôi thúc Cha phải tỏ mình ra cho những linh hồn công chính, để họ truyền đạt các mệnh lệnh của Cha cho những người gây rối trật tự. Vậy là, đôi khi Cha đã phải buộc lòng dùng sự nghiêm khắc, không phải để trừng phạt nhưng là để sửa lỗi họ – vì trừng phạt chỉ gây tai hại. Cha nghiêm khắc sửa lỗi để đưa con người ra khỏi sự xấu xa mà quay về với Cha họ, là Đấng tạo dựng họ, mà họ đã lãng quên và hững hờ trong thói vô ơn tệ bạc.

Về sau, tội lỗi nhận chìm trái tim con người quá đỗi, khiến Cha miễn cưỡng phải để cho tai họa đổ xuống trên thế giới, ngõ hầu con người được thanh luyện bằng đau khổ, bằng tàn phá của cải, hoặc thậm chí cả mất mát sự sống. Những tai ương đó là nạn Đại Hồng Thủy (St 6,5tt), nạn hủy diệt thành Sôđôma và Gômôra (St 18,16tt), nạn chiến tranh con người chống lại con người v.v…

Lúc nào Cha cũng mong ước được ở lại giữa con người trên trần gian này. Vì thế trong Hồng Thủy, Cha đã ở kề bên ông Noe, người công chính duy nhất trong thời ấy. Cũng vậy, trong những tai ương khác, Cha luôn luôn tìm được một người công chính, để Cha ở với họ, và qua họ, Cha ở giữa loài người thời đó. Và lúc nào cũng như vậy.

Thế gian đã nhiều phen được tẩy rửa khỏi sa đọa, do lòng nhân lành vô cùng của Cha đối với nhân loại. Những khi đó, Cha tiếp tục kén chọn một số linh hồn mà Cha hài lòng, để qua họ, Cha được hài lòng với các thụ tạo của Cha, là loài người.

Cha đã hứa ban cho thế giới một Đấng Messia, Đấng Cứu Thế. Còn điều gì mà Cha đã không làm để chuẩn bị cho Người đến! Cha đã tỏ mình qua những nhân vật tiên trưng cho Đấng Cứu Thế cả ngàn năm, hai ngàn năm  trước khi Người đến!

Vậy, Đấng Messia là ai? Người từ đâu đến? Người sẽ làm gì trên trái đất? Người đến để đại diện cho ai?

Đấng Cứu Thế chính là Thiên Chúa.

Thiên Chúa là ai? Thiên Chúa là Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.

Đấng Cứu Thế từ đâu mà đến? Hay nói đúng hơn, ai đã truyền cho Người đến giữa nhân loại? Chính là Cha, Thiên Chúa, Cha của Người.

Người đại diện cho ai trên trái đất? Đại diện cho Thiên Chúa, Cha của Người.

Người sẽ làm gì trên trái đất? Người sẽ làm cho người ta nhận biết và yêu mến Cha, Thiên Chúa.

Chẳng phải Người đã nói thế này sao:

“Cha mẹ không biết Con phải lo việc của Cha con sao?” (Lc 2,49)

“Thầy đến cốt để thực thi thánh ý của Cha Thầy” (Ga 6,38).

“Những gì anh em nhân danh Thầy mà xin Cha, Người sẽ ban cho anh em” (Ga 15,16).

“Anh em hãy cầu nguyện như thế này: “Lạy Cha chúng con ở trên trời…” (Mt 6,9)

Và nơi khác, vì Người đến để tôn vinh Cha, và làm cho mọi người nhận biết Cha, nên Người đã nói:

“Hễ ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14,19).

“Thầy ở trong Cha, và Cha ở trong Thầy” (Ga 14,10)

“Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6).

Hỡi nhân loại, các con hãy biết rằng: Từ muôn thuở, Cha chỉ có một ước muốn là làm cho mọi người nhận biết và yêu mến Cha. Ước muốn của Cha là không ngừng ở lại với loài người.

Các con có muốn một bằng chứng xác thực về khát vọng mà Cha vừa bày tỏ không? Tại sao Cha đã truyền cho Moses dựng Lều Tạm và Hòm Bia Giao Ước, nếu không phải là vì Cha nhiệt tình muốn đến ở với loài người, như một người Cha, một người Anh, một người Bạn tín cẩn? Đó là ước vọng tha thiết của Cha. Mặc dù vậy, họ đã lãng quên Cha và xúc phạm Cha bằng vô vàn tội lỗi.

Bất chấp tất cả, Cha đã ban cho Moses những giới luật để nhắc nhở họ về Thiên Chúa, Cha của họ, và ước mong độc nhất của Người là cứu độ họ. Đúng ra họ phải tuân giữ các giới luật, và qua đó mà tưởng nhớ đến Cha nhân từ vô hạn hằng bận tâm lo cho họ được hạnh phúc ở đời này và đời sau vô tận.

Tất cả điều ấy đã bị lãng quên, nhân loại chìm đắm trong lầm lạc và sợ hãi, họ coi việc tuân giữ các giới luật Cha đã truyền cho họ qua Moses là quá khắc khe. Họ đã tự tạo ra những thứ luật khác, hợp với thói xấu của họ, để thi hành cho dễ dàng hơn. Dần dần trong sự sợ hãi thái quá đối với Cha, họ càng ngày càng lãng quên Cha và tha hồ xúc phạm Cha.

Tuy vậy, hỡi các con, tình yêu Cha dành cho loài người không bao giờ vì thế mà phôi phai. Chỉ khác là, khi nhận thấy dầu các tổ phụ cũng như các ngôn sứ cũng không thể làm cho con người nhận biết và yêu mến Cha, thì Cha quyết định thân hành đến với loài người.

Nhưng đến với nhân loại bằng cách nào? Không có cách nào khác hơn là đích thân Cha ra đi trong Ngôi Hai của thần tính Cha.

Loài người có nhận biết Cha không? Họ có lắng nghe lời Cha không? Đối với Cha, không có gì che khuất trong tương lai. Vậy chính Cha trả lời hai câu hỏi này như sau:

“Họ sẽ không biết sự hiện diện của Cha, cho dù họ ở rất gần bên Cha. Họ sẽ hành hạ Cha trong Con Cha, mặc dầu Người đã làm cho họ mọi điều tốt lành. Trong Con Cha, họ sẽ lăng mạ Cha, họ sẽ đóng đinh Cha để Cha phải chết”.

Có phải vì vậy mà Cha dừng lại chăng? Không, tình yêu Cha dành cho con cái nhân loại của Cha quá lớn lao.

Cha không ngưng lại ở đó đâu! Nhưng các con phải nhận biết rằng, Cha đã yêu thương các con, có thể nói còn hơn chính Con yêu dấu của Cha, hay nói rõ hơn, còn hơn chính mình Cha.

Những điều Cha đang nói với các con là rất thật, đến độ nếu phải để cho một trong các thụ tạo của Cha chịu một kiếp sống và một cái chết như Con Cha mà cũng đủ đền tội cho mọi người, thì hẳn là Cha đã trù trừ do dự. Tại sao thế? Bởi khi bắt một thụ tạo của Cha phải đau khổ, thay vì chính Cha phải chịu đau khổ nơi Con Cha, thì Cha đã tự phản lại tình yêu của Cha. Cha không bao giờ muốn con cái của Cha phải chịu đau khổ.

Đó là tóm tắt câu chuyện về tình yêu của Cha, từ đầu cho đến khi Cha đến giữa thế gian qua Con Cha.

Hầu như ai cũng biết tất cả về những biến cố ấy, nhưng họ lại không biết điều cốt yếu: Chính tình yêu đã chỉ đạo mọi sự! Phải, đó là tình yêu. Đó là điều Cha muốn các con nhận cho rõ trong câu chuyện các con vừa nghe.

Giờ đây tình yêu ấy đã bị lãng quên. Cha muốn nhắc nhở cho các con về điều ấy, để các con học biết Cha và hiểu về Cha cho đúng, để các con không sợ hãi như kẻ nô lệ đối với một người Cha quá yêu thương các con dường ấy.

Các con hãy xem, trong câu truyện này, chúng ta mới chỉ ở ngày đầu của thế kỷ thứ nhất, và Cha muốn đem nó đến thời hiện tại, thế kỷ hai mươi.

Ôi, tình yêu thương hiền phụ của Cha đã bị loài người quên lãng! Tuy nhiên, Cha yêu thương các con thật tha thiết! Nơi Con Cha, nghĩa là nơi Ngôi Vị Chúa Con Làm Người của Cha, có gì mà Cha đã chưa làm? Thần tính đã tự bị che khuất trong nhân tính, trở nên bé nhỏ, nghèo nàn, khiêm hạ. Cha sống với con Giêsu của Cha một đời sống hy sinh, cần cù lao động. Cha đã nhận những lời cầu nguyện của Người, để nhân loại có được một con đường sáng tỏ, để luôn bước đi trong công chính, và đến được với Cha một cách an lành.

Dĩ nhiên, Cha hiểu rõ những yếu đuối của con người. Vì vậy, Cha đã yêu cầu Con Cha hãy ban những phương thế giúp họ chỗi dậy sau mỗi khi sa ngã. Những phương thế này sẽ giúp họ tự thanh tẩy bản thân cho khỏi tội lỗi, để mãi mãi họ vẫn là con cái của Tình Cha Yêu Thương. Chính yếu đó là Bảy Nhiệm Tích. Và phương thế cao nhất để bảo đảm ơn cứu độ cho các con, bất chấp những sa ngã của các con, ấy chính là Thánh Giá. Máu Thánh Con Cha sẽ tuôn tràn từng giây phút trên các con, miễn là các con ước muốn, hoặc bằng Nhiệm Tích Hòa Giải, hoặc bằng Hy Tế Thánh Lễ.

Hỡi các con yêu quý của Cha, cùng với những hồng ân này, Cha còn ban lai láng những tặng ân đặc biệt cho các con suốt hai mươi thế kỷ đã qua, nhưng kết quả thật quá nhỏ nhoi!

Biết bao thụ tạo của Cha, những kẻ nhờ Con Cha mà trở nên con cái của Lòng Cha yêu thương, đã lao mình rất mau xuống vực thẳm đời đời! Quả thật, họ đã không biết gì về lòng nhân lành vô biên của Cha. Cha yêu thương các con thắm thiết biết bao! (Câu này mẹ Eugenia thích nhất và thường nhắc lại luôn)

A! Phần các con là những người được biết chính Cha đến ngỏ lời với các con, để làm cho các con nhận rõ lòng yêu thương của Cha, thì ít là các con hãy thương đến chính mình mà đừng lao mình xuống vực thẳm. Cha là Cha các con.

Có lẽ nào sau khi các con đã gọi Cha là Cha, và biểu lộ lòng yêu mến đối với Cha, các con lại thấy nơi Cha một trái tim chai đá và vô cảm đến nỗi cứ để mặc các con hư mất hay sao? Không, không! Các con đừng nghĩ như thế! Cha là người Cha tốt lành nhất trong các người cha. Cha biết rõ những yếu đuối nơi các thụ tạo của Cha. Các con hãy đến! Hãy đến cùng Cha với lòng tín cẩn và yêu mến! Và Cha, Cha sẽ tha thứ cho các con theo lòng thống hối. Cho dù tội lỗi các con có ghê tởm như bùn nhơ, lòng tín cẩn và yêu mến của các con sẽ làm Cha quên hết, đến mức các con sẽ không bị phán xét! Quả thật, Cha là Đấng Công Bình, nhưng tình yêu sẽ bù đắp được mọi sự.

Hãy lắng nghe, hỡi các con của Cha, chúng ta hãy thử làm một so sánh để các con vững tin vào tình yêu của Cha. Đối với Cha, những tội lỗi của các con giống như sắt, và những tác động yêu mến của các con là như vàng. Các con dâng cho Cha một ngàn cân sắt, cũng không bằng dâng cho Cha chỉ mười cân vàng! Điều ấy có nghĩa là, với một ít tình yêu người ta chuộc được muôn vàn tội lỗi.

 Đó là cách nhìn rất an tâm về sự phán xét của Cha, dành cho tất cả con cái nhân loại, không ngoại trừ ai. Các con phải đến với Cha. Cha rất gần gũi các con. Các con hãy yêu mến và tôn vinh Cha, để các con khỏi bị phán xét, hay nói đúng hơn, để được phán xét bằng một tình yêu vô cùng nhân hậu.

Các con đừng hoài nghi. Nếu tấm lòng Cha không như thế, có lẽ Cha đã hủy diệt thế gian này biết bao lần, khi nó phạm những tội nặng nề quái gở rồi! Thế nhưng, như các con đã thấy, sự bảo bọc che chở của Cha biểu hiện từng giây phút qua bao nhiêu hồng ân, bao nhiêu phúc lành!

Từ đó, các con có thể kết luận rằng, các con có một người Cha hơn hết mọi người cha, Đấng yêu thương các con và sẽ không bao giờ ngừng yêu thương các con, miễn là các con muốn được yêu thương.

Cha đến với các con bằng hai con đường: Thánh Giá và Thánh Thể. Thánh Giá là con đường Cha đi để đến tận các con, bởi vì chính bằng Thánh Giá mà Cha đã cứu chuộc các con. Do Cha chọn đó! Còn đối với các con, Thánh Giá cũng là con đường để các con đến với Con Cha, và từ Con Cha mà đến cùng Cha. Không có Thánh Giá, các con không bao giờ có thể đến được với Cha, bởi vì sau khi phạm tội, nhân loại đã chuốc lấy hình phạt vì xa lìa Thiên Chúa.

Trong Thánh Thể, Cha sống giữa các con như một người Cha giữa gia đình của mình. Cha muốn Con Cha thiết lập bí tích Thánh Thể, để làm cho mọi nhà tạm trở nên bình đựng những ân sủng, những báu tàng và tình yêu của Cha, ngõ hầu ban phát cho loài người, con cái Cha.

Cũng qua hai con đường ấy, Cha vẫn để quyền năng và lòng thương xót vô bờ của Cha trào tuôn không ngừng cho các con.

Cha đã cho các con thấy rõ rằng, Con Chí Thánh Giêsu của Cha là đại diện cho Cha giữa các con, và qua Người, Cha luôn sống giữa các con. Cha còn muốn cho các con thấy Cha đến giữa các con qua Thánh Thần của Cha nữa.

Công việc của Ngôi Ba trong thần tính của Cha, được thực hiện một cách lặng lẽ, và nhân loại thường không nhận ra điều ấy. Nhưng đối với Cha, đó là một cách rất phù hợp, không chỉ trong nhà tạm, mà còn trong tâm hồn của tất cả những ai sống trong tình trạng ơn thánh, để thiết lập ngai tòa của Cha nơi họ, và ngự ở đó luôn mãi, như một người Cha đích thực, hằng che chở và nâng đỡ đứa con của mình.

Không ai có thể hiểu được sự vui mừng của Cha khi ở với một linh hồn, mặt giáp mặt, lòng bên lòng. Cho đến nay, chưa ai hiểu được những ước muốn vô tận của Trái Tim Cha là Thiên Chúa: Đó là ước muốn được mọi người, cả kẻ lành và kẻ dữ, nhận biết, yêu mến và tôn kính Cha. Mà cả ba tác động vinh dự ấy, Cha muốn nhận được từ những người tội lỗi nhất.

Có gì mà Cha đã chưa làm cho dân Cha, từ Ađam cho đến Giuse, dưỡng phụ của Chúa Giêsu, và từ thời của Giuse cho đến thời đại hiện nay, để nhân loại dâng cho Cha một vinh dự đặc biệt, xứng đáng với Cha là Hiền Phụ, là Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Độ của họ. Vậy mà Cha vẫn chưa nhận được niềm tôn vinh đặc biệt mà Cha rất hy vọng và hết lòng mong ước!

Trong sách Xuất Hành, các con đọc thấy rằng “Phải tôn kính Thiên Chúa bằng một việc tôn thờ đặc biệt”. Giáo huấn này đặc biệt hàm chứa trong các thánh vịnh Đavit. Trong những điều đích thân Cha truyền ban cho Moses, Cha đã nhấn mạnh: “Các người phải trọn niềm thờ phượng và yêu mến một Thiên Chúa duy nhất”.

Vì thế, yêu mến và tôn kính là hai việc đi liền với nhau. Vì Cha đã ban dư tràn ân sủng trên các con, nên Cha phải được các con tôn kính cách đặc biệt mới phải!

Khi ban sự sống cho các con, Cha đã muốn tạo dựng các con theo hình ảnh và giống như Cha. Vậy nên, trái tim các con cũng dễ xúc cảm như Trái Tim Cha, và Trái Tim Cha như trái tim các con!

Nếu một người láng giềng thực hiện một điều gì nhỏ bé làm vui lòng các con, thì các con đối xử làm sao? Người lạnh lùng nhất cũng nhớ mãi lòng biết ơn đối với người ấy. Thông thường, ai cũng tìm điều gì làm vui lòng người ấy nhất để tưởng thưởng việc họ đã làm giúp mình. Phải, về phần Cha, Cha sẽ càng biết ơn các con hơn biết bao, bằng cách đảm bảo cho các con sự sống muôn đời, nếu các con thực hiện cho Cha một việc nhỏ bé là tôn kính Cha như Cha mong muốn.

Cha nhìn nhận rằng các con đã tôn vinh Cha nơi Con Cha, và có những người biết nhờ Con Chí Thánh Cha mà dâng mọi sự tới tận Cha, nhưng con số những người ấy thật rất ít ỏi!

Dù vậy, các con đừng nghĩ rằng khi các con tôn kính Con Cha là các con không tôn kính Cha! Đó chính là các con tôn kính Cha, bởi vì Cha ở trong Con Cha! Như vậy, tất cả những gì làm vinh danh Con Cha, cũng là làm vinh danh Cha.

 Nhưng Cha muốn thấy nhân loại tôn vinh Hiền Phụ và Tạo Hóa của họ bằng một sự tôn thờ đặc biệt. Các con càng tôn vinh Cha hơn, thì Con Cha cũng càng được tôn vinh hơn, bởi vì theo Thánh Ý Cha, Người đã là Ngôi Lời Nhập Thể và đến giữa các con, để làm cho các con nhận biết Đấng đã sai  Người.

Nếu các con nhận biết Cha, các con sẽ yêu mến Cha, và các con sẽ yêu mến Con Yêu Dấu của Cha hơn hiện nay nhiều. Các con hãy xem, biết bao thụ tạo của Cha, những kẻ đã trở nên con cái của Cha nhờ mầu nhiệm Cứu Chuộc, vậy mà họ vẫn chưa sống trong cánh đồng xanh tươi, mà qua Con Cha, Cha đã chuẩn bị cho toàn thể nhân loại. Và biết bao người nữa, như các con thấy rõ, họ chưa hề biết đến những đồng lúa đó! Biết bao thụ tạo xuất phát từ tay Cha, Cha biết rõ đời sống của họ, vậy mà họ chẳng biết đến cả Bàn Tay đã tạo dựng nên họ!

A! Cha ước ao dường nào cho người ta biết Cha là Cha Toàn Năng làm mọi ơn lành cho các con và cũng là Cha Toàn Năng làm mọi ơn lành cho những kẻ ấy. Cha muốn cuộc sống của họ được an vui hơn nữa, nhờ lề luật của Cha. Cha ước muốn các con hãy nhân danh Cha mà đến với họ vì Cha. Phải, các con hãy nói với họ rằng: Họ có một người Cha, người Cha ấy sau khi dựng nên họ, lại còn muốn ban tặng họ các kho tàng của Ngài. Nhất là các con hãy nói với họ rằng: Cha tưởng nhớ đến họ, Cha yêu thương họ, và Cha muốn ban cho họ hạnh phúc vĩnh cửu. Nếu các con làm như vậy, Cha hứa với các con: Người ta sẽ trở lại cùng Cha mau chóng hơn.

Các con hãy tin Cha, giả như ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, nếu các con đã tôn kính Cha, và làm cho người ta tôn kính Cha bằng một việc phụng tự đặc biệt, thì sau hai mươi thế kỷ, sẽ chẳng còn mấy người sống trong lầm lạc, trong nạn thờ ngẫu tượng, ngoại giáo, và nhiều giáo phái giả dối xấu xa, mà nhân loại hiện giờ đang mù quáng chạy theo để rồi lao mình xuống hố lửa đời đời! Các con hãy xem, việc còn lại phải làm đa đoan biết chừng nào!

Giờ của Cha đã đến! Cha phải được nhân loại nhận biết, yêu mến và tôn vinh, để sau khi tác thành nên họ, Cha có thể làm Cha họ, rồi Đấng Cứu Độ của họ, và sau cùng là đối tượng cho những vinh phúc muôn đời của họ.

Cho đến lúc này, Cha toàn nói những điều các con đã biết. Cha muốn nhắc nhở các con về những điều ấy, để các con luôn thêm xác tín rằng: Cha là một người Cha rất nhân từ và không phải đáng sợ như các con tưởng, và rằng Cha là Cha của hết thảy mọi người đang sống hoặc sẽ được Cha tạo dựng cho đến tận thế.

 Các con cũng hãy biết rằng Cha muốn được nhận biết, được yêu mến, và nhất là tôn kính. Ước chi mọi người nhận biết lòng nhân lành vô biên của Cha đối với mọi người, nhất là những người tội lỗi, người đau bệnh, người hấp hối và tất cả những ai chịu đau khổ. Chớ gì họ biết rằng: Cha chỉ có một ước muốn duy nhất là yêu thương họ hết thảy, ban cho họ các ân sủng của Cha, tha thứ theo lòng thống hối của họ, và nhất là không phán xét họ theo Phép Công Thẳng, nhưng bằng tình thương xót của Cha, để ai nấy đều được cứu độ và được đưa vào hàng ngũ các thánh, những người được tuyển chọn.

Để kết thúc những điều bày tỏ vắn tắt trên đây, Cha ban cho các con một điều hứa có hiệu quả muôn đời:

“Hãy gọi Cha bằng danh từ Cha với lòng tín cẩn và yêu mến, rồi các con sẽ nhận được từ Cha tất cả mọi sự, với tình yêu và lòng thương xót”.

Cha ước mong con yêu của Cha, là cha linh hướng của con, biết lo cho vinh quang Cha và ghi nhận từng lời, từng câu về những gì Cha đã truyền cho con viết, và cả những gì Cha còn truyền cho con viết nữa, đừng thêm thắt gì vào những điều Cha đã bày tỏ với con, để mọi người nhận thấy những lời này đáng yêu và dễ đọc, những điều Cha muốn cho họ hiểu biết.

Ngày lại ngày, Cha sẽ nói cho con về những ước muốn của Cha, đối với loài người, những niềm vui, những phiền muộn của Cha, và nhất là Cha sẽ tỏ cho nhân loại thấy lòng nhân từ vô biên của Cha, sự ngọt ngào êm dịu và đầy cảm thông của tình yêu Cha, tình yêu lân tuất.

Cha cũng muốn bề trên của con hãy cho phép con dùng những thời giờ rảnh rỗi để chuyện vãn cùng Cha. Và Cha cũng muốn mỗi ngày con có thể dùng nửa giờ để an ủi Cha, yêu mến Cha, và cầu bầu cho các con cái Cha có tâm hồn làm việc, để mở rộng việc tôn thờ đặc biệt như Cha vừa cho con biết, ngõ hầu mọi người đạt tới một niềm tín cẩn lớn lao đối với người Cha chỉ muốn được lòng yêu mến của con cái mình.

Để công cuộc này được lan rộng trong lòng mọi dân tộc cách nhanh chóng hết sức có thể, mà những người được ủy thác công cuộc truyền bá không mắc phải sự thiếu khôn ngoan nhỏ nhặt nào. Vì ý ấy, Cha xin con mỗi ngày hãy sống trong tinh thần tịnh hiệp hồi tâm sâu xa. Con sẽ được hạnh phúc, nếu con bằng lòng hạn chế lời nói với các thụ tạo. Để trong sâu kín của tâm hồn con, dầu khi con ở giữa họ, con cũng hãy chuyện vãn cùng Cha và lắng nghe Cha.

Đàng khác, đây cũng là điều Cha muốn con thực hiện: Đôi khi Cha sẽ nói chuyện riêng của con, con sẽ viết những lời tâm sự của Cha vào một cuốn sổ riêng biệt. Nhưng ở đây, Cha muốn nói với mọi người rằng: Cha sống với con người còn thân thiết hơn một người mẹ với đứa con nhỏ của bà.

Từ khi tạo dựng loài người, chưa có một giây phút nào Cha không sống kề cận bên con người. Vì là Tạo Hóa và Hiền Phụ của họ, Cha cảm thấy phải yêu thương họ. Không phải vì Cha cần đến họ điều chi, nhưng tình yêu Hiền Phụ và tình thương của Đấng Tạo Hóa khiến Cha cảm thấy phải yêu thương loài người. Vậy nên, Cha sống gần gũi với con người, Cha đeo bám họ khắp mọi nơi, Cha giúp đỡ họ trong mọi sự, Cha bù đắp các thiếu thốn của họ. Cha thấy rõ các nhu cầu, những lao nhọc, những nỗi lo âu và mọi ước muốn của họ. Và hạnh phúc lớn nhất của Cha là giúp đỡ và cứu họ.

 Loài người coi Cha là Ông Thiên Chúa đáng sợ, và rằng Cha xô đẩy cả nhân loại xuống hỏa ngục. Ngạc nhiên cho họ dường nào khi đến ngày  tận thế, họ sẽ thấy biết bao linh hồn mà họ tưởng là đã hư mất đời đời, nhưng thực sự được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu giữa cộng đoàn các thánh.

 Cha mong ước tất cả mọi thụ tạo của Cha xác tín rằng: Họ có một người Cha hằng canh chừng họ, và muốn cho họ ngay từ đời này được hưởng trước niềm vui ấy, như tiền vị của hạnh phúc Thiên Đường.

 Một người mẹ không bao giờ quên được đứa con bé nhỏ non nớt mình vừa cho ra đời. Thì việc Cha nhớ đến mọi thụ tạo của Cha, lại không kỳ diệu hơn thế hay sao? Đó chẳng phải là nét đẹp về phía Cha sao? Vậy nếu người mẹ còn yêu dấu đứa con bé nhỏ mà chính Cha đã ban cho họ, thì Cha, Cha còn yêu nó hơn tình yêu của người mẹ, vì chính Cha đã tạo dựng ra nó.

Nếu như đôi khi có người mẹ nào kém thương yêu đứa con vì một khuyết tật nào đó nơi đứa bé, nhưng Cha thì ngược lại, Cha càng yêu thương đứa bé ấy nhiều hơn nữa. Giả như có người mẹ nào quên con mình hoặc ít khi tưởng nghĩ đến nó, nhất là khi tuổi già đã làm cho bà mất đi sự mẫn tiệp, thì Cha, Cha không bao giờ quên nó. Cha luôn luôn yêu nó. Dầu cho nó không còn nhớ Cha là Cha của nó và là Đấng Tạo Dựng nên nó, Cha vẫn nhớ đến nó và vẫn yêu thương nó.

Ở trên, Cha đã nói với các con rằng: Cha muốn ban cho các con ngay từ đời này được hưởng hạnh phúc vĩnh hằng, nhưng các con không hiểu lời đó. Ý nghĩa lời đó như sau: Nếu các con yêu mến Cha, và nếu các con có lòng tín cẩn gọi Cha bằng danh từ ngọt ngào “Cha”, thì ngay từ đời này, các con bắt đầu có lòng yêu mến và tín cẩn, là những điều tạo nên hạnh phúc cho các con muôn thuở muôn đời, và các con sẽ cùng hợp tiếng hoan ca trên trời với cộng đoàn các thánh. Đó chẳng phải là hưởng trước hạnh phúc thiên đường muôn đời bất diệt đó sao?

Vậy Cha ước mong con người năng nhớ rằng: Họ ở đâu là Cha ở đó, và họ không thể sống được nếu như Cha không ở với họ, đang sống như họ. Cho dù họ không tin, nhưng Cha vẫn không ngừng ở kề bên họ.

A! Cha ước ao dường nào được thấy thực hiện chương trình mà Cha muốn thông báo cho các con như sau: Cha muốn thiết lập một niềm tín cẩn lớn lao giữa con người với Cha Trên Trời của mình, một tinh thần đích thực, vừa thân mật vừa tế nhị, luôn luôn đi đôi, để khỏi lạm dụng lòng nhân từ lớn lao của Cha. Cha biết rõ các nhu cầu, các ước muốn, và cả nội tâm các con. Nhưng Cha sẽ sung sướng và biết ơn dường nào, nếu Cha thấy các con đến với Cha và tỏ lời tâm sự cùng Cha về các nhu cầu của các con như một trẻ nhỏ thường làm đối với cha mình. Làm sao Cha có thể từ chối các con điều gì dù nhỏ bé hay có tầm quan trọng, nếu các con xin cùng Cha? Mặc dù các con không nhìn thấy Cha, nhưng chẳng lẽ các con cũng không cảm nhận được Cha rất gần kề bên các con, do những biến cố xảy đến nơi nội tâm hay chung quanh các con sao? Thật phúc cho các con biết bao, ngày nào mà các con dù không thấy Cha mà vẫn tin Cha!

Ngay lúc này, Cha đang ở đây, đích thân Cha ở giữa các con, đang nói chuyện với các con, không ngừng lặp đi nhắc lại dưới mọi hình thức rằng: Cha yêu thương các con, Cha muốn được nhận biết, yêu mến và tôn kính bằng một phụng tự đặc biệt. Vậy mà các con không thấy Cha, chỉ trừ một người duy nhất, người mà Cha đọc cho chép sứ điệp này! Một người duy nhất trong cả nhân loại! Tuy nhiên, này đây Cha đang nói với các con, và qua con người mà Cha đang ngỏ lời, đang phán dạy đây, ấy là Cha nhìn thấy tất cả các con và đang ngỏ lời với tất cả các con, cũng như từng người một, và Cha yêu thương các con như các con đang thấy Cha!

Cha muốn nhân loại nhận biết và cảm nhận Cha đang gần gũi từng người. Hỡi các con, các con hãy nhớ rằng Cha ước mong được trở nên niềm hy vọng của nhân loại. Mà Cha đã chẳng là như thế sao? Giả như Cha không phải là hy vọng của loài người, thì loài người đã vong thân rồi! Nhưng điều cần là Cha phải được loài người nhận biết như thế, ngõ hầu bình an, tín cẩn và yêu thương thâm nhập vào lòng mọi người, và đưa họ đến gặp gỡ với Cha của họ trên trời và ngay tại dương thế!

Các con đừng nghĩ Cha là Ông Già đáng khiếp sợ, mà con người hình dung ra trên các tranh ảnh và sách vở của họ. Không! Không! Cha không trẻ hơn cũng không già hơn Con của Cha và Thánh Thần của Cha. Vậy, Cha muốn mọi người, từ em bé đến cụ già, đều gọi Cha bằng từ thân mật “Cha, Bạn”, bởi vì Cha luôn ở với các con, và cả bằng từ “Anh, Em”, vì Cha tự làm cho Cha nên giống các con, để làm cho các con nên giống Cha.

Cha sẽ vui mừng biết bao, khi thấy các bậc cha mẹ dạy con cái mình năng gọi Cha bằng danh xưng “Cha”, vì Cha thật là như thế!

Cha ước ao dường nào được thấy vun trồng trong các tâm hồn trẻ thơ ấy một niềm tín cẩn, một tình yêu con thảo đối với Cha! Cha đã làm tất cả cho các con, các con lại không thực hiện điều ấy cho Cha sao?

Cha muốn cư ngụ trong mọi gia đình như trong lãnh địa của Cha, để mọi người có thể an tâm tuyệt đối và nói vững mạnh rằng: “Chúng tôi có một người Cha nhân từ vô biên, giàu có vô hạn và lân tuất khôn lường. Ngài tưởng nghĩ đến chúng tôi. Ngài gần kề với chúng tôi. Ngài yêu thương chúng tôi. Ngài chăm sóc nâng đỡ chúng tôi. Ngài sẽ ban cho chúng tôi mọi sự chúng tôi thiếu thốn, nếu như chúng tôi kêu xin Ngài. Tất cả tài sản của Ngài là của chúng tôi. Chúng tôi sẽ có tất cả những gì cần thiết cho chúng tôi”.

Với lòng nhân từ hiền phụ của Cha, Cha sẽ ban cho chúng con tất cả, miễn là mọi người biết coi Cha như người Cha thật sống giữa con cái mình, vì quả thật Cha đúng là như thế.

Cha còn ước ao mọi gia đình, hãy trang trọng trưng bày bức hình, sau này Cha sẽ cho “ái nữ bé nhỏ” của Cha biết. Cha muốn qua đó, mỗi gia đình hãy đặt mình dưới sự che chở đặc biệt của Cha, để có thể tôn kính Cha một cách dễ dàng. Ở đó, mỗi ngày gia đình sẽ bày tỏ với Cha những nhu cầu, những công việc, những lo buồn đau khổ, những ước muốn cũng như những niềm vui, bởi vì một người Cha phải biết tất cả những gì liên quan đến con cái mình. Dĩ nhiên Cha biết tất cả, bởi vì Cha hiện diện ở đó, nhưng Cha yêu quý tấm lòng đơn sơ. Cha muốn hòa mình theo thân phận các con. Cha bé nhỏ với người bé nhỏ, Cha trung niên với người trung niên. Với người già, Cha cũng làm ra giống họ, ngõ hầu mọi người đều hiểu điều Cha muốn nói với họ để thánh hóa họ và làm vinh danh Cha.

Bằng chứng về những điều Cha vừa nói, các con không thấy rõ nơi Con Cha ư? Người đã trở thành bé nhỏ và yếu đuối như các con! Ngay bây giờ, các con vẫn chưa thấy bằng chứng ấy khi Cha đang nói với các con ở đây hay sao? Và để cho các con hiểu được điều Cha muốn nói với các con, Cha đã chẳng mang hình hài một thụ tạo tầm thường như các con để lên tiếng đó sao? Phải chăng lúc này Cha không giống hệt các con sao?

 Này xem, Cha đã đặt triều thiên của Cha ở dưới chân và ôm lấy địa cầu trên Trái Tim Cha. Cha đã để lại trên trời tất cả vinh quang của Cha. Và Cha đã đến đây, tự làm cho Cha trở nên tất cả cho mọi người, nghèo khó với những ai nghèo khó, và giàu sang với những ai giàu sang.

Như một người Cha, Cha muốn che chở giới trẻ như người Cha hiền. Thế giới này có biết bao sự đồi bại! Những tâm hồn ít kinh nghiệm đáng thương ấy đang bị quyến rũ bởi biết bao thói xấu, để rồi dần dần đi vào trụy lạc hoàn toàn.

Hỡi các con là những người đặc biệt cần có người coi sóc bảo vệ trong cuộc đời, để có thể tránh sự dữ, các con hãy đến cùng Cha! Cha là Cha của các con! Cha yêu thương các con hơn bất cứ thụ tạo nào có thể yêu các con! Các con hãy ẩn náu bên Cha. Hãy trao phó cho Cha mọi tư tưởng, ước muốn của các con. Cha trìu mến các con biết bao! Cha ban ân sủng cho các con trong hiện tại và sẽ chúc lành cho tương lai các con. Cha không quên các con dù đã tạo dựng nên các con đến nay là 15, 20, 25 hay 30 năm.

Các con hãy đến! Cha thấy rằng các con cần đến một người Cha hiền từ và nhân hậu vô biên như Cha.

Còn nhiều điều khác nữa, nói ra ở đây cũng thích hợp, nhưng Cha có thể dành lại về sau.

Giờ đây Cha muốn ngỏ lời riêng với linh hồn những người Cha đã tự chọn lựa, là các linh mục và tu sĩ, những người con rất yêu dấu của lòng Cha. Cha có những ý định lớn về những người con đó.

  1. Với Ðức Giáo Hoàng

Hỡi con dấu yêu của Cha, Đại Diện của Cha, Cha hướng về con trước mọi người khác, để trao đặt công việc này vào tay con. Trong tất cả những tác vụ của con, công tác này phải xếp hàng đầu, và vì quỷ dữ đã gây ra một nỗi sợ hãi nơi nhân loại, nên công trình này phải được hoàn tất trong thời gian này.

Ôi, Cha mong muốn con hiểu biết tầm mức của công việc này, sự lớn lao, chiều dài, chiều rộng, chiều sâu, và chiều cao của nó. Cha muốn con hãy hiểu biết, những ước vọng bao la của Cha dành cho nhân loại, hiện tại và tương lai! Ước chi con hiểu biết Cha khát mong được nhân loại nhận biết, yêu mến, và tôn vinh bằng một lòng sùng kính đặc biệt biết bao! Cha đã khát vọng như thế từ đời đời, ngay khi con người đầu tiên vừa được tác thành. Cha đã thổ lộ khát vọng ấy cho nhân loại vào nhiều thời điểm khác nhau, nhất là trong Cựu Ước. Nhưng nhân loại chưa bao giờ hiểu được điều ấy. Giờ đây, khát vọng ấy làm Cha quên hết quá khứ, ước chi lúc này nó có thể trở thành một thực tại, nơi các thụ tạo của Cha trên khắp thế giới. Cha đang nghiêng mình xuống với thụ tạo hèn mọn nhất của Cha đây (nữ tu Eugenia) để phán dạy, và qua đó mà phán dạy toàn thể nhân loại, mặc dù nó không thể nhận ra tầm mức lớn lao của công cuộc Cha muốn thực hiện giữa nhân loại.

Cha không thể nói với nó về thần học, vì biết chắc chắn sẽ thất bại, bởi lẽ nó sẽ không hiểu được. Cha làm như thế để thực hiện chương trình của Cha qua sự đơn sơ và thơ ngây. Nhưng giờ đây, đến lượt con hãy cứu xét và đưa công việc này mau chóng đến chỗ hoàn tất.

Để được nhận biết, yêu mến và tôn vinh bằng một lòng sùng kính đặc biệt, Cha không đòi bất cứ điều gì ngoại thường. Cha chỉ mong ước thế này:

1/ Cha ước mong có một ngày, hoặc ít là một Chúa Nhật, được dành riêng để tôn kính Cha cách đặc biệt với tước hiệu Hiền Phụ của toàn thể nhân loại. Về ngày lễ này, Cha muốn có một Thánh Lễ và một bài kinh phụng vụ đặc biệt. Việc tìm ra những bản văn ấy trong các Sách Thánh không có gì là khó khăn. Nếu các con muốn dâng cho Cha lòng sùng kính đặc biệt vào một ngày Chúa Nhật, Cha sẽ chọn Chúa Nhật đầu tháng Tám. Nếu các con dâng một ngày thường trong tuần, thì Cha luôn muốn là ngày mồng bảy của tháng đó.

2/ Cha ước mong mọi giáo sĩ hãy đảm nhận việc cổ động lòng sùng kính này, và trước tiên, phải làm cho mọi người nhận biết một cách xác thực về Cha, tức là đối với họ, hiện nay cũng như mãi mãi, Cha sẽ là người Cha dịu hiền và khả ái nhất trong mọi người cha.

3/ Cha ước mong được đưa vào mọi gia đình, bệnh viện, phòng thí nghiệm, xưởng thợ, doanh trại, trụ sở các viên chức thuộc các quốc gia – tóm lại là bất kỳ nơi nào có các thụ tạo của Cha, cho dù chỉ có một người đi nữa! Cha muốn dấu hiệu khả nghiệm về sự hiện diện vô hình của Cha sẽ là một bức hình tỏ ra Cha đang thực sự hiện diện. Như thế, mọi người sẽ thi hành tất cả các hoạt động dưới ánh nhìn người Cha của họ, và Cha sẽ có trước mắt mình, những thụ tạo không những Cha đã tác thành mà còn nhận làm con cái nữa. Như vậy có thể nói, con cái của Cha sẽ ở dưới ánh nhìn người Cha dịu hiền của chúng. Ngay lúc này đây, đã hẳn Cha hiện diện khắp mọi nơi, nhưng Cha vẫn muốn được biểu hiện một cách khả nghiệm nữa!

4/ Cha ước mong các giáo sĩ và giáo hữu hãy thực hiện một số hành vi đạo đức trong năm để tôn vinh Cha, nhưng đừng gây trở ngại cho các công việc thông thường của họ. Các linh mục của Cha hãy can trường ra đi khắp nơi, đến mọi quốc gia, để đem ngọn lửa tình yêu hiền phụ của Cha đến cho nhân loại. Khi ấy các linh hồn – không những các lương dân, mà còn tất cả các giáo phái chưa thuộc về Giáo Hội chân thực – sẽ được soi sáng và được chinh phục. Phải, Cha muốn cho những người con ấy, cũng là con cái của Cha, được nhìn thấy ngọn lửa chiếu sáng trước mắt, để họ nhận biết và ôm ấp chân lý, đồng thời thực hành mọi nhân đức Kitô Giáo.

5/ Cha muốn được tôn vinh một cách rất đặc biệt tại các chủng viện, tập viện, học đường, và viện dưỡng lão. Ước chi mọi người từ nhỏ nhất đến già nhất, đều nhận biết và yêu mến Cha là Hiền Phụ, Đấng Tạo Hóa, và Cứu Độ của họ.

6/ Các linh mục hãy đi tìm trong Sách Thánh những lời của Cha đã phán dạy từ ngàn xưa và những điều này đến nay vẫn còn bí nhiệm liên quan đến việc phụng thờ mà Cha muốn tiếp nhận từ nhân loại. Ước chi các vị ấy hãy hợp sức làm cho mọi người biết đến những ước muốn và thánh ý của Cha, cụ thể là những điều Cha muốn truyền dạy nhân loại nói chung, và các linh mục, nam nữ tu sĩ nói riêng. Những linh hồn này là những người Cha đặc tuyển giữa thế gian để trọn niềm tôn vinh Cha. Dĩ nhiên cần có thời gian để thực hiện hoàn hảo những ước nguyện của Cha đối với nhân loại, như Cha đã tỏ ra cho các con! Nhưng một ngày kia, nhờ lời cầu nguyện và hy sinh của các linh hồn quảng đại, những người hiến thân cho công cuộc tình yêu của Cha. Phải, rồi một ngày kia, Cha sẽ được thỏa lòng. Hỡi con yêu dấu của Cha, Cha sẽ chúc lành cho con, và ban thưởng cho con gấp trăm về những gì con sẽ làm cho vinh danh Cha.

  1. Với Ðức Giám Mục

Hỡi Alexander, con Cha, Cha cũng muốn ngỏ lời với con, để những ước nguyện của Cha được thực hiện trên trần gian này.

Con phải liên kết với cha giải tội của ‘cây nhỏ’ của Chúa Giêsu, Con Cha, trong việc cổ động công việc này, tức là lòng sùng kính đặc biệt mà Cha mong đợi nơi nhân loại. Hỡi các con, Cha giao phó công trình này, một công cuộc rất quan trọng, và tương lai của nó cho các con. Các con hãy lên tiếng, hãy kiên định làm sáng tỏ các lời của Cha, để mọi thụ tạo nhận biết, yêu mến, và tôn vinh Cha. Nếu các con làm như thế, các con sẽ chu toàn điều Cha mong mỏi nơi các con, tức là thánh ý Cha, và các con sẽ hoàn tất những ước nguyện mà từ xa xưa Cha đã âm thầm ấp ủ. Về tất cả những gì các con thực hiện cho vinh danh Cha, Cha sẽ làm gấp đôi cho ơn cứu độ và sự nên thánh của các con. Sau cùng, trên thiên đàng, và chỉ trên thiên đàng, các con mới nhận thấy phần thưởng trọng hậu Cha sẽ ban cho các con một cách rất đặc biệt, cùng tất cả những người góp công vì mục đích này.

Cha đã tác thành nhân loại cho chính Cha, và thật chính đáng khi Cha sẽ là Tất Cả cho họ. Nhân loại không tìm được hạnh phúc đích thực bên ngoài Hiền Phụ và Đấng Tạo Hóa của họ, bởi vì con tim họ đã được dựng nên cho một mình Cha.

Về phần mình, Cha dành cho các thụ tạo một tình yêu thật lớn lao, đến độ Cha không có một niềm vui nào lớn hơn là được ở giữa chúng. Vinh hiển của Cha trên thiên đàng cao sang vô cùng, nhưng vinh hiển ấy sẽ cao sang hơn nữa, khi Cha ở giữa các con cái của Cha là toàn thể nhân loại khắp thế giới. Hỡi các thụ tạo của Cha, cùng với những người được Cha tuyển chọn, thiên đàng của các con là trên trời, bởi vì đó là nơi các con sẽ chiêm ngưỡng Cha, trong phúc hưởng kiến bất tận và hoan hưởng vinh quang muôn đời.

Hỡi nhân loại, thiên đàng của Cha là ở trần gian với tất cả các con! Phải, Cha đi tìm hạnh phúc và niềm vui của Cha trên trần gian và trong linh hồn các con. Các con có thể đem lại cho Cha niềm vui ấy, và đó là bổn phận của các con đối với Đấng Tạo Hóa và Hiền Phụ của các con, Đấng ước mong và trông chờ điều ấy nơi các con.

Niềm vui Cha được cảm nghiệm khi ở với các con, không vơi kém chút nào so với niềm vui Cha từng được hoan hưởng khi ở với Chúa Giêsu, Con Cha, trong cuộc đời dương thế của Người. Chính Cha đã sai Con Cha đến. Người được đầu thai nhờ Thánh Thần của Cha, Đấng là chính Cha, tóm lại, Cha mãi mãi là Cha.

Hỡi các thụ tạo của Cha, vì thương yêu các con như đã yêu thương Con Cha, Đấng chính là Cha, nên Cha phán với các con như đã phán với Con Cha: Các con là con yêu dấu của Cha, nơi các con, Cha được hài lòng. Vì vậy, Cha vui mừng có các con bên cạnh và ước ao ở với các con. Sự hiện diện của Cha giữa các con giống như thái dương với địa cầu. Nếu các con sẵn sàng đón tiếp Cha, Cha sẽ đến gần gũi, sẽ ngự vào, sẽ soi sáng và sưởi ấm các con bằng tình yêu vô cùng của Cha.

Về phần các con, hỡi những linh hồn trong tình trạng tội lỗi hoặc vô tri về chân lý tôn giáo, Cha không thể ngự vào các con, tuy nhiên Cha sẽ ở bên các con, vì Cha không ngớt kêu gọi và mời mọc các con hãy khát khao tiếp nhận những ân phúc Cha đem đến cho các con, để các con có thể nhìn thấy ánh sáng và được chữa lành khỏi tội lỗi.

Nhiều khi Cha nhìn đến các con và cảm thương cho tình trạng khốn cùng của các con. Lắm khi Cha trìu mến nhìn xuống để thôi thúc các con suy phục những vẻ quý đẹp của ân sủng. Cha mất nhiều ngày, có khi nhiều năm, để ở bên cạnh một số linh hồn, chỉ cốt mưu cầu hạnh phúc muôn đời cho họ. Họ không biết Cha đang ở đó trông chờ và kêu gọi họ từng giây từng phút trong ngày. Vậy mà Cha chẳng bao giờ chán ngại và vẫn nghiệm thấy niềm vui khi được ở gần các con, luôn luôn hy vọng một ngày nào đó, các con sẽ quay về với người Cha của các con, để sau cùng, các con sẽ dâng cho Cha một tác động yêu mến trước khi từ giã cõi trần. Cha sẽ cho các con điển hình về một linh hồn đang đối mặt với cái chết bất ngờ, đối với Cha, linh hồn ấy lúc nào cũng như Người Con Hoang Đàng. (Mẹ Eugenia chú thích: “Tôi đã nhìn thấy điển hình này như một sự  kiện, một cách chính xác khi Chúa Cha đọc cho tôi ghi chép thông điệp này”)

Cha đã trào đổ những ân phúc cho linh hồn ấy, nhưng nó phung phí tất cả những phúc lộc, những tặng ân người Cha dấu yêu đã ban cho nó. Hơn nữa, nó còn xúc phạm đến Cha một cách thậm tệ. Cha đã chờ đợi, đã đeo bám nó mọi nơi, đã ban cho nó các đặc ân: Sức khỏe và của cải – Cha ban thành công cho công việc của nó – đến mức độ dư thừa. Đôi khi Cha còn quan phòng ban thêm cho nó những tặng ân khác nữa. Vì thế, nó được sung túc mọi sự, nhưng nó nhìn tất cả dưới ánh sáng ảm đạm của những thói xấu, và trọn cuộc đời nó toàn những lỗi phạm vì tình trạng thường xuyên sống trong tội trọng. Nhưng tình yêu của Cha không bao giờ mỏi mệt. Cha vẫn cứ đeo đuổi nó như thường. Cha đã yêu thương nó, và nhất là bất chấp những cự tuyệt của nó, Cha vẫn vui lòng sống nhẫn nhục bên nó, hy vọng một ngày nào đó, nó sẽ đáp lại tình yêu của Cha và quay về với Cha, người Cha và Đấng Cứu Độ của nó.

Cuối cùng, ngày sau hết của nó gần kề: Cha đã gửi đến cho nó một cơn bệnh để làm nó thức tỉnh và quay về với Cha, người Cha của nó. Thời gian thấm thoát, và đứa con đáng thương của Cha – đã 74 tuổi đời – hiện đang sống vào giờ sau hết. Cha vẫn ở đó, như từ trước đến nay: Cha thủ thỉ với nó, âu yếm hơn bao giờ hết. Cha kiên trung, Cha kêu gọi và yêu cầu các linh hồn ưu tuyển, các thần thánh của Cha hãy cầu nguyện cho nó biết xin ơn tha thứ mà Cha đang dành cho nó… Và giờ đây, trước khi trút hơi thở cuối cùng, nó mở mắt ra, nhìn nhận những sai lỗi và ý thức đã lạc quá xa nẻo đường chính trực dẫn đến cùng Cha. Nó hồi tỉnh và thều thào yếu ớt, chẳng ai chung quanh có thể nghe được: “Lạy Thiên Chúa của con, giờ đây con nhìn thấy tình yêu Chúa vẫn dành cho con thật lớn lao, vậy mà con đã không ngừng xúc phạm đến Chúa, bằng một cuộc đời xấu xa. Con chưa bao giờ tưởng nghĩ đến Chúa, người Cha và Đấng Cứu Độ của con. Giờ đây, Chúa thấu suốt mọi sự, con nài xin Chúa tha thứ tất cả sự bội bạc Chúa nhìn thấy nơi con, mà lúc này con cũng nhận ra trong tình trạng rối bời của con. Con yêu mến Chúa, lạy Cha của con và Đấng Cứu Độ của con!”

Linh hồn đã lìa đời ngay giây phút ấy, và lúc này đây, nó đang ở đây, trước thánh nhan Cha. Cha phán xử nó bằng tình yêu hiền phụ, nó đã gọi Cha bằng Cha và đã được cứu độ. Nó sẽ trải qua một thời gian thanh luyện, và sau đó sẽ được hạnh phúc muôn đời.

Trong cuộc đời của linh hồn ấy, Cha đã lấy làm vui với niềm hy vọng sẽ cứu thoát được linh hồn ấy khi nó hấp hối, giờ đây, cùng với triều đình thiên quốc, Cha càng mãn nguyện hơn nữa, vì ước nguyện của Cha, là muốn làm Cha nó, đã mãi mãi được nên trọn.

Còn đối với các linh hồn trong tình trạng công chính và ơn thánh, Cha biểu lộ hạnh phúc trong việc ở trong họ. Cha ban mình cho họ. Cha chuyển thông cho họ quyền sử dụng quyền năng của Cha, và nhờ tình yêu Cha, họ tìm được tiền cảm thiên đàng trong Cha, Người Cha và Đấng Cứu Độ của họ!”

  1. Thông điệp của Chúa Cha – phần II

Phần thứ hai bắt đầu vào ngày 12 tháng 8 năm 1932.

Một ngày nọ, quỷ dữ đã chiếm lấy tập vở và dùng chiếc kéo cắt nát phần bìa.

Sau đây là bản văn:

“Cha vừa khai mở một nguồn nước hằng sống, từ bây giờ cho đến tận cùng thời gian sẽ không bao giờ khô cạn. Hỡi các thụ tạo của Cha, các con cái của Cha, Cha đang đến với các con để mở toang cung lòng hiền phụ chứa chan tình yêu của Cha dành cho các con.

Cha muốn chúng con phải trở nên những chứng nhân cho tình yêu vô biên và đầy thương xót của Cha. Sau khi đã bày tỏ tình yêu của Cha dành cho các con, Cha vẫn thấy chưa đủ. Cha còn muốn khai mở Trái Tim Cha cho các con, nơi phát sinh nguồn suối bổ dưỡng và là nơi toàn thể nhân loại sẽ được giãn khát. Khi ấy, họ sẽ được cảm hưởng niềm vui mà đến nay họ chưa bao giờ biết đến, vì bị đè nặng nỗi sợ hãi quá đáng đối với Cha, người Cha dịu hiền của họ.

Từ khi hứa ban Đấng Cứu Độ cho nhân loại, Cha đã cho nguồn suối này vọt lên. (Mẹ Eugenia ghi chú: “Từ khi Chúa nói với tôi lần đầu tiên về  nguồn suối này cho đến nay, ngày nào tôi cũng được nhìn thấy nó”) Cha đã cho nguồn suối ấy thông trào qua Trái Tim Con Cha để đến với các con. Nhưng tình yêu bao la của Cha dành cho các con khiến Cha phải làm hơn nữa, bằng việc khai mở cung lòng của Cha, để từ đó, nguồn suối cứu độ sẽ tuôn trào cho con cái của Cha, và Cha cho họ tự do kín múc, bất cứ những gì họ cần thiết trong thời gian và trong cõi đời đời.

Nếu muốn thử nghiệm nguồn suối Cha đang nói đây, trước tiên, như Cha mong ước, các con hãy nhận biết và yêu mến Cha hơn nữa, tức là không chỉ như Người Cha, mà còn như Người Bạn Tâm Giao của các con nữa.

Tại sao các con lại ngạc nhiên như vậy về điều Cha nói? Chẳng phải Cha đã dựng nên các con theo hình ảnh của Cha hay sao? Cha đã tạo dựng các con theo hình ảnh của Cha để các con đừng thấy xa lạ, khi tâm sự bằng những lời thân thiết với Hiền Phụ, Đấng Tạo Hóa và Thiên Chúa của các con. Vì nhờ lòng nhân lành xót thương của Cha, các con đã trở nên con cái của tình yêu thương hiền phụ và thần linh của Cha.

Chúa Giêsu Con Cha ở trong Cha, và Cha ở trong Người, trong tình yêu tương giao là Chúa Thánh Thần, Đấng hợp nhất Chúng Ta trong một mối liên kết tình yêu, để làm cho Chúng Ta nên Một.

Con Cha là mạch của nguồn suối này. Nhân loại có thể đến và kín múc thứ nước cứu độ luôn luôn trào tràn từ Thánh Tâm Người!

Nhưng các con phải xác tín về sự hiện hữu của nguồn suối Con Cha đã khai mở cho các con, để các con vững tin đó là nguồn suối mát rượi và thỏa thích! Vậy, các con hãy đến cùng Cha qua Con Cha, và một khi đã đến gần Cha, các con hãy trao phó mọi ước nguyện của các con cho Cha. Cha sẽ cho các con nhìn thấy nguồn suối ấy bằng cách tỏ mình cho các con một cách tỏ tường. Khi các con nhận biết Cha, cơn khát của các con sẽ được thỏa mãn, các con sẽ được hồi sinh, bệnh tật của các con sẽ được chữa lành, sợ hãi của các con sẽ biến tan. Niềm vui của các con sẽ tràn đầy và tình yêu của các con sẽ được no thỏa hơn bao giờ hết.

Nhưng các con sẽ thưa với Cha, làm sao chúng con có thể đến được với Chúa? A! Các con hãy đi con đường tín thác, hãy gọi Cha là Cha, hãy yêu mến Cha trong tinh thần và chân lý, và như thế là đủ để thứ nước bổ dưỡng và thần diệu này làm giãn cơn khát của các con.

Nhưng nếu thực sự muốn thứ nước này đem lại cho các con tất cả những gì các con cần để nhận biết để yêu mến Cha, và nếu cảm thấy lạnh nhạt và hững hờ, các con hãy gọi Cha bằng tiếng Cha thân thương, và Cha sẽ đến với các con. Nguồn suối của Cha sẽ đem lại cho các con lòng mến, niềm tín thác và mọi sự các con cần thiết để các con mãi mãi được Hiền Phụ và Đấng Tạo Hóa của các con yêu thương.

Vì Cha hết lòng khát mong được tất cả các con nhận biết, để tất cả các con được cảm hưởng ngay trên trần gian này lòng nhân lành và ngọt ngào của Cha, các con hãy trở nên tông đồ cho những người vẫn chưa nhận biết Cha. Cha sẽ chúc lành cho lao nhọc và nỗ lực của các con, và chuẩn bị một vinh quang lớn lao cho các con trên cõi muôn đời với Cha!

Hỡi các con của Cha, Cha là Đại Dương Tình Yêu, và đó là một bằng chứng nữa về tình yêu hiền phụ của Cha, dành cho tất cả các con, không ngoại trừ một ai, bất kể độ tuổi, địa vị hoặc quốc gia của các con. Cha cũng không loại trừ những xã hội dị biệt, các giáo phái, những tín hữu hay những người vô tín, những người thờ ơ dửng dưng. Cha ôm ấp trong tình yêu này tất cả những thụ tạo hữu trí, những thụ tạo làm nên nhân loại.

Cha là đại dương yêu thương, và đây là bằng chứng về điều đó. Cha đã cho các con thấy nguồn suối từ cung lòng của Cha trào ra để làm cho các con giãn khát. Và giờ đây, để các con nhìn thấy lòng nhân ái của Cha dành cho mọi người, Cha sẽ cho các con nhìn thấy đại dương yêu thương bao la của Cha, để các con có thể nhắm mắt gieo mình vào đó. Tại sao? Để khi gieo mình vào đại dương này, khi tắm gội trong biển yêu thương này, các linh hồn cay đắng vì những lỡ lầm và tội lụy sẽ không còn phải đắng cay. Khi lên khỏi đại dương này, họ sẽ mạnh khỏe và hạnh phúc hơn, và đã biết sống tốt lành và đầy yêu thương. Nếu vì vô tri hoặc yếu đuối, nhỡ ra các con sa ngã trở lại vào tình trạng cay đắng thì Cha vẫn là một đại dương yêu thương, sẵn sàng tiếp nhận giọt cay đắng ấy, biến đổi nó nơi lòng yêu thương nhân hậu, và làm cho các con nên thánh thiện như Cha, là Cha của các con.

Hỡi các con cái của Cha! Các con có muốn sống một cuộc đời dương thế trong hòa bình và an vui không? Các con hãy đến và gieo mình vào đại dương bao la này, và mãi mãi lưu lại trong đó. Khi các con làm việc và sống cuộc sống thường nhật của mình, cuộc sống đó sẽ được thánh hóa nhờ đức ái.

Đối với các con không bước theo chân lý của Cha, Cha càng ước mong được ôm ấp các con vào lòng sủng ái hiền phụ của Cha hơn nữa, để các con biết mở mắt trước ánh sáng giờ đây đang chiếu soi càng lúc càng rạng ngời hơn.

Đây là thời gian của ân sủng đã được dự kiến và trông đợi từ muôn thuở! Cha ở đây để đích thân đối thoại với các con. Cha đến như một người Cha rất dịu hiền và trìu mến của các con. Cha cúi xuống, quên mình, để nâng các con lên với Cha, và bảo đảm ơn cứu độ cho các con. Tất cả các con hiện đang sống, và cả những con còn trong hư vô, nhưng sẽ sống từ thế kỷ này sang thế kỷ khác cho đến ngày tận thế, các con hãy nhớ rằng, các con không bơ vơ một mình đâu: Một người Cha vẫn tưởng nghĩ đến các con và cho các con được thông phần những đặc ân khôn lường của tình yêu Người. Các con hãy đến nguồn suối mãi mãi trào ra từ cung lòng hiền phụ của Cha. Các con hãy nếm hưởng hương vị ngọt ngào của thứ nước bổ dưỡng này, và khi đã cảm hưởng được tất cả năng lực ngọt ngào của nó nơi linh hồn mình, năng lực làm thỏa mãn tất cả những nhu cầu của các con, các con hãy gieo mình vào đại dương yêu thương của Cha, để chỉ sống cho Cha, chết cho bản thân và sống trong Cha muôn đời.

(Mẹ Eugenia ghi chú: “Trong một cuộc đối thoại thân mật, Chúa Cha đã phán bảo tôi: “Nguồn suối ấy là biểu tượng sự hiểu biết về Cha, đại dương là biểu tượng tình yêu của Cha và lòng tín thác của các con. Khi muốn uống nguồn suối này, các con hãy học về Cha để nhận biết Cha, và khi đã hiểu biết Cha, các con hãy gieo mình vào đại dương yêu thương của Cha, bằng cách tín thác tận tuyệt vào Cha đến mức biến đổi bản thân các con, Cha không thể cưỡng lại điều ấy, lúc đó, Cha sẽ tha thứ các lỗi lầm của các con và trào đổ những ân huệ trọng đại nhất xuống cho các con”.)

Cha đang ngự giữa các con. Phúc cho những ai tin nhận chân lý này và tận dụng thời gian mà Kinh Thánh đã nói đến: “Rồi sẽ đến một thời Thiên Chúa sẽ được nhân loại tôn vinh và yêu mến như Người khao khát”.

Thánh Kinh còn hỏi: “Tại sao?” và trả lời: “Bởi vì một mình Người xứng đáng với vinh dự, tình yêu, và lời ngợi ca muôn đời”.

Môsê đã lãnh nhận giới răn này từ nơi Cha để truyền lại cho nhân loại, đó là giới răn đầu tiên trong mười giới răn: “Hãy yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa”.

Những con đã là Kitô-hữu có thể nói rằng: “Từ khi chào đời hoặc từ khi trở lại, chúng con vẫn yêu mến Chúa như chúng con thường đọc trong kinh Lạy Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên trời…!” Phải, hỡi các con, các con có quả thực yêu mến và tôn vinh Cha, khi các con đọc trong phần đầu của kinh ‘Lạy Cha’, nhưng các con hãy đọc tiếp những lời cầu khác, rồi các con sẽ thấy: “Chúng con nguyện danh Cha cả sáng!” Phải chăng danh Cha đã được cả sáng?

Các con hãy đọc tiếp: “Nước Cha trị đến!” Nước Cha đã trị đến hay chưa?

Các con sốt sắng tôn vinh vương quyền của Chúa Giêsu, Con Cha, điều ấy thật chính đáng, và trong Người, các con vẫn tôn vinh Cha! Nhưng liệu các con có khước từ Hiền Phụ của các con vinh quang cao quý khi tuyên nhận Cha là “Vua”, để Cha hiển trị, ngõ hầu mọi người có thể nhận biết và yêu mến Cha?

Cha ước ao các con cử hành lễ kính Vương Quyền của Con Cha, để đền tạ những sỉ nhục Người đã phải chịu trước tòa án Philatô, và cả từ những tên lính đã đánh đập trên thân xác thánh thiện và vô tội của Người. Cha yêu cầu các con đừng bãi bỏ ngày lễ này, nhưng ngược lại, hãy cử hành một cách sốt sắng và trang trọng. Nhưng để cho mọi người có thể thực sự nhận biết vị “Vua” ấy, thì họ cũng phải nhận biết vương quốc của Người.

Quả thật, hỡi các con của Cha, Giáo Hội Cha đã ủy thác cho Con Cha thành lập sẽ hoàn tất công cuộc của Cha bằng cách làm cho mọi người tôn vinh Đấng là Tác Giả của Giáo Hội: Hiền Phụ và Tạo Hóa của các con.

Hỡi các con của Cha, một số con có thể trả lời rằng: “Giáo Hội vẫn không ngừng phát triển. Các Kitô hữu ngày càng tăng số, điều đó đủ là bằng chứng cho thấy Giáo Hội đã viên mãn!” Các con của Cha, các con hãy biết rằng Cha các con vẫn luôn chăm sóc Giáo Hội từ khi nó được thành hình. Và cùng với Thánh Tử và Thánh Thần của Cha, Cha đã muốn cho Giáo Hội được vô ngộ qua đại diện của Cha là Ðức Giáo Hoàng. Tuy nhiên, nếu các Kitô hữu đã biết tường tận về Cha, người Cha dịu hiền và nhân ái, tốt lành và quảng đại, có lẽ họ đã sống đạo một cách sốt sắng và thành tâm hơn nữa, điều này chẳng lẽ không đúng hay sao?

Hỡi các con của Cha, nếu các con biết mình có một người Cha hằng nghĩ đến và yêu thương các con vô cùng, các con sẽ nỗ lực để trung thành hơn với các bổn phận Kitô Giáo, cũng như các bổn phận công dân, để sống chính trực và trả lại công bình cho Thiên Chúa và nhân loại, điều này chẳng lẽ không đúng hay sao?

Nếu như các con biết người Cha ấy yêu thương các con hết thảy, không phân biệt một ai, và gọi tất cả các con bằng con cái ngọt ngào, chẳng phân biệt một ai, có lẽ như những người con dấu ái, các con đã yêu mến Cha, và tình yêu này dưới ơn thúc động của Cha, sẽ trở nên một tình yêu sinh động, vươn rộng đến tất cả những người chưa biết Giáo Hội và càng chưa biết đến Đấng đã tác thành nên họ, và là người Cha của họ, điều này chẳng lẽ không đúng hay sao?

Nếu có ai đến và nói cho các linh hồn đã buông theo những mê tín của họ, hoặc cho rất nhiều người khác, những kẻ gọi Cha là Thiên Chúa vì biết Cha hiện hữu, nhưng không biết Cha ở gần họ. Nếu có ai đã nói cho họ rằng Đấng Tạo Hóa của họ cũng chính là Cha của họ, Người tưởng nghĩ và quan tâm tới họ, Người bảo bộc họ với lòng sủng ái thân mật trong những buồn phiền và chán chường của họ, điều ấy sẽ đem lại ơn hoán cải cho những kẻ cứng lòng nhất, và những cuộc hoán cải ấy sẽ càng nhiều hơn và vững tâm hơn, nghĩa là kiên trung hơn.

Một số các con, khi xem xét công cuộc tình yêu Cha đang thực hiện giữa nhân loại, sẽ tìm cớ chỉ trích và nói: “Các vị thừa sai, sau khi đã đến những đất nước xa xăm, lại không rao giảng cho lương dân về Thiên Chúa, về sự tốt lành và lòng thương xót của Người hay sao? Các vị ấy vẫn rao giảng về Thiên Chúa, còn giảng thêm gì về Người nữa đây?”

Các vị thừa sai đã và vẫn đang rao giảng về Thiên Chúa theo như các ngài biết, nhưng Cha bảo đảm với các con, Cha thực sự thế nào thì các con chưa biết đâu, vì thế Cha đến để xưng mình là Cha của mọi người và là người Cha rất dịu hiền, để biến đổi thứ tình yêu đã bị biến dạng vì nỗi sợ hãi của các con.

Cha đến và trở nên tương tự như các thụ tạo của Cha, để chấn chỉnh tư tưởng các con về một Thiên Chúa công thẳng đáng sợ, vì Cha thấy có nhiều người sống trọn một đời mà không bao giờ tâm sự với người Cha duy nhất của họ, Đấng chỉ có một ước vọng là làm cho kiếp sống dương thế của họ được thanh nhàn hơn, và sẽ ban cho họ một sự sống thần linh trên thiên đàng.

Cha thấy ở đó một bằng chứng tỏ ra cho thấy các linh hồn chẳng hiểu biết gì về Cha hơn các con hiểu, mà sự hiểu biết của các con lại không vượt quá tầm mức ý nghĩa của các con về Cha. Giờ đây, Cha sẽ ban cho các con ánh sáng này, các con hãy ở lại trong ánh sáng ấy và đem nó đến cho mọi người. Đó sẽ là một phương thế hữu dụng để đem lại những cuộc hoán cải, và có thể đóng lại các cửa hỏa ngục, vì giờ đây, Cha lặp lại lời hứa của Cha, một lời hứa bền vững muôn đời:

“Tất cả những ai gọi Cha bằng Cha, dù chỉ một lần duy nhất, sẽ không phải hư mất, nhưng sẽ nắm chắc được sự sống muôn đời cùng với cộng đoàn các thánh”.

Với những con nào lao nhọc vì danh Cha và hiến thân làm việc cho Cha được nhận biết, tôn vinh và yêu mến, Cha bảo đảm phần thưởng các con sẽ trọng hậu, bởi vì Cha sẽ tính đến tất cả, kể cả nỗ lực nhỏ mọn nhất của các con, và Cha sẽ ban thưởng gấp trăm cho các con trong cõi đời đời.

Như Cha đã nói với các con, cần phải thực hiện trong Giáo Hội thánh thiện một lòng sùng kính tôn vinh rất đặc biệt đối với Tác Giả của Giáo Hội này, Đấng đã đến để thiết lập và là Linh Hồn của Giáo Hội, đó là Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Trong Giáo Hội này vẫn còn một khuyết điểm cho đến khi nào Ba Ngôi được tôn vinh bằng một việc sùng kính đặc biệt trong Giáo Hội và toàn thể nhân loại. Cha đã cho một số linh hồn nhận thức về khuyết điểm này, nhưng đa số các linh hồn ấy, vì quá nhút nhát đã không đáp ứng lời kêu gọi của Cha. Những kẻ khác thì can đảm trình bày với những người hữu quan, nhưng khi gặp thất bại, họ lại không kiên trì.

Hiện nay, giờ của Cha đã đến. Cha đích thân đến để làm cho nhân loại, con cái của Cha, biết được điều mà cho đến nay họ vẫn chưa hiểu biết hoàn toàn. Chính Cha sẽ đem đến ngọn lửa lề luật tình yêu, ngõ hầu qua phương thế này, lớp đá băng dầy cộm đang bao phủ nhân loại sẽ chảy ra và bị phá tan.

Ôi nhân loại dấu yêu! Ôi những người con của Cha! Các con hãy gỡ mình cho khỏi những xiềng xích mà quỷ dữ cho đến nay vẫn trói buộc các con bằng cách gợi lên trong các con một sự sợ hãi đối với người Cha, Đấng là Tình Yêu tinh ròng! Các con hãy đến cùng Cha, hãy đến gần hơn, các con có đủ quyền để đến bên Cha các con, các con hãy mở rộng trái tim, hãy cầu nguyện cùng Con Cha để Người phù trợ các con hiểu biết hơn về lòng nhân lành của Cha dành cho các con.

Các con là tù nhân của nạn mê tín và những luật lệ của quỷ dữ, các con hãy xa rời tình trạng nô lệ nghiệt ngã ấy, và hãy đến với chân lý của mọi chân lý. Các con hãy nhìn nhận Đấng đã tác thành các con và là người Cha của các con. Các con đừng gắng sức đòi hỏi những quyền lợi cho bản thân, đừng tôn thờ và sùng kính những kẻ cho đến nay đã dẫn dắt các con sống một cuộc đời vô ích, nhưng các con hãy đến cùng Cha, Cha đang chờ đợi tất cả các con, bởi vì mọi người đều là con cái của Cha.

Những con nào đang sống trong ánh sáng chân thực, các con hãy nói cho người ta biết rằng: Thật ngọt ngào biết bao khi được sống trong chân lý! Các con cũng hãy nói cho các tín hữu, cho những thụ tạo dấu yêu, những con cái của Cha, biết rằng: Thật ngọt ngào biết bao khi tưởng nghĩ đến một người Cha nhìn thấy mọi sự, thấu suốt mọi sự, chu cấp mọi sự, Đấng vô cùng tốt lành, Đấng dễ dàng tha thứ, Đấng chỉ trừng phạt một cách miễn cưỡng và khoan giãn. Các con hãy nói cho họ hãy đến với Cha: Cha sẽ giúp đỡ, Cha sẽ làm gánh nặng của họ trở nên nhẹ nhàng, và cuộc sống lầm than của họ trở nên thư thái. Cha sẽ phấn khích họ bằng tình yêu hiền phụ của Cha, làm cho họ được hạnh phúc trong thời gian và trong cõi đời đời.

Và các con của Cha, hỡi những người con đã đánh mất đức tin và lầm lũi trong tối tăm, các con hãy ngước mắt lên, các con sẽ nhận thấy những tia sáng đang soi chiếu cho các con. Cha là Mặt Trời chiếu sáng, sưởi ấm và sưởi ấm mãi. Các con hãy nhìn xem và hãy tin nhận Cha là Tạo Hóa, là Hiền Phụ, và là Thiên Chúa duy nhất của các con. Chỉ vì yêu thương các con, nên Cha đã đến yêu cầu các con yêu mến Cha, để tất cả các con đều được cứu độ.

Bằng cách làm cho lời kêu nài yêu thương hiền phụ của Cha vang lên, Cha phán dạy toàn thể nhân loại trên khắp thế giới rằng, tình yêu vô cùng mà Cha muốn các con hiểu biết là thực tại vững bền.

Các con hãy yêu mến, yêu mến và luôn luôn yêu mến, và cũng hãy làm cho tha nhân biết cách yêu mến người Cha ấy, để từ nay, Cha có thể làm cho hết thảy các con thấy rõ người Cha hằng tha thiết yêu thương các con.

Phần các con, hỡi những người con ưu tuyển của Cha, là các linh mục và tu sĩ, Cha kêu nài các con hãy làm cho nhân loại nhận biết tình yêu hiền phụ Cha dành cho họ, và cách riêng là cho các con. Các con phải ra sức làm cho thánh ý Cha được nên trọn nơi toàn thể nhân loại và nơi bản thân các con. Thánh ý ấy là Cha được nhận biết, tôn vinh, và yêu mến. Các con đừng để tình yêu của Cha bất động trong một thời gian lâu dài, bởi vì trong ước vọng của mình, Cha khát khao được yêu mến!

Thế kỷ này là thế kỷ đặc ân hơn hết. Các con đừng để đặc ân này trôi qua, đặc ân ấy có thể bị rút lại! Các linh hồn cần một cảm nghiệm thần linh, và thời giờ đang cấp thiết, các con đừng sợ gì cả, Cha là Cha của các con. Cha sẽ giúp các con trong những nỗ lực và công việc của các con. Cha sẽ luôn luôn nâng đỡ và cho các con được hoan hưởng bình an và niềm vui trong tâm hồn ngay ở đời này, bằng cách làm cho tác vụ tông đồ và những công cuộc nhiệt tâm của các con được trổ sinh nhiều hoa trái. Đây là một tặng ân không lường, bởi khi linh hồn bình an và hoan lạc, đã được hưởng trước phần nào hương vị của thiên đàng, trong khi trông đợi phần thưởng muôn đời của họ.

Cha thông ban cho Đại Diện của Cha trên trần gian là Ðức Giáo Hoàng một nhiệt tâm rất đặc biệt đối với công cuộc truyền giáo cho những đất nước xa xăm, nhất là nhiệt tâm lớn lao muốn truyền bá khắp thế giới lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, Thánh Tử của Cha. Giờ đây, Cha ủy thác cho ngài công cuộc mà chính Thánh Tử Giêsu đã đến trần gian để thực hiện. Đó là công trình tôn vinh Cha qua việc làm cho Cha được mọi người nhận biết cách đúng đắn, như Cha đang phán dạy với toàn thể nhân loại, những thụ tạo và con cái của Cha.

Nếu loài người đi sâu vào Thánh Tâm Chúa Giêsu trong tất cả những ước vọng và vinh quang của Người, họ sẽ nhận ra khát vọng nồng nhiệt nhất của Thánh Tâm ấy chính là tôn vinh Chúa Cha, Đấng đã sai Người đến, và nhất là không để cho vinh quang của Cha bị giảm sút như từ trước đến nay. Người ước mong nhân loại có thể và phải dâng tiến một vinh quang trọn hảo cho Cha, Hiền Phụ, và Tạo Hóa, lại là Tác Giả công trình cứu độ họ nữa!

Cha đang yêu cầu nhân loại điều họ có thể dâng lên cho Cha: Đó là niềm tín thác, tình yêu, và lòng tri ân của họ. Cha ước mong được nhận biết, tôn vinh và yêu mến, không phải vì Cha cần các thụ tạo và việc thờ phượng của họ, nguyên nhân duy nhất của việc Cha xuống với nhân loại là để cứu độ và ban cho họ thông phần vinh quang của Cha. Hơn nữa, nơi lòng nhân lành và tình yêu của Cha, Cha nhận ra những hữu thể – Cha đã đưa ra từ hư vô và đã nhận làm con cái đích thực của Cha – đang sa ngã quá đông vào cảnh khốn nạn muôn đời cùng với các quỷ dữ. Như thế, họ không hoàn thành được mục đích họ được tác thành, họ đang đánh mất cuộc sống trần gian cũng như hạnh phúc muôn đời của chính họ!

Nếu Cha có ước muốn gì, thì giờ đây trước tiên là được nhìn thấy lòng nhiệt thành hơn nữa nơi những người công chính, một con đường bằng phẳng cho việc hoán cải các tội nhân, hoán cải chân thành và kiên vững, và cuộc quay về mái nhà Hiền Phụ của những đứa con hoang đàng. Cha đang nói riêng về những người Do Thái và tất cả những người khác, những thụ tạo và con cái của Cha, chẳng hạn những người thuộc các bè đảng bè rối, những người lạc giáo ly giáo, tam điểm, những tín hữu đáng thương, những người phạm thánh, và những giáo phái bí ẩn. Cha muốn toàn thể thế giới hãy nhận thức có một Thiên Chúa, một Đấng Tạo Hóa. Đấng Thiên Chúa và Tạo Hóa đó nay ngỏ lời với họ trong khi họ còn chưa biết Ngài, Đấng sẽ nói về sự vô tri của họ không chỉ một lần, họ không biết Cha là Cha của họ.

Hãy tin Cha, hỡi những người con đang lắng nghe Cha khi đọc những Lời này: Nếu tất cả những người xa cách Hội Thánh Công Giáo đã được nghe nói có một người Cha yêu thương họ, Đấng là Tạo Hóa và Thiên Chúa của họ, người Cha mong ước ban cho họ cuộc sống muôn đời, thì nhiều người trong số ấy, thậm chí những người ngoan cố nhất, sẽ đến với người Cha mà các con đã nói cho họ biết.

Nếu không thể đến và trực tiếp nói với họ, các con hãy tìm kiếm những phương thế khác, hàng ngàn những cách trực tiếp và gián tiếp. Các con hãy sử dụng chúng với tinh thần tông đồ đích thực và lòng sốt sắng cao độ. Cha hứa với các con, những cố gắng của các con sẽ sớm đạt kết quả lớn nhờ ơn Cha. Các con hãy trở nên tông đồ cho lòng nhân lành hiền phụ của Cha. Cha sẽ ban cho tất cả các con lòng nhiệt thành hăng hái, các con sẽ trở nên hăng say và mạnh mẽ trong công cuộc nơi các linh hồn.

Cha sẽ luôn ở bên các con và ở trong các con: Nếu có hai người trong các con rao giảng, Cha sẽ ở cùng các con. Nếu có đông hơn nữa, Cha sẽ ở cùng tất cả các con. Như vậy, các con sẽ rao giảng những điều Cha soi dẫn cho các con, và Cha sẽ giúp cho những người nghe các con một lòng trí thích hợp để lắng nghe. Như thế, nhân loại sẽ được tình yêu chinh phục và sẽ được hưởng ơn cứu độ muôn đời.

Còn về phương thế tôn vinh Cha như Cha mong muốn, tất cả những gì Cha đòi hỏi các con chỉ là một niềm tín thác lớn lao. Các con đừng tưởng Cha chờ đợi nơi các con những việc khổ hạnh khắc nghiệt. Cha không muốn các con phải đi chân không, hay để mặt mũi nhem nhuốc, hoặc vùi đầu dưới tro… Không, không! Ước nguyện tha thiết nhất của Cha là các con hãy sống với Cha bằng tình con thảo, với lòng đơn sơ và tín thác nơi Cha!

Cha – Người Cha rất dịu hiền khả ái, với các con, Cha sẽ trở nên mọi sự cho mọi người. Cha sẽ thân tình với tất cả các con, ban mình cho các con, và trở nên nhỏ bé để làm cho các con nên cao trọng trong cõi đời đời.

Đa số những người vô tín, những kẻ gian ác và nhiều cộng đồng vẫn lỳ lợm trong sự xấu xa và vô tín, bởi vì họ tưởng Cha đòi hỏi họ những điều bất khả thi và họ phải lụy phục những mệnh lệnh của Cha như những nô lệ trước một chủ nhân khắc nghiệt, một người quyền thế cùng tính kiêu hãnh, tách biệt với thần dân, bắt họ phải suy phục và sùng kính ông. Không! Không! Hỡi các con của Cha! Cha biết cách tự trở nên bé nhỏ, nhỏ hơn ngàn lần các con tưởng.

Tuy nhiên, điều Cha thực sự đòi hỏi là việc trung thành tuân giữ các giới luật của Cha đã truyền cho Giáo Hội, để các con thực sự trở nên những thụ tạo hữu trí, không vì tình trạng thiếu kỷ luật và những khuynh hướng xấu xa mà giống như những con vật, để các con gìn giữ được kho tàng là linh hồn Cha đã ban cho các con, một linh hồn được trang điểm đầy đủ vẻ mỹ lệ thần linh!

Vậy, theo ước muốn của Cha, các con hãy thực thi điều Cha đã dạy: hãy tôn vinh Cha bằng một việc sùng kính đặc biệt. Ước chi điều này làm cho các con nhận biết thánh ý Cha là trào đổ cho các con nhiều ân phúc và làm cho các con được thông phần sung mãn vào quyền năng và vinh quang của Cha, đơn giản chỉ để cho các con hạnh phúc, để cứu độ các con, và tỏ cho các con thấy ước nguyện độc nhất của Cha là yêu thương các con và được các con đáp trả bằng tình yêu.

Nếu các con yêu mến Cha bằng tình hiếu tử tín thác, các con cũng sẽ có lòng yêu mến, tôn kính và suy phục Giáo Hội và những vị đại diện của Cha. Đó không phải là thứ tôn kính như hiện nay, thứ tôn kính khiến các con xa cách Cha, vì các con coi Cha đáng khiếp sợ. Sự tôn kính giả tạo hiện giờ là một sự bất công đối với Đấng Chí Công, đó là một vết thương các con đã gây ra cho Trái Tim nhậy cảm của Cha, các con đang lãng quên, đang khinh chê tình yêu hiền phụ của Cha dành cho các con.

Điều làm Cha rất cực lòng trong dân Israel xưa của Cha, và vẫn làm Cha hết sức buồn phiền đối với nhân loại ngày nay, là thứ tôn kính sai lạc giả dối của các con đối với Cha. Quả thật, kẻ thù nhân loại đã dùng khuyết điểm ấy để đẩy họ sa vào nạn thờ dối trá và các lạc giáo, bè rối. Hắn đang và tiếp tục dùng điều ấy để chống lại các con, khi lôi kéo các con xa rời chân lý, xa lìa Giáo Hội của Cha và xa Cha.

A! Các con đừng để bị bất kỳ kẻ thù nào lôi cuốn nữa. Hãy tin vào sự thật vừa được mặc khải cho các con và hãy tiến bước trong ánh sáng của chân lý ấy.

Hỡi những người con còn ở ngoài Giáo Hội Công Giáo của Cha, các con hãy nhận thức rằng các con không bị loại trừ khỏi tình yêu hiền phụ của Cha. Cha lên tiếng thiết tha kêu mời các con, bởi vì các con cũng là con cái của Cha. Cho đến nay, nếu như các con đã sống trong những cạm bẫy của quỷ dữ, thì các con hãy nhận biết nó đã lọc lừa các con. Các con hãy đến cùng Cha, là Cha của các con, và Cha sẽ đón nhận các con với niềm hân hoan và yêu thương!

Và hỡi những người con chỉ biết có tôn giáo mà trong đó các con đã lớn lên, và tôn giáo ấy không phải tôn giáo chân chính, các con hãy mở mắt ra: Đây là Cha của các con, Đấng đã dựng nên các con và muốn cứu độ các con. Cha đến để đem cho các con chân lý và ơn cứu độ. Cha thấy các con không biết rằng Cha không mong muốn gì khác nơi các con mà chỉ muốn một điều là các con hãy nhận biết Cha là Hiền Phụ, là Tạo Hóa, và là Đấng Cứu Độ của các con. Chính vì sự vô tri ấy mà các con không thể yêu mến Cha. Vì thế, các con hãy hiểu rằng Cha không xa cách các con như các con tưởng nghĩ đâu.

Làm sao Cha có thể bỏ mặc các con lẻ loi sau khi đã dựng nên các con và yêu thương nhận các con làm nghĩa tử của Cha? Cha dõi theo các con mọi nơi, Cha bảo bọc các con mọi lúc, để mọi sự trở nên một lời khẳng định về lòng quảng đại bao dung của Cha dành cho các con, bất chấp sự thờ ơ của các con đối với lòng nhân lành vô cùng của Cha. Sự thờ ơ này khiến các con tự nhủ: “Đó là thiên nhiên cung cấp cho ta mọi sự, ta sống hay chết đều do thiên nhiên”. Đây là thời gian của ân sủng và ánh sáng. Vậy các con hãy nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thực duy nhất!

Để tặng ban cho các con hạnh phúc đích thực ở đời này và đời sau, Cha muốn các con hãy thực thi điều Cha đang đề nghị với các con trong luồng ánh sáng này. Thời gian rất cấp bách, các con đừng đánh mất khối tình yêu khả nghiệm đang được dành cho trái tim các con. Cha yêu cầu mọi người hãy tham dự Thánh Lễ theo phụng vụ, điều này rất đẹp lòng Cha! Sau đó, Cha sẽ đề nghị thêm một vài bản kinh ngắn, nhưng Cha không muốn chất gánh nặng cho các con! Điều quan trọng nhất là tôn kính Cha, như Cha đã nói với các con, là thiết lập một ngày lễ tôn vinh Cha là Cha toàn thể nhân loại và phụng sự Cha trong tinh thần đơn sơ của những người con đích thực của Thiên Chúa, là Hiền Phụ, Tạo Hóa và Đấng Cứu Độ nhân loại.

Đây là một bằng chứng nữa về tình yêu hiền phụ của Cha dành cho nhân loại. Hỡi các con của Cha, Cha sẽ không nói về tất cả khối tình yêu bao la vô cùng của Cha, bởi vì các con chỉ cần mở Sách Thánh, nhìn lên tượng Chuộc Tội, Nhà Tạm, và Bí Tích Thánh Thể, là nhận ra mức độ Cha đã yêu thương các con!

Tuy nhiên, để các con thấy cần phải làm thỏa nguyện thánh ý của Cha dành cho các con và làm cho Cha được nhận biết và yêu mến hơn, trước khi chấm dứt những lời này, những lời chỉ là căn bản của công cuộc tình yêu Cha giữa nhân loại, Cha muốn nêu lên cho các con một số trong muôn vàn bằng chứng tình yêu của Cha dành cho các con!

Bao lâu nhân loại chưa sống trong chân lý, họ không thể cảm hưởng tự do đích thực. Hỡi những người con sống ngoài lề luật chân thật mà Cha đã ban cho các con tuân giữ sau khi dựng nên các con. Các con tưởng mình có niềm vui và bình an, nhưng tận thâm tâm, các con cảm thấy không có bình an cũng chẳng có niềm vui đích thực, và các con không hưởng được tự do đích thực của Đấng đã tạo dựng các con, là Thiên Chúa các con, Cha các con!

Còn các con, hỡi những người trong bộ luật chân thực, hay đúng hơn, đã hứa tuân giữ lề luật mà Cha đã ban hầu đảm bảo phần rỗi cho các con, kìa những tính mê nết xấu đã lôi kéo các con đến sự dữ. Các con đã lạc xa lề luật ấy do cuộc sống tồi tàn. Các con tưởng mình hạnh phúc sao? Không, các con cảm thấy tâm hồn không thanh thản. Các con tưởng rằng khi kiếm tìm lạc thú và những niềm vui trần tục, tâm hồn các con rốt cuộc sẽ được thỏa mãn chăng? Không, để Cha nói cho các con biết, các con sẽ chẳng bao giờ tự do hoặc hạnh phúc đích thực cho đến khi nào các con nhìn nhận Cha là Cha của các con và nhận lấy ách êm ái của Cha, hầu trở nên con cái của Thiên Chúa, là Cha các con.

Tại sao? Bởi vì Cha đã tạo dựng các con vì một mục đích duy nhất, đó là nhận biết, yêu mến và phụng sự Cha, như con trẻ đơn sơ và tín thành phục vụ cha mình.

Ngày xưa trong thời Cựu Ước, người ta đã xử sự như con vật, không giữ được dấu chỉ nào của phẩm giá con cái Thiên Chúa, Cha của họ. Vì thế, để làm họ nhận biết Cha muốn nâng họ lên phẩm giá cao quý là con Thiên Chúa, nhiều khi Cha đã buộc lòng phải tỏ ra rất nghiêm thẳng. Về sau, khi nhận thấy một số người có đủ lý trí, để cuối cùng cũng hiểu rằng phải có những khác biệt giữa họ và loài vật, lúc đó Cha bắt đầu trào đổ những ân phúc cho họ, giúp họ chiến thắng những kẻ không nhận ra và không giữ được phẩm giá của mình.

Và khi con người càng ngày càng tăng số, Cha đã sai Con Cha đến với họ. Người được trang điểm bằng mọi hoàn thiện thần linh, vì Người là Con của một Thiên Chúa Toàn Thiện. Chính Người chỉ cho nhân loại những con đường dẫn đến hoàn thiện. Qua Người, Cha đã nhận các con làm con cái đích thực trong tình yêu vô cùng của Cha. Từ đó, Cha không bao giờ gọi các con chỉ là “thụ tạo”, nhưng là “con cái”.

Cha đã bao bọc các con trong tinh thần đích thực của Luật mới, nhờ đó không những các con được nên tách biệt với những con vật, không còn như con người dưới thời Luật cũ, mà Luật mới còn nâng các con vượt trên những người thời Cựu Ước nữa. Cha đã nâng hết thảy các con lên phẩm giá làm con Thiên Chúa. Phải, các con là con cái của Cha, và các con phải thưa với Cha rằng Cha là Cha các con. Nhưng các con hãy tín thác vào Cha như những con trẻ, bởi vì thiếu niềm tín thác ấy, các con sẽ không bao giờ được tự do thực sự.

Tất cả những gì Cha đang phán dạy các con đây, là để các con nhận ra Cha đến để thực hiện công cuộc tình yêu này, để ban cho các con một sức phù trợ mãnh liệt, hầu dứt bỏ cảnh nô lệ nghiệt ngã đã giam hãm linh hồn các con, và để các con được hưởng sự tự do đích thực, từ đó phát sinh hạnh phúc. Sánh với sự tự do này, mọi lạc thú trần gian đều không là gì cả. Các con hãy vươn lên phẩm giá con cái Thiên Chúa và học cho biết quí trọng phẩm giá cao cả của mình. Khi ấy, hơn bao giờ hết, Cha sẽ là Cha của các con, người Cha vô cùng khả ái và đầy nhân hậu hơn mọi người cha.

Với công cuộc tình yêu này, Cha đến để đem lại bình an. Cha sẽ cho tia sáng bình an rọi chiếu trên những ai tôn vinh Cha và tín thác nơi Cha, để họ được thanh thản giữa mọi gian truân và ưu phiền, đau khổ và khốn cùng, nhất là nếu họ kêu cầu và yêu mến Cha như là Cha của họ. Nếu các gia đình tôn kính và yêu mến Cha như là Cha của họ, Cha sẽ ban ơn bình an cùng với sự quan phòng của Cha cho họ. Nếu các công nhân, thương gia, nghệ nhân và những người lao động khác kêu cầu và tôn vinh Cha, Cha sẽ ban bình an và sức mạnh của Cha cho họ. Cha sẽ tỏ ra là người Cha nhân lành và thương xót. Nếu trong mọi cộng đồng Kitô Giáo, người ta  kêu cầu và tôn vinh Cha, Cha sẽ ban bình an của Cha cho họ, Cha sẽ là người Cha vô cùng dấu yêu, và với quyền năng của Cha, Cha sẽ đảm bảo phần phúc muôn đời cho các linh hồn.

Nếu toàn thể nhân loại kêu cầu và tôn vinh Cha, Cha sẽ trào đổ tinh thần bình an như sương mai phúc lộc xuống cho họ.

Bất kỳ quốc gia nào kêu cầu và tôn vinh Cha, sẽ không còn chia rẽ, không còn chiến tranh, bởi vì Cha là Chúa sự bình an, và Cha ở đâu, thì ở đó không thể có chiến tranh.

Các con có muốn chiến thắng kẻ thù (Satan và đồng đảng) của các con không? Các con hãy kêu cầu Cha và các con sẽ chiến thắng.

Sau cùng, như các con biết, với quyền năng của Cha, Cha có thể làm được mọi sự. Phải, Cha đang thông ban quyền năng này cho tất cả các con, để các con sử dụng, bây giờ và mãi mãi. Cha sẽ luôn luôn tỏ ra là Cha của các con, miễn là các con phải tỏ ra là con cái của Cha.

Cha ước muốn gì qua công cuộc tình yêu này, nếu không phải là tìm được những tâm hồn có thể hiểu Cha?

Cha là Toàn Thánh. Sự thánh thiện của Cha hoàn hảo và sung mãn. Nhờ Thánh Thần của Cha, Cha ban cho các con sự thánh thiện ấy, sự thánh thiện mà Cha là Tác Giả, và do công nghiệp Thánh Tử của Cha, Cha ghi khắc sự thánh thiện ấy vào tâm hồn các con. Chính nhờ Thánh Tử và Thánh Thần của Cha, Cha sẽ đến với các con và ngự vào các con. Và trong các con, Cha tìm được sự nghỉ ngơi.

Đối với một số linh hồn, những lời “Cha sẽ đến ngự vào các con” có vẻ như một điều bí nhiệm, nhưng đó không bí nhiệm đâu! Bởi vì sau khi đã truyền cho Con Cha lập phép Thánh Thể, Cha đã muốn đến với các con mỗi khi các con lãnh nhận Bánh Thánh!

Dĩ nhiên, ngay cả trước khi có Thánh Thể, không có gì ngăn trở Cha đến với các con, bởi không có gì là không thể đối với Cha! Nhưng việc nhận lãnh Bí Tích này là một việc làm dễ hiểu, tỏ cho các con biết Cha đến với các con như thế nào!

Khi ngự trong lòng các con, Cha sẽ dễ dàng ban cho các con những ân sủng của Cha, miễn là các con kêu xin Cha. Qua bí tích này, các con được kết hợp thân mật thắm thiết với Cha. Chính trong sự mật thiết này, tình yêu chan chứa của Cha sẽ đổ ra và làm cho sự thánh thiện của Cha lan tràn trong linh hồn các con.

Cha ban chan hòa tình yêu của Cha cho các con, vậy các con chỉ cần kêu xin Cha những nhân đức và sự hoàn thiện mà các con cần thiết, và các con hãy tin rằng, vào giờ phút Thiên Chúa nghỉ ngơi nơi các thụ tạo của Người, các con sẽ không bị khước từ bất cứ điều gì.

Vì các con biết nơi nghỉ ngơi ưa chuộng của Cha, các con lại không hiến dâng cho Cha hay sao? Cha là Cha các con và là Thiên Chúa các con, các con lại nỡ từ chối điều ấy với Cha hay sao? Ôi! Các con đừng để Cha phải khổ sở vì sự nhẫn tâm như thế với một người Cha, Đấng chỉ xin ân huệ độc nhất này cho chính mình.

Trước khi kết thúc thông điệp này, Cha muốn ngỏ lời với các linh hồn đã tận hiến để phụng sự Cha. Hỡi các linh mục và tu sĩ, các con là những linh hồn ấy. Các con đã hiến thân phục vụ Cha, hoặc trong nếp sống chiêm niệm, hoặc trong những công cuộc từ thiện và tông đồ. Đối với Cha, đó là một đặc ân trao ban do lòng nhân lành của Cha cho các con. Về phần các con, đó là sự trung thành với ơn gọi cùng thiện chí của các con.

Đây là ước muốn của Cha: Các con là những người hiểu biết rõ ràng hơn những kỳ vọng của Cha dành cho nhân loại, các con hãy cầu nguyện với Cha, để hoàn tất công cuộc tình yêu của Cha nơi mọi linh hồn. Các con biết tất cả những khó khăn cần phải vượt qua để cứu vớt được một linh hồn! Phải, vậy thì đây là phương thế hữu hiệu giúp các con đưa nhiều linh hồn trở về với Cha: Phương thế đó là làm cho Cha được nhận biết, yêu mến và tôn vinh.

 Cha muốn các con hãy là những người trước tiên thực hành điều ấy. Vui sướng biết bao khi trước tiên Cha được ngự vào trong những nhà của các linh mục, tu sĩ! Vui sướng biết bao khi Cha thấy mình như một Hiền Phụ ở giữa những con cái của Tình Cha! Cha sẽ hàn huyên với các con như những người bạn thân! Cha sẽ là người bạn tâm giao thân thiết nhất của các con! Cha sẽ là Tất Cả cho các con, làm cho các con được đầy đủ trong mọi sự! Đặc biệt, Cha sẽ là người Cha tiếp nhận mọi ước muốn của các con, rồi rộng ban tình yêu, các ân huệ và sự ngọt ngào bao la của Cha cho các con.

Các con đừng khước từ niềm vui mà Cha ước mong được hoan hưởng giữa các con! Cha sẽ đáp lại cho các con gấp trăm, và vì các con tôn vinh Cha, Cha cũng sẽ tôn vinh các con, bằng cách chuẩn bị một vinh quang cao vời cho các con trong vương quốc Cha!

Cha là Ánh Sáng của ánh sáng: Những nơi nào Ánh Sáng ấy chiếu soi sẽ có sự sống, lương thực, và hạnh phúc. Ánh Sáng ấy sẽ soi chiếu cho những khách lữ hành, những kẻ nghi nan, và những người vô tri. Ánh Sáng ấy sẽ chiếu giãi cho tất cả các con, hỡi những người sống trong thế gian tối tăm và tội lỗi. Nếu các con không có Ánh Sáng của Cha, các con sẽ sa vào vực thẳm sự chết muôn đời!

Sau cùng, Ánh Sáng ấy sẽ soi tỏ những đường lối dẫn đến Giáo Hội Công Giáo chân chính, cho những người đáng thương hiện đang là nạn nhân của mê tín.

Cha sẽ tỏ mình là Cha đối với những người đau khổ nhất trên trần gian, những bệnh nhân phong cùi nghèo khó.

Cha sẽ tỏ mình là Cha của tất cả những ai bị bỏ rơi, những người bị khước từ giữa mọi cộng đồng nhân loại.

Cha sẽ tỏ mình là Cha đối với những ai đau khổ, những bệnh nhân, và nhất là những người trong cơn hấp hối.

Cha sẽ tỏ mình là Cha của mọi gia đình, của các cô nhi, những người góa bụa, các tù nhân, các thợ thuyền, và giới trẻ.

Cha sẽ tỏ mình là Cha trong mọi nhu cầu của thế giới.

Sau cùng, Cha sẽ tỏ mình là Cha của các vương đế và dân tộc họ.

Tất cả các con sẽ cảm nghiệm được lòng nhân từ của Cha, tất cả các con sẽ cảm nghiệm được sự phù hộ của Cha, và tất cả các con sẽ nhận thấy quyền năng của Cha!

  • Phúc lành hiền phụ và thần linh của Cha ban cho mọi người. Amen!
  • Đặc biệt cho Con Yêu Quý, Vị Đại Diện của Cha. Amen!
  • Đặc biệt cho con dấu yêu, vị giám mục của Cha. Amen!
  • Đặc biệt cho con dấu yêu của Cha, vị linh hướng của con. Amen!
  • Đặc biệt cho các ái nữ của Cha, các mẹ bề trên của con. Amen!
  • Cho toàn thể cộng đoàn của Tình Cha Yêu Thương. Amen!
  • Cho toàn thể Giáo Hội và toàn thể hàng giáo sĩ. Amen!
  • Phúc lành đặc biệt cho Giáo Hội nơi Luyện Hình. Amen! Amen!
  1. Tuần chín ngày

Tuần cửu nhật kính tình yêu Chúa Cha, đọc chín ngày liên tiếp kính Chúa Cha, Cha sẽ ban muôn phước lành trên cuộc đời của bạn, lời kinh “Thiên Chúa là Cha tôi” do mẹ Eugenia viết.

“Nhờ Người, với Người, và trong Người”

Thiên Chúa là Cha tôi

Lạy Cha trên trời, Cha của con, thật ngọt ngào biết bao khi được biết Cha là Cha con và con là con Cha!

Chính những lúc linh hồn con tăm tối và thập giá con nặng nề, con cảm thấy cần phải thưa lên cùng Cha: Lạy Cha, con tin vào tình Cha yêu thương con!

Vâng, con tin Cha là Cha con, và con là con Cha!

Con tin Cha yêu thương con bằng một tình yêu vô biên!

Con tin Cha chăm sóc con suốt ngày thâu đêm, và không một sợi tóc nào trên đầu con rụng xuống mà không được Cha cho phép!

Con tin Cha khôn ngoan vô cùng, Cha biết rõ hơn con những gì ích lợi cho con!

Con tin Cha quyền năng vô hạn, Cha có thể biến điều dữ ra điều lành cho con!

Con tin Cha nhân từ vô biên, Cha làm mọi sự trở nên ích lợi cho những người yêu mến Cha, và sau những bàn tay gây thương tích, con hôn kính bàn tay Cha chữa lành!

Con tin, nhưng xin Cha tăng thêm lòng tin cho con, và nhất là lòng cậy trông và lòng kính mến!

Xin Cha dạy con nhìn thấy rõ tình yêu thương của Cha hướng dẫn trong mọi biến cố đời con!

Xin Cha dạy con biết phó mình cho Cha dìu dắt như một trẻ thơ trong cánh tay mẹ hiền!

Lạy Cha, Cha biết mọi sự, Cha thấy tất cả, Cha biết rõ con hơn con biết chính mình, Cha có thể làm được mọi sự, và Cha yêu thương con!

Lạy Cha, vì Cha muốn chúng con luôn hướng về Cha, hiệp cùng Chúa Giêsu và Mẹ Maria, con tin tưởng nài xin Cha… (trình bày những điều muốn xin)

Vì ý nguyện ấy, con xin hiệp với hai Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẹ Maria mà dâng lên Cha mọi khấn nguyện, mọi hy sinh, mọi khổ hạnh, mọi hoạt động và lòng trung thành với các bổn phận của con. (1) (1: Nếu dùng kinh này làm tuần 9 ngày thì thêm “Con xin hứa sẽ trung thành nhất là trong 9 ngày này, đối với công việc này… hay với người này… người khác…”)

Xin Cha ban cho con ánh sáng, sức mạnh và ân sủng của Thánh Linh Cha!

Xin Cha củng cố con vững mạnh trong Chúa Thánh Thần, để con không bao giờ lạc mất Người, không bao giờ làm phiền lòng Người, và không bao giờ để Người trở nên yếu kém trong con!

Lạy Cha, nhân danh Chúa Giêsu Kitô, Con chí ái của Cha, con nài xin Cha những ơn ấy! Và lạy Chúa Giêsu, xin mở rộng Thánh Tâm Chúa, và xin đặt vào đó trái tim con, cùng Trái Tim Mẹ Maria, để dâng lên Chúa Cha chí thánh! Xin Chúa thương ban cho con những ơn cần thiết!

Lạy Cha là Thiên Chúa chí thánh, xin Cha làm cho mọi người nhận biết Cha. Ước gì mọi người tung hô lòng nhân lành hiền phụ và lòng thương xót của Cha!

Xin Cha luôn là Cha hiền của con, và che chở con mọi nơi mọi lúc, như con ngươi trong mắt Cha. Ước gì con luôn xứng đáng là con Cha, xin Cha thương xót con!

Lạy Cha Chí Thánh, niềm hy vọng ngọt ngào của mọi tâm hồn, nguyện xin Cha được mọi người nhận biết, tôn vinh và yêu mến!

Lạy Cha Chí Thánh, Cha nhân từ vô hạn với mọi dân tộc, nguyện xin Cha được mọi người nhận biết, tôn vinh và yêu mến!

Lạy Cha Chí Thánh, sương sa từ ái cho cả nhân loại, nguyện xin Cha được mọi người nhận biết, tôn vinh và yêu mến! Amen.

Tiếp theo, đọc kinh Lạy Cha.

Mẹ Eugenia

  1. Chứng từ của Ðức Cha Caillot

Nối tiếp bản phúc trình được soạn thảo trong cuộc điều tra theo giáo luật về vấn đề Mẹ Eugenia.

Đức cha Alexandre Caillot – Giám mục giáo phận Grenoble.

Mười năm đã trôi qua, từ khi trong tư cách giám mục giáo phận Grenoble, tôi đã quyết định xúc tiến cuộc điều tra trường hợp của Bà Eugenia. Giờ đây, tôi đã có đầy đủ thông tin để tuyên bố chứng từ của tôi trong tư cách giám mục trước mặt Giáo Hội.

Một điều chắc chắn hơn hết, nổi bật từ cuộc điều tra là:

1/ Các nhân đức vững chắc của mẹ Eugenia:

 Điều trước tiên cuộc điều tra cho thấy một cách xác thực là các nhân  đức trổi vượt của nữ tu Eugenia đã được công nhận. Từ khi bắt đầu đời sống tu trì, người nữ tu này đã khiến các bề trên phải chú ý về lòng đạo đức, đức vâng phục và đức khiêm nhượng. Các bề trên lúng túng trước tính chất ngoại thường của những sự kiện xảy ra trong thời gian tập viện của nữ tu này, đã không muốn cho chị ở lại trong tu viện. Sau ít nhiều đắn đo, các vị ấy đã từ bỏ ý định đó khi đối diện với đời sống gương mẫu của người nữ tu này.

Trong thời gian điều tra, nữ tu Eugenia đã tỏ ra nhẫn nhục cao độ và ngoan thảo rất mực trong việc chấp nhận, không hề than phiền về tất cả những cuộc thử nghiệm y khoa, giải đáp sự chất vấn thường rất dai dẳng và chán ngán của các ủy ban thần học và y khoa, đón nhận những phản biện và các cuộc thử thách. Ðức tính đơn sơ của chị đã được tất cả các chuyên viên điều tra khen ngợi một cách đặc biệt.

Một số trường hợp còn cho thấy chị có khả năng thực hành nhân đức đến mức anh hùng. Theo các chuyên viên thần học, nhân đức vâng lời của chị là đặc điểm nổi bật trong cuộc điều tra của cha Auguste Valencin vào tháng 6 năm 1934, và nhân đức khiêm nhượng của chị – vào một ngày buồn 20-12-1934.

Tôi có thể chứng thực, trong thời gian chị làm bề trên tổng quyền, tôi đã nhận thấy chị rất tận tụy với bổn phận, hiến thân cho nhiệm vụ – một công việc đối với chị chắc hẳn ngày càng khó khăn hơn bởi vì chị chưa từng được chuẩn bị cho công việc ấy – với một tấm lòng nồng nàn yêu mến các linh hồn, hội dòng và Giáo Hội. Những ai gần chị, như chính tôi, đều rất thán phục sức mạnh tinh thần của chị, khi đương đầu với những khó khăn.

Tôi bị ấn tượng không vì những nhân đức, mà còn vì những đức tính chị đã chứng tỏ trong khi thực hiện quyền hành. Ngỡ ngàng hơn nữa là một nữ tu học vấn tương đối kém, nhưng lại đảm trách địa vị cao nhất trong hội dòng của mình. Ở đây đã có một điều ngoại thường, và từ quan điểm này, cuộc điều tra về ngày bầu cử của chị, do đức ông Guerry, vị tổng đại diện của tôi tiến hành, thực sự mang nhiều ý nghĩa. Những câu trả lời của các thành viên tổng tu nghị, các bề trên, các đại biểu thuộc những ủy ban khác nhau, đã cho thấy họ chọn chị Eugenia vào chức vụ bề trên tổng quyền vì những ưu điểm của chị, về trí phán đoán, tính tình quân bình, năng lực, và sự kiên quyết – bất chấp tuổi tác còn trẻ của chị, và những ngăn trở thông thường về Giáo luật, sẽ dẫn đến việc phủ quyết sự đề cử cho chị – Thực tế dường như đã vượt xa những kỳ vọng mà những người bầu cử đã đặt nơi chị.

Điều tôi đặc biệt nhận thấy nơi chị là một trí năng thông sáng, sinh động, và thấu suốt. Tôi có nói học vấn của chị không tương xứng, nhưng đó là do những nguyên nhân ngoại cảnh mà chị không thể kiểm soát: Cơn bệnh triền miên của thân mẫu, bắt buộc chị, khi còn rất nhỏ, đã phải trông nom nhà cửa và thường xuyên nghỉ học. Sau đó, trước khi vào dòng, chị đã lao động cực nhọc với công việc một thợ dệt trong xưởng máy. Tuy có những lỗ hổng cơ bản ấy, với hậu quả biểu hiện trong văn pháp và chính tả của chị. Mặc dầu thế, nhưng chị Eugenia vẫn thực hiện nhiều bài huấn dụ hấp dẫn trong cộng đoàn. Điều đáng chú ý là chính chị đã tự soạn các thư luân lưu và những bản hợp đồng với giáo quyền địa phương hoặc những ủy ban hành chánh, liên quan đến các cơ sở bệnh viện của dòng Ðức Mẹ Các Tông Đồ. Chị cũng đã soạn một tập chỉ đạo dài và súc tích.

Chị nhìn mọi hoàn cảnh một cách rõ ràng và sáng suốt, cũng như từng vấn đề trong lương tâm. Những lời huấn dụ của chị rất thẳng thắn, chính xác, và thực tế. Chị biết từng người trong số 1400 nữ tu thuộc quyền, cũng như những thái độ và nhân đức của họ. Vì thế, chị có thể chọn đặt nhân sự có tiêu chuẩn phù hợp nhất để đảm trách các nhiệm vụ khác nhau. Chị cũng có một tri thức chính xác về những nhu cầu và những nguồn lực của hội dòng. Chị biết tình hình của từng tu viện, và kinh lý tất cả các khu sở truyền giáo của chị.

Chúng tôi còn muốn nhấn mạnh đến khả năng nhìn xa trông rộng của chị. Chị đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết để tất cả các bệnh viện hoặc trường học có những nữ tu đầy đủ khả năng cũng như các nhu cầu cần thiết cho họ sinh sống và thăng tiến. Tôi thấy đặc biệt thú vị khi nhận ra nữ tu Eugenia dường như có một tinh thần cương quyết, một óc thực tế, và một ý chí sáng tạo. Trong thời gian khoảng 6 năm, chị đã thành lập hơn 67 cơ sở và áp dụng những cải tiến rất hữu ích cho hội dòng của mình.

Nếu tôi chú ý riêng đến những điểm trí năng, óc phán đoán và ý chí, cũng là những năng lực điều hành của chị, thì đối với tôi, những đặc điểm ấy tuyệt đối phủ định tất cả các giả thuyết về các hiện tượng hoang tưởng, ảo tưởng, chiêu hồn, loạn thần kinh, mê sảng. Những giả thuyết này đã được xem xét trong cuộc điều tra, nhưng được chứng minh không thể đưa ra một lời giải thích nào thỏa đáng.

Đời sống của chị Eugenia là một biểu chứng bền bỉ về tình trạng quân bình tâm trí và tổng thể của chị, đối với người quan sát, dường như đó là đặc điểm nổi bật trong nhân cách của chị. Những giả thuyết khác, về tính dễ bị ảnh hưởng và dễ bị điều khiển, đã đưa các chuyên viên điều tra đến chỗ tự hỏi phải chăng họ đang gặp một khí chất dễ bị ấn tượng, giống như những lăng kính nhiều mặt, phản ảnh tất cả những ảnh hưởng và tác động. Các giả thuyết này cũng bị loại bỏ vì những lý do của thực tế thường ngày. Mặc dù được Trời ban một tư chất tinh tế và một tâm hồn xúc cảm, nhưng chị Eugenia cho thấy không bao giờ chị tỏ ra thiên vị một ai, và càng không dễ bị ảnh hưởng vì những phán đoán của người đời. Chị luôn luôn xác định các dự án và hoạt động của mình, và tìm được sự tán đồng của người khác nhờ tri thức của chị.

2/ Về đối tượng của sứ mệnh:

Mục tiêu của sứ mệnh đã được ủy thác cho Mẹ Eugenia là chân xác, và xét theo quan điểm giáo lý, tôi thấy sứ mạng ấy hợp luật và hợp thời. Mục tiêu đích xác của sứ mạng ấy là làm cho Chúa Cha được nhận biết và tôn vinh, chủ yếu qua việc thỉnh nguyện Giáo Hội thiết lập một ngày lễ đặc biệt. Cuộc điều tra đã xác quyết một ngày lễ phụng vụ để tôn vinh Chúa Cha là điều hoàn toàn phù hợp với đường lối phụng tự Công Giáo nói chung. Nó cũng tương hợp với chủ hướng cầu nguyện trong truyền thống Công Giáo, dâng lên Chúa Cha, qua Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần, như đã được thể hiện qua những lời cầu trong Thánh Lễ và việc hiến dâng phụng thờ lên Chúa Cha trong hy tế thánh thiện ấy. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là chưa có một ngày lễ đặc biệt nào để tôn vinh Chúa Cha. Đã có Thánh Lễ tôn kính Thiên Chúa Ba Ngôi trong mầu nhiệm Tam Vị Nhất Thể. Ngôi Lời và Ngôi Thánh Linh cũng được tôn kính bằng phụng vụ Thánh Lễ trong sứ mạng và trong những biểu hiện bên ngoài của mỗi Ngôi. Chỉ có Ngôi Cha là chưa có ngày lễ riêng nào để hướng sự chú ý của tín hữu về Ngôi Vị của Người.

Vì nguyên do ấy, một cuộc khảo sát khá rộng rãi nơi các tín hữu, bao gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau, kể cả nhiều linh mục và tu sĩ, đã cho thấy: “Chúa Cha vẫn chưa được biết đến, không ai cầu nguyện với Người, không ai tưởng nghĩ đến Người”. Thật đáng ngạc nhiên, cuộc khảo sát cho thấy một phần lớn các tín hữu vẫn xa lạ với Chúa Cha, bởi vì họ coi Người như một thẩm phán đáng sợ. Họ thích hướng về nhân tính Chúa Kitô hơn. Và rất nhiều người còn kêu nài Chúa Giêsu hãy bảo vệ họ cho khỏi cơn thịnh nộ của Chúa Cha nữa!

Một ngày lễ đặc biệt như thế, trước tiên sẽ có tác động tái lập trật tự trong lối sống của nhiều tín hữu, và kế đến, sẽ đưa họ về với giáo huấn của Đấng Cứu Thế chí thánh: “Tất cả những gì các con nhân danh Thầy mà xin Cha …” và chỗ khác, “Các con hãy cầu nguyện như thế này: “Lạy Cha chúng con ở trên trời…” Một ngày lễ phụng vụ dâng kính Chúa Cha sẽ có tác dụng hướng ánh mắt chúng ta về Đấng mà thánh Giacôbê Tông Đồ đã xưng tụng là “Cha các tinh sao sáng láng, Đấng ban phát cho ta mọi ơn lành trọn hảo…” Ngày lễ ấy sẽ tập cho các linh hồn quen tưởng nghĩ đến lòng nhân lành Thiên Chúa và sự quan phòng hiền phụ của Người. Họ sẽ nhận ra việc quan phòng thực sự là của Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh, và với bản tính thần linh chung cho cả Ba Ngôi. Thiên Chúa hằng tràn trải khắp trần gian những kho tàng trọng hậu, lòng thương xót vô biên của Người.

Mới đầu, xem như không có một lý do nào đặc biệt để tôn vinh Chúa Cha cá biệt. Nhưng, phải chăng Chúa Cha là chính Đấng đã sai Con Người xuống trần gian? Nếu việc thờ kính Chúa Con và Chúa Thánh Thần là điều vô cùng chính đáng vì những biểu hiện bên ngoài của các Ngài, thì việc tạ ơn Chúa Cha, vì hồng ân lớn lao Ngài đã gởi đến cho chúng ta chính Con của Ngài, như các kinh Tiền Tụng trong Thánh Lễ vẫn gọi ta hãy tạ ơn, lại không chính đáng và hợp lý sao?

Mục tiêu đích thực của ngày lễ đặc biệt này như thế rõ ràng: Để tôn vinh, cảm tạ, và ngợi khen Chúa Cha vì đã ban cho chúng ta Con Một của Người. Nói tóm lại, theo lời thông điệp, Chúa Cha chính là Tác Giả của ơn cứu độ cho chúng ta, và để cảm tạ Đấng đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Người, để tất cả những ai liên kết với Thân Mình mầu nhiệm Chúa Kitô, và cùng với Người Con này, đều được trở nên con Chúa Cha trong Chúa Con.

Vào một giai đoạn thế giới đang bị đảo điên vì thuyết tục hóa, thuyết vô thần, và những triết thuyết đương đại không nhìn nhận Thiên Chúa, Thiên Chúa chân thật, ngày lễ này lại không tỏ cho nhiều người nhận biết Người Cha hằng sống, Người Cha đầy từ ái và nhân lành mà Chúa Giêsu đã mặc khải cho chúng ta sao? Ngày lễ ấy lại không góp phần tăng số những người tôn thờ Chúa Cha “trong tinh thần và chân lý” như Chúa Giêsu đã nói đến hay sao?

Giờ đây, khi thế giới đang điêu linh vì những cuộc chiến tàn khốc và cảm thấy cần tìm một nguyên lý hợp nhất để đưa các dân tộc xích lại gần nhau, thì ngày lễ ấy sẽ đem lại một ánh sáng rạng ngời. Ngày lễ ấy sẽ dạy cho nhân loại biết mọi người đều có chung một Cha trên trời, Đấng đã ban Chúa Giêsu cho họ và lôi kéo họ đến với Chúa Giêsu, như những chi thể của Thân Mình mầu nhiệm của Người với sự hợp nhất trong Thánh Thần Tình Yêu.

Khi bị kiệt quệ và mỏi mòn vì những lầm than chinh chiến, rất nhiều linh hồn có lẽ đang đói khát một đời sống thiêng liêng sâu xa. Khi ấy, một ngày lễ như thế lại không mời gọi họ từ nội tâm, hãy tôn thờ Chúa Cha, Đấng ẩn mình, và để họ dâng mình như một của lễ tận hiến quảng đại đầy tình con thảo lên Chúa Cha, là nguồn mạch duy nhất của đời sống Thiên Chúa Ba Ngôi trong họ hay sao? Một ngày lễ như thế lại không bảo toàn động thái thiện hảo của đời sống siêu nhiên, đời sống cuốn hút linh hồn về với tinh thần thơ ấu thiêng liêng một cách tự nhiên và – qua lòng tín thác – đến với đời sống thảo hiếu với Chúa Cha, đến chỗ phó thác cho thánh ý thần linh, đến với tinh thần đức tin hay sao?

Đàng khác, bên cạnh vấn đề một ngày lễ đặc biệt và việc Giáo Hội phán quyết về vấn đề ấy, còn nói lên vấn đề giáo lý. Một số nhà thần học cho rằng giáo lý về mối tương quan giữa linh hồn với Thiên Chúa Ba Ngôi cần phải được cứu xét tường tận hơn. Đối với các linh hồn, đó có thể là một nguồn mạch soi sáng cho đời sống kết hợp với Chúa Cha và Chúa Con, như thánh Gioan đã nói đến, và đồng thời cũng làm sáng tỏ sự thông phần vào sự sống của Chúa Giêsu, Con Một Chúa Cha, nhất là thông phần vào tình yêu thảo hiếu của Người đối với Chúa Cha.

Nhưng, ngoài những lý lẽ thần học ấy, điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là một thiếu nữ nghèo khó, không được đào tạo về thần học, tuyên bố đã nhận được thông điệp từ Thiên Chúa, và giáo lý trong thông điệp ấy rất là súc tích.

Những tài liệu của các thị nhân giả tạo, thường rất nghèo nàn, cằn cỗi, và thiếu nhất quán. Thông điệp mà mẹ Eugenia nói Chúa Cha đã ủy thác cho mẹ rất phong phú. Có một sự tương tác hài hòa giữa hai đặc điểm khác biệt, nhưng cùng hướng đến việc củng cố tính xác thực của thông điệp. Một đàng thông điệp được trình bày, như những điều vẫn được truyền thống Giáo Hội nắm giữ, không có các sáng kiến gây hoài nghi, bởi nó không ngừng lặp lại mọi điều đã được nói đến trong mặc khải của Chúa Kitô về Chúa Cha, và mọi sự trong Phúc âm. Đằng khác, thông điệp tuyên bố rằng chân lý cao trọng, liên quan đến tri thức về Chúa Cha, cần phải được tái cứu xét, nghiên cứu sâu xa và cảm nghiệm.

Sự bất tương xứng giữa sự yếu đuối của công cụ, tự mình không thể khám phá một giáo lý với tính chất như thế, và mức độ uyên thâm của thông điệp được diễn tả, lại không chứng tỏ có một nguyên nhân cao hơn, siêu nhiên và thần linh đã can thiệp để ủy thác thông điệp cho nữ tu ấy hay sao? Nói theo cách nhân loại, tôi thấy người ta không sao giải thích được, sự khám phá của nữ tu ấy, về một ý tưởng mới mẻ, và phong phú mà các nhà thần học, tiến hành cuộc điều tra, phải dần dần mới nhận thức được.

Một sự khác nữa đối với tôi, dường như cũng mang ý nghĩa tương tự: Khi nữ tu Eugenia loan báo chị đã nhận được những linh khải của Chúa Cha, các nhà thần học tiến hành cuộc điều tra, trả lời rằng các cuộc linh khải của Chúa Cha tự bản chất là điều không thể có, và chưa từng xảy ra trong lịch sử. Chị nữ tu đã chống lại những phản biện ấy một cách đơn giản: “Chúa Cha đã truyền cho tôi kể lại những gì tôi đã nhìn thấy. Chúa yêu cầu các nhà thần học, con cái của Người, phải tìm hiểu”. Chị cứ giữ những lời tuyên bố của mình suốt nhiều tháng trời. Mãi đến tháng 1 năm 1934, các nhà thần học mới khám phá trong giáo thuyết của thánh Thomas Aquinas câu trả lời cho lập luận phản biện của họ.

Câu giải đáp do vị đại tiến sĩ Hội Thánh đã đưa ra về sự khác biệt giữa linh khải và đặc ủy đã làm sáng tỏ vấn đề. Nó đã cất đi sự ngăn trở làm tê liệt toàn bộ cuộc điều tra. Bị các thần học gia thông thái thách thức, nhưng người nữ tu nhỏ bé kém học kia, hóa ra lại là người đúng. Nói theo kiểu nhân loại, làm sao chúng ta có thể giải thích về tri thức, sự khôn ngoan, và đức kiên trung của nữ tu ấy? Một thị nhân giả tạo, có lẽ đã cố thích ứng theo những lời giải thích của các thần học gia. Thế nhưng chị nữ tu này đã giữ vững lập trường của mình. Đó là những lý do khiến chúng tôi nhận thấy chứng từ của chị rất đáng tin.

Dù sao, điều tôi nhận thấy đáng chú ý là thái độ thận trọng của chị đối với sự huyền diệu của trường hợp này. Trong khi các thị nhân giả tạo kiêu hãnh về các hiện tượng ngoại thường, và thậm chí, họ không thấy gì khác ngoài những hiện tượng ấy. Chị Eugenia thì ngược lại, chị đặt chúng như những chứng cớ, những phương thế thứ yếu, không phải việc đề cao, nhưng chính sự quân bình giữa các giá trị, chị đã tạo nên một ấn tượng thuận lợi.

Tôi cũng xin nói tóm lược về cuộc điều tra của các nhà thần học. Các cha Albert và Auguste Valencin rất có uy tín trong lãnh vực triết học và thần học, cũng như kiến thức uyên thâm về đời sống thiêng liêng. Những cuộc điều tra tương tự cũng cần đến sự can thiệp của các ngài. Chúng tôi biết các ngài đã hành động rất cẩn trọng, và vì thế chúng tôi đã chọn các ngài trong công việc này.

Chúng tôi biết ơn sự cộng tác ân cần, và tận tâm của các ngài. Chứng từ thuận lợi của các ngài đối với nữ tu này, và lời giải thích siêu nhiên về các sự kiện nói chung, lại càng đáng kể, bởi vì các ngài đã trì hoãn sự phán đoán trong một thời gian lâu dài, từ bất lợi và nghi ngờ lúc đầu, và sau đó là lưỡng lự. Dần dần các ngài mới tin chắc, sau khi đã đưa ra đủ loại phản biện, và áp dụng những thử thách khắc nghiệt đối với nữ tu này.

3/ Kết luận:

Theo tiếng nói của linh hồn và lương tâm, với ý thức trách nhiệm nghiêm chỉnh nhất của tôi trước Giáo Hội, tôi tuyên bố rằng, đối với tôi, sự can thiệp siêu nhiên và thần linh dường như là lời giải thích duy nhất, hợp lý và thỏa đáng nhất đối với các sự kiện này.

Ngoài tất cả những đặc điểm ngoại cảnh của trường hợp này, đối với tôi, sự kiện chính yếu sau đây thật cao quý, hướng thượng, và phong phú trên phương diện siêu nhiên: Nữ tu khiêm nhường đã kêu gọi các linh hồn đến với lòng chân thực sùng kính Chúa Cha, như Chúa Giêsu đã rao giảng, và Giáo Hội đã gửi gắm trong phụng vụ. Ở đây không có gì phải báo động, vì chỉ là một điều rất đơn giản, và phù hợp với giáo lý vững chắc.

Những sự lạ đi kèm với thông điệp, có thể tách ra khỏi hiện tượng trung tâm kia mà hiện tượng ấy vẫn giữ nguyên tất cả giá trị chính yếu của nó. Về các lý lẽ giáo lý, Giáo Hội sẽ tuyên bố có thể cứu xét ý tưởng về một ngày lễ đặc biệt, tách biệt khỏi trường hợp cụ thể liên quan đến người nữ tu này.

Tôi tin rằng, bằng chứng căn bản về tính xác thực của sứ mạng nơi người nữ tu này đã được biểu hiện qua cách thức mà nữ tu ấy áp dụng trong đời sống của mình, chị đã sống giáo lý cao đẹp mà chị muốn nhắc nhở cho chúng ta. Tôi cho rằng cứ để chị tiếp tục công việc của chị là điều thích hợp. Tôi tin có bàn tay Thiên Chúa ở trong tất cả điều này. Sau mười năm tìm tòi cứu xét, suy tư và cầu nguyện, tôi xin chúc tụng Chúa Cha, đã thương chọn giáo phận của tôi làm nơi cho những biểu hiệu đầy cảm động của tình yêu Ngài.

Đức Cha Alexandre Caillot

Giám Mục Giáo Phận Grenoble

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *